1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề pháp lý về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào việt nam

89 504 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến nay, đã có nhiều đề án, công trình nghiên cứu, bài viết về vấn đề này như: Đề án về "Biện pháp phòng vệ chính đáng đối với hàng hóa sản xuất trong nước phù hợp với các quy định

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ TỰ VỆ TRONG NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

NGUYỄN ĐỖ CHỨC

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc

rõ ràng

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Đỗ Chức

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, các Khoa và các thầy cô giáo của Viện Đại học mở Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Tiến sĩ Đoàn Trung Kiên, người hướng dẫn tận tình, chu đáo để tôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2015

Học viên Nguyễn Đỗ Chức

Trang 5

MỤC LỤC

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỰ VỆ TRONG

NHẬP KHẨU HÀNG HÓA VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỰ VỆ TRONG

NHẬP KHẨU HÀNG HÓA

5

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TỰ VỆ TRONG NHẬP KHẨU

HÀNG HÓA NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

28

2.1 Những nội dung cơ bản của pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu

hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam

29

2.2 Thực tiễn áp dụng biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước

ngoài vào Việt Nam

45

Chương 3: YÊU CẦU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN,

NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TỰ VỆ TRONG

NHẬP KHẨU HÀNG HÓA NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

62

3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa

nước ngoài vào Việt Nam

63

3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng

pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam

68

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Nations

Trang 7

Bảng 2.5: Lượng bán hàng của ngành sản xuất trong nước

Bảng 2.6: Tổng công suất và sản lượng thực tế của ngành sản xuất trong nước Bảng 2.7: Lộ trình áp dụng thuế tự vệ đối với mặt hàng dầu thực vật nhập khẩu vào Việt Nam

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Ở nước ta, trước bối cảnh thực tiễn biến đổi, nền kinh tế kế hoạch tập trung đã bộc lộ nhiều hạn chế, khiếm khuyết, triệt tiêu sự phát triển của nền kinh tế Do vậy, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986, Đảng ta đã xác định chủ trương tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện Trong đó, xác định nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa và mạnh dạn

từng bước tham gia hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế theo tinh thần “Việt Nam

sẵn sàng làm bạn, làm đối tác tin cậy với các nước” Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành nội dung quan trọng và ngày càng được đẩy mạnh Việt Nam đã là thành viên của nhiều tổ chức từ cấp độ khu vực đến quốc tế như: Tháng 7 năm 1995 Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN và tham gia ký kết thành lập khu vực thương mại tự do ASEAN, tham gia diễn đàn hợp tác Á-Âu ASEM tháng 3 năm 1996, diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương APEC tháng 01 năm 1998, tổ chức thương mại thế giới WTO năm 2007 v.v Song song với những cơ hội và thuận lợi, nền kinh tế Việt Nam cũng phải đối mặt với muôn vàn khó khăn thử thách Là một quốc gia đang phát triển, nền kinh tế còn non trẻ gặp nhiều khó khăn trong xu hướng tự do hóa thương mại được mở rộng Các ngành sản xuất nội địa vấp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các quốc gia với nền kinh tế phát triển trên thế giới Chính

vì vậy, nhu cầu áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại nói chung và tự vệ thương mại nói riêng để bảo hộ hợp lý các ngành sản xuất nội địa được đặt ra Để tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại, chúng ta đã ban hành Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam ngày

25 tháng 5 năm 2002 và các văn bản hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, trong bối cảnh chúng ta đã trở thành thành viên của WTO, hệ thống pháp luật Việt Nam còn nhiều điểm hạn chế chưa theo kịp thực tiễn thương mại về bảo hộ hàng hóa nói chung và

tự vệ nói riêng Xuất phát từ thực trạng pháp luật hiện hành về biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam và với mong muốn tìm hiểu sâu hơn

về vấn đề này giúp ích cho công việc của một công chức Hải quan nên tôi đã quyết

Trang 9

định chọn đề tài luận văn thạc sỹ của mình là: “Những vấn đề pháp lý về tự vệ trong

nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam’’

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Biện pháp tự vệ và pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam đã được bắt đầu nghiên cứu sâu rộng hơn kể từ khi Việt Nam tham gia vào xu thế tự do hóa thương mại với việc trở thành thành viên của WTO Cho đến nay, đã có nhiều đề án, công trình nghiên cứu, bài viết về vấn đề này như: Đề

án về "Biện pháp phòng vệ chính đáng đối với hàng hóa sản xuất trong nước phù

hợp với các quy định của tổ chức thương mại Quốc tế và các cam kết Quốc tế mà Việt Nam đã ký kết" do Bộ Công thương xây dựng năm 2006; Luận án tiến sỹ kinh

tế của Vũ Thành Toàn với đề tài "Bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước trong xu thế tự

do hóa thương mại: Thực tiễn trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ”

năm 2012; các bài viết trên tạp chí như: “Bàn về biện pháp tự vệ đối với hàng hóa

nhập khẩu" của Hà Thị Thanh Bình trên tạp chí nhà nước và pháp luật số 8/2008; hay "Biện pháp tự vệ thương mại trong nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam- điều kiện và thủ tục áp dụng" của ThS Nguyễn Quý Trọng trên tạp chí luật học số 4/2012 Công trình nghiên cứu của tác giả Đinh Thị Mỹ Loan có nhan đề: Hỏi – đáp

về pháp luật tự vệ của Việt Nam và WTO, do Nhà xuất bản Lao động – xã hội xuất bản năm 2008; Công trình nghiên cứu có tên gọi: Biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) do Nhà xuất bản

thời đại xuất bản năm 2009;

Ngoài ra, đã có một số luận văn tốt nghiệp đại học nghiên cứu về đề tài này

như: Các biện pháp tự vệ trong thương mại – thực tiễn sử dụng ở một số nước trên

thế giới và Việt Nam của tác giả Vũ Thị Phương Thảo, (Đại học Ngoại Thương,

2003), “Biện pháp tự vệ thương mại trong khuôn khổ WTO – những vấn đề đặt ra

và giải pháp thực thi ở Việt Nam” của tác giả Vũ Thị Hiếu (Đại học Ngoại Thương,

2010), “Tự vệ trong thương mại và nghiên cứu trường hợp áp dụng tại Việt Nam

của tác giả Đặng Thế Vinh” (Đại học Ngoại Thương, 2010)

Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam chưa được luận giải một cách thấu đáo nhằm phát

Trang 10

hiện ra những hạn chế, bất cập, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp mang tính chất pháp lý nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng khi chúng ta đã là thành viên của WTO

3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài là nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận

và thực tiễn của pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa ở nước ngoài vào Việt Nam Trên cơ sở thực trạng pháp luật hiện hành, luận văn đề xuất một số giải pháp

cụ thể nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam Để thực hiện được mục tiêu nói trên,

nhiệm vụ đặt ra cho luận văn là:

Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về biện pháp tự vệ và pháp luật

về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài ở Việt Nam;

Thứ hai, phân tích, đánh giá các nội dung cơ bản của pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam Đồng thời, đánh giá thực tiễn áp dụng biện pháp

tự vệ hiện nay ở nước ta;

Thứ ba, trên cơ sở thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp tự vệ, luận văn xác định các yêu cầu và đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng

hóa nước ngoài vào Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam là một lĩnh vực pháp luật còn khá mới mẻ, vì vậy có nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu Tuy nhiên, với đề tài: "Những vấn đề pháp lý về tự vệ trong nhập

khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam”, phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung vào làm rõ một số vấn đề lý luận về biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa

và pháp luật về tự vệ; thực trạng pháp luật về tự vệ ở Việt Nam được quy định chủ yếu trong Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam năm 2002 Từ đó, xác định các yêu cầu và đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam

Trang 11

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để giải quyết các vấn đề của luận văn, trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã

sử dụng các phương pháp như: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lê Nin kết hợp với các phương pháp nghiên cứu truyền thống khác như: Phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê, so sánh luật học v.v

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Là công trình nghiên cứu có hệ thống và tương đối toàn diện về pháp luật tự

vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam

- Đã trình bày có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về tự vệ và pháp luật tự

vệ trong nhập khẩu hàng hóa Đặc biệt, luận văn đã nêu được quan niệm về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài; phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa biện pháp tự vệ với các biện pháp phòng vệ thương mại khác; giới thiệu được các quy định về tự vệ của WTO và pháp luật về tự vệ của một số quốc gia trên thế giới;

- Phân tích và đánh giá tương đối đầy đủ, toàn diện các quy định về pháp luật

tự vệ và thực tiễn áp dụng biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam;

- Xác định được các yêu cầu khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật Từ đó,

đề xuất được một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn xây dụng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục kết cấu của luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa và pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa

Chương 2: Thực trạng pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam

Chương 3: Yêu cầu và một số giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả

áp dụng pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam

Trang 12

Chương 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỰ VỆ TRONG NHẬP KHẨU HÀNG HÓA VÀ PHÁP LUẬT

VỀ TỰ VỆ TRONG NHẬP KHẨU HÀNG HÓA

Trang 13

1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa

1.1.1 Quan niệm về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa

Biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa đã xuất hiện khá sớm trong thực tiễn thương mại quốc tế Tự vệ để chống lại sự gia tăng nhập khẩu một sản phẩm nhất định đến mức gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước được coi là "Van an toàn” để các quốc gia sử dụng khi cần thiết, hạn chế mặt trái của tự do hóa thương mại Mỗi quốc gia ghi nhận và áp dụng các biện pháp tự vệ khác nhau dựa trên điều kiện đặc trưng riêng về kinh tế, chính trị- xã hội, hệ thống pháp luật

Trên thế giới, biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa được quan niệm là một trong các biện pháp “Phòng vệ thương mại” Biện pháp phòng vệ thương mại được các quốc gia biết đến và sử dụng rộng rãi bao gồm ba biện pháp cơ bản: Chống bán phá giá, chống trợ cấp xuất khẩu, tự vệ thương mại Tuy cách gọi các biện pháp này có sự khác biệt như: Hoa kỳ và WTO sử dụng thuật ngữ là “Trade remedies” thường được hiểu là “Các biện pháp khắc phục thương mại” hay như EC

sử dụng thuật ngữ “Trade defence mesaures" tạm dịch là “Các biện pháp phòng vệ thương mại”, song về bản chất đều chỉ các biện pháp của một nước áp dụng trước

sự ảnh hưởng của hàng hóa xuất khẩu từ các nước khác đối với ngành sản xuất nội địa và mục đích hướng tới khi áp dụng các biện pháp này là nhằm lập lại sự công bằng trong thương mại quốc tế, bảo hộ ngành sản xuất nội địa [15, tr10] Trên thực

tế các biện pháp này thường bị các quốc gia “bóp méo” và trở thành hàng rào phi thuế quan “hiện đại” để bảo hộ sản xuất trong nước

