1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật việc làm thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện

92 254 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng pháp luật và thực hiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong lĩnh vực việc làm .... Phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung vào nghiên cứu những vấ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Nguyễn Mạnh Trường, sinh ngày 27 tháng 08 năm 1985 Tôi là học viên lớp cao học Luật Kinh tế, khóa II (2013 - 2015), Viện Đại học Mở Hà Nội Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Đỗ Ngân Bình, vấn đề nghiên cứu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào của tác giả khác

Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này, tôi có tham khảo một

số bài viết, chuyên đề, các tài liệu, các nguồn trích dẫn, tham khảo đã được chỉ ra trong danh mục tài liệu tham khảo

Tác giả

Nguyễn Mạnh Trường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy giáo, cô giáo của Viện Đại học Mở Hà Nội, đặc biệt là các thầy, cô giáo trong khoa Sau đại học – Viện Đại học Mở Hà Nội, các thầy cô của Trường Đại học Luật Hà Nội, cùng các thầy cô khác đã tận tâm dạy dỗ, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Tôi cũng xin gửi lời tri ân sâu sắc đến TS Đỗ Ngân Bình – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này

Cảm ơn gia đình và những người thân, bạn bè đã tận tình giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành được luận văn này

Mặc dù đã có sự cố gắng và tận tâm, nhưng do còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn, kiến thức nên luận văn này chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong quý thầy, cô giáo và bạn bè đồng nghiệp quan tâm góp ý để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VIỆC LÀM VÀ PHÁP LUẬT VIỆC LÀM 5

1.1 Tổng quan chung về việc làm 5

1.1.1 Khái niệm việc làm 5

1.1.2 Đặc điểm của việc làm 6

1.1.3 Tầm quan trọng của việc làm 8

1.1.4 Phân loại việc làm 9

1.2 Tổng quan chung về pháp luật việc làm 11

1.2.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với vấn đề việc làm 11

1.2.2 Những nội dung cơ bản của hệ thống pháp luật việc làm 12

1.3 Lược sử quá trình hình thành và phát triển của pháp luật việc làm ở Việt Nam 18

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 22

2.1 Thực trạng pháp luật và thực hiện các quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực việc làm 22

2.1.1 Quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực việc làm 22

2.1.2 Thực trạng thực hiện các quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực việc làm 32

2.2 Thực trạng pháp luật và thực hiện các quy định về quyền hạn và trách nhiệm của các doanh nghiệp, tổ chức dịch vụ việc làm 41

Trang 6

2.2.1 Quy định của pháp luật hiện hành về quyền hạn và trách nhiệm của các doanh nghiệp, tổ chức dịch vụ việc làm 41 2.2.2 Thực trạng thực hiện các quy định về quyền hạn và trách nhiệm của các doanh nghiệp, tổ chức dịch vụ việc làm 44

2.3 Thực trạng pháp luật và thực hiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong lĩnh vực việc làm 47

2.3.1 Quy định của pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong lĩnh vực việc làm 47 2.3.2 Thực trạng thực hiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong lĩnh vực việc làm 50

2.4 Thực trạng pháp luật và thực hiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của người lao động trong lĩnh vực việc làm 52

2.4.1 Quy định của pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa vụ của người lao động trong lĩnh vực việc làm 52 2.4.2 Thực trạng thực hiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của người lao động trong lĩnh vực việc làm 55

2.5 Thực trạng pháp luật và thực hiện các quy định về thanh tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực việc làm 57

2.5.1 Quy định của pháp luật hiện hành về thanh tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực việc làm 57 2.5.2 Thực trạng thực hiện các quy định về thanh tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực việc làm 60

2.6 Thực trạng pháp luật và thực hiện các quy định về khiếu nại và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực việc làm 62

2.6.1 Quy định của pháp luật hiện hành về khiếu nại và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực việc làm 62 2.6.2 Thực trạng thực hiện các quy định về khiếu nại và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực việc làm 63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65

Trang 7

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VIỆC LÀM 66 3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về vấn đề việc làm 66 3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về việc làm 67 3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về việc làm 73 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 78 KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 World Bank Ngân hàng Thế giới

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là quốc gia đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên luôn là điểm sáng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Nguồn nhân lực, bộ phận trực tiếp tham gia vào các quy trình sản xuất, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế của doanh nghiệp Theo số liệu thống kê của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, tỷ lệ thất nghiệp của cả nước tính đến hết ngày 20 tháng 4 năm 2015 là khoảng 2,43%, nằm trong top những nước có tỷ lệ thất nghiệp thấp trên thế giới Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Việt Nam đang có tình trạng việc làm ổn định cho người dân Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (World Bank), thì nước ta đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kĩỹthuật bậc cao và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn nhiều so với các nước khác Trong khi đó cử nhân, thạc sỹ ra trường không có việc làm vẫn còn ở mức báo động Từ con số 72.000 người không có việc làm tăng lên đến 162.000 người trong đầu năm nay, trong đó, nhóm người không có chuyên môn kỹ thuật chiếm gần 60% tổng số lao động thất nghiệp, nhóm có bằng đại học và trên đại học chiếm gần 17% Như vậy, so với thế giới, Việt Nam thuộc diện có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhưng đối với tình hình lao động việc làm trong nước thì tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao Trong khi đó, các dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực của doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam là trên 16.300 dự án, với tổng số vốn đầu tư thực tế khoảng 238 tỷ USD đã tạo ra không ít việc làm cho người lao động

Việt Nam là một quốc gia có nguồn nhân lực trẻ, dồi dào cùng sự phát triển ngày càng nhiều của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh với quy mô, hình thức khác nhau Đến thời điểm 31/12/2014, dân số cả nước là 90,7 triệu người, trong đó có 54,4 triệu người thuộc lực lượng lao động Theo thống kê, cả nước hiện

có khoảng 1,2 triệu lao động thiếu việc làm (tỷ lệ 2,43%, trong đó khu vực thành thị

là 1,15% và nông thôn là 3,05%) và gần 1 triệu lao động thất nghiệp chiếm 2,27%; trong số này khu vực thành thị là 3,27% và nông thôn là 1,81% Như vậy, số việc

Trang 10

làm tạo ra dù tăng nhưng không theo kịp số người có nhu cầu tìm việc, vì vậy tình trạng thất nghiệp vẫn là vấn đề “nóng bỏng” Bên cạnh đó, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuât, kinh doanh chịu sự cạnh tranh rất lớn nên dễ dẫn đến tình trạng hoạt động không hiệu quả, phải cắt giảm nhân sự, hay thậm chí phá sản Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 07 tháng đầu năm 2015, cả nước có 32.373 doanh nghiệp ngừng hoạt động hoặc chờ đóng mã số thuế Có thể nói tình trạng việc làm của phần đông người lao động là khá bấp bênh và thiếu ổn định

Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề việc làm đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như đời sống của người lao động; xuất phát từ tính cấp thiết phải làm rõ các quy định của pháp luật về lao động việc làm; với mong muốn tìm hiểu, phân tích nguyên nhân thực trạng và góp ý làm hoàn thiện

hơn pháp luật về việc làm; tôi mạnh dạn chọn đề tài “Pháp luật việc làm – Thực

trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Bộ luật Lao động là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích cho các bên trong việc làm, cũng như đảm bảo sự hài hòa, ổn định của quan hệ lao động Hiện nay, vấn đề bảo vệ quyền lợi cho người lao động và người sử dụng lao động nhận được nhiều sự quan tâm và được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu Tuy nhiên, các công trình này còn mang tính chất riêng lẻ, chủ yếu khai thác vấn đề dưới góc độ người lao động hay người sử dụng lao động, hoặc chỉ được nghiên cứu một cách gián tiếp…

Trong đó, đáng chú ý là Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Trường Đại

học Luật Hà Nội năm 2004 của tác giả Lưu Bình Nhưỡng “Việc làm và giải quyết

vi ệc làm trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở

Vi ệt Nam”; Luận văn thạc sỹ luật học Trường Đại học Luật Hà Nội của ThS Lưu Thị Hoài Anh với đề tài “Giải quyết việc làm theo pháp luật lao động Việt Nam và

Trang 11

th ực tiễn thực hiện tại vùng Đồng bằng Sông Hồng”; Luận văn thạc sỹ luật học năm

2012 của tác giả Lâm Thị Thu Huyền “Những vấn đề pháp lý cơ bản về việc làm và

gi ải quyết việc làm trong bối cảnh suy thoái kinh tế ở Việt Nam hiện nay”

Ngoài ra, vấn đề này cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều bài báo, tạp chí

khoa học như bài viết “Bàn về khái niệm “việc làm” dưới góc độ pháp luật lao động” của ThS Nguyễn Thị Kim Phụng đăng trên số 6/2004, Tạp chí Luật học; bài viết “Chính sách lao động – việc làm nhìn từ góc độ một chính sách kinh tế vĩ mô:

