Nhìn lại các loại hình doanh nghiệp hiện nay mà pháp luật Việt Nam cho phép thành lập và hoạt động, tuy mỗi loại đều có những điểm mạnh nhất định đòi hỏi các nhà kinh doanh cần nắm bắt đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: Tiến sĩ VŨ ĐẶNG HẢI YẾN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu kiến thức lý thuyết, nghiên cứu khảo sát
tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Vũ Đặng Hải Yến Các
số liệu, kết quả trong bài luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
Học viên
Trần Ngọc Báu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Vũ Đặng Hải Yến đã tận tình hướng dẫn và
quý thầy cô khoa sau đại học Viện đại học mở Hà Nội đã truyền dạy những kiến thức quý báu trong chương trình cao học và giúp đỡ kinh nghiệm cho tôi để hoàn thành bản luận văn này
Học viên
Trần Ngọc Báu
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam khi chúng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc giải phóng mọi năng lực sản xuất của xã hội theo hướng khai thác các tiềm năng sẵn có về vốn, lao động, trình
độ quản lý và các nguồn lực vật chất cần thiết khác cho nhu cầu đầu tư và phát triển của đất nước là một nhân tố quan trọng bảo đảm cho việc thực hiện thành công các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam Trong tiến trình đẩy mạnh việc khai thác các nguồn lực quốc gia, chúng ta không thể không tính đến yếu tố nội lực Nhìn lại các loại hình doanh nghiệp hiện nay mà pháp luật Việt Nam cho phép thành lập và hoạt động, tuy mỗi loại đều có những điểm mạnh nhất định đòi hỏi các nhà kinh doanh cần nắm bắt để khai thác và vận dụng một cách linh hoạt phù hợp với điều kiện và sở thích của mình; nhưng chúng ta không thể phủ nhận những lợi thế hơn hẳn của loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác Chính những
ưu điểm vượt trội như thế, một mặt đã tạo nên lực hút rất lớn của xã hội đầu tư vào hình thức kinh doanh này, mặt khác cũng đòi hỏi nhà nước ta cần có chính sách tạo hành lang pháp lý thuận lợi, an toàn cho các nhà đầu tư khi thành lập các công ty cổ phần để kinh doanh, nhất là việc hình thành một cơ chế quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý công ty cổ phần ở Việt Nam
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần tại Việt Nam nói riêng có điều kiện thuận lợi để phát triển, Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 được Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 sẽ thay thế cho Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày
29 tháng 11 năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung Điều 170 của Luật Doanh nghiệp số 37/2013/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2013 So với Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014 vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp đã
và đang đi vào cuộc sống của Luật Doanh nghiệp năm 2005, nhưng đồng thời đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của Luật cũ, tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, phù hợp với thông lệ quốc tế Một trong những sửa đổi quan trọng của Luật Doanh nghiệp 2015 là những quy định
Trang 6về vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là vốn trong công ty cổ phần Sự ra đời của Luật doanh nghiệp 2014 là một bước tiến quan trọng Tuy nhiên, vốn của công ty cổ phần
là vấn đề phức tạp, không chỉ liên quan đến bản chất kinh tế, khả năng tài chính mà còn là yếu tố xác định vị thế, năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần trên thị trường, liên quan đến hàng loạt các vấn đề pháp lý như quyền sở hữu, chuyển nhượng, thế chấp Không thể không nhận thấy rằng vốn của công ty cổ phần là cơ
sở vật chất cho hoạt động của nó, có thể nói sự tồn tại và độ tin cậy của một công ty
cổ phần trước các đối tác chủ yếu phụ thuộc vào cấu trúc vốn và tư cách pháp lý của nó Những yếu tố đó được các đối tác của công ty quan tâm đến nhiều nhất Như vậy, vốn trong doanh nghiệp nói chung và trong công ty cổ phần nói riêng là một vấn đề hết sức quan trọng, nó là yếu tố cơ bản để quyết định sự ra đời và tồn tại của doanh nghiệp Trong khi đó, , dưới góc độ pháp lý, quy định về vốn trong công ty cổ phần còn nhiều phức tạp, nó chưa được quy định một cách chi tiết, cụ thể dẫn đến chưa có sự thống nhất trong việc áp dụng luật Vì vậy, việc nghiên cứu
để góp phần hiểu rõ hơn những quy định của pháp luật về vốn của doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 2014 đặc biệt là công ty cổ phần, đồng thời đưa
ra những định hướng cơ bản cho sự phát triển của Luật Doanh nghiệp Việt Nam là điều cần thiết Điều đó không chỉ có ý nghĩa thiết thực cho người làm công tác nghiên cứu khoa học pháp lý, các cơ quan quản lý nhà nước mà còn đối với các doanh nghiệp, các nhà đầu tư đang và sẽ quan tâm tới hệ thống pháp luật về doanh
nghiệp Việt Nam Với cách tiếp cận như vậy cho nên, chúng tôi chọn đề tài Chế độ
pháp lý về vốn trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam" để nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, có nhiều đề tài, công trình cũng như tài liệu liên quan đến doanh nghiệp, công ty cổ phần nói chung và trong đó có đề cập đến vấn đề vốn trong công
ty cổ phần Có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:
(i) Cấu trúc vốn và sự chi phối của cấu trúc vốn đối với cơ cấu tổ chức quản
lý của công ty cổ phần, luận văn thạc sĩ luật học, Hoàng Thị Giang ; PGS TS Lê Hồng Hạnh hướng dẫn, Hà Nội, 2003
(ii) Một số khía cạnh pháp lý về công ty cổ phần dưới góc độ so sánh giữa
pháp luật Việt Nam và pháp luật Cộng hoà Pháp, luận văn thạc sĩ luật học , Bạch Thị Huệ Thoa ; Người hướng dẫn: TS Phan Chí Hiếu, GS Herve Lecuyer, Hà Nội, 2004
Trang 7(iii) Những khía cạnh pháp lý cơ bản về vốn trong công ty cổ phần theo Luật
Doanh nghiệp 2005, khoá luận tốt nghiệp, Nguyễn Thị Thuỳ Dương; TS Trần Bảo Ánh hướng dẫn, Hà Nội, 2006
(iv) Những vấn đề lý luận và thực tiễn về vốn của công ty cổ phần ở Việt
Nam, luận văn thạc sĩ luật học, Đào Thị Hằng ; TS Đoàn Trung Kiên hướng dẫn, Hà Nội, 2012
Hầu hết, các công trình nghiên cứu nhiều vấn đề về doanh nghiệp dưới nhiều góc độ, nhưng nhìn chung chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về chế độ pháp lý
về vốn trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam, đặc biệt là nghiên cứu dưới góc độ Luật doanh nghiệp 2014
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một số nội dung về chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần hoạt động theo pháp luật Việt Nam nhằm làm
rõ những quy định mới về vốn của công ty cổ phần đồng thời hoàn thiện về mặt lý luận những vấn đề mà hiện đang còn bỏ ngỏ hoặc mới chỉ đề cập ở mức khái quát
và đưa ra những định hướng phát triển của luật pháp Việt Nam
Để đạt được mục đích đó, luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau: làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần; thực trạng chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam; xây dựng các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam liên quan chế độ pháp lý
về vốn trong công ty cổ phần
4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn chỉ đề cập một trong những vấn đề cơ bản trong quy chế điều chỉnh vốn đối với các loại hình doanh nghiệp thuộc đối tượng áp dụng của Luật Doanh nghiệp 2014, đó là chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần bao gồm cơ chế góp vốn; chuyển nhượng, mua lại cổ phần; thay đổi vốn và vấn đề sở hữu vốn trong công
ty cổ phần
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận chung để nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trên nền tảng phương pháp đó, luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp so sánh, thống kê
6 Kết luận của luận văn
Trang 8Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của chế độ pháp lý về vốn trong công
ty cổ phần
Chương 2: Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp 2014
Chương 3: Thực trạng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện những vấn đề pháp
lý về vốn trong công ty cổ phần ở Việt Nam
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ VỐN
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1 Bản chất của công ty cổ phần
Cũng giống như các hiện tượng kinh tế - xã hội khác, công ty ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện xã hội nhát định Vào khoảng thế kỷ thứ XIII, ở các thành phố lớn của một số nước Châu Âu - nơi có điều kiện địa lý thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán đã xuất hiện các công ty thương mại đối nhân đầu tiên Lúc này, các thương gia liên kết dưới hình thức một hãng buôn hay một công ty để hùn vốn đóng những con thuyền vượt đại dương, hoặc buôn bán xa hơn ở những lãnh thổ mới khám phá Trong quá trình cùng nhau kinh doanh, buôn bán theo phường hội, các thương gia rất cần niềm tin, sự sống chết có nhau Yếu tố về nhân thân, sự quen biết mang tính chất "chọn mặt gửi vàng" được đặt lên hàng đầu Càng về sau, sự giao lưu thương mại được rộng mở, nền sản xuất hàng hóa - tiền tệ ngày càng phát triển, với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cao nhất, nhiều nhà kinh doanh đã bắt đầu cạnh tranh quyết liệt nhằm tìm kiếm thị trường, nên mục tiêu nâng cao năng lực về vốn luôn được các nhà kinh doanh chú ý Đến lúc này, yếu tố về vốn đã chi phối mạnh mẽ hoạt động của các công
ty Vì thế, bước sang thế kỷ thứ XVIII và XIX cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã có rất nhiều công ty cổ phần đã lần lượt ra đời ở Châu Âu
và Bắc Mỹ Sang thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, công ty ngày càng phát triển mạnh mẽ về số lượng, cơ cấu tổ chức và hình thức hoạt động, nổi lên là những công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia
Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, nghĩa là khi thành lập và trong suốt quá trình hoạt động các thành viên công ty không quan tâm đến nhân thân người góp vốn mà chỉ quan tâm đến phần góp vốn của họ Bởi vì đối với loại hình công ty này tư cách thành viên công ty và các quyền của cổ đông trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của công ty được quyết định trước hết bởi số lượng các cổ phiếu của công ty mà người đó nắm giữ Công ty cổ phần được quyền phát hành chứng khoán ra công chúng Với tính chất này, công ty cổ phần là một hình thức tổ chức đặc biệt, năng động có thể sử dụng để huy động vốn thông qua các giao dịch trên sàn chứng khoán
Từ những phân tích trên, luận văn có thể đưa ra khái niệm và đặc điểm công ty
Trang 10cổ phần như sau:
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp thuộc công ty đối vốn Vốn của công
ty cổ phần được chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu Việc góp vốn vào công ty được thực hiện bằng cách mua cổ phiếu Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi giá trị cổ phiếu mà họ sở hữu Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân độc lập, mang tính chất chất tổ chức cao, có cấu trúc vốn phức tạp Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn
Đặc điểm của công ty cổ phần:
Về số lượng thành viên: Hầu hết pháp luật các nước đều quy định số lượng thành
viên tối thiểu mà không giới hạn số lượng tối đa (theo quy định của Luật Công ty 1990 của Việt Nam thì số lượng thành viên tối thiểu trong suốt quá trình hoạt động của công ty
cổ phần là 7 và theo Luật Doanh nghiệp 1999, Luật doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp 2014 thì số lượng thành viên tối thiểu của công ty cổ phần là 3) Đặc điểm này thể hiện đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần là loại hình công ty đối vốn nên có sự liên kết của nhiều cổ đông tham gia góp vốn vào công ty cổ phần
Về hình thức góp vốn: Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần
bằng nhau gọi là cổ phần Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu, người mua
cổ phiếu gọi là cổ đông, lợi nhuận của được hằng năm từ cổ phần gọi là cổ tức Việc góp vốn vào công ty cổ phần được thực hiện bằng cách mua cổ phiếu, mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu
Về huy động vốn: Trong quá trình hoạt động của mình, công ty cổ phần được
quyền phát hành chứng khoán theo quy định của pháp luật về phát hành chứng khoán
ra công chúng để huy động vống Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: đối với công ty trách nhiệm hữu hạn khi muốn tăng vốn điều lệ của mình thì phải thực hiện bằng cách tăng thêm phần vốn góp của các thành viên, hoặc kết nạp thành viên mới, công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần Trong khi đó khả năng huy động vốn để tăng thêm vốn điều lệ của công ty cổ phần là rất lớn, công ty cổ phần được phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn Đây là quyền năng chỉ có ở CTCP
Về chuyển nhượng phần vốn góp: Phần vốn góp của các cổ đông được thể hiện
dưới hình thức cổ phiếu Nếu như trong công ty TNHH việc chuyển nhượng phần vốn góp của các thành viên bị hạn chế nhất định thì trong CTCP, cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành được xem là “hàng hóa" nên người sở hữu các "hàng hóa" này có
Trang 11quyền tự do chuyển nhượng (chỉ trừ một số trường hợp đặc biện mới bị hạn chế chuyển nhượng) Các cổ đông muốn chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số cổ phiếu của mình cho các cổ đông khác đều được thực hiện một cách dễ dàng theo quy định của điều lệ công ty, trừ những trường hợp pháp luật hạn chế quyền chuyển nhượng cổ phiếu
Như vậy, so sánh với các loại hình công ty khác thì công ty cổ phần có nhiều ưu việt hơn, khắc phục được những hạn chế của loại hình công ty đối nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn Với loại hình công ty cổ phần có thể huy động được nguồn vốn lớn thỏa mãn nhu cầu kinh doanh miễn là sản xuất kinh doanh của công ty có hiệu quả, mức cổ tức đủ sức hấp dẫn những người có vốn, đồng thời chia nhỏ rủi ro cho các thành viên Tuy vậy, do công ty cổ phần thường có quy mô kinh doanh lớn, số lượng thành viên đông nên quản lý, điều hành sẽ gặp nhiều phức tạp Kết quả hoạt động của công ty có ảnh hưởng nhiều đến ổn định xã hội vì công ty được công khai phát hành cổ phiếu huy động vốn trong xã hội và số đông các thành viên góp vốn có thể là người lao động
1.2 Vốn và cấu trúc vốn trong công ty cổ phần
1.2.1 Khái niệm vốn trong công ty cổ phần
Đối với doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng, vốn đóng một vai trò hết sức quan trọng Nó là điều kiện, là cơ sở thiết yếu để công ty ra đời và hoạt động trên thương trường Công ty cổ phần có quy mô càng lớn thì số vốn càng nhiều,
số vốn càng nhiều thì khả năng cạnh tranh và uy tín của công ty trên thị trường càng cao Vốn quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động, quan hệ nội bộ và quan hệ với các đối tác bên ngoài Trong mối quan hệ nội bộ, vốn của công ty được xem là cội nguồn của quyền lực Quyền lực trong công ty cổ phần sẽ thuộc về những ai giữ phần lớn số vốn trong công ty Trong quan hệ với bên ngoài, vốn của công ty cổ phần chỉ rõ thực lực tài chính của công ty Khác với nhiều yếu tố khác, vốn trong công ty cổ phần là yếu tố năng động nhất Các quy luật kết quả thị trường chỉ ra rằng cùng với sự lưu thông hàng hóa là sự lưu thông tiền tệ, tức là sự chu chuyển các nguồn vốn Sự phát triển của công ty cổ phần tỷ lệ thuận với sự luân chuyển các nguồn vốn trong nền kinh
tế Sự vận động của vốn trong công ty cổ phần vừa chịu sự chi phối khách quan của các quy luật kinh tế, vừa bị ảnh hưởng bởi ý chí chủ quan của con người Điều này đặt
ra một đòi hỏi là con người phải tạo ra cách thức góp vốn, cách tổ chức và quản lý vốn
để có thể đáp ứng được sự vận động linh hoạt của vốn Sự linh hoạt trong vận động của vốn vừa phải thích ứng với yêu cầu đòi hỏi đa dạng của nhà đầu tư, vừa không mất
Trang 12đi bản chất vốn có của công ty cổ phần Điều đó có nghĩa là phải tạo cho bản thân công ty cổ phần khả năng chuyển dịch các phần vốn góp một cách dễ dàng song tư cách pháp nhân của công ty không vì sự chuyển nhượng đó mà bị thay đổi
Trong lịch sử phát triển kinh tế, khái niệm vốn được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Các nhà kinh tế học thuộc nhiều trường phái kinh tế đi trước C.Mác đã dày
công nghiên cứu vốn thông qua phạm trù tư bản và đi đến kết luận: vốn là phạm trù
kinh tế
Kế thừa, chọn lọc tư tưởng của các nhà tiền bối, khi nghiên cứu sự chuyển hóa của tiền thành tư bản, C.Mác đã khẳng định: "Như vậy là giá trị được ứng ra lúc ban đầu không những được bảo tồn trong lưu thông, mà còn thay đổi đại lượng của nó, còn cộng thêm một giá trị thặng dư, hay đã tự tăng thêm gia trị Chính sự vận động ấy biến giá trị đó thành tư bản" [6, tr.228]
Khẳng định trên của C.Mác đã vạch rõ bản chất và chức năng của tư bản (vốn) trong phát triển kinh tế Bản chất của tư bản là giá trị; chức năng của tư bản là sinh lời Tuy nhiên, để giá trị trở thành tư bản và sinh lời phải trải qua sự vận động Thông qua sự vận động, tư bản sinh sôi nảy nở và lớn lên không ngừng
Ngày nay, do yêu cầu cao của sự phát triển, vốn không chỉ là yếu tố cần thiết đối với quá trình sản xuất của các nước phát triển mà còn là yếu tố đóng vai trò quan trọng của hầu hết các quốc gia đang phát triển và kém phát triển Vì vậy, phạm trù vốn trong phát triển kinh tế vẫn được các nhà kinh tế học tiếp tục nghiên cứu và tiếp cận nó trên nhềiu bình diện khác nhau
Dưới góc độ tài chính - tiền tệ, trong ấn phẩm chú giải thuật ngữu kế toán Mỹ,
tác giả Hồ Văn Mộc và Điêu Quốc Tín cho rằng, vốn là "tổng số tiền biểu hiện nguồn gốc hình thành của tài sản được đầu tư trong kinh doanh để tạo ra thu nhập và lợi tức" [19, tr.29]
Dưới góc độ nhân tố đầu vào, trong tác phẩm Lịch sử tư tưởng kinh tế, I.Đ.Udanxốp và F.I.Pôlianxki kết luận: Vốn là "một trong ba yêu tố đầu vào phục vụ sản xuất (lao động, đất đai, vốn) Vốn bao gồm các sản phẩm lâu bền được chế tạo để phục vụ sản xuất tức là máy móc, công cụ, thiết bị, nhà cửa, kho dự trữ thành phẩm hoặc bán thành phẩm" [25, tr.11]
Ở Việt Nam, cuối Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học cũng chỉ ra rằng: Vốn là "tiền của bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản xuất kinh doanh nhằm sinh lợi" [27, tr.1126]
Trang 13Những cách tiếp cận trên đây về vốn đã nêu rõ tính đa dạng, nhiều hình thái tồn tại của vốn Vốn có thể coi là tiền hay tài sản được giá trị hóa Mặc khác, vốn tư cách là vốn thì tiền hay tài sản phải được đầu tư vào hoạt động sản xuất - kinh doanh để tạo ra hàng hóa, dịch vụ nhằm mục tiêu có thu nhập trong tương lai Nghĩa là, vốn luôn gắn với sự vận động và đảm nhiệm chức năng sinh lời
Bản chất của vốn
Để hiểu rõ hơn bản chất của vốn cần nhận thức dướic góc độ sau:
Thứ nhất, về các hình thái biểu hiện của vốn
Xét về mặt trừu tượng, vốn là hình thành giá trị Giá trị của nó được ứng ra để chuyển hóa nó thành các yếu tố cấu thành quá trình sản xuất, trải qua quá trình sản xuất, giá trị lớn lên không ngừng
Xét về mặt cụ thể, vốn được biểu hiện rất phong phú, đa dạng, bao gồm: tài sản hữu hình, tài sản vô hình và tài sản tài chính Những tài sản này tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, đồng thời làm tăng giá trị
Như vậy, về mặt nhận thức, có thể thấy rằng, vốn tồn tại dưới nhiều hình thái cụ thể: tài sản hữu hình, tài sản vô hình và tài sản tài chính Nhưng, hình thái giá trị - tiền
tệ với tư cách vốn là linh hoạt, biến hóa nhất trong nền kinh tế thị trường Thị trường không những là nơi diễn ra các hoạt động đa dạng của vốn mà còn là nơi để vốn bộc lộ khả năng sinh lời của chúng Khả năng sinh lời vừa là mục đích cuối cùng vừa là đầu
tư kinh doanh đồng vốn, vừa là phương tiện để vốn tiếp tục vận động với quy mô ngày càng được mở rộng ở chu kỳ kinh doanh tiếp theo Sự vân động của vốn trên thị trường tuân thủ quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường Song với khả năng nhận thức, con người có thể nắm bắt, vận dụng quy luật khách quan, tạo ra những kênh huy động vốn một cách có hiệu quả, đáp ứng mục đích sản xuất - kinh doanh của mình
Thứ hai, vốn là hàng hóa đặc biệt
Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là hàng hóa Muốn phát triển sản xuất - điều kiện đòi hỏi phải có vốn đầu tư Nhu cầu vốn đầu tư được xe là cơ sở phát sinh quan hệ cung - cầu về vốn trên thị trường Như vậy, vốn hiển nhiên là đối tượng trao đổi, mua bán trên thị trường Với tư cách là hàng hóa, vốn có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng; có chủ sỗ hữu và là một trong những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất
Trang 14Tính đặc biệt của "hàng hóa vốn" thể hiện ở chỗ: vốn có khả năng sinh lời Với
tư cách là hàng hóa đặc biệt, quyền sửu hữu vốn và quyển sử dụng vốn tách rời nhau Đặc điểm nay của vốn không có ở các loại hàng hóa thông thường Chủ sở hữu vốn sẽ không nhận được một khoản lợi tức nào (giá bán hay lãi suất quyền sử dụng vốn) khi bán quyền sử dụng vốn cho người mua (các nhà đầu tư) Nhà đầu tư khi mua quyền sử dụng vốn phải bỏ ra một khoản gọi là chi phí (giá mua quyền sử dụng vốn) Nhờ có sự tách rời quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn làm cho vốn trở nên linh hoạt trong lưu thông và sinh lời
Thứ ba, vốn có quan hệ mật thiết với thời gian
C.Mác viết: tiền chỉ được đem n hượng lại với điều kiện, một là, nó sẽ quay trử
về điểm xuất phát sau một kỳ nhất định, và hai là nó sẽ quay trở về điểm đó ovứi tư cách là tư bản đã thực hiện, nghĩa là sau khi đã thực hiện được cái giá trị sử dụng của
nó, thực hiện được các khả năng của nó là sản xuất ra giá trị thặng dư [6, tr.525]
Như thế, chủ sở hữu vốn nhượng lại quyền sử dụng vốn cho nhà đầu tư trong một khoảng thời gian xác định Sau khi vốn trải qua chu kỳ vận động, nó quay về tay chủ sở hữu, với một lượng giá trị lớn hơn Đó chính là lợi tức của chủ sở hữu vốn hay
là lãi suất phải trả của nhà đầu tư khi sử dụng vốn Mức lãi suất được tính bằng tỷ lệ phần trăm so với lượng vốn khi chủ sở hữu vốn nhượng, bán quyền sử dụng vốn theo đơn vị thời gian (quý, năm ), phù hợp với nền kinh tế thị trường Sự tách rời giữa quyền sử hữu vốn và quyển sử dụng vốn, gắn với khoảng thời gian xác định tất yếu dẫn đến quá trình tích tụ, tập trung vốn từ những khoản tiết kiệm nhỏ, lẻ; những đồng tiền chưa có cơ hội đầu tư trở thành vốn và chuyển chúng đến tay các nhà đầu tư Trong nền kinh tế thị trường, khi tiến hành hoạt động sản xuất - kinh doanh, các nhà đầu tư luôn chú trọng tới yếu tố thời gian Các yếu tố như giá cả, lạm phát, lãi suất, tỷ giá biến động thường xuyên, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Bất kỳ nhà đầu tư nào, khi xác định hiệu quả đầu tư cũng phải đưa toàn bộ chi phí và thu thập về cùng một thời điểm để so sánh, tính toàn các chỉ tiêu lợi nhuận, tỷ suất doanh lợi/vốn, tỷ suất doanh lợi/doanh thu, vòng quay của đồng vốn Điều đó cắt nghĩa được tại sao vốn luôn có giá trịvề mặt thời gian (gắn với thời gian)
Từ những phân tích trên dây, có thể hiểu, vốn là tổng giá trị những tài sản (tài
sản hữu hình, tài sản vô hình và tài sản tài chính) tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất - kinh doanh nhằm mục tiêu mang lại thu nhập trong tương lại
Về khái niệm vốn công ty cổ phần, Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2014 quy
Trang 15định: “Vốn điều lệ công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán các loại Vốn điều lệ của công ty cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và ghi trong Điều lệ công ty”
Như vậy, vốn là những gì mà nhà đầu tư bỏ ra để hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận Vốn ở đây có thể là tiền hoặc những tài sản khác Đặc biệt khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, vôn được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau và quan niệm về vốn đã có những thay đổi căn bản Để thực hiện các hoạt động kinh doanh, ngoài nguồn vốn bằng tiền, còn huy động nhềiu nguồn vốn mà không phải bằng tiền nhưng có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, vốn có thể là nguồn tài sản (kể cả sức lao động) để làm tăng giá trị của doanh nghiệp, hoặc vốn có thể là toàn bộ hàng hóa, tài sản, những sở hữu khác nhau được dùng làm ra lợi nhuận
Vì vậy, trong nền kinh tế thị trường ngoài nguồn vốn là tài sản hoặc quyền tài sản thì lợi thế, uy tín, danh dự và thị phần trên thị trường mà doanh nghiệp đó đang có cũng được coi là vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn này không thể xác định và tìm thấy ngay trước mặt, mà nằm ở lợi thế tương lai có vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Như vậy, ngoài nguồn vốn bằng tiền với chức năng phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ, là thước đo trong quá trình lưu thông, trao đổi phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp còn có nguồn vốn không phải bằng tiền Như vậy, vốn bao gồm nhiều loại khác nhau, song điểm chính nhất vốn là tất cả giá trị (vật chất, phi vật chất) được doanh nghiệp sử dụng để làm ra lợi luận đó là tiền, giấy tờ được trị giá bằng tiền, tài sản, quyền tài sản, lao động, chất xám, kỹ năng, lợi thế của doanh nghiệp
Cũng như các chủ thể kinh doanh khác, để thực hiện các hoạt động kinh doanh Công ty cổ phần phải có vốn Vốn của công ty cổ phần là vẫn đề phức tạp, không chỉ liên quan đến bản chất kinh tế, khả năng tài chính mà còn là yếu tố xác định vị thế, năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần trên thị trường, liên quan đến hàng loạt các vấn đề pháp lý như quyền sở hữu, chuyển nhượng, thế chấp Không thể không nhận thấy rằng vốn của công ty cổ phần là cơ sở vật chất cho hoạt động của nó, có thể nói
sự tồn tại và độ tin cậy của một công ty cổ phần trước các đối tác chủ yếu phụ thuộc vào cấu trúc vốn và tư cách pháp lý của nó Những yếu tố đó được các đối tác của công ty quan tâm đến nhiều nhất
1.2.2 Cấu trúc vốn trong công ty cổ phần
Trang 16Trong công ty cổ phần, cấu trúc vốn phản ánh vị thế, quy mô, uy tín của công ty
cổ phần trên thị trường Một cấu trúc vốn mềm dẻo, linh hoạt sẽ đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của các nhà đầu tư, đáp ứng được các hoạt động kinh doanh của công ty
cổ phần Vốn của công ty cổ phần bao gồm: vốn do cổ đông góp dưới dạng mua cổ phần được xác định là vốn điều lệ và vốn vay dưới dạng các hợp đồng tín dụng, hoặc phát hành trái phiếu Mỗi bộ phận nằm trong cấu trúc vốn của công ty cổ phần có những đặc điểm, vai trò và tính chất riêng, thể hiện đúng bản chất của nó, đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau
Có thể hiểu, cấu trúc vốn của công ty cổ phần là một chỉnh thể bao gồm các bộ
phận hợp thành vốn của công ty và có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau
Cấu trúc vốn của công ty cổ phần được xét từ hai phương diện pháp lý và kinh
tế Ở đây tác giả chỉ làm rõ cấu trúc vốn của công ty cổ phần dưới góc độ pháp lý Cấu trúc vốn của công ty cổ phần bao gồm: Vốn điều lệ và vốn vay Tuy nhiên, hoạt động thực
tế của công ty cổ phần có một loại vốn đó là vốn pháp định, vậy vốn pháp định nằm trong cấu trúc vốn của công ty cổ phần không?
Theo Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải
có để thành công ty do pháp luật quy định đối với từng ngành nghề Như vậy, theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005 vốn pháp định là một điều kiện quan trọng để thành lập công ty Muốn thành lập công ty các nhà đầu tư bắt buộc phải có vốn điều lệ tối thiểu phải bằng hoặc lớn hơn mức vốn pháp định quy định đối với ngành nghề đăng ký kinh doanh
Thực tiễn thực hiện Luật doanh nghiệp 2005 cho thấy, việc quy định về vốn pháp định mang tính hình thức, bất hợp lý Thực chất vốn pháp định của nhiều công ty chỉ là vỏ bao bên ngoài, không có thật dẫn đến tình trạng vốn pháp định "ma" đã được hợp pháp hóa khiến cho các đối tác nhầm lẫn Mặt khác việc quy định vốn pháp định với các thủ tục phức tạp, gây phiền hà cho các nhà đầu tư Nếu đặt ra mức vốn pháp định cao thì cản trở đầu tư, ảnh hưởng đến việc thành lập công ty Có những nhà đầu
tư có khả năng quản lý, có bí quyết kinh doanh nhưng do mức vốn thấp hơn vốn pháp định nên đã không thành lập được công ty để thực hiện ý tưởng đầu tư kinh doanh của mình Ngược lại, nếu quy định vốn pháp định thấp thì điều này làm mất đi ý nghĩa thực hiện quản lý Nhà nước đối với công ty cổ phần trong thành lập, đăng ký kinh doanh và bảo vệ lợi ích của các chủ nợ Mặt khác, vốn pháp địnhh không phản ánh giá trị thực của công ty cổ phần khả năng kinh doanh, khả năng trả nợ không phụ thuộc
Trang 17vào vốn pháp định mà phụ thuộc vào năng lực tài chính thực sự của công ty Do đó,
Luật Doanh nghiệp 2014 về cơ bản đã bỏ định nghĩa vốn pháp định Theo đó,
cơ quan nhà nước quản lý việc đăng ký kinh doanh về lĩnh vực này theo hình thức
"tiền đăng hậu kiểm" Đây là bước đột phá trong thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh, trong việc gỡ bỏ rào chắn về vốn để các nhà đầu tư có cơ hội đầu tư vào những ngành nghề kinh doanh phù hợp với khả năng của họ Việc bỏ bốn pháp định là hoàn toàn phù hợp với cải cách hành chính trong việc quản lý doanh nghiệp, là bước thực hiện việc chuyển đổi từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm Tuy nhiên, việc bãi bỏ vốn pháp định không phải là bỏ hẳn, cũng không đồng nghĩa với sự buôn lỏng quản lý Nhà nước Với một số ngành nghề kinh doanh như: tiền tệ, bảo hiểm, chứng khoán, kinh doanh bất động sản vẫn cần có quy định về vốn pháp định Nghị định số 59/2006/NĐ-
CP của Chính phủ quy định 16 nhóm ngành nghề, dịch vụ đòi hỏi phải có vốn pháp định Ví dụ: Trong lĩnh vực chứng khoán như bảo lãnh phát hành chứng khoán vốn pháp định quy định là 165 tỷ đồng; kinh doanh dịch vụ đòi nợ vốn pháp định là 2 tỷ đồng Đây là những ngành kinh doanh đặc thù, rủi ro cao Để đảm bảo an toàn cho các nhà đầu tư, pháp luật quy định vốn pháp định đối với những ngành nghề này
Như vậy, vốn pháp định không nằm trong cấu trúc vốn cua công ty cổ phần, việc quy định vốn pháp định chỉ là điều kiện thành lập và đăng ký kinh doanh Vốn pháp định không thể phản ánh khả năng tài chính của công ty cổ phần
Vì vậy, dưới góc độ pháp lý cấu trúc vốn của công ty cổ phần được xem xét ở hai bộ phận: Vốn điều lệ và vốn vay
lệ của công ty cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty.[ khoản 1, Điều 111] Trong đó, Cổ phần đã bán là số cổ phần được quyền chào bán đã được các cổ đông thanh toán đủ cho công ty Tại thời điểm đăng ký thành lập doanh
Trang 18nghiệp, cổ phần đã bán là tổng số cổ phần các loại đã được đăng ký mua Cổ phần được quyền chào bán của công ty cổ phần là tổng số cổ phần các loại mà Đại hội đồng
cổ đông quyết định sẽ chào bán để huy động vốn Số cổ phần được quyền chào bán của công ty cổ phần tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp là tổng số cổ phần các loại mà công ty sẽ bán để huy động vốn, bao gồm cổ phần đã được đăng ký mua và cổ phần chưa được đăng ký mua Cổ phần chưa bán là cổ phần được quyền chào bán và chưa được thanh toán Tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp, cổ phần chưa bán là tổng số cổ phần mà chưa được các cổ đông đăng ký mua
Như vậy, điểm nhất quán ở đây là tài sản khi được các cổ đông góp và ghi vào điều lệ công ty cổ phần, gọi là vốn điều lệ của công ty cổ phần
Trong cấu trúc của công ty cổ phần, vốn điều lệ đóng vai trò quan trọng, là chỉ
số kinh tế phản ánh năng lực tài chính Tuy nhiên, vốn điều lệ không hẳn phản ánh giá trị thực của công ty cổ phần vì giá trị thực của công ty cổ phần có thể cao hoặc thấp hơn vốn điều lệ Thực tế, vốn điều lệ chỉ phản ánh một phần giá trị của công ty, giá trị của công ty phụ thuộc vào nhiều chỉ số khác trong đó có vốn điều lệ Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau Các cổ đông góp vốn vào công ty cổ phần bằng cách mua cổ phần mà hình thức thể hiện là cổ phiếu
Vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là
cổ phần Cổ phần là phần chia nhỏ nhất vốn điều lệ của công ty Chủ thể sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông, có thể sở hữu một hoặc nhiều cổ phần Cổ phần là căn cứ pháp lý chứng minh tư cách của cổ đông Quyền, nghĩa vụ của công đông phụ thuộc vào loại cổ phần và giá trị cổ phần mà họ nắm giữ Cổ phần có hai loại: cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi Cổ phần phổ thông không thể chuyển thành cổ phần ưu đãi nhưng cổ phần ưu đãi có thể chuyển thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông
Cổ phần phổ thông là loại cổ phần bắt buộc phải có Người sở hữu cổ phần phổ thông gọi là cổ đông phổ thông Khi thành lập công ty, các cổ đông sáng lập phải dùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% cổ phần phổ thông được quyền chào bán tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp và thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Công ty có thể phát hành cổ phần ữu đãi Các loại cổ phần ưu đãi chủ yếu bao gồm:
- Cổ phần ưu đãi biểu quyết: Là cổ phần có số biểu quyết nhiều hơn so với cổ
Trang 19phần phổ thông Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy định Theo Luật Doanh nghiệp 2014, Chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết. Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ
có hiệu trong 3 năm, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông
- Cổ phần ưu đãi cổ tức: Là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hàng năm Cổ tức được chia hàng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thường Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty Mức cổ tức cố định cụ thể và phương thức xác định cổ tức thường được ghi trên cổ phiếu của cổ phần ưu đãi cổ tức
- Cổ phần ưu đãi hoàn lại: Là cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi nào yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phiếu ưu đãi hoàn lại
Vốn vay bao gồm: Vốn vay từ ngân hàng, các cá nhân tổ chức khác, vay thông qua thuê tài chính, vay thông qua kênh phát hành trái phiếu (công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác theo) Thực tế, công ty cổ phần không thể tiến hành hoạt động kinh doanh mà không có sự huy động vốn từ bên ngoài Nguồn vốn vay của công ty cổ phần rất đa dạng và phong phú So với công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần có lợi thế hơn trong việc huy động vốn nhờ cấu trúc vốn linh hoạt mềm dẻo, trong đó có một bộ phận quan trọng là vốn vay
Vậy vay vốn có thuộc quyền sở hữu của công ty cổ phần không? Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về vay vốn của công ty cổ phần Có quan điểm ho rằng vốn vay không thuộc sở hữu của công ty cổ phần và đặc biệt là vay thông qua hình thức thuê tài chính Quan điểm khác cho rằng vốn vay thuộc sở hữu của công ty cổ
Trang 20phần, từ vay thông qua hình thức thuê tài chính Để lý giải vấn đề này, vốn vay được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau
Dưới góc độ kinh tế, vốn vay là do công ty cổ phần huy động từ bên ngoài, vốn vay không phản ánh năng lực của công ty cổ phần Vì vậy, khó có thể nói vốn vay thuộc sở hữu của công ty cổ phần
Dưới góc độ tài chính, vốn vay là khoản nợ phải trả của công ty cổ phần Vì vậy, các khoản vốn vay phải được hạch toán vào các khoản nợ và được chia thành các khoản nợ ngắn hạn, nợ dài hạn để công ty cổ phần có phương án trả nợ Vốn vay không phản ánh năng lực tài chính thực sự của công ty cổ phần Công ty cổ phần được
sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định Nếu sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả sẽ làm tăng lợi nhuận cho công ty cổ phần
Dưới góc độ pháp lý "vay là một hình thức cấp tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi" [khoản 1, Điều 3, Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN]
Theo quy định của Bộ luật Dân sự bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể
từ thời điểm nhận tài sản đó [3, Điều 472] Như vậy, vốn vay được công ty cổ phần chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trong hoạt động kinh doanh làm tăng lợi nhuận của công ty Công ty cổ phần có thể sử dụng vốn vay bổ sung vào vốn lưu động để mở rộng phạm vi, quy mô kinh doanh hoặc mua sắm tài sản cố định Những tài sản cố định được công ty cổ phần mua sắm bằng nguồn vốn vay như máy móc, thiết bị, nhà xưởng sẽ thuộc quyền định đoạt của công ty cổ phần và khi các khoản nợ đã đến kỳ đáo hạn công ty cổ phần phải có nghĩa vụ thanh toán cả gốc và lãi Như vậy, dưới góc
độ pháp lý, vốn vay là vốn của công ty cổ phần từ vay thông qua hình thức tài sản, thuê tài chính
Ngoài việc huy động vốn vay trực tiếp thông qua các tổ chức tín dụng, công ty
cổ phần còn huy động vốn vay thông qua việc phát hành trái phiếu:
Trang 21vay thông qua việc phát hành chứng khoán Trong các nguồn vốn vay của công ty cổ phần nguồn vốn vay từ việc phát hành trái phiếu có vị trí quan trọng, thể hiện rõ ưu thế của công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác trong việc huy động vốn Thực tế ở Việt Nam hiện nay các công ty cổ phần huy động vốn vay chủ yếu bằng hình thức vay tín dụng, còn hình thức vay thông qua phát hành trái phiếu các công ty
cổ phần không "mặn mà" lắm Hiện nay trên thị trường chứng khoán phần lớn chỉ có trái phiếu Chính phủ
Tóm lại, vốn là cơ sở thiết yếu để thành lập, "Khai sinh" ra công ty cổ phần Vì vậy, việc xác định rõ các nguồn vốn trong công ty cổ phần có ý nghĩa rất quan trọng về mặt pháp lý Nó xác định rõ ràng sở hữu của công ty cổ phần, đồng thời về mặt kinh tế nhằm xác định phạm vi quy mô, lợi thế, khả năng tài chính thực của công ty cổ phần
1.3 Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần
1.3.1 Định nghĩa chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần
Như phần trên đã phân tích, vốn là yếu tố hết sức quan trọng không thể thiếu khi thành lập doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng Trong doanh nghiệp, vốn không những quyết định sự sống còn của doanh nghiệp mà còn thể hiện khả năng gánh chịu nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp, quyết định quyền, nghĩa vụ của các chủ sở hữu, chủ đầu tư của công ty Với ý nghĩa đó, Luật doanh nghiệp 2005,
và tiếp tục được kế thừa tại Luật doanh nghiệp 2014, các quy định về vốn trong công
ty cổ phần đã được đặc biệt chú trọng Vì vậy, xét về mặt khách quan, tất cả những quy định của pháp liật liên quan đến vốn của công ty đã hình thành nên chế độ pháp lý
về vốn của doanh nghiệp
Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình góp vốn, chuyển nhượng vốn, thay đổi vốn và những vấn đề khác có liên quan đến vốn trong công ty cổ phần
Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần là những quy phạm pháp luật, do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, là cơ sở pháp lý cho các nhà kinh doanh điều chỉnh hành vi của mình trong quá trình hình thành, quản lý và sử dụng vốn trong công ty cổ phần Những quy phạm pháp luật này mang tính bắt buộc chung cho mọi chủ thể kinh doanh
Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần nhằm tạo điều kiện cho vốn và tài sản của công ty hình thành, phát triển trên cơ sở ý chí và lợi ích của các chủ sở hữu
Nó là hành lang pháp lý cho hoạt động của các cổ đông trong việc góp vốn, chuyển
Trang 22nhượng cũng như thay đổi vốn trong công ty cổ phần
1.3.2 Nội dung chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần
1.3.2.1 Hình thành vốn trong công ty cổ phần
Hình thành vốn trong công ty cổ phần được hiểu là quá trình hình thành vốn và hình thành tài sản của công ty Nó được hiểu là quá trình các cổ đông chuyển tài sản của mình sang tài sản công ty theo cam kết Đây là vấn đề quan trọng đầu tiên mà pháp luật về doanh nghiệp của bất cứ nước nào cũng đề cập và quy định Có ba nội dung cơ bản liên quan đến cơ chế góp vốn, đó là:
- Thứ nhất là chủ thể góp vốn vào công ty Chủ thể góp vốn vào công ty cổ phần là một nội dung quan trọng, không thể thiếu được của pháp luật bất cứ nước nào Nói đến chủ thể góp vốn tức là nói đến những tổ chức, cá nhân nào có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để tham gia đầu tư vào CTCP
Quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền cơ bản của cá nhân và tổ chúc kinh doanh được Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thừa nhận nhưng điều đó không có nghĩa ai cũng có quyền góp vốn, đầu tư vào công ty cổ phần Do đó, Luật Doanh nghiệp phải có quy định cụ thể để xác định những
cá nhân, tổ chức nào được quyền góp vốn vào công ty và họ sẽ có tư cách như thế nào?
- Thứ hai là tài sản góp vốn Mặc dù khái niệm tài sản đã được Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005 xác định "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" Nhưng đây là khái niệm tài sản theo nghĩa rộng Trong quá trình hình thành vốn,
có phải tất cả những tài sản này đều được pháp luật thừ nhận là vốn góp trong công ty
cổ phần hay không? Những quy định cụ thể của pháp luật sẽ xác định những tài sản bảo coi là vốn góp trong công ty cổ phần nhằm đảm bảo các quyền, lợi ích của cổ đông góp vốn và của chính bản thân công ty
- Thứ ba là phương thức góp vốn Phương thức góp vốn là việc các cổ đông góp vốn như thế nào, cách thức nào, thời hạn, mức góp bao nhiêu? Luật Doanh nghiệp quy định những vấn đề này chủ yếu do các thành viên công ty thỏa thuận với nhau trong hợp đồng thành lập công ty hoặc trong Điều lệ công ty Tuy nhiên, để đảm bảo khả năng thanh toán của công ty cũng như sự ổn định trong cấu trúc vốn của công ty, pháp luật của hầu hết các nước cũng như pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam đều điều chỉnh về vấn đề này
1.3.3.2 Chuyển nhƣợng và mua lại cổ phần
Xét về bản chất, việc chuyển nhượng vốn của thành viên công ty là sự dịch
Trang 23chuyển quyền sở hữu của người đó đối với phần vốn góp của họ trong công ty Luật Doanh nghiệp quy định không cho thành viên công ty nói chung và cô đông của công
ty cổ phần nói riêng được rút phần vốn góp của mình ra khỏi công ty Theo Luật Doanh nghiệp, việc điều chỉnh vốn góp trong công ty cổ phần được thực hiện dưới các hình thức sau: Cổ đông yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình trong những điều kiện nhất định; chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác thông qua thị trường chứng khoán
Ở cách thứ nhất, trong những trường hợp nhất dịnh công ty phải mua lại cổ phần của một cổ đông nào đó Trong trường hợp này, các cổ đông công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại giá trị của số cổ phần mà cổ đông sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo giá thị trường Có thể phần vốn góp của công đông đó so với tổng số vốn hiện tại của công ty chiếm một tỷ trọng rất nhỏ, không đáng kể, nhưng nếu công ty mua lại phần vốn góp đó, có thể sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống cơ cấu vốn và tài chính của công ty Ví thế, trên thực tế việc công ty mua lại cổ phần của các cổ đông thường xảy ra trong những điều kiện nhất định Do đó, cổ đông muốn thu hồi vốn của mình thường thực hiện thông qua việc chuyển nhượng cổ phần của mình
Với cách thứ hai, ở nước ta hiện nay thị trường chứng khoán phát triển rất sôi động, nó đã tạo ra một thị trường mua bán cổ phiếu, trái phiếu thuận tiện và dễ dàng hơn Đặc biệt trong công ty cổ phần quy định cổ đông được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khá trừ trường hợp đó là cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập
Có thể nói rằng, chuyển nhượng vốn vóp là quyền của các cổ đông trong công
ty, tuy nhiên, quyền này chỉ được thực hiện khi đáp ứng những điều kiện mà pháp luật hoặc Điều lệ công ty quy định
1.3.3.3 Các trường hợp thay đổi vốn
Trong quá trình hoạt động, kết quả sản xuất sẽ ảnh hưởng đến vốn của công ty
Sự thay đổi tư cách cổ đông của công ty cũng dẫn đến sự thay đổi của vốn Vì vậy, vốn của công ty có thể tăng hoặc giảm Tuy nhiên, vốn có vai trò quan trọng không chỉ đối với công ty mà tác động tới nền kinh tế Vì vậy, pháp luật đã đưa ra những quy định cụ thể để điều chỉnh Khi vốn của công ty cổ phần có sự thay đổi thì công ty phải
có trách nhiệm khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh
Nói đến chế độ pháp lý về vốn của công ty cổ phần là nói đến những quy tắc mang tính chất pháp lý để điều chỉnh, quy định những vấn đề liên quan đến quá trình
Trang 24hình thành, sở hữu và phát triển vốn Có thể nói đây là một nội dung vô cùng quan tọng và phức tạp đối với pháp luật về doanh nghiệp Và nó càng trở nên quan trọng và phức tạp hơn, càng cần sự quan tâm, nghiên cứu hơn nữa khi đó là một cơ chế pháp lý
về vốn của công ty cổ phần - một loại hình doanh nghiệp đặc thù được thành lập trên
cơ sở góp vốn của nhiều cổ đông và quyền, nghĩa vụ của các cổ đông được quyết định bởi tỷ lệ phần vốn góp của họ vào công ty
Trang 25CHƯƠNG 2 CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ VỐN TRONG CÔNG TY
CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014 2.1 HÌNH THÀNH VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
2.1.1 Một số quy định về góp vốn thành lập công ty cổ phần theo Luật
doanh nghiệp:
Nhắc tới công ty có nghĩa là nhắc tới một thực thể kinh doanh được tạo nên bởi
sự góp vốn của hai hay nhiều thành viên Bởi vậy góp vốn là nội dung quan trọng có
tính chất quyết định đối với các cổ đông sáng lập trong công ty cổ phần Vốn là yếu tố
cơ bản đầu tiên mà thành viên công ty quan tâm đến, là điều kiện không thể thiếu được
đối với bất kỳ một nhà đầu tư nào, khi họ muốn trở thành thành viên công ty Vốn là
điều kiện bắt buộc để công ty ra đời, nó là nội dung vật chất để công ty tồn tại và phát
triển
Theo quy định tại khoản 13 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014: “ Góp vốn là
việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty Góp vốn bao gồm góp vốn để
thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành
lập.” Góp vốn theo hình thức công ty được hiểu là việc một cá nhân hay một tổ chức
chuyển dịch vốn của mình (biểu hiện bằng giá trị, bằng hiện vật hoặc các quyền về tài
sản…) theo một trình tự, thủ tục nhất định vào công ty (thuộc sở hữu công ty) và theo
đó được hưởng các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ trái quyền góp vốn Với tư cách là
một thực thể pháp lý độc lập, công ty là chủ thể của quyền sở hữu công ty Như vậy,
phương thức góp vốn là cơ sở pháp lý để hình thành quyền sở hữu của công ty Vốn
thuộc sở hữu công ty chính là giới hạn sự rủi ro tài chính của các chủ sở hữu trên toàn
bộ số vốn đã đầu tư vào công ty Với tư cách là người góp vốn, thành viên công ty
được hưởng quyền tài sản và chịu trách nhiệm rủi ro về phần vốn của mình góp vào
công ty
Như vậy, hành vi góp vốn là hành vi làm thay đổi chủ thể quyền sở hữu
Những tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức khi đem góp vốn vào công ty theo
những phương thức nhất định thì phần vốn góp đó đã được chuyển dịch thành sở hữu
của công ty và công ty với tư cách là chủ sở hữu có toàn quyền chi phối đối với những
tài sản thuộc sở hữu của công ty
Từ khái niệm trên ta có thể hiểu, để góp vốn thành lập công ty, cụ thể là công ty
cổ phần, cần đảm bảo hai yếu tố: chủ thể góp vốn và tài sản góp vốn
