Giai đoạn từ 1995 đến nay, Bảo hiểm xã hội đã mở rộng đối tượng, thành lập quỹ BHXH độc lập với ngân sách Nhà nước do sự đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động và sự hỗ trợ củ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
-*** -
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
THEO LUẬT BHXH NĂM 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
-*** -
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
THEO LUẬT BHXH NĂM 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
NGƯỜI CAM ĐOAN
Tô Thị Kim Định
Trang 4LỜI CẢM ƠN
đoạn làm luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo, TS Nguyễn Hiền
Phương vì sự tận tình giúp đỡ và truyền đạt cho em những kinh nghiệm trong suốt
thi ện hơn
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 7
1.1 Khái niệm Bảo hiểm xã hội 7
1.1.1 Định nghĩa Bảo hiểm xã hội 7
1.1.2 Đặc điểm Bảo hiểm xã hội 8
1.2 Định nghĩa và đặc điểm của Bảo hiểm xã hội bắt buộc 9
1.3 Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc 12
1.4 Chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc 16
1.4.1 Điều kiện hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc 16
1.4.2 Các chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc 17
1.5 Quỹ BHXH bắt buộc 20
1.5.1 Khái niệm và nguồn hình thành quỹ Bảo hiểm xã hội bắt buộc 20
1.5.2 Sử dụng quỹ Bảo hiểm xã hội 22
1.6 Tổ chức, quản lý Bảo hiểm xã hội 25
Chương 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ BHXH BẮT BUỘC THEO LUẬT BHXH NĂM 2014 30
2.1 Sơ lược sự ra đời và một số điểm mới cơ bản trong quy định Luật BHXH năm 2014 30
2.2 Thực trạng quy định các chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc 33
2.2.1 Chế độ ốm đau 33
2.2.2 Chế độ thai sản 40
2.2.3 Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp 48
2.2.4 Chế độ hưu trí 53
2.2.5 Chế độ tử tuất 63
Trang 62.3 Một số nhận xét chung 67
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUY ĐỊNH VỀ CHẾ ĐỘ BHXH BẮT BUỘC THEO LUẬT BHXH NĂM 2014 70
3.1 Ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện luật BHXH năm 2014 70
3.2 Tăng cường hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BHXH 2014 71 3.3 Bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ, ứng dụng công nghệ thông tin 73
3.4 Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo 73
3.5 Xử lý vi phạm 76
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Bảo hiểm xã hội là sự cần thiết khách quan và là tất yếu, phản ánh nhu cầu khách quan của đời sống xã hội hiện đại “Cuộc sống không có bảo hiểm thì chẳng khác nào trèo lên chiếc thang chỉ có một chân” – Một câu phương ngôn của người Đức Ở Việt Nam sau khi giành được độc lập, Chính Phủ đã quan tâm đến thực hiện BHXH Ngày 12 tháng 3 năm 1947 Chủ tịch nước Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 29/SL quy định chế độ trợ cấp cho công nhân Ngày 20 tháng 5 năm 1950 Hồ Chủ Tịch ký 2 Sắc lệnh là 76, 77 quy định thực hiện các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí cho cán bộ, công nhân viên chức Thời kỳ này bảo hiểm xã hội còn hạn chế nhưng đánh dấu sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước về chính sách bảo hiểm xã hội Giai đoạn từ năm 1954 đến 1975, trong hệ thống bảo hiểm xã hội
đã có 6 chế độ, có nhiều đãi ngộ đối với quân nhân Giai đoạn từ 1975 đến 1995, Bảo hiểm xã hội được thực hiện thống nhất trong cả nước Có nhiều lần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với nền kinh tế xã hội Giai đoạn từ 1995 đến nay, Bảo hiểm xã hội đã mở rộng đối tượng, thành lập quỹ BHXH độc lập với ngân sách Nhà nước do
sự đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước, thành lập cơ quan chuyên trách để quản lý quỹ và giải quyết các chế độ trợ cấp
Luật BHXH năm 2006 ra đời đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý để nâng cáo hiệu quả thực thi chế độ, chính sách BHXH, bổ sung các chính sách BHXH phù hợp với quá trình chuyển đổi của nên kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo người lao động, bảo đảm an sinh xã hội và hội nhập quốc tế Sau 7 năm thực hiện, Luật Bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn thi hành đã đi vào cuộc sống, đã làm cho nhận thức của người lao động, người sử dụng lao động và xã hội về bảo hiểm xã hội đã có những chuyển biến tích cực Luật Bảo hiểm xã hội đã tạo điều kiện để mọi người lao động đều có thể tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội Đối tượng tham gia bảo hiểm
xã hội tăng: Năm 2006 mới có 6,7 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì
Trang 9đến hết năm 2013 đã có hơn 10,89 triệu người (tăng 1,6 lần) (Trích nguồn BHXH Việt Nam) Năm 2008 là năm đầu tiên triển khai bảo hiểm xã hội tự nguyện có 6.110 người tham gia, đến hết năm 2013 đã có 173.584 người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện Đồng thời các chế độ bảo hiểm xã hội được thiết kế phù hợp hơn, bảo đảm tốt hơn nguyên tắc đóng - hưởng, đã góp phần ổn định đời sống của người lao động trong quá trình làm việc và khi hết tuổi lao động Hơn thế nữa việc giải quyết chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động đã bảo đảm đầy đủ, kịp thời, đúng quy định của pháp luật hơn; quản lý chặt chẽ các đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm
xã hội hàng tháng; hình thức chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội ngày càng được cải tiến, hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia bảo hiểm xã hội khi thụ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội
Bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác thực hiện Luật BHXH vẫn còn
có những khó khăn nhất định Đó là một bộ phận người dân vẫn chưa thực sự hiểu
rõ về chính sách BHXH Tình trạng nợ đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội xảy ra còn khá phổ biến, đặc biệt ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (chiếm trên 70% tổng số nợ), làm ảnh hưởng đến nguồn thu quỹ bảo hiểm xã hội và quyền lợi của người lao động Một số quy định trong pháp luật về bảo hiểm xã hội hiện hành còn chưa phù hợp, như quy định về điều kiện hưởng lương hưu, tuổi nghỉ hưu đối với lao động nữ chưa tạo sự bình đẳng và tạo điều kiện để lao động nữ có thể tiếp tục làm việc và nâng cao mức thu nhập Quy định cho phép người lao động có dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần chưa phù hợp với mục tiêu của bảo hiểm xã hội là nhằm bảo đảm cuộc sống cho người lao động khi hết tuổi lao động Quy định
về tính mức bình quân tiền lương, tiền công tháng làm căn cứ tính hưởng bảo hiểm
xã hội còn có sự khác biệt giữa khu vực hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, lực lượng vũ trang và các doanh nghiệp ngoài nhà nước Quy định về trợ cấp tuất hàng tháng và một lần hiện nay còn có sự chênh lệch lớn, một số trường hợp thân nhân hưởng trợ cấp tuất hàng tháng bị thiệt thòi hơn rất nhiều so với việc hưởng trợ cấp tuất một lần Việc kiểm tra, giám sát các cơ quan chức năng chưa được thường xuyên
Trang 10Một vấn đề đáng quan tâm chính là đối tượng trực tiếp hưởng lợi ích từ chính sách của BHXH chưa nhận thức đầy đủ về luật BHXH, thậm chí có những đối tượng còn chưa được biết đến chính sách BHXH Thực tế cho thấy có những nhận thức và suy nghĩ chưa đúng về BHXH, như: xem tổ chức BHXH như doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, coi hình thức BHXH là một hình thức kinh doanh đồng tiền Một bộ phận người lao động (đặc biệt là lao động tự do) chưa hiểu rõ về những quyền lợi và trách nhiệm của người lao động, thấm chí họ còn chưa từng biết đến BHXH Chính bởi công tác tuyên truyền và phổ biến kiến thức chưa được chu đáo, chưa đạt hiệu quả Sự thiếu hiểu biết cũng như những suy nghĩ lệch lạc ấy gây trở ngại không nhỏ trong việc thực hiện mục tiêu tăng nhanh diện bao phủ BHXH, trở thành nỗi khốn khổ cho người dân khi làm các thủ tục bảo hiểm xã hội, khiến BHXH trở thành “cửa ải” đối với người dân