Nh ững bài học giai đoạn 2006-2010” của TS Nguyễn Minh Phong…

Về cơ bản, các công trình nghiên cứu, bài viết nêu trên mới chỉ dừng lại ở việc phân tích các quy định của pháp luật nói chung về việc làm mà chưa đi sâu vào nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về việc làm tại các doanh nghiệp ở các khu vực cụ thể Do đó, chưa thấy rõ được thực tế thực hiện quy định pháp luật về việc làm của các doanh nghiệp ở các khu vực này

3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung vào nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật việc làm và các quy định của pháp luật về trách nhiệm của nhà nước, của các tổ chức, dịch vụ việc làm về vấn đề đảm bảo việc làm; quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động; giải quyết tranh chấp, khiếu nại liên quan đến vấn đề việc làm và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện Đồng thời, luận văn đi sâu vào tìm hiểu thực tiễn thực hiện pháp luật về việc làm tại các doanh nghiệp

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu về pháp luật việc làm trong mối quan hệ với các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội khác

Ngoài ra, luận văn còn áp dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp khảo cứu tài liệu và kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có; phương pháp sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, suy luận logic trong quá trình nghiên cứu và trình bày vấn đề

Trang 12

5 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về việc làm tại các doanh nghiệp Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế của pháp luật hiện hành để đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong điều kiện thực

tế hiện nay

Với mục đích đó, nhiệm vụ của luận văn được xác định cụ thể như sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến pháp luật việc làm;

- Phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam về việc làm;

- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về việc làm, và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về việc làm tại các doanh nghiệp

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn với đề tài “Pháp luật việc làm – Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện”, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, được kết cấu gồm 03 chương:

Ch ương 1: Tổng quan về việc làm và pháp luật việc làm

Ch ương 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật việc làm ở Việt Nam

hiện nay

Ch ương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp

luật việc làm

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VIỆC LÀM VÀ PHÁP LUẬT VIỆC LÀM

1.1 Tổng quan chung về việc làm

1.1.1 Khái niệm việc làm

Lao động là quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và việc làm chính là nội dung thực tiễn để công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Dưới nhiều góc

độ khác nhau, có nhiều cách hiểu về khái niệm việc làm nhưng về cơ bản đó là các hoạt động nhằm tạo ra lợi ích vật chất nhất định

Dưới góc độ ngôn ngữ học, việc làm được định nghĩa là công việc được giao

theo ngh ề nghiệp, có thù lao và chế độ, đảm bảo đời sống lâu dài [1] Tuy nhiên, khái

niệm việc làm đã được cụ thể hóa trong phạm vi nghề nghiệp với những đặc điểm, điều kiện tiên quyết đối với quan hệ việc làm theo pháp lý và trên thực tế đời sống Dưới góc độ kinh tế - xã hội, hoạt động kiếm sống của con người được coi là việc làm Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu mưu sinh của các cá nhân Con người vì muốn thỏa mãn các nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạt động lao động nhất định Người có việc làm chính là khái niệm dùng để chỉ những người hiện đang tham gia các hoạt động đó Tùy theo mức độ tham gia và thu nhập từ những hoạt động này mà có thể chia đối tượng này thành hai loại là: người có việc làm đầy đủ và người có việc làm không đầy đủ Trong đó, người có việc làm đầy đủ là người làm việc với mức thu nhập ổn định, thường xuyên và toàn thời gian theo quy định, người có việc làm không đầy đủ là cá nhân làm việc với mức thu nhập không thường xuyên và thời gian không cố định như cá nhân lao động thời vụ, lao động theo công việc Việc làm luôn gắn liền với vấn đề sản xuất Hiệu quả của việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệu quả của sản xuất Kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện để giải quyết tốt vấn đề việc làm và

Trang 14

ngược lại, nếu không giải quyết tốt vấn đề việc làm và thất nghiệp thì đó sẽ là những yếu tố kìm hãm sự tăng trưởng của kinh tế

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), việc làm là một mục tiêu quan trọng trong tôn chỉ hoạt động của tổ chức này, thể hiện qua việc ILO đã có nhiều công ước và khuyến nghị liên quan đến việc làm, trong đó có một số công ước quan trọng như Công ước số 47 về duy trì tuần làm việc 40 giờ, Công ước số 88 về tổ chức dịch vụ việc làm, Công ước số 122 về chính sách việc làm… Theo quan niệm của ILO, người có việc làm là những người thực hiện một công việc để được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không đươc nhận tiền công hoặc hiện vật ILO định nghĩa việc làm gồm những người trên một độ tuổi xác định nào đó, trong một khoảng thời gian cụ thể được trả lương hay tự trả lương cho mình

Dưới góc độ pháp lý, giải thích về việc làm được thống nhất ghi nhận trong

Bộ luật Lao động năm 2012 và Luật Việc làm năm 2013, cụ thể tại khoản 2 Điều 3

Luật Việc làm năm 2013 quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập

mà không b ị pháp luật cấm” Theo đó, việc làm trên phương diện pháp lý hay

phương diện kinh tế đều được hình dung là một hoạt động lao động nhằm tạo ra thu nhập và các hoạt động này phải không bị pháp luật cấm Định nghĩa việc làm trong quan hệ pháp lý là phương hướng xác định được mối quan hệ cũng như hoạt động thực tiễn của mỗi cá nhân trong phạm trù lao động qua đó có những quy định về phạm vi điều chỉnh và xác định cụ thể được đối tượng điều chỉnh trong quan hệ này

1.1.2 Đặc điểm của việc làm

Việc làm được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau mặc dù dưới các góc độ này, việc làm đều được xem xét với bản chất không đổi Tuy nhiên, đối với từng mối quan hệ cụ thể, việc làm lại có những đặc trưng riêng để xác minh khi được đưa

ra phân biệt với các đối tượng khác

Trang 15

D ưới góc độ kinh tế - xã hội, hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trọng

nhất của thế giới nói chung và con người nói riêng Hoạt động kiếm sống của con người được gọi chung là việc làm

Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạt động nhất định Họ có thể tham gia công việc nào đó để được trả công hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm như dùng các tư liệu sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc tự làm những công việc cho hộ gia đình mình

Ngoài vấn đề cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộng đồng của xã hội Sở

dĩ có sự phát sinh này là do: con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động sản xuất của xã hội Hơn nữa, việc làm và thu nhập không phải là vấn đề mà lúc nào mỗi cá nhân người lao động cũng quyết định được mà việc làm còn là vấn đề của cộng đồng, của xã hội Sự phát triển quá nhanh của dân số, mức độ tập trung tư liệu sản xuất ngày càng cao vào tay một số cá nhân dẫn đến tình trạng xã hội ngày càng có nhiều người không có khả năng tự tạo việc làm Trong điều kiện đó, mỗi cá nhân phải huy động mọi khả năng của bản thân để tự tìm việc làm cho mình, phải cạnh tranh để tìm việc làm Điều này đòi hỏi phải có những chính sách và biện pháp nhất định từ phù hợp từ phĩa nhà nước nhằm tăng số lượng việc làm và chất lượng việc làm, đảm bảo đời sống dân cư, kiềm chế nạn thất nghiệp và thông qua đó để giải quyết các vấn đề xã hội khác

Tóm l ại, xét về phương diện kinh tế - xã hội, có thể hiểu việc làm là các hoạt động tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho người lao động được xã hội thừa nhận

D ưới góc độ pháp lý, việc làm được xem xét trên phương diện là cơ sở của

mối quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động

Chính sách lao động - việc làm không chỉ bảo đảm ổn định chính trị - xã hội,

mà còn trực tiếp góp phần củng cố và nâng cao chất lượng, sức mạnh kinh tế của đất nước Hệ thống chính sách xã hội phải dựa trên nền tảng cốt lõi nhất là coi trọng yếu tố con người và phát huy đến mức cao nhất tiềm năng của con người, bảo đảm

Trang 16

các yêu cầu có tính nguyên tắc, đó là: mọi người có việc làm, có thu nhập đảm bảo cuộc sống hàng ngày; thực hiện nguyên tắc công bằng, dân chủ, bình đẳng trong mọi quan hệ xã hội trước pháp luật; xây dựng một xã hội phát triển tương đối đồng đều, giảm dần sự cách biệt giữa lao động chân tay và lao động trí óc, giữa phụ nữ và nam giới, giữa nông thôn và thành thị, giữa người giàu và người nghèo, giữa người

có hoàn cảnh bất lợi, rủi ro với người có hoàn cảnh thuận lợi

1.1.3 Tầm quan trọng của việc làm

Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, đây là hoạt động liên quan chặt chẽ tới đời sống xã hội, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội

Đối với mỗi cá nhân, việc làm tạo ra nguồn thu nhập phục vụ cho nhu cầu

cuộc sống của họ, vì vậy, việc làm cũng sẽ chịu ảnh hưởng bởi ngành nghề cũng như sự phát triển chung của vùng kinh tế tại nơi đối tượng sinh sống (vùng đông dân cư, vùng có khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng…), đối với những nhóm người nhất định (lao động không có trình độ tay nghề, lao động có trình độ tay nghề cao…) Việc không có việc làm trong thời gian dài không chỉ gây trở ngại tới sự phát triển chung của xã hội mà còn làm mai một kiến thức cũng như khả năng chuyên môn nghề của người lao động, dẫn tới việc không đáp ứng được yêu cầu của công việc đồng thời dẫn tới nguy cơ kéo dài hiện tượng thất nghiệp

