Phạm vi nghiên cứu Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hệ thống pháp luật về dịch vụ kiểm toán của Việt Nam; chủ yếu đi sâu nghiên cứu những quy định pháp lý về hoạt
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI -
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ KIỂM TOÁN Ở
VIỆT NAM - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
TRỊNH MINH HUÂN
HÀ NỘI - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI -
LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ KIỂM TOÁN Ở
VIỆT NAM - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Trịnh Minh Huân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn được thực hiện tại Khoa Sau đại học – Viện Đại học mở Hà
Nội Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ
của rất nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đồng Ngọc Ba
đã hướng dẫn tôi thực hiện luận văn của mình
Xin được cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy, cô giáo đã
giảng dạy cho chương trình Cao học Luật kinh tế Khóa 2013-2015, những
người đã đem lại cho tôi những kiến thức vô cùng có ích trong những năm
học vừa qua
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, lãnh đạo
Khoa Sau đại học - Viện Đại học mở Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho
tôi trong quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người
đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề
tài luận văn của mình
Tác giả luận văn
Trịnh Minh Huân
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ KIỂM TOÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ KIỂM TOÁN 5
1.1 Khái quát về dịch vụ kiểm toán 5
1.1.1 Khái niệm dịch vụ kiểm toán 5
1.1.2 Phân biệt dịch vụ kiểm toán với hoạt động kiểm toán 7
1.1.3 Phân biệt hoạt động kiểm toán độc lập với hoạt động kiểm toán nhà nước và hoạt động kiểm toán nội bộ 8
1.1.4 Sự cần thiết và quá trình hình thành kiểm toán độc lập ở Việt Nam 12 1.1.5 Vai trò của dịch vụ kiểm toán đối với việc hình thành thị trường dịch vụ thương mại ở Việt Nam 16
1.2 Khái quát pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam 18
1.2.1 Khái niệm và vai trò của pháp luật về dịch vụ kiểm toán 18
1.2.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật về dịch vụ kiểm toán 21
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự điều chỉnh pháp luật về dịch vụ kiểm toán 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM 27
2.1 Nội dung của pháp luật hiện hành về dịch vụ kiểm toán 27
2.1.1 Các quy định về doanh nghiệp kiểm toán 27
2.1.2 Các quy định về kiểm toán viên và tổ chức nghề nghiệp kiểm toán 31
2.1.3 Các quy định về báo cáo kiểm toán, hợp đồng dịch vụ kiểm toán 39
Trang 62.2 Thực trạng thi hành pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam 45
2.2.1 Những thành công trong thi hành pháp luật về dịch vụ kiểm toán 45 2.2.2 Những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân trong thực thi pháp luật
về dịch vụ kiểm toán 52
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ ĐẢM BẢO THỰC THI CÓ HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM 64 3.1 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về dịch vụ kiểm toán 64 3.2 Một số giải pháp đảm bảo thực thi có hiệu quả pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam 71
3.2.1 Nâng cao năng lực doanh nghiệp kiểm toán 71 3.2.2 Đổi mới chương trình, nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng đào tạo, đạo đức hành nghề của kiểm toán viên 73 3.2.3 Tăng cường vai trò và chất lượng hoạt động của tổ chức nghề nghiệp 76
KẾT LUẬN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tổng hợp các thông tin chủ yếu 46 Bảng 2.2: Một số công ty là thành viên của các hãng kiểm toán quốc tế 49
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Dịch vụ kiểm toán là một hoạt động đặc trưng của kinh tế thị trường Chủ trương đa dạng hoá các loại hình sở hữu và đa phương hoá đầu tư đã đặt
ra những đòi hỏi cấp thiết về dịch vụ kiểm toán
Cho đến nay, trên thế giới đã có hàng trăm ngàn tổ chức kiểm toán độc lập hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán và tư vấn tài chính Đây là các tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm toán và tư vấn theo yêu cầu của khách hàng Ở Việt Nam, trước năm 1976 đã có DNKT độc lập của nước ngoài và các giám định viên kế toán hành nghề độc lập ở các tỉnh và thành phố phía Nam Tuy nhiên
sự hiện diện chính thức của kiểm toán độc lập Việt Nam được đánh dấu bằng
sự ra đời của Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) và Công ty Dịch vụ kế toán, kiểm toán và tư vấn tài chính (AASC) vào ngày 13/5/1991(do Bộ Tài chính thành lập) Theo Công văn số 521/VACPA ngày 21/11/2008 của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam có gần 160 DNKT độc lập với 5.000 nhân viên, cung cấp 20 loại dịch vụ khác nhau cho đến nay Việt Nam đã có
218 DNKT độc lập với 7.000 nhân viên và cung cấp rất nhiều các dịch vụ trên
cả nước như Kiểm toán, thuế, tư vấn tài chính…
Sự ra đời của các DNKT độc lập đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ kiểm toán, tư vấn cho những người quan tâm trong cơ chế kinh tế mới Việc thị trường chứng khoán Việt Nam hình thành
và phát triển nhanh chóng, yêu cầu phải minh bạch hoá thông tin tài chính của các doanh nghiệp khi niêm yết lên sàn, khi đăng ký trở thành công ty đại chúng càng đòi hỏi vai trò của các DNKT độc lập phải chuyên nghiệp theo chuẩn quốc tế Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức
Trang 9Thương mại thế giới (WTO) đã ảnh hưởng tích cực đến thị trường cung cấp dịch vụ kiểm toán trong nước Với cam kết mở cửa thị trường, thị trường dịch
vụ kiểm toán Việt Nam hứa hẹn sẽ phát triển nhanh, mạnh và đi cùng với đó
là sự cạnh tranh quyết liệt không chỉ giữa các DNKT trong nước mà giữa cả các DNKT trong nước với các DNKT nước ngoài với nhau
Thực tế cho thấy, sự hình thành và phát triển một thị trường dịch vụ kiểm toán không chỉ đòi hỏi ở sự đồng thuận chuẩn mực chuyên môn và năng lực chuyên gia kiểm toán mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm toán Vì lẽ đó, cần phải nghiên cứu pháp luật điều chỉnh thị trường dịch vụ kiểm toán để tạo lập một thị trường cạnh tranh lành mạnh đa dạng về sản phẩm; và từ đó, đưa ra một số biện pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật kiểm toán, phát triển thị trường dịch vụ kiểm toán Việt Nam theo hướng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Các công trình nghiên cứu về kiểm toán độc lập từ trước đến nay hầu hết đều tập trung nghiên cứu ở góc độ nghiệp vụ kiểm toán, nhằm xây dựng và hoàn thiện các quy trình kiểm toán, nghiệp vụ kiểm toán Một vài công trình nghiên cứu đề cập đến khía cạnh pháp lý của dịch vụ kiểm toán và hoạt động cung cấp dịch vụ kiểm toán như:
- Bài viết của Thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Thuý trên Tạp chí Công nghiệp
số tháng 5 năm 2005: “Một số vấn đề về kiểm soát chất lượng hoạt động của kiểm toán độc lập ở Việt Nam” Bài viết đã đưa ra được những giải pháp thực hiện từ phía công ty kiểm toán và từ phía Nhà nước nhằm nâng cao chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ kiểm toán
- Kỷ yếu Hội thảo ACCA (Hiệp hội kế toán công chứng Anh - Việt Nam) ngày 25/9/2007 của Hội kế toán và Kiểm toán Việt Nam: “Giải pháp
Trang 10đưa kế toán và kiểm toán Việt Nam ngang tầm khu vực và quốc tế” đã giới thiệu những đặc điểm riêng của hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam
và phân tích những khó khăn, thách thức đối với kiểm toán Việt Nam, đồng thời đưa ra được một số biện pháp nhằm phát triển dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam
- Bài viết của Tiến sĩ Trần Thị Giang Tân, giảng viên Đại học Kinh tế thành phố Hồ CHí Minh trên Tạp chí Kế toán số tháng 9/2008 (10/9/2008):