Bảo hiểm xã hội luôn là trụ cột quan trọng nhất của hệ thống An sinh xã hội Chính sách BHXH đã góp phần to lớn vào việc ổn định đời sống cho người lao động thủ hưởng các chế độ BHXH, góp phần ổn định chính trị - xã hội của đất nước Trong thời điểm hiện nay, việc mở rộng đối tượng tham gia và tăng cường tính bền vững của hệ thống BHXH có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc thực hiện mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội Chính vì vậy những bất cập của Luật BHXH năm 2006 đang đặt ra nhu cấu khách quan về việc sửa đổi pháp luật BHXH cho phù hợp với sự phát triển của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Vì vậy Luật BHXH năm 2014 ra đời Luật BHXH mới là một bước tiến lo cho người lao động ổn định lâu dài Nhưng khi chuẩn bị lấy ý kiến và triển khai hướng dẫn thì gặp phải sự không đồng thuận của người lao động Lần đầu tiên trong lịch sự lập pháp
có một đạo luật được kiến nghị sửa đổi khi chưa có hiệu lực thi hành Đây là một tiền lệ chưa từng xảy ra Cũng chính vì những lý do đó, với mong muốn làm rõ hơn, sâu sắc hơn trách nhiệm và quyền lợi của người lao động theo luật BHXH 2014, tác
giả đã chọn đề tài “Chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc theo Luật BHXH năm
2014”, làm đề tài nghiên cứu luận văn cao học luật của mình
Trang 112 Tổng quan nghiên cứu:
Trong thời gian vừa qua có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các luận văn, bài báo, tạp chí viết về vấn đề BHXH, cụ thể như:
- Đề tài:“Thực trạng vấn đề BHXH nước ta giai đoạn 2010 - 2013”, Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp trường, tác giả Đặng Quốc Huy, Trường Đại học Lao động - Xã hội
- Đề tài “Hoàn thiện về pháp luật BHXH ở Việt Nam”, năm 2006, Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp trường, tác giả Nguyễn Thị Kim Phụng, Trường Đại học Luật Hà Nội
- Ts Đỗ Ngân Bình “Những điểm mới về chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc
- Ts Nguyễn Hiền Phương “Về các giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật
- Đề tài nghiên cứu khoa học: “Hoàn thiện phương thức quản lý, chi trả chế
độ ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN cho người tham gia BHXH” năm 1998, chủ
nhiệm, TS Dương Xuân Triệu, BHXHVN
- Đề tài nghiên cứu khoa học: “Chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động,
Nguyễn Hùng Cường, đã được BHXH Việt nam tổ chức nghiệm thu vào sáng 24/6/2015
- Đề tài nghiên cứu khoa học: “ Thực trạng và giải pháp tháo gỡ khó khăn
Minh Anh, đã được BHXH Việt nam tổ chức nghiệm thu vào chiều 25/6/2015
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu tổng quan về BHXH và các chế độ BHXH bắt buộc, các nội dung như: đối tượng áp dụng, mức đóng BHXH bắt buộc, điều kiện hưởng, quỹ BHXH bắt buộc, tổ chức, quản lý
- Phân tích các quy định pháp luật hiện hành về BHXH bắt buộc, đồng thời
so sách với quy định pháp luật cũ để chỉ ra những điểm mới Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực tiễn, đưa ra những nhận xét và đánh giá về tính khả thi của Luật BHXH 2014
- Đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng vào thực tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Các chế độ BHXH bắt buộc theo Luật BHXH năm
2014 Đó là các chế độ ốm đau, chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế
độ thai sản, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất Nội dung nghiên cứu chủ yếu là: đối tượng áp dụng BHXH bắt buộc, mức đóng BHXH bắt buộc, điều kiện hưởng các chế độ; Nguồn hình hành và sử dụng quỹ BHXH bắt buộc, tổ chức và quản lý BHXH bắt buộc
chế độ BHXH bắt buộc theo Luật BHXH năm 2014 Ở một số nội dung cần thiết trong luận văn, tác giả có so sánh với tiêu chuẩn của tổ chức lao động quốc tế ILO
và pháp luật của một số quốc gia về vấn đề an sinh xã hôi nói chung và chính sách BHXH bắt buộc nói riêng
5 Phương pháp nghiên cứu:
Trong luận văn này, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong triết học Mác - Lênin
Trang 136 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
- Làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về BHXH bắt buộc
- Phân tích thực trạng quy định pháp luật về các chế độ BHXH bắt buộc như đối tượng áp dụng, điều kiện hưởng, mức đóng Trên cơ sở đó đưa ra những bình luận, đánh giá khách quan về quy định pháp luật hiện hành
- Khái quát thực tiễn thực hiện chế độ BHXH bắt buộc ở Việt Nam trong bối cảnh trước và sau khi luật BHXH có hiệu lực
- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của Nhà nước về chế độ BHXH bắt buộc theo Luật 2014
7 Nội dung của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, bảng chữ viết tắt, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương sau đây:
năm 2014
chế độ BHXH bắt buộc theo Luật BHXH năm 2014
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
BẮT BUỘC 1.1 Khái niệm Bảo hiểm xã hội
1.1.1 Định nghĩa Bảo hiểm xã hội
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm xã hội (BHXH), tùy theo góc
độ nghiên cứu, cách tiếp cận
Theo Bách khoa toàn thư thì: BHXH là biện pháp bảo đảm, thay đổi hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động do gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm thông qua một quỹ tiền tệ được tập trung
từ sự đóng góp của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an sinh xã hội Bảo hiểm xã hội hội là trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội ở mỗi nước (Trích nguồn: vi.wikipedia.org/wiki/Bảo_hiểm_xã_hội)
Theo tổ chức lao động thế giới (ILO) thì: BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp cộng đồng để đối phó với khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con (Trích Công ước 102 - Công ước về an toàn xã hội, năm 1952)
Theo luật BHXH, Điều 3, khoản 1, thì: BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc
bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội
Nhìn một cách tổng quát có thể hiểu bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất đi khả năng thu nhập từ lao động hoặc mất việc làm thông qua việc
Trang 15hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội
1.1.2 Đặc điểm Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới Bảo hiểm xã hội là một hình thức bảo hiểm có tầm quan trọng đối với một quốc gia, BHXH có những đặc điểm như sau:
- Mục tiêu hoạt động của BHXH là nhằm thực hiện chính sách xã hội của nhà nước, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và các thành viên trong gia đình họ Vì vậy, mục đích hoạt động của BHXH là hoạt động phi lợi nhuận, hoạt động vì quyền lợi của người lao động và của cả cộng đồng
- Phương thức hoạt động của BHXH mang tính cộng đồng - lấy số đông bù
số ít, nghĩa là dùng tiền đóng góp của số đông người tham gia bảo hiểm để bù đắp, chia sẻ cho một số ít người gặp những biến cố rủi ro gây tổn thất Phạm vi hoạt động của BHXH liên quan trực tiếp đến người lao động và những thành viên trong gia đình của họ và chỉ diễn ra trong từng quốc gia
- Số tiền đóng, mức đóng, tỷ lệ đóng BHXH dựa hoàn toàn vào thu nhập từ tiền lương, tiền công của người lao động Bảo hiểm xã hội thực hiện các quy định theo chính sách xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ để đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị của quốc gia
- Bảo hiểm cho người lao động trong và sau quá trình lao động Nghĩa là khi tham gia đóng BHXH thì người lao động được bảo hiểm cho đến lúc chết Trong quá trình làm việc, người lao động được đảm bảo khi bị ốm đau, lao động nữ được trợ cấp thai sản khi sinh con, người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp sẽ được hưởng trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; Trợ cấp hưu trí sẽ được chi trả khi người lao động không còn làm việc nữa; và khi chết, người lao động sẽ được hưởng chế độ tử tuất, được hưởng tiền chôn cất