Đối với nền kinh tế, việc làm là một trong những nguồn lực quan trọng, vì

vậy nó là nhân tố tạo nên tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân, nền kinh tế luôn đảm bảo tạo cầu và việc làm cho từng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài hoà giữa việc làm và kinh tế, duy trì nền kinh tế có xu hướng phát triển bền vững, đồng thời nó cũng mang lại lợi ích và phát huy tiềm năng của người lao động

Đối với xã hội, việc làm cũng tác động trực tiếp mỗi cá nhân, gia đình -

những nhân tố, tế bào của xã hội Khi tất cả các cá nhân trong xã hội có việc làm thì

xã hội sẽ được duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội, không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con người được dần hoàn thiện về cả nhân cách và trí tuệ… Ngược lại khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng về việc

Trang 17

làm cho người lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách con người Khi con người lao động, ngoài mục đích nhằm đảm bảo nhu cầu đời sống còn hướng đến các nhu cầu về phát triển

và tự hoàn thiện hoàn thiện tính cách trong môi trường cộng đồng xã hội Vì vậy trong nhiều trường hợp tình trạng thất nghiệp sẽ ảnh hưởng tới nhân cách con người, như khiến con người thiếu tự tin trong giao tiếp xã hội, tự ti về khả năng của mình, bất mãn với xã hội… dẫn đến những ảnh hưởng xấu phát sinh như tệ nạn xã hội Ngoài ra, tình trạng không có việc làm còn làm gia tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu thuẫn và có ảnh hưởng lớn đến tình hình chính trị

Qua đó, có thể thấy, vai trò của việc làm trong đời sống xã hội là vô cùng lớn, ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển chung của kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước Chính vì thế, vấn đề việc làm cần được đánh giá đúng mức, có sự quan tâm đặc biệt và định hướng cụ thể cho sự phát triển

1.1.4 Phân loại việc làm

Việc làm trên nhiều góc độ phân tích khác nhau có thể chia ra thành nhiều loại công việc khác nhau nhằm cụ thể hóa cũng như tạo sự rõ ràng trong quá trình phân tích và nắm bắt các thông tin về việc làm

Vi ệc làm bình thường và việc làm nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được phân

loại dựa trên tính chất của công việc mà người lao động làm Trong đó, việc làm bình thường là những công việc mà cá nhân làm việc trong môi trường bình thường, không có các yếu tố gây nguy hại tới sức khỏe của bản thân, đồng thời đối với các công việc này không đòi hỏi ở người sử dụng lao động phải có đãi ngộ đặc biệt cũng như các yêu cầu khắt khe đối với trang bị an toàn lao động cho người làm việc trong điều kiện công việc bình thường Ngược lại, đối với việc làm nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đòi hỏi cá nhân làm công việc này sẽ phải đáp ứng các điều kiện cụ thể đối với từng loại công việc khác nhau Bên cạnh đó, người sử dụng lao động phải đảm bảo được các yêu cầu khắt khe đối với an toàn lao động cho người làm việc trong điều kiện việc làm nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm Ngoài ra, đối với các

Trang 18

cá nhân thực hiện công việc này sẽ có những chế độ đãi ngộ đặc biệt Cụ thể như đối với tuổi nghỉ hưu sẽ được áp dụng trong khoảng thời gian là hai mươi năm thay

vì hai lăm năm như lao động trong điều kiện lao động bình thường…

Vi ệc làm cho đối tượng lao động bình thường và việc làm cho đối tượng lao động đặc thù Xuất phát từ những đặc điểm riêng của các chủ thể tham gia quan hệ

lao động, hoặc xuất phát từ những đặc điểm của công việc, tính chất của ngành nghề, tính chất của doanh nghiệp dẫn tới quy định về đối tượng lao động đặc thù, là đối tượng lao động đặc biệt và được áp dụng các chế độ ưu tiên khác so với người lao động bình thường, gồm: phụ nữ, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi, người tàn tật

Trong đó, phụ nữ là người lao động được ưu tiên trong việc hạn chế không thực hiện các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; áp dụng chế độ thai sản; hay lao động nữ sẽ không bị áp dụng các hình thức kỷ luật lao động nếu người đó đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi…

Người lao động chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, thể lực và trí lực của họ đang phát triển và chưa ổn định Vì vậy, người lao động chưa thành niên cần

có sự ưu tiên và quan tâm đặc biệt trong quá trình làm việc để đảm bảo cho quyền lợi của họ như: thời gian làm việc của người lao động chưa thành niên không được quá 7 giờ một ngày hoặc 42 giờ một tuần; người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên làm thêm giờ, làm việc ban đêm trong một số nghề, công việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định…

Đối với người lao động cao tuổi, có chế độ ưu đãi cho những người đã nghỉ hưu là được phép giao kết hợp đồng lao động, nếu họ có nguyện vọng và người sử dụng lao động có nhu cầu Người tàn tật là người do bị thương hoặc dị tật bẩm sinh,

bị khiếm khuyết hoặc sút giảm khả năng của một hoặc nhiều hoặc nhiều bộ phận cơ thể mà khả năng lao động bị suy giảm từ 21% trở lên do tàn tật, được Hội đồng Y khoa giám định và xác nhận Như vậy, đối với các đối tượng lao động đặc thù này

sẽ được áp dụng những việc làm phù hợp với khả năng lao động, thời gian làm việc hợp lý đồng thời có chế độ đãi ngộ đặc biệt phù hợp với từng nhóm đối tượng

Trang 19

Vi ệc làm chân tay, việc làm trí óc là các công việc phân loại dựa trên điều

kiện đối với công việc đó Việc làm chân tay đòi hỏi yếu tố lành nghề, sức khỏe tốt như: việc làm về xây dựng, việc làm về mây tre đan… Việc làm trí óc đòi hỏi các yếu tố điều kiện về khả năng hiểu biết, qua đào tạo và chủ yếu vận dụng các kiến thức đó trong công việc hàng ngày mà không phải vận động sức lực nhiều như: việc làm tại văn phòng, việc làm hành chính, việc làm liên quan tới giáo dục,…

Vi ệc làm trọn ngày làm việc và việc làm không trọn ngày làm việc: được xác

định dựa trên yếu tố thời gian làm việc yêu cầu đối với công việc đó Trong đó, việc làm trọn ngày là việc người lao động làm việc theo chế độ thời gian làm việc bình thường đối với cá nhân được quy định trong pháp luật lao động là 08 giờ trên một ngày Bên cạnh đó, việc làm không trọn ngày làm việc là việc thực hiện công việc với thời gian ít hơn so với thời gian được quy định trong điều kiện làm việc bình thường, đây là những công việc thường được gọi là việc làm thêm và thời gian thường áp dụng khoảng 04 đến 06 giờ trên ngày

1.2 Tổng quan chung về pháp luật việc làm

1.2.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với vấn đề việc làm

Việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của người lao động để bảo đảm cuộc sống và phát triển toàn diện Tạo việc làm cho người lao động, bảo đảm quyền bình đẳng về việc làm cho mọi người lao động là trách nhiệm của mọi quốc gia Việc làm là mối quan tâm của toàn xã hội và là chỉ tiêu kinh tế xã hội quan trọng đối với một đất nước Đối với một quan hệ xã hội có tầm ảnh hưởng lớn như vậy đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật hoàn thiện điều chỉnh nhằm đảm bảo tính kiểm soát của Nhà nước, đồng thời quản lý chặt chẽ, điều tiết đảm bảo sự cân bằng đối với chỉ số việc làm, hướng tới mục tiêu không còn tồn tại người không có việc làm

Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy chính sách về việc làm và tạo việc làm chưa đủ mạnh để xóa bỏ mọi rào cản, giải phóng năng lực của con người trong thời

kỳ phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, chính sách đầu tư, huy động vốn kém hiệu quả đã tác động không nhỏ đến việc giải quyết việc làm dẫn tới nhiều cá nhân

Trang 20

gặp khó khăn trong việc duy trì doanh nghiệp cũng như đảm bảo sự ổn định đối với nhân sự trong doanh nghiệp, tức là đảm bảo việc làm cho người lao động Bên cạnh

đó, chính sách thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, đô thị hóa, sáp nhập, phân tách địa giới hành chính nhưng lại chưa đưa ra các phương thức hiệu quả trong điều tiết lao động từ các đơn vị hành chính cụ thể gây ra khó khăn trong phân bố lao động, cụ thể dẫn tới nhiều vùng nông thôn có tỷ lệ lao động không có việc làm cao