Với sự ra đời của GATT 1947 và sau này là sự thành lập WTO, quan niệm về

tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa được chính thức ghi nhận theo quan điểm của WTO Việc áp dụng biện pháp tự vệ được xác định là một trong những ngoại lệ của việc tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của tự do hóa thương mại

Theo từ điển chính sách thương mại quốc tế, tự vệ hiểu theo điều XIX của

GATT có nghĩa là “Cho phép một nước hoãn không thi hành các nghĩa vụ của mình

Trang 14

hoặc sửa đổi các cam kết tự do hóa trong các trường hợp không lường trước được

và nếu bất cứ một sản phẩm nào được nhập khẩu với số lượng ngày càng tăng có thể gây ra hoặc đe dọa gây ra các thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất trong nước cùng sản xuất một loại hàng hóa tương tự hoặc loại hàng hóa cạnh tranh trực tiếp " [23, tr.218]

Mục đích cao nhất của việc thành lập WTO là hướng tới thực hiện chính sách

tự do hóa thương mại, xóa bỏ các rào cản thương mại giữa các quốc gia Điều XI GATT đã nhấn mạnh các quốc gia “Chỉ được phép bảo hộ sản xuất nội địa bằng

công cụ thuế quan” và nguyên tắc “Cam kết ràng buộc về thuế nhập khẩu” tại Điều

II, XVIII GATT Tuy nhiên, GATT cũng đưa ra quy định tại điều XIX về trường hợp trong điều kiện thương mại thông thường khi có sự gia tăng không thể lường trước của các loại sản phẩm nhập khẩu nhất định, gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng đối với ngành sản xuất nội địa sản xuất sản phẩm tương tự hoặc sản phẩm cạnh tranh trực tiếp thì thành viên được tạm thời áp dụng những biện pháp không phù hợp với các quy định của WTO

Điều XIX được xem là điều khoản giải thoát “escape clause”, là ngoại lệ của nghĩa vụ tuân thủ các nhượng bộ đã cam kết của thành viên trong trường hợp kinh

tế khẩn cấp Điều khoản này đặt cơ sở cho việc quy định cụ thể hơn tự vệ thương mại trong Hiệp định SA của WTO Như vậy, có thể thấy tự vệ thương mại chính là ngoại lệ của việc tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của tự do hóa thương mại trong WTO

Nếu như trên thế giới, biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa đã có lịch sử

ra đời khá sớm thì ở Việt Nam khái niệm tự vệ thương mại còn khá mới mẻ Mặc dù hiện nay chúng ta đã ban hành Pháp lệnh số 42/2002/PL - UBTVQH10 ngày 25 tháng 5 năm 2002 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam và Nghị định số 150/2003/NĐ - CP ngày 8 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh nhưng các văn bản này đều không đưa ra quy định cụ thể thế nào là tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa

Trang 15

nước ngoài Quan niệm về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài cũng bước đầu được hình thành và tiếp cận rộng rãi hơn qua quá trình Việt Nam gia nhập và trở thành thành viên của WTO Như vậy, hiện nay chúng ta chưa có sự ghi nhận chính thức về khái niệm tự vệ trong các văn bản pháp luật Quan niệm về tự vệ chủ yếu được các cơ quan nghiên cứu và trình bày trong các tài liệu chuyên ngành, cụ thể như sau:

Trong đề án về "Biện pháp phòng vệ chính đáng đối với hàng hóa sản xuất trong nước phù hợp với các quy định của tổ chức thương mại quốc tế và các cam kết Quốc tế

mà Việt Nam đã ký kết” do Bộ Công thương xây dựng năm 2006, có xác định: "Biện

pháp tự vệ thường được nói đến như một công cụ bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp trong nước trong trường hợp khẩn cấp nhằm hạn chế những tác động không thuận lợi gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất trong nước do tình trạng gia tăng bất thường của hàng hóa nhập khẩu ”[13, tr.5]

Theo tài liệu của Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thì:

"Biện pháp tự vệ là việc tạm thời hạn chế nhập khẩu đối với một hoặc một số loại hàng hóa khi việc nhập khẩu chúng tăng nhanh gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước" [20, tr.3] Biện pháp tự vệ chỉ được

áp dụng đối với hàng hóa, không áp dụng với dịch vụ, đầu tư hay sở hữu trí tuệ

Tóm lại, quan niệm về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa ở trên Thế giới và ở

Việt Nam đều dựa trên các quy định của WTO và có thể được hiểu là: "Hoạt động

hạn chế nhập khẩu tạm thời của Chính phủ nước nhập khẩu đối với một loại hàng hóa nhập khẩu vào nước này trong trường hợp những hàng hóa đó được nhập khẩu một cách quá mức, gây ra hoặc đe dọa gây ra tổn thất nghiêm trọng đến ngành sản xuất trong nước”.

1.1.2 Các biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa

Tùy thuộc vào tính chất cùng với những đặc điểm riêng của nền kinh tế mà mỗi Quốc gia lựa chọn áp dụng các biện pháp tự vệ khác nhau Các biện pháp tự vệ được các Quốc gia áp dụng khá đa dạng như: Tăng thuế nhập khẩu, cấm nhập khẩu,

Trang 16

hạn ngạch, hạn ngạch thuế quan, thuế tuyệt đối, quản lý và hạn chế nhập khẩu bằng thủ tục cấp phép v.v Nhưng nhìn chung các biện pháp tự vệ được khái quát thành hai loại cơ bản là: Biện pháp thuế quan và biện pháp hạn chế định lượng

(i) Biện pháp thuế quan

Thuế quan được hiểu là khoản thu của nhà nước đánh vào hàng hóa khi hàng hóa đó di chuyển từ lãnh thổ hải quan này sang lãnh thổ hải quan khác nhằm tăng nguồn thu từ ngân sách Quốc gia và bảo hộ hàng hóa tương tự, ngành kinh tế hàng hóa tương tự trong nước

Khi các quốc gia nhận thấy hàng hóa từ nước ngoài được nhập khẩu một cách quá mức, gây ra hoặc đe dọa gây ra tổn thất nghiêm trọng đến ngành sản xuất trong nước, thì quốc gia có thể lựa chọn áp dụng biện pháp thuế quan bằng cách tăng thuế nhập khẩu nhằm mục đích tự vệ Trên thực tế trong quan hệ thương mại giữa các quốc gia có rất nhiều mức thuế khác nhau được vận dụng trên cam kết của từng nước Ví dụ như mức thuế mà các nước dành cho nhau theo quy chế tối huệ quốc, mức thuế mà các nước phát triển dành ưu đãi cho nước đang phát triển hay thậm chí không đánh thuế đối với hàng hóa có xuất xứ từ lãnh thổ của các nước thành viên trong cùng khối liên minh kinh tế hay khu vực mậu dịch tự do Đối với các thành viên của WTO, các thành viên thông qua đàm phán sẽ đưa ra nhượng bộ về thuế quan trong đó cam kết mức trần thuế suất nhập khẩu áp dụng đối với từng loại hàng hóa Trong thời gian thực hiện cam kết của mình các thành viên không được áp dụng thuế suất cao hơn mức trần đã cam kết Tuy nhiên nếu xảy ra trường hợp được

áp dụng biện pháp tự vệ theo WTO cho phép thành viên nhập khẩu được nâng thuế suất áp dụng đối với sản phẩm nhập khẩu vượt mức trần Ví dụ: Việt Nam cam kết

áp dụng mức thuế trần 32% đối với xi măng nhập khẩu vào năm 2011 Trong trường hợp áp dụng biện pháp tự vệ đối với xi măng nhập khẩu, Việt Nam có thể áp dụng mức thuế nhập khẩu cao hơn mức trần đã cam kết

Khi áp dụng biện pháp thuế quan, giá hàng hóa nhập khẩu sẽ bị tăng lên một lượng vừa đúng bằng mức thuế phải nộp Thuế đánh càng cao sẽ càng làm cho giá

Trang 17

hàng hóa càng tăng Từ đó, sẽ dần dần điều tiết và làm hạn chế lượng hàng nhập khẩu Việc áp dụng biện pháp thuế quan sẽ giúp các nhà sản xuất nội địa có ưu thế rõ ràng về giá cả hàng hóa, tăng doanh số hàng hóa nội địa, tăng lợi nhuận Điều này tạo

ra nhiều cơ hội thuận lợi cho các nhà sản xuất nội địa phát triển sản xuất cả về quy

mô và chất lượng để cạnh tranh chiếm ưu thế so với các nhà sản xuất nước ngoài Bên cạnh những tác động tích cực đến việc bảo hộ cho các sản phẩm trong nước Thì việc áp dụng biện pháp thuế quan giúp tăng nguồn thu cho ngân sách của nhà nước với đặc điểm dễ kiểm soát và tính toán được chính xác

(ii) Biện pháp hạn chế định lượng

Nếu như thuế quan được xem xét là biện pháp kinh tế pháp lý, hạn chế nhập khẩu một cách gián tiếp thì biện pháp hạn chế định lượng mang tính hành chính pháp lý bắt buộc, tác động điều tiết trực tiếp đến hàng hóa nhập khẩu Đặc điểm của biện pháp này là tác động nhanh, có hiệu lực cao, do đó chúng thường được sử dụng trong những trường hợp nhằm mục đích bảo hộ khẩn cấp mà thuế quan kém phát huy tác dụng [24, tr.128] Các quốc gia trên thế giới có thể áp dụng nhiều các biện pháp hạn chế định lượng như: Hạn ngạch, cấm nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu v.v tuy nhiên hạn ngạch là biện pháp hạn chế định lượng tiêu biểu và được áp dụng phổ biến nhất trong nhập khẩu hàng hóa