Trang 16Rủi ro trong quá trình lao động, rủi ro sau quá trình lao động khiến thu nhập của người lao động bị ảnh hưởng Không phải là rủi ro ốm đau, rủi ro tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, cũng không phải khi thai sản, hưu trí hay tử tuất, một loại rủi ro khác cũng khiến người lao động bị mất khoản thu nhập Đó là rủi ro khi
bị mất việc Đó là lý do bảo hiểm thất nghiệp ra đời Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là biện pháp để giải quyết tình trạng thất nghiệp, nhằm trợ giúp kịp thời cho những người thất nghiệp trong thời gian chưa tìm được việc làm và tạo cơ hội cho họ học nghề, tìm kiếm công việc mới Bảo hiểm thất nghiệp là một chính sách
xã hội rất quan trọng, là một bộ phận của BHXH, đã được quy định trong luật BHXH năm 2006 Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện của BHTN rất khác so với BHXH do tính chất đặc thù riêng của BHTN Đối tượng tác động của BHTN là người lao động, nhưng không phải tất cả người lao động, mà là người lao động làm công ăn lương trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và
cơ sở sự nghiệp Thất nghiệp là thước đo của thị trường lao động, phản ánh sự thay đổi của thị trường lao động Vì vậy, ở nước ta hiện nay, từ ngày 01/01/2015, chế độ BHTN sẽ thực hiện theo quy định của Luật Việc làm 2013, thay cho quy định của Luật BHXH
Khác với mục đích phi lợi nhuận của BHXH thì có một loại hình bảo hiểm khác hoạt động vì mục đích lợi nhuận Đó là Bảo hiểm thương mại (BHTM) Phương thức hoạt động của BHTM giống như BHXH đều mang tính “cộng đồng – lấy số đông bù số ít” Nhưng phạm vi hoạt động của BHTM rộng hơn, không chỉ diễn ra trong một quốc gia mà trải rộng xuyên quốc gia, có mặt ở tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội
1.2 Định nghĩa và đặc điểm của Bảo hiểm xã hội bắt buộc
Thực hiện bảo hiểm trên thực tế có hai hình thức tham gia Đó là hình thức bắt buộc và hình thức tự nguyện Tương tự như vậy, từ góc độ thực hiện chế độ trên thế giới có chế độ BHXH bắt buộc và chế độ BHXH tự nguyện Bảo hiểm xã hội bắt buộc (BHXHBB) thường quy định cụ thể về phạm vi áp dụng, đối tượng rơi vào
Trang 17phạm vi áp dụng đó không có quyền lựa chọn việc tham gia hay không tham gia bảo hiểm mà được xác định như một nghĩa vụ, trách nhiệm của người tham gia Nếu người tham gia vi phạm sẽ phải chịu cả chế tài Trái lại, bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN) lại tạo điều kiện mở khi phụ thuộc vào ý trí của chủ thể tham gia Theo
đó người lao động có thể tham gia hoặc không tham gia nhưng đều phải tuân thủ những quy định chung của Nhà nước về BHXH
Theo khoản 2, Điều 3 Luật BHXH năm 2014 thì Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là một loại hình của BHXH, do đó ngoài những đặc điểm chung về BHXH thì BHXH bắt buộc có những đặc điểm riêng sau:
- Đối tượng tham gia chủ yếu là người lao động có quan hệ lao động Quan
hệ giao động hiểu một cách đơn giản là quan hệ giữa người thuê lao động và người được thuê lao động Quan hệ này nảy sinh một cách tự nhiên trong hoạt động kinh
tế, đặc biệt trong kinh tế thị trường thì mối quan hệ càng trở lên rõ và năng động Tham gia BHXH là bắt buộc đối với người lao động và người sử dụng lao động
- Mức đóng BHXH bắt buộc là cố định đối với người lao động và người sử dụng lao động Bảo hiểm xã hội bắt buộc ấn định về mức đóng và mức hưởng chung Người lao động không có quyền lựa chọn mức đóng, không có quyền thương lượng hay thỏa thuận mức đóng Mức đóng BHXHBB ấn định trên phạm vi toàn quốc Mức đóng BHXH hàng tháng được tính theo mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc và theo tỷ lệ quy định của Nhà nước (Điều 90, Luật BHXH 2014) Tỷ lệ đóng BHXHBB được chia xẻ cho hai bên người lao động và người sử dụng lao động Thông thường người sử dụng lao động gánh vác nhiều hơn so với người lao động Từ 1/2014, người lao động đóng 8% và người sử dụng lao động đóng 18% trên tiền lương tháng
- Bảo hiểm xã hội được thực hiện với các chế độ cơ bản bao quát tới những rủi ro trong quá trình lao động, ngoài và sau quá trình lao động Bảo hiểm xã hội bắt
Trang 18buộc thực hiện 5 chế độ, bao gồm: chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động và bệnh nghệ nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất Các chế độ trong quá trình lao động được xác định cơ bản như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Một số quốc gia còn xác định một số trợ cấp và chăm sóc sức khỏe Ví
dụ ở Đức có chế độ chăm sóc y tế, chế độ trợ cấp mất người nuôi đưỡng Sau quá trình lao động gồm các chế độ như hưu trí, tử tuất Hưu trí và tử tuất là chế độ bảo hiểm cơ bản được tổ chức lao động quốc tế ILO đề xuất cho các quốc gia khi xây dựng hệ thống BHXH của nước mình Các chế độ này đảm bảo bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập của người lao động khi không may họ gặp các sự kiện rủi ro xảy ra trong quá trình lao động và sau quá trình lao động
Trong hệ thống bảo hiểm xã hội, còn một loại hình BHXH nữa ngoài BHXH bắt buộc Đó là bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN) Bảo hiểm xã hội tự nguyện
là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách
hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất
Do vậy, BHXHTN có những điểm khác so với BHXH bắt buộc, đó là:
- Đối tượng tham gia BHXHTN là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên
và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc Trường hợp nam đủ 60 tuổi và
nữ đủ 55 tuổi đã có đủ 15 năm đóng BHXH trở lên nếu có nhu cầu tham gia BHXHTN thì được đóng tiếp cho đến khi đóng đủ 20 năm BHXH để được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng Như vậy, đối tượng tham gia BHXHTN hẹp hơn đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
- Mức đóng BHXH hàng tháng bằng tỷ lệ phần trăm đóng BHXHTN nhân với mức thu nhập tháng của người tham gia BHXHTN lựa chọn Căn cứ để đóng BHXHTN là thu nhập của người tham gia nên mức đóng và phương thức đóng không cố định, mà do người tham gia lựa chọn đóng cho phù hợp với thu nhập của mình Còn mức đóng của BHXH thì cố định theo mức tiền lương, tiền công trong
Trang 19HĐLĐ, HĐLV Riêng BHXHTN, Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng để người tham gia được hưởng chế độ hưu trí và tử tuất
- Cũng chính bởi những đặc điểm riêng của BHXHTN mà người tham gia loại hình BHXH này được hưởng 2 chế độ BHXH là: chế độ hưu trí và chế độ tử tuất So với loại hình BHXH bắt buộc thì loại hình BHXHTN thực hiện ít chế độ hơn, nhưng phần nào đảm bảo được cuộc sống của người tham gia, đảm bảo ổn định an sinh xã hội
1.3 Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc
- Theo Luật BHXH năm 2014 người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bao gồm:
+ Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
+ Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng (Theo Khoản b, điều 2, luật BHXH năm 2014) Tại hội thảo về triển khai thi hành luật BHXH tổ chức mới đây, bà Đỗ Thị Xuân Phương, Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, cho rằng việc đạt mục tiêu đến năm 2020 có khoảng 25 triệu người tham gia BHXH bắt buộc và gần 3 triệu người tham gia BHXH tự nguyện là “cực kỳ khó khăn” Vì hiện tại không có cơ quan nào là đầu mối để quản
lý, nắm chắc số đơn vị cũng như số lao động thuộc diện tham gia BHXH nên việc phát triển đối tượng tham gia BHXH gặp nhiều vướng mắc Tính đến hết năm 2014,
cả nước có trên 16 triệu người có quan hệ lao động từ 3 tháng trở lên nhưng chỉ có khoảng 11,5 triệu người tham gia BHXH bắt buộc Trong khi đó, luật BHXH năm
2014 lại mở rộng phạm vi đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đến người lao động
có hợp đồng lao động thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng Nhưng hiện tại việc xác định nhóm đối tượng có quan hệ lao động thuộc trường hợp này là rất khó khắn
Trang 20Vì thế khó khăn lại càng khó khăn hơn Thêm vào đó việc đóng BHXH cho đối tượng lao động thời hạn từ 1 tháng đến dưới 3 tháng là khó khả thi Theo ý kiến của đại biểu Nguyễn Ngọc Phương (Quảng Bình), tại kỳ họp quốc hội khóa XIII năm