Điều chỉnh pháp luật việc làm là công cụ giúp Nhà nước trong việc quản lý, điều tiết thị trường lao động nói chung và nắm bắt được tình hình phát triển kinh tế

từ thực tế lao động cũng như tỷ lệ cung cầu của thị trường việc làm Theo đó, Nhà nước sẽ có những biện pháp cụ thể nhằm hạn chế tình trạng thất nghiệp, thông qua pháp luật gián tiếp điều chỉnh quan hệ lao động trong các doanh nghiệp, giữa người lao động và người sử dụng lao động để hạn chế tối đa việc chấm dứt quan hệ lao động trong doanh nghiệp, đảm bảo hạn chế gia tăng số lượng cá nhân không có việc làm Bên cạnh đó, việc điều chỉnh pháp luật việc làm còn là cơ sở để bảo vệ quyền

và lợi ích cho các chủ thể tham gia quan hệ lao động khi không phải bất kỳ quan hệ việc làm nào cũng được thực hiện thông qua hợp đồng lao động và đều được điều chỉnh bằng Bộ luật Lao động

Từ những yêu cầu thực tế, những ảnh hưởng của việc làm tới nền kinh tế, sự phát triển của xã hội cũng như quan hệ pháp lý nói chung, xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về vấn đề việc làm là một yêu cầu cấp bách

1.2.2 Những nội dung cơ bản của hệ thống pháp luật việc làm

* Trách nhi ệm của Nhà nước trong lĩnh vực việc làm

Điều 57 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“1 Nhà n ước khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm

cho ng ười lao động

Trang 21

2 Nhà n ước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người

s ử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa

và ổn định”

Nhà nước là chủ thể đặc biệt không chỉ đóng vai trò là người quản lý các hoạt động việc làm, điều phối việc làm, mà còn là chủ thể đảm bảo quyền lợi chung cho các chủ thể từ người lao động đến người sử dụng lao động nhằm đạt được sự ổn định, cân bằng giữa các nhu cầu cung cầu của thị trường việc làm, quan trọng hơn là tạo được việc làm phù hợp cho người lao động, thúc đẩy kinh tế của người sử dụng lao động phát triển Đồng thời, theo quy định của Luật Việc làm năm 2013 thì:

“ Điều 7 Thẩm quyền quản lý nhà nước về việc làm

1 Chính ph ủ thống nhất quản lý nhà nước về việc làm trong phạm vi cả nước

2 B ộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ

th ực hiện quản lý nhà nước về việc làm

B ộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách

nhi ệm phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà

n ước về việc làm

3 Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình,

th ực hiện quản lý nhà nước về việc làm tại địa phương”

Như vậy, pháp luật lao động quy định trách nhiệm trực tiếp thuộc về Chính phủ và các cơ quan hành chính Nhà nước, trách nhiệm trước hết thuộc về Quốc hội

và hệ thống các cơ quan quyền lực (Hội đồng nhân dân các cấp) với nội dung của việc giải quyết việc làm cho người lao động bao gồm:

Th ứ nhất, Nhà nước quy định chỉ tiêu việc làm mới trong kế hoạch phát triển

kinh tế xã hội 5 năm và hằng năm Nhà nước có chính sách hỗ trợ tài chính, cho vay vốn, giảm, miễn thuế và các biện pháp khuyến kích để người có khả năng lao động

tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển nhiều nghề mới nhằm tạo nhiều việc làm cho người lao động

Trang 22

Th ứ hai, Nhà nước có chính sách ưu đãi về giải quyết việc làm để thu hút và

sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số; chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân trong và ngoài nước, bao gồm cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư phát triển kinh doanh nhằm tạo nhiều việc làm cho người lao động Thứ ba, Nhà nước đóng vai trò là chủ thể quản lý, giải quyết các vấn đề tranh chấp nảy sinh giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ việc làm để duy trì sự ổn định đối với quan hệ pháp luật này

* Quy ền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong lĩnh vực việc làm

Người sử dụng lao động là chủ thể góp phần tạo nên việc làm cho thị trường lao động nói riêng và xã hội nói chung, do đó pháp luật có quy định cụ thể về trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc tạo điều kiện làm việc cũng như tạo việc làm (khoản 3 Điều 8 Luật Việc làm năm 2013) Bên cạnh đó, người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề

và sử dụng lao động theo phương án đã được phê duyệt; sử dụng nguồn kinh phí đúng đối tượng, đúng mục đích và thực hiện báo cáo kết quả tổ chức đào tạo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền sau khi kết thúc khóa đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề Mặt khác, người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm để tổ chức tuyển chọn người lao động

Đồng thời, đối với đối tượng lao động đặc thù, người sử dụng lao động phải

có trách nhiệm giải quyết việc làm cho các đối tượng này, trường hợp nhiều người cùng có đủ điều kiện tuyển dụng thì phải ưu tiên tuyển dụng lao động là thương, bệnh binh; con liệt sĩ, con thương bệnh binh, con em gia đình có công; người tàn tật; phụ nữ; người có quá trình tham gia lực lượng vũ trang, người tham gia lực lượng thanh niên xung phong, người đã bị mất việc làm từ một năm trở lên

Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi hình thức sở hữu phải nhận một tỷ lệ người lao động là người tàn tật, lao động nữ vào làm việc Doanh nghiệp tiếp nhận số người lao động là người tàn tật vào làm việc thấp hơn tỷ lệ quy định thì hàng tháng phải nộp vào quỹ việc làm cho người tàn tật một khoản tiền theo quy

Trang 23

định, nếu cao hơn thì khi sản xuất kinh doanh gặp khó khăn hoặc có dự án phát triển sản xuất sẽ được xét cho vay vốn với lãi suất thấp hoặc được xét hỗ trợ từ quỹ việc làm (Nghị định 81/CP ngày 23 tháng 11 năm 1995 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người tàn tật) Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ sẽ được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước

Trong quá trình sản xuất kinh doanh và hoạt động dịch vụ, người sử dụng lao động phải đảm bảo công việc thường xuyên liên tục theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể; phải có trách nhiệm tổ chức nâng cao trình độ nghiệp vụ cho người lao động theo kịp tiến bộ khoa học kỹ thuật và làm việc có trách nhiệm, hiệu quả cao; đồng thời phải đào tạo lại trước khi chuyển người lao động sang làm việc mới trong doanh nghiệp Ngoài ra, khi có sự thay đổi về cơ cấu hoặc công nghệ mà cần phải cho người lao động thôi việc, người sử dụng lao động căn cứ vào nhu cầu của công việc và thâm niên làm việc, tay nghề, hoàn cảnh gia đình và những yếu tố khác của từng người để chấm dứt hợp đồng lao động sau khi đã trao đổi nhất trí với Ban chấp hành công đoàn cơ sở và phải công bố danh sách cho người lao động để người lao động có sự chuẩn bị trước cũng như công khai, minh bạch đảm bảo công bằng Trước khi quyết định chấm dứt hợp đồng với người lao động phải báo cho cơ quan quản lý về lao động ở địa phương biết để cơ quan này nắm được tình hình lao động của địa phương và có kế hoạch hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp hoặc tạo điều kiện giải quyết việc làm cho người lao động mất việc làm

* Quy ền và nghĩa vụ của người lao động trong lĩnh vực việc làm

Song song với những nghĩa vụ mà người sử dụng lao động phải thực hiện nhằm đảm bảo quyền của người lao động, người lao động cũng đồng thời phải có trách nhiệm trong việc thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với người sử dụng lao động trên cơ sở hợp đồng lao động được điều chỉnh bởi pháp luật lao động Cụ thể, trong các nội dung tại Bộ luật Lao động năm 2012 về nghĩa vụ của người lao động

khi đang làm việc, đang thực hiện các nội dung của hợp đồng lao động như: “…

th ực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể; chấp hành kỷ luật lao

Trang 24

động, nội quy lao động, tuân theo sự điều hành hợp pháp của người sử dụng lao động; thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo

hi ểm y tế” (khoản 2 Điều 5 Bộ luật Lao động năm 2012)

Bên cạnh đó, cá nhân mà cụ thể là những đối tượng tham gia lao động phải thực hiện trách nhiệm của người lao động trong việc tự tạo việc làm và bảo đảm việc làm Đồng thời, với những người lao động có nhu cầu việc làm mà không tự giải quyết được thì có thể đăng ký với trung tâm dịch vụ việc làm để yêu cầu môi giới tìm việc làm, kể cả môi giới đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, hoặc yêu cầu dạy nghề gắn với tạo việc làm phù hợp với nghề đã chọn, phù hợp với khả năng sức khỏe của mình và theo tiêu chuẩn của nơi cần nhân công Ngoài ra, phải có trách nhiệm trong việc thực hiện quy định của pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề

* Thanh tra và x ử lý vi phạm trong lĩnh vực việc làm

Thanh tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực việc làm hiện nay chỉ được cụ thể bằng hoạt động thanh tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực lao động nói chung và chủ yếu trong hoạt động của người lao động, người sử dụng lao động và các tổ chức khác dựa trên quan hệ về hợp đồng lao động Theo đó, được quy định trong pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, bao gồm: Bộ luật Lao động năm 2012, Luật Xử

lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật Thanh tra năm 2010, Nghị định 148/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dạy nghề, Nghị định 39/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành lao động – thương binh và xã hội, Nghị định 95/2013/NĐ ngày 22 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động…

Theo đó, việc thanh tra, xử lý vi phạm được thực hiện trên cơ sở những quy định cơ bản trong Bộ luật Lao động về nhiệm vụ của thanh tra nhà nước về lao