Hạn ngạch hay còn gọi là quota là quy định của nước nhập khẩu về mức cao nhất của giá trị hay khối lượng hàng hóa được phép nhập khẩu từ một thị trường nhất định trong một thời gian xác định [24,tr.129] Khi áp dụng hạn ngạch, nước nhập khẩu đặt ra giới hạn tối đa về số lượng, khối lượng hoặc giá trị mà một mặt hàng nhất định được phép nhập khẩu Ví dụ: Năm 2010, quốc gia A xuất khẩu vào thị trường quốc gia B là 600.000 tấn thép Sau khi tiến hành điều tra tự vệ, quốc gia A quyết định áp dụng biện pháp hạn ngạch trong đó quy định mức hạn ngạch nhập khẩu thép đối với B là: 60.000 tấn, giảm 10 lần so với mức ban đầu chưa áp dụng hạn ngạch Khác với biện pháp thuế quan, biện pháp hạn chế định lượng là các biện pháp mang tính hành chính nên các tác động thường nhanh Việc áp dụng biện pháp hạn

Trang 18

chế định lượng sẽ có tác động cơ bản giống như thuế quan đó là hạn chế lượng hàng nhập khẩu và bảo hộ sản xuất trong nước giúp các nhà sản xuất trong nước tăng sản lượng, bán được sản phẩm với giá cao hơn v.v Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng cũng có những mặt trái Khi áp dụng biện pháp này, phần lợi ích chênh lệch giá không được đưa vào ngân sách nhà nước như trường hợp thuế quan mà lại do nhà nhập khẩu hưởng Đồng thời nó kích thích buôn lậu và gian lận thương mại vì thực tế hạn chế lượng hàng nhập khẩu có thể dẫn tới tình trạng cung không đủ cầu, tất yếu sẽ dẫn tới mặt trái trên Đây cũng là lý do dẫn đến tệ nạn móc ngoặc, hối lộ, tham nhũng trong phân bổ hạn ngạch

Việc áp dụng các biện pháp tự vệ đều có những mặt tích cực và hạn chế Do vậy, việc lựa chọn áp dụng các biện pháp này được mỗi quốc gia cân nhắc, tính toán trên cơ sở điều kiện của ngành sản xuất nội địa chịu ảnh hưởng nói riêng, nền kinh

tế nói chung và các yếu tố về mặt chính trị- xã hội

1.1.3 Phân biệt biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa với các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu

Trong xu thế tự do hóa thương mại mạnh mẽ, để bảo vệ nền sản xuất nội địa trước sự xâm nhập của hàng hóa nước ngoài, các quốc gia ngày càng coi trọng việc

áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại Các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ được coi là ba cột trụ của hệ thống các biện pháp phòng vệ thương mại

Biện pháp chống bán phá giá (anti-dumping measure) được áp dụng trong trường hợp hàng hóa nước ngoài được bán phá giá tại thị trường của nước nhập khẩu, gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại vật chất đối với ngành công nghiệp nội địa sản xuất sản phẩm tương tự với sản phẩm nhập khẩu và có mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố này Còn biện pháp đối kháng chống trợ cấp (countervailing measures), được áp dụng trong trường hợp hàng nhập khẩu được hưởng trợ cấp từ Chính phủ thành viên xuất khẩu, gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại vật chất đối với ngành công nghiệp nội địa sản xuất sản phẩm tương tự với sản phẩm nhập khẩu và

có mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố này [16]

Trang 19

Biện pháp tự vệ có sự khác biệt so với hai biện pháp chống bán phá giá và đối kháng chống trợ cấp ở những tiêu chí cơ bản sau:

(i) Bản chất

Hai biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp được áp dụng để chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại Cụ thể là hành vi bán phá giá và trợ cấp Hành vi bán phá giá tức là hành vi bán sản phẩm vào nước nhập khẩu với giá thấp hơn giá bán hàng hóa đó tại nước xuất khẩu nhằm thôn tính thị trường

và tiến tới loại bỏ dần các đối thủ cạnh tranh kinh doanh các sản phẩm tương tự tại nước nhập khẩu Còn hành vi trợ cấp là việc Chính phủ dành cho doanh nghiệp những lợi ích mà trong điều kiện thông thường doanh nghiệp không thể có nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm nội địa hay đẩy mạnh xuất khẩu Như vậy, về bản chất hai biện pháp chống bán phá giá và trợ cấp được áp dụng chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh Trong khi đó, tự vệ được áp dụng ngay cả đối với hành vi thương mại hoàn toàn bình thường với mục đích chính là nhằm bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa tương tự trong nước trước tình trạng bị cạnh tranh gay gắt hay bị đe dọa hoặc chịu thiệt hại nghiêm trọng từ sự gia tăng bất thường của hàng hóa nhập khẩu

(ii) Điều kiện áp dụng

Đối với biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp, điều kiện để áp dụng hai biện pháp này chỉ cần chứng minh hành vi bán phá giá hay trợ cấp gây

“thiệt hại đáng kể” hoặc bị de dọa gây thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản đáng kể

sự hình thành của ngành sản xuất trong nước Còn biện pháp tự - vệ đòi hỏi chứng minh: Một là, hàng hóa liên quan được nhập khẩu có sự gia tăng đột biến

về số lượng mà nước nhập khẩu không lường trước được Hai là, ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với hàng hóa đó bị “thiệt hại nghiêm trọng” hoặc đe dọa thiệt hại nghiêm trọng Ba là, có mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột biến và hậu quả thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa thiệt hại nghiêm trọng

Trang 20

(iii) Biện pháp áp dụng

Thứ nhất, để chống lại hành vi bán phá giá hay hành vi trợ cấp hàng hóa, thành viên nhập khẩu chỉ có thể áp dụng biện pháp thuế quan dưới hình thức thu thuế nhập khẩu bổ sung nhằm triệt tiêu ưu thế do cạnh tranh không công bằng của sản phẩm nhập khẩu Còn trong tự vệ thì thành viên nhập khẩu được áp dụng các biện pháp linh hoạt, đa dạng hơn so với hai hình thức kia như: Thuế suất, hạn ngạch, hạn ngạch thuế quan v.v

Thứ hai, các biện pháp thuế trong chống bán phá giá và chống trợ cấp bị giới hạn ở chỗ, thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp không được phép cao hơn biên độ phá giá hay trợ cấp Ngược lại, trong tự vệ thương mại, không có quy định giới hạn tương tự nào đối với mức thuế tự vệ được áp dụng

Trang 21

chấm dứt áp dụng cho đến khi có căn cứ cho thấy sản phẩm không còn bán phá giá hoặc được trợ cấp, bên cạnh đó, WTO yêu cầu các nước thành viên rà soát lại và nới lỏng dần các biện pháp tự vệ theo từng giai đoạn

(vi) Nghĩa vụ bồi thường thương mại

Trường hợp một nước áp dụng biện pháp chống bán phá giá hay biện pháp đối kháng chống trợ cấp không có nghĩa vụ bồi thường thương mại cho các thành viên

bị ảnh hưởng hay thiệt hại bởi các biện pháp này Trong khi đó, đối với tự vệ thương mại, thành viên áp dụng tự vệ thương mại sẽ phải cam kết bồi thường thỏa đáng đối với các thành viên xuất khẩu bị thiệt hại do tự vệ thương mại bằng cách đưa ra nhượng bộ thương mại ở những lĩnh vực khác nhằm mục đích cân bằng cam kết thương mại với các nước bị ảnh hưởng “Bồi thường” được hiểu là sự nhượng

bộ dưới dạng giảm thuế quan đối với một hoặc nhiều mặt hàng khác của nước bị tác động bất lợi về lợi ích thương mại Nếu nước áp dụng tự vệ thương mại không tuân thủ các điều kiện đã được quy định thì các nước khác sẽ được quyền áp dụng biện pháp trả đũa “Trả đũa” được hiểu là sự rút nhượng bộ hoặc việc thực hiện nghĩa vụ khác cho nước áp dụng biện pháp tự vệ

1.1.4 Tác động của việc áp dụng biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa

* Tác động tích cực

Như chúng ta đã biết biện pháp tự vệ được áp dụng nhằm làm giảm lượng hàng hóa xuất khẩu của nước ngoài vào nước nhập khẩu Do vậy, tác động tích cực lớn nhất mà biện pháp này mang lại là bảo hộ ngành sản xuất nội địa trước sức ép cạnh tranh trực tiếp từ hàng hóa nhập khẩu Nguy cơ từ sự gia tăng đột ngột sản phẩm nhập khẩu có thể gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước đặc biệt là những ngành còn non yếu và chưa có đủ năng lực cạnh tranh Bên cạnh đó, đối với những ngành sản xuất then chốt và mũi nhọn của một quốc gia, nếu không áp dụng tự vệ có thể gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đối với nền kinh tế và các hậu quả gián tiếp như nạn thất nghiệp, bất

ổn về chính trị, Xã hội Do đó, việc áp dụng biện pháp tự vệ sẽ là '‘chiếc van an toàn" bảo vệ ngành sản xuất trong nước Đối với ngành sản xuất còn non yếu, biện

Trang 22

pháp tự vệ giúp các doanh nghiệp sản xuất có thời gian và điều kiện cần thiết để xây dựng, tăng cường các nguồn lực nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh Đối với ngành sản xuất quan trọng then chốt của quốc gia, biện pháp tự vệ tạo cơ hội để đổi mới, tái cơ cấu, xác định các chiến lược đẩy mạnh và phát triển sản xuất Mặt khác, biện pháp tự vệ còn đem lại các tác động tích cực gián tiếp như: Việc áp dụng các biện pháp tự vệ về thuế quan giúp tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước

* Tác động tiêu cực

Một mặt, biện pháp tự vệ nhằm bảo hộ một ngành sản xuất nội địa trước sự gia tăng sản phẩm nhập khẩu, mặt khác nó lại gây ra bất lợi cho ngành sản xuất nội địa khác có liên quan chẳng hạn như các ngành sản xuất sử dụng sản phẩm nhập khẩu Bên cạnh đó, biện pháp tự vệ có thể gây ra các hệ quả tiêu cực khác đối với quốc gia nhập khẩu như: Quyền lợi của người tiêu dùng trong nước bị ảnh hưởng do phải mua sản phẩm nhập khẩu với giá cao hơn, tệ nạn buôn lậu và gian lận thương mại có thể gia tăng do con đường nhập khẩu hợp pháp bị hạn chế hay việc phải đối mặt với trả đũa thương mại từ các quốc gia khác Vì vậy, mỗi quốc gia trước khi quyết định có hay không áp dụng biện pháp tự vệ cần phải cân nhắc các tác động nhiều mặt

1.2 Pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài

1.2.1 Lịch sử phát triển của pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa

Trong bối cảnh tự do hóa thương mại được thúc đẩy và mở rộng, các quốc gia

đã hướng tới thường xuyên áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại nói chung và

tự vệ nói riêng Điều này là cơ sở việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống các quy định về biện pháp phòng vệ thương mại trong pháp luật quốc tế Sự phát triển của pháp luật về tự vệ gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của WTO