2014 cho rằng: “Nếu chúng ta chỉ quy định hợp đồng từ 1 đến 3 tháng mới đóng bảo hiểm thì không khả thi vì từ lúc lập danh sách, làm thủ tục rồi tìm cơ quan bảo hiểm đã hết thời gian rồi Nhưng bản chất của vấn đề này là luật ta lại quy định hợp đồng trên 3 tháng thì mới đóng bảo hiểm, nên các cơ quan sử dụng lao động hoặc
cơ quan Nhà nước lại lách luật là chỉ ký hợp đồng có 3 tháng Chính vì thế trong quy định lần này chúng ta nên có là hợp đồng lao động từ 1 đến 3 tháng, sau khi chấm dứt hợp đồng và hợp đồng tiếp thì phải tham gia đóng bảo hiểm, như thế mới thực thi khi luật ban hành và đi vào cuộc sống Có thể từ tháng 1 đến tháng 3 không đóng bảo hiểm vì đây là thời gian thử việc giữa người sử dụng lao động và người lao động nhưng tiếp đó chúng ta phải quy định đóng bảo hiểm để tránh lách luật, như luật cũ hiện nay là chưa hợp lý"
+ Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí;
+ Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
+ Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;
Trang 21+ Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn (Theo khoản i, điều 2, luật BHXH 2014) Việc mở rộng đối tượng này là điểm đối mới rất đáng được ghi nhận Thực tế cho thấy những người hoạt động không chuyên trách ở cấp
xã đảm nhiệm rất nhiều các công việc khác nhau, như tiếp nhận hồ sơ, làm văn bản, báo cáo…cho đến tham gia giải quyết nhiều vấn đề phát sinh trên địa bàn Cấp xã là nơi trực tiếp triển khai chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Qua thực tiễn có thể khẳng định được rằng, trong việc đảm bảo trật tự, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương có sự đóng góp không nhỏ của những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Đa số những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã đã có thời gian làm việc tương đối ổn định ở cấp xã và đều có mong muốn tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc Hơn nữa mức phụ cấp với đối tượng này là quá thấp, mà lại không được hỗ trợ tham gia BHXH bắt buộc thì khó
có thể động viên sự toàn tâm, toàn ý với công việc Đây là một trong những bất cập
về hệ thống chính sách, dẫn đến việc bố trí, đào tạo cán bộ còn gặp nhiều khó khăn, không thu hút được những người trẻ có trình độ, năng lực về công tác và gắn bó lâu dài với vị trí hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Nếu được tham gia BHXH bắt buộc cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước, sẽ góp phần thu hút được những người trẻ,
có năng lực về công tác và gắn bó với cấp xã và đồng thời cũng góp phần mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, làm tăng nguồn thu ổn định trong quỹ BHXH
+ Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ - Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ (Theo khoản 2, điều 2 luật BHXH 2014) Hiện nay, người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài được điều chỉnh bởi pháp luật BHXH của nước sở tại Điều đó có nghĩa là, người lao động có thể sẽ phải tham gia BHXH 2 lần Trường hợp, người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam cũng
Trang 22sẽ phải tham gia BHXH 2 lần Vì vậy với quy định áp dụng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với tất cả những người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động và người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam cũng
sẽ tạo tiền đề cho việc thúc đẩy, triển khai các Hiệp định song phương về bảo hiểm
xã hội giữa Việt Nam với các quốc gia khác Hiệp định khi được ký kết sẽ mang lại lợi ích, đảm bảo quyền lợi cho công dân của mỗi quốc gia tham gia Hiệp định, tránh được việc thực hiện song trùng BH Trong khi đó, người lao động lại được tính liên tục về thời gian đóng bảo hiểm xã hội, đồng thời có cơ hội được nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội ở quốc gia mà họ sinh sống (mức trợ cấp được xác định trên cơ sở số thời gian làm việc và đóng góp ở mỗi quốc gia) Từ đó, tạo cơ hội thuận lợi cho họ trong quá trình dịch chuyển lao động, cũng như trong tham gia và thụ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội Việc bổ sung đối tượng này là phù hợp với quá trình phát triển thị trường lao động Hiện nay, một số nước trong khu vực ASEAN (Thái Lan, Philipines, Indonesia) đã có quy định hợp tác quốc tế về BHXH, một số nước như Đức, Canada, Hàn Quốc đã đề nghị Việt Nam ký kết Hiệp định hợp tác song phương về lĩnh vực BHXH nhằm tạo điều kiện cho người lao động 02 nước được tham gia BHXH khi sang làm việc ở nước kia
- Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc gồm:
+ Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác,
tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động Như vậy, Luật BHXH 2014 đã mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc,
để dần hoàn thiện mục tiêu mà trong Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/06/2012, Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020, Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của
Trang 23Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế giai đoạn 2012-2020 đều đặt ra mục tiêu: “Phấn đấu đến năm 2020 có
đối tượng áp dụng BHXH bắt buộc là phù hợp với yêu cầu của quá trình phát triển thị trường lao động, đảm bảo quyền lợi cho NLĐ hướng tới mục tiêu bảo phủ toàn
bộ NLĐ tham gia Tuy nhiên để đảm bảo tính khả thi trong tổ chức thực hiện, thời điểm áp dụng đối với 3 nhóm đối tượng này bắt đầu thực hiện từ ngày 1 tháng 1 năm 2018 Đây được cho là các quy định có tính thận trọng và phù hợp trong điều kiện số lượng của nhóm lao động này khá lớn trên thị trường
1.4 Chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc
Chế độ BHXH là sự cụ thể hóa chính sách BHXH, là hệ thống các quy định
cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để thực hiện BHXH đối với
người lao động Nói cách khác, đó là một hệ thống các quy định được pháp luật hóa
về đối tượng hưởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng trường hợp BHXH cụ thể Theo kiến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), BHXH bao gồm một hệ thống gồm 9 chế độ, song tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước và tùy vào từng thời kỳ mà mỗi nước chọn cho mình những chế độ phù hợp Hiện nay nước ta có 5 chế độ BHXH bắt buộc, đó là: chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động và bệnh nghệ nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất
1.4.1 Điều kiện hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc
Mỗi chế độ BHXH khi xây dựng đều căn cứ vào một loạt những cơ sở như: sinh học, kinh tế - xã hội, điều kiện và môi trường lao động Và khi hưởng chế độ BHXH bắt buộc thì cần có những điều kiện sau:
- Khi xảy ra các sự kiện rủi ro như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất Mỗi sự kiện rủi ro xảy ra tương ứng với từng chế
độ BHXH bắt buộc được hưởng Tuỳ vào mức độ rủi ro và tính chất của rủi ro mà người lao động sẽ có mức hưởng tương ứng theo quy định của từng chế độ BHXH bắt buộc
Trang 24- Người lao động đã tham gia BHXH bắt buộc Thời gian tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của từng chế độ sẽ có những mức hưởng phù hợp để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ không may gặp các rủi ro làm gián đoạn thu nhập, nhằm ổn định cuộc sống cho người lao động cũng như những người thân của họ
- Mức suy giảm khả năng lao động khi gặp các rủi ro được bảo hiểm
- Rủi ro xảy ra trong quá trình lao động (với chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp), rủi ro xảy ra sau quá trình lao động (với chế độ hưu trí, chế độ tử tuất)
1.4.2 Các chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc
Ốm đau là rủi ro thường xảy ra nhất đối với người lao động Khi gặp các sự
cố về ốm đau, bệnh tật nhưng không phải do tính chất của công việc gây ra, làm mất khả năng làm việc dẫn đến mất hoặc giảm thu nhập một khoảng thời gian Điều đó