Trang 25

động gồm Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội với các nội dung cụ thể bao gồm: i) thanh tra việc chấp hành và thực hiện các quy định của pháp luật về lao động; ii) điều tra tai nạn lao động và những vi phạm an toàn lao động, vệ sinh lao động; iii) tham gia hướng dẫn áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về điều kiện lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động; iv) giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động theo quy định của pháp luật; v) xử lý theo thẩm quyền và đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật về lao động Tuy nhiên, bên cạnh trách nhiệm của thanh tra lao động, các chủ thể có thẩm quyền khác cũng phải thực hiện các nhiệm vụ của mình trong quá trình xử lý vi phạm về lĩnh vực lao động nói riêng

và việc làm nói chung

* Gi ải quyết tranh chấp trong lĩnh vực việc làm

Tranh chấp xảy ra trong lĩnh vực việc làm là các tranh chấp chủ yếu thuộc lĩnh vực lao động, cụ thể là khi quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động đã được xác lập thông qua hợp đồng lao động và sẽ được điều chỉnh bởi Bộ luật Lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành Đồng thời, đây cũng là cơ sở để giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực việc làm Tuy nhiên, bên cạnh những nội dung về lao động việc làm được quy định trong Bộ luật Lao động, còn có các quy định về các tranh chấp trong lĩnh vực việc làm được nêu ở các văn bản pháp luật khác như Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Việc làm năm 2013…

Như vậy, đối với các tranh chấp trong lĩnh vực việc làm phần lớn là các tranh chấp trong lĩnh vực lao động dựa trên quan hệ hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động và các văn bản tố tụng dân sự gồm: giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải, giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài lao động và giải quyết tranh chấp thông qua tranh tụng tại Tòa án Đối với từng nội dung cụ thể được áp dụng theo pháp luật lao động trên căn cứ hợp đồng lao động thông thường hay hợp đồng dịch vụ đối với tranh chấp cá nhân đi lao động nước ngoài với công

Trang 26

ty thực hiện dịch vụ này Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có những nội dung nhằm hướng tới các tranh chấp xảy ra trong lĩnh vực việc làm khi chưa bị điều chỉnh bởi hợp đồng lao động

1.3 Lược sử quá trình hình thành và phát triển của pháp luật việc làm ở Việt Nam

Việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của người lao động để bảo đảm cuộc sống và phát triển toàn diện Xây dựng Luật Việc làm là nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo đảm yêu cầu hội nhập quốc tế, góp phần thúc đẩy và bảo đảm việc làm theo hướng bền vững cho người lao động Những quy định về việc làm ở Việt Nam được hình thành tương đối sớm Ngay từ Hiến pháp năm 1959 tại Điều 30 đã có quy định: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền

làm vi ệc Nhà nước dựa vào sự phát triển có kế hoạch của nền kinh tế quốc dân,

d ần dần mở rộng công việc làm, cải thiện điều kiện lao động và lương bổng, để

b ảo đảm cho công dân được hưởng quyền đó” Ra đời trong hoàn cảnh miền Nam

đang trong quá trình đấu tranh giành độc lập, miền Bắc gia tăng sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội, Hiến pháp năm 1959 xác định việc làm là một vấn

đề cần chú trọng trong thời kỳ này

Đến Hiến pháp năm 1980, vấn đề việc làm được quy định một cách rõ ràng, đầy đủ hơn Theo đó, lao động không chỉ là quyền của công dân mà là “…quyền,

ngh ĩa vụ và vinh dự hàng đầu của công dân” Trong thời kỳ này, vấn đề việc làm đã

được chú trọng và đề cập trong văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất là Hiến pháp, tuy nhiên, chưa có những quy định cụ thể, những văn bản pháp lý chuyên ngành quy định rõ ràng về việc làm

Đến Hiến pháp năm 1992, tiếp tục kế thừa và phát huy quy định về việc làm trong Hiếp pháp năm 1980, Điều 55 Hiến pháp năm 1992 quy định:

“Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân

Nhà n ước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người

lao động”

Trang 27

Cùng với đó là những quy định liên quan đến bình đẳng về việc làm giữa lao động nam và lao động nữ, những quy định về việc làm đối với những đối tượng khác Trên tinh thần của Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Lao động năm 1994 được ban hành, có hiệu lực từ ngày 01/01/1995 đã dành riêng Chương II quy định những vấn đề cơ bản về việc làm như: quyền tự do việc làm của người lao động, quyền tuyển chọn và sử dụng lao động của người lao động, trách nhiệm tạo việc làm của nhà nước, chỉ tiêu tạo việc làm, chương trình và quỹ quốc gia về việc làm, tổ chức giới thiệu việc làm Ngoài ra, Bộ luật Lao động năm 1994 còn có những quy định

về chính sách việc làm đối với một số đối tượng đặc thù như lao động nữ (Chương X), lao động là người tàn tật, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, lao động Việt Nam làm việc cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (Chương XI) Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất điều chỉnh các quan hệ việc làm…

Cùng với sự phát triển của các quan hệ xã hội về việc làm, Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung chương Việc làm (Bộ luật Lao động năm 1994) vào năm 2002; ban hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm

2006, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 (Chương V - Bảo hiểm thất nghiệp), Luật Người khuyết tật năm 2010 (ChươngV - Dạy nghề và Việc làm)… nhằm điều chỉnh đầy đủ và toàn diện hơn quan hệ việc làm của một số đối tượng đặc thù và các quan

hệ xã hội liên quan trực tiếp đến quan hệ việc làm như: lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, bảo hiểm thất nghiệp, việc làm với người khuyết tật

Đối với các văn bản dưới luật, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành

08 Nghị định, 07 Quyết định; sửa đổi, bổ sung 05 Nghị định, 01 Quyết định; hủy bỏ, thay thế 02 Nghị định để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của

Bộ luật Lao động, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Bảo hiểm xã hội (Chương V - Bảo hiểm thất nghiệp)

Cùng với đó, các Bộ, cơ quan ngang Bộ: Lao động – Thương binh và Xã hội, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Quốc phòng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành 29 Thông tư và Thông tư liên tịch, 05 Quyết định; sửa đổi, bổ sung 04

Trang 28

Thông tư; hủy bỏ, thay thế 05 Thông tư để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội (ChươngV - Bảo hiểm thất nghiệp), các Nghị định Chính phủ và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

Ngoài các văn bản trong hệ thống luật quốc gia, còn có 03 công ước của ILO (Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và nữ cho một công việc ngang nhau năm 1959, Công ước số 111 về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp năm 1958, Công ước số 122 về chính sách việc làm) mà nước ta phê chuẩn, gia nhập Đây là các nguồn pháp luật quan trọng cho việc tổ chức thực hiện pháp luật việc làm

Bước quan trọng đánh dấu sự phát triển của pháp luật về việc làm ở Việt Nam chính là sự ra đời của Luật Việc làm năm 2013 Luật Việc làm năm 2013 được Quốc hội khoá XIII – kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 16 tháng 11 năm 2013, chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 Đây là Luật Việc làm đầu tiên của nước ta Luật Việc làm năm 2013 gồm 07 chương, 62 điều, điều chỉnh các quan hệ

về việc làm, bao gồm các quy định về 05 nội dung chính: Chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động, thông tin thị trường lao động; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, tổ chức và hoạt động dịch vụ việc làm và bảo hiểm thất nghiệp, quản lý nhà nước về việc làm Luật Việc làm ra đời nhằm hoàn thiện chính sách pháp luật về việc làm, tạo cơ hội việc làm, đảm bảo việc làm bền vững và an toàn cho mọi người lao động trong xã hội, nâng cao trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối với vấn đề thúc đẩy việc làm, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao chất lượng việc làm cho người lao động

Có thể thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về việc làm hiện nay chủ yếu điều chỉnh nhóm đối tượng có quan hệ lao động (thông qua hợp đồng lao động), trong khi 65,4% lao động đang làm việc trong nền kinh tế không có quan hệ lao động thì chưa có luật điều chỉnh

Luật tiếp tục khẳng định chủ trương nhất quán của Nhà nước trong việc xác định mục tiêu giải quyết việc làm trong chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia tạo và tự tạo việc làm song song với việc ban hành các chính sách hỗ trợ tạo việc làm, phát triển thị trường

Trang 29

lao động, bảo hiểm thất nghiệp, đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia gắn với việc nâng cao trình độ kỹ năng nghề, hỗ trợ người sử dụng lao động sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật, lao động nữ, lao động là người dân tộc thiểu số

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Vấn đề việc làm-giải quyết việc làm là vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia trên thế giới, bao gồm cả những nước có nền kinh tế phát triển và đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam Và để giải quyết vấn đề này, nhà nước có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau Có những biện pháp nhằm trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động nhưng cũng có biện pháp chỉ mang tính chất hỗ trợ Các biện pháp mang tính hỗ trợ cho giải quyết việc làm như khuyến khích đầu

tư, lập các chương trình việc làm, phát triển hệ thống dịch vụ việc làm, dạy nghề gắn với việc làm, thành lập các quỹ giải quyết việc làm, cho vay từ các quỹ chuyên dụng…Các biện pháp trực tiếp giải quyết việc làm như hoàn thiện thể chế pháp luật việc làm hiện tại Tất cả nhằm hướng tới mục đích làm giảm tình trạng thất nghiệp, mất cân bằng lao động…