Trong lịch sử pháp luật quốc tế, biện pháp tự vệ thương mại đã được quy định lần dầu tiên trong GATT 1947 Điều khoản về biện pháp tự vệ vốn được Hoa kỳ đề xuất trong điều lệ của tổ chức thương mại quốc tế (ITO) dưới hình thức “Điều khoản giải thoát” Tuy nhiên, ITO không được thành lập và điều khoản này được

Trang 23

đưa vào GATT 1947 tại điều XIX Điều XIX cho phép các thành viên tạm ngừng thực hiện các cam kết của mình khi sự gia tăng không thể lường trước của một loại sản phẩm nhập khẩu nhất định gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp của thị trường nội địa Đây được coi là cơ sở pháp lý quan trọng để các quốc gia thực hiện việc bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước trước sức mạnh của cơn bão tự do hóa thương mại Điều XIX của GATT mới chỉ là quy định chung với những nội dung khái quát như: Điều kiện chung để áp dụng một biện pháp tự vệ, quy định về bảo vệ các ưu đãi trong thương mại đang tồn tại, quy định về thông báo trước và tham vấn, các quy định về bồi thường và trả đũa khi áp dụng biện pháp tự vệ Một loạt các vấn đề quan trọng và mang tính thực tiễn như: Các tiêu chí để đánh giá thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước, quá trình điều tra, thời hạn áp dụng tự vệ v.v Trong khi đó, việc áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại của mỗi quốc gia diễn ra ngày càng đa dạng và biến tướng dưới nhiều hình thức Ngoài ra, tình trạng các thành viên tránh áp dụng điều XIX bằng các “Biện pháp miền xám” (grey area) để hạn chế nhập khẩu hàng hóa nước ngoài Các biện pháp miền xám dùng để chỉ những thỏa thuận hạn chế thương mại tự nguyện giữa Quốc gia xuất khẩu và Quốc gia nhập khẩu Các biện pháp miền xám bao gồm: Biện pháp “hạn chế xuất khẩu tự nguyện” (VER), các thỏa thuận về trao đổi mậu dịch có điều tiết (OMA), các thỏa thuận hạn chế tự nguyện (VRSA) và các thỏa thuận hạn chế thương mại song

phương tương tự “Sự gia tăng của các biện pháp miền xám làm phá vỡ dòng chảy

bình thường của thương mại và suy giảm một cách nghiêm trọng các lợi ích kinh tế

mà thương mại tự do có thể mang lại và vì thế chúng có tác dụng hạn chế thương mại một cách rất đáng kể" [ 14, tr.5] Các biện pháp này được gọi là các biện pháp

“miền xám” vì nó vi phạm nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh và nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) trong WTO Trong thực tiễn thương mại quốc tế, Hoa kỳ và EU là các nước sử dụng biện pháp miền xám nhiều nhất Chính phủ các nước này đã khuyến khích hoặc ủng hộ sáng kiến của những ngành sản xuất tham gia VER với các đối tác ở nước xuất khẩu Vào thời điểm năm 1995 - khi WTO ra đời, đã có trên 200

Trang 24

thỏa thuận “miền xám” song phương và đa phương liên quan đến các loại sản phẩm

từ nông sản (Như thịt bò), hàng đơn giản (như sản phẩm cao su và đồ da, đồ gốm sứ), đến những sản phẩm cao cấp (như TV, xe hơi, xe tải) [14, tr.5]

Thực tiễn này đòi hỏi phải thiết lập các quy định cụ thể và chi tiết hơn để điều chỉnh có hiệu qủa việc áp dụng biện pháp này cũng như tránh tình trạng lạm dụng tự

vệ để bảo hộ sản xuất trong nước Tuy nhiên, trong một khoảng thời gian dài, biện pháp tự vệ hầu như không được đề cập trong các vòng đàm phán trong khuôn khổ của GATT 1947 Tại vòng đàm phán TOKYO, vấn đề tự vệ đã được thảo luận tuy nhiên không có kết quả đáng kể Các đàm phán đa phương về các biện pháp tự vệ được nối lại tại vòng đàm phán URUGUAY (1986-1994) Cuối cùng, các quy định

về tự vệ đã được thảo luận và thống nhất cụ thể bằng một hiệp định riêng Hiệp định của WTO về tự vệ thương mại (safeguards agreement) (gọi tắt là hiệp định SA) đã được thông qua tại vòng đàm phán Uruguay Hiệp định SA mô tả chi tiết phương thức áp dụng các biện pháp tự vệ được quy định tại điều XIX GATT Bên cạnh đó, WTO cũng có các quy định về biện pháp tự vệ thương mại tại các lĩnh vực riêng như: Tự vệ được quy định tại Điều 5 hiệp định nông nghiệp (AoA), Điều 6 hiệp định dệt may (ATC) (hết hiệu lực từ 01/01/2005), Điều X hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) v.v Như vậy, có thể thấy, biện pháp tự vệ đã được quy định khá chi tiết và cụ thể trong các văn bản của tổ chức thương mại thế giới WTO Đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để các thành viên áp dụng biện pháp tự vệ thương mại trong bối cảnh hiện nay

Ở Việt Nam, Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam được ban hành từ năm 2002, thời điểm trước khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO Đây được xem là cơ sở pháp lý quan trọng để Việt Nam tiến hành áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu nước ngoài vào Việt Nam Mặc dù được ban hành trước thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, tuy nhiên Pháp lệnh đã có quy định khá rõ ràng và chi tiết, trên tinh thần phù hợp với thông lệ Quốc tế Hiện nay, các văn bản pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài ở nước ta trước hết bao gồm:

Trang 25

- Pháp lệnh số 42/2002/PL - UBTVQH 10 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội

về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam được thông qua ngày 20/05/2002

có hiệu lực ngày 01/09/2002

- Nghị định số 150/2003/NĐ - CP ngày 08 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng hoá nước ngoài vào Việt Nam

- Nghị định số 04/2006/NĐ - CP ngày 09 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ

về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ;

- Nghị định số 95/2012/NĐ - CP ngày 12 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công thuơng;

- Quyết định số 848/QĐ - BCT ngày 05 tháng 02 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Công thương quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh

1.2.2 Quy định của WTO về biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa

1.2.2.1 Hiệp định của WTO về tự vệ thương mại

Hiệp định SA đã được thông qua tại vòng đàm phán Uruguay gồm 13 - Điều Hiệp định SA quy định chi tiết phương thức áp dụng các biện pháp tự vệ được quy định tại Điều XIX GATT 1947 Các vấn đề cơ bản và quan trọng được quy định trong hiệp định:

* Chủ thể có quyền yêu cầu điều tra

- Các nhà sản xuất nội địa “có sản phẩm chiếm tỉ trọng lớn trong tổng sản lượng sản xuất nội địa”, bị tác động bởi hàng nhập khẩu (Điều 4:1)

- Chính phủ nước nhập khẩu

Trong hầu hết các trường hợp, chủ thể yêu cầu áp dụng các biện pháp tự vệ là các nhà sản xuất nội địa

Trang 26

Cơ quan điều tra phải thông báo công khai về cuộc điều tra; tạo điều kiện để các nhà xuất khẩu, các nhà nhập khẩu và các bên liên quan có thể đưa ra các bằng chứng và quan điểm của họ; công bố các báo cáo và kết luận của cơ quan điều tra (Điều 3)

* Điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ: (Điều 2, Điều 4:1, Điều 4:2, Điều 5 hiệp định SA)

- Số lượng hàng nhập khẩu gia tăng đột ngột, tuyệt đối hoặc tương đối (Điều 2);

- Gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho nhà sản xuất mặt hàng tương tự hoặc mặt hàng cạnh tranh trực tiếp (Điều 2);

- Số lượng hàng nhập khẩu gia tăng đột ngột là nguyên nhân cơ bản dẫn tới thiệt hại nghiêm trọng đối với ngành sản xuất trong nước (Điều 4:2) Sẽ không được

áp dụng biện pháp tự vệ, nếu thiệt hại của ngành sản xuất trong nước có nguyên nhân từ những yếu tố không phải là gia tăng số lượng hàng nhập khẩu (Ví dụ: Giảm cầu đối với mặt hàng đó)

Theo Điều 5, biện pháp tự vệ sẽ chỉ được áp dụng ở mức độ cần thiết nhằm ngăn chặn hoặc khắc phục thiệt hại nghiêm trọng và tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh năng lực cạnh tranh của nhà sản xuất trong nước và trên cơ sở không phân biệt đối xử đối với hàng nhập khẩu từ mọi nguồn (nguyên tắc MFN)

* Nguyên tắc áp dụng biện pháp tự vệ:

- Nguyên tắc tối huệ Quốc (MFN)

Nguyên tắc MFN được quy định tại Điều 2.2, theo đó các biện pháp tự vệ được áp dụng không phân biệt nguồn gốc xuất xứ Tuy nhiên Điều 5.2 (b) của hiệp định cũng cho phép các thành viên có thể thoát ly nguyên tắc MFN khi quy định rằng việc nhập khẩu từ một số thành viên nào đó gia tăng, thành viên nhập khẩu có thể phân bổ hạn ngạch, với một tỷ lệ không tương ứng với gia tăng tổng kim ngạch xuất khẩu của sản phẩm đó trong thời kỳ đại diện với điều kiện việc tham vấn được thực hiện dưới sự giám sát của Ủy ban về các biện pháp tự vệ của WTO

Trang 27

- Nguyên tắc cân xứng (Poportionality)

Nguyên tắc cân xứng được quy định tại Điều 5.1 hiệp định SA Nguyên tắc này đòi hỏi “một thành viên sẽ chỉ áp dụng biện pháp tự vệ trong giới hạn cần thiết

để ngăn cản hay khắc phục tổn hại nghiêm trọng và để tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều chỉnh một ngành sản xuất trong nước"

- Nguyên tắc bồi thường và trả đũa thương mại

Khi một thành viên đề xuất áp dụng một biện pháp tự vệ hay tìm cách mở rộng biện pháp này phải tham vấn với các thành viên bị áp dụng và có thể phải thỏa thuận một hình thức đền bù thương mại thỏa đáng đối với những tác động tiêu cực của biện pháp này tới thương mại của các thành viên khác đó (Điều 8.1 hiệp định)

Vì vậy, khi một Quốc gia thành viên quyết định áp dụng một biện pháp tự vệ, Quốc gia này phải cân nhắc để có thể phải nhượng bộ về thuế quan hay hạn ngạch đối với một ngành công nghiệp khác Nếu thỏa thuận về một biện pháp đền bù thương mại không đạt được trong vòng 30 ngày tham vấn thì trong vòng 90 ngày kể từ ngày biện pháp tự vệ được áp dụng, thành viên xuất khẩu bị ảnh hưởng có thể trả đũa bằng cách dừng các nhượng bộ tương đương hoặc các nghĩa vụ thương mại khác đối với thành viên áp dụng biện pháp tự vệ Tuy nhiên, SA cũng khuyến khích các thành viên áp dụng biện pháp tự vệ hợp pháp hơn là các biện pháp bên ngoài khác qua quy định: Việc trả đũa sẽ không được tiến hành trong thời hạn ba năm đầu tiên

mà biện pháp tự vệ có hiệu lực với điều kiện là biện pháp tự vệ đó được áp dụng phù hợp với các quy định của SA và ngoại lệ này chỉ được áp dụng do sự gia tăng nhập khẩu tuyệt đối

* Thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ: (Điều 7 hiệp định SA)

- Thời hạn tối đa để áp dụng biện pháp tự vệ là tám năm còn các nước đang phát triển là 10 năm Do mục tiêu của việc áp dụng biện pháp tự vệ là thúc đẩy

“điều chỉnh cơ cấu” và “khuyến khích chứ không hạn chế cạnh tranh trên thị trường Quốc tế”, nên biện pháp tự vệ sẽ chỉ được áp dụng tạm thời để ngành sản xuất trong nước bị tác động tiến hành những bước tự điều chỉnh, nâng cao khả năng cạnh tranh

Trang 28

sau khi chấm dứt áp dụng biện pháp tự vệ Sự điều chỉnh này được thực hiện bằng cách áp dụng công nghệ mới hoặc hợp lý hóa cơ cấu sản xuất)

- Điều khoản hoàng hôn (“Sunset clause”):

Hiệp định SA quy định “Điều khoản hoàng hôn” đối với tất cả các biện pháp

tự vệ, nghĩa là các biện pháp tự vệ không được áp dụng vĩnh viễn, mà được rà soát định kỳ Việc tiến hành rà soát các biện pháp tự vệ nhằm đưa ra kết luận về việc duy trì, huỷ bỏ hoặc giảm nhẹ mức độ áp dụng các biện pháp tự vệ

* Cấm thành viên WTO áp dụng các biện pháp miền xám: (Điều X, Điều XI hiệp định SA)

- Hiệp định SA cấm thành viên WTO áp dụng các biện pháp miền xám Điều

X, Điều XI hiệp định SA quy định rằng thành viên WTO không được áp dụng hoặc duy trì bất cứ biện pháp nào liên quan đến “Hạn chế xuất khẩu tự nguyện”, “thỏa thuận thị trường có tổ chức”, hoặc bất cứ biện pháp tương tự nào khác liên quan Đến xuất khẩu hoặc nhập khẩu (Như: Điều tiết xuất khẩu, hệ thống giám sát giá xuất khẩu hoặc giá nhập khẩu, kiểm soát xuất khẩu hoặc nhập khẩu, bắt buộc thành lập cartel nhập khẩu, hành động có phối hợp trong việc cấp phép xuất khẩu hay nhập khẩu, v.v)

* Các quy định đặc biệt dành cho thành viên là các Quốc gia đang phát triển các Quốc gia đang phát triển được quyền áp dụng biện pháp tự vệ dài hơn hai năm

so với các Quốc gia phát triển Như vậy thời hạn tối đa để một biện pháp tự vệ có thể được một Quốc gia đang phát triển áp dụng là 10 năm Bên cạnh đó, hiệp định còn quy định rằng các biện pháp tự vệ không được áp dụng chống lại các sản phẩm

có xuất xứ từ các nước đang phát triển nếu thị phần của sản phẩm đó từ một thành viên đang phát triển nhất định nào đó không quá 3% hoặc nếu mỗi thành viên đang phát triển có thị phần nhập khẩu riêng lẻ đối với sản phẩm đó dưới 3% thì tổng thị phần của sản phẩm đó từ các thành viên đang phát triển phải không được quá 9% tổng kim ngạch nhập khẩu của hàng hóa liên quan

Trang 29

1.2.2.2 Biện pháp tự vệ theo Hiệp định nông nghiệp AoA (SSG)

Bên cạnh biện pháp tự vệ được quy định theo hiệp định SA, WTO còn quy định biện pháp tự vệ áp dụng riêng trong lĩnh vực nông nghiệp đối với một số hàng hóa nông sản nhất định Nông nghiệp là một ngành nhạy cảm có tầm quan trọng và mang tính quyết định đối với đời sống an ninh lương thực của mỗi Quốc gia Chính

vì vậy, các thành viên yêu cầu đưa ra cơ chế tự vệ nhanh chóng hiệu quả và dễ áp dụng để đối phó với nguy cơ gia tăng đột ngột hàng nông sản nhập khẩu có thể gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước

* Đối tượng áp dụng:

Theo quy định Điều 5.1 AoA, biện pháp tự vệ đặc biệt được áp dụng đối với những sản phẩm nông nghiệp được thuế hóa và chỉ được áp dụng bởi thành viên đã bảo lưu quyền áp dụng biện pháp này trong cam kết về nông nghiệp Thuế hóa là việc chuyển các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế quan thành thuế quan ví dụ như việc Quốc gia xóa bỏ áp dụng biện pháp hạn ngạch và thay bằng áp dụng thuế quan Như vậy, chỉ có các sản phẩm nông nghiệp được thuế hóa và có ghi chú SSG trong danh mục cam kết của mỗi thành viên mới là đối tượng áp dụng của biện pháp này Ví dụ: Trong danh mục cam kết của nước A, thịt bò được ghi chú là sản phẩm SSG Như vậy, nước A có quyền áp dụng biện pháp tự vệ đặc biệt theo quy định hiệp định AoA

Hiện nay có 39 thành viên WTO bảo lưu quyền áp dụng biện pháp tự vệ đặc biệt theo AoA Tổng số có 6.072 dòng thuế đuợc đãng ký áp dụng SSG, tập trung vào các mặt hàng: Ngũ cốc (1.087 dòng), sản phẩm gia súc gia cầm (1.372 dòng), rau quả (809 dòng), sản phẩm sữa (715 dòng), dầu và các chất béo (706 dòng)

Trang 30

- Hai là, khi giá nhập khẩu thấp hơn mức giá tham khảo quy định - gọi là điều

kiện khởi phát do giá

* Cách thức áp dụng: Biện pháp tự vệ được áp dụng dưới hình thức thuế bổ sung vào mức thuế nhập khẩu thông thường đối với nông sản liên quan

1.2.3 Pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa ở một số quốc gia trên thế giới

1.2.3.1 Pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa của Hoa kỳ

Trong lịch sử lập pháp Hoa kỳ, biện pháp tự vệ đã được quy định từ khá sớm Điều khoản về tự vệ được biết đến với các tên gọi khác như: Điều khoản giải thoát, điều khoản miễn trừ nghĩa vụ v.v Điều khoản giải thoát “escape clause” lần đầu tiên được quy định trong hiệp định thương mại Hoa kỳ - Mexico năm 1943 Trước khi có Điều XIX GATT 1947 Tháng 2 năm 1947, Tổng Thống Truman ban hành sắc lệnh theo đó yêu cầu đưa “Điều khoản giải thoát’' vào tất cả các hiệp định thương mại mà Hoa kỳ đàm phán Hoa kỳ đã tiến hành các vụ điều tra tự vệ từ năm

1948 và Điều XIX GATT 1947 được đưa vào theo đề xuất và mong muốn của Hoa

kỳ, pháp luật về tự vệ của Hoa kỳ chủ yếu được quy định tại Mục 201 của đạo luật thương mại Hoa kỳ năm 1974, được bổ sung bởi đạo luật về các hiệp định thương mại năm 1979 và đạo luật thương mại và thuế quan 1984 Bên cạnh đó tại Mục 421 đạo luật thương mại Hoa kỳ 1974 cũng là cơ sở áp dụng biện pháp tự vệ nhưng chỉ

áp dụng cho quan hệ thương mại Hoa kỳ - Trung Quốc [36], [20]

Theo pháp luật Hoa kỳ, cơ quan có thẩm quyền điều tra và áp dụng tự vệ bao gồm hai cơ quan:

- Một là, Ủy ban thương mại quốc tế Hoa kỳ gọi tất là ITC có quyền tiến hành điều tra tự vệ, đề xuất biện pháp áp dụng lên Tổng Thống

- Hai là, Tổng Thống có quyền quyết định cuối cùng có tiến hành điều tra hay không, quyết định về hình thức và thời hạn áp dụng các biện pháp tự vệ tạm thời hoặc chính thức

Thủ tục điều tra và áp dụng các biện pháp tự vệ có thể khái quát như sau:

Trang 31

Thủ tục điều tra để áp dụng điều khoản tự vệ theo luật Mỹ được bắt đầu bằng một kiến nghị gửi đến ITC Kiến nghị này có thể do đại diện của ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại bởi hàng nhập khẩu, Tổng Thống, đại diện thương mại Mỹ,

Ủy ban tài chính thượng viện Mỹ hay do ITC đề xuất và gửi đi

Sau đó, ITC sẽ tiến hành điều tra xem thực sự có tồn tại thiệt hại nghiêm trọng hoặc nguy cơ thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước cạnh tranh với hàng nhập khẩu như trong kiến nghị hay không Nếu có thiệt hại thì ITC sẽ tiếp tục xem xét liệu nhập khẩu gia tăng có là nguyên nhân chủ yếu của thiệt hại đó xảy ra hay không và sau khi xác định được mối quan hệ nhân quả này, ITC sẽ đệ trình lên Tổng Thống về việc điều tra, kiến nghị áp dụng biện pháp tự vệ nhằm ngăn chặn hay khắc phục thiệt hại cho các ngành sản xuất trong nước bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng của hàng nhập khẩu

Tổng Thống sẽ tiến hành quyết định việc có áp dụng tự vệ và lựa chọn hình thức áp dụng với thời gian và mức phù hợp Nếu hình thức áp dụng biện pháp tự vệ được Tổng Thống lựa chọn khác với hình thức khuyến nghị của ITC thì Quốc Hội

có thể từ chối hành động này và yêu cầu Tổng Thống tuyên bố biện pháp tự vệ do ITC đưa ra trong vòng 30 ngày nếu quyết định này nhận được sự ủng hộ của đa số thành viên hạ viện

Trong thời gian tiến hành các biện pháp tự vệ ITC có trách nhiệm phải giám sát sự phát triển khôi phục của các ngành sản xuất đang được cứu trợ và đệ trình mỗi năm hai lần các báo cáo đến Tổng Thống về kết qủa giám sát ITC cũng phải tổ chức những phiên họp giải trình công khai đến các cá nhân, tổ chức quan tâm Sau khi việc áp dụng các biện pháp tự vệ chấm dứt, ITC phải tiến hành một cuộc điều tra sơ bộ đánh giá hiệu quả việc áp dụng các biện pháp tự vệ

Một cuộc điều tra mới để tiến hành việc áp dụng biện pháp tự vệ về cùng một sản phẩm chỉ được thực hiện sau một năm kể từ khi cuộc điều tra trước đó kết thúc Mục 203 Luật Thương Mại 1974 quy định rằng thời hạn để tiến hành tự vệ là bốn năm và có thể mở rộng trong tổng thời gian là tám năm nếu ITC quyết định

Trang 32

rằng việc này là cần thiết để ngăn ngừa các thiệt hại và các điều chỉnh tích cực đang được tiến hành Tổng Thống Mỹ cũng có thể giảm bớt, thay đổi hay đình chỉ bất kỳ biện pháp tự vệ nào đang được áp dụng nếu có căn cứ xác định

1.2.3.2 Pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa của liên minh Châu Âu (EU)

Biện pháp tự vệ được EU ghi nhận và điều chỉnh trong quy chế về các biện pháp tự vệ ban hành ngày 28 tháng 12 năm 1994 có hiệu lực thi hành từ 01/01/1995 Quy chế này cho phép EU trong những trường hợp cần thiết nhất định có thể áp dụng các biện pháp tự vệ nhằm bảo vệ quyền lợi của mình khi có sự gia tăng không lường trước được của hàng nhập khẩu vào EU gây ra thiệt hại cho các nhà sản xuất trong cộng đồng trước tác động của chính sách tự do hóa thương mại trong điều kiện cạnh tranh bình đẳng Quy chế này được áp dụng đối với loại hàng hóa nhập khẩu (trừ các sản phẩm dệt may) có xuất xứ từ tất cả các nước thứ ba - là những nước không nằm trong EU, ngoại trừ một số nước đang phát triển như: Albnie, Trung Quốc, Mông cổ, Việt Nam v.v Quy chế về các biện pháp tự vệ cũng quy định chi tiết trình tự thủ tục áp dụng biện pháp tự vệ của EU Thời hạn áp dụng v.v [35] [20]

Theo quy định của pháp luật EU, khi các thành viên nhận thấy sự gia tăng của hàng hóa nhập khẩu mà gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất trong EU thì phải tiến hành thông báo cho Ủy ban châu âu Thông báo phải nêu rõ các bằng chứng xác định trên cơ sở tiêu chuẩn, điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ

Trên cơ sở thông báo, Ủy ban Châu Âu sẽ gửi thông báo đến toàn thể các nước thành viên khác trong EU Việc tham vấn có thể diễn ra theo yêu cầu của một nước thành viên bất kỳ hoặc do Chính Ủy ban khởi xướng và phải được diễn ra trong vòng tám ngày sau khi nhận được thông báo nêu trên và trong mọi trường hợp việc tham vấn phải được diễn ra trước khi tiến hành áp dụng các biện pháp tự vệ dưới sự điều hành của một hội đồng tham vấn Hội đồng tham vấn gồm: Đại diện của các nước thành viên do một ủy viên của ủy ban làm chủ tịch hội đồng Nội dung của việc tham vấn chủ yếu đề cập đến các điều kiện và cách thức gia tăng hàng nhập khẩu, có hay không đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng và các vấn đề khác v.v

Trang 33

Sau đó, dựa trên buổi tham vấn nếu thấy có các bằng chứng đầy đủ chứng minh sự cần thiết phải tiến hành điều tra thì Ủy ban sẽ ra quyết định tiến hành điều tra trong vòng một tháng kể từ khi nhận được thông báo từ nước thành viên, Ủy ban phải hợp tác với các nước thành viên để tiến hành công việc điều tra Khi có kết quả điều tra, nếu Ủy ban nhận thấy không cần thiết phải áp dụng bất kỳ biện pháp tự vệ nào thì trong vòng một tháng sau khi gửi thông báo lên hội đồng tham vấn, cuộc điều tra sẽ được chấm dứt Ủy ban phải gửi một bản tường trình kết luận sơ bộ của cuộc điều tra và một bản tóm tắt các lý do dẫn đến kết luận nói trên Nếu Ủy ban nhận thấy cần thiết áp dụng biện pháp tự vệ thì sẽ đưa ra kiến nghị hình thức áp dụng biện pháp tự vệ và yêu cầu hội đồng tham vấn quyết định áp dụng biện pháp

tự vệ phù hợp

Trong một số trường hợp có thể áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời trước hoặc trong khi tiến hành điều tra Việc áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời chỉ được tiến hành trong những trường hợp khẩn cấp khi mọi sự chậm trễ đều có thể dẫn đến thiệt hại khó có thể khắc phục và khi Ủy ban đã xác định một cách sơ bộ rằng có những bằng chứng rõ ràng chứng tỏ sự gia tăng hàng nhập khẩu đã gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại nghiêm trọng Biện pháp tự vệ tạm thời được áp dụng không được vượt quá 200 ngày Biện pháp tự vệ tạm thời chỉ được phép tiến hành dưới hình thức tăng thuế nhập khẩu so với mức hiện hành và trong chừng mực mà các biện pháp tự

vệ đó có thể ngăn ngừa hay khắc phục các thiệt hại đã có Trong thời gian áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời, Ủy ban vẫn phải tiếp tục tiến hành công việc điều tra Trong quá trình điều tra, nếu thấy không tồn tại thực sự thiệt hại hay nguy cơ gây ra thiệt hại thì các biện pháp tự vệ tạm thời sẽ bị bãi bỏ, mức tăng thuế nhập khẩu đã nộp sẽ được hoàn trả lại ngay sau đó cho người nộp thuế theo quy định của EU

Các biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng trong thời hạn cần thiết để ngăn chặn hay khắc phục những tổn hại nghiêm trọng và tạo điều kiện điều chỉnh các ngành sản xuất trong EU Thời hạn này về nguyên tắc là không được vượt quá bốn năm kể

cả thời gian áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời Tuy nhiên thời gian này có thể được kéo dài thêm nếu Ủy ban xác định rằng sự kéo dài thời hạn áp dụng này là cần thiết

để ngăn ngừa hay sửa chữa các tổn hại nghiêm trọng và có chứng cứ rằng các nhà

Trang 34

sản xuất trong EU đang tiến hành những điều chỉnh Các biện pháp sử dụng trong thời gian gia hạn này cũng phải tuân theo những điều kiện và thủ tục giống như biện pháp trước đó Trong trường hợp thời hạn áp dụng một biện pháp tự vệ vượt quá một năm nhằm tạo điều kiện cho sự điều chỉnh thì Ủy ban phải tiến hành từng bước nới lỏng biện pháp này trong khoảng thời gian áp dụng bao gồm cả thời gian gia hạn thêm Tổng thời gian áp dụng một biện pháp tự vệ kể cả thời gian áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời bao gồm cả thời gian áp dụng ban đầu và thời gian gia hạn thêm trong mọi trường hợp không được vượt qúa tám năm Trường hợp thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ vượt quá ba năm, Ủy ban phải tiến hành các buổi tham vấn, chậm nhất là vào giữa khoảng thời gian áp dụng biện pháp tự vệ này nhằm mục đích xem xét hiệu quả của việc áp dụng biện pháp này, xem xét liệu có cần thiết tiếp tục duy trì áp dụng biện pháp này hay không

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã phân tích các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến biện pháp tự vệ

và pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài, tập trung phân tích quan niệm và các biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài Trên thế giới và ở Việt Nam quan niệm về tự vệ được thừa nhận về cơ bản dựa trên cơ sở các văn bản của WTO Một số vấn đề lý luận về pháp luật về biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài với ba nội dung cơ bản:

Một là, lịch sử phát triển của pháp luật về biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài

Hai là, các quy định của WTO biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài

Ba là, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về tự vệ như: Pháp luật Hoa

kỳ, EU

Trang 35

Chương 2:

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TỰ VỆ TRONG NHẬP KHẨU HÀNG HÓA NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

Trang 36

2.1 Những nội dung cơ bản của pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam

2.1.1 Nguyên tắc áp dụng biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam

Nguyên tắc áp dụng biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam được quy định tại Điều 5 Pháp lệnh về tự vệ 2002 Theo đó, bao gồm các nguyên tắc sau [7]:

- Một là, việc áp dụng các biện pháp tự vệ được áp dụng trong phạm vi và mức

độ cần thiết nhằm ngăn ngừa hoặc hạn chế thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước và tạo điều kiện để ngành sản xuất đó nâng cao khả năng cạnh tranh Đây được xem là nguyên tắc đầu tiên mà pháp luật về tự vệ nước ta đặt ra nhằm đảm bảo việc áp dụng biện pháp tự vệ một cách hợp lý, quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia bị áp dụng tự vệ Mặc dù vào thời điểm ra đời Pháp lệnh tự

vệ 2002, Việt Nam chưa tham gia hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, tuy nhiên điều này đã cho thấy điểm tiến bộ, phù hợp của pháp luật tự vệ nước ta với pháp luật quốc tế Đồng thời, nguyên tắc cũng thể hiện tinh thần tôn trọng tự do hóa thương mại, sự bình đẳng giữa các quốc gia trên thế giới

Để có thể áp dụng biện pháp tự vệ trong “Phạm vi và mức độ cần thiết'’ đòi hỏi việc điều tra phải đảm bảo chính xác khách quan trung thực, phải xác định, đánh giá được đầy đủ các yếu tố mà pháp luật quy định Từ đó, cơ quan có thẩm quyển đưa ra biện pháp tự vệ phù hợp nhất

- Hai là, việc áp dụng phải căn cứ vào kết quả điều tra được quy định tại Chương II của Pháp lệnh, trừ trường hợp áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời đã quy định rõ ràng cụ thể các nội dung trong giai đoạn điều tra để tiến hành áp dụng biện pháp tự vệ bao gồm: Căn cứ tiến hành điều tra, trình tự thủ tục điều tra, nội dung điều tra, kết quả điều tra, quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp tự vệ Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền trước khi áp dụng biện pháp tự

vệ bắt buộc phải tuân thủ trình tự thủ tục điều tra cụ thể đã được pháp luật quy định

và chỉ áp dụng trên cơ sở kết quả điều tra Việc quy định nguyên tắc này có ý nghĩa

Trang 37

quan trọng trong việc đảm bảo tính khách quan, nghiêm minh của pháp luật nước ta Đồng thời, pháp luật cũng hướng tới không chỉ bảo vệ quyền lợi của quốc gia mà còn thể hiện sự bình đẳng, tôn trọng với các quốc gia khác

Tuy nhiên, ở nguyên tắc này pháp luật tự vệ cũng đưa ra ngoại lệ Đó là việc

áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời Theo quy định của điều 20 Pháp lệnh tự vệ 2002, biện pháp tự vệ tạm thời có thể được áp dụng trước khi kết thúc điều tra nếu xét thấy việc chậm thi hành các biện pháp tự vệ gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước và thiệt hại đó khó có thể khắc phục

về sau

- Ba là, các biện pháp tự vệ được áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử và

không phụ thuộc vào xuất xứ hàng hóa

Nguyên tắc này đã thể hiện tinh thần của nguyên tắc tối huệ quốc trong việc áp dụng các biện pháp tự vệ Đồng thời một lần nữa khẳng định, quan điểm của Việt Nam luôn tôn trọng sự bình đẳng giữa các quốc gia trên thế giới Đối xử tối huệ quốc được hiểu là đối xử không kém thuận lợi hơn đối xử mà Việt Nam dành cho hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ một nước so với hàng hóa tương tự nhập khẩu xuất xứ từ nước thứ ba hoặc hàng hóa xuất khẩu đến một nước so với hàng tương tự xuất khẩu đến nước thứ ba Như vậy, biện pháp tự vệ sẽ được áp dụng đối với tất cả các sản phẩm tương tự được nhập khẩu bất kể từ nguồn nào

Pháp luật về tự vệ của nước ta cũng thừa nhận ngoại lệ đối với nguyên tắc này Theo đó, Điều 13 Nghị định 150/2003/NĐ - CP ngày 08 tháng 12 năm 2003 quy định về không áp dụng biện pháp tự vệ đối với các nước kém phát triển Biện pháp

tự vệ sẽ không được áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước kém phát triển nếu lượng hàng hóa nhập khẩu của nước đó vào Việt Nam không vượt quá 3% tổng sản lượng hàng hóa nhập khẩu bị điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ và tổng lượng hàng hóa nhập khẩu của các nước đó vào Việt Nam không quá 9% Quy định này thể hiện sự tiến bộ của pháp luật tự vệ nước ta, đáp ứng được tinh thần của pháp luật Quốc tế mà cụ thể là hiệp định SA

Trang 38

2.1.2 Điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam

Điều 6 Pháp lệnh tự vệ 2002, các biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu khi có đủ ba điều kiện sau:

* Thứ nhất, khối lượng, số lượng hoặc giá trị hàng hóa nhập khẩu gia tăng

đột biến một cách tuyệt đối hoặc tương đối so với khối lượng, số lượng hoặc trị giá

hàng hóa tương tự hoặc hàng hóa cạnh tranh trực tiếp được sản xuất trong nước

Để áp dụng biện pháp tự vệ phải xác định được hàng hóa nhập khẩu có sự gia tăng đột biến hay không Sự gia tăng đột biến là sự gia tăng diễn ra đột ngột, nhanh

và tức thời Sự gia tăng đột biến chủ yếu được xem xét trên cơ sở khối lượng, số lượng hoặc trị giá của hàng hóa nhập khẩu so với khối lượng, số lượng hoặc trị giá của hàng hóa tương tự hoặc hàng hóa cạnh tranh trực tiếp được sản xuất trong nước Trong đó, hàng hóa tương tự là hàng hóa giống hệt nhau hoặc giống nhau về chức năng, công dụng, chỉ số chất lượng, tính năng kỹ thuật và các thuộc tính cơ bản khác: Hàng hóa cạnh tranh trực tiếp là hàng hóa có khả năng được người mua chấp nhận thay thế cho hàng hóa thuộc phạm vi áp dụng các biện pháp tự vệ do ưu thế về giá và mục đích sử dụng Sự gia tăng đột biến được xác định trên hai phương diện

là gia tăng đột biến “Một cách tuyệt đối hoặc "Tương đối'’

Tăng tuyệt đối được hiểu là tăng một cách đột ngột tức thời tại thời điểm nhất định Sự tăng đột biến này nằm ngoài mong muốn và bản thân Chính phủ không biết trước và cũng không thể dự đoán trước Để xác định sự gia tăng tuyệt đối, cơ quan có thẩm quyền tiến hành so sánh số lượng hàng hóa được nhập khẩu hiện nay với số lượng nhập khẩu chính hàng hóa đó tại thời điểm trong quá khứ Đây là căn

cứ để xác định mức tăng tuyệt đối và là một trong những căn cứ để áp dụng biện pháp tự vệ thương mại [19, tr.45] Ví dụ: Năm 2010 lượng nhập khẩu mặt hàng thép vào Việt Nam là 500.000 tấn, năm 2011 lượng hàng nhập khẩu là 700.000 tấn Như vậy, lượng tăng tuyệt đối là 200.000 tấn

Tăng tương đối là lượng tăng của hàng nhập khẩu có so sánh tương quan với các yếu tố khác như sản lượng hàng hóa đó tại nước nhập khẩu, sức mua thị trường

Trang 39

hoặc sản lượng của hàng hóa đó tại nước nhập khẩu, sức mua của thị trường hoặc lượng hàng nhập khẩu mặt hàng không tăng nhưng cùng thời điểm đó lượng hàng trong nước lại giảm mạnh Ví dụ: năm 2010, nước A sản xuất mặt hàng thép trong nước là 300.000 tấn trong khi đó lượng thép nhập khẩu là 350.000 tấn Năm 2011, lượng thép nhập khẩu không tăng vẫn giữ nguyên 350.000 tấn nhưng lượng thép trong nước sản xuất sụt giảm nghiêm trọng còn 150.000 tấn

Việc gia tăng đột biến hàng nhập khẩu gây thiệt hại phải là hiện tượng mà nước nhập khẩu không thể lường trước được trước khi đưa ra cam kết

Bên cạnh xác định sự gia tăng đột biến, một điểm cần lưu ý trong điều kiện thứ hai là mối quan hệ giữa mức tăng tuyệt đối và mức tăng tương đối lượng hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa trong nước Trường hợp tăng tuyệt đối giảm nhưng tăng tương đối có thể là nguyên nhân gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa

Ví dụ: Lượng mặt hàng X nhập khẩu năm 2010 là 500.000 tấn, năm 2011 còn 300.000 tấn Như vậy mặt hàng X giảm 200.000 tấn (giảm 40%) Năm 2010, lượng mặt hàng X sản xuất trong nước là 400.000 tấn, năm 2011 là 200.000 (giảm 50%) Như vậy, lượng nhập khẩu vẫn tăng tương đối là: 40% - 30% = 10%

* Thứ hai, có thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước

- Yếu tố có thiệt hại là điều kiện quan trọng và bắt buộc làm cơ sở để áp dụng biện pháp tự vệ Cơ quan điều tra phải chứng minh được việc gia tăng đột biến hàng nhập khẩu sẽ dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng Việc xác định thiệt hại sẽ căn cứ trên các yếu tố:

- Về hình thức: Các thiệt hại này có thể tồn tại dưới hai dạng: Thiệt hại thực tế

và nguy cơ thiệt hại (tức là đe dọa gây thiệt hại);

- Về mức độ: Nếu có thiệt hại thực tế thì thiệt hại này phải ở mức độ nghiêm trọng Thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước là "Tình trạng ngành sản xuất đó suy giảm một cách đáng kể về sản lượng, mức tiêu thụ trong nước, lợi nhuận sản xuất, tốc độ phát triển sản xuất, gia tăng mức tồn đọng hàng hóa; ảnh

Trang 40

hướng xấu đến việc làm, mức tiền lương đầu tư và tới các chỉ tiêu khác của ngành sản xuất trong nước sản xuất hàng hóa đó khoản 2 Điều 4 Pháp lệnh tự vệ 2002 Nếu là nguy cơ thiệt hại thì cũng phải xác định là có nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng Đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước

là “khả năng chắc chắn, rõ ràng và chứng minh được về sự thiệt hại nghiêm trọng

gây ra cho ngành sản xuất trong nước " - Khoản 3 Điều 4 Pháp lệnh tự vệ 2002

- Về phương pháp: Các thiệt hại thực tế được xem xét trên cơ sở phân tích tất

cả các yếu tố có liên quan đến thực trạng ngành sản xuất nội địa (Ví dụ tỷ lệ và mức tăng lượng nhập khẩu, thị phần của sản phẩm nhập khẩu, thay đổi về doanh số, năng suất, sản lượng, nhân công v.v) Trong điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ, việc chứng minh thiệt hại nghiêm trọng sẽ chủ yếu thuộc trách nhiệm của ngành sản xuất trong nước liên quan Do vậy ngành sản xuất trong nước cần có tài liệu, số liệu chính xác, được tập hợp thống kê đầy đủ trong một thời gian tương đối để có đủ cơ

Như vậy, Pháp lệnh tự vệ 2002 đã đưa ra các điều kiện cụ thể để áp dụng biện

pháp tự vệ Tuy nhiên, theo ý kiến của tác giả luận văn, điều kiện thứ ba "Mối quan

hệ nhân qủa trực tiếp của việc gia tăng nhập khẩu và những thiệt hại mà ngành sản xuất nội địa phải gánh chịu” mới chỉ được quy định một cách gián tiếp tại Khoản 2 Điều 6 Vì vậy, Pháp lệnh nên bổ sung quy định trực tiếp điều kiện này tại Điều 6 của Pháp lệnh để tạo cơ sở rõ ràng, hợp lý cho việc xem xét các điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ

Ngày đăng: 20/06/2016, 21:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Bộ Công thương (2006), đề án biện pháp phòng vệ chính đáng đối với hàng hóa sản xuất trong nước phù hợp với các quy định của tổ chức thương mại Quốc tế và các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: bi"ệ"n pháp phòng v"ệ" chính "đ"áng "đố"i v"ớ"i hàng hóa s"ả"n xu"ấ"t trong n"ướ"c phù h"ợ"p v"ớ"i các quy "đị"nh c"ủ"a t"ổ" ch"ứ"c th"ươ"ng m"ạ"i Qu"ố"c t"ế" và các cam k"ế"t qu"ố"c t"ế" mà Vi"ệ"t Nam "đ"ã ký k"ế"t
Tác giả: Bộ Công thương
Năm: 2006
14. Hà Thị Thanh Bình, “Bàn vệ biện pháp tự vệ đổi với hàng hóa nhập khẩu”, tạp chí nhà nước và pháp luật, số 8/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bàn v"ệ" bi"ệ"n pháp t"ự" v"ệ đổ"i v"ớ"i hàng hóa nh"ậ"p kh"ẩ"u”, t"ạ"p chí nhà n"ướ"c và pháp lu"ậ"t, s"ố
15. Lê Thành Chung, “Nhận diện về tự vệ thương mại trong nhập khâu hàng hoá”, tạp chí nghề luật, học viện tư pháp, số 3/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nh"ậ"n di"ệ"n v"ề" t"ự" v"ệ" th"ươ"ng m"ạ"i trong nh"ậ"p khâu hàng hoá”, t"ạ"p chí ngh"ề" lu"ậ"t, h"ọ"c vi"ệ"n t"ư" pháp, s"ố
16. TS. Đoàn Trung Kiên (2010), “ Pháp luật chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu ở Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Pháp lu"ậ"t ch"ố"ng bán phá giá hàng hoá nh"ậ"p kh"ẩ"u "ở" Vi"ệ"t Nam - nh"ữ"ng v"ấ"n "đề" lý lu"ậ"n và th"ự"c ti"ễ"n, Lu"ậ"n án ti"ế"n s"ĩ" lu"ậ"t h"ọ"c, tr"ườ"ng "Đạ"i h"ọ"c Lu"ậ"t Hà N"ộ
Tác giả: TS. Đoàn Trung Kiên
Năm: 2010
17. Đinh Văn Thanh và Đ.T.G (2005), những vấn đề pháp lý cơ bản về hội nhập kinh tế Quốc tế, NXB Tư Pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: nh"ữ"ng v"ấ"n "đề" pháp lý c"ơ" b"ả"n v"ề" h"ộ"i nh"ậ"p kinh t"ế" Qu"ố"c t
Tác giả: Đinh Văn Thanh và Đ.T.G
Nhà XB: NXB Tư Pháp
Năm: 2005
18. ThS. Nguyễn Quý Trọng, “một số vấn đề pháp lý về biện pháp tự vệ thương mại”, Tạp chí Luật học số 5/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “m"ộ"t s"ố" v"ấ"n "đề" pháp lý v"ề" bi"ệ"n pháp t"ự" v"ệ" th"ươ"ng m"ạ"i”
19. ThS. Nguyễn Quý Trọng, “Biện pháp tự vệ thương mại trong nhập khẩu hàng hoá vào Việt Nam - điều kiện và thủ tục áp dụng”, Tạp chí Luật học, số 4/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bi"ệ"n pháp t"ự" v"ệ" th"ươ"ng m"ạ"i trong nh"ậ"p kh"ẩ"u hàng hoá vào Vi"ệ"t Nam - "đ"i"ề"u ki"ệ"n và th"ủ" t"ụ"c áp d"ụ"ng”
20. Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) & MUTRAP, Tổng quan tranh chấp phòng vệ thương mại ở liên minh châu âu và Hoa kỳ, bài học cho xuất khẩu Việt Nam, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ổ"ng quan tranh ch"ấ"p phòng v"ệ" th"ươ"ng m"ạ"i "ở" liên minh châu âu và Hoa k"ỳ", bài h"ọ"c cho xu"ấ"t kh"ẩ"u Vi"ệ"t Nam
22. ThS. Vũ Thu Trang (2012), “Pháp luật về cơ quan quản lý cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp về tự vệ thương mại ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sỹ Luật học trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp lu"ậ"t v"ề" c"ơ" quan qu"ả"n lý c"ạ"nh tranh, ch"ố"ng bán phá giá, ch"ố"ng tr"ợ" c"ấ"p v"ề" t"ự" v"ệ" th"ươ"ng m"ạ"i "ở" Vi"ệ"t Nam - th"ự"c tr"ạ"ng và gi"ả"i pháp”
Tác giả: ThS. Vũ Thu Trang
Năm: 2012
25. Xuân Hải (2006), “Quan điểm của Đảng ta về hội nhập kinh tế Quốc tế", Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, truy cập ngày 10/04/2015 tại địa chỉ:http://www.cpv.org.vn/cpv/modules/news/newsdetail.SApx7coid=303l&cn id=20237 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của Đảng ta về hội nhập kinh tế Quốc tế
Tác giả: Xuân Hải
Năm: 2006
26. Thúy Hà (2013), “Doanh nghiệp Việt lúng túng với phòng vệ thương mại", VTV đài truyền hình Việt Nam, truy cập ngày 15/05/2015 tại địa chỉ:http://vtv.vn/thoi-su/doanh-nghiep-viet-lung-tung-voi-phong-ve-thuong-mai/61269.vtv Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp Việt lúng túng với phòng vệ thương mại
Tác giả: Thúy Hà
Năm: 2013
27. Hội đồng tư vấn các biện pháp phòng vệ thương mại Quốc tế - VCCI (2009), “số liệu cập nhật các vụ điều tra tự vệ liên quan tới hàng hóa Việt Nam”, VCCI, truy cập ngày 16/04/2015 tại địa chỉ:http://chongbanphagia.vn/Tonghopsolieu/200905 14/so-lieu-cap-nhat-cac-vu- dieu-tra- tu-ve-lien-quan-toi-hang-hoa-Viet-Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: số liệu cập nhật các vụ điều tra tự vệ liên quan tới hàng hóa Việt Nam
Tác giả: Hội đồng tư vấn các biện pháp phòng vệ thương mại Quốc tế - VCCI
Năm: 2009
28. Khôi Nguyên (2009), “biện pháp tự vệ trong thương mại Quốc tế”, Bộ Tư pháp, truy cập ngày 16/03/2015 tại địa chỉ:http://moi.gov .vn/ct/tintuc/pages/nghien-cuu-trao-doi.SApx?itemID-2437 Sách, tạp chí
Tiêu đề: biện pháp tự vệ trong thương mại Quốc tế
Tác giả: Khôi Nguyên
Năm: 2009
29. Lan Ngọc (2010), “Đối phó với các vụ kiện phòng vệ thương mại: Nguy cơ cao và bài học ghi nhớ”, truy cập ngày 16/04/2015 tại địa chỉ:http://www.baoinoi.com/doi-pho-voi-cac-vu-kien-phong-ve-thuong-mai-nguy-co-cao-va-bai-hoc-ghi- nho/45/3998640.epi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối phó với các vụ kiện phòng vệ thương mại: Nguy cơ cao và bài học ghi nhớ
Tác giả: Lan Ngọc
Năm: 2010
31. Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (2009), “các câu hỏi thường gặp về biện pháp tự vệ", VCCI, truy cập ngày 10/03/2015 tại địa chỉ:http://chongbanphagia.vn/faq/48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: các câu hỏi thường gặp về biện pháp tự vệ
Tác giả: Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam
Năm: 2009
32. T.S Hoàng Thị Thanh Thủy (2010), “Vụ kiện tự vệ đầu tiên - Thực tiễn và kinh nghiệm”, VCCI, truy cập ngày 16/04/2013 tại địa chỉ:http://chongbanphagia.vn/binhluan/20100329/vu-kien-tu-ve-dau-tien-cua-viet-nam-thuc-tien-va-kinh-nghiem.B. TÀI LIỆU TIẾNG ANH I. Sách tham khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vụ kiện tự vệ đầu tiên - Thực tiễn và kinh nghiệm
Tác giả: T.S Hoàng Thị Thanh Thủy
Năm: 2010
34. Bemard M.Hoekman, Michel M. Kostecki (2001), the Political Economy of the World trading system, Oxford University Express, second edition Sách, tạp chí
Tiêu đề: the Political Economy of the World trading system
Tác giả: Bemard M.Hoekman, Michel M. Kostecki
Năm: 2001
35. International trade centre UNCTAD/WTO, Business guide to trade remedies in the Europeơn community: anti-dumping, anti-subsìdy and sạfeguards legừlation, practices andprocedures - Geneva: International trade centre, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Business guide to trade remedies in the Europe"ơ"n community: anti-dumping, anti-subsìdy and s"ạ"feguards leg"ừ"lation, practices andprocedures
36. International trade centre UNCTAD /WTO (2006), Business guide to trade remedies in the United States, Geneva: International trade centre.II. Tài liệu từ nguồn internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Business guide to trade remedies in the United States
Tác giả: International trade centre UNCTAD /WTO
Năm: 2006
37. European Comission (2013). “Trade defence”. EU. Truy cập ngàv 15/03/2015 tại địa chỉ: http://ec.europa.eu/trade/policy/accessing-markets/trade-defence/index_en.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trade defence
Tác giả: European Comission
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2006, 2007, 2008 và hiện tại là QI/2009. Bảng số liệu cho thấy năm 2007 mặt hàng - Những vấn đề pháp lý về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào việt nam
2006 2007, 2008 và hiện tại là QI/2009. Bảng số liệu cho thấy năm 2007 mặt hàng (Trang 56)
Bảng 2.3: Số liệu các yếu tố điều tra thiệt hại của thị trường kính nổi - Những vấn đề pháp lý về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào việt nam
Bảng 2.3 Số liệu các yếu tố điều tra thiệt hại của thị trường kính nổi (Trang 57)
Bảng 2.5: Lượng bán hàng của ngành sản xuất trong nước - Những vấn đề pháp lý về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào việt nam
Bảng 2.5 Lượng bán hàng của ngành sản xuất trong nước (Trang 63)
Bảng 2.6: Tổng công suất và sản lượng thực tế của ngành sản xuất trong nước - Những vấn đề pháp lý về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào việt nam
Bảng 2.6 Tổng công suất và sản lượng thực tế của ngành sản xuất trong nước (Trang 64)
Bảng 2.7: Lộ trình áp dụng thuế tự vệ đối với mặt hàng dầu thực vật - Những vấn đề pháp lý về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào việt nam
Bảng 2.7 Lộ trình áp dụng thuế tự vệ đối với mặt hàng dầu thực vật (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w