1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại từ thực tiễn xét xử tại tòa án nhân dân tỉnh yên bái

88 1,8K 21

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Trong chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một trong những vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, thể hiện rõ nét trong Nghị quyết

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

TRẦN VĂN TƯỜNG

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 62380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN TRIỀU DƯƠNG

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH

CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI

7

1.1 Khái quát về tranh chấp kinh doanh, thương mại 8 1.1.1 Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại 8 1.1.2 Các đặc điểm chung của tranh chấp kinh doanh, thương mại 10 1.1.3 Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại 11 1.2 Cơ sở của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại 18 1.2.1 Pháp luật tố tụng kinh doanh, thương mại (Bộ luật Tố tụng Dân sự

(2004))

18

1.2.2 Pháp luật nội dung liên quan đến việc giải quyết tranh chấp kinh

doanh, thương mại

19

1.2.3 Mối quan hệ giữa pháp luật nội dung và pháp luật hình thức 20

Trang 4

Chương 2:

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH

DOANH, THƯƠNG MẠI

22

2.1 Pháp luật nội dung về giải quyết kinh doanh, thương mại 22

2.1.1 Về chủ thể trong tranh chấp kinh doanh, thương mại 22 2.1.2 Về nội dung của tranh chấp kinh doanh, thương mại (Quyền và nghĩa

vụ của các bên trong quan hệ kinh doanh, thương mại)

2.2.2 Thời hiệu khởi kiện và thụ lý vụ án kinh doanh, thương mại 34 2.2.3 Tư cách đương sự và người đại diện của đương sự tham gia tố tụng 39

Trang 5

Chương 3:

THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH,

THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI VÀ

PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT

TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI 49

3.1 Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trên địa bàn

3.1.2 Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án

nhân dân tỉnh Yên Bái

54

3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh

doanh, thương mại

59

3.2.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh

doanh, thương mại

59

3.2.2 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh

chấp kinh doanh, thương mại

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

(Luận văn đã được chỉnh sửa

theo ý kiến hội đồng chấm luận văn)

TS Nguyễn Triều Dương

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Văn Tường

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một trong những vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, thể hiện

rõ nét trong Nghị quyết số 08/NQ-TW, Nghị quyết số 48/NQ-TW, và được

nhấn mạnh trong Nghị quyết số 49/NQ-TW: “Xây dựng nền tư pháp trong

sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động

tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu

tế, các tranh chấp về kinh doanh, thương mại đang diễn ra với chiều hướng gia tăng, nội dung tranh chấp đa dạng, phức tạp Chính vì vậy, nhu cầu giải quyết những tranh chấp trong lĩnh vực này cần nhanh chóng, kịp thời Mặc dù Nhà nước luôn khuyến khích các chủ thể có mâu thuẫn tự giải quyết với nhau, nếu không giải quyết được có thể thông qua các cơ chế khác để giải quyết như trọng tài thương mại, việc giải quyết bằng con đường Toà án chỉ là giải pháp cuối cùng Tuy nhiên, trên thực tế giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại cho thấy giải quyết thông qua con đường Toà án mới có thể bảo đảm tối đa quyền lợi các bên, điều này cũng có thể lý giải bởi vì Toà án có các công cụ bảo đảm cho các bên thực hiện nghĩa vụ của mình thông qua các biện pháp cưỡng chế thi hành các phán quyết của Toà án

Hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại có ý nghĩa quan trọng không chỉ bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp giữa các bên

mà còn có ý nghĩa đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung trong đó có tỉnh Yên Bái Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại hiệu quả sẽ góp

Trang 8

phần không nhỏ trong việc xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh cho sự phát triển chung của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh

Từ năm 2005 trở lại đây, với việc áp dụng các văn bản pháp luật chủ yếu như Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) (2004) (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Luật Thương mại (2005), Luật Doanh nghiệp (2005) (2014)…cùng văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật, Toà án nhân dân trên địa bàn tỉnh Yên Bái đã đạt được những kết quả nhất định trong công tác giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại Tuy nhiên, thực tiễn trong việc giải quyết những loại tranh chấp này tại Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái cũng đã bộc lộ nhiều vấn đề vướng mắc cần phải nghiên cứu liên quan đến sự hạn chế bất cập trong thực tiễn, giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại và sự thiếu đồng bộ, hạn chế trong hệ thống các văn bản pháp luật…Điều này ít nhiều đã và đang làm cho hoạt động xét xử của Toà án mà ở đây là Toà án nhân dân cấp huyện và Toà Dân sự – Kinh tế - Lao động thuộc Toà án nhân dân cấp tỉnh gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, dẫn đến tình trạng có những vụ án kinh doanh, thương mại kéo dài qua nhiều cấp giải quyết, hướng dẫn của ngành không đạt được

sự thống nhất, quan điểm giải quyết cũng không thống nhất giữa các cấp giải quyết dẫn đến tình trạng bản án bị sửa, bị huỷ ngày càng nhiều

Chính vì vậy, trong điều kiện hiện nay, nghiên cứu về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái sẽ có ý nghĩa

về lý luận và thực tiễn Nhận thức đúng đắn về vai trò của Toà án cũng như các quy định pháp luật liên quan đến việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại nói chung, đánh giá hoạt động giải quyết này trên địa bàn tỉnh Yên Bái sẽ góp phần hoàn thiện nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại nói riêng cũng như hoàn thiện khung pháp luật kinh tế nói chung

Trang 9

Xuất phát từ những yêu cầu trên, học viên đã lựa chọn đề tài: “Giải

quyết tranh chấp kinh doanh thương mại từ thực tiễn xét xử tại Toà án

ngành luật kinh tế của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Các vấn đề đặt ra xung quanh việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại luôn được sự quan tâm không chỉ những người hoạt động trong công tác thực tiễn mà còn cả đối tượng nghiên cứu khoa học luật Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trong khoa học pháp lý Việt Nam đã được đề cập từ rất sớm, cụ thể: Đầu những năm 90, một số đề tài nghiên cứu của các cơ quan Nhà nước được thực hiện: “Trọng tài kinh tế Nhà nước” – Bộ

Tư pháp chủ trì Tiếp theo đó là các công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau và theo nhiều khía cạnh khác nhau, có thể lấy ví dụ như: Luận văn Thạc

sĩ Luật học của Nguyễn Thị Vân Anh về “Giải quyết tranh chấp công ty bằng Toà án ở Việt Nam”; Luận văn Thạc sĩ của Cung Mỹ Anh về “Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự

- Những vướng mắc và giải pháp khắc phục” năm 2008;

Nhìn chung, các công trình đã đề cập, nghiên cứu những vấn đề khái quát của loại hình tài phán Toà án kinh tế ở Việt Nam Mặc dù các công trình này cũng đã đề cập đến thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại khá chi tiết và đầy đủ, tuy nhiên do có khoảng cách nhất định về thời gian nghiên cứu nên không tránh khỏi những hạn chế, chưa đánh giá một cách kịp thời đối với thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án hiện nay Hơn nữa, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế khi Việt Nam là thành viên của WTO, khi tiến hành sửa đổi, bổ sung BLTTDS (2004) (có hiệu lực từ tháng 01/2012), sửa đổi, bổ sung Luật Thương mại (2005)…thì hầu như chưa có công trình nào nghiên

Trang 10

cứu một cách toàn diện trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn mới đang đặt ra cần giải quyết Đặc biệt, nghiên cứu về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái – nơi có điều kiện kinh

tế, xã hội chưa thực sự phát triển chưa được quan tâm thoả đáng

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

Với đề tài nghiên cứu: “Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

đích trọng tâm nghiên cứu như sau:

kinh doanh, thương mại là cơ sở để tiếp cận các quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại này;

doanh, thương mại ở Việt Nam hiện nay thông qua hệ thống các quy định pháp luật về nội dung và pháp luật về hình thức

mại trên địa bàn tỉnh Yên Bái, đề xuất ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại của tỉnh

Để thực hiện những mục tiêu đề ra, học viên xác định nhiệm vụ làm sáng tỏ những nội dung sau đây:

chấp kinh doanh, thương mại như: Khái niệm, đặc điểm chung và phương thức giải quyết và cơ sở của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

pháp luật về hình thức (tố tụng) trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án nhân dân

Trang 11

Thứ ba: Phân tích thực trạng tranh chấp kinh doanh, thương mại và giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án nhân dân trên địa bàn tỉnh Yên Bái, từ đó đưa ra các phương hướng và giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trong thời gian tới

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Luận văn tập trung chủ yếu vào việc phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án nhân dân trên phương diện luật nội dung và luật hình thức, trong đó quy định pháp luật về luật hình thức (tố tụng) liên quan đến thẩm quyền của Toà án được nghiên cứu triệt để Luận văn cũng đồng thời đi sâu vào phân tích thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái với những đặc thù nhất định so với các địa phương khác Qua đó thấy được những hạn chế trong quá trình giải quyết và đưa ra định hướng cũng như những giải pháp hoàn thiện pháp luật cụ thể

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát triển kinh tế về giải quyết tranh chấp để các quy định đó có thể đáp ứng yêu cầu giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại hiện nay

Luận văn đồng thời vận dụng các phương pháp luận của triết học Mác – Lê nin, của Lý luận Nhà nước và Pháp luật trong điều kiện thực tế hiện nay Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp như phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, thống kê…để giải quyết vấn đề đặt ra

6 Những đóng góp mới của luận văn

Với mong muốn đóng góp ít nhiều về mặt lý luận và thực tiễn trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trên địa bàn tỉnh Yên Bái, luận văn đã có những đóng góp cho khoa học pháp lý như sau:

Trang 12

Thứ nhất: Làm rõ được những vấn đề lý luận về tranh chấp kinh doanh, thương mại và bước đầu nêu được cơ sở của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ở Việt Nam

thương mại bao gồm luật nội dung và luật hình thức (tố tụng), trong đó luật hình thức (tố tụng) được bổ sung, phân tích những quy định mới, những vấn

đề pháp lý đang được quan tâm trong giới nghiên cứu khoa học luật và nhà hoạt động thực tiễn

thực trạng tranh chấp kinh doanh, thương mại và giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trên địa bàn tỉnh Yên Bái – địa phương có tình hình kinh

tế đặc thù, để tìm ra các nguyên nhân của thực trạng đó

luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trên cơ sở những nhu cầu thực tế đòi hỏi trong tình hình mới hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm ba chương:

doanh, thương mại

thương mại

Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái và phương hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Trang 13

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT

TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về tranh chấp kinh doanh, thương mại

1.1.1 Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại

Trong khoa học pháp lý, các khái niệm như: tranh chấp kinh tế, tranh chấp thương mại hay tranh chấp kinh doanh, thương mại thường được đề cập với nội hàm rộng, hẹp khác nhau Nhìn chung, các khái niệm này đều được hiểu là những xung đột, bất đồng về lợi ích, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thương mại

Ở góc độ ngôn ngữ, “kinh doanh” là tổ chức, sản xuất, buôn bán sao cho sinh lời; “kinh tế” là tổng thể nói chung những quan hệ sản xuất của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định; “thương mại” là thực hiện lưu thông hàng hoá bằng mua bán

Theo cách tiếp cận này, nội hàm tranh chấp kinh tế rộng hơn, bao gồm

cả tranh chấp kinh doanh, thương mại; gồm các tranh chấp phát sinh trong các khoản đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi hoặc tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với quốc gia tiếp nhận đầu tư, tranh chấp giữa quốc gia trong việc thực hiện điều ước quốc tế về thương mại song phương và đa phương…

Ở góc độ pháp lý, hiện nay phần lớn các quan điểm đồng nhất “tranh chấp kinh tế” với “tranh chấp kinh doanh, thương mại” Cụ thể:

Theo Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của Uỷ ban Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) đưa ra khái niệm “thương mại” với nội hàm rất rộng, liên quan đến tất cả các quan hệ mang bản chất thương mại Chính vì vậy, tranh chấp thương mại cũng được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ các tranh chấp phát sinh từ các giao dịch thương mại

Trang 14

Quan niệm về tranh chấp kinh tế ở Việt Nam cũng có sự khác biệt qua mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội:

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung – nền kinh tế được quản lý bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, hợp đồng kinh tế thời kỳ này không chỉ là một hình thức pháp lý để triển khai các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế mà còn được sử dụng như một công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước Do vậy, ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế có tính chất bắt buộc chứ không hoàn toàn xuất phát từ lợi ích kinh tế của các bên tham gia hợp đồng Cũng chính vì vậy, trách nhiệm thực hiện hợp đồng giữa các bên tham gia quan hệ với nhau bị coi nhẹ hơn so với trách nhiệm của các bên đối với cơ quan quản lý và trách nhiệm phát sinh do vi phạm hợp đồng kinh tế được đánh giá “nhẹ” về yếu tố vật chất mà “nặng” về tính chất hành chính

Có thể thấy, trong giai đoạn này, quan hệ kinh tế với tính chất đơn giản về nội dung và thành phần chủ thể, được điều chỉnh bởi kinh tế Nhà nước nên các tranh chấp kinh tế phát sinh không nhiều và chủ yếu là các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh tế được ký kết giữa các đơn vị kinh tế với nhau để triển khai kế hoạch kinh doanh đã được Nhà nước phê duyệt từ trước Các tranh chấp nếu phát sinh cũng không thể hiện rõ bản chất của tranh chấp kinh doanh, thương mại vốn được coi là tranh chấp phát sinh do xung đột lợi ích của các bên và việc giải quyết tranh chấp cũng không xuất phát từ quyền lợi thiết thực của các bên mà chủ yếu vì sự ổn định, hài hoà chung cho cả nền kinh tế

Trong quá trình đổi mới, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam hội nhập cùng nền kinh tế thế giới với việc nước ta trở thành thành viên thứ 150 của WTO năm 2007

Từ đó, ngày càng xuất hiện nhiều hơn các chủ thể kinh doanh, bên cạnh doanh nghiệp Nhà nước và hợp tác xã, các loại hình công ty và hộ kinh doanh

Trang 15

cá thể Các quan hệ kinh tế xuất hiện ngày càng nhiều với hình thức phong phú và tính chất phức tạp Trong hoàn cảnh đó, Nhà nước phải tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh, để các quan hệ kinh tế được xây dựng và thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự do, bình đẳng, cùng có lợi và tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình Trong giai đoạn này, kinh doanh đúng pháp luật để đạt lợi nhuận tối đa là mục tiêu của các doanh nghiệp Môi trường đó phát sinh ngày càng nhiều các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia các quan hệ kinh tế, đồng thời cũng đặt ra nhu cầu cần phải nghiên cứu, mở rộng nội hàm của khái niệm tranh chấp kinh tế

Luật Thương mại (2005) không đưa ra khái niệm về tranh chấp kinh doanh, thương mại mà đưa ra khái niệm hoạt động thương mại là “nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” (Khoản 1 Điều 3) Theo đó, quan niệm về hoạt động thương mại cũng đã được mở rộng, bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lợi Với hướng tiếp cận này, Luật Thương mại (2005) đã cho thấy, khái niệm về hoạt động thương mại đã được

mở rộng tương đồng với khái niệm kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp (2005) tại Khoản 2 Điều 4 nay là Khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp (2014): “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”

Theo Điều 29 Bộ luật Tố tụng Dân sự (2004) (BLTTDS) thì tranh chấp kinh doanh, thương mại được hiểu là những tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận

Trang 16

Một cách khái quát, cũng có thể hiểu rằng, tranh chấp kinh doanh, thương mại theo quy định của BLTTDS thực chất là tranh chấp kinh tế đã được mở rộng nội hàm cho phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trường

và hội nhập kinh tế quốc tế Nội dung của tranh chấp kinh doanh, thương mại được liệt kê tại Điều 29 BLTTDS thực chất là những tranh chấp thương mại theo hướng tiếp cận của Luật Thương mại (2005)

Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu: “Tranh chấp kinh doanh,

thương mại là sự bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh liên quan đến lợi ích kinh tế trong quá trình hoạt

1.1.2 Các đặc điểm chung của tranh chấp kinh doanh, thương mại

Việc phân định tranh chấp kinh doanh, thương mại hay tranh chấp thuộc các ngành luật khác như tranh chấp dân sự, tranh chấp trong quan hệ quốc tế…phụ thuộc vào tính chất của mối quan hệ pháp luật; chủ thể của các mối quan hệ đó cũng như lợi ích của mối quan hệ đó mạng lại Tranh chấp kinh doanh, thương mại có các đặc điểm cơ bản sau đây:

kinh doanh, thương mại như: mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lý, ký gửi, thuê và cho thuê, thuê mua, xây dựng

trong tranh chấp kinh doanh, thương mại chủ yếu là các thương nhân Trong một số trường hợp chủ thể của tranh chấp kinh doanh, thương mại có thể là các cá nhân, tổ chức không phải là thương nhân Ví dụ tranh chấp giữa công

ty và thành viên của công ty là tranh chấp giữa một bên chủ thể là thương nhân (công ty) và một bên là cá nhân không phải là thương nhân (thành viên công ty)

Trang 17

Thứ ba, về cách thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại: Do các bên tranh chấp tự định đoạt – Điều này thể hiện ở các bên trong tranh chấp có nhiều hơn một cách để giải quyết tranh chấp như: Hoà giải, thương lượng, trọng tài, toà án Việc chọn phương pháp giải quyết nào là quyền của các bên nhưng vẫn trên cơ sở tôn trọng lợi ích của nhau và lợi ích của Nhà nước

sản Tranh chấp kinh doanh, thương mại là tranh chấp mang yếu tố vật chất

và thường có giá trị lớn Các tranh chấp này đều chủ yếu liên quan đến những lợi ích vật chất có ảnh hưởng lớn và liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên Mức độ tranh chấp thường gay gắt, tính chất phức tạp, do đó các tranh chấp kinh doanh, thương mại nếu không được giải quyết thì không những để lại hậu quả xấu cho các bên tranh chấp mà còn ảnh hưởng đến các chủ thể khác, thậm chí ảnh hưởng đến nền kinh tế của đất nước

1.1.3 Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Do sự đa dạng của các tranh chấp kinh doanh, thương mại và trước yêu cầu của sự linh hoạt trong việc giải quyết tranh chấp này, các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại rất phong phú và đa dạng Hiện nay, các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại thường được áp dụng đó là:

1.1.3.1 Thương lượng

Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp không cần đến vai trò của người thứ ba ngoài các bên tranh chấp Đây là phương thức giải quyết tranh chấp có đặc điểm cơ bản đó là các bên cùng nhau trình bày quan điểm, tìm ra các biện pháp thích hợp, trên cơ sở đó đi đến thống nhất để giải quyết các bất đồng Thương lượng là biện pháp khá phổ biến và thích hợp cho việc

Trang 18

giải quyết các tranh chấp, với những ưu điểm như: Tính chất đơn giản, ít tốn kém, không làm phương hại đến các quan hệ hợp tác vốn có của các bên, giữ được bí mật kinh doanh lại không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý

Phương pháp này đòi hỏi các bên phải có thiện chí, trung thực và hợp tác; phải có những kiến thức cần thiết về pháp luật Đối với các vụ việc phức tạp, mỗi bên có thể chỉ định những chuyên gia có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp thay mặt mình để tiến hành thương lượng Kết quả của thương lượng thường là những cam kết, thoả thuận về những giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ những bất đồng phát sinh trước đó

Tuy nhiên, hình thức thương lượng có một số hạn chế như: Khó thực hiện nếu các bên đã mâu thuẫn căng thẳng trong các vấn đề tranh chấp và không có thiện chí với nhau Giá trị pháp lý của biên bản thương lượng chưa được quy định cụ thể và không có giá trị cưỡng chế thi hành

1.1.3.2 Hoà giải

Hoà giải là phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

có sự tham gia của bên thứ ba độc lập do hai bên cũng chấp nhận hay chỉ định, đóng vai trò trung gian nhằm hỗ trợ các bên tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột Nếu hoà giải thành công sẽ đạt được giải pháp là tự thoả thuận giữa các bên để giải quyết tranh chấp So với hình thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hoà giải có điểm khác là sự có mặt của bên thứ ba với tư cách là người trung gian để giúp đỡ các bên tìm ra giải pháp Giống như thương lượng, hoà giải là một biện pháp mang tính truyền thống không phải chỉ mới xuất hiện trong giai đoạn hiện nay mà được hình thành từ rất lâu Mặc dù hoà giải cũng là biện pháp mang tính hiệu quả

và được nhà kinh doanh ưa chuộng để giải quyết tranh chấp nhưng hạn chế là quá trình hoà giải các bên tranh chấp cũng không chịu sự chi phối bởi các quy định có tính khuôn mẫu, bắt buộc của pháp luật về thủ tục hoà giải Kết quả