Trang 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Thực trạng pháp luật và thực hiện các quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực việc làm

2.1.1 Quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực việc làm

Các cơ quan nhà nước đều đóng vai trò là chủ thể thực hiện các quy định pháp luật hiện hành về việc làm trên cơ sở nội dung văn bản pháp luật được ban hành Trong đó, nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết việc làm cho người lao động được quy định rải rác trong các văn bản từ Bộ luật Lao động năm 2012, Luật Việc làm năm 2013, Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài tới các văn bản quy phạm hướng dẫn như Nghị định số 148/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dạy nghề, Nghị định số 39/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội…

Trang 31

trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chương trình việc làm quốc gia do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đệ trình Chính phủ quyết định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch hằng năm và 05 năm do Bộ Kế hoạch và đầu tư chủ trì cùng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các ngành có liên quan xây dựng đệ trình Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm hướng dẫn kiểm tra và báo cáo Chính phủ kết quả chỉ tiêu thực hiện tạo việc làm mới (hằng năm và 05 năm) và Chương trình việc làm quốc gia

Đồng thời, Chính phủ tiến hành lập quỹ quốc gia về việc làm từ ngân sách Nhà nước và các nguồn khác, tức là việc trợ giúp của các nước, các tổ chức quốc tế

và cá nhân nước ngoài; của các đơn vị và cá nhân trong nước hỗ trợ giải quyết việc làm (Điều 10 Luật Việc làm năm 2013) Bên cạnh đó, Chính phủ tiến hành phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm

* Trách nhi ệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập chương trình và quỹ giải quyết việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó, đồng thời có trách nhiệm báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính Cùng với đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hỗ trợ và kiểm tra chương trình việc làm của cấp huyện và cấp xã

Đối với các nội dung cụ thể về trách nhiệm của Nhà nước trong vấn đề việc làm được thể hiện rất rõ qua các nội dung:

- Qu ỹ quốc gia về việc làm:

Quỹ Quốc gia về việc làm được quy định khung tại Chương II - Việc làm của

Bộ luật Lao động Do vậy, Luật Việc làm cụ thể hóa các nội dung hoạt động của Quỹ (chính sách tín dụng tạo việc làm, hỗ trợ phát triển thị trường lao động) để dễ

đi vào cuộc sống và thấy được rõ vai trò, đối tượng áp dụng của Quỹ tại Mục 1 Chương 2 Luật Việc làm năm 2013 Đối tượng ưu tiên của chính sách tín dụng được

mở rộng so với các quy định hiện hành, bổ sung thêm đối tượng người dân tộc ít

Trang 32

người, lao động thuộc hộ bị thu hồi đất nông nghiệp; thanh niên hoàn thành nghĩa

vụ quân sự nhằm mục đích:

Th ứ nhất, hỗ trợ các tổ chức dịch vụ việc làm

Th ứ hai, hỗ trợ các đơn vị gặp khó khăn tạm thời để tránh cho người lao

động không bị mất việc làm

Th ứ ba, hỗ trợ cho những đơn vị nhận người lao động bị mất việc làm theo

đề nghị của cơ quan lao động địa phương

Th ứ tư, hỗ trợ quỹ việc làm cho người lao động bị tàn tật và dùng để cho vay

với lãi suất thấp để giải quyết việc làm cho một số đối tượng thuộc diện tệ nạn xã hội (mại dâm, nghiện hút )

Quỹ quốc gia về việc làm được hình thành từ những năm 90, mục tiêu chính của Quỹ là hỗ trợ tự tạo việc làm cho lao động chưa có việc làm, lao động phi chính thức… Quỹ này là quỹ độc lập được trích từ ngân sách nhà nước và các nguồn khác

do Ngân hàng chính sách xã hội quản lý, thực hiện cho vay ưu đãi hỗ trợ tạo và tự tạo việc làm; đầu tư phát triển thị trường lao động trong và ngoài nước; hỗ trợ thực hiện bảo đảm việc làm cho người lao động; thực hiện các chương trình việc làm công… Quỹ quốc gia về việc làm được dành cho các đối tượng bao gồm: doanh nghiệp nhỏ

và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh; người lao động; đây là những đối tượng có khả năng kinh tế thấp cần được hỗ trợ về vốn Đặc biệt đối với các chủ thể

là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh có sử dụng nhiều lao động là người khuyết tất, người dân tộc thiểu số sẽ được ưu tiên hơn Bên cạnh đó, đối với đối tượng là người lao động thuộc người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người khuyết tật sẽ được hỗ trợ vay vốn với mức lãi suất thấp hơn (Điều 12 Luật Việc làm năm 2013)

- Trung tâm d ịch vụ việc làm:

Nhà nước có chính sách triển khai thành lập và kiểm tra giám sát hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm Trung tâm dịch vụ việc làm là đơn vị sự nghiệp

Trang 33

công lập gồm: trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan nhà nước thành lập, trung tâm dịch vụ việc làm do tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ khi có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị nhân lực theo quy định Trung tâm dịch vụ việc làm được thành lập nhằm thực hiện nhiệm vụ, Điều 38 Luật Việc làm năm 2013:

“1 Trung tâm dịch vụ việc làm có các nhiệm vụ sau đây:

a) Tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động và cung cấp thông tin thị

tr ường lao động miễn phí

b) Cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động c) Thu thập thông tin thị trường lao động

d) Phân tích và dự báo thị trường lao động

đ) Thực hiện các chương trình, dự án về việc làm

e) Đào tạo kỹ năng, dạy nghề theo quy định của pháp luật”

Ngoài ra, Chính phủ trình Quốc hội quyết định chương trình và quỹ quốc gia

về vệc làm mỗi năm với nguồn từ ngân sách, từ hỗ trợ của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các nguồn hợp pháp khác để ngày càng phát triển, mở rộng quỹ quốc gia về việc làm Đây là nguồn hỗ trợ rất lớn cho các chủ thể đang là đối tượng chưa

có việc làm hay chưa có đủ điều kiện để tự tạo việc làm

- Chính sách việc làm công:

Việt Nam có 70% dân số sống ở nông thôn (chiếm 48% số người có việc làm) làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư, diêm nghiệp Chương trình việc làm công nhằm mục đích bảo đảm việc làm có thu nhập cho người lao động ở nông thôn thông qua các chương trình xây dựng nông thôn mới, chương trình giảm nghèo bền vững, chương trình bãi ngang ven biển và hải đảo và tập trung vào các công trình,

dự án, hoạt động có quy mô nhỏ của xã, phường, thị trấn; bao gồm: các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và

Trang 34

diêm nghiệp; các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng; các dự án bảo vệ, phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên; các dự án nhỏ nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu (Điều 18 Luật Việc làm năm 2013)

Chương trình việc làm công với mục tiêu mang trực tiếp việc làm đến cho người lao động khó tiếp cận được với thị trường lao động, vừa khắc phục tình trạng thiếu việc làm, vừa góp phần xây dựng cơ sở xã hội, những công trình phù hợp, cần thiết với chính người dân tại địa phương; cung cấp việc làm tạm thời cho người lao động ở khu vực nông thôn chưa có việc làm hoặc thiếu việc làm và khó khăn trong tìm kiếm việc làm; ưu tiên đối với người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ

bị thu hồi đất nông nghiệp, lao động là người dân tộc ít người, phụ nữ Lựa chọn nội dung công việc, đăng ký và quản lý lao động tham gia, chi trả kinh phí cho lao động… tham gia Chương trình việc làm công sẽ do Chính phủ quy định, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện lựa chọn hoạt động phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế xã hội, lao động của từng địa bàn

- H ỗ trợ chuyển dịch việc làm cho người lao động khu vực nông thôn:

Xuất phát từ thực trạng đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh ở các địa phương những năm qua; chính sách thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đang gây ra thiếu việc làm trầm trọng ở nông thôn; Luật Việc làm quy định chính sách hỗ trợ chuyển dịch việc làm cho lao động nông thôn nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Cụ thể:

“1 Căn cứ chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước hỗ trợ

chuy ển đổi nghề nghiệp, việc làm cho người lao động ở khu vực nông thôn

2 Ng ười lao động ở khu vực nông thôn tham gia chuyển đổi nghề nghiệp,

vi ệc làm được hưởng các chế độ sau đây:

a) H ỗ trợ học nghề;

Trang 35

b) T ư vấn miễn phí về chính sách, pháp luật về lao động, việc làm, học nghề;

c) Gi ới thiệu việc làm miễn phí;

Vay v ốn từ Quỹ quốc gia về việc làm theo quy định tại các điều 11, 12 và 13

c ủa Luật này” (Điều 15 Luật Việc làm năm 2013)

- H ỗ trợ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng:

Một trong những kênh quan trọng góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống cho người lao động đó là đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (mỗi năm cả nước có khoảng 70-80 nghìn lao động đi làm việc

ở nước ngoài theo hợp đồng) Để góp phần thúc đẩy hoạt động đưa người lao động

đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và trên cơ sở kế thừa các quy định pháp luật hiện hành, Luật Việc làm năm 2013 quy định cụ thể chính sách hỗ trợ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tại Điều 20 Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện cho người lao động có nhu cầu và khả năng đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Đối với các đối tượng người lao động là người dân tộc thiểu số người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc hộ bị thu hồi đất nông nghiệp; thân nhân của người có công với cách mạng có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được Nhà nước hỗ trợ: học nghề, ngoại ngữ; hiểu biết phong tục tập quán, pháp luật của Việt Nam và nước tiếp nhận lao động; đào tạo, nâng cao trình

độ kỹ năng nghề để đáp ứng yêu cầu của nước tiếp nhận lao động; vay vốn với lãi suất ưu đãi

- H ỗ trợ tạo việc làm cho thanh niên:

Thanh niên Việt Nam với những phẩm chất tốt đẹp như: sự năng động,sáng tạo, nhiệt tình, tinh thần ham học hỏi và khả năng nhanh nhạy tiếp thu, lĩnh hội điều mới Trong sự nghiệp đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, thanh niên ngày càng có vai trò quan trọng, là bộ phận ưu tú của nguồn nhân lực, đóng góp to lớn vào tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội Nhận thức được tầm quan trọng của lực lượng

Trang 36

thanh niên, trên cơ sở kế thừa các quy định hiện hành, Luật Việc làm đã quy định chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho thanh niên:

“Điều 21 Hỗ trợ tạo việc làm cho thanh niên

1 Nhà n ước khuyến khích tổ chức, cá nhân giải quyết việc làm cho thanh niên;

t ạo điều kiện cho thanh niên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong tạo việc làm

2 Nhà n ước hỗ trợ tạo việc làm cho thanh niên thông qua các hoạt động

sau đây:

a) T ư vấn, định hướng nghề nghiệp và giới thiệu việc làm miễn phí cho

thanh niên;

b) Đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho thanh niên hoàn thành nghĩa vụ

quân s ự, nghĩa vụ công an, thanh niên tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ thực hiện

ch ương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội;

c) H ỗ trợ thanh niên lập nghiệp, khởi sự doanh nghiệp

3 Chính ph ủ quy định chi tiết điểm b và điểm c khoản 2 Điều này”

Có thể thấy bên cạnh trách nhiệm hỗ trợ, Nhà nước còn khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia vào vấn đề giải quyết việc làm của thanh niên, qua đó giúp thanh niên có thể phát huy tối đa tiềm năng của bản thân, đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội

Những nội dung được quy định của Luật Việc làm đã xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc hỗ trợ cho từng đối tượng về việc làm Tuy nhiên, quy định như vậy chỉ bó buộc trách nhiệm của Nhà nước mà chưa làm rõ được trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khác đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm cho các đối tượng lao động đặc thù này

- H ỗ trợ phát triển thị trường lao động:

Nhằm mục tiêu giải quyết việc làm cho người lao động, Nhà nước thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm thông qua hỗ trợ phát triển thị trường lao động, tạo điều

Trang 37

kiện thuận lợi để người lao động và người sử dụng lao động hoạt động trên thị trường lao động

“Điều 22 Hỗ trợ phát triển thị trường lao động

Nhà n ước hỗ trợ phát triển thị trường lao động thông qua các hoạt động sau đây:

1 Thu th ập, cung cấp thông tin thị trường lao động, phân tích, dự báo thị

tr ường lao động, kết nối cung cầu lao động;

2 Hi ện đại hóa hoạt động dịch vụ việc làm và hệ thống thông tin thị trường

lao động;

3 Đầu tư nâng cao năng lực trung tâm dịch vụ việc làm;

4 Khuy ến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển thị trường lao động”

Nhà nước huy động các nguồn lực để phát triển thị trường lao động thông qua các hoạt động: đầu tư nâng cao năng lực tổ chức dịch vụ công về việc làm; hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động; hỗ trợ các hoạt động về thông tin thị trường lao động; khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân thành lập và hoạt động doanh nghiệp dịch vụ việc làm phù hợp với quy định của pháp luật…

- Ch ứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia:

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định quy trình thực hiện việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia theo quy định tại Nghị định số 31/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia được xây dựng trên cơ sở yêu cầu thực hiện các bước công việc của từng ngành nghề gắn với hệ thống trang thiết bị, máy móc và sự quản lý của người sử dụng lao động Bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia là công cụ để đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, do cơ quan quảnlý nhà nước về việc làm (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) phối hợp với các Bộ, ngành, các hội nghề nghiệp, các chuyên gia, người lao động, người sử dụng lao

Trang 38

động để ban hành; vấn đề đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia được quy định tại Chương IX của Luật dạy nghề từ Điều 79 đến Điều 82; Chương IV của Luật Việc làm

Điều kiện cấp giấy chứng nhận hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia phải bảo đảm:

Th ứ nhất, có cơ sở vật chất và trang thiết bị theo danh mục cơ sở vật chất,

trang thiết bị đánh giá kỹ năng nghề quốc gia cho từng nghề do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành, bảo đảm tương ứng với số lượng người tham dự đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia trong một đợt kiểm tra kiến thức chuyên môn, kỹ thuật hoặc kiểm tra kỹ năng thực hành công việc và quy trình an toàn lao động, vệ sinh lao động ở một bậc trình độ kỹ năng của mỗi nghề thực hiện trong cùng một thời điểm

Th ứ hai, có hệ thống thiết bị quan sát, giám sát bằng hình ảnh, âm thanh

được kết nối với mạng Internet, bảo đảm cho việc quan sát, theo dõi, giám sát được tất cả các hoạt động diễn ra trong quá trình thực hiện việc kiểm tra kiến thức và kiểm tra thực hành công việc và quy trình an toàn lao động, vệ sinh lao động của người tham dự

Th ứ ba, có trang thông tin điện tử riêng bảo đảm cho người lao động có thể

đăng ký tham dự đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia trực tuyến

Th ứ tư, chủ thể thực hiện: Đối với mỗi bậc trình độ kỹ năng của một nghề, có

ít nhất là 03 người được cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này cấp thẻ đánh giá viên kỹ năng nghề quốc gia, trong đó có ít nhất 01 người làm việc chính thức tại tổ đánh giá kỹ năng nghề

Th ứ năm, hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận:

Hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận gồm: Văn bản đề nghị của tổ chức có kèm bản sao quyết định thành lập tổ chức đó do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và các tài liệu chứng minh đáp ứng được các điều kiện nêu trên

Trang 39

Trình tự, thủ tục: Tổ chức có nhu cầu cấp giấy chứng nhận gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đến Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ quy định tại Nghị định này, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ và cấp giấy chứng nhận; trường hợp không cấp thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do

Quy trình thực hiện việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia gồm: i) Lập kế hoạch và chuẩn bị các điều kiện để tổ chức các kỳ đánh giá kỹ năng nghề quốc gia; ii) Thực hiện đánh giá kiến thức chuyên môn, kỹ thuật; đánh giá kỹ năng thực hành công việc và quy trình an toàn lao động, vệ sinh lao động của người tham

dự theo các bậc trình độ kỹ năng của từng nghề; iii) Giám sát việc thực hiện đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; iv) Công nhận kết quả đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho người tham dự đạt yêu cầu

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội vẫn là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý nhà nước về đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề, giúp Chính phủ thống nhất thực hiện quản lý nhà nước về đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia trong phạm vi cả nước; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia… Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

có trách nhiệm xây dựng, đề xuất danh mục công việc ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn và sức khỏe của cá nhân người lao động hoặc cộng đồng yêu cầu phải có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề được quy định tại các luật hiện hành và tổ chức thực hiện việc đánh giá kỹ năng nghề đối với công việc đó Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là thực hiện quản lý nhà nước về đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia tại địa phương, trong phạm vi, quyền hạn của mình

Pháp luật đã quy định vai trò của Nhà nước trên hầu hết các phương diện nhằm hỗ trợ việc làm, qua đó thể hiện vị trí quan trọng của Nhà nước là chủ thể đặc

Trang 40

biệt trong quan hệ việc làm, không chỉ đơn thuần là quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động Nhà nước có chịu trách nhiệm phần lớn trong các mối quan

hệ thuộc lĩnh vực việc làm, đồng thời giúp quan hệ này phát triển Tuy nhiên, Nhà nước chủ đạo trong vấn đề việc làm dẫn tới thực tế rất ít các nghĩa vụ đặt ra cho các chủ thể khác được pháp luật quy định, cũng đồng thời gây ra những khó khăn nhất định trong quá trình thực thi pháp luật

2.1.2 Thực trạng thực hiện các quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực việc làm

Pháp luật lao động việc làm hiện nay đã tương đối hoàn thiện với các quy định đáp ứng được nhu cầu thực tiễn trước khi Luật Việc làm năm 2013 được ban hành Luật Việc làm năm 2013 ra đời với những quy định cụ thể, hệ thống và rõ ràng hơn: Chính sách hỗ trợ tạo việc làm (Chương 2); Thông tin thị trường lao động (Chương 3); Đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia (Chương 4); Tổ chức

và hoạt động dịch vụ việc làm (Chương 5); Bảo hiểm thất nghiệp (Chương 6) Tuy nhiên các văn bản hướng dẫn Luật Việc làm năm 2013 còn rất ít, gần như chưa có và chủ yếu các văn bản hướng dẫn liên quan tới lĩnh vực việc làm đều là văn bản hướng dẫn các quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, đồng thời hướng tới một nhóm người lao động cụ thể như: Nghị định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức, Nghị định 41/2012/NĐ-

CP ngày 08 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm trong đơn vị

sự nghiệp công lập Ngoài ra còn một số Nghị định khác hướng dẫn Bộ luật Lao động năm 2012 liên quan tới vấn đề việc làm như: Nghị định số 03/2014/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về việc làm; Nghị định số 52/2014/NĐ-CP ngày 23 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm; Nghị định 31/2015/NĐ-CP của Chính phủ

về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 07 năm 2015 của Chính phủ quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia

Ngày đăng: 20/06/2016, 21:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Cơ quan của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2014, Báo Kinh tế và Dự báo, Năng suất lao động năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: N"ă"ng su"ấ"t lao "độ"ng n"ă
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010, Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ừ đ"i"ể"n ti"ế"ng Vi"ệ"t
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
11. Tổng cục Thống kê, 2012, Báo cáo tổng kết thi hành pháp luật việc làm năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo t"ổ"ng k"ế"t thi hành pháp lu"ậ"t vi"ệ"c làm n"ă
12. Ủy ban thường vụ quốc hội, Viện Nghiên cứu lập pháp, năm 2013,Thông tin chuyên đề: Chính sách việc làm – thực trạng và giải pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin chuyên "đề": Chính sách vi"ệ"c làm – th"ự"c tr"ạ"ng và gi"ả
15. Lưu Thị Hoài Anh, 2013, Giải quyết việc làm theo pháp luật lao động Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại vùng Đồng bằng Sông Hồng: luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gi"ả"i quy"ế"t vi"ệ"c làm theo pháp lu"ậ"t lao "độ"ng Vi"ệ"t Nam và th"ự"c ti"ễ"n th"ự"c hi"ệ"n t"ạ"i vùng "Đồ"ng b"ằ"ng Sông H"ồ"ng: lu"ậ"n v"ă"n th"ạ"c s"ĩ" lu"ậ"t h"ọ"c
16. Nguyễn Hữu Chí (chủ biên), 2006, Hoàn thiện, thực thi pháp luật về lao động nữ trong doanh nghiệp ngoài nhà nước, Nxb. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thi"ệ"n, th"ự"c thi pháp lu"ậ"t v"ề" lao "độ"ng n"ữ" trong doanh nghi"ệ"p ngoài nhà n"ướ"c
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
17. Mai Ngọc Cường (chủ biên), 2013, Một số vấn đề cơ bản về chính sách xã hội ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: M"ộ"t s"ố" v"ấ"n "đề" c"ơ" b"ả"n v"ề" chính sách xã h"ộ"i "ở" Vi"ệ"t Nam hi"ệ"n nay
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
18. Nguyễn Thùy Dương, 2012, Pháp luật về chống kỳ thị và phân biệt đối xử với người lao động nhiễm HIV ở Việt Nam: khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lu"ậ"t v"ề" ch"ố"ng k"ỳ" th"ị" và phân bi"ệ"t "đố"i x"ử" v"ớ"i ng"ườ"i lao "độ"ng nhi"ễ"m HIV "ở" Vi"ệ"t Nam: khoá lu"ậ"n t"ố"t nghi"ệ"p
19. Nguyễn Thị Hương Giang, 2012, Thực trạng quyền việc làm của người lao động trong pháp luật lao động Việt Nam và một số kiến nghị: khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Th"ự"c tr"ạ"ng quy"ề"n vi"ệ"c làm c"ủ"a ng"ườ"i lao "độ"ng trong pháp lu"ậ"t lao "độ"ng Vi"ệ"t Nam và m"ộ"t s"ố" ki"ế"n ngh"ị": khoá lu"ậ"n t"ố"t nghi"ệ"p
20. Đặng Mai Hoa, 2014, Công ước về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp và sự nội luật hóa trong pháp luật lao động Việt Nam: luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công "ướ"c v"ề" phân bi"ệ"t "đố"i x"ử" trong vi"ệ"c làm và ngh"ề" nghi"ệ"p và s"ự" n"ộ"i lu"ậ"t hóa trong pháp lu"ậ"t lao "độ"ng Vi"ệ"t Nam: lu"ậ"n v"ă"n th"ạ"c s"ĩ" lu"ậ"t h"ọ"c
21. Lương Thị Hòa, 2012, Công ước về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp và sự nội luật hóa trong pháp luật lao động Việt Nam: luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công "ướ"c v"ề" phân bi"ệ"t "đố"i x"ử" trong vi"ệ"c làm và ngh"ề" nghi"ệ"p và s"ự" n"ộ"i lu"ậ"t hóa trong pháp lu"ậ"t lao "độ"ng Vi"ệ"t Nam: lu"ậ"n v"ă"n th"ạ"c s"ĩ" lu"ậ"t h"ọ"c
22. Lê Thị Thu Hòa, 2012, Thực trạng giải quyết việc làm đối với người khuyết tật ở Việt Nam: khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Th"ự"c tr"ạ"ng gi"ả"i quy"ế"t vi"ệ"c làm "đố"i v"ớ"i ng"ườ"i khuy"ế"t t"ậ"t "ở" Vi"ệ"t Nam: khoá lu"ậ"n t"ố"t nghi"ệ"p
23. Luyện Huy Hoàng, 2009, Trách nhiệm của người sử dụng lao động trong lĩnh vực giải quyết việc làm cho người lao động: khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhi"ệ"m c"ủ"a ng"ườ"i s"ử" d"ụ"ng lao "độ"ng trong l"ĩ"nh v"ự"c gi"ả"i quy"ế"t vi"ệ"c làm cho ng"ườ"i lao "độ"ng: khoá lu"ậ"n t"ố"t nghi"ệ"p
24. Lâm Thị Thu Huyền, 2012, Những vấn đề pháp lý cơ bản về việc làm và giải quyết việc làm trong bối cảnh suy thoái kinh tế ở Việt Nam hiện nay: luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nh"ữ"ng v"ấ"n "đề" pháp lý c"ơ" b"ả"n v"ề" vi"ệ"c làm và gi"ả"i quy"ế"t vi"ệ"c làm trong b"ố"i c"ả"nh suy thoái kinh t"ế ở" Vi"ệ"t Nam hi"ệ"n nay: lu"ậ"n v"ă"n th"ạ"c s"ĩ" lu"ậ"t h"ọ"c
25. Nguyễn Kiên, 2001, Việc làm và giải quyết việc làm - Thực trạng và giải pháp: khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi"ệ"c làm và gi"ả"i quy"ế"t vi"ệ"c làm - Th"ự"c tr"ạ"ng và gi"ả"i pháp: "khoá lu"ậ"n t"ố"t nghi"ệ"p
26. Nguyễn Trung Kiên, 2008, Pháp luật về giải quyết việc làm ở Việt Nam: khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lu"ậ"t v"ề" gi"ả"i quy"ế"t vi"ệ"c làm "ở" Vi"ệ"t Nam: khoá lu"ậ"n t"ố"t nghi"ệ"p
28. Trần Thị Mai Loan, TS. Lưu Bình Nhưỡng hướng dẫn, 2008, Quyền tham gia quan hệ lao động nhìn từ góc độ nhân quyền : khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy"ề"n tham gia quan h"ệ" lao "độ"ng nhìn t"ừ" góc "độ" nhân quy"ề"n : khoá lu"ậ"n t"ố"t nghi"ệ"p
29. Đỗ Thị Mai, 2007, Trách nhiệm của người sử dụng lao động trong lĩnh vực việc làm : khoá luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhi"ệ"m c"ủ"a ng"ườ"i s"ử" d"ụ"ng lao "độ"ng trong l"ĩ"nh v"ự"c vi"ệ"c làm : khoá lu"ậ"n t"ố"t nghi"ệ"p
40. Chính sách lao động, việc làm nhìn từ góc độ kinh tế vĩ mô, http://www.baomoi.com/Chinh-sach-lao-dong--viec-lam-nhin-tu-goc-do-kinh-te-vi-mo/47/7268773.epi, ngày 15 tháng 6 năm 2015 Link
42. Một số khái niệm về lao động, thị trường lao động, Viện nghiên cứu lập pháp,http://vnclp.gov.vn/ct/cms/Lists/DeTaiNghienCuu/View_Detail.aspx?ItemID=57, ngày 21 tháng 6 năm 2015 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w