1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỐI QUAN hệ GIỮA ANH – PHÁP – mỹ TRƯỚC NGUY CƠ CHIẾN TRANH THẾ GIỚI lần THỨ HAI BÙNG nổ

44 602 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, bản thân của hệ thống hòa ước Vecxai –Woasinhton cũng chứa đựng trong nó những mâu thuẫn lợi ích gay gắt giữa cácnước đế quốc và cục diện của thế giới tư bản cuối những năm 30

Trang 1

ZRS http://xemtailieu.com/thanh-toan.html MỐI QUAN HỆ GIỮA ANH – PHÁP – MỸ TRƯỚC NGUY CƠ CHIẾN

TRANH THẾ GIỚI LẦN THỨ HAI BÙNG NỔ.

Trang MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài ……….…….……….………… ………2

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……….….………… ………3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu….………… ……….…….3

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu….………….………4

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu…….……….……… 4

6 Đóng góp của đề tài……….… ….… ….……….……….4

7 Bố cục của đề tài…….…… ……….……….………4

B PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Những nhân tố chủ yếu chi phối mối quan hệ giữa Anh - Pháp -Mỹ trước nguy cơ thế chiến bùng nổ 1.1 Sự tan rã của hệ thống Vécxai – Washinston……….5

1.2 Những thành tựu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và chính sách đối ngoại của Liên Xô………7

1.3 Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933……… … 12

1.4 Tình hình của ba nước Anh, Pháp, Mỹ trong những năm 20, 30 của thế kỷ XX 1.4.1 Tình hình của nước Anh trong những năm 20, 30 của thế kỷ XX…………13

1.4.2 Tình hình của nước Pháp trong những năm 20, 30 của thế kỷ XX…… …16

1.4.3 Tình hình của nước Mỹ trong những năm 20, 30 của thế kỷ XX………….18

Chương 2: Mối quan hệ Anh – Pháp – Mỹ trước chiến tranh thế giới lần thứ II 2.1 Chính sách đối ngoại của Anh - Pháp - Mỹ……… 20

2.2 Mối quan hệ giữa ba nước Anh, Pháp và Mỹ trước nguy cơ chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ……….……….………… 24

2.2.1 Sự hình thành trục đế quốc Anh - Pháp - Mỹ……… 24

2.2.2 Thái độ của Anh – Pháp – Mỹ đối với các bên tham chiến……… 26

2.2.2.1 Thái độ của Anh – Pháp – Mỹ đối với phe phát xít……… ……… 26

2.2.2.2 Thái độ của Anh – Pháp – Mỹ đối với Liên Xô……… 27

C PHẦN KẾT LUẬN……….… ………… …… 29

Trang 2

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 31 PHỤ LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc cùng với thất bại của phe liênminh Đức - Áo - Hung…Hệ thống hòa ước Vecxai - Woasinhton được thiết lập đểgiải quyết những hậu quả của chiến tranh thế giới lần thứ nhất và thiết lập một trật

tự thế giới mới sau chiến tranh Tuy nhiên, bản thân của hệ thống hòa ước Vecxai –Woasinhton cũng chứa đựng trong nó những mâu thuẫn lợi ích gay gắt giữa cácnước đế quốc và cục diện của thế giới tư bản cuối những năm 30 của thế kỷ XX.Bên cạnh đó cuộc khủng hoảng kinh thế giới 1929 - 1933 đã có những tác độngmạnh mẽ đến các quốc gia trên thế giới, nó tàn phá nặng nề và gây ra những hậu quảchính trị - xã hội tai hại nhất trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản Để giải quyết nhữngvấn đề này, giai cấp tư sản cầm quyền ở các nước tư bản đã chọn lựa một trong haicon đường: Đó là con đường phát xít hóa và con đường cải cách kinh tế, xã hội mộtcách ôn hòa, chủ trương tiếp tục duy trì hệ thống Vecxai - Woasinhton Hai suhướng trên đã đưa đến sự ra đời của hai khối đế quốc độc lập: khối đế quốc phátxít(Đức, Italia, Nhật Bản) và khối đế quốc dân chủ (Anh, Pháp, Mỹ) Cùng với sự rađời của hai khối đế quốc trên là sự xuất hiện của Liên Xô với đường lối đối ngoạihòa bình, chống chiến tranh, chống phátxít đã không phù hợp với tham vọng của haikhối đế quốc nêu trên Tình hình này đã tạo nên cục diện ba lực lượng chính trị với

ba đường lối đối ngoại khác nhau, nó phản ánh những mâu thuẫn sâu sắc của quan

hệ quốc tế trước khi thế chiến II bùng nổ Đó là tính chất tối phản động của giai cấp

tư sản độc quyền Đức cũng như tính chất hai mặt của Anh – Pháp – Mỹ Đi cùng với

sự cầm quyền của chủ nghĩa phátxít là ý đồ gây chiến để phân chia lại thế giới.Những hoạt động xâm lược ngày càng ráo riết của khối phátxít Đức, Italia và NhậtBản đã đụng chạm đến lợi ích của ba nước Anh, Pháp, Mỹ Đều này đã làm cho mâuthuẫn giữa hai khối đế quốc ngày càng trở nên gây gắt hơn

Như vậy, đứng trước tình hình thế giới đang có những biến chuyển xấu, mâuthuẫn giữa các nước đế quốc diễn ra ngày càng sâu sắc, chiến tranh thế giới lần thứ

Trang 3

II đứng trước nguy cơ bùng nổ thì thái độ của ba nước Anh, Pháp, Mỹ là như thếnào? và mối quan hệ giữa Anh - Pháp - Mỹ trong thời kỳ này ra sao là những điều

mà tác giả đang thắc mắc và muốn tìm hiểu để làm sáng tỏ vấn đề đề này

Vì thế tác giả quyết định chọn đề tài “Mối quan hệ giữa Anh - Pháp - Mỹ trước nguy cơ chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ” làm bài tiểu luận của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài: “Mối quan hệ giữa Anh – Pháp

-Mỹ trước nguy cơ chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ” nhưng chủ yếu các công

trình này đều tập trung nghiên cứu một khía cạnh nhỏ của vấn đề, chứ chưa có côngtrình khoa học nào hoàn chỉnh

Trong cuốn giáo trình “Lịch sử thế giới hiện đại” của PGS.TS Lê Văn Anh (chủ

biên), PGS.TS Hoàng Thị Minh Hoa, ThS Đinh Thị Lan, TS Bùi Thị Thảo đã trìnhkhái quát về quan hệ quốc tế trước khi chiến tranh bùng nổ (1919 - 1939) và sự tan

rã của hệ thống Vecxai – Woasinhton

Trong cuốn “Lịch sử thế giới hiện đại” quyển I Đỗ Thanh Bình (chủ biên),

Nguyễn Công Khanh, Ngô Minh Oanh, Đặng Thanh Toán Nhà xuất bản đại học sưphạm (10/2008) đã trình về chính sách đối nội, đối ngoại của các nước Anh, Pháp,

Mỹ trong giai đoạn 1919 – 1939

Ngoài ra ở nước ta còn có một số bài được đăng tải trên tạp chí nghiên cứu lịch

sử cũng đã đề cập đến vấn đề này Tuy nhiên, do mục đích của các công trình chođến nay vẫn thiếu vắng một công trình trình bày một cách hệ thống về mối quan hệcủa ba nước Anh - Pháp - Mỹ trước nguy cơ chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ Mặc

dù vậy những công trình trên là nguồn tư liệu quý báu để tác giả tham khảo và hoànthành đề tài này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Mối quan hệ giữa Anh - Pháp - Mỹ trước nguy cơ chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ”.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 4

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích: Trình bày có hệ thống về mối quan hệ giữa Anh - Pháp - Mỹ trướcnguy cơ chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ

4.2 Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài phải thực hiện các nhiệm

vụ cơ bản sau đây:

 Trình bày khái quát về những nhân tố chủ yếu chi phối mối quan hệ giữa Anh Pháp - Mỹ trước nguy cơ thế chiến bùng nổ

 Làm rõ mối quan hệ Anh – Pháp – Mỹ trước chiến tranh thế giới lần thứ II

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu: Gồm những công trình đã được công bố liên quan đến đề tài.5.2 Phương pháp nghiên cứu:

 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về sử học là cơ

sở phương pháp luận của đề tài

 Để thực hiện đề tài tác giả sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic,

và các phương pháp nghiên cứu cụ thể của bộ môn như: phân tích, tổng hợp, đốichiếu, so sánh…để rút ra những nhận xét, kết luận cần thiết

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Những nhân tố chủ yếu chi phối mối quan hệ giữa Anh - Pháp - Mỹ trước nguy cơ thế chiến bùng nổ

1.1 Sự tan rã của hệ thống Vécxai – Washinston

Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, các nước tư bản đã tổ chức hộinghị hòa bình ở Vecxai (1919 - 1920) và Woasinhton (1921 - 1922) để phân chiaquyền lợi và phạm vi ảnh hưởng của mình Một trật tự thế giới mới được thiết lậpmang tên hệ thống hòa bình Vecxai - Woasinhton Tuy nhiên bản thân hệ thống nàylại mang đến nhiều lợi ích nhất cho các nước thắng trận (Anh, Pháp, Mỹ) Do vậy,

sự ổn định của chủ nghĩa tư bản từ 1924 - 1929 do hệ thống Vecxai - Woasinhtonmang lại chỉ là tương đối, tạm thời và có điều kiện: Về kinh tế đó là thời kì tạm phụchồi và phát triển giữa 2 chu kì Về mặt quan hệ quốc tế, các nước thắng trận trongthế chiến thứ nhất chưa đi đến chỗ chia rẽ triệt để và nước Đức bại trận chưa kịpkhôi phục lực lượng quân sự của mình Đó là điều kiện thống nhất ổn định tạm thờitrong phe tư bản chủ nghĩa Khi điều kiện cho sự thống nhất không còn nữa_tức làkhi Đức đã khôi phục lại được lực lượng của mình, mâu thuẫn tiềm tàng giữa cácnước đế quốc đã phát triển đến mức sâu sắc không thể điều hòa được nữa, mâuthuẫn căn bản của chủ nghĩa tư bản là khả năng của sự sản xuất tư bản và khuôn khổhạn chế của thị trường đã trở nên gay gắt Khi tất cả các mâu thuẫn đó đạt đến mộtgiới hạn nhất định trong sự phát triển của nó thì sự thống nhất, ổn định sẽ tan vỡ và

mở ra một thời kỳ mới của khủng hoảng kinh tế và chính trị Đại hội VI của quốc tế

cộng sản 1928 dự báo trước rằng: “những mâu thuẫn riêng biệt phát triển trên nền tảng của những thay đổi căn bản trong cơ cấu của hệ thống kinh tế thế giới không thể không dẫn đến một sự bùng nổ mới” [6,tr143].

Vào cuối năm 1929, đúng như lời dự đoán của đại hội VI, thế giới tư bản chủnghĩa đã lâm vào một cuộc khủng hoảng kinh tế mới, sâu sắc và nghiêm trọng chưatừng có trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản Cuộc khủng hoảng kinh tế này đã chấmdứt thời kỳ ổn định của chủ nghĩa tư bản cùng với ảo tưởng về một kỷ nguyên hoàbình của thế giới Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ nước Mỹ (24/10/1929) đã nhanh

Trang 6

chóng tràn sang châu Âu, bao trùm toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa, để lại nhữnghậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội Hàng trăm triệu người (côngnhân, nông dân và gia đình của họ) bị rơi vào vũng lầy đói khổ Hàng ngàn cuộcbiểu tình lôi cuốn trên 17 triệu công nhân ở các nước tư bản tham gia trong nhữngnăm 1929 - 1933 Ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, cuộc đấu tranh giành độc lậpdân tộc cũng bùng lên mạnh mẽ Những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản trở nên cực

kỳ gay gắt Trước tình hình đó, giai cấp tư sản các nước đế quốc đã tìm mọi phươngthuốc để cứu chữa nhưng tất cả đều vô hiệu Do vậy, đã hình thành những xu hướngkhác biệt nhau trong việc tìm kiếm con đường phát triển giữa các nước tư bản chủnghĩa Các nước không có hoặc có ít thuộc địa gặp nhiều khó khăn về vốn, nguyênliệu và thị trường đã đi theo con đường phát xít hoá chế độ chính trị, thiết lập nềnchuyên chính khủng bố công khai nhằm cứu vãn tình trạng khủng hoảng nghiêmtrọng của mình Các nước Italia, Đức, Nhật Bản là điển hình cho xu hướng này.Trong những năm 1929 - 1936, giới cầm quyền các nước nói trên đã từng bước phá

vỡ những điều khoản chính yếu của hệ thống Vécxai - Oasinhtơn và tích cực chuẩn

bị chiến tranh để phân chia lại thế giới Trong khi đó các nước Anh, Pháp, Mỹ đãtìm cách thoát ra khỏi khủng hoảng bằng những cải cách kinh tế - xã hội, duy trì nềndân chủ tư sản đại nghị, đồng thời chủ trương duy trì nguyên trạng hệ thống Vécxai

- Oasinhtơn Vì thế quan hệ giữa các cường quốc tư bản trong thập niên 30 chuyểnbiến ngày càng phức tạp

Như vậy, với sự hình thành hai khối đế quốc đối lập: Một bên là Đức, Italia,Nhật Bản với một bên là Anh, Pháp, Mỹ và cuộc chạy đua vũ trang giữa hai khốinày đã phá vỡ hệ thống thỏa hiệp tạm thời Vecxai - Oasinhtơn dẫn tới sự hình thànhcủa ba lò lửa chiến tranh

Lò lửa chiến tranh thứ nhất xuất hiện ở Viễn Đông với việc đế quốc Nhật xâmlược Đông Bắc rồi Hoa Bắc Trung Quốc Lò lửa chiến tranh thứ hai và thứ ba là ởchâu Âu và Italia Với sự ra đời của ba lò lửa chiến tranh trên đã đánh dấu sự tan vỡcủa hệ thống Vécxai – Oasinhton trên phạm vi thế giới và báo hiệu một cuộc chiếntranh thế giới mới sắp nổ ra

Trang 7

1.2 Những thành tựu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và chính sách đối ngoại của Liên Xô

1.2.1 Những thành tựu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên Xô

Trải qua những năm chiến tranh và nội chiến kéo dài đã làm cho tình hình kinh

tế, xã hội Liên Xô bị tàn phá một cách nghiêm trọng Những thiệt hại vật chất trongchiến tranh và nội chiến lên đến hàng chục tỉ rúp, nhà máy, xí nghiệp, cầu đường bịtàn phá, đất đai bị bỏ hoang lên tới 20 triệu ha Đời sống nhân dân gặp nhiều khókhăn, những mặt hàng tối thiểu cho cuộc sống hàng ngày không đáp ứng đủ Bêncạnh những khó khăn về mặt kinh tế, từ năm 1921, lại nảy sinh những khó khăn về

mặt chính trị: “Chính sách cộng sản thời chiến” không còn phù hợp nữa, nông dân

bất mãn với chính sách trưng thu lương thực thừa, không còn hào hứng sản xuất,công nhân thất nghiệp giảm sút một nửa so với trước chiến tranh, bọn phản cáchmạng đã lợi dụng những khó khăn kích động những bất mãn trong lòng quần chúng

và gây rối loạn nhiều hơn Nghiêm trọng hơn là cuộc nổi loạn ở Crongxtat một nơi

có truyền thống cách mạng vào ngày 28/2/1921

Tuy nhiên dưới sự lãnh đạo của Đảng cách mạng Boncheviste nhân dân Xô Viếttừng bước vượt qua khó khăn và thử thách, phát huy những thuận lợi, khắc phụcnhững khó khăn và đã đặt được những thành tựu rực rỡ trong công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội

Về kinh tế

Nhờ có đường lối đúng đắn của NEP công cuộc khôi phục kinh tế tiến triểnnhanh chóng Năm 1922, được mùa lớn thành thị đã đủ lương thực, thực phẩm, côngnhân trở lại nhà máy Cũng trong năm 1922, công cuộc khôi phục kinh tế đã hoànthành cơ bản, sản xuất nông nghiệp 87%, công nghiệp 75%, trong đó công nghiệpnặng chiếm 81% Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Năm 1926, sản xuất công

- nông nghiệp đạt xấp xỉ trước chiến tranh Giao thông vận tải, đặc biệt là nghànhđường sắt được khôi phục và phát triển nhanh chóng, số lượng hàng hóa đượcchuyển đi khắp nơi đạt 80% so với trước chiến tranh

Trang 8

Thương nghiệp đã có những chuyển biến mới, giao lưu hàng hóa các địa phương

đã tăng lên, chu chuyển nội thương bằng 70% so với trước chiến tranh, thành phầnkinh tế nhà nước và hợp tác xã chiếm đến 87% Sau khi khắc phục những khó khăn

cơ bản của nền kinh tế, chính phủ và nhân dân Xô Viết tiếp tục bắt tay vào thực hiệncông cuộc công nghiệp hóa và đã nhanh chóng thu được những thắng lợi mới: năm

1927, sản lượng điện đã tăng 2 lần so với năm 1913 Đến năm 1928, sản xuất chiếm54% tỉ trọng công nghiệp Sang năm 1929, công cuộc công nghiệp hóa đã giải quyếtđược 3 vấn đề cơ bản là vốn tích lũy, nền công nghiệp nặng có thể sản xuất lấynhững máy móc thiết yếu Vấn đề nâng cao năng suất lao động, số vốn đầu tư lênđến 3,4 tỉ rúp gấp 4 lần so với năm 1926

Giữa năm 1930, công cuộc tập thể hóa nông nghiệp đã thu hút hơn 10 triệu nông

hộ tham gia chiếm 40% nông hộ cả nước Năm 1931, phong trào tiến thêm bước nữa

và những nông trang tập thể, nông trường quốc doanh chiếm 2/3 diện tích deo trồng.Cuối năm 1932, công cuộc tập thể hóa nông nghiệp hoàn thành

Cùng với tập thể hóa nông nghiệp Đảng và nhà nước Liên Xô thực hiện kế hoạch

5 năm lần thứ nhất và thứ hai, các kế hoạch này đều hoàn thành trước thời hạn Đếnmùa hè năm 1937, sản xuất đã vượt 48% so với năm 1929 Tổng sản lượng côngnghiệp đã vượt Anh, Pháp, Đức cộng lại, đứng đầu châu Âu và đứng thứ 2 thế giớisau Mỹ Đến năm 1937, công cuộc tập thể hóa công nghiệp đã hoàn thành trong cảnước, chiếm 93% tổng sản lượng

Mặc dầu trong mấy năm đầu gặp rất nhiều khó khăn nhưng Liên Xô cũng đạtđược những thành tựu to lớn: Năm 1938, tổng sản lượng công nghiệp là hơn 100 tỉrúp so với hơn 42 tỉ rúp năm 1913 Đến năm 1941 tổng sản lượng công nghiệp củaLiên Xô đã đạt tới 86% vượt mức năm 1942 và trong 3 năm đầu của kế hoạch 5 nămnày sản lượng công nghiệp tăng bình quân 13% năm

Nông nghiệp và các ngành kinh tế khác đã có những bước phát triển đáng kể,đời sống vật chất của nhân dân không ngừng được cải thiện, thu nhập quốc dân lên

128 tỉ rúp năm 1940 so với 96 tỉ rúp năm 1937, quỹ tiền lương tăng 1,5 lần

Về chính trị – xã hội

Trang 9

Cuối năm 1922, toàn thể lãnh thổ Xô Viết được giải phóng Lúc này công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội và củng cố quốc phòng đòi hỏi các dân tộc trong đấtnước Xô Viết phải liên minh chặt chẽ hơn về mọi mặt Tháng 12/1922, trên cơ sở tựnguyện của các dân tộc Liên Bang cộng hòa XHCN Xô Viết được thành lập (LiênXô) Đầu 1924, hiến pháp Liên Xô được thông qua thay cho hiến pháp 1918.

Năm 1936 hiến pháp mới được thông qua thay thế cho hiến pháp năm 1924,phản ánh những kết quả xây dựng chủ nghĩa xã hội, kế hoạch 5 năm đã đánh dấuLiên Xô bước đầu đã xây dựng nền móng xã hội chủ nghĩa

Cơ cấu giai cấp trong xã hội Liên Xô cũng có sự biến chuyển lớn lao và nhanhchóng, tất cả các giai cấp bóc lột đều bị xóa bỏ Trong xã hội Xô Viết chỉ còn lại 2giai cấp cơ bản là công nhân và nông dân tập thể cùng tầng lớp trí thức xã hội chủnghĩa, trình độ văn hóa công nông ngày càng nâng cao, sự nhất trí về chính trị và tưtưởng giữa họ là nền tảng cho xã hội _ xã hội chủ nghĩa

Về văn hóa- giáo dục, khoa học kỹ thuật và văn hóa nghệ thuật

Đến năm 1937, Liên Xô đã thanh toán xong nạn mù chữ và phổ cập giáo dụccấp 1 bắt buộc và phổ cập cấp 2 ở thành phố Số lượng học sinh từ 8 triệu 1913 lên

28 triệu 1937, số sinh viên từ 120 ngàn lên 542 ngàn năm học 1940- 1941, cả nước

có 3,5 triệu học sinh phổ thông và khoảng 80 vạn sinh viên Đầu năm 1937, đội ngũtrí thức Xô Viết đã lên đến 10 triệu người và có nhiều đóng góp xuất sắc trên nhiềulĩnh vực khoa học - kỷ thuật, xây dựng kinh tế văn hóa cũng như bảo vệ tổ quốc.Trên lĩnh vực khoa học – kỹ thuật cũng đạt được nhưng thành tựu rực rỡ

 Về khoa học tự nhiên: phát hiện lý thuyết về cấu trúc nguyên tử

 Khoa học vũ trụ, thuyết về hoạt động thần kinh cao cấp và về lai tạo giống câytrồng

Khoa học xã hội cũng phát triển không ngừng Những năm 1929 - 1939 đượcxem là thời kỳ hoàng kim của văn học Xô Viết với những tác phẩm nổi tiếng:

“Sông Đông êm đềm”, “Đất và hoa”, “Con đường đau khổ”, “Người Mẹ”…Trên

lĩnh vực sân khấu điện ảnh cũng như báo chí cùng đều đạt những kết quả to lớn

Về quốc phòng an ninh

Trang 10

Trên cơ sở công nghiệp hóa chính quyền Xô Viết đã xây dựng nền công nghiệpquốc phòng mới hiện đại không thua kém các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, Liên

Xô đã chế tạo được xe tăng, máy bay và phát triển công nghiệp hàng không, các xínghiệp quốc phòng được hưởng các chế độ ưu tiên đặc biệt Bên cạnh đó chính phủ

Xô Viết đã tổ chức lại lực lượng vũ trang cho đất nước và xây dựng quân đội theonguyên tắc mới, chính quy hóa và hiện đại hóa hơn: Năm 1924, có 63 trường Lụcquân, 32 trường không quân, 14 trường đại học quân sự chính quy và nhiều trườnghọc khác đào tạo cán bộ sĩ quan chỉ huy

Mặc dầu phải ra sức xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng nhưng Đảng vàchính phủ Xô Viết đã đề ra nhiều biện pháp sáng kiến hòa bình, kêu gọi Anh, Phápphối hợp hành động xây dựng hệ thống an ninh tập thể Nhưng do theo đuổi chínhsách thù địch với Liên Xô nên các nước này không bắt tay hợp tác với Liên Xô.Đứng trước tình hình chiến tranh thế giới đang đến gần mà không có khả năngcứu vãn, chính phủ Liên Xô cũng phải thi hành những chính sách ngoại giao chủđộng của mình

Tháng 8/1939, Liên Xô ký với Đức hiệp ước không tấn công nhau có thời hạn 10năm Hiệp ước Xô – Đức đã tạo cho Liên Xô có thời gian để củng cố lại lực lượngquốc phòng và chuẩn bị lực lượng tốt hơn về mọi mặt Làm thất bại âm mưu xâmlược của chủ nghĩa đế quốc trong việc mượn bàn tay của chủ nghĩa phát xít để tiêudiệt Liên Xô

Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu nói trên, trong quá trình xây dựng chủnghĩa xã hội, đặc biệt là sau khi Lênin qua đời Giới lãnh đạo Liên Xô đã vấp phảinhững sai lầm nghiêm trọng như: nhà nước nắm độc quyền kinh tế, chế độ bao cấpquá độ, nguyên tắc tập trung dân chủ và nền pháp chế chủ nghĩa xã hội bị vi phạm,xuất hiện tình trạng chuyên quyền, độc đoán, quan liêu,… đã để lại những hậu quảnặng nề và lâu dài cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên Xô về sau.Như vậy, trải qua những khó khăn gian khổ Liên Xô từ một nước nông nghiệp

đã trở thành một cường quốc công nghiệp hùng mạnh Nhờ vậy, đã đủ sức đối mặtvới thử thách cực kỳ lớn lao của thế giới trong những năm 1930-1940, đánh bại

Trang 11

được chủ phát xít, phá thế bao vây cô lập của chủ nghĩa đế quốc, uy tín và vị thếquốc tế của Liên Xô ngày càng nâng cao trên trường quốc tế.

1.2.2 Chính sách đối ngoại của Liên Xô

Ngay từ khi mới ra đời, Nhà nước Xô Viết non trẻ đã tuyên bố với thế giới mộtchính sách đối ngoại hòa bình trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và

toàn vẹn lãnh thổ giữa các quốc gia Nhà nước Xô Viết tuyên bố “chiến tranh đế quốc là tội ác lớn nhất chống lại loài người” [4,tr28] Đối với các nước láng giềng

gần gũi trong những năm 1921-1922, nhà nước Xô Viết đã công nhận và ký kết cáchiệp ước hữu nghị, thiết lập quan hệ ngoại giao với Apganixtan, Iran, Na Uy, Áo,Tiệp Khắc…chính phủ Liên Xô còn tuyên bố xóa nợ trước đây cho ba nước lánggiềng Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và Apganixtan

Đến giữa năm 1920, với những cố gắng của Liên Xô đã có trên 20 nước thiết lậpquan hệ ngoại giao với Liên Xô Riêng Mỹ đến năm 1933 mới công nhận và thiếtlập quan hệ ngoại giao với Liên Xô Trong những năm chiến tranh thế giới sắp nổ

ra, tháng 12/1933, Liên Xô đã chủ động đề nghị thiết lập một hệ thống an ninh tậpthể gồm tất cả các nước châu Âu để ngăn chặn hành động xâm lược của chủ nghĩaphát xít Bằng hàng loạt các hành động cụ thể của mình như: Gia nhập Hội QuốcLiên (9/1934), ký hiệp ước chi viện lẫn nhau giữa Pháp và Tiệp Khắc…

Mặc cho thiện chí và những hành động thực tế của Liên Xô nhằm tập hợp lực

lượng chống phát xít, các nước đế quốc Anh, Pháp vẫn thi hành “chính sách hai mặt” của mình Đến giữa tháng 4/1939, khi Đức tấn công Tiệp Khắc thì chính phủ

Anh, Pháp mới chấp nhận lời đề nghị của Liên Xô ngồi vào bàn đàm phán để ngănchặn chủ nghĩa phát xít nhưng cũng không có kết quả Trước tình hình đó Liên Xô

buộc phải kí “Hiệp ước không xâm phạm” với Đức.

Hiệp ước này đã làm phá sản Hiệp ước Munich của các nước phương Tây và tạođiều kiện cho Liên Xô có đủ thời gian hòa hoãn, tích cực chuẩn bị lực lượng chocuộc chiến tranh chống Đức sớm muộn gì cũng xảy ra Như vậy, nhờ chính sáchngoại giao kiên quyết và khôn khéo trong thời kỳ giữa 2 cuộc chiến tranh, Liên Xô

đã đập tan được âm mưu thù địch của 2 khối đế quốc và phát xít Góp phần duy trìnền hòa bình và bảo vệ hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới Có thể nói rằng: đây

Trang 12

là những thắng lợi to lớn về đường lối đối ngoại của Liên Xô và nâng cao vị thế củaLiên Xô trên trường quốc tế.

1.3 Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 là cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất

trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản Đó là cuộc khủng hoảng sản xuất “thừa”, bởi vì

sự sản xuất bừa bãi, ồ ạt chạy theo lợi nhuận trong những năm ổn định của chủnghĩa tư bản 1924 - 1929 đã dẫn đến tình trạng hàng hoá ế thừa vì sức mua của quầnchúng đã bị giảm sút nhiều do sự bóc lột tàn tệ của giai cấp tư sản

Ngày 24/10/1929, cuộc khủng hoảng đi vào lịch sử nước Mỹ cũng như thế giới

tư bản chủ nghĩa với cái tên “Ngày thứ năm đen tối” Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ

nước Mỹ sau đó làn rộng ra toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa, chấm dứt thời kỳ ổnđịnh và tăng trưởng kinh tế, dẫn đến tình trạng cung vượt quá cầu, hàng hóa ế thừa.Cuộc khủng hoảng kéo dài 4 năm và gây nên những hậu quả vô cùng to lớn về kinh

tế, chính trị và xã hội chưa từng thấy trong lịch sử các nước tư bản chủ nghĩa

Sản lượng công nghiệp của nước Mỹ giảm 50%, trong đó gang, thép giảm xuống76%, ô tô giảm 80%, sắt 70.4%, 11.500 xí nghiệp nhỏ và cả những xí nghiệp lớn bịphá sản [7,tr109] Nông thôn cũng bị tác động mạnh mẽ Để nâng cao giá hàng hoá

và thu nhiều lời, các nhà tư bản kếch sù đã tiêu huỷ hàng hoá : cà phê, sữa, lúa mì,thịt, v.v thà đốt hay đổ xuống biển chứ không được bán hạ giá Cuộc khủnghoảng lan rộng đến các nước tư bản chủ nghĩa khác Ở Anh, sản lượng gang năm

1931 sụt mất 50% , thép cũng sụt gần 50% , thương nghiệp giảm 60% [7,tr115] ỞPháp, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ cuối năm 1930 và kéo dài đến năm 1936, sảnlượng công nghiệp giảm 30%, nông nghiệp 40%, ngoại thương 60%, thu nhập quốcdân 30% [7,tr118] Ở Đức, đến năm 1932, sản lượng công nghiệp giảm 77% Ở cácnước Ba Lan, Ý, Ru-ma-ni, Nhật, đều có khủng hoảng kinh tế

Để bù đắp cho những thiệt hại do cuộc khủng hoảng kinh tế ở chính quốc, cácnước đế quốc đã tăng cường bóc lột, vơ vét thuộc địa, trút hậu quả của cuộc khủnghoảng kinh tế xuống đầu nhân dân các nước bị áp bức Do đó, làm cho mâu thuẫngiữa các nước đế quốc với nhân dân các nước thuộc địa ngày càng trở nên gay gắt,phong trào giải phóng dân tộc ngày càng bùng nổ quyết liệt Mặt khác, cuộc khủng

Trang 13

hoảng kinh tế đã làm cho các nước đế quốc Đức, Ý, Nhật…bất mãn với trật tựVecxai – Woasinhton Đây là những nước ít thuộc địa, thiếu vốn, nguyên liệu và thịtrường nên muốn tìm một lối thoát bằng hình thức thống trị mới Đó là thiết lập chế

độ độc tài phát xít_nền chuyên chính khủng bố công khai của các thế lực phản độngnhất [1,tr107]

Những khó khăn, nan giải về kinh tế làm cho quan hệ giữa các nước tư bản trongthời kỳ này có những chuyển biến phức tạp Cuộc cạnh tranh giành giật nguyên liệu

và thị trường tiêu thụ hàng hóa ngày càng quyết liệt Mâu thuẫn giữa các tập đoàn

đế quốc ngày càng trở nên gay gắt Trên trường quốc tế đã hình thành 2 khối đếquốc độc lập: một bên là Anh, Pháp, Mỹ với một bên là Đức, Ý, Nhật

Như vậy, cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 không chỉ mang đến những tácđộng vô cùng to lớn đối với các nước đế quốc mà nó còn gây ra những ảnh hưởngnghiêm trọng đối với nhân loại Cuộc khủng hoảng này đã làm cho mâu thuẫn giữacác nước đế quốc lên đến đỉnh điểm, không thể dung hòa, là tác nhân quan trọng dẫnđến bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II

1.4 Tình hình của ba nước Anh, Pháp, Mỹ trong những năm 20, 30 của thế

kỷ XX

1.4.1 Tình hình của nước Anh trong những năm 20, 30 của thế kỷ XX

Về kinh tế

Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Anh là một trong những nước thắng trận và

là nước có nhiều thuộc địa nhất Tuy vậy nền kinh tế nước Anh bị giảm sút rõ rệt dohậu quả của chiến tranh mang lại Anh bị mất 70 tàu buôn, do vậy nền ngoại thươnggiảm sút, chỉ bằng 1/2 trước chiến tranh Nợ nhà nước tăng lên gắp 12 lần so vớinăm 1914 Từ địa vị chủ nợ Anh đã trở thành con nợ của Mỹ với 5.6 tỉ đôla Năm

1920, sản lượng công nghiệp Anh giảm sút 32.5% so với năm 1913, xuất khẩu giảm44%, nhập khẩu giảm 39% Nhiều nhà máy xí nghiệp bị phá sản, nạn thất nghiệptràn lan nhất là các nghành đóng tàu và luyện kim [2,tr182]

Đến năm 1929, cuộc khủng hoảng kinh tế đã lan đến Anh nhưng không nghiêmtrọng như ở Mỹ và các một số nước tư bản khác do nền kinh tế Anh trước đây vốn

đã phát triển chậm chạp Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng lần này cũng lan ra mọi lĩnh

Trang 14

vực Ngoại thương _ nền kinh tế quan trọng của nước Anh giảm 60%, công nghiệpnăm 1932 giảm 20% so với năm 1929 Các nghành sản suất khác như gang, thépgiảm 1/2 so với năm 1932…[1,tr119].

Trước tình hình đó, chính phủ phải đưa ra một chương trình “tiết kiệm hết sức nghiêm ngặt” nhưng sự phục hồi và phát triển kinh tế vẫn yếu ớt trong những năm

tiếp theo Năm 1937, tổng sản lượng công nghiệp mới đạt 124% so với năm 1929.Nước Anh dần đánh mất vị trí của mình, bị tụt lại phía sau Mỹ, Đức, Ý

Về chính trị - xã hội

Cuộc khủng hoảng kinh tế này đã tác động tiêu cực đến tình hình chính trị - xãhội của nước Anh: xã hội rối ren, công nhân thất nghiệp, người dân không có việclàm kéo theo hàng loạt các vấn đề xã hội khác Hình thức chính quyền trong mấynăm sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất là chính phủ liên hiệp gồm Công đảng,Đảng Bảo thủ và Đảng Tự do Tháng 5/1918, Đảng Tự do chính thức bị phân liệt,

98 thành viên của Đảng Tự do dần dần phản đối chính phủ, phản đối chính sách hợptác với Đảng Bảo thủ của Lôi Gioóc Từ đây, vị trí của Đảng tự do suy giảm khôngcứu vãn nổi Đảng Bảo thủ trở thành ngọn cờ tập hợp giai cấp hữu sản Tháng1/1919, chính phủ chỉ gồm Đảng Bảo thủ và Đảng Tự do do Lôi Gióoc đứng đầu.Trong bối cảnh đó Công đảng cũng phát triển nhanh: trong cuộc tuyển cử 1992 được

162 ghế (năm 1918 được 60 ghế) [2,tr182]

Đến tháng 10/1922, chính phủ cánh cấp tiến của Đảng Tự do Lôi Gióoc cầm đầusau vụ Cớcdơn và những chính sách đối nội phản động buộc phải từ chức Chínhphủ của Đảng Bảo thủ do Bônna Lâu cầm đầu lên nắm chính quyền [2,tr182] Chínhphủ này tiếp tục thi hành những chính sách đối nội và đối ngoại phản động, nhất làchính sách chống Nga Xô Viết nên đã gây ra sự bất bình mạnh mẽ trong lòng quầnchúng nhân dân

Đến năm 1923, Đảng Bảo thủ mất uy tín và Công đảng do Ramsay Macponaldđứng đầu lên nắm chính quyền Đây là chính phủ Công đảng đầu tiên sau 24 nămthành lập ở Anh Tuy nhiên, chính phủ Công đảng chỉ cầm quyền 1 năm, vào cuối

năm 1924, đảng Bảo thủ lại nắm quyền trở lại Lý do cho sự “ra đi” đó là Công

đảng chưa có kinh nghiệm lãnh đạo đất nước và sự hợp sức chống phá của 2 Đảng

Trang 15

Bảo thủ và Tự do Nhưng từ đây trên chính trường Anh, vị trí của Công đảng đã lớnmạnh hơn trước, thay thế vị trí của Đảng Tự do, giữ vai trò đảng đối lập với đảngcầm quyền Đều đó chứng tỏ sự thất bại phần nào của giới bảo thủ Anh trước trình

độ giác ngộ ngày càng cao của nhân dân lao động

Từ năm 1925, nước Anh bước vào giai đoạn ổn định về chính trị, đảng Bảo thủvẫn nắm chính quyền Chủ trương khôi phục kinh tế bằng cách đánh vào quyền lợicủa người lao động, có lợi cho giới chủ Bất bình với chính sách của chính phủ cắtgiảm tiền lương, thợ mỏ Anh đã tổ chức đình công từ ngày 5/5/1926 Lúc đầu sốngười bải công lên đến 2,5 triệu người, khi cao điểm lên đến 5 triệu người Côngnhân các nước Đức, Bỉ, Hà Lan…cũng đã thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ khiến cho

chính phủ Anh phải ban bố “tình trạng đặc biệt” Chính phủ đã thông qua đạo luật

“xung đột giữa chủ và lao động” cấm bãi công và ủng hộ bãi công, nâng giờ làm

việc của công nhân từ 7h lên 8h và giảm lương của công nhân Do lực lượng củaCông đoàn suy yếu, phái ôn hòa nắm quyền lãnh đạo Công đoàn chủ trương hợp tácchứ không đối kháng với chính quyền tư sản nữa [2,tr184]

Chính phủ Anh muốn thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng bằng cách trút gánh nặnglên người lao động Lương công nhân bị hạ thấp, đồng bảng hạ giá Đây là thời kỳchính quyền chuyển từ tay chính phủ Công đảng thứ 2 (1929-1931) sang chính phủdân tộc (liên hiệp giữa đảng Bảo thủ, Công đảng và tự do quốc gia) Trong năm1931-1935, Baldowin đứng đầu (1935-1937) [1,tr186]

Đến năm 1936, nước Anh có sự cố ngai vàng: Vua George qua đời, người kế vị

là một phụ nữ người Mỹ nên phải rời bỏ ngai vàng Tháng 5-1937, George IV lênngôi và tại vị 15 năm Cũng trong thời gian này, Bandouy từ chức thủ tướng do tuổigià, kế vị ông là Neville Chamberlain (người của đảng Bảo thủ) Đảng Bảo thủchiến đa số với 432 ghế trong quốc hội Tuy nhiên, Công đảng dần được phục hồivới 145 ghế và lãnh tụ mới là Attlee Clemen Tính chất của Công đảng từ đó trở đithay đổi so với cương lĩnh ngày đầu thành lập [1,tr186]

Đối với phong trào công nhân, chính quyền Anh chủ trương đàn áp: ra các đạoluật chống nổi dậy (1935), phạt những người tuyên truyền chống chiến tranh, luật vềtrật tự xã hội (1936), hạn chế tối đa quyền dân chủ như tự do biểu tình, hội họp

Trang 16

Trong khi đó chính quyền lại nới lỏng cho chủ nghĩa phát xít, thậm chí cho thành

lập “Liên hiệp phát xít Anh” với mưa đồ thiết lập nền chuyên chính kiểu phát xít

Đức, Italia Tuy nhiên, do truyền thống dân chủ ở Anh mà chủ nghĩa phát xít đãkhông có đất phát triển Đến cuối những năm 30, chính phủ Sămbeclanh đã lao vàocon đường sản xuất vũ trang, cưỡng sức toàn dân tham gia quân đội, chuẩn bị chochiến tranh

1.4.2 Tình hình của nước Pháp trong những năm 20, 30 của thế kỷ XX

Về kinh tế

Việc Đức bại trận trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã làm cho Pháp trởthành cường quốc bá chủ ở lục địa châu Âu Theo hòa ước Vecxai, Pháp lấy lạiđược 2 tỉnh Andát và Loren, được quyền khai thác vùng lòng chảo hạt Xarơ và một

bộ phận thuộc địa của Đức ở châu Phi, củng cố chế độ bảo hộ của Pháp ở Marốc,được nhận tiền bồi thường chiến phí của Đức…Đó là những điều kiện thuận lợi choPháp khôi phục lại nền kinh tế, phục hồi sản suất ở vùng Đông Bắc, xây dựng khucông nghiệp mới ở miền Trung, miền Nam và Tây Nam nước Pháp…Tuy nhiên,Pháp vẫn gặp nhiều khó khăn do nền kinh tế bị thiệt hại nặng nề do chiến tranhmang lại Tổng thiệt hại nói chung đến 20 tỉ Ph.răng

Cách mạng Nga thành công, Pháp đã mất nguồn nguyên liệu quan trọng do nướcNga cung cấp (55% đường sắt, 75% than), Pháp phải vay nợ Mỹ 4 tỷ USD [1,tr102].Trong nông nghiệp, ruộng đất tập trung vào tay địa chủ, tư sản rất nhiều nhưng vẫncòn hình thức sở hữu ruộng đất trung bình và nhỏ

Trong những năm 1924-1929, nước Pháp có nhiều thay đổi lớn trong việc khôiphục, tái thiết nền công nghiệp, mở rộng thị trường, đẩy mạnh khai thác các nguồnnguyên liệu…Các nghành công nghiệp hàng không, hóa chất, ôtô…cũng phát triển.Pháp trở thành một nước công nghiệp thực sự, đứng hàng thứ 4 thế giới

Từ cuối năm 1935, cuộc khủng hoảng diễn ra muộn ở Pháp và kéo dài đến 1935.Thoạt đầu là ngân hàng, tiếp theo là công nghiệp lâm vào khủng hoảng Sản lượngcông nghiệp giảm 1/3, trong đó nặng nề nhất là công nghiệp nhẹ: 130 xí nghiệp dệt

bị phá sản, ngoại thương giảm 3/5 Trong nông nghiệp có 2 nghành chính là lúa mỳ

Trang 17

và trồng nho đều bị giảm sút Thu nhập nông phẩm của nông dân năm 1934 còn 17

tỉ Phrăng (so với 44,8 tỉ Phrăng năm 1929) tức là giảm 2,7 lần [2,tr193]

Thu nhập quốc dân giảm 1/3, khủng hoảng kinh tế là cho quá trình tập trung tưbản tăng lên Trong khi 1 vạn chủ xí nghiệp nhỏ và 10 vạn tiểu thương phá sản thì

200 nhà tư bản tài chính chi phối hoàn toàn nền kinh tế, chính trị trong nước Sốlượng công nhân thất nghiệp rất đông: năm 1935 có 1/2 triệu người thất nghiệp toànphần và 50% công nhân thất nghiệp một phần Hơn vạn 10 vạn tiểu thương bị phásản

Về chính trị

Từ tháng 11/1919, phái hữu của “khối Quốc gia” lên nắm chính quyền,

Cơlêmănsơ làm thủ tướng Sau đó là Pôn Đêsamam, Minlơrăng Chủ trương giảiquyết các vấn đề Đức theo hướng có lợi cho mình Thi hành chính sách chống Nga

và đàn áp các phong trào đấu tranh của công nhân pháp cũng như nhân dân các nướcthuộc địa

Các tổ chức phát xít như Đảng “Đoàn kết nước Pháp”, “Thập tự lửa”, được thành lập và ráo riết hoạt động Tổ chức “Thập tự lửa” với danh nghĩa hội cựu chiến binh lôi kéo quần chúng chưa giác ngộ với các khẩu hiệu “bảo vệ nền cộng hòa”,

“bảo vệ dân tộc” Tổ chức ám sát thủ tướng Pháp Pôn Đume, đổ tội cho gián điệp

Liên Xô, làm cớ chống Liên Xô nhưng đã thất bại Sau đó cuộc tuyển cử đã đưa

“khối tả’’ lên nắm chính quyền do Eriô đứng đầu nhưng đã sụp đổ sau 3 tháng cầm

quyền

Trong những năm 1933-1934, các chính phủ liên tiếp bị sụp đổ Thừa vụ bê bốiSavitski bọn phát xít Pháp, được sự hỗ trợ của Hitle tìm cách cướp chính quyền Đảng Xã hội Pháp chấp nhận lời đề nghị của Đảng Cộng sản tổ chức cuộc bãi côngchung vào ngày 12-2-1934 để chống lại chủ nghĩa phát xít Tháng 5-1934 mặt trậnnhân dân chống phát xít và nguy cơ chiến tranh được thành lập Ngày 2-5-1935,hiệp định tương trợ Pháp – Liên Xô được ký kết

Đến thắng 5/1936, chính phủ của Mặt trận lên nắm chính quyền do Lêông Blumđứng đầu Dưới áp lực của quần chúng nhân dân chính phủ này đã thi hành 1 số

Trang 18

chính sách tiến bộ: quốc hữu hóa một bộ phận công nghiệp chiến tranh, ổn địnhngân hàng, xuất tín dụng để giải quyết các vấn đề xã hội….Đối với Đông Dương,chính phủ Pháp rút bớt quân, ban hành Luật Xã hội, cải cách chế độ lao động, cửphái đoàn Gôđa sang đều tra tình hình thuộc địa.

Về xã hội

Do khủng hoảng của cuộc kinh tế, đời sống của nhân dân lao động khó khăn hơntrước Công nhân nhiều lần đứng dậy bãi công đòi quyền sống, ủng hộ cách mạngtháng Mười Nga Xã hội Pháp trở nên rối ren, giai cấp tư bản lũng đoạn ngày cànggia tăng các hoạt động chống phá chính phủ

1.4.3 Tình hình của nước Mỹ trong những năm 20, 30 của thế kỷ XX

Về kinh tế

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất với những chính sách khôn ngoan có lợi chomình, Mỹ trở thành nước tư bản giàu mạnh nhất Năm 1919, hàng hóa Mỹ xuất sangchâu Âu đạt 8 tỉ USD Chỉ trong 6 năm (1923-1929), sản lượng công nghiệp tăng69% Năm 1928, Mỹ chiếm 48% sản lượng công nghiệp thế giới, vượt sản lượngcác cường quốc Anh, Pháp, Nhật, Đức, Ý cộng lại Vốn đầu tư Mỹ ra nước ngoàiđạt 6,4 triệu USD Dự trử vàng chiếm tới 1/3 thế giới Mỹ trở thành trung tâm côngnghiệp, thương mại tài chính quốc tế [1,tr104]

Tháng 10/1929, cuộc khủng hoảng kinh tế chưa từng thấy bùng nổ ở nước Mỹ.Cuộc khủng hoảng gây ra những hậu quả hết sức trầm trọng bắt đầu từ lĩnh vực tíndụng sau đó lan ra các lĩnh vực khác Trong những năm này, 13 vạn công ty bị phásản, 1 vạn ngân hàng bị đóng cửa, sản lượng thép giảm 76%, sắt giảm gần 80%, ô

tô cũng gần 80% Tổng sản lượng công nghiệp chỉ đạt 53,8% so với năm 1929.Trong nông nghiệp, diện tích deo trồng bị thu hẹp, nông sản năm 1932 chỉ bằng ½năm 1929 Tính chung vào năm 1932, thu nhập người dân Mỹ giảm ½ , nạn thấtnghiệp lên đến hàng chục triệu người Để đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng

tổng thống F.Rudơven đã thực hiện đề án “chính sách mới” của mình Chính sách

mới của F.Rudơven đã đưa tình hình kinh tế của nước Mỹ khỏi cơn nguy kịch củacuộc khủng hoảng, góp phần cho phép nước Mỹ duy trì chế độ dân chủ tư sản, tạo ra

Trang 19

1 sự bảo vệ nhất định đối với người lao động Tuy nhiên chính sách này cũng gây ra

sự phẫn nộ cho giới đại tư bản tài chính, đại kinh doanh và một số mục tiêu thamvọng của các giai cấp này

Về chính trị

Dưới thời của Tổng thống Uynsơn tăng cường bóc lột công nhân và dân trại,khuyến khích công nghiệp chiến tranh để chạy đua vũ trang, chính sách phân biệtchủng tộc, đàn áp phong trào công nhân, mở các phiên tòa xét xử những người cộngsản Nhiều vụ tàn sát người da đen đã diễn ra ở Omaha, Elaine và nhất là ở Chicagô.Ngày 27/7/1919, tại Chicagô, bọn phân biệt chủng tộc đã giết chết 38 người, làm bịthương 520 người da đen khác nhằm ngăn chặn gia đình của họ gia nhập các nghiệpđoàn

Đến năm 1928, Hoover ứng cử viên của Đảng Cộng hòa trúng cử Tổng thống,

nhiều người Mỹ tin rằng ông ta sẽ làm được đều mà ông ta nói: “Chúng ta sẽ đi đến chỗ xóa sách nạn nghèo đói hơn bất cứ nước nào trên thế giới” [6tr109] Nhưng khi

Hoover cầm quyền được mấy tháng thì cuộc khủng hoảng nổ ra gây cho nước Mỹnhững hậu quả vô cùng to lớn

Đến cuộc bầu cử Tổng thống năm 1932, Đảng Cộng hòa đưa Hoover ra ứng cửcòn Đảng Dân chủ đưa F.Rudơven ra ứng cử Khi ứng cử F.Rudơven đưa ra đề án

“Chính sách mới” đã đánh bại Tổng thống Hoover_người của Đảng Cộng hòa Từnăm 1933, khi trở thành người đứng đầu Nhà Trắng, F.Rudơven bắt đầu thực hiện

chính sách của mình Tích cực can thiệp vào cuộc chiến, biến đạo luật “trung lập”

thành một danh từ trống rỗng Tuy nhiên, Quốc hội Mỹ đã chính thức tuyên chiếnsau sự kiện Trân Châu cảng (7/12/1941)

Về xã hội

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất nước Mỹ có những đều kiện thuận lợi cho pháttriển kinh tế, cải thiện đời sống cho người dân Tuy nhiên, vào giữa năm 1920những đều kiện ấy đã chấm dứt vì nhu cầu hàng hóa và sức mua của người dân Mỹgiảm sút Tình trạng khủng hoảng này đã làm cho đời sống nhân dân lao động Mỹngày càng khổ cực, số người thất nghiệp ngày càng gia tăng, phong trào đấu tranh

Trang 20

của công nhân diễn ra mạnh mẽ Năm 1919, ở Mỹ đã có hơn 4 triệu công nhân bãicông.

Đến năm 1929, cuộc khủng hoảng kinh tế nổ ra ở nước Mỹ đã làm cho tình hình

xã hội nước Mỹ trở nên rối ren, đời sống của người dân lao động khổ cực vô cùng,nạn thất nghiệp ngày một gia tăng Đứng trước nạn thất nghiệp và nghèo đói lantràn, phong trào của công nhân Mỹ bùng nổ và phát triển Những năm 1929 – 1934,

số người tham gia bãi công lên tới 3,5 triệu người “Các cuộc đi bộ vì đói” đầu tiên

có tính chất toàn quốc đã diễn ra của hàng chục vạn công nhân thất nghiệp ởOashinhton Để xoa diệu người dân chính quyền của F.Rudơven đã ban hành đạoluật về cứu tế xã hội Đạo luật này phần nào đã giải quyết được việc làm cho ngườilao động, góp phần duy trì chế độ dân chủ và bảo vệ quyền lợi cho người lao động

Chương 2: Mối quan hệ Anh – Pháp – Mỹ trước chiến tranh thế giới lần thứ II

2.1 Chính sách đối ngoại của Anh – Pháp – Mỹ trước nguy cơ thế chiến II bùng nổ

2.1.1 Chính sách đối ngoại của Anh trước nguy cơ thế chiến II bùng nổ

Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất nền kinh tế nước Anh suy giảm thì các nướcngoài châu Âu như Mỹ, Nhật không chịu nhiều hậu quả của chiến tranh, vươn lênmạnh mẽ Vị thế bá chủ của nước Anh bị lung lay Anh buộc phải nhân nhượng Mỹtại hội nghị Vécxai và hội nghị Oashinhton Anh cùng các nước đế quốc can thiệpvào nước Nga Xô Viết nhưng thất bại Đến ngày 8/8/1919, Anh kí hiệp định hòabình, công nhận nền độc lập của Apganixtan Trong thời kì Công đảng nắm chínhquyền, chính phủ của đảng này đã công nhận Liên Xô và có dự định ký kết với Liên

Xô Tháng 7/1922, Anh được Hội Quốc Liên trao cho quyền ủy trị đối với Palextin,kiểm soát tư pháp, đối nội, đối ngoại và đóng quân ở nước này

Đến năm 1926, Anh thành lập Khối Cộng đồng Anh Chính phủ Anh tiếp tụcchính sách câu kết với Mỹ nâng đỡ Đức, dùng Đức làm công cụ để tấn công Liên

Xô Năm 1927, chính phủ Bảo thủ cắt đứt quan hệ ngoại giao với Liên Xô Nhưngđến năm 1928 khi Công đảng trở lại cầm quyền, chính phủ Anh 1 lần nữa tái lập

quan hệ ngoại giao với Liên Xô Đến tháng 11/1931, chính phủ Anh ban bố “Quy

Trang 21

chế Wesminster” công nhận quyền tự do của các nước tự trị trong các lĩnh vực đối

nội và đối ngoại Mặt khác, Anh dùng chính sách bảo hộ thuế quan, ưu đãi buôn bántrong nội bộ đế quốc, chống lại sự cạnh tranh của các nước đế quốc khác, đã tạo cơhội cho giới tư bản lũng đoạn Anh phát triển, song lại tăng thêm mâu thuẫn với cácnước đế quốc khác

Nhìn chung trong những năm trước chiến tranh, mâu thuẫn giữa nước Anh vớicác nước phát xít Đức, Ý, Nhật ngày càng gia tăng nhưng chính phủ Anh vẫn tiếptục duy trì chính sách ngoại giao bảo thủ, mù quáng, lạnh nhạt với Liên Xô và vevãn khối phát xít Giới cầm quyền Anh trước sau đều cự tuyệt lời đề nghị từ phíaLiên Xô về một hệ thống an ninh chung, đều mà chính người dân Anh trong cuộctrưng cầu dân ý ngày 27/6/1935 mong muốn Còn đối với Đức: năm 1935, Anh kývới nước này hiệp ước Hải quân mà thực chất là dung túng cho Đức phát triển lực

lượng hải quân với quy mô lớn Chính phủ Anh tuyên bố cái gọi là “không can thiệp” mà thực chất là khuyến khích cho hành động xâm lược của Đức, Ý, Nhật và

hướng ngọn lửa chiến tranh về phía Liên Xô Tuy nhiên, do vai trò của Liên Xô nênAnh đã nhiều lần thay đổi thái độ Năm 1934, Anh đề nghị Liên Xô gia nhập HộiQuốc Liên và năm sau Anh cử phái đoàn do ngoại trưởng Antonio Eden sangMatxcơva đàm phán với I.V Stalin và V.M Môlôtôp Song từ năm 1936, Anh lạitìm mọi cách để gây ra cuộc chiến tranh Xô – Đức

Đến ngày 29/9/1938, Anh ký với Đức Hiệp định không xâm phạm lẫn nhau Câu

tuyên bố của Thủ tướng N Sămbéclanh với người Anh: “Tôi sẽ mang lại hòa bình cho các bạn” trở thành lời hức hẹn dối trá Có thể thấy rằng chính những hiệp định

này là đỉnh cao của chính sách đối ngoại phản động của nước Anh trong giai đoạnnày nhằm thức đẩy Đức tấn công Liên Xô

2.1.2 Chính sách đối ngoại của Pháp trước nguy cơ thế chiến II bùng nổ

Tháng 11/1919 Cơlêmăngxô lên làm thủ tướng, chính phủ Pháp tìm mọi cách đểgiải quyết vấn đề Đức theo hướng có lợi nhất cho mình Nhưng các nước Anh, Mỹlại không muốn làm yếu Đức thêm nữa Do vậy, chính phủ Pháp thi hành chính sáchchống Nga: cùng Anh, Mỹ can thiệp vũ trang chống Nga Xô Viết, liên minh với một

số nước khác bao vây kinh tế Nga Đồng thời thực hiện chính sách đàn áp thuộc địa

Trang 22

Tuy nhiên, những chính sách đối ngoại này của Pháp không thu lại nhiều kết quả:Pháp phải rút quân khỏi vùng Rua và thất bại trong âm mưu chống Liên Xô.

Năm 1924, Liên minh cánh tả do Đảng Xã hội là nòng cốt lên cầm quyền Chínhphủ này ban bố lệnh ân xá…rút quân khỏi vùng Rua, chấp nhận kế hoạch Đaoxơ,đặt quan hệ ngoại giao với Liên Xô…Tuy nhiên, những hành động thiên hữu (kýhiệp ước Lôcácnô với Đức) đã làm suy giảm uy tín của nước Pháp trên trường quốctế

Ngày 27/7/1929, sau khi Bơriăn lên cầm quyền, ông ta muốn thành lập khối liênminh các nước Tây Âu dưới sự lãnh đạo của Pháp Nhưng kế hoạch không thực hiệnđược do vấp phải sự chống đối của người dân trong nước và không được 1 số nước

tư bản chủ yếu ủng hộ, đặc biệt là Anh, Mỹ [1,tr121] Tuy nhiên sự kiện này đánhdấu thời kỳ phản động của giới cầm quyền ở Pháp trước khi cuộc khủng hoảng kinh

tế nổ ra Đến tháng 11/1932, chính phủ của Eriô ký hiệp ước không xâm phạm vớiLiên Xô Tuy nhiên, đến tháng 9/1938, Pháp cùng với Anh, Đức, Ý ký hiệp ướcMuních đã gây ra những làn sóng phản kháng mạnh mẽ từ phía Đảng Cộng sản vàđông đảo quần chúng nhân dân Pháp Do những hành động phản bội của giới cầmquyền Pháp, đến đây nền chính trị Pháp đi vào thời kỳ phản động Cùng với Anh và

Mỹ làm ngơ trước sự lớn mạnh của chủ nghĩa phát xít và hướng cuộc chiến tranh vềphía của Liên Xô

2.1.3 Chính sách đối ngoại của Mỹ trước nguy cơ thế chiến II bùng nổ

Ngày 8/1/1918, Tổng thống Mỹ Uynxơn đưa ra kế hoạch 14 điểm với nội dungchủ yếu là quyền tự quyết cho các dân tộc, các nước tham chiến phải giải trừ quân

bị, thành lập một tổ chức quốc tế có khả năng giải quyết các xung đột giữa các nướctrên thế giới bằng con đường ngoại giao hòa bình Ngoài ra, kế hoạch này cũng đặt

ra nhiều điều kiện tiên quyết với Đức để bắt đầu đàm phán, các dân tộc bị Áo –Hung và Thổ Nhĩ Kỳ thống trị có quyền tự quyết nếu họ muốn tách ra thành cácquốc gia độc lập Về sau, trong ngày độc lập 4/7/1918, Uynxơn nói rõ và gọn hơnmục tiêu của Mỹ trong chiến tranh Tiếp đó, Tổng thống Uynxơn vượt Đại TâyDương sang dự Hội nghị Pari

Ngày đăng: 20/06/2016, 20:46

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w