Trang 19

hoà giải thành được thực thi cũng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên tranh chấp mà không có bất kỳ cơ chế pháp lý nào bảo đảm thi hành những cam kết của các bên trong quá trình hoà giải

1.1.3.3 Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng trọng tài

Có thể thấy, đây là phương thức giải quyết tranh chấp rất phổ biến và được nhiều nước trên thế giới áp dụng Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường và ngày càng được các nhà kinh doanh ưa chuộng Thông qua hoạt động của Hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết mâu thuẫn tranh chấp bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành

Ưu điểm của phương thức này là có tính linh hoạt, tạo quyền chủ động cho các bên; tính nhanh chính, tiết kiệm được thời gian, có thể rút ngắn thủ tục tố tụng trọng tài và đảm bảo bí mật Trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo nguyên tắc xét xử không công khai hoặc xử kín Theo nguyên tắc này các bên có thể giữ được bí mật kinh doanh cũng như danh dự, uy tín của mình Giải quyết tranh chấp tại trọng tài không bị giới hạn về mặt lãnh thổ do các bên có quyền lựa chọn bất kỳ trung tâm trọng tài nào để giải quyết tranh chấp cho mình Phán quyết của trọng tài có tính chung thẩm, đây là ưu thế vượt trội so với hình thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hoà giải Sau khi trọng tài đưa ra phán quyết thì các bên không có quyền kháng cáo trước bất kỳ một tổ chức hay toà án nào

Tuy nhiên, phương thức giải quyết tranh chấp này vẫn có những hạn chế nhất định như chi phí tương đối cao, đối với vụ việc càng kéo dài thì phí trọng tài càng cao Việc thi hành quyết định trọng tài không phải lúc nào cũng trôi chảy, thuận lợi như việc thi hành bản án, quyết định của Toà án

1.3.1.4 Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng Toà án

Trang 20

Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án là hình thức giải quyết thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên phải chấp hành, bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước

Việc giải quyết tranh chấp của Toà án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định mang tính hình thức của pháp luật tố tụng, bên cạnh đó tuân thủ các nguyên tắc xét xử cũng là một trong những điểm đặc thù của hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại để nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng, cũng như tạo điều kiện hoạt động đồng bộ cho toàn bộ nền kinh tế Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại phải tuân thủ những nguyên tắc đặc trưng riêng như: Nguyên tắc đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự; Nguyên tắc hoà giải; Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh; Nguyên tắc giải quyết nhanh chóng, kịp thời; Nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng Bên cạnh

đó, còn một số nguyên tắc chung thể hiện tính dân chủ và pháp chế xã hội chủ nghĩa như: Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; Nguyên tắc xét xử công khai; Nguyên tắc đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng; Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật…

Trong phạm vi luận văn, tác giả không trình bày toàn bộ các nguyên tắc của tố tụng mà chỉ trình bày một số nguyên tắc mang tính đặc trưng chi phối nhiều trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà

án

Theo Điều 5 BLTTDS, nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự được quy định: “1 Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và

Trang 21

chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó “2 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.”

Về nguyên tắc, các quan hệ kinh doanh, thương mại là những quan hệ được xác lập một cách tự nguyện, xuất phát từ ý chí và nguyện vọng của các bên mà không có bất cứ sự cưỡng ép, đe doạ nào trong quá trình xác lập, thực hiện Nói cách khác, sự xác lập các quan hệ kinh doanh, thương mại hoàn toàn do các bên tự quyết định, và được Nhà nước bảo đảm nếu không trái với các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Chính vì thế, khi phát sinh tranh chấp, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Ngược lại, họ cũng có quyền từ bỏ quyền lợi của mình đã bị xâm phạm cho dù đã có yêu cầu Nhà nước bảo vệ Nhà nước không can thiệp vào các hoạt động kinh doanh đúng pháp luật, Nhà nước chỉ tham gia giải quyết khi các đương sự có yêu cầu Cơ quan tài phán không tự đưa các tranh chấp kinh doanh, thương mại của các bên ra xét xử, mà phải có đơn khởi kiện của một trong các bên tranh chấp

Đương sự có quyền tự hoà giải ở Toà án, quyền rút đơn kiện, quyền thay đổi nội dung đơn kiện, quyền tự do lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại Nguyên tắc này được thể hiên trong suốt các giai đoạn của quá trình tố tụng: Họ có thể khởi kiện hoặc không khởi kiện; Trong quá trình giải quyết vụ việc, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội Việc thực hiện quyền này của đương

sự không chỉ dừng lại việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm mà còn được thực hiện trong các giai đoạn của quá trình thi hành bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật

Trang 22

Quyền tự định đoạt còn được thể hiện các bên có thể uỷ quyền cho luật

sư hoặc người khác thay mặt mình mà không cần trực tiếp phải tham gia tố tụng

chức có thẩm quyền: Để bảo đảm cho đương sự thực hiện được nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ và Toà án

có đầy đủ chứng cứ để giải quyết nhanh chóng và đúng đắn thì phải quy định trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc cung cấp chứng cứ cho đương sự và Toà án Vì vậy, điều 7 BLTTDS đã quy định rất rõ về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Hiện nay, khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS có sửa đổi, bổ sung Điều 7 BLTTDS như sau: “ Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng

cứ đó; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được tài liệu, chứng cứ.” Sửa đổi, bổ sung như trên của Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS chủ yếu là bổ sung chủ thể “Viện kiểm sát” để phù hợp với việc sửa đổi, bổ sung nguyên tắc kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự

được quy định tại Điều 10 BLTTDS, theo đó: “Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau

về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.” Bản chất của quan hệ kinh tế được thiết lập trên cơ sở tự nguyện và quyền tự định đoạt

Trang 23

của đương sự, do đó việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ này được thực hiện theo những biện pháp nhất định, trong đó hoà giải là một biện pháp quan trọng và là nguyên tắc bắt buộc Hoà giải có ý nghĩa hết sức quan trọng, được thực hiện nhằm mục đích phát huy truyền thống đoàn kết, tương trợ giữa các bên tham gia quan hệ kinh tế, nâng cao kết quả giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại Đồng thời, làm tốt hoà giải sẽ hạn chế những tốn kém về tiền bạc, thời gian, công sức của Nhà nước mà người đại diện là các cán bộ Nhà nước cũng như của công dân, hạn chế những khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp BLTTDS cũng quy định cụ thể việc hoà giải được thực hiện ở tất cả các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, từ khi chuẩn bị xét xử đến khi bắt đầu xét xử tại phiên toà, trừ những vụ án không được hoà giải như yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản Nhà nước, hoặc những vụ án kinh tế phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội [9]

Việc hoà giải là thủ tục bắt buộc khi giải quyết các vụ án kinh tế Việc hoà giải hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm của các Thẩm phán Xu hướng chung của các Thẩm phán là hướng tới việc làm rõ đúng sai giữa các doanh nghiệp; chưa hoặc chưa biết quan tâm đúng mức đến vấn đề mà các đương sự hướng tới là lợi nhuận (nhiều hay ít nhưng phải có lợi) đó là điều kiện tiên quyết để