“Đạo đức nghề nghiệp từ lý luận đến thực tiễn” đã phân tích, đánh giá vai trò của các chuẩn mực kiểm toán, đặc biệt là chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, từ
đó đưa ra giải pháp xây dựng một cơ chế để giám sát việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp cũng như xử lý các vi phạm đạo đức nghề nghiệp thông qua tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia khác
Có thể khẳng định đề tài: “Pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” là một đề tài đã từng được nghiên cứu
xong đề tài này sẽ đi sâu và cập nhật những nội dung mới nhất, đồng thời không trùng lặp cách tiếp cận với các công trình khoa học đã được công bố trước đây
3 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hệ thống pháp luật về dịch vụ kiểm toán của Việt Nam; chủ yếu đi sâu nghiên cứu những quy định pháp lý về hoạt động cung cấp dịch vụ kiểm toán, về DNKT độc lập cũng như các dịch vụ kiểm toán mà nó cung cấp, đồng thời có tham khảo pháp luật về kiểm toán độc lập của một số nước trên thế giới
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về pháp luật về dịch vụ kiểm toán; đánh giá được những ưu điểm, tồn tại, nguyên
Trang 11nhân của tồn tại trong xây dựng và thi hành pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam; trên cơ sở đánh giá, phân tích đưa ra phương hướng, giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về dịch vụ kiểm toán
Để đạt mục đích trên, luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ bản chất của dịch vụ kiểm toán; vai trò của pháp luật về dịch vụ kiểm toán đối với nền kinh tế thị trường
- Chỉ rõ những điểm hạn chế, bất cập trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành về dịch vụ kiểm toán
- Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện và đảm bảo thực thi có hiệu quả pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong phát triển các dịch vụ thương mại Đồng thời, quá trình nghiên cứu đề tài còn sử dụng một số phương pháp
cụ thể như: phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phân tích, khảo sát, thống kê,
hệ thống hoá, mô hình hoá, so sánh…
6 Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về dịch vụ kiểm toán và pháp luật về dịch vụ kiểm toán
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam
- Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và đảm bảo thực thi có hiệu quả pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ KIỂM TOÁN VÀ
PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ KIỂM TOÁN
1.1 Khái quát về dịch vụ kiểm toán
1.1.1 Khái niệm dịch vụ kiểm toán
Khái niệm kiểm toán đã xuất hiện khá lâu đời nhưng cho đến nay vẫn còn có những cách hiểu khác nhau, đôi khi chưa có sự đồng nhất: Vương
quốc Anh đã đưa ra khái niệm: “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất kỳ nghĩa vụ pháp định có liên quan”[1, tr.30]; Với khái niệm này, các
nhà khoa học ở Anh quan niệm kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và bày tỏ ý kiến về bản khai tài chính của kiểm toán viên theo nghĩa vụ pháp định Hoa
Kỳ lại quan niệm: “Kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc lập, có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá rõ ràng về một thông tin có thể lượng hoá có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hoá với những tiêu chuẩn đã được thiết lập” [1, tr.30-31]; các nhà khoa học về
kiểm toán Hoa Kỳ cũng khẳng định sự kiểm tra độc lập của kiểm toán viên, tuy nhiên nhấn mạnh hơn đến khía cạnh chuyên môn tức là các kiểm toán
viên không chỉ độc lập mà phải “có nghiệp vụ”; khái niệm của Hoa Kỳ
cũng nhấn mạnh đến sự phù hợp giữa thông tin với các tiêu chuẩn đã được thiết lập Còn các nhà kinh tế nước Cộng hoà Pháp lại quan niệm rằng:
“Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là một kiểm toán viên tiến
Trang 13hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng tình hình tài chính thực tế không che dấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định” [1, tr.31]
Theo định nghĩa của Liên đoàn quốc tế các nhà kế toán (International
Federation of Accountants –IFAC) thì “ Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về các bản báo cáo tài chính”
Trong giáo trình kiểm toán của các tác giả Alvin A.Rens và James K.Loebbecker đã định nghĩa: Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập
và có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị cụ thể nhằm mục đích xác nhận và báo cáo
về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập; Định nghĩa khác nêu: Kiểm toán là thủ pháp xem xét và kiểm tra một cách khách quan về từng khoản mục bao gồm việc thẩm tra những thông tin đặc trưng được xác định bởi kiểm toán viên hoặc thiết lập bởi thực hành chung Nói tổng quát, mục đích của kiểm toán là trình bày ý kiến hoặc đi đến kết luận về cái được kiểm toán (Auditing - Theory & Practice của John Dunn, University of Strathclyde, Glasgow nhà xuất bản Prentice Hall)
Ở Việt Nam, Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/3/2004 về kiểm toán độc lập của Chính phủ có nêu: “Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của KTV và DNKT về tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp, tổ chức (gọi chung là đơn vị được kiểm toán) khi có yêu cầu của các đơn vị này”; còn Luật Kiểm toán độc số 67/2011/QH12 giải thích “Kiểm toán độc lập là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán” Như
Trang 14vậy có thể thấy kiểm toán là một hoạt động nghề nghiệp, là một loại dịch vụ trong nền kinh tế
Dịch vụ kiểm toán là một trong những loại hình của thương mại dịch vụ
Có thể hiểu dịch vụ kiểm toán là việc cung ứng các hoạt động kiểm tra và thể hiện ý kiến bằng văn bản của KTV chuyên nghiệp thuộc các DNKT về tính trung thực, đúng đắn và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, tổ chức theo yêu cầu của chính các khách hàng này đã thỏa thuận trong hợp đồng kiểm toán (HĐKT) Đây là loại dịch vụ có thu phí dịch vụ được pháp luật thừa nhận và quản lý chặt chẽ; là loại dịch vụ
có chất lượng cao, có giá trị pháp lý nhất định và không được phép có sản phẩm sai hỏng và thiếu độ tin cậy Tính độc lập, tính khách quan, những bằng chứng pháp lý, phẩm chất nghề nghiệp và yêu cầu kiểm soát chất lượng dịch vụ là các đặc điểm nổi bật của loại hình dịch vụ này Khái niệm dịch vụ kiểm toán được cụ thể hóa trong khoản 1 Điều 40 Luật Kiểm toán độc lập số: 67/2011/QH12: “Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt nam được thực hiện các dịch vụ: 1) Các dịch vụ kiểm toán, gồm kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành, kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế và công việc kiểm toán khác; 2) Dịch vụ soát xét báo cáo tài chính, thông tin tài chính và dịch vụ đảm bảo khác
1.1.2 Phân biệt dịch vụ kiểm toán với hoạt động kiểm toán
Hoạt động kiểm toán là một hoạt động khoa học, thể hiện ở các điểm sau:
Thứ nhất, đây là hoạt động độc lập, có chức năng cơ bản xác minh,
thuyết phục để tạo niềm tin cho những người quan tâm vào những kết luận kiểm toán cho dù những kết luận này có thể hướng vào các mục tiêu cụ thể
Trang 15khác nhau như tính trung thực của thông tin, tính quy tắc trong việc thực hiện các nghiệp vụ, tính hiệu quả hay tính hiệu năng của hoạt động;
Thứ hai, đối tượng của hoạt động kiểm toán là thực trạng hoạt động tài
chính thể hiện qua các bảng khai tài chính của một thực thể kinh tế;
Thứ ba, khách thể của hoạt động kiểm toán là một thực thể kinh tế;
Thứ tư, chủ thể của hoạt động kiểm toán là những kiểm toán viên (KTV)
độc lập, có nghiệp vụ;
Thứ năm, phương pháp riêng của hoạt động kiểm toán bao gồm những
phương pháp kiểm toán chứng từ (cân đối, đối chiếu logics, diễn giải thông tin, quy nạp nguồn thông tin ) và phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ
(điều tra, quan sát, kiểm kê, thử nghiệm )
Như vậy có thể thấy hoạt động kiểm toán là một hoạt động chuyên sâu, một khoa học chuyên ngành Còn dịch vụ kiểm toán là một loại hình của thương mại dịch vụ, được cung ứng theo yêu cầu của khách hàng nhằm mục đích thu phí dịch vụ
1.1.3 Phân biệt hoạt động kiểm toán độc lập với hoạt động kiểm toán nhà nước và hoạt động kiểm toán nội bộ
Mối quan hệ giữa các chủ thể kiểm toán phản ánh bản chất của các loại hình kiểm toán, nó thể hiện địa vị pháp lý của các KTV trong nền kinh tế và trong quá trình kiểm toán Sự khác biệt này dẫn đến quyền hạn, trách nhiệm, phạm vị hoạt động của KTV cũng như những đóng góp khác nhau đối với nền kinh tế Trong thực tiễn, tuỳ thuộc vào hệ thống tổ chức và chủ thể kiểm toán
mà kiểm toán được phân thành kiểm toán nhà nước (KTNN), kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ Đặc điểm của hoạt động kiểm toán độc lập bao gồm những thuộc tính riêng phản ánh bản chất của hoạt động kiểm toán độc lập với những loại hình kiểm toán khác
Trang 16Thứ nhất, hoạt động kiểm toán độc lập thực chất là thực hiện một hợp
đồng dịch vụ trên cơ sở tự nguyện và theo thỏa thuận giữa DNKT đơn vị được kiểm toán (khách hàng) Hợp đồng dịch vụ này thể hiện bằng thư mời kiểm toán và sự đồng ý kiểm toán; kết quả của hoạt động kiểm toán độc lập là các kiến nghị trong BCKT hoàn toàn mang tính chất khuyến nghị không bắt buộc thực hiện với đơn vị được kiểm toán Đây là tiêu chí cơ bản và quan trọng để phân biệt sự khác nhau giữa hoạt động kiểm toán độc lập với KTNN Nếu kiểm toán độc lập là hoạt động dịch vụ và có thu phí thì KTNN là công việc kiểm toán do cơ quan KTNN tiến hành theo luật định và không thu phí kiểm toán, tiến hành dịch vụ kiểm toán phục vụ nhu cầu về quản lý và hoạch định chính sách Hoạt động KTNN được thực hiện trên cơ sở của một quyết định kiểm toán; quyết định này mang tính hành chính của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền (cơ quan KTNN) và quyết định này có giá trị bắt buộc tuân thủ đối với đơn vị được kiểm toán Về BCKT, báo cáo của KTNN cũng đòi hỏi tính giải trình cao hơn Còn đối với hoạt động kiểm toán nội bộ thì kiểm toán nội bộ là một bộ phận của đơn vị được kiểm toán, thực hiện kiểm tra và báo cáo trực tiếp theo yêu cầu của cấp cao nhất của đơn vị (như Thủ trưởng đơn
vị, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc ) hoặc theo đúng quy chế về cơ cấu tổ chức cũng như hoạt động của đơn vị được kiểm toán Như vậy, có thể thấy về tính độc lập thì kiểm toán nội bộ không cao so với kiểm toán độc lập
Thứ hai, chủ thể thực hiện kiểm toán trong hoạt động kiểm toán độc lập
là các KTV độc lập thuộc các tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp (DNKT) tiến hành Các KTV độc lập này là đội ngũ hành nghề chuyên nghiệp (đã đăng ký hành nghề tại một DNKT được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật), có đạo đức, có kỹ năng nghề nghiệp và phải đạt được những tiêu chuẩn nhất định về bằng cấp và kinh nghiệm theo quy định về kiểm toán độc
Trang 17lập Còn chủ thể tiến hành kiểm toán trong hoạt động KTNN là các KTV của
cơ quan KTNN Theo quy định tại Điều 27 Luật KTNN: “KTV nhà nước là công chức nhà nước được bổ nhiệm vào ngạch KTV để thực hiện nhiệm vụ kiểm toán” và cơ quan KTNN là một tổ chức kiểm tra tài chính công cao nhất trong bộ máy quản lý của nhà nước; trong khi đó, theo Điều 16 của Luật Kiểm toán độc lập số thì “cán bộ, công chức, viên chức” là một trong những tiêu chí về những người không được đăng ký hành nghề kiểm toán độc lập Đây chính là đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt giữa hoạt động kiểm toán độc lập và hoạt động KTNN về chủ thể tiến hành Theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 610 thì “Kiểm toán nội bộ là bộ phận kiểm soát trong đơn vị, thực hiện kiểm tra vì lợi ích của đơn vị này”, như vậy kiểm toán nội bộ là do các KTV nội bộ của đơn vị tiến hành theo yêu cầu của Giám đốc doanh nghiệp hoặc thủ trưởng đơn vị
toán độc lập là tất cả các doanh nghiệp, các tổ chức có nhu cầu được cung cấp dịch vụ kiểm toán, ngoài ra còn có các đơn vị bắt buộc và các đơn vị phải được DNKT kiểm toán BCTC hàng năm, gồm các đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 37 Luật Kiểm toán độc lập Còn đơn vị được kiểm toán của hoạt động KTNN là những tổ chức, đơn vị sử dụng vốn và kinh phí của nhà nước quy định trong Điều 55 Luật KTNN đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 24 tháng 6 năm 2015 Đơn vị được kiểm toán trong hoạt động kiểm toán nội bộ chính là đơn vị có bộ phận kiểm toán nội bộ đó Như vậy, có thể thấy các đơn vị được kiểm toán trong kiểm toán độc lập đa dạng, phong phú hơn so với của hoạt động KTNN cũng như của hoạt động kiểm toán nội bộ
Trang 18Thứ tư, về phạm vi kiểm toán Điều 40 Luật Kiểm toán độc lập quy định
phạm vi hoạt động kiểm toán độc lập bao gồm kiểm toán BCTC, kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành, kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ hay tiến hành các dịch vụ tư vấn tài chính - kinh tế khác theo yêu cầu của khách hàng được quy định rõ ràng trong HĐKT Tuy nhiên, phạm vi của hoạt động kiểm toán độc lập phụ thuộc vào yêu cầu của đơn vị được kiểm toán và bị áp đặt trong HĐKT cũng như phụ thuộc vào việc thực hiện trách nhiệm của đơn vị được kiểm toán đến đâu trong cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc kiểm toán, trong phối hợp tạo điều kiện thuận lợi cho KTV thực hiện kiểm toán Mặc dù vậy, phạm vi của hoạt động kiểm toán độc lập vẫn rộng hơn phạm vi của hoạt động KTNN và của kiểm toán nội bộ Điều này thể hiện ở chỗ, hoạt động KTNN được thực hiện thường xuyên hàng năm theo chương trình, kế hoạch kiểm toán đã được chấp thuận, đối với những đơn vị phải chịu kiểm toán theo quy định của pháp luật với mục đích xem xét việc chấp hành các chính sách luật lệ và các chế độ của Nhà nước và đánh giá sự hữu hiệu, hiệu quả hoạt động tại các đơn vị sử dụng vốn và kinh phí của nhà nước; về BCKT, báo cáo của KTNN cũng đòi hỏi có tính giải trình cao hơn Còn về phạm vi của kiểm toán nội bộ thì có sự biến động, tùy thuộc vào quy mô, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp cũng như theo yêu cầu của các nhà quản lý đơn vị, thường hạn hẹp trong lĩnh vực sau: 1) Rà soát lại hệ thống kế toán và các quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan, giám sát sự hoạt động của các hệ thống này cũng như góp phần hoàn thiện chúng; 2) Kiểm tra lại các thông tin tác nghiệp và thông tin tài chính bao gồm việc soát xét lại các phương tiện đã sử dụng để xác định, tính toán phân loại và báo cáo những thông tin này, thẩm định cụ thể các khoản cá biệt (kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ, các số dư tài khoản );
Trang 193) Kiểm tra tính hiệu lực, tính kinh tế và hiệu quả của các hoạt động trong đơn vị
Tóm lại, kiểm toán độc lập, KTNN và kiểm toán nội bộ tuy có sự khác nhau nhưng mục đích của chúng vẫn là đưa ra ý kiến nhận xét một cách độc lập, khách quan về đối tượng kiểm toán; chúng đều không làm tăng thêm các thông tin kinh tế mà chỉ đảm bảo từ nguồn độc lập, hợp lý rằng các thông tin kinh tế đó đã được lập có dựa trên các nguyên tắc, chuẩn mực đã được thiết lập và có trình bày một cách trung thực, hợp lý hay không
1.1.4 Sự cần thiết và quá trình hình thành kiểm toán độc lập ở Việt Nam
Về quá trình hình thành kiểm toán có thể thấy dạng thức của kiểm toán có
từ trước 500 năm trước công nguyên ở thành Athens-Hy Lạp Xuất hiện và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán đã trở thành nhu cầu tất yếu đối với hoạt động kinh doanh và nâng cao chất lượng của các doanh nghiệp Do vậy một vấn đề đặt ra là nhu cầu về kiểm toán xuất phát từ các yêu cầu pháp lý bắt buộc hay nhu cầu về kiểm toán là tất yếu, là sản phẩm của nền kinh tế thị trường
Thực tế các quy định pháp lý yêu cầu các doanh nghiệp phải được kiểm toán đã dẫn đến sự hiểu nhầm rằng cơ sở hay sự cần thiết của hoạt động kiểm toán trong nền kinh tế là do các quy định pháp lý Cụ thể trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định “Báo cáo tài chính hằng năm của các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải được một tổ chức kiểm toán hợp pháp
ở Việt Nam kiểm tra, xác nhận trước khi nộp cho SCCI (Ủy ban Nhà nước về hợp tác xã và đầu tư, nay là Bộ Kế hoạch và đầu tư) và cơ quan thuế”; hoặc theo hướng dẫn tại Thông tư số 73TC/TCDN ngày 12/11/1996 cũng quy định: BCTC của doanh nghiệp phải được kiểm toán độc lập hoặc kiểm toán nội bộ xác nhận trước khi công bố Hoặc theo quy định của Ủy ban Chứng khoán
Trang 20Nhà nước thì BCTC của các doanh nghiệp đăng ký tại thị trường chứng khoán phải được kiểm toán xác nhận, đối với doanh nghiệp cổ phần hóa, bán, khoán, cho thuê cũng phải có kiểm toán xác nhận BCTC Ở các nước có nền kinh tế phát triển, nhiều ý kiến cũng cho rằng kiểm toán tồn tại là do các quy định pháp lý bắt buộc Tuy nhiên, ở Mỹ đã có nhiều công trình khảo sát cho thấy kiểm toán tồn tại độc lập và có trước các quy định pháp lý yêu cầu các BCTC của doanh nghiệp phải được kiểm toán xác nhận Năm 1899 ở Mỹ có 183 Kế toán viên công chứng ở thành phố New York và 71 kế toán viên công chứng ở thành phố Chicago hành nghề và chủ yếu là hoạt động kiểm toán; năm 1926
có tới 82% các doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán New York có BCTC được kiểm toán và tỷ lệ này tăng lên 94% trước khi Luật chứng khoán của Mỹ quy định việc lập và có xác nhận của kiểm toán vào BCTC vào năm
1934 Hoặc những năm 80 của thế kỷ XX, có tới 80% khách hàng của Công
ty Price Waterhouse (1 trong 8 công ty hàng đầu thế giới khi đó) là các
khách hàng không đăng ký trên thị trường chứng khoán (Nguồn: Aditing – Wanda A Wallce, Tiến sĩ, Kế toán viên công chứng (CPA) CMA, CIA giáo
sư trường đại học Texas A&M) Không chỉ ở Mỹ mà ở các nước kinh tế thị
trường phát triển khác, quan điểm cho rằng sự tồn tại của kiểm toán là độc lập với các quy định pháp lý và nhu cầu về kiểm toán xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế cũng chiếm ưu thế Các ý kiến của các nhà kinh tế đều thống nhất rằng nhu cầu kiểm toán xuất hiện từ khi có sự phân tách giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, khai thác kinh doanh các tài sản, tiền vốn
Từ những hình thức đơn giản khi các thương nhân giao các tài sản của mình cho người khác quản kinh doanh đến các hình thức phức tạp, hoàn thiện hơn, đó là hình thái các công ty cổ phần trong đó, các cổ đông không trực tiếp quản lý điều hành hoạt động công ty mà do một nhóm các nhà
Trang 21quản lý đại diện thực hiện chức năng quản lý kinh doanh có trả thù lao Dù dưới hình thức nào thì có rất nhiều lý do dẫn đến khả năng BCTC do những người này lập nên và đệ trình lên chủ sở hữu có thể sẽ không phản ánh trung thực về tình hình tài và kết quả kinh doanh hoặc ít nhất là thiếu khách quan Mặt khác, thực tế hầu như và không thể mọi chủ sở hữu đều có điều kiện và khả năng để soát xét các sổ sách kế toán và BCTC của công ty Điều này tạo ra nhu cầu cần có các KTV kiểm tra và báo cáo lại một cách độc lập khách quan về tình hình tài chính của họ, đồng thời các chủ sở hữu tin tưởng rằng với kiểm toán các hành vi gian lận hoặc thiếu trung thực của các nhà quản lý sẽ không có cơ hội thực hiện, do đó kiểm toán là cần thiết
và được xem như là một sự bảo đảm Đây chính là lý do cho sự ra đời và phát triển của kiểm toán Như vậy, về mặt lịch sử thì hoạt động kiểm toán tồn tại, có trước các quy định pháp lý về kiểm toán
Ở Việt Nam, trước năm 1975 đã có văn phòng hoạt động độc lập với các kế toán viên công chứng hoặc các giám định viên kế toán và cả văn phòng kiểm soát quốc tế như SGV, Arthur Andersen kiểm toán của các công ty kiểm toán quốc tế hoạt động ở Sài Gòn Sau khi đất nước thống nhất, hoạt động kiểm toán của các văn phòng này không còn thích hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung lúc bấy giờ Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, các hoạt động kinh tế được chỉ đạo thống nhất, định sẵn Cùng với chế độ sở hữu tập thể đã dẫn tới vệc xác định quyền lợi, trách nhiệm, quyền hạn của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cùng các cấp lãnh đạo khác không rõ ràng Việc kiểm tra các thông tin kinh tế ở thời kỳ này mang tính tuân thủ là chủ yếu và việc kiểm tra được thực hiện bởi các
cơ quan chức năng (thuế, tài chính, cơ quan chủ quản…) Các thông tin này
là cơ sở để đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch và xây dựng kế hoạch
Trang 22cho giai đoạn tiếp theo Mặt khác với cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung thì không thể tồn tại một doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế nào được xem là độc lập để thực hiện đầy đủ chức năng kiểm toán Do vậy vào thời kì này không xuất hiện nhu cầu về kiểm toán Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, các loại hình doanh nghiệp theo các hình thức sở hữu khác nhau được thành lập và phát triển mạnh đóng vai trò và có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế, đồng thời các doanh nghiệp nhà nước chuyển sang cơ chế hạch toán kinh doanh độc lập Vì vậy kiểm toán độc lập mới được hình thành từ sau khi chuyển đổi cơ chế kinh tế Với chủ chương đa dạng hoá các loại hình sở hữu đa phương hoá các loại hình đầu
tư đã đặt ra những đòi hỏi của kiểm toán độc lập Ngày 13/5/1991 theo giấy phép số 957/PPLT của Thủ tướng Chính phủ, Bộ tài chính đã ký quyết định thành lập hai công ty: Công ty kiểm toán Việt Nam với tên giao dịch là VACO (QĐ 165-TC/QĐ/TCCB) và công ty dịch vụ kế toán Việt Nam với tên giao dịch là ASC (QĐ164-TC/QĐ/TCCB) sau này đổi tên thành Công
ty dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán-AASC (quyết định TC/QĐ/TCCB ngày 14/9/1993).Với cương vị là công ty đầu ngành, VACO
639-và AASC đã có nhiều đóng góp không chỉ trong việc phát triển công ty, mở rộng đại bàn kiểm toán mà cả trong việc cộng tác với công ty và tổ chức nước ngài để phát triển sự nghiệp kiểm toán Việt Nam Cũng trong năm
1991, còn có công ty Ernst and Young là công ty kiểm toán nước ngoài đầu tiên được Nhà nước Việt Nam cho chấp nhận lập văn phòng hoạt động tại Việt Nam
Tóm lại, sự xuất hiện kiểm toán ở Việt Nam là tất yếu khách quan, hoạt động kiểm toán độc lập thực sự cần thiết trong nền kinh tế thị trường và là nhu cầu của nền kinh tế
Trang 231.1.5 Vai trò của dịch vụ kiểm toán đối với việc hình thành thị trường dịch vụ thương mại ở Việt Nam
Từ khi chuyển đổi cơ chế kinh tế, thực hiện chủ trương đa phương hoá các hình thức đầu tư, đa dạng hoá các thành phần kinh tế, Nhà nước không còn là chủ sở hữu duy nhất Từ đó, sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước bằng
kế hoạch, bằng kiểm tra trực tiếp… không thể thực hiện với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, kể cả với nhà đầu tư nước ngoài, thậm chí với các doanh nghiệp nhà nước Cách thức can thiệp của Nhà nước cũng không thể như cũ được nữa Mặt khác, các nhà đầu tư, khách hàng, người lao động… cũng cần có niềm tin vào tài liệu kế toán trong khi họ không có đủ đội ngũ chuyên gia về kế toán, kiểm toán đông đảo như Nhà nước Đồng thời, những nhà kinh doanh trong cơ chế thị trường cũng cần thông tin và để tránh rủi ro thường có Như vậy, người quan tâm đến thông tin kế toán không chỉ có Nhà nước mà còn tất cả các nhà đầu tư, những nhà quản lý, những khách hàng và người lao động ; đặc biệt là các thông tin tài chính của doanh nghiệp không chỉ dùng để báo cáo cho các cơ quan quản lý nhà nước để kiểm tra và xét duyệt mà nay các thông tin này được nhiều đối tượng khác quan tâm, khai thác sử dụng cho các quyết định kinh tế Vì vậy, công tác kiểm tra cũng cần được thực hiện rộng rãi, đa dạng song thật khoa học, khách quan, trung thực,
đủ sức thuyết phục và có giá trị pháp lý để tạo niềm tin cho người quan tâm Kiểm toán làm tăng mức độ tin cậy đối với các thông tin tài chính, góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế Trong điều kiện đó, kiểm toán độc lập đã phát huy vai trò của nó và một thị trường cung cấp các loại hình dịch vụ kiểm toán hình thành phát triển là một bộ phận tất yếu của nền kinh tế thị trường hiện đại
Trong cơ chế kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập, ngoài vai trò là công cụ quản lý kinh tế - tài chính và cung cấp thông tin tin cậy, hữu ích phục
Trang 24vụ cho các quyết định quản lý và kinh doanh, kiểm toán độc lập đã và đang được thừa nhận là một dịch vụ không thể thiếu của một nền kinh tế mở Dịch
vụ kiểm toán đã trở thành một dịch vụ - dịch vụ hỗ trợ quản lý kinh doanh - quan trọng trong từng phạm vi quốc gia, trong khu vực và thế giới, là một bộ phận cần thiết và quan trọng không thể thiếu trong đời sống các hoạt động kinh tế Luật pháp của Việt Nam và của nhiều nước đã thừa nhận và có những quy định mang tính pháp lý về hành nghề kiểm toán và cung cấp dịch vụ kiểm toán Thị trường dịch vụ kiểm toán Việt Nam hình thành sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 07/1994/NĐ-CP về Quy chế kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân với sự góp mặt của 6 doanh nghiệp KTNN (trong đó có 5 doanh nghiệp trực thuộc Bộ tài chính và 1 doanh nghiệp trực thuộc UBND thành phố Hồ Chí Minh) và những DNKT hàng đầu thế giới như KPMG, Price Waterhouse Cooper… Giai đoạn sau này, thị trường cung cấp dịch vụ kiểm toán độc lập của Việt Nam đã tăng đáng kể số lượng DNKT hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, và doanh nghiệp tư nhân Nhưng khi nền kinh tế Việt Nam mở cửa mạnh mẽ, nhiều tổ chức tài chính nước ngoài, đặc biệt là Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cho rằng, Việt Nam không nên để tồn tại mô hình doanh nghiệp KTNN vì sẽ làm giảm ý nghĩa độc lập trong kiểm toán Chính vì vậy, hiện nay tại Việt Nam Luật Kiểm toán độc lập quy định chỉ có 4 loại hình doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kiểm toán độc lập là công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân
và doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Một vấn đề khác liên quan đến sự hình thành và phát triển thị trường dịch vụ kiểm toán là việc Việt Nam phải thực hiện các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường dịch vụ nói chung và thị trường dịch vụ kiểm toán nói riêng Như vậy,
Trang 25sẽ có các công ty dịch vụ kiểm toán của nước ngoài được phép thành lập và hoạt động ở Việt Nam Đi kèm với đó, các DNKT Việt Nam sẽ được phép hoạt động ở nước ngoài với tư cách là nhà đầu tư Việt Nam đầu tư ra nước ngoài Các KTV có chứng chỉ hành nghề, đủ điều kiện hành nghề sẽ được phép hành nghề và cung cấp dịch vụ không chỉ trong nước mà cả ở nước ngoài Như vậy, một thị trường dịch vụ kiểm toán thống nhất đã và đang hình thành trong khu vực và trên thế giới Đó là một thực tế, một yêu cầu mới, một
cơ hội mới cho sự phát triển và nhất thể hoá nghề kiểm toán trong phạm vi nhiều quốc gia khác nhau Thị trường dịch vụ kiểm toán thống nhất đòi hỏi phải có sự chuẩn bị ở tất cả các nước thành viên về khung khổ pháp lý, về
sự hài hoà các chuẩn mực kiểm toán (CMKT), thu hẹp khoảng cách của sự khác biệt, sự phối hợp và thống nhất của chương trình, nội dung đào tạo, huấn luyện; thi cử và đánh giá chất lượng kiểm toán viên, chất lượng dịch vụ; về sự thừa nhận lẫn nhau các chứng chỉ hành nghề quốc gia… Điều đó cần đến những động thái nhất định từ bản thân các tổ chức, cá nhân hành nghề, từ phía các tổ chức nghề nghiệp nhưng càng cần có nhiều việc phải làm hơn từ phía các cơ quan nhà nước thực hiện ở tầm quốc gia Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều lợi ích dài hạn, nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với ngành thương mại dịch vụ kiểm toán Việt Nam Việt Nam cần có những bước đi thích hợp, chuẩn bị đón đầu và theo kịp những cơ hội và thách thức này
1.2 Khái quát pháp luật về dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam
1.2.1 Khái niệm và vai trò của pháp luật về dịch vụ kiểm toán
Cũng như các hoạt động dịch vụ khác, hoạt động cung cấp dịch vụ kiểm toán chỉ có thể phát triển và đạt chất lượng cao trong khuôn khổ pháp lý đầy đủ, đồng
bộ Khuôn khổ pháp lý của hoạt động cung cấp dịch vụ kiểm toán bao gồm:
Trang 26(1) Những quy định mang tính pháp lý: là những quy định bắt buộc của
Nhà nước được quy định trong các Luật, hoặc văn bản pháp quy (Nghị định, Thông tư, ) Những quy định mang tính pháp lý đảm bảo sự thống nhất trong việc thực hiện công tác kế toán ở các đơn vị, mặt khác tạo ra một khung khổ pháp lý để Nhà nước quản lý thống nhất việc thực hiện công tác kiểm toán trong toàn bộ quốc gia Tính độc lập, nguyên tắc cơ bản nhất của kiểm toán độc lập chỉ được đảm bảo khi cơ chế pháp luật được đảm bảo
Ở Việt Nam, từ khi ra đời Từ khi ra đời 5/1991 đến 2011, KTĐL hoạt động theo các Nghị định của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính Năm 2011, Quốc hội công bố Luật Kiểm toán độc lập có hiệu lực từ 01/01/2012, đến nay (7/2014), Chính phủ và Bộ Tài chính đã ban hành gần như đầy đủ, đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật về KTĐL, gồm: 02 Nghị định (NĐ 17/2012/NĐ-CP, NĐ105/2013/NĐ-CP) và 07 Thông tư (TT 129-2012/TT-BTC, 150-2012/TT-BTC, 202-2012/TT-BTC, 203-2012/TT-BTC, 214-2012/TT-BTC, 78-2013/TT-BTC và 183-2013/TT-BTC) đã quy định và hướng dẫn gần như tất cả các mặt hoạt động từ quản lý Nhà nước đến phương pháp nghiệp vụ, kỹ thuật kiểm toán và các dịch vụ đảm bảo có liên quan Tuy nhiên đến nay, thời gian có hiệu lực của văn bản chưa đủ dài để tuân thủ đầy
đủ các văn bản và đánh giá tác động của pháp luật tới thực tế hoạt động kiểm toán độc lập, nhất là chất lượng dịch vụ cung cấp Ngoài các văn bản pháp luật chuyên ngành, pháp luật điều chỉnh lĩnh vực dịch vụ kiểm toán còn có những văn bản pháp luật chung như Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân
sự, Luật Thương mại, Luật doanh nghiệp, Luật phá sản… điều chỉnh các quy định về HĐKT, về việc thành lập, hoạt động, chấm dứt hoạt động của các DNKT, cũng như các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện HĐKT, hoạt động của DNKT
Trang 27(2) Những quy định mang tính mực thước: hay còn gọi là chuẩn mực Đó
là các nguyên tắc căn bản của kiểm toán, quy trình nghiệp vụ của các cuộc kiểm toán, hệ thống phương pháp chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán Theo tài liệu thuật ngữ kế toán - kiểm toán của IFAC thì: “CMKT là những văn kiện
mô tả các nguyên tắc cơ bản về nghiệp vụ và xử lý các mối quan hệ phát sinh trong quá trình kiểm toán mà trong quá trình hành nghề các KTV buộc phải tuân theo” Các CMKT là yêu cầu tất yếu của hoạt động kiểm toán độc lập, mang lại niềm tin và yên tâm cho những người sử dụng thông tin tài chính và
là cơ sở thực hiện công việc kiểm toán và đo lường, đánh giá công việc của KTV
Ở nhiều nước trên thế giới, việc nghiên cứu và ban hành các chuẩn mực
và quy tắc kế toán do các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp ban hành Việt Nam
đã trở thành thành viên của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) Đối với các nước thành viên của IFAC và một số nước khác chưa phải là thành viên của IFAC cũng chấp nhận và coi những nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế do IFAC ban hành làm các văn bản pháp quy về kiểm toán của quốc gia mình Ở Việt Nam, Bộ Tài chính có trách nhiệm soạn thảo và ban hành các CMKT và đến nay đã ban hành được 38 CMKT độc lập, đặc biệt là đã ban hành được Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Các CMKT này đã cụ thể hóa các nguyên tắc, phương pháp, thủ tục thực hiện trong quá trình kiểm toán dựa trên Chuẩn mực quốc tế Các CMKT được ban hành đã thể hiện một bước phát triển mạnh trong hoạt động kiểm toán, đã tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho hoạt động kiểm toán độc lập, là cơ sở cho KTV chuyên nghiệp và DNKT kiểm tra đánh giá các thông tin tài chính một cách trung thực, khoa học và khách quan CMKT còn là cơ sở cho việc chỉ đạo giám sát, kiểm tra và đánh giá chất lượng dịch vụ kiểm toán, là cơ sở cho việc đào tạo, huấn luyện và thi
Trang 28tuyển KTV
Kiểm toán độc lập là hoạt động dịch vụ được pháp luật bảo hộ Việc tuân thủ các nguyên tắc, CMKT và pháp luật của Nhà nước là các cơ sở pháp lý của hoạt động kiểm toán trong quá trình hành nghề Nếu pháp luật về dịch vụ kiểm toán được xây dựng đồng bộ, phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế, đáp ứng được những yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường sẽ tạo điều kiện thu hút đầu tư trong và ngoài nuớc vào đầu tư phát triển thị trường dịch vụ kiểm toán, tạo ra một thị trường tài chính minh bạch, lành mạnh; bên cạnh đó còn thu hút đuợc hàng ngàn nguời lao động có trình độ cao vào làm việc trong lĩnh vực này, tạo ra một thị trường sức lao động chất lượng có sức cạnh tranh mạnh
1.2.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật về dịch vụ kiểm toán
Pháp luật về dịch vụ kiểm toán giữ một vai trò quan trọng trong hệ thống các quy định pháp luật về kiểm tra, kiểm soát kinh tế - tài chính Pháp luật về dịch vụ kiểm toán bao gồm các quy định pháp luật thống nhất ở những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, pháp luật về dịch vụ kiểm toán phải thể hiện được các nguyên
tắc hoạt động của kiểm toán độc lập, bao gồm: 1) Tuân thủ pháp luật, chuẩn mực kiểm toán; 2) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp và kết quả kiểm toán; 3)Bảo đảm tính độc lập về chuyên môn, nghiệp
vụ, lợi ích và tính trung thực, đúng pháp luật, khác quan của hoạt động kiểm toán độc lập; 4) Bảo mật các thông tin của đơn vị được kiểm toán
Thứ hai, các quy định chủ thể tham gia trong quan hệ dịch vụ kiểm toán:
người thực hiện công việc kiểm toán (KTV, DNKT) và các đơn vị kinh tế có thông tin cần kiểm toán (đơn vị được kiểm toán): 1) Các quy định pháp lý về KTV phải luôn thể hiện được các nội dung về tiêu chuẩn KTV, điều kiện hành nghề, các trường hợp không được đăng ký hành nghề và nhất là địa vị pháp lý của KTV, đặc biệt là trách nhiệm, phạm vi hoạt động của KTV trong
Trang 29khi thực hiện kiểm toán; 2) Các quy định pháp lý về DNKT bao gồm các quy định về việc thành lập, hoạt động, chấm dứt hoạt động của DNKT; cơ cấu, tổ chức hoạt động; địa vị pháp lý của DNKT trong nền kinh tế và trong quá trình kiểm toán, nhất là xác định rõ quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp; 3) Các quy định pháp lý về đơn vị cần kiểm toán gồm các quy định về quyền, trách nhiệm khi tham gia ký HĐKT, các trường hợp kiểm toán bắt buộc
Thứ ba, các quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động kiểm toán
bao gồm: nội dung quản lý nhà nước; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước
Thứ tư, các quy định khác liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập như
các quy định về CMKT, BCKT, HĐKT, các loại dịch vụ kiểm toán…
Như vậy, nhìn chung, các quy định của pháp luật về dịch vụ kiểm toán quy định nhằm thống nhất quản lý hoạt động kiểm toán độc lập, bảo vệ lợi ích của cộng đồng và quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư, đảm bảo cung cấp thông tin kinh tế, tài chính trung thực, hợp lý, công khai, đáp ứng yêu cầu quản lý của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và cá nhân
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự điều chỉnh pháp luật về dịch vụ kiểm toán
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự điều chỉnh pháp luật về dịch vụ kiểm toán, có thể tổng hợp các yếu tố này thành 2 nhóm chủ yếu là nhóm các yếu tố bên ngoài và nhóm các yếu tố bên trong
1.2.3.1 Nhóm các yếu tố bên ngoài: bao gồm nhu cầu của nền kinh tế và
và cơ chế của nền kinh tế
Thứ nhất, thực tế cho thấy không có sản phẩm dịch vụ nào cung cấp cho
thị trường lại không nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của nền kinh tế Do vậy ở bất cứ trình độ nào thì hệ thống pháp luật về dịch vụ kiểm toán cũng bị chi
Trang 30phối, ràng buộc bởi hoàn cảnh, điều kiện và nhu cầu nhất định của nền kinh
tế Ảnh hưởng của nhu cầu của nền kinh tế đối với pháp luật về dịch vụ kiểm toán thể hiện qua đòi hỏi của thị trường Ở những thị trường khác nhau có những đòi hỏi về dịch kiểm toán khác nhau và đối tượng kiểm toán khác nhau nên sự điều chỉnh của pháp luật về dịch vụ kiểm toán cũng khác nhau Có những đối tượng cần kiểm toán bởi theo quy định của nhà nước phải kiểm toán, có đối tượng cần kiểm toán do yêu cầu quản lý của bản thân họ hay do yêu cầu của bên thứ ba, đối tác kinh doanh… Mặc dù kiểm toán cho đối tượng nào đi chăng nữa thì công việc kiểm toán cũng phải tuân theo pháp luật và các chuẩn mực nghề nghiệp Tuy nhiên các điều kiện riêng của từng đối tượng này là không giống nhau, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác với doanh nghiệp nhà nước và khác với công ty cổ phần… Luật pháp điều chỉnh đối với các đối tượng này không giống nhau, hệ thống quản lý, kiểm sát của các đối tượng này cũng rất khác nhau và mục đích sử dụng kiểm toán cũng không thống nhất Thực tế không thể đánh giá hoặc so sánh dịch vụ kiểm toán ở Việt Nam với dịch vụ kiểm toán ở các nuớc phát triển như Anh, Mỹ, Pháp… bởi hệ thống l ý luận về kiểm toán, hệ thống quy trình
kỹ thuật nghiệp vụ của Việt Nam vẫn khác nhiều so với các nước đó Điều này thực sự ảnh hưởng đến các quy định điều chỉnh quan hệ dịch vụ kiểm toán của pháp luật Trong bối cảnh toàn cầu hóa, thị trường dịch vụ kiểm toán được mở cửa thì yêu cầu đặt ra ở đây là phải có sự thu hẹp khoảng cách của sự khác biệt về khung khổ pháp lý, và như vậy sẽ có những tác động không nhỏ tới các quy định của pháp luật điều chỉnh sao cho phù hợp với khu vực và quốc tế
Thứ hai, đó là về cơ chế quản lý kinh tế Bất cứ hoạt động kinh tế nào,
dưới chế độ nào đều chịu tác động, chi phối bởi cơ chế quản lý kinh tế nhất
Trang 31định Do đó, hoạt động dịch vụ kiểm toán cũng bị chi phối bởi cơ chế quản lý kinh tế và sự điều chỉnh của pháp luật về dịch vụ kiểm toán cũng bị ảnh hưởng thể hiện qua mục tiêu kinh tế và các chính sách kinh tế Mục tiêu phát triển kinh tế có thể làm thay đổi lớn đến nhu cầu về kiểm toán kéo theo những ảnh hưởng đến pháp luật về dịch vụ kiểm toán, đặc biệt là về phạm vi điều chỉnh Ví dụ chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hoặc quy định khi công bố BCTC phải được kiểm toán xác nhận đã tạo ra thị trường lớn về nhu cầu kiểm toán; hoặc định hướng phát triển dịch vụ kiểm toán của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tạo nhiều cơ hội cho sự phát triển của hoạt động này, từ đó yêu cầu hoàn thiện pháp luật về dịch vụ kiểm toán cho phù hợp với thực tiễn ngày càng được đòi hỏi ở trình độ cao hơn Chính sách kinh tế cũng
có tác động rõ nét đến pháp luật về dịch vụ kiểm toán Trên cơ sở xác định mục tiêu phát triển kiểm toán, Nhà nước đã có hàng loạt các biện pháp đảm bảo cho sự phát triển như việc đầu tư nghiên cứu các chuẩn mực kiểm toán,
kế toán, và quan trọng nhất là xây dựng được một hành lang pháp lý an toàn, đầy đủ cho hoạt động dịch vụ kiểm toán tồn tại, phát triển Hoặc chính sách khuyến khích DNKT quốc tế kết hợp cùng các DNKT trong nước kiểm toán các khách hàng là doanh nghiệp nhà nước, dự án đã tạo cho sự trao đổi học hỏi kinh nghiệm cùng nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán Đây là những
nỗ lực lớn nhằm phát triển hoạt động kiểm toán Bên cạnh đó có những chính sách nếu không được quan tâm kịp thời sẽ gây ra những ảnh hưởng không tốt tới việc xây dựng và thực thi pháp luật về dịch vụ kiểm toán, làm cho pháp luật về dịch vụ kiểm toán không phù hợp với thực tiễn, cản trở những ý tưởng
và hành vi kinh doanh chính đáng mang lại lợi ích cho người lao động và cả cộng đồng, làm gia tăng tình trạng vi phạm pháp luật Ví dụ việc quy định về khung giá phí kiểm toán hoặc cơ chế tiền lương của các KTV trong các
Trang 32DNKT là doanh nghiệp nhà nước làm ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của người lao động, doanh thu của đơn vị kiểm toán, từ đó dẫn việc áp dụng các quy định pháp luật về dịch vụ kiểm toán khó khăn
1.2.3.2 Nhóm các yếu tố bên trong: bao gồm yếu tố con người và công nghệ của quá trình kiểm toán
Con người luôn là nhân tố quan trọng và mang tính quyết định trong các hoạt động kinh tế xã hội Công việc kiểm toán độc lập do KTV chuyên nghiệp thực hiện, lao động của KTV (bao gồm cả các cấp quản lý) là yếu tố chính, cơ bản nhất tạo nên giá trị dịch vụ, vì vậy năng lực cũng như chất lượng của đội ngũ KTV đều có thể ảnh hưởng tới sự điều chỉnh pháp luật về dịch vụ kiểm toán Nếu KTV có trình độ nghiệp vụ cao, tư chất đạo đức tốt, hiểu biết pháp luật thì các quy định của pháp luật sẽ thông thoáng, cởi mở và tất nhiên là trình độ phát triển, tư duy lập pháp cũng ở mức độ cao hơn, phức tạp hơn Ngược lại, nếu với đội ngũ KTV chưa phát triển thì các quy định của pháp luật sẽ phải quy định thêm nhiều chế tài để hạn chế và ngăn ngừa các vi phạm cũng như quy định pháp luật phải chặt chẽ để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán phát triển Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật về dịch vụ kiểm toán nếu phù hợp trình độ của đội ngũ KTV thì việc áp dụng cũng như thực thi các quy định của pháp luật sẽ dễ dàng hơn
Công nghệ của quá trình kiểm toán chính là yếu tố kỹ thuật Để cụ thể hóa các chuẩn mực chuyên môn, các DNKT thiết kế riêng cho mình hệ thống các quy trình kỹ thuật, các bước và phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán, để dựa vào đó kiểm toán viên tiến hành thực hiện công việc được giao
Hệ thống các yếu tố kỹ thuật này sẽ đảm bảo cho các KTV thực hiện công việc một cách khoa học, thu thập được đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp với chi phí và thời gian hợp lý, hạn chế thấp nhất rủi ro kiểm toán Trong
Trang 33hệ thống các yếu tố kỹ thuật có thể kể đến sự hỗ trợ của các phần mềm máy tính được các chuyên gia thiết lập, áp dụng cho một số các thủ tục kiểm toán như giúp các KTV có được số liệu phân tích, đánh giá hoặc đưa ra kết quả lựa chọn phương pháp chọn mẫu,…, và các ứng dụng khác; điều kiện phương tiện làm việc như máy tính, fax, mạng máy tính nội bộ, phương tiện liên lạc cũng như đi lại… Công nghệ của quá trình kiểm toán phát triển thì chất lượng dịch
vụ kiểm toán càng được đảm bảo, do đó các quy định pháp luật về dịch vụ kiểm toán về BCKT sẽ phải đặt ra nhiều yêu cầu cao hơn, cũng như quy định trách nhiệm của KTV đối với sản phẩm của mình sẽ phải cao hơn, hay quy định về mức phí kiểm toán (trường hợp có quy định mức khung giá phí) sẽ phải thay đổi cho phù hợp với chi phí bỏ ra Điều này chứng tỏ công nghệ của quá trình kiểm toán cũng có những tác động nhất định đến quy định của pháp luật về dịch vụ kiểm toán, đòi hỏi pháp luật phải phù hợp với trình độ phát triển công nghệ của quá trình kiểm toán
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ
KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM
2.1 Nội dung của pháp luật hiện hành về dịch vụ kiểm toán
2.1.1 Các quy định về doanh nghiệp kiểm toán
Hiện nay, theo quy định tại Điều 20 Luật kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12, ở Việt Nam các loại hình được kinh doanh dịch vụ kiểm toán gồm có: Công ty TNHH hai thành viên trở lên; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân; Chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài Như vậy, các loại hình doanh nghiệp đã được mở rộng hơn so với Nghị định 105/2004/NĐ-
CP (Nghị định 105 chỉ bao gồm: Công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) cho phù hợp với hình thức tổ chức của các tổ chức kiểm toán độc lập ở các nước trên thế giới
và quy định của pháp luật đầu tư cũng như xu hướng kinh doanh hiện nay
Về điều kiện để thành lập doanh nghiệp hành nghề kiểm toán cơ quan nhà nước đã quản lý chặt chẽ, yêu cầu cao hơn nhằm nâng cao chất lượng nghiệp vụ, quy mô hoạt động, tính chịu trách nhiệm của doanh nghiệp kiểm toán Nếu như theo quy định tại Điều 23 NĐ 105/2004/NĐ-CP thì DNKT chỉ được thành lập khi có ít nhất 3 KTV có Chứng chỉ hành nghề kiểm toán trở lên làm việc trọn thời gian cho doanh nghiệp thì tại Điều 21 Luật Kiểm toán độc lập đã quy định điều kiện thành lập doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kiểm toán độc lập được thành lập phải có ít nhất 5 KTV hành nghề Trong từng lĩnh vực, ngoài việc tuân thủ các quy định chung về hoạt động kiểm toán, còn có những quy định riêng về các loại doanh nghiệp được phép kiểm toán tại
Trang 35khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 21 Luật kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 Trong lĩnh vực ngân hàng, theo Điều 11 Thông tư số 39/2011/TT-NHNN ngày 15/12/2011 điều kiện để các DNKT được kiểm toán các tổ chức tín dụng
là đã thành lập và có thời gian hoạt động kiểm toán tại Việt Nam tối thiểu 03 năm; có vốn chủ sở hữu, vốn được cấp từ 10 tỷ đồng trở lên; có số lượng kiểm toán viên hành nghề từ 10 người trở lên đồng thời có ít nhất 05 kiểm toán viên hành nghề tham gia kiểm toán một ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Trong đó, phải có ít nhất 03 kiểm toán viên hành nghề có từ 02 năm kinh nghiệm kiểm toán trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng trở lên và một số điều kiện khác trong Điều luật Với quy định các tiêu chuẩn, điều kiện chặt chẽ do tính chất của quá trình kiểm toán
tổ chức tín dụng rất phức tạp như vậy thì các DNKT của Việt Nam đáp ứng được là rất ít Vì thực tế các DNKT thường chỉ có 03 đến 05 KTV với vốn điều lệ bình quân từ 1 đến 1,5 tỷ đồng (“Đương đầu với cám dỗ” - GS Vương Đình Huệ, Tổng Kiểm toán Nhà nước, Tuổi trẻ cuối tuần, ngày 15/9/2008) Điều này yêu cầu các DNKT Việt Nam phải có chiến lược phát triển nâng tầm chất lượng và quy mô của công ty để có thế đáp ứng các tiêu chuẩn luật định Đối với việc kiểm toán các công ty, doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán, DNKT cũng phải đạt được các tiêu chuẩn về vốn điều lệ và số KTV hành nghề theo Điều 6 Thông tư số 183/2013/TT-BTC ngày 04/12/2013, đó là: Có vốn điều lệ hoặc vốn được cấp (đối với chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam) từ 4 tỷ đồng trở lên và phải thường xuyên duy trì vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán không thấp hơn 4 tỷ đồng Từ kỳ chấp thuận cho năm 2016, số vốn nêu trên
là 6 tỷ đồng trở lên Có số lượng kiểm toán viên hành nghề từ 07 người trở
Trang 36lên, trong đó có Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, có đủ các tiêu chuẩn quy định tại Điều 8 của Thông tư này Từ kỳ chấp thuận cho năm 2016, có số lượng kiểm toán viên hành nghề từ 10 người trở lên và có thời gian hoạt động kiểm toán tại Việt Nam tối thiểu là 36 tháng tính từ ngày được cơ quan có thẩm quyền xác nhận danh sách đăng ký hành nghề kiểm toán lần đầu hoặc từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch
vụ kiểm toán lần đầu đến ngày nộp hồ sơ đăng ký thực hiện kiểm toán, đã phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính cho tối thiểu 150 khách hàng tính từ ngày 01/01 của năm nộp hồ sơ đến ngày nộp hồ sơ đăng ký thực hiện kiểm toán Từ kỳ chấp thuận cho năm 2016, số lượng khách hàng tối thiểu này là 300 khách hàng
Về cơ cấu tổ chức trong các DNKT ở các nước phát triển thường theo hệ thống cấp bậc về chuyên môn bao gồm các chủ phần hùn (Partner) gồm các chủ phần hùn có vốn góp trong công ty và chủ phần hùn không có vốn góp -
họ đều là những người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao nhất, tiếp đến là cấp điều hành viên cao cấp (Senior Manager hoặc Principal), tiếp đó là các cấp quản lý, KTV và trợ lý KTV Mức độ chi tiết trong các cấp bậc trong doanh nghiệp phụ thuộc vào quy mô và cách thức tổ chức quản lý của từng doanh nghiệp Trong DNKT thường có nhiều các hoạt động dịch vụ và ở mỗi loại dịch vụ đều phân theo các cấp bậc tương ứng Còn các DNKT ở Việt Nam có cơ cấu tổ chức theo Luật kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 và Nghị định số 17/2012/NĐ-CP hướng dẫn về tiêu chuẩn, điều kiện thành lập
và hoạt đối với DNKT:
- Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên kiểm toán: thành viên của công ty có thể là cá nhân hoặc tổ chức (nếu là tổ chức phải cử
Trang 37một người làm đại diện cho tổ chức vào Hội đồng thành viên) Người đại diện của thành viên là tổ chức phải là kiểm toán viên và phải đăng ký hành nghề tại doanh nghiệp kiểm toán đó với tư cách cá nhân
- Đối với công ty hợp danh kiểm toán: có thành viên hợp danh và thành viên góp vốn Số lượng thành viên hợp danh ít nhất là 02 người và cả hai đều phải có Chứng chỉ kiểm toán viên, một trong hai thành viên hợp danh phải là Giám đốc (hoặc Tổng Giám đốc).Thành viên hợp danh phải là cá nhân, thành viên góp vốn có thể là tổ chức hoặc cá nhân Kiểm toán viên hành nghề không được đồng thời là thành viên góp vốn của hai doanh nghiệp kiểm toán trở lên
- Đối với doanh nghiệp tư nhân kiểm toán: Chủ doanh nghiệp tư nhân kiểm toán phải làm Giám đốc (hoặc Tổng Giám đốc)
Pháp luật về kiểm toán của Việt Nam cũng quy định các thành viên được phép tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người không phải là thành viên nếu đạt được các tiêu chuẩn điều kiện như phẩm chất, đạo đức, nghề nghiệp có tham gia góp vốn, có Chứng chỉ hành nghề; và các quy định liên quan đến tư cách trở thành thành viên hợp danh trong một số trường hợp cụ thể
Về nghĩa vụ của doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam được quy định tại Điều 29 Luật Kiểm toán độc lập nêu rõ: Chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước khách hàng về kết quả kiểm toán theo hợp đồng kiểm toán đã giao kết và chịu trách nhiệm với người
sử dụng kết quả kiểm toán của đơn vị được kiểm toán tại ngày ký báo cáo kiểm toán (Có lợi ích liên quan trực tiếp đến kết quả kiểm toán của đơn vị được kiểm toán tại ngày ký báo cáo kiểm toán; Có hiểu biết một cách hợp lý
về báo cáo tài chính và cơ sở lập báo cáo tài chính là các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định khác của pháp luật có liên quan; Đã sử dụng
Trang 38một cách thận trọng thông tin trên báo cáo tài chính đã kiểm toán) Bồi thường thiệt hại cho khách hàng, đơn vị được kiểm toán trên cơ sở hợp đồng kiểm toán và theo quy định của pháp luật Ngoài ra, để tạo nguồn chi trả bồi thường thiệt hại do lỗi của DNKT gây ra cho khách hàng và người sử dụng kết quả kiểm toán, pháp luật kiểm toán cũng quy định DNKT bắt buộc phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho KTV hoặc lập Quỹ dự phòng rủi
ro nghề nghiệp tại khoản 5 Điều 29 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12
Có thể đánh giá về cơ bản các quy định pháp luật của Việt Nam về DNKT đã thích ứng với chuẩn mực và thông lệ quốc tế
2.1.2 Các quy định về kiểm toán viên và tổ chức nghề nghiệp kiểm toán
2.1.2.1 Các quy định về kiểm toán viên
Công việc kiểm toán độc lập do KTV chuyên nghiệp thực hiện Những người sử dụng kết quả kiểm toán tin tưởng và bổ nhiệm KTV bởi tính chất hành nghề độc lập của KTV và khả năng về chuyên môn nghiệp vụ cũng như
tư chất đạo đức chính trực, khách quan trong công việc của họ Để hành nghề kiểm toán, KTV cần đảm bảo các yêu cầu:
Thứ nhất, yêu cầu về tính độc lập, khách quan Yêu cầu này được xem
như là điều kiện cần để đạt được mực tiêu của hoạt động kiểm toán, độc lập
là nguyên tắc hành nghề cơ bản của KTV Kết quả kiểm toán sẽ không có giá trị khi những người sử dụng kết quả kiểm toán tin rằng cuộc kiểm toán thiếu tính độc lập cho dù cuộc kiểm toán được thực hiện bởi những người
có trình độ cao đến đâu Khoản 1 Điều 18 Luật Kiểm toán số 67/2011/QH12 quy định khi hành nghề tại doanh nghiệp kiểm toán, kiểm toán viên phải “Tuân thủ nguyên tắc hoạt động kiểm toán độc lập”; khoản 7
Trang 39Điều 18 Luật kiểm toán độc lập yêu cầu tính độc lập đòi hỏi sự trung thực
và trách nhiệm của KTV đối với người sử dụng kết quả kiểm toán “Thực hiện kiểm toán, soát xét hồ sơ kiểm toán hoặc ký báo cáo kiểm toán và chịu trách nhiệm về báo cáo kiểm toán và hoạt động của mình” Bên cạnh đó Điều 16 Nghị định số 17/2012/NĐ-CP quy định “Kiểm toán viên hành nghề không được ký báo cáo kiểm toán cho một đơn vị được kiểm toán quá
ba (03) năm liên tục” Như vậy không chỉ yêu cầu về tính độc lập mà Luật kiểm toán còn cho thấy phải có sự khách quan, sự khách quan này không được lặp lại không quá 03 lần liên tục Đồng thời KTV không bị ràng buộc trong việc tiếp xúc với các tài liệu và báo cáo của doanh nghiệp “Yêu cầu đơn vị được kiểm toán cung cấp đầy đủ, kịp thời tài lệu kế toán và giải trình các vấn đề có liên quan đến nội dung kiểm toán; yêu cầu kiểm kê tài sản, đối chiếu công nợ của đơn vị được kiểm toán liên quan đến nội dung kiểm toán, kiểm tra toàn bộ hồ sơ, tài liệu có liên quan đến hoạt động kinh
tế, tài chính của đơn vị được kiểm toán ở trong và ngoài đơn vị trong quá trình thực hiện kiểm toán” (khoản 3 Điều 17 Luật kiểm toán số 67/2011/QH12) Mọi câu hỏi về tình hình kinh doanh hoặc các xử lý kế toán trong các giao dịch của doanh nghiệp cần được trả lời đầy đủ và đảm bảo rằng KTV không bị hạn chế trong việc thu thập các bằng chứng kiểm toán Nhưng để tránh việc các KTV lạm dụng quyền này, pháp luật còn quy định trách nhiệm của KTV: “Kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam không được tiết lộ thông tin về hồ sơ kiểm toán, trừ trường hợp được khách hàng đơn vị được kiểm toán chấp thuận hoặc theo quy định của pháp luật” (khoản 1 Điều 43 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12); “không được
Trang 40sử dụng thông tin về hồ sơ kiểm toán, khách hàng, đơn vị được kiểm toán
để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức cá nhân” (khoản 2 Điều 43 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12) Trong quá trình kiểm toán, KTV phải thực sự không bị chi phối hoặc tác động bởi bất kỳ lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào làm ảnh hưởng đến sự trung thực, khách quan và độc lập nghề nghiệp của mình, vì vậy tại Điều 13 Luật Kiểm toán độc lập đã quy định những hành vi nghiêm cấm đối với KTV hành nghề: “a) Mua nhận biếu tặng, nắm giữ cổ phiếu hoặc phần vốn góp của đơn vị được kiểm toán không phân biệt số lượng; b) Mua bán trái phiếu hoặc tài sản khác của đơn vị được kiểm toán có ảnh hưởng đến tính độc lập theo quy định của chuẩn mực đạo đước nghề nghiệp kế toán, kiểm toán; c) Nhận hoặc đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ đơn vị được kiểm toán ngoài khoản phí dịch
vụ và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng đã giao kết; d) Sách nhiễu, lừa dối khách hàng, đơn vị được kiểm toán Và để đảm bảo yêu cầu về tính độc lập của KTV, ngoài mặt chủ quan về tư chất đạo đức của KTV cần duy trì
và đảm bảo tính độc lập trong quá trình kiểm toán, pháp luật yêu cầu các KTV không được thực hiện kiểm toán cho các khách hàng mà KTV có quan hệ gia đình ruột thịt là người trong bộ máy quản lý, điều hành trong đơn vị được kiểm toán hoặc bản thân KTV có quyền lợi về mặt kinh tế Yêu cầu này được thể hiện tại khoản 2, khoản 3, khoản 4, khoản 5, khoản
6, khoản 7 Điều 19 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12: “Kiểm toán viên hành nghề không được thực hiện kiểm toán trong các trường hợp: là người giữ chức vụ quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát hoặc kế toán trưởng của đơn vị được kiểm toán; trong thời gian hai năm, kể từ thời