sẽ làm gián đoạn cuộc sống của người lao động và gia đình họ Để giúp người tham gia BHXH nhanh chóng ổn định cuộc sống, đồng thời góp phần đảm bảo an sinh xã hội là lý do chế độ ốm đau ra đời
Đây là chế độ BHXH ngắn hạn Chi trả cho người lao động trong quá trình làm việc gặp phải rủi ro ốm đau, họ được hưởng trợ cấp tạm thời trong thời gian tạm nghỉ và sẽ trở lại làm việc Chính vì trợ cấp trong thời gian ngắn nên càng phải đảm bảo công tác chi trả đúng, đủ, kịp thời để người lao động nhanh chóng ổn định cuộc sống, yên tâm và tin tưởng hơn vào chính sách BHXH của Nhà nước
Trang 25giải phóng dân tộc Bên cạnh việc làm công tác xã hội, người phụ nữ còn phải đảm đương công việc của gia đình với chiên chức làm vợ, làm mẹ Vì thế chế độ thai sản
là một trong số những chế độ BHXH được triển khai ngay từ khi BHXH có hiệu lực Chế độ thai sản có vị trí quan trọng trong hệ thống chế độ BHXH Chế độ thai sản giúp bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho lao động nữ bị mất do không làm việc vì thai nghén, sinh để và nuôi con; giúp người lao động yên tâm, nhanh chóng phục hồi sức khỏe để tái hòa nhập vào quá trình lao động Ngoài ra, chế độ này còn có mục đích góp phần thực hiện bình đẳng đối với tất cả lao động nữ trong lực lượng lao động và bình đẳng về giới giữa lao động nam và lao động nữ Điều quan trọng mà chế độ thai sản mang lại nữa là bảo vệ sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em, giúp lao động nữ thực hiện tốt quyền làm mẹ Đây là một chế độ BHXH ngắn hạn
Những rủi ro mà người lao động thường gặp phải trong hoạt động sản xuất kinh doanh đó là: bị thương, bị nhiễm độc, bị bỏng dẫn đến tình trạng người lao động bị suy giảm khả năng lao động, bị tàn phế hoặc bị chết Nguyên nhân gây ra tai nạn có thể do lỗi của người lao động, lỗi của người sử dụng lao động hoặc xảy ra trong quá trình người lao động làm việc Do tính phức tạp của tai nạn lao động vì nó liên quan đến vấn đề bồi thường Theo quy định của Luật BHXH thì tai nạn lao động được hiểu là: tai nạn gây tổn thương bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền vời việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, có những ngành nghề được gọi là độc hại, đó là: hóa chất, luyện gang thép, khai thác khoáng sản, người lao động thường xuyên phải tiếp xúc với các hóa chất độc hại nên rất dễ nhiễm các chất độc hại như chì, phóng xạ dẫn đến người lao động bị nhiễm các bệnh do chính những yếu tố độc hại này gây ra Đó gọi là bệnh nghề nghiệp Vậy bệnh nghề nghiệp là: bệnh phát sinh do điều kiện lao động có yếu tố độc hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động Có 3 nhóm bệnh nghề nghiệp: bệnh do yếu tố vật lý; bệnh
Trang 26do bụi, do tiếp xúc; bệnh do hóa chất Danh mục bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế và
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp gây ra những hậu quả to lớn cho người lao động, người sử dụng lao động và toàn xã hội Chế độ BHXH về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (TNLĐ và BNN) ra đời để giảm thiểu những thiệt hại
do TNLĐ, BNN gây ra, đồng thời bù đắp và thay thế một phần thu nhập bị mất đi của người lao động khi họ không may gặp phải những rủi ro trên, hoặc trợ cấp các chi phí phát sinh do TNLĐ, BNN như trợ cấp phục vụ, chi phí y tế Chế độ này còn giúp giảm chi phí cho người sử dụng lao động giúp họ nhanh chóng phục hồi sản xuất kinh doanh khi xảy ra rủi ro trên đối với người lao động mà họ sử dụng Chế độ TNLĐ và BNN cũng góp phần không nhỏ vào việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động
ra khi họ gặp rủi ro về TNLĐ và BNN Còn riêng chế độ hưu trí thì mọi người tham gia BHXH đều là đối tượng của bảo hiểm hưu trí Cũng chính vì tầm quan trọng của chế độ đối với người lao động mà trong Luật BHXH năm 2014 rất quan tâm đến chế
độ này Điều đó được thể hiện ở Điều 60 – Luật BHXH năm 2014 Tại kỳ họp quốc hội thứ 9 quốc hội khóa XIII, điều 60 được bàn luận nhiều nhất, là vấn đề nóng trong thời gian vừa qua Điều đó càng khẳng định sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với quyền lợi của người lao động, đối với chế độ hưu trí Vấn đề BHXH 1 lần trong chế độ hưu trí sẽ được đề cập chi tiết hơn trong chương 2 của luận văn
Trang 271.4.2.5 Ch ế độ tử tuất
Chế độ tử tuất là một trong những chế độ BHXH mang tính nhân đạo nhất trong hệ thống BXHH Chế độ này đã giúp cho thân nhân người chết có được khoản trợ cấp bù đắp một phần thiếu hụt thu nhập của gia đình do người lao động bị chết Nhưng một vấn đề bất cập khi thực hiện chế độ này chính là xác định đối tượng thụ hưởng Khi xây dựng chế độ này đã tính đến các yếu tố như: đóng góp của người tham gia bảo hiểm và yếu tố xã hội giữa người sống và người chết; đặc biệt là yếu
tố kế thừa đối với thân nhân của người chết Để đảm bảo sự công bằng đối với người lao động tham gia BHXH và người thụ hưởng chế độ BHXH, cần có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung các quy định về chế độ tử tuất
Như vậy, hệ thống BHXH bắt buộc ở nước ta có 5 chế độ Mỗi chế độ có những mục đích, đối tượng, tính chất khác nhau Vì vậy, khi thực hiện mỗi chế độ thường phải nắm vững những vấn đề mang tính chất cốt lõi của chính sách BHXH,
để đảm bảo tính đúng đắn và nhất quán trong toàn bộ hệ thống các chế độ BHXH
1.5 Quỹ BHXH bắt buộc
1.5.1 Khái niệm và nguồn hình thành quỹ Bảo hiểm xã hội bắt buộc
Quỹ Bảo hiểm xã hội bắt buộc là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước, được hình thành từ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và có sự hỗ trợ của Nhà nước Quỹ này được dùng để chi trả trợ cấp cho các đối tượng hưởng BHXH và chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp, các ngành Quỹ BHXH được Nhà nước bảo hộ và bù thiếu Quỹ này được quản lý theo cơ chế cân bằng thu chi do đó quỹ BHXH không đơn thuần ở trạng thái tĩnh
mà luôn có sự biến động theo chiều hướng tăng lên hoặc thâm hụt Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết những rủi ro của tất cả những người tham gia, do rủi ro được chia xẻ cho số đông người tham gia Đồng thời quỹ này cũng góp phần giảm chi ngân sách cho Nhà nước; khi có biến cố xã hội xảy ra như thiên tai, hạn hán, dịch bệnh quỹ góp phần vào việc giải quyết cứu trợ xã hội, phúc lợi xã hội
Trang 28Quỹ BHXH bắt buộc được hình thành từ những nguồn sau:
- Sự đóng góp của người sử dụng lao động Sự đóng góp của người sử dụng lao động thể hiện trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động Đồng thời còn thể hiện lợi ích của người sử dụng lao động, người lao động sẽ trách được thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động, và giảm bớt được những tranh chấp giữa người lao động và người
sử dụng lao động Phần đóng góp này được xác định dựa trên quỹ tiền lương của đơn vị, doanh nghiệp
- Sự đóng góp của người lao động Hệ thống BHXH ở các nước trên thế giới chủ yếu vẫn thực hiện nguyên tắc có đóng có hưởng vì vậy người tham gia phải đóng góp cho quỹ mới được hưởng BHXH Người lao động tham gia BHXH để bảo hiểm cho chính bản thân mình Khoản đóng góp vào quỹ BHXH chính là khoản để dành dụm, tiết kiệm cho về sau bằng cách hưởng lương hưu hoặc trợ cấp khi gặp rủi
ro xảy ra
- Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư quỹ Trong quá trình hoạt động của quỹ BHXH, do tính đặc thù của quá trình thu và quá trình chi BHXH không diễn ra đồng thời, nên quỹ BHXH luôn luôn có một lượng tiền tạm thời chưa sử dụng đến Phần tiền này sẽ được đầu tư để tăng thêm tiềm lực tài chính cho quỹ BHXH, đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu chi trả cho các chế độ BHXH và đảm bảo cho các hoạt động thường xuyên của hệ thống BHXH Việc đầu tư quỹ nhàn rỗi này cũng cần phải đảm bảo khả năng thanh khoản khi cần thiết, an toàn và mang tính xã hội