đi tới xu hướng nhân nhượng hợp tác trong kinh doanh của các bên đương sự Toà án chỉ đưa ra vụ án xét xử khi hoà giải không thành

này là cơ sở để bảo đảm khắc phục kịp thời cho bên bị vi phạm Trong BLTTDS quy định cụ thể thời hạn ở các giai đoạn tố tụng, như thời hạn thụ

lý, thời hạn thu thập chứng cứ và đưa vụ việc ra xét xử, thời hạn ra quyết định, bản án, thời hạn kháng cáo, khiếu nại và giải quyết theo trình tự giám

Trang 24

đốc thẩm, tái thẩm…Phần lớn Toà án các cấp đều phải giải quyết vụ việc trong thời hạn luật định

Để thực hiện được nguyên tắc này, bản thân Toà án phải được tổ chức

và hoạt động sao cho có hiệu quả, đặc biệt là trình độ của Thẩm phán được nâng cao không chỉ trong lĩnh vực pháp luật nói chung mà còn cả trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại

Đây là nguyên tắc quan trọng để nâng cao chất lượng xét xử, BLTTDS ra đời

đã có những quy định rõ ràng về nguyên tắc này, tạo cơ chế phân định trách nhiệm cá nhân Thẩm phán, Thư ký và những người tiến hành tố tụng khác

Có thể nói rằng, mỗi hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại đều có những đặc điểm và hạn chế nhất định, chỉ có các đương sự

và các luật sư của họ mới hiểu rõ họ cần đến hình thức giải quyết tranh chấp nào trong những vụ việc cụ thể Thực tiễn hoạt động giải quyết tranh chấp trong kinh doanh hiện nay ở các nước trên thế giới như Anh – Mỹ, Đức, Pháp…[14] thì các hình thức như thương lượng, hoà giải, trọng tài chiếm ưu thế, còn ở Việt Nam thì việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng con đường Toà án đóng vai trò quan trọng nhất, được các chủ thể tranh chấp lựa chọn

1.2 Cơ sở của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

1.2.1 Pháp luật tố tụng kinh doanh, thương mại (Bộ luật Tố tụng Dân sự (2004))

BLTTDS quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình

tự, thủ tục khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết các vụ án, tranh chấp về dân

sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động; quy định trình tự thủ tục giải quyết các vụ việc này tại Toà án; quyền hạn và trách nhiệm của người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, của cá nhân, tổ

Trang 25

chức liên quan và nguyên tắc cơ bản về thi hành án nhằm bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng, công minh và đúng pháp luật

Trước đây, thủ tục tố tụng được phân chia thành nhiều thủ tục: tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động…trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996, BLTTDS…Khi có sự ra đời của BLTTDS (2004) đã thống nhất các thủ tục tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế và tố tụng lao động Đó là một bước tiến lớn trong việc cải cách tư pháp, là sự phát triển phù hợp thực tế cũng như thích hợp với hệ thống tổ chức Toà án của nước ta hiện nay – không phân biệt các loại Toà án khác nhau Việc đánh giá thực trạng pháp luật tố tụng hiện hành nhằm nhìn nhận đúng thực trạng pháp luật đang tồn tại với những ưu điểm đã được kiểm nghiệm qua quá trình áp dụng, trên

cơ sở đó khẳng định tính kế thừa và hợp lý của những chế định phù hợp, đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết cần bổ sung, sửa đổi để khắc phục trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự – cơ sở nền tảng cho việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

1.2.2 Pháp luật nội dung liên quan đến việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại bao gồm:

Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Bảo hiểm…tạo lập nên một hệ thống pháp luật bao gồm những nội dung khác nhau để điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại

Trên cơ sở những quy định của pháp luật nội dung cụ thể này đối chiếu với việc xác định được các tình tiết, sự kiện khách quan thuộc nội dung của các tranh chấp kinh doanh, thương mại Hay một cách khác, pháp luật về giải

Trang 26

quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại có nội dung là hệ thống liên hoàn, bao gồm nhiều quy định pháp luật thuộc các lĩnh vực hay các ngành luật khác nhau, nhưng thể hiện tập trung trong mảng pháp luật kinh doanh, thương mại

Với tính chất gần gũi với hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, luật nội dung giữ vai trò quyết định so với luật hình thức

1.2.3 Mối quan hệ giữa pháp luật nội dung và pháp luật hình thức

Chính thủ tục tố tụng ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển pháp luật nội dung, là nền tảng thực hiện pháp luật về nội dung Với cùng một nội dung pháp luật, với cùng những tình tiết tranh chấp giống nhau nhưng áp dụng theo hai thủ tục tố tụng khác nhau có thể dẫn tới hai kết quả khác nhau Cần phải tạo một sự thay đổi trong quan niệm và trong suy nghĩ, cần chú trọng hơn nữa đối với việc xây dựng pháp luật về tố tụng, coi cải cách tố tụng

là điểm đột phá trong cải cách tư pháp, trên cơ sở đó thúc đẩy và hoàn thiện hơn nữa pháp luật về nội dung [24]

Trang 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tranh chấp kinh doanh, thương mại là sự bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh liên quan đến lợi ích kinh tế trong quá trình hoạt động kinh doanh, thương mại Tranh chấp kinh doanh, thương mại mang những đặc điểm cơ bản về tính chất, nội dung, chủ thể cũng như cách thức giải quyết tranh chấp không hoàn toàn giống các tranh chấp khác phát sinh trong đời sống dân sự hoặc tranh chấp trong quan hệ quốc tế…

Tranh chấp kinh doanh, thương mại được giải quyết thông qua các phương thức như: Thương lượng, hoà giải, trọng tài và Toà án nhân dân Mỗi phương thức này đều có những ưu điểm, hạn chế nhất định Tuy nhiên ở Việt Nam, phương thức giải quyết tranh chấp thông qua Toà án nhân dân được các bên tranh chấp lựa chọn nhiều nhất

Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ở Việt Nam dựa trên các cơ sở như pháp luật tố tụng kinh doanh, thương mại mà trọng tâm là BLTTDS (2004) cũng như pháp luật nội dung liên quan đến việc giải quyết này như: Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp…Pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung đều là cơ sở pháp lý quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ tranh chấp này

Trang 28

Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

KINH DOANH, THƯƠNG MẠI

Trong nội dung này, chúng tôi tập trung làm rõ một số quy định pháp luật về việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trên phương diện pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng (hình thức)1 Trong đó, nội dung phân tích chủ yếu là nhóm quy định về pháp luật tố tụng theo BLTTDS

2.1 Pháp luật nội dung về giải quyết kinh doanh, thương mại

Khi xem xét việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại về mặt nội dung, cũng như một quan hệ pháp luật nói chung, chúng ta thường đề cập đến các yếu tố như: Chủ thể, nội dung và hình thức của quan hệ pháp luật đó Đối với vụ việc tranh chấp kinh doanh, thương mại, cần xác định rõ các yếu

tố sau đây:

Đối tượng chiếm ưu thế về số lượng chủ yếu trong giao lưu kinh doanh, thương mại nói chung cũng như trong tranh chấp kinh doanh, thương mại nói riêng là thương nhân Theo Luật Thương mại (2005), tại Điều 6, thương nhân được hiểu bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh

Cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh là cá nhân, tổ chức đã được các cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, cụ thể như sau: (i) Cá nhân, hộ gia đình,

tổ hợp tác (theo Bộ luật Dân sự (2005), Luật Thương mại và các văn bản quy

1 Chúng tôi cho rằng, việc phân chia như vậy mang tính chất tương đối, bởi lẽ pháp luật về nội dung và pháp luật về thủ tục (hình thức) sẽ đan xen, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Trang 29

phạm pháp luật khác về đăng ký kinh doanh); (ii) Doanh nghiệp (theo Luật Doanh nghiệp và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp); (iii) Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (theo Luật Hợp tác xã và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Hợp tác xã); (iv) Cá nhân, tổ chức khác theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh

Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm Hơn nữa, quyền hoạt động thương mại hợp pháp của thương nhân được Nhà nước bảo hộ Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác

Tuy nhiên, ngoài nhóm chủ thể mang tính “truyền thống” này, liệu tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể khác trong lĩnh vực thương mại có được coi là tranh chấp kinh doanh, thương mại hay không? Theo Điều 6 Nghị quyết

số 03/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 03/12/2012 về hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất

“Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP) thì đối với một số tranh chấp đặc thù như tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau thì không nhất thiết đòi hỏi cá nhân, tổ chức phải có đăng ký kinh doanh mà chỉ đòi hỏi cá nhân, tổ chức đều có mục đích lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại Hay như các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty, cụ thể như: (i) Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty là các tranh chấp về phần vốn góp của mỗi thành

Trang 30

viên đối với công ty (thông thường phần vốn góp đó được tính bằng tiền, nhưng cũng có thể bằng hiện vật hoặc bằng giá trị quyền sở hữu công nghiệp); về mệnh giá cổ phiếu và số cổ phiếu phát hành đối với mỗi công ty

cổ phần; về quyền sở hữu một phần tài sản của công ty tương ứng với phần vốn góp vào công ty; về quyền được chia lợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp vào công ty; về yêu cầu công ty đổi các khoản

nợ hoặc thanh toán các khoản nợ của công ty, thanh lý tài sản và thanh lý các hợp đồng mà công ty đã ký kết khi giải thể công ty; về các vấn đề khác liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty; (ii) Các tranh chấp giữa các thành viên của công ty về trị giá phần vốn góp vào công ty giữa các thành viên của công ty; về việc chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty giữa các thành viên của công ty hoặc về việc chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty của thành viên công ty đó cho người khác không phải là thành viên của công ty;

về việc chuyển nhượng cổ phiếu không ghi tên và cổ phiếu có ghi tên; về mệnh giá cổ phiếu, số cổ phiếu phát hành và trái phiếu của công ty cổ phần hoặc về quyền sở hữu tài sản tương ứng với số cổ phiếu của thành viên công ty; về quyền được chia lợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu lỗ, thanh toán nợ của công ty; về việc thanh lý tài sản, phân chia nợ giữa các thành viên của công ty trong trường hợp công ty bị giải thể, về các vấn đề khác giữa các thành viên của công ty liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty cũng đều được coi

là tranh chấp kinh doanh, thương mại

2.1.2 Về nội dung của tranh chấp kinh doanh, thương mại (Quyền

và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ kinh doanh, thương mại)

Tranh chấp kinh doanh, thương mại về nguyên nhân cũng xuất phát từ mâu thuẫn quyền lợi, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ kinh doanh, thương

Trang 31

mại đó Nội dung của tranh chấp kinh doanh, thương mại liên quan tới quyền, nghĩa vụ về tài sản của các bên trong quan hệ kinh doanh, thương mại, bao gồm rất nhiều nội dung, có thể kể đến như: Quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp; Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp với thành viên doanh nghiệp, giữa các thành viên doanh nghiệp với nhau liên quan đến vốn góp cũng như các hình thức góp vốn vào doanh nghiệp khác; Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại (khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại), trung gian thương mại (đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá

và đại lý thương mại) và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong tranh chấp kinh doanh, thương mại một mặt bảo đảm theo nguyên tắc tự do, tự nguyện thoả thuận trong hoạt động thương mại, mặt khác phải bảo đảm sự tuân thủ những quy định, khuôn khổ mà pháp luật đặt ra Lấy ví dụ như các loại chế tài trong thương mại quy định tại Điều 292 Luật Thương mại (2005), bao gồm: Buộc thực hiện đúng hợp đồng; Phạt vi phạm; Buộc bồi thường thiệt hại; Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; Đình chỉ thực hiện hợp đồng; Huỷ bỏ hợp đồng Các bên có thể thoả thuận biện pháp khác nhưng không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế Hay việc áp dụng chế tài phạt vi phạm tại Điều 300 Luật Thương mại (2005) đối với bên vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng thì mức phạt hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị

vi phạm Đây là giới hạn mà pháp luật đưa ra các bên trong quan hệ kinh

Trang 32

doanh, thương mại cũng như việc giải quyết tranh chấp liên quan lĩnh vực này cần phải tuân thủ

2.1.3 Về hình thức biểu hiện của tranh chấp kinh doanh, thương mại

Tranh chấp – theo nghĩa rộng cũng như tranh chấp kinh doanh, thương mại mặc dù được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về quyền và nghĩa

vụ của các chủ thể kinh doanh liên quan đến lợi ích kinh tế trong quá trình hoạt động kinh doanh, thương mại Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nếu việc xung đột, mâu thuẫn đó không được biểu hiện ra thông qua các hình thức cụ thể thì khó có thể nhận định đây là tranh chấp kinh doanh, thương mại Vì vậy, theo chúng tôi, cần thông qua hình thức có thể bằng lời nói hoặc văn bản, thậm chí bằng hành vi cụ thể mà các bên hướng tới yêu cầu giải quyết tranh chấp Lời nói được biểu hiện như yêu cầu trực tiếp, hay có thể những phản đối trực tiếp đối với hành vi của bên xâm phạm quyền và lợi ích của bên còn lại trong quan hệ kinh doanh, thương mại đó Hình thức biểu hiện của tranh chấp cũng rất đa dạng, có thể qua thư điện tử, đơn đề nghị trực tiếp đối với bên xâm phạm quyền, lợi ích của người đề nghị hoặc đơn yêu cầu các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết (đơn khởi kiện, đơn yêu cầu trung tâm trọng tài giải quyết…) Tuy nhiên, trên phương diện xem xét pháp luật kinh doanh, thương mại là pháp luật nội dung thì rõ ràng yêu cầu giải quyết tranh chấp là chưa đủ, nếu chỉ dừng lại ở việc biểu hiện yêu cầu đó như thế nào thì vẫn chưa thực sự đảm bảo rằng tranh chấp đang xem xét là tranh chấp kinh doanh, thương mại Do đó, bên cạnh biểu hiện của tranh chấp thông qua các hình thức khác nhau thì cần có căn cứ xác định được yếu tố hình thức

“ban đầu” của tranh chấp kinh doanh, thương mại như hợp đồng kinh doanh, thương mại, điều lệ của công ty hay những thoả thuận hợp pháp khác để nhận diện tranh chấp kinh doanh, thương mại cần giải quyết

Trang 33

2.2 Pháp luật tố tụng về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án nhân dân

2.2.1 Thẩm quyền của Toà án

2.2.1.1 Thẩm quyền theo vụ việc

Theo Điều 29 BLTTDS, Toà án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại sau:

“1 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa

cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm:a) Mua bán hàng hoá;b) Cung ứng dịch vụ;c) Phân phối;d)

4 Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy

định.

Như vậy, Điều 29 BLTTDS đã liệt kê 4 nhóm tranh chấp được coi là tranh chấp kinh doanh, thương mại như sau:

mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận Theo quy định này, hai bên tranh chấp đều phải có đăng kí kinh doanh và có mục đích lợi nhuận Cá nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh là cá nhân, tổ chức đã được các cơ quan có thẩm quyền đăng kí kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh- đầu tư theo quy định của pháp luật Mục đích lợi nhuận của cá nhân, tổ chức trong hoạt động kinh doanh, thương mại là mong muốn của cá nhân, tổ chức

Trang 34

đó thu được lợi nhuận mà không phân biệt có thu được hay không thu được từ hoạt động kinh doanh, thương mại đó

giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận Trong tranh chấp này, không đòi hỏi các bên đương sự phải có đăng kí kinh doanh Tuy nhiên, các bên tranh chấp đều phải có mục đích lợi nhuận; nếu chỉ có một bên

có mục đích lợi nhuận, còn bên kia không có mục đích lợi nhuận thì tranh chấp đó là tranh chấp dân sự (Theo khoản 5 Điều 6 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP)

các thành viên của công ty với nhau liên quan đến hoạt động, giải thể, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức tổ chức công ty Đối với nhóm tranh chấp này, các bên tranh chấp có thể là công ty với thành viên công ty ; Thành viên công ty với thành viên công ty; Thành viên công ty với người khác không phải là thành viên công ty Nội dung của các tranh chấp này liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty

phân định thẩm quyền theo cấp xét xử đối với các tranh chấp về kinh doanh, thương mại phụ là phụ thuộc vào tính chất của tranh chấp và đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần thiết phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự quán của Việt nam hoặc cho toà án nước ngoài

Nhìn chung, để áp dụng quy định giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại thì các tranh chấp này phải thoả mãn các điều kiện cơ bản như: (i) Điều kiện về chủ thể: Chủ thể của tranh chấp phải là các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh hoặc cũng có thể không có đăng ký kinh doanh trong một

số tranh chấp đặc thù Quy định này không những khắc phục được những

Trang 35

vướng mắc trên thực tiễn áp dụng là nhiều tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh nhưng không được Toà án giải quyết theo tố tụng kinh tế mà còn hạn chế được sự bất bình đẳng trong cơ chế giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại của thương nhân (ii) Về mục đích của hoạt động kinh doanh, thương mại: BLTTDS quy định rõ các bên đều phải có mục đích lợi nhuận Mặc dù quy định này nhằm minh bạch hơn quy định về mục đích của tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà kinh tế theo thủ tục tố tụng kinh tế trong các văn bản pháp luật trước đó nhưng nhìn chung đã loại bỏ loại chủ thể là các đơn vị hành chính sự nghiệp Nhà nước Bởi lẽ, những chủ thể này khi tham gia vào hoạt động kinh doanh, thương mại không có mục đích lợi nhuận Chính vì vậy, nhiều quan hệ được thiết lập giữa các chủ thể kinh doanh với nhóm chủ thể này, chẳng hạn như hợp đồng xây dựng trụ sở làm việc, hợp đồng mua bán trang thiết bị với

số lượng lớn nếu xảy ra tranh chấp cũng không được xét vào tranh chấp kinh doanh, thương mại Theo Điều 6 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 03/12/2012 về hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự thì “mục đích lợi nhuận” của cá nhân, tổ

chức trong hoạt động kinh doanh, thương mại là mong muốn của cá nhân, tổ chức đó thu được lợi nhuận mà không phân biệt có thu được hay không thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại đó Hoạt động kinh doanh, thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại Hoạt động kinh doanh, thương mại không chỉ là hoạt động trực tiếp theo đăng

Trang 36

ký kinh doanh, thương mại mà còn bao gồm cả các hoạt động khác phục vụ thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, thương mại

Ví dụ: Công ty trách nhiệm hữu hạn B được cấp giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh trong lĩnh vực dệt may Hoạt động của Công ty B không chỉ giới hạn ở việc may sản phẩm là hàng dệt may để phục vụ thị trường mà còn bao gồm cả hành vi mua nguyên vật liệu về để sản xuất, xây dựng nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị, thuê xe ô tô để đưa công nhân đi làm, đi nghỉ hàng năm theo chế độ hoặc mua một số ti vi để cho công nhân giải trí sau giờ làm việc,

2.2.1.2 Thẩm quyền theo cấp

Theo Điều 33 Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS, Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền sơ thẩm các tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 29 BLTTDS nêu trên Trước đây, BLTTDS chỉ giao 09 loại tranh chấp (từ điểm a đến điểm g) cho Toà án cấp huyện, còn 05 loại tranh chấp sau (điểm k, l, m, n, o) của khoản 1 Điều 29 BLTTDS lại thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh Tuy nhiên, trong xu hướng cải cách tư pháp tăng cường thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện thì quy định như trên là chưa phù hợp Do vậy, Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS giao thẩm quyền xét xử sơ thẩm toàn bộ 14 loại tranh chấp kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 29 BLTTDS cho Toà án cấp huyện Như vậy, Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS mở rộng thẩm quyền xét xử

sơ thẩm cho Toà án cấp huyện toàn bộ các loại tranh chấp kinh doanh, thương mại mà không phân biệt tính chất phức tạp, đến độ khó của từng loại tranh chấp cụ thể

Các tranh chấp về kinh doanh, thương mại không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện là các tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 29 BLTTDS mà có đương sự hoặc có tài sản ở nước ngoài hoặc

Trang 37

cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài Toà án nhân dân cấp tỉnh có thể lấy lên giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện (khoản 2 Điều 34 BLTTDS) Đây là những vụ việc dân sự mà có tình tiết phức tạp, quy định của pháp luật được áp dụng giải quyết không rõ ràng, hoặc đương sự là cán

bộ chủ chốt ở địa phương hay những người có ảnh hưởng trong tôn giáo ở địa phương…mà xét thấy xét xử ở Tòa án cấp huyện gây những ảnh hưởng về chính trị, ổn định trong khu vực

Ngoài thẩm quyền sơ thẩm, Toà án nhân dân cấp tỉnh còn có quyền phúc thẩm đối với những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị

- Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền thảo luận

về kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo yêu cầu của Chánh án Toà chuyên trách (Toà Kinh tế) thuộc Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng (Điều 39, 40 Luật Tổ chức Toà án nhân dân (2014))

Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại của Toà án nhân dân tối cao thuộc Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

và Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao:

- Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị

Trang 38

kháng nghị theo quy định của luật tố tụng (Điều 22 Luật Tổ chức Toà án nhân dân (2014))

- Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao có quyền giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng (Điều 31 Luật Tổ chức Toà án nhân dân (2014))

2.2.1.3 Thẩm quyền theo lãnh thổ

Theo Điều 35 Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS, Toà án có thẩm quyền

sơ thẩm tranh chấp về kinh doanh, thương mại là Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc (nếu bị đơn là cá nhân) hoặc nơi bị đơn có trụ sở (nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức)

Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp

về bất động sản (Điểm c khoản 1 Điều 35 Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS)

Đối với quy định tại Điểm b, khoản 1 Điều 35 BLTTD: “Các đương sự

có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp

về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại…”

Nhiều trường hợp khi ký hợp đồng các bên đã thoả thuận nếu phát sinh tranh chấp thì Toà án tỉnh X giải quyết Về lý luận, khi ký hợp đồng chưa biết

ai là nguyên đơn, ai là bị đơn nên thoả thuận nêu trên thực chất là chọn Toà

án giải quyết vụ kiện Nếu bên có trụ sở trùng với Toà án được các bên lựa chọn khởi kiện thì phù hợp với thoả thuận, nếu bên có trụ sở không trùng với Toà án được các bên lựa chọn khởi kiện thì sẽ dẫn đến xung đột, nếu khởi kiện ở Toà án nơi doanh nghiệp đóng trụ sở thì không đúng thoả thuận trong

Trang 39

hợp đồng, nếu khởi kiện theo thoả thuận trong hợp đồng thì sẽ khởi kiện ở trụ

sở của bị đơn Do vậy, mục đích khởi kiện của việc các bên thoả thuận khởi kiện ở trụ sở của nguyên đơn không đạt được Vấn đề này còn có một số ý kiến khác nhau, bởi vì, theo quy định của pháp luật tố tụng chỉ một số ít trường hợp nguyên đơn có quyền khởi kiện tại Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở…giải quyết được quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều

36 BLTTDS:

c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ

án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;

d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;

đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết.”

Trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại, hầu hết các vụ kiện đều được giải quyết tại Toà án nơi có trụ sở của bị đơn hoặc nơi thực hiện hợp đồng Việc kiện tại trụ sở của nguyên đơn phải do các bên tự thoả thuận bằng văn bản Trong trường hợp trên thì Toà án được chọn thụ lý và thông báo cho bị đơn biết, nếu bị đơn không phản đối thì Toà án giải quyết, nếu bị đơn phản đối thì giải thích cho nguyên đơn rõ để họ khởi kiện theo sự lựa chọn của nguyên đơn được quy định rại Điều 36 BLTTDS

Trang 40

Trường hợp thoả thuận của các đương sự chọn Toà án cấp tỉnh nhưng thẩm quyền theo quy định của pháp luật thuộc Toà án cấp huyện sẽ được giải quyết như sau:

1 Vụ việc dân sự đã được thụ lý mà không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đã thụ lý thì Tòa án đó ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý.” (khoản

1 Điều 37 đã được sửa đổi, bổ sung), nếu Toà án cấp tỉnh chưa thụ lý thì trả lại đơn và giải thích cho đương sự để họ khởi kiện tại Toà án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Khi có tranh chấp về thẩm quyền giữa các Toà

án thì căn cứ vào khoản 2 và 3 Điều 37 BLTTDS để giải quyết, không để xảy

ra tình trạng đùn đẩy giữa các cấp Toà án, gây phiền hà cho các đương sự

2 Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết

3 Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau hoặc giữa các Tòa

án nhân dân cấp tỉnh do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giải quyết.”

Khoản 1 Điều 37 BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung chủ yếu để làm rõ vai trò của Viện kiểm sát trong việc chuyển vụ việc cho Toà án khác, bảo đảm sự thống nhất với việc sửa đổi, bổ sung vai trò của Viện kiểm sát được quy định tại Điều 21 BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung Đồng thời, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS cũng quy định quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh án Toà án chuyển vụ việc dân sự là quyết định cuối cùng

2.2.2 Thời hiệu khởi kiện và thụ lý vụ án kinh doanh, thương mại

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị

Ngày đăng: 20/06/2016, 21:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
25. Trần Minh Tiến (2011), Những điểm mới khi thụ lý giải quyết các vụ án dân sự của Toà án nhân dân cấp huyện, Tạp chí Nghề Luật, , số 4/2011, tr.37-40, Học viện Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ạ"p chí Ngh"ề" Lu"ậ"t
Tác giả: Trần Minh Tiến
Năm: 2011
35. TS. Trần Anh Tuấn (2014), Về xây dựng mô hình thủ tục tố tụng dân sự rút gọn ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 7/2014, tr. 49 – 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ạ"p chí Lu"ậ"t h"ọ"c
Tác giả: TS. Trần Anh Tuấn
Năm: 2014
1. Cung Mỹ Anh (2008), Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự - Những vướng mắc và giải pháp khắc phục, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Khác
2. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48/NQ-TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020 Khác
3. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Khác
4. Phạm Thị Ban (2012), Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại tòa án nhân dân - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Khác
5. Nguyễn Triều Dương (2010), Đương sự trong vụ án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Khác
6. Đảng uỷ Đảng bộ tỉnh Yên Bái (2015), Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Khác
7. Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XVIII nhiệm kỳ 2015-2020, Yên Bái Khác
11. Bùi Thị Huyền (2008), Phiên toà sơ thẩm dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Khác
12. Tưởng Duy Lượng (2004), Một số suy nghĩ về chứng cứ và chứng minh được quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tạp chí Toà án nhân dân, số 20/2004, tr. 2 – 7 Khác
13. Tưởng Duy Lượng (2006), Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
14. Michael Browde (2000), Pháp luật tố tụng dân sự của Mỹ, Kỷ yếu dự án Vie/95/017, Hà Nội Khác
15. Micheal Fromont (2006), Các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới (bản dịch tiếng Việt), Nhà xuất bản Tư Pháp, Hà Nội Khác
16. Quốc hội (2004), Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Hà Nội Khác
20. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Khác
23. Quốc hội (2014), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội Khác
24. TS. Phan Hữu Thư (chủ biên) (2004), Tiến tới xây dựng Bộ luật Tố tụng Dân sự của thời kỳ đổi mới, Nxb. Tư pháp, Hà Nội Khác
26. Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái (2011), Báo cáo Tổng kết công tác Tòa án năm 2011 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2012 của ngành Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái, Yên Bái Khác
27. Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái (2012), Báo cáo Tổng kết công tác Tòa án năm 2012 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2013 của ngành Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái, Yên Bái Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm