môi trường gây nên ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường đại học luật Hà Nội, Hà nội 2007; Vũ Thu Hạnh chủ biên Cơ chế BTTH do ÔNMT, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
VŨ MINH HẢI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Những vấn đề pháp lý về bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường” là do bản thân
tự thực hiện và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên hướng dẫn, TS Vũ Thị Duyên Thủy Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong luận văn đã được trích dẫn và nêu rõ nguồn trong phần tài liệu tham khảo Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn này
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Học viên
Vũ Minh Hải
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình viết luận văn, học viên đã được sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô giáo ở Viện Đại học mở Hà Nội, Đại Học Luật Hà Nội, sự động viên và tạo điều kiện của bạn bè, người thân trong gia đình Học viên bày tỏ sự cảm ơn chân thành đối với sự quan tâm, động viên, giúp đỡ đó
Học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo hướng dẫn khoa học
TS Vũ Thị Duyên Thuỷ về sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo và những ý kiến đóng góp quý báu để luận văn được hoàn thành đúng kế hoạch
Vì điều kiện thời gian có hạn cũng như kinh nghiệm nghiên cứu khoa học còn hạn chế nên luận văn sẽ không ừánh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp nhiệt tình để có thể hoàn thiện hơn nữa đề tài nhằm phục vụ tốt hơn trong công tác thực tế cũng như những nghiên cứu khoa học sau này
Trang 51.3.1 Hình thức của bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường 25 1.3.2 Đối tượng, phạm vi và sự kiện bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do ô nhiễm môi trường 26 1.3.3 Thời hạn bảo hiểm 29 1.3.4 Mức phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm trong bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường 29
1.4 Pháp luật bảo hiểm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường 31 1.5 Các yếu tố chi phối đến pháp luật và thực thi pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường 31 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 35 2.1 Thực trạng quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường 35
2.1.1 Thực trạng các quy định pháp luật về thiệt hại và xác định thiệt hại do ÔNMT 36 2.1.2 Thực trạng pháp luật về xác định hành vi làm ÔNMT và môi trường bị ô nhiễm 40 2.1.3 Thực trạng pháp luật về xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi làm ÔNMT và thiệt hại xảy ra 43
2.2 Thực trạng quy định về hình thức của bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường 45
Trang 62.2.1 Quy định về hình thức của bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
ô nhiễm môi trường 45 2.2.2 Quy định về đối tượng, phạm vi và sự kiện bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường 50 2.2.3 Quy định về thời hạn bảo hiểm 54 2.2.4 Quy định về mức phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm trong bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường 55
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 58 3.1 Những yêu cầu và định hướng trong việc hoàn thiện pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường 58
3.1.1 Hiện thực hóa chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển thị trường bảo hiểm 58 3.1.2 Hiện thực hóa chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam bảo
vệ môi trường và cải cách tư pháp 59 3.1.3 Việc hoàn thiện pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường phải đặt trong tổng thể hoàn thiện pháp luật về các loại hình bảo hiểm khác 61
3.2 Những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường 62
3.2.1 Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường 62 3.2.2 Hoàn thiện các quy định pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường 64
3.3 Các giải pháp hỗ trợ việc thực thi có hiệu quả pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường 68 KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 BLDS Bộ luật Dân sự
2 BVMT Bảo vệ môi trường
3 BTTH Bồi thường thiệt hại
4 ÔNMT Ô nhiêm môi trường
5 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
6 QCKTMT Quy chuẩn kỹ thuật môi trường
7 MT&TN Môi trường và tài nguyên
8 TN&MT Tài nguyên và môi trường
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình tồn tại và phát triển của loài người là quá trình đấu tranh để cải tạo và hòa hợp với thiên nhiên Quá trình đó chịu sự tác động của thiên nhiên theo hai hướng tích cực và tiêu cực Sự tác động tiêu cực của thiên nhiên như bão, lũ lụt, động đất, hạn hán… , là những thiên tai có thể gây ra những thiệt hại đối với đời sống của con người, gây nên những hậu quả cho con người, tài sản của họ và gây ra những thiệt hại cho môi trường Trước thực trạng trên, bên cạnh những biện pháp mang tính phòng ngừa nhằm hạn chế hoặc loại trừ những nguyên nhân gây ra những thiệt hại này, con người (đặc biệt là Nhà nước) còn thực hiện những biện pháp nhằm giúp đỡ những tổ chức, cá nhân gặp rủi ro khắc phục các hậu quả như sự cứu tế, cứu trợ của Nhà nước, xã hội; lập các quỹ dự phòng để bù đắp các tổn thất và bảo hiểm nhân thọ hoặc phi nhân thọ cho những trường hợp này
Bên cạnh đó, hoạt động của con người cũng có thể gây ra những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cho những người khác và những thiệt hại chung cho chất lượng môi trường sống Theo nguyên tắc chung của pháp luật dân sự thì tổ chức, cá nhân nào có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại về tính mạng sức khỏe, tài sản của tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại Thiệt hại xảy ra có thể gây ra những tổn thất vượt quá khả năng tài chính của người có trách nhiệm bồi thường và nếu hậu quả không được khắc phục kịp thời, thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người bị thiệt hại cũng như người có trách nhiệm bồi thường Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một cơ chế đảm bảo chắc chắn cho việc bồi thường thiệt hại, khắc phục kịp thời những thiệt hại về tài chính đối với cả người bị thiệt hại và người có trách nhiệm bồi thường
Trang 9Trong lĩnh vực môi trường, tổ chức, cá nhân có hành vi làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe cho tổ chức cá nhân khác và/hoặc gây thiệt hại cho môi trường thì phải bồi thường thiệt hại Thực
tế chỉ ra rằng, thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra thường là nghiêm trọng và rất lớn, nhiều trường hợp, như trường hợp xảy ra sự cố môi trường, thì số lượng thiệt hại là đặc biệt lớn với phạm vi rất rộng và liên quan đến nhiều người Từ đây xuất hiện nhu cầu bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường với tư cách là một loại hình bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Vấn đề bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường đã được Luật bảo vệ môi trường 2005 quy định (Điều 134) Sau 9 năm thi hành Luật bảo vệ môi trường 2005, quy định bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường trên thực tế hầu như không được thực thi Một trong những nguyên nhân có thể là do chưa có những quy định hướng dẫn để thực hiện vấn
đề này hoặc là chưa có sức ép buộc một số nhóm chủ thể phải tham gia bảo hiểm hoặc do doanh nghiệp bảo hiểm chưa có sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường…
Vấn đề bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường tiếp tục được quy định tại Luật Bảo vệ môi trường 2014 và Nghị định 19/2015/NĐ-CP Việc tìm hiểu, đánh giá và từ đó khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường có giá trị thực tiễn cao, góp phần thực thi có hiệu quả quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2014
Do đó, việc xem xét các vấn đề lý luận, đánh giá các quy định hiện hành về bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường có giá trị cả về lý luận và thực tiễn
Trang 10Từ những lý do trên đây, em xin chọn đề tài “Những vấn đề pháp lý
về bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường”
làm luận văn tốt nghiệp của mình
Với kinh nghiệm và kiến thức pháp luật còn nhiều hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được quý thầy cô đóng góp ý kiến
để đề tài được hoàn thiện, góp phần thúc đẩy có hiệu quả thị trường bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường nhằm hạn chế những rủi ro cho cả bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Các nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường đã đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các luật gia, cũng như những người làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực quản lý môi trường Ở các mức độ và phạm vi khác nhau, đã có một số công trình và tài liệu đề cập đến vấn đề này, như:
- Giáo trình: Giáo trình Luật Môi trường của Trường Đại học Luật Hà Nội (1999 đến năm 2014); Giáo trình Luật Môi trường của Viện Đại học mở
Hà Nội, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2009
- Luận án: luận án tiến sĩ luật học của Vũ Thu Hạnh về “Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Việt Nam” năm 2004; Lưu Ngọc Tố Tâm, Pháp luật kiểm soát ÔNMT biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Hà nội, 2012
- Đề tài nghiên cứu khoa học:
Đề tài "Trách nhiệm pháp lý dân sự trong lĩnh vực môi trường" do Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp thực hiện năm 2002; Vũ Thu Hạnh (Chủ nhiệm đề tài), Trách nhiệm BTTH do hành vi vi phạm pháp luật
Trang 11môi trường gây nên ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường đại học luật Hà Nội, Hà nội 2007; Vũ Thu Hạnh (chủ biên) Cơ chế BTTH do ÔNMT, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012; Bùi Đức Hiển (chủ
nhiệm đề tài), Trách nhiệm BTTH do hành vi làm ÔNMT gây ra, Viện Nhà
nước và Pháp luật, Hà Nội, 2012
- Các bài viết trên tạp chí: Vũ Thu Hạnh, BTTH do ô nhiễm, suy thoái môi trường, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3/2007; Phạm Hữu Nghị và Bùi Đức Hiển, Các quy định pháp luật về thiệt hại, xác định thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra và định hướng xây dựng, hoàn thiện, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1/2011; Nguyễn Thị Bảo Nga, Các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạng do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra: Thực trạng và kiến nghị, tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 12/2013; Nguyễn Đức Long Trách nhiệm BTTH trong lĩnh vực môi trường theo Hiến pháp và tác động của nó tới quá trình hoàn thiện pháp luật môi trường, Tạp chí Luật học, số 6 /2014
Pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường dường như chưa được quan tâm nghiên cứu Các nghiên cứu về pháp luật bảo hiểm trách nhiệm nói chung và pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường, do ô nhiễm môi trường nói riêng còn rất ít:
- Giáo trình: Giáo trình Bảo hiểm của PGS, TS Nguyễn Văn Định, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, năm 2008
- Luận án: Cho tới thời điểm này, chưa có luận văn, luận án nào về pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường hoặc pháp luật bảo hiểm trách bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường Mới chỉ có một vài luận án có liên quan như: Giám sát thị trường bảo hiểm phi nhân thọ
ở Việt nam, Luận án tiến sĩ tài chính - ngân hàng của Nguyễn Thanh Nga,
Trang 12Học viện tài chính, Hà nội, năm 2015, “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo hiểm tài sản tại Việt Nam”, Luận án tiến sỹ luật học, của Nguyễn Thị Thủy, trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, 2009
- Đề tài nghiên cứu: Chuyên đề: Bước đầu nghiên cứu về bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường của Nguyễn Văn Phương trong Trách nhiệm BTTH do hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây nên ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường đại học luật Hà Nội, Hà nội 2007
- Sách: Bảo hiểm và pháp luật kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam của
TS Phạm Văn Tuyết, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2007
- Các bài viết trên tạp chí: Theo rà soát của tác giả thì chưa có bài viết nào trực tiếp về lĩnh vực của đề tài
Bài viết có liên quan: Các yếu tố chi phối các quy định của pháp luật trong bảo hiểm tài sản của Nguyễn Thị Thủy, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 04/2006; Phí Thị Quỳnh Nga, Những bất cập của điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong luật kinh doanh bảo hiểm, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp 10/2006
Cho tới thời điểm này, hầu như chưa có công trình nghiên cứu trực tiếp nào về pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a) Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu một số vấn đề về cơ
sở lý luận của pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường và đánh giá về thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và đưa
Trang 13ra được những giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra
b) Nhiệm vụ nghiên cứu:
Với mục đích như trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là:
- Đánh giá và xem xét một số nội dung lý luận về pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường như: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, khái niệm bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường và pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường và bước đầu xác định cấu trúc pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi cũng như các yếu tố chi phối đến pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do ô nhiễm môi trường
- Đánh giá nội dung pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, bao gồm những ưu điểm và hạn chế của các quy định hiện hành
- Xây dựng các giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Các quan điểm khoa học đã được các tác giả công bố trong các công trình nghiên cứu về bảo hiểm, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường nói chung, bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường nói riêng, cả trong nước và quốc tế
Trang 14- Hệ thống quy định pháp luật về bảo vệ môi trường có liên quan đến bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường theo Luật Bảo vệ môi trường 2014, Bộ luật dân sự 2005, Luật kinh doanh bảo hiểm năm
2000, 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành cho đến hiện nay
5 Phạm vi nghiên cứu
Với yêu cầu về dung lượng, luận văn được xác định giới hạn nghiên
cứu như sau:
Mặc dù, khi đề cập tới pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường thì cần đề cập tới các vấn đề như: Quy định về doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh bảo hiểm; Quy định về hợp đồng bảo hiểm; Quy định về giám sát đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm Tuy nhiên những vấn đề về doanh nghiệp bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm, giám sát đối với hoạt động bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường được thực hiện theo quy định chung về bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Do đó, những nghiên cứu của luận văn hướng tới hệ thống lý luận và các quy định pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm, người bảo hiểm và người thụ hưởng bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường mà không đi sâu vào các quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, nội dung của hợp đồng bảo hiểm, giám sát đối với hoạt động bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại
6 Câu hỏi nghiên cứu
Khi đi vào nghiên cứu đề tài, tôi đã xác định một số câu hỏi mà đề tài tôi cần nghiên cứu là:
Các vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường đã được các quốc gia trên thế giới giải quyết như
Trang 15thế nào? Việt nam đã nhìn nhận vấn đề này ra sao? Các nội dung cơ bản của pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường Pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường của Việt nam đã được xây dựng và áp dụng trên thực tế như thế nào,
có đạt được mục tiêu đề ra hay không?, có ưu điểm và nhược điểm gì?
Pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường cần hoàn thiện theo xu hướng nào và cần đáp ứng những yêu cầu nào
để bảo đảm phát triển bền vững
7 Phương pháp nghiên cứu
Để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu trên, luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như:
- Phương pháp phân tích chủ yếu được thực hiện để đánh giá những quy định chủ yếu của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 và các văn bản có liên quan
- Phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp thống kê, đối chiếu, kết hợp nghiên cứu lý luận và thực tiễn phương pháp so sánh luật học phương pháp lịch sử … được sử dụng khi tham khảo những công trình nghiên cứu, bài viết của một số tác giả có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận của luận văn là triết học Mác - Lênin, nhất là phép duy vật biện chứng Trong quá trình nghiên cứu, tiếp thu quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường cũng như các nội dung có liên quan đến đề tài
8 Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về luật học Một số kiến nghị của đề tài có giá trị tham khảo đối với các cơ quan xây dựng và thực thi pháp
Trang 16luật trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
9 Kết cấu của Đề tài:
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường
Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do ô nhiễm môi trường
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hiểm trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường
Trang 17CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
1.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường
Bồi thường, theo Từ điển Tiếng Việt, là “đền bù bằng tiền những thiệt hại về vật chất và tinh thần mà mình phải chịu trách nhiệm” [47, tr 82] …
Dưới giác độ pháp lý khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành
vi của mình gây ra Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là BTTH BTTH là trách nhiệm dân sự của người gây thiệt hại
Như vậy, có thể hiểu BTTH là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù các tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị hại [25, tr 4]
BTTH là một khái niệm pháp lý được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học pháp lý khác nhau và có thể có những tiêu chí phân loại khác nhau Theo pháp luật dân sự, dựa vào cơ sở phát sinh trách nhiệm, có thể chia thành: i) BTTH phát sinh trên cơ sở hợp đồng và trong trường thiệt hại phát sinh do vi phạm hợp đồng thì phải bồi thường; ii) BTTH phát sinh trên cơ sở quy định của pháp luật về bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (còn gọi là BTTH ngoài hợp đồng)
Trong lĩnh vực môi trường, theo cách hiểu chung nhất hiện nay thì mối quan hệ về BTTH phát sinh khi tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật
Trang 18môi trường gây ra thiệt hại cho chủ thể khác Như vậy, hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây thiệt hại làm phát sinh mối quan hệ về BTTH
Khi tổ chức hoặc cá nhân có hành vi làm ÔNMT, là một trong những hành vi vi phạm pháp luật môi trường, và từ đó tạo ra môi trường bị ô nhiễm
đã xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của cộng đồng về môi trường trong lành, xâm phạm tới quyền được sống trong môi trường trong lành của mọi người dân
Cùng với việc xâm phạm tới quyền được sống trong môi trường trong lành, nếu hành vi làm ÔNMT, từ đó tạo ra môi trường bị ô nhiễm và tình trạng môi trường bị ô nhiễm này xâm phạm đến lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp khác, gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác thì tổ chức, cá nhân có hành vi làm ÔNMT phải có trách nhiệm BTTH
BTTH do ÔNMT gây ra là việc chi trả các khoản tiền BTTH về môi trường, tính mạng, sức khỏe và tài sản cho người bị thiệt hại Thực hiện trách nhiệm BTTH về môi trường, tính mạng, sức khỏe và tài sản cho người bị thiệt hại nhằm thiệt lập lại sự bình đẳng, khắc phục những hậu quả về tài sản cũng như nhân thân do hành vi làm ÔNMT gây ra
Hành vi làm ô nhiễm môi trường là một trong những hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo vệ môi trường Đây là loại trách nhiệm phát sinh dưới sự tác động trực tiếp của các quy phạm pháp luật mà không cần có sự thoả thuận trước của các chủ thể Do đó, BTTH trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ bảo
vệ môi trường luôn là trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
Trên cơ sở khái niệm trách nhiệm BTTH theo quy định của pháp luật dân sự và những phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm trách nhiệm
BTTH do ÔNMT gây ra như sau: trách nhiệm BTTH do ÔNMT gây ra là một loại trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, theo đó, tổ chức, cá nhân
Trang 19thực hiện hành vi làm ÔNMT, gây thiệt hại thì phải trả giá về hành vi của mình qua việc khôi phục, đền bù, bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho bên bị thiệt hại
Theo khái niệm này, trách nhiệm BTTH do hành vi làm ÔNMT gây ra
có những đặc điểm sau đây:
i) Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm BTTH do hành vi làm ÔNMT gây ra
là một loại trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng và chịu sự điều chỉnh của pháp luật sân sự và pháp luật môi trường
ii) Về điều kiện phát sinh: Trách nhiệm BTTH do hành vi làm ÔNMT gây ra chỉ đặt ra khi thoả mãn các điều kiện: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi làm ÔNMT và môi trường bị ô nhiễm, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi làm ÔNMT với thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại Tuy nhiên, yếu
tố lỗi có thể không phải là điều kiện bắt buộc
iii) Về hậu quả: Thiệt hại về môi trường, tính mạng, sức khỏe, tài sản phải tính toán được bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy định là một đại lượng vật chất nhất định
iv) Về chủ thể bị áp dụng trách nhiệm: Là tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi làm ÔNMT gây thiệt hại
Trách nhiệm BTTH do hành vi làm ÔNMT gây ra là trách nhiệm bồi thường của tổ chức, cá nhân có hành vi gây ÔNMT cho người bị thiệt hại khi hoạt động của mình gây ÔNMT, gây thiệt hại Nếu căn cứ vào khách thể bị xâm hại thì đó chính là trách nhiệm bồi thường do hành vi làm ÔNMT gây ra cho người khác Như vậy, bất cứ hành vi nào làm tổn hại đến môi trường, gây thiệt hại đều phát sinh trách nhiệm BTTH, trừ trường hợp người bị hại có lỗi Nếu căn
cứ vào hành vi khách quan thì đó là trách nhiệm bồi thường do hành vi vi phạm pháp luật môi trường, gây ÔNMT và từ đó gây thiệt hại [24; 28, tr 57-58]
Trang 20Về nguyên tắc, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ÔNMT gây ra chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây:
Thứ nhất, có thiệt hại xảy ra
Trong quan hệ BTTH, thiệt hại vừa là điều kiện phát sinh trách nhiệm vừa là cơ sở tính mức bồi thường Thiệt hại xảy ra là điều kiện bắt buộc đầu
tiên để xem xét việc có phát sinh trách nhiệm BTTH hay không Điều này
khác với việc xác định trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự - có thể không cần căn cứ vào thiệt hại xảy ra Mục đích và ý nghĩa của BTTH là đảm bảo đền bù những thiệt hại, tổn thất đã gây ra cho người bị thiệt hại [25, tr 8] Thiệt hại do hành vi làm ÔNMT phát sinh bởi tình trạng ÔNMT gây
ra Đây là những biến đổi theo chiều hướng xấu đi của môi trường gây tổn hại cho Nhà nước, cho cộng đồng hoặc cho một hoặc nhiều tổ chức, cá nhân
cụ thể Các sự cố môi trường là nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng (Điều 3 Luật BVMT 2014) Do đó có thể thấy rằng, thiệt hại do hành vi làm ÔNMT là những thiệt hại phát sinh từ tình trạng môi trường bị ô nhiễm do hành vi gây ÔNMT của con người, có thể là hành vi gây ÔNMT hoặc do hành vi gây sự
cố môi trường gây ra
Trên phạm vi thế giới, hiện đang tồn tại song song 2 quan niệm khác nhau về thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường [26,tr 33-36; 27, tr 160-165]:
Một là, thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường chỉ gồm thiệt hại
đối với các yếu tố môi trường tự nhiên, như hệ động vật, thực vật, đất, nước, không khí mà không bao gồm thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe và tài sản của con người Cụ thể:
Cộng đồng chung châu Âu [26, tr 33-36; 27,tr 160-165] quan niệm thiệt hại trong lĩnh vực môi trường là sự thay đổi bất lợi về tài nguyên thiên
Trang 21nhiên hoặc cản trở đáng kể đến các dịch vụ môi trường có thể xảy ra một
cách trực tiếp hoặc gián tiếp Pháp luật các quốc gia như Kazakhstan, Kyrgystan, Phần Lan, Canada, Hàn Quốc cũng quy định tương tự [26, tr 33-
36; 27, tr 160-165]
Quan niệm chung của các quốc gia nêu trên là thiệt hại về môi trường
có thể được nhận dạng theo nhiều cách phân tầng khác nhau, từ rộng đến hẹp, từ tổng hợp đến hợp phần, từ môi trường chung đến từng thành phần môi trường cụ thể, song cho dù là tiếp cận ở góc độ và cấp độ nào thì thiệt hại về môi trường đều không bao gồm thiệt hại đối với con người hoặc tài sản, mặc dù chúng có thể là hậu quả trực tiếp của thiệt hại về môi trường
Hai là, thiệt hại về môi trường không chỉ bao gồm các thiệt hại đến
chất lượng môi trường mà còn cả thiệt hại về sức khỏe, tài sản của cá nhân
do ÔNMT gây nên Thuộc nhóm quốc gia có quan niệm này bao gồm Cộng hòa liên bang Nga, Nhật bản [26, tr 33-36; 27, tr 160-165]
Như vậy, theo cách quan niệm này thì thiệt hại về môi trường không chỉ bao gồm thiệt hại đối với môi trường tự nhiên mà còn bao gồm cả thiệt hại đối với sức khỏe và tài sản của con người
Việt Nam quan niệm thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường bao
gồm: "1 Suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường; 2 Thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra" ( Điều 163 Luật BVMT 2014)
Thiệt hại “suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường” được hiểu
là những thiệt hại về sinh thái như suy giảm đa dạng sinh học do môi trường nước bị ô nhiễm, thiệt hại do các động vật, thực vật bị diệt chủng hoặc sự giảm sút giá trị bảo tồn và duy trì môi trường nguyên sinh, hoặc một con sông
Trang 22hay một cái hồ bị ô nhiễm sẽ gây trở ngại cho việc thực hiện hoạt động du lịch, giải trí…
Như vậy, quan niệm Việt nam về thiệt hại do hành vi làm ÔNMT gây ra thuộc nhóm thứ hai trong hai quan niệm nêu trên Do quan niệm môi trường chỉ bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo (Khoản 1 Điều 3 Luật BVMT 2014) nên quan niệm thiệt hại về môi trường của Việt Nam tương đồng với Cộng hòa liên bang Nga và Nhật bản nhưng có sự khác biệt (hẹp hơn)
so với quan niệm về thiệt hại về môi trường của Australia [26, tr 26]
Từ những loại thiệt hại nêu trên, thiệt hại do hành vi làm ÔNMT gây ra
có những đặc trưng [22; 23; 45, tr 408-412] sau đây:
- Một là, thiệt hại do hành vi làm ÔNMT gây ra thường có giá trị lớn
Đặc trưng này bắt nguồn từ chính mối quan hệ giữa các thành phần môi trường tự nhiên Các thành phần môi trường tự nhiên có mối quan hệ hữu cơ với nhau và có tác động qua lại giữa các thành phần môi trường này Khi một thành phần môi trường bị ô nhiễm làm chức năng và tính hữu ích của thành phần môi trường bị ảnh hưởng thì nó sẽ tác động tới các thành phần môi trường tự nhiên khác và có thể làm cho thành phần môi trường này cũng bị ô nhiễm hoặc/và suy thoái Bên cạnh đó, sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường nhiều khi là một quá trình mà những biểu hiện của
nó không dễ nhận biết bằng những nhận biết thông thường Vì vậy, trong rất nhiều trường hợp, biểu hiện của thiệt hại được nhận biết thì đã ở giai đoạn cuối của quá trình phát sinh thiệt hại và do hậu quả trở nên khá nặng nề với hậu quả rất lớn
Trong trường hợp xảy ra sự cố môi trường như sự cố hạt nhân, sự cố hóa chất, đắm tàu chở dầu… thì hiển nhiên là những thiệt hại xảy ra là rất nghiêm trọng
Trang 23- Hai là, thiệt hại phát sinh do hành vi làm ÔNMT gây ra thường khó
- Ba là, thiệt hại do hành vi làm ÔNMT gây ra thường xảy ra trên một
phạm vi rộng
Đặc trưng này xuất phát từ tính thống nhất và sự phụ thuộc lẫn nhau
về số lượng và chất lượng của các thành phần môi trường nên một thành phần môi trường bị tổn hại (bị ô nhiễm hoặc suy thoái) sẽ kéo theo những tổn hại của các thành phần môi trường khác và từ đó có thể gây thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe cho tổ chức, cá nhân và làm suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường Sự lan tỏa này của môi trường dẫn tới sự phát sinh ô nhiễm thứ cấp và từ đó, nếu không được ngăn chặn kịp thời, tình trạng ÔNMT và thiệt hại phát sinh có thể rất rộng
Bên cạnh đó, người bị thiệt hại do ÔNMT gây ra thường có số lượng rất lớn Các vụ việc thực tế xảy ra trong thời gian qua cho thấy, số lượng người bị thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây ra là rất lớn Như vụ Công ty TNHH Vedan là hơn 5000 hộ gia đình thuộc ba tỉnh, thành phố: Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu [21], Vụ Sonadezi Long Thành Đồng Nai có hơn 300 hộ dân nộp đơn lên Hội Nông dân huyện Long
Thành đòi Sonadezi Long Thành bồi thường [20]
Trang 24Những đặc thù này của thiệt hại trong lĩnh vực môi trường cần được xem xét trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm BTTH do ÔNMT gây ra và pháp luật bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT
Thứ hai, có hành vi làm ÔNMT
Trong trách nhiệm BTTH do ÔNMT, biểu hiện của hành vi gây thiệt hại có điểm khác biệt so với các lĩnh vực khác:
Một là, hành vi gây thiệt hại không xâm hại trực tiếp đến các quyền về
tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân mà là sự xâm hại thông qua các yếu tố môi trường bị ô nhiễm;
Hai là, không phải mọi hành vi gây thiệt hại cho môi trường đều là
hành vi gây ÔNMT [28, tr 61] Biểu hiện của nó bao gồm:
i) Thiệt hại do hành vi làm ÔNMT gây ra có thể do hiện tượng tích tụ,
cộng dồn của môi trường
Do đặc tính tích tụ và cộng dồn của môi trường nên có những trường hợp không xuất hiện hành vi làm ÔNMT nhưng thiệt hại về môi trường vẫn xảy ra Đây là những trường hợp nhiều hành vi không gây ÔNMT nhưng tập trung tại một địa điểm và từ đó tạo nên môi trường bị ô nhiễm và từ đó gây thiệt hại
ii) Thiệt hại phát sinh từ tình trạng ÔNMT do lập pháp hoặc do lạm dụng công quyền gây ra
Tình trạng ÔNMT và từ đó gây thiệt hại có thể do lập pháp gây ra trong những trường hợp mà pháp luật môi trường, kể cả trong trường hợp thực thi nghiêm túc, cũng không loại trừ được một cách triệt để nguyên nhân gây ÔNMT
Trang 25Từ tình trạng ÔNMT này có thể xuất hiện thiệt hại về môi trường, tính mạng, sức khỏe, tài sản cho các chủ thể là tổ chức, cá nhân
iii) Một thực trạng môi trường bị ô nhiễm có thể là do một hoặc nhiều hành vi làm ÔNMT gây ra hoặc có thể là kết quả của nhiều hành vi của nhiều chủ thể, trong đó có cả hành vi gây ÔNMT hoặc hành vi không gây ÔNMT Cũng có những trường hợp có hành vi gây ÔNMT nhưng do hiện tượng phát tán, pha loãng của môi trường nên không có tình trạng môi trường bị ô nhiễm
và từ đó không xuất hiện thiệt hại
iiii) Thực trạng môi trường bị ô nhiễm có thể còn là hệ quả của sự cố môi trường Sự cố môi trường có thể do con người hoặc thiên nhiên gây ra Vấn đề BTTH chỉ đặt ra trong trường hợp sự cố môi trường do con người gây
ra
Từ những phân tích trên đây cho thấy, trách nhiệm BTTH do ÔNMT gây ra phát sinh khi xuất hiện các yếu tố gồm: i) có hành vi gây ÔNMT hoặc gây sự cố môi trường, ii) có thực trạng môi trường bị ô nhiễm và iii) thực trạng môi trường bị ô nhiễm là nguyên nhân gây thiệt hại cho chủ thể khác
Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi làm ÔNMT và thiệt
hại xảy ra
ÔNMT thường bắt nguồn từ hành vi đưa vào môi trường các chất thải loại, các chất độc hại, các chất gây nhiễm bẩn môi trường [45, tr 64] Hành vi làm ÔNMT và từ đó môi trường bị ô nhiễm là nguyên nhân gây ra thiệt hại về tài sản, tính mạng sức khỏe con người và những thiệt hại cho môi trường, làm ảnh hưởng tới việc chức năng của môi trường đối với đời sống của con người
Từ phân tích ở phần thứ hai trên đây (Thứ hai, có hành vi làm ÔNMT)
cho thấy mối quan hệ giữa hành vi làm ÔNMT với thực trạng môi trường bị ô
Trang 26nhiễm hết sức phức tạp do các tính chất, sự vận động mang tính tự nhiên của
Như đã biết, hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây thiệt hại trong lĩnh vực trách nhiệm BTTH do ÔNMT gây ra phát sinh khi xuất hiện các yếu
tố là: i) có hành vi gây ÔNMT hoặc gây sự cố môi trường, ii) có thực trạng môi trường bị ô nhiễm và iii) thực trạng môi trường bị ô nhiễm là nguyên nhân gây thiệt hại cho chủ thể khác
Từ đây có thể thấy, việc chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành
vi gây ÔNMT và thiệt hại xảy ra phải được chứng minh thông qua các bước sau đây:
Bước 1 Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ÔNMT với môi trường
bị ô nhiễm
Bước 2 Mối quan hệ nhân quả giữa môi trường bị ô nhiễm và thiệt hại xảy ra
Trang 27Do đó, để loại trừ nguyên nhân môi trường bị ô nhiễm không phải do hành vi làm ÔNMT gây ra và những thiệt hại xảy ra từ những nguyên nhân khác, pháp luật chỉ nên xác định mối quan hệ nhân quả trong trường hợp hành
vi làm ÔNMT là nguyên nhân trực tiếp hoặc là nguyên nhân có ý nghĩa quyết định đối với tình trạng môi trường bị ô nhiễm và tình trạng môi trường bị ô nhiễm là nguyên nhân trực tiếp hoặc là nguyên nhân có ý nghĩa quyết định đối với thiệt hại xảy ra [28, tr 62]
Thứ tư, người gây thiệt hại có lỗi
Theo quan niệm “thông thường”, lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng có ý nghĩa quyết định trong việc xác định người phải bồi thường và trong việc xác định mức bồi thường [44, tr 264-266]
Trong trách nhiệm dân sự, có những trường hợp là lỗi cố ý, là lỗi vô ý hoặc là lỗi suy đoán Lỗi suy đoán được hiểu là lỗi thiết lập bởi hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật nên người thực hiện hành vi đó bị suy đoán
là có lỗi [66, tr 265] Nhận xét này hoàn toàn phù hợp với trường hợp chủ thể
có hành vi làm ÔNMT gây thiệt hại
Pháp luật về trách nhiệm BTTH do ÔNMT một số quốc gia trên thế giới như Nhật Bản, Ấn độ cũng có xu thế xác định lỗi theo cách hiểu trên [41,
tr 707; 19, tr 80]
Từ đây có thể thấy rằng, mọi chủ thể khi có hành vi làm ÔNMT, gây thiệt hại đều bị suy đoán là có lỗi hoặc không phụ thuộc vào lỗi và phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình Hiểu cách khác, nếu người bị thiệt hại không có lỗi thì trách nhiệm bồi thường luôn đặt ra đối với người có hành
vi làm ÔNMT, gây thiệt hại Xu hướng quy định này có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là trong thời điểm hiện nay ở nhiều khu vực, người dân đang phải
Trang 28sống trong môi trường ô nhiễm, phải gánh chịu nhiều thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản song lại không thể xác định được lỗi của người gây ra tình trạng môi trường bị ô nhiễm
Do đó, nếu xuất hiện hành vi làm ÔNMT và từ đó gây thiệt hại cho người khác thì người có hành vi vi phạm bị suy đoán là có lỗi và phải có trách
nhiệm BTTH
1.2 Chủ thể được bồi thường do ÔNMT
Theo nguyên tắc chung, chủ thể được bồi thường trong mối quan hệ bồi thường ngoài hợp đồng là người bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe; tổ chức,
cá nhân bị thiệt hại về tài sản thuộc sở hữu của mình do hành vi vi phạm pháp luật gây ra
Trong trường hợp BTTH do ÔNMT gây ra trong trường hợp xuất hiện thiệt hại là tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản, việc xác định chủ thể được bồi thường thì áp dụng nguyên tắc chung nêu trên
Tuy nhiên, ÔNMT không chỉ gây thiệt hại cho một người hay một số người mà thường gây thiệt hại đến môi trường chung Ở Việt Nam, theo Hiến pháp (Điều 53 Hiến pháp 2013), Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý
Như vậy, đối với các trường hợp làm ÔNMT, gây thiệt hại cho các thành phần môi trường thuộc sở hữu toàn dân thì với tư cách là chủ thể đại diện cho chủ sở hữu toàn dân, Nhà nước là người đại diện cho người bị hại, chủ thể có quyền đòi bồi thường Tuy nhiên, pháp luật cũng cần quy định ai hoặc cơ quan nào sẽ là người có quyền yêu cầu bồi thường trong trường hợp các thành phần môi trường này bị xâm hại Nếu pháp luật không quy định cụ thể về vấn đề này thì dễ dẫn đến hai xu hướng, hoặc là sẽ không có ai thay
Trang 29mặt Nhà nước thực hiện quyền đòi bồi thường hoặc là cùng một lúc có hai hay nhiều chủ thể tự cho mình là đại diện hợp pháp của Nhà nước để thực hiện quyền đòi bồi thường [30, tr 55] và khi đó sẽ rất khó khăn cho quá trình giải quyết mối quan hệ về bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT
1.3 Bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường
Trong đời sống xã hội, gặp phải rủi ro luôn là những yếu tố tiềm ẩn trong các hoạt động của con người Đó là những mối nguy hiểm bất ngờ mà con người có thể gặp phải vào bất cứ lúc nào trong cuộc sống hàng ngày Có nhiều phương thức khác nhau để đối phó với rủi ro nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của những mối nguy hại tiềm ẩn này
Từ ngàn xưa, con người đã nghĩ ra nhiều cách thức để đối phó với rủi
ro Trong Kinh thánh có đoạn viết về một vị hoàng đế Ai Cập được báo mộng rằng sau bảy năm được mùa sẽ là bảy năm đói kém nên đã quyết định dành một phần năm thu nhập mỗi năm được mùa để dự phòng cho nạn đói sẽ xảy ra
Sử sách Trung Hoa cũng nói về những thương nhân đi buôn từ vùng thượng lưu sông Dương Tử vượt qua bao ghềnh thác hiểm nguy và lắm khi hàng hóa của họ cuốn theo dòng nước Thay vì chịu mất trắng hàng khi thuyền của mình bị lật, những thương nhân này đã nghĩ ra một hệ thống quản
lý rủi ro theo đó mỗi thương nhân sẽ để một phần tài sản của mình sang thuyền của người khác trong nhóm Bằng cách đó, nếu có một chiếc thuyền lật trong cuộc hành trình, không có ai chịu mất trắng và rủi ro được chia đều cho các thành viên tham gia
Những cách thức quản lý rủi ro trên đây, tuy đơn giản nhưng đều cùng
có chung một mục đích là giảm thiệt hại bằng cách chia sẻ rủi ro của cá nhân trong một tập thể [49]
Trang 30Tuy nhiên, các phương thức này tỏ ra kém hiệu quả trong việc chống
đỡ tổn thất lớn do những rủi ro đem lại Vì vậy, cùng với khái niệm rủi ro, bảo hiểm đã ra đời [43, tr 48]
Theo Từ điển Tiếng Việt [47, tr 39], bảo hiểm được hiểu theo hai nghĩa:
“1 Giữ gìn để phòng ngừa tai nạn Đeo dây bảo hiểm Mặc quần áo bảo hiểm và
2 Bảo đảm bằng hợp đồng trả khoản tiền thỏa thuận khi có tai nạn, rủi
ro nhất định xảy đến cho người được bảo hiểm (người được bảo hiểm phải đóng món tiền nhất định) Bảo hiểm tính mạng (trả khoản tiền thỏa thuận cho gia đình khi người được bảo hiểm chết vì bị tai nạn) Ngôi nhà được bảo hiểm phòng hỏa hoạn”
Có nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm Có thể tham khảo các định
nghĩa sau về bảo hiểm [51]:
Theo Dennis Kessler: Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất
hạnh của số ít
Theo Monique Gaullier: Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là
người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy
ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn
bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê
Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ định nghĩa: Bảo hiểm là một cơ chế,
theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm
Trang 31Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2000) không đưa ra khái niệm bảo hiểm nhưng có định nghĩa kinh doanh bảo hiểm như sau: Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên
cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm (Điều 3 khoản 1 Luật Kinh doanh bảo hiểm)
Từ những định nghĩa trên có thể thấy, bản chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất do rủi ro của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu Bảo hiểm hoạt động dựa trên Quy luật số đông Như đã phân tích ở phần 1.1, trách nhiệm BTTH do ÔNMT là trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng Do đó, bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT
là một loại bảo hiểm trách nhiệm Theo đó, “bảo hiểm trách nhiệm là nghiệp
vụ bảo hiểm, mà trong đó, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ đảm nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người thức ba khi người được bảo hiểm gây ra thiệt hại thuộc sự kiện bảo hiểm” [43, tr 244]
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm “Bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường là việc doanh nghiệp bảo hiểm sẽ đảm nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người thứ ba khi người được bảo hiểm
có hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra thiệt hại”
Trong quan hệ bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT xuất hiện ba mối quan hệ pháp lý: i) Quan hệ bồi thường thiệt hại giữa người gây ÔNMT với người bị thiệt hại do tình trạng môi trường bị ô nhiễm; ii) Quan hệ hợp đồng bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người có khả năng làm ÔNMT gây thiệt hại và iii) Quan hệ chi trả tiền BTTH theo hợp đồng bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm với người bị thiệt hại
Trang 32Trong trường hợp bảo hiểm tài sản mà khi môi trường bị ô nhiễm là nguyên nhân gây thiệt hại cho tài sản được bảo hiểm thì chỉ có mối quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm (xem Phụ lục)
1.3.1 Hình thức của bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường
Xét về mặt lý luận thì đối tượng bảo hiểm trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự là trách nhiệm BTTH nên việc thực hiện hoạt động bảo hiểm này mang tính tự nguyện Tuy nhiên thực tế hiện nay khi nói đến hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự thì thường đồng nghĩa với hợp đồng bắt buộc [43, tr 101]
Ở đây cũng thấy rằng, việc Nhà nước quy định một số loại bảo hiểm trách nhiệm là loại hình bảo hiểm bắt buộc nhằm bảo vệ lợi ích chung, lợi ích công cộng Cũng như bảo hiểm trách nhiệm dân sự, bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT có thể là bảo hiểm bắt buộc hoặc bảo hiểm tự nguyện, phụ thuộc vào cách thức nhìn nhận của Nhà nước về loại hình bảo hiểm này
Tại các quốc gia khác như Mỹ, Nhật Bản, Đức, Nga, các quốc gia Trung Âu, Mexico, Ấn Độ, Argentina thì hình thức bảo hiểm môi trường nói chung và bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT nói riêng đều quy định cả hai loại hình bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện, phụ thuộc vào ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của người tham gia bảo hiểm Tuy nhiên, ngày càng có nhiều quốc gia tìm cách thiết lập một hệ thống bảo hiểm môi trường bắt buộc và xác lập các cơ chế trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại gây ra
do ô nhiễm môi trường [50, tr 54]
Tại Cộng hòa liên bang Nga, bảo hiểm môi trường có thể là cả hai hình thức tự nguyện và bắt buộc
Bảo hiểm bắt buộc về môi trường đã được phát triển ở Cộng hòa liên bang Nga Các quy định hiện hành của Cộng hòa liên bang Nga xác định một
Trang 33số loại ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh phải bảo hiểm bắt buộc khi các cơ sở sản xuất kinh doanh này có nguy cơ hoặc rủi ro cao gây thiệt hại đối với môi trường như sản xuất, kinh doanh các chất độc hại, sản xuất điện hạt nhân, các công trình (đập) nước, hàng hải…v.v [50, tr 57] Các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác có thể thực hiện dưới hình thức bảo hiểm tự nguyện
Như vậy, có thể thấy xu hướng chung của các quốc gia là đối với các lĩnh vực có nguy cơ cao xảy ra các rủi ro về môi trường, trong đó có gây ÔNMT, thì hình thức bảo hiểm trách nhiệm BTTH là hình thức bắt buộc và những trường hợp còn lại là bảo hiểm tự nguyện Cùng với sự phát triển, các hình thức bảo hiểm bắt buộc sẽ được mở rộng đối với các lĩnh vực khác
1.3.2 Đối tượng, phạm vi và sự kiện bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường
Trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự, đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự và được hiểu là trách nhiệm BTTH Hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại và từ đó phát sinh trách nhiệm BTTH có thể được thực hiện với lỗi
cố ý hoặc vô ý Tuy nhiên, với bản chất của bảo hiểm chỉ là bảo hiểm rủi ro nên phạm vi bảo hiểm trách nhiệm dân sự chỉ bao gồm các thiệt hại do hành
vi vô ý gây ra [43, tr 152]
Theo nguyên lý chung này, đối tượng của bảo hiểm trách nhiệm BTTH
do ÔNMT chính là trách nhiệm BTTH do ÔNMT và phạm vi bảo hiểm chỉ bao gồm các hành vi vô ý gây nên
Ở các quốc gia châu Âu, bảo hiểm môi trường nói chung và bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT nói riêng cũng chỉ bảo hiểm đối với phạm vi trách nhiệm bồi thường do lỗ vô ý, do những tai nạn bất ngờ xảy ra [50, tr 54] Ở Cộng hòa liên bang Nga, bảo hiểm môi trường được ví như bảo hiểm trách nhiệm pháp lý phát sinh từ sự kiện bất ngờ, không thể đoán trước
Trang 34và/hoặc không cố ý Tình trạng ÔNMT gây thiệt hại do tai nạn bao gồm các
sự kiện như những vụ nổ, cháy, hỏng hóc kỹ thuật, thảm họa do con người gây ra…[50, tr 59]
Pháp luật bảo hiểm môi trường Cộng hòa liên bang Nga sử dụng phương án liệt kê các nhóm hành vi thuộc đối tượng và phạm vi bảo hiểm, ví
dụ như [50, tr 59]: các thiệt hại đối với bên thứ ba và thiệt hại cho môi trường nếu nó được gây ra bởi các rủi ro sau đây:
- Khí thải, các chất ô nhiễm nguy hiểm gây ra thiệt hại do lỗi kỹ thuật của các thiết bị xử lý hoặc thiết bị giám sát;
- Nhiễm bẩn bề mặt đất mang tính chất phổ biến hoặc do sự cố
- Ô nhiễm phóng xạ do vỏ ngăn của bồn chứa chất phóng xạ bị hư hỏng v.v…
Như vậy, đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm BTTH do ÔNMT và phạm
vi bảo hiểm chỉ bao gồm trách nhiệm BTTH do lỗi vô ý hoặc do những sự cố, tai nạn bất ngờ gây ra tình trạng ÔNMT và từ đó gây thiệt hại
Như đã phân tích ở phần 1.1., yếu tố phân định lỗi (cố ý, vô ý hoặc lỗi suy đoán) trong xác định trách nhiệm BTTH do ÔNMT dường như không được đặt ra Do đó, nếu xuất hiện hành vi làm ÔNMT và từ đó gây thiệt hại cho người khác thì người có hành vi vi phạm bị suy đoán là có lỗi và phải BTTH [31, tr 77]
Từ đặc thù của việc xác định lỗi trong trách nhiệm BTTH do ÔNMT nêu trên cho thấy, khi xác định đối tượng, phạm vi bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT, cần xác định cụ thể những nhóm hành vi vi phạm pháp luật môi trường (gây ô nhiễm môi trường) tham gia bảo hiểm hoặc thuộc nhóm hành vi loại trừ bảo hiểm
Trang 35Như vậy, một yêu cầu đặt ra khi thiết lập quan hệ hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT là phải xác định yếu tố lỗi trong trách nhiệm BTTH do ÔNMT
Theo đó, phạm vi bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT chỉ đối với những thiệt hại do lỗ vô ý, do những tai nạn bất ngờ xảy ra và những trường hợp loại trừ bảo hiểm là những thiệt hại do lỗi cố ý
Quan hệ bảo hiểm được hình thành từ thời điểm hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, bên bảo hiểm chỉ phải thực hiện nghĩa vụ chi trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường thiệt hại cho người được bảo hiểm khi xảy
ra sự kiện bảo hiểm Như vậy, sự kiện bảo hiểm chính là điều kiện thực hiện nghĩa vụ của bên bảo hiểm trong một hợp đồng bảo hiểm [43, tr 155]
Điều 3 khoản 10 Luật Kinh doanh bảo hiểm định nghĩa: “Sự kiện bảo
hiểm là sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định
mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm”
Điều 571 Bộ Luật dân sự 2005 cũng định nghĩa “Sự kiện bảo hiểm là
sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm ” Định nghĩa này cũng tương tự định nghĩa trong Luật Kinh doanh bảo hiểm Dự thảo Bộ luật dân sự đã không còn quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm để tránh sự trùng lặp với Luật Kinh doanh bảo hiểm
Như vậy, theo các định nghĩa này, một sự kiện được coi là sự kiện bảo hiểm khi thỏa mãn các điều kiện: i) là sự kiện khách quan được pháp luật quy định hoặc được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm và ii) sự kiện đó gây ra thiệt hại, tổn thất trên thực tế
Trang 361.3.3 Thời hạn bảo hiểm
Theo quan niệm chung về thời hạn bảo hiểm, thì thời hạn bảo hiểm hay còn gọi là thời gian bảo hiểm được xác định theo từng hợp đồng bảo hiểm, nếu có thiệt hại phát sinh từ sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời gian đó sẽ thuộc trách nhiệm bồi thường của bên bảo hiểm [43, tr 157]
Với đặc thù của thiệt hại trong lĩnh vực môi trường, một sự kiện bảo hiểm xảy ra có thể gây ra các thiệt hại: i) thiệt hại trực tiếp, thiệt hại gián tiếp, thiệt hại thứ sinh; ii) thiệt hại trước mắt, thiệt hại lâu dài; iii) thiệt hại có thể do một chủ thể gây ra nhưng có thể do nhiều chủ thế gây ra và trong đó có những chủ thể có hành vi làm ÔNMT, có những hành vi không làm ÔNMT…
Như vậy, với một sự kiện bảo hiểm BTTH do ÔNMT thì thiệt hại có thể xảy ra trong thời gian dài và có thể không liên tục với những loại thiệt hại rất khác nhau Một vấn đề cần giải quyết là với một sự kiện bảo hiểm BTTH
do ÔNMT nhưng xuất hiện nhiều thiệt hại tại những thời điểm khác nhau thì doanh nghiệp có chi trả tất cả những thiệt hại này hay không Theo nguyên tắc chung thì những thiệt hại nào xuất hiện trong thời hạn bảo hiểm thì được bảo hiểm chi trả và những trường hợp thiệt hại xuất hiện ngoài thời hạn bảo hiểm thì không được chi trả bảo hiểm
Do đó, khi xác định thời hạn bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do ô nhiễm môi trường, cần chú trọng tới đặc thù này của thiệt hại do ÔNMT gây ra
1.3.4 Mức phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm trong bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường
Mối quan hệ bảo hiểm là một cơ chế chuyển giao rủi ro và bồi thường
về mặt tài chính khi xuất hiện sự kiện rủi ro Do đó, việc xác định định mức
Trang 37phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm trong bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT là một trong những vấn đề cơ bản của pháp luật bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT
Mức phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm trong bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT phụ thuộc chính vào rủi ro xảy ra và thiệt hại phát sinh khi xảy ra rủi ro
Thiệt hại xảy ra do ÔNMT có những đặc thù so với những thiệt hại xảy
ra do các hành vi vi phạm pháp luật khác gây ra (như đã trình bày ở phần 1.1) Các thiệt hại này thường rất lớn, liên quan đến nhiều người và rất khó xác định một cách chính xác Do đó, pháp luật các quốc gia thường xác định mức phí bảo hiểm trên cơ sở rủi ro và chỉ thực hiện bảo hiểm bồi thường thiệt hại ở những giới hạn nhất định [35, tr 186]
Pháp luật Cộng hòa liên bang Nga [50, tr 54, 55, 59] xác định mức phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm của bảo hiểm môi trường nói chung và bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT bao gồm các yếu tố sau đây:
Thứ nhất, lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh của đối tượng tham
gia bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT Với các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác nhau thì mức độ rủi ro gây ÔNMT khác nhau và có thể có nguy
cơ xuất hiện trách nhiệm BTTH do ÔNMT khác nhau Ví dụ như một số lĩnh vực có nguy cơ gây ảnh hưởng lớn, nghiêm trọng tới môi trường như lĩnh vực hóa chất, dầu khí, chế biến nông sản, thực phẩm, xử lý chất thải…
Thứ hai, trình độ công nghệ, kỹ thuật, trình độ của người quản lý của
đối tượng tham gia bảo hiểm
Thứ ba, quy mô của hoạt động có thể xảy ra rủi ro về môi trường Với
những quy mô khác nhau của hoạt động có thể xảy ra rủi ro về môi trường thì mức độ thiệt hại có thể khác nhau
Trang 38Thứ tư, địa điểm thực hiện hoạt động cũng có thể tác động tới mức thiệt
hại xảy ra Với những địa điểm nhạy cảm về môi trường thì nguy cơ xảy ra thiệt hại sẽ lớn hơn những khu vực khác
Với những đặc thù của thiệt hại do ÔNMT gây ra, việc xác định định mức phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm nên xác định ở một mức độ tối đa nào
đó, phụ thuộc vào mức độ rủi ro của từng nhóm đối tượng bảo hiểm với 04 tiêu chí nêu trên và khả năng chi trả của doanh nghiệp bảo hiểm
1.4 Pháp luật bảo hiểm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường
Từ việc xác định phạm vi nghiên cứu của luận văn là hướng tới việc nghiên cứu hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm, người bảo hiểm và người thụ hưởng bảo hiểm nên các nội dung của pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô
nhiễm môi trường cũng sẽ chỉ xem xét tới các vấn đề pháp lý đặc thù của bảo hiểm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường mà không đề cập tới các vấn
đề pháp lý về doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm và giám sát đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1.5 Các yếu tố chi phối đến pháp luật và thực thi pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường
Pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường và việc thực thi nó chịu sự chi phối bởi những yếu tố chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, pháp luật về trách nhiệm nhiệm bồi thường thiệt hại do ô
nhiễm môi trường và việc thực thi trách nhiệm này trên thực tế
Pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường có được xây dựng và thực thi hay không hoặc có được triển khai có hiệu quả hay không phụ thuộc vào các quy định và hiệu quả thực thi quy định
về trách nhiệm BTTH do ÔNMT
Trang 39Trong trường hợp pháp luật về trách nhiệm BTTH do ÔNMT không được xây dựng hoặc có quy định nhưng không được thực hiện trên thực tế thì sẽ không hoặc ít xuất hiện nhu cầu bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT Những người gây ÔNMT sẽ ít phải gánh chịu hậu quả pháp lý về BTTH do ÔNMT và từ đó sẽ không có nhu cầu để thực hiện bảo hiểm trách nhiệm BTTH
Trong trường hợp ngược lại, các quy định về trách nhiệm BTTH do ÔNMT được quy định và thực thi có hiệu quả thì sẽ tạo ra nhu cầu bảo hiểm BTTH Trong trường hợp này, để tránh rủi ro phải BTTH với những khoản tiền lớn thì các tổ chức, cá nhân (đặc biệt là doanh nghiệp) sẽ có nhu cầu tham gia bảo hiểm trách nhiệm BTTH
Bên cạnh đó, sức ép của cộng đồng về chất lượng môi trường cũng tạo
ra động lực cho Nhà nước hình thành chính sách, pháp luật về bảo hiểm BTTH do ÔNMT Bảo hiểm môi trường, trong đó có bảo hiểm BTTH do ÔNMT, phát triển tốt ở Châu Âu bởi một khuôn khổ pháp lý truy cứu trách nhiệm trong lĩnh vực môi trường phù hợp, hiệu quả và nhận thức cao của cộng đồng về vấn đề môi trường [50, tr 54]
Thứ hai, Quan điểm của Nhà nước về bảo hiểm trách nhiệm BTTH do
ÔNMT
Bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT là một loại hình bảo hiểm trách nhiệm Loại hình bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT có được hình thành hay không phụ thuộc vào quan niệm của Nhà nước về tầm quan trọng của loại hình bảo hiểm này đối với việc bảo đảm công bằng xã hội, quan niệm của Nhà nước đối với việc phân chia rủi ro trong trường hợp khi xảy ra ÔNMT gây thiệt hại Trên cơ sở này, Nhà nước có xây dựng các quy định về bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT hay không, quy định bảo hiểm BTTH
Trang 40do ÔNMT là bảo hiểm bắt buộc hay bảo hiểm tự nguyện Trong trường hợp pháp luật quy định bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT là hình thức bảo hiểm bắt buộc thì Nhà nước cần xây dựng các quy định phù hợp về loại hình bảo hiểm này và từ đó thị trường bảo hiểm này có thể tồn tại và phát triển Các trường hợp bị thiệt hại về tài sản và tính mạng con người do ÔNMT có thể được bảo hiểm thông qua bảo hiểm tài sản hoặc/và bảo hiểm nhân thọ Trong trường hợp này, các thiệt hại do ÔNMT có thể được bù đắp thông qua bảo hiểm nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra Như vậy, mục đích phân chia rủi ro có thể được thực hiện
Các thiệt hại về môi trường là những loại thiệt hại chung cho xã hội, cho cộng đồng Trong trường hợp các đối tượng gây ÔNMT gây thiệt hại và không có khả năng BTTH đồng thời không thực hiện bảo hiểm trách nhiệm BTTH thì khi thiệt hại về môi trường xảy ra thì xã hội phải gánh chịu rủi ro Trong trường hợp này, Nhà nước phải bỏ ra chi phí để khắc phục thiệt hại Xét cho cùng là người dân, người đóng thuế phải gánh chịu rủi ro này
Trong một trường hợp khác, nếu Nhà nước cho rằng, trách nhiệm BTTH do ÔNMT có thể được thực hiện bảo hiểm thông qua bảo hiểm trách nhiệm chung, như ở Cộng đồng chung Châu Âu và Cộng hòa liên bang Nga trước đây, thì sẽ không hình thành một hệ thống pháp luật bảo hiểm trách nhiệm BTTH trong lĩnh vực môi trường nói chung và bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT nói riêng
Như vậy, phụ thuộc vào quan điểm của Nhà nước mà mỗi quốc gia có thể xây dựng hoặc không xây dựng pháp luật bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT
Thứ ba, sự quan tâm của các đối tượng có liên quan đối với loại hình
bảo hiểm trách nhiệm BTTH do ÔNMT