- Hỗ trợ của Nhà nước Quỹ BHXH được Nhà nước bảo hộ và đóng góp khi quỹ bị thâm hụt không có khả năng chi trả cho các chế độ BHXH Nhằm mục đích đảm bảo cho các hoạt động xã hội diễn ra đều đăn, ổn định Nguồn thu từ sự hỗ trợ Ngân sách Nhà nước đôi khi là rất lớn, sự hỗ trợ này là rất cần thiết và quan trọng
- Các nguồn thu hợp pháp khác Đó là các khoản giúp đỡ của các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước Các khoản nộp phạt của những cá nhân, tổ chức kinh tế
Trang 29vi phạm quy định của pháp luật BHXH, như chậm nộp BHXH, nộp thiếu Các quỹ BHXH có nguồn khu khác tùy theo quy định của mỗi nước
Nguồn quan trọng nhất và cơ bản nhất là sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội (ở nước ta là người lao động, người sử dụng lao động, và Nhà nước) Tỷ lệ đóng góp theo quy định từng thời kỳ, thể hiện qua bảng tỷ lệ sau:
(tỷ lệ %)
Người sử dụng lao động đóng (tỷ lệ %)
Quỹ BHXH được coi như “xương sống” của toàn bộ hệ thống BHXH của bất
kỳ quốc gia nào Để đảm bảo cho quỹ BHXH được an toàn thì việc sử dụng quỹ BHXH như thế nào có ý nghĩa rất quan trọng
1.5.2 Sử dụng quỹ Bảo hiểm xã hội
Quỹ BHXH được sử dụng vào các mục đích sau:
- Trả các chế độ BHXH cho người lao động Đây là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất của BHXH nhằm đảm bảo ổn định, duy trì cuộc sống cho người lao động, đồng thời góp phần ổn định sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp Theo khuyến nghị của tổ chức lao động quốc tế (ILO) quỹ BHXH được sử dụng để trợ cấp cho các đối tượng tham gia BHXH, nhằm ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình họ khi mà đối tượng tham gia gặp rủi ro và các chế độ được BHXH trợ cấp Thực tế việc chi trả cho các chế độ BHXH diễn ra thường xuyên trên phạm vi rộng, hầu hết các nước trên thế giới đều có những khoản chi thường xuyên là chi lương hưu và trợ cấp tuất
Trang 30- Đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng lương hưu hoặc nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng hoặc nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi hoặc nghỉ việc hưởng trợ cấp
ốm đau đối với người lao động bị mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành
- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH Ngoài việc trợ cấp cho các đối tượng hưởng BHXH, quỹ BHXH còn được sử dụng để chi cho các khoản chi phí quản lý như: tiền lương cho cán bộ làm việc trong hệ thống BHXH, khấu hao tài sản cố định, văn phòng phẩm và một số khoản khi khác
- Trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với trường hợp không do người sử dụng lao động giới thiệu đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động mà kết quả giám định đủ điều kiện hưởng chế độ BHXH
- Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định của Luật BHXH 2014 Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước Quỹ có mục đích và chủ thể riêng Mục đích tạo lập quỹ BHXH là dùng để chi trả cho người lao động, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp các biến cố hoặc rủi
ro Quỹ BHXH là nội dung rất quan trọng trong chính sách BHXH Quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng đồng thời là một quỹ dự phòng Nó vừa mang tính chất kinh tế vừa mang tính chất xã hội rất cao và là điệu kiện hay cơ sở vật chất quan trọng đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển Vì vậy việc đảm bảo hệ thống tài chính cho quỹ BHXH là hết sức cần thiết và mang ý nghĩa sống còn của hoạt động BHXH Chính vì vậy quỹ BHXH bắt buộc trong luật BHXH 2014 có những đổi mới quan trọng sau Đó là:
Đổi mới theo hướng hợp nhất quỹ bảo hiểm xã hội Nghĩa là quỹ BHXH được chia thành 3 quĩ thành phần: Quỹ ốm đau và thai sản; Quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và quỹ hưu trí và tử tuất, như vậy quỹ hưu trí và tử tuất được sử dụng để chi trả chế độ cho cả đối tượng tham gia bắt buộc và tham gia tự nguyện (trước đây là hai quĩ tách biệt, quỹ hưu trí và tử tuất cho đối tượng tham gia bắt
Trang 31buộc và quỹ BHXH tự nguyện) Việc gộp hai quỹ sẽ đảm bảo sự bình đẳng cho người lao động tham gia ở hai hình thức BHXH này Việc quy định quỹ bảo hiểm
xã hội tự nguyện độc lập với quỹ hưu trí và tử tuất của quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc như hiện nay là chưa hợp lý khi mà về chính sách có sự liên thông giữa hai loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện, quy định này làm nảy sinh nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện do hiện nay phần lớn đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là những người đã có quá trình đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trước đó (chiếm trên 70% tổng số đối tượng tham gia), do đó việc phân bổ giữa quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc và quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện trong trách nhiệm chi trả là rất khó khăn, phức tạp và không có nhiều ý nghĩa Mặt khác, việc tách quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện độc lập với quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc chỉ mang tính tương đối chưa tách bạch hoàn toàn (do chi phí quản lý bảo hiểm xã hội
tự nguyện và bắt buộc chưa được tách bạch)
Cơ cấu tiền lương làm căn cứ đóng BHXH được quy định chặt chẽ hơn Đối với người đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương đóng BHXH sẽ bao gồm tiền lương và phụ cấp lương, từ 1/1/2018, tiền lương đóng BHXH sẽ bao gồm tiền lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác (Khoản 2, điều 89 luật BHXH năm 2014) Qui định này vừa đảm bảo sự phù hợp với pháp luật lao động, vừa đảm bảo mức tiền lương đóng BHXH tương xứng với mức thu nhập, giảm tình trạng khai thấp mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH Tiền lương đóng BHXH thấp hơn mức tiền lương/thu nhập thực tế vừa ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động, vừa giảm nguồn thu vào qũy BHXH
Bổ sung phương thức đóng của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện gồm một năm một lần, một lần cho nhiều năm về sau theo hướng thấp hơn
mức đóng hằng tháng hoặc một lần cho những năm còn thiếu theo hướng cao hơn
và quy định Chính phủ hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội đối với một số trường hợp đặc biệt (Điều 87, luật BHXH năm 2014) Theo Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/06/2012, Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn
Trang 32đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 có nêu: “Nghiên cứu xây dựng chính
động tham gia bảo hiểm xã hội; 35% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm thất
hội (sửa đổi) quy định nhà nước có chính sách hỗ trợ nông dân, lao động trong khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và giao cho Chính phủ quy định cụ thể đối tượng, mức hỗ trợ cho phù hợp với từng thời kỳ Ngoài ra, để tăng sức hấp dẫn và sự linh hoạt của chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện thì việc bổ sung phương thức đóng một năm một lần, đóng một lần cho thời gian còn thiếu để
đủ điều kiện hưởng lương hưu là phù hợp
Bổ sung nội dung quy định về sử dụng quỹ theo hướng bổ sung mục chi chi phí giám định y khoa đối với trường hợp do tổ chức bảo hiểm xã hội giới thiệu đi giám định mức suy giảm khả năng lao động (khoản 4 Điều 84 luật BHXH năm 2014) Luật Bảo hiểm xã hội 2006 đã quy định khá chi tiết các nội dung chi của quỹ bảo hiểm xã hội, tuy nhiên “phí giám định y khoa” mặc dù luật quy định người lao động được đi giám định, giám định lại mức suy giảm khả năng lao động và tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giới thiệu người lao động, thân nhân người lao động
đi giám định mức suy giảm khả năng lao động trong một số trường hợp nhưng không quy định trách nhiệm trong việc chi trả “phí giám định y khoa”
1.6 Tổ chức, quản lý Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước góp phần đảm bảo
ổn định đời sống cho người lao động ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thức đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ tổ quốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam được
tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung thống nhất từ trung ương đến địa phương , gồm có:
- Ở Trung ương là Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Trang 33- Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là bảo hiểm xã hội quận, huyện, thị xã
Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và quản lý Quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật
Bảo hiểm xã hội tỉnh là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam đặt tại tỉnh nằm trong hệ thống tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, có chức năng giúp Tổng giám đốc tổ chức thực hiện các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế và quản lý Quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh Bảo hiểm xã hội tỉnh chịu sự quản lý trực tiếp toàn diện của Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam, chịu sự quản lý hành chính trên địa bàn lãnh thổ của Ủy ban nhân dân tỉnh, Bảo hiểm xã hội tỉnh có tư cách pháp nhân, có trụ sợ đặt tại tỉnh lỵ, có dấu, tài khoản riêng
Bảo hiểm xã hội huyện là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh đặt tại huyện, nằm trong hệ thống tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, có chức năng giúp Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh tổ chức thực hiện các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội và quản lý tài chính bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Bảo hiểm xã hội huyện chịu sự quản lý trực tiếp toàn diện của Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh, chịu sự quản lý hành chính trên địa bàn lãnh thổ của Ủy ban nhân dân huyện Bảo hiểm xã hội huyện có tư cách pháp nhân, có trụ sở đặt tại tỉnh lỵ, có dấu, tài khoản riêng
Để thực hiện chính sách BHXH, ở một số nước, một cơ quan Chính phủ được giao vừa đảm nhận cả chức năng quản lý Nhà nước về BHXH và vừa tổ chức thực hiện các nghiệp vụ BHXH (thường là Bộ Lao động hoặc Bộ Phúc lợi xã hội, hoặc Bộ lao động và an sinh xã hội ) Đa số các nước hoạt động BHXH (quản lý quỹ, quản lý đối tượng, thực hiện thu-chi BHXH) được coi là một loại dịch vụ công
Trang 34(ở Việt Nam gọi là hoạt động sự nghiệp), được giao cho một hoặc một số cơ quan BHXH độc lập đảm nhận Đối với nước Đức là một nước có lịch sử phát triển BHXH sớm nhất, dưới thời Thủ Tướng Bismark, những điều luật BHXH đầu tiên
đã được ban hành Cho đến nay, hoạt động BHXH của Cộng hòa Liên bang Đức thực hiện với ba hệ thống là: Hệ thống BHXH bắt buộc, Hệ thống BHXH tư nhân,
Hệ thống BHXH ở các xí nghiệp Một trong những đặc thù trong hệ thống BHXH của Cộng hòa Liên bang Đức là có sự phân chia ra việc quản lý và thực hiện các chế
độ BHXH Không có các tổ chức BHXH thực hiện cùng một lúc nhiều chế độ, mà thông thường mỗi tổ chức chỉ chịu trách nhiệm cho một số chế độ nhất định Với Trung Quốc, các chế độ BHXH chỉ được áp dụng ở các khu vực thành thị và trong các doanh nghiệp Tại các địa phương, đặc biệt là vùng nông thôn Trung Quốc có thể vận dụng các chế dộ BHXH áp dụng ở khu vực thành thị để cụ thể hóa thực hiện các chế độ BHXH khác nhau, nhưng chủ yếu là chế độ hưu trí và thất nghiệp Điều
đó thể hiện mô hình BHXH đa tầng và cách quản lý tự quản cao nhưng vẫn dưới sự kiểm soát của Nhà nước Ở Ba Lan, hệ thống BHXH được tổ chức khá phức tạp, đa dạng Về quản lý nhà nước có 3 bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về BHXH là Bộ Lao động và chính sách xã hội (quản lý các chế độ hưu, thất nghiệp, trợ cấp gia đình, TNLĐ, BNN, một phần chế độ ốm đau và thai sản ), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (thực hiện một phần chế độ hưu trí, một phần chế độ TNLĐ và BNN, một phần chế độ ốm đau và thai sản), Bộ Y tế (quản lý các chế độ chăm sóc y tế và quỹ BHYT) Đa số các nước đều thành lập Hội đòng quản trị hoăc Hội đồng quản lý BHXH để điều hành các hoạt động sự nghiệp BHXH Hội đồng là
cơ quan cao nhất thực hiện chính sách BHXH của mỗi quốc gia Hội đồng này gồm đại diện của Nhà nước, đại diện người lao động (công đoàn) và giới chủ Do nhu cầu thực tế của người lao động và trên cơ sở những đặc điểm kinh tế xã hội của mỗi quốc gia mà có cách thức tổ chức và quản lý chính sách BHXH cho phù hợp Đối với Việt Nam, chính sách BHXH là thống nhất, do Nhà nước ban hành Cơ quan thực hiện chính sách BHXH hiện nay là BHXH Việt Nam
Trang 35Luật BHXH 2014 đã có những đổi mới để đảm bảo cho công tác tổ chức thực hiện BHXH được thông suốt, nhanh chóng, kịp thời
Tăng cường trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức tham gia tổ chức thực hiện:
quy định cụ thể trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội,
Bộ trưởng Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên của Mặt trận trong việc chỉ đạo, tổ chức, giám sát thực hiện chính sách BHXH Theo điều 94 luật BHXH 2014 được quy định như sau về hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội được tổ chức ở cấp quốc gia có trách nhiệm chỉ đạo, giám sát hoạt động của cơ quan bảo hiểm xã hội và
tư vấn chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội gồm đại diện Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, tổ chức đại diện người sử dụng lao động, cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và tổ chức khác có liên quan Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức; nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội là 05 năm Chính phủ quy định chi tiết về chế độ làm việc, trách nhiệm và kinh phí hoạt động của Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội
Giao chức năng thanh tra cho cơ quan BHXH: theo qui định trước đây, chỉ
có ngành Lao động- Thương binh và Xã hội thực hiện thanh tra chuyên ngành về BHXH, tuy nhiên do hạn chế về số lượng và phạm vi thanh tra của ngành Lao động rộng nên việc thanh tra về BHXH chưa được thực hiện thường xuyên, tình trạng trốn đóng, nợ đọng BHXH có chiều hướng gia tăng, ở lần sửa đổi Luật BHXH này, ngoài Thanh tra lao động - thương binh và xã hội thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về việc thực hiện chính sách, pháp luật về BHXH thì còn có cơ quan BHXH thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về đóng BHXH (và bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế) theo quy định.Theo điều 95, luật BHXH năm 2014
Cụ thể như sau: Thông qua chiến lược phát triển ngành bảo hiểm xã hội, kế hoạch dài hạn, 05 năm, hằng năm về thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
Trang 36bảo hiểm thất nghiệp, đề án bảo toàn và tăng trưởng các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp Giám sát, kiểm tra việc thực hiện của cơ quan bảo hiểm xã hội về chiến lược, kế hoạch, đề án sau khi được phê duyệt Kiến nghị với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật
về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, chiến lược phát triển bảo hiểm xã hội, kiện toàn hệ thống tổ chức cơ quan bảo hiểm xã hội, cơ chế quản lý và
sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.Quyết định và chịu trách nhiệm trước Chính phủ về các hình thức đầu tư và cơ cấu đầu tư của các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trên cơ sở đề nghị của cơ quan bảo hiểm xã hội.Thông qua các báo cáo hằng năm về việc thực hiện các chế
độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, tình hình quản lý và sử dụng các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trước khi Bảo hiểm xã hội Việt Nam trình cơ quan có thẩm quyền Thông qua dự toán hằng năm
về thu, chi các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; mức chi phí quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trước khi Bảo hiểm xã hội Việt Nam trình cơ quan có thẩm quyền Hằng năm, báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định và kết quả hoạt động Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Thủ tướng Chính phủ giao
Kết luận chương 1: Như vậy, Chương 1 đã nói một cách tổng quát về bảo
hiểm xã hội nói chung cũng như bảo hiểm xã hội bắt buộc nói riêng Đã nhấn mạnh tầm quan trọng của bảo hiểm xã hội trong đời sống Bảo hiểm xã hội luôn là trụ cột quan trọng nhất của hệ thống An sinh xã hội Vì thế bảo hiểm xã hội Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung thống nhất từ trung ương đến địa phương BHXH bao gồm một hệ thống gồm 9 chế độ, song tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước và tùy vào từng thời kỳ mà mỗi nước chọn cho mình những chế độ phù hợp Hiện nay nước ta có 5 chế độ BHXH bắt buộc Những chế
độ bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ được luận bàn sâu sắc trong chương tiếp theo
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ BHXH
BẮT BUỘC THEO LUẬT BHXH NĂM 2014
2.1 Sơ lược sự ra đời và một số điểm mới cơ bản trong quy định Luật BHXH năm 2014
Bảo hiểm xã hội ra đời là vì an sinh xã hội, vì hạnh phúc của mọi người Luât BHXH ra đời để hoàn thiện mục tiêu đó của BHXH Luật BHXH 2006 ra đời
đã có những bước tiến quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả trong thực hiện chính sách Khi tình hình kinh tế , chính trị, xã hội thay đổi, cùng với những thay đổi thực tế trong đời sống của người lao động thì sự thay đổi của Luật BHXH để đảm bảo lợi ích lâu dài cho người lao động là một tất yếu khách quan Chặng đường từ khi thực hiện Luật BHXH 2006 còn những tồn tại cần tháo
gỡ Diện bao phủ của BHXH còn thấp (chiếm khoảng 20% lực lượng lao động); công thức tính lương hưu chưa hợp lý; thời gian đóng BHXH thấp; số người nhận trợ cấp một lần tăng; mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH thấp so với thu nhập thực tế của người lao động; tình trạng nợ đọng, chậm đóng BHXH chưa giảm; chậm ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa quản lý BHXH; quỹ BHXH ngắn hạn kết dư lớn; công tác đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH chưa đạt mục tiêu đề ra; công tác phối hợp, trách nhiệm của BHXH Việt Nam và các bộ, ngành liên quan còn hạn chế Đồng thời, quỹ BHXH đã xuất hiện nguy cơ mất cân đối Những khó khăn và thách thức đó đòi hỏi sự ra đời của Luật BHXH 2014 phải đổi mới căn bản và toàn diện đó là:
làm việc theo hợp đồng lao động thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng; NLĐ là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam
Trang 38cấp; người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, phường, thị trấn Đồng thời việc luật hóa một số đối tượng đã thực hiện BHXH bắt buộc như: người quản lý doanh nghiệp,người quản lý điều hành HTX có hưởng tiền lương, học viên quân đội, công an, cơ yếu hưởng sinh hoạt phí…
độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được sửa đổi, bổ sung về điều kiện hưởng, tỷ lệ đóng, mức hưởng Mức hưởng bảo hiểm chế độ ốm đau được nâng từ 45% lên 50% mức tiền lương đóng BHXH Bổ sung các trường hợp hưởng chế độ thai sản bao gồm: Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ; Lao động nam đang đóng BHXH có vợ sinh con Bổ sung quy định về tái đầu tư cho hoạt động phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Điểm mới lớn nhất
là những sửa đổi về điều kiện hưởng hưu hàng tháng, một lần và công thức tính trợ cấp hưu trí Một điểm mới trong chế độ tử tuất là việc bổ sung quy định cho phép thân nhân NLĐ hưởng trợ cấp tuất hàng tháng hoặc một lần Sửa đổi này được đánh giá tích cực, đáp ứng nguyện vọng thân nhân NLĐ, đảm bảo nguyên tắc cân đối đóng hưởng BHXH
tiền lương đóng BHXH sẽ thay đổi từ 1/1/2016 sẽ có sự thay đổi Cụ thể: Từ ngày 1/1/2016 đến hết năm 2017, tiền lương tháng đóng BHXH sẽ là mức lương và các khoản phụ cấp lương ghi trong hợp đồng lao động Từ ngày 1/1/2018 trở đi, tiền lương tháng đóng BHXH sẽ là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác ghi trong hợp đồng lao động Mức lương theo công việc hoặc chức danh là mức lương trong thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Lao động Mức lương đối với công việc giản đơn giản nhất trong điều kiện lao động và thời gian làm việc bình thường (không bao gồm khoản tiền trả thêm khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm) không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định Phụ cấp lương là khoản tiền bù đắp các yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp của công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động chưa được tính đến hoặc
Trang 39tính chưa đầy đủ trong mức lương theo công việc hoặc chức danh Các khoản bổ sung khác là khoản tiền bổ sung ngoài mức lương, phụ cấp lương và có liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động, trừ tiền thưởng, tiền ăn giữa ca, các khoản hỗ trợ, trợ cấp của người sử dụng lao động không liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động Theo quy định, trong tổng tỉ lệ 26% đóng vào quỹ BHXH, người lao động đóng 8%, còn lại 18% do người sử dụng lao động đóng Như vậy, số tiền đóng BHXH của người lao động theo quy định mới cũng sẽ tăng hơn một chút, ngược lại quyền lợi hưởng chế
độ BHXH sẽ được cải thiện hơn rất nhiều
nguyện được quy định với hai chế độ BHXH hưu trí và tử tuất Sự đổi mới về điều kiện hưởng lương hưu, không khống chế tuổi trần tham gia BHXH tự nguyện Mức trợ cấp tiền tuất một lần cũng được tăng lên 2 tháng tính từ mốc thời gian đóng sau năm 2014, không quy định chế độ bảo hiểm tuất hàng tháng trong Luật BHXH năm 2014
BHXH năm 2014 mà được quy định tại Luật việc làm năm 2013 Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ bảo hiểm ngắn hạn không chỉ dừng ở khoản trợ cấp bằng tài chính
mà còn chú trọng tới các hoạt động hỗ trợ, tư vấn, đào tạo nghề để NLĐ nhanh chóng quay lại thị trường lao động Nếu do cơ quan BHXH thực hiện sẽ thiếu đi sự đồng bộ trong đảm bảo quyền của người thụ hưởng.Vì vậy cần phối hợp sự tham gia của các cơ quan, tổ chức khác thuộc ngành lao động thương binh xã hội với ngành BHXH để đảm bảo chính xác nhất quyền lợi của người lao động
BHXH được chia thành 3 quĩ thành phần: quỹ ốm đau và thai sản; Quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và quỹ hưu trí và tử tuất, như vậy quỹ hưu trí và tử tuất được sử dụng để chi trả chế độ cho cả đối tượng tham gia bắt buộc và tham gia tự nguyện (trước đây là hai quĩ tách biệt, quỹ hưu trí và tử tuất cho đối tượng tham gia
Trang 40bắt buộc và quỹ BHXH tự nguyện) Việc gộp hai quỹ sẽ đảm bảo sự bình đẳng cho người lao động tham gia ở hai hình thức BHXH này
đây, chỉ có ngành Lao động- Thương binh và Xã hội thực hiện thanh tra chuyên ngành về BHXH, tuy nhiên do hạn chế về số lượng và phạm vi thanh tra của ngành Lao động rộng nên việc thanh tra về BHXH chưa được thực hiện thường xuyên, tình trạng trốn đóng, nợ đọng BHXH có chiều hướng gia tăng, ở lần sửa đổi Luật BHXH này, ngoài Thanh tra lao động - thương binh và xã hội thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về việc thực hiện chính sách, pháp luật về BHXH thì còn có
cơ quan BHXH thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về đóng BHXH
2.2 Thực trạng quy định các chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc
2.2.1 Chế độ ốm đau
Điều kiện hưởng
Theo Luật BHXH năm 2014, điều kiện hưởng chế độ ốm đau như sau:
Người lao động bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế Trường hợp: “ ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự huỷ hoại sức
ốm (cụ thể danh mục chất ma túy và tiền chất ma túy được quy định tại Nghị định 82/2013 NĐ-CP) Luật 2014 quy định về điều kiện hưởng chế độ ốm đau cụ thể chi tiết hơn so với luật hiện hành thì việc thực hiện BHXH thường gặp khó khăn, lúng túng khi xác định các trường hợp ốm đau, tai nạn không được hưởng trợ cấp Người lao động phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 07 tuổi (con đẻ hoặc con nuôi hợp pháp, con ngoài giá thú được pháp luật công nhận) bị ốm đau và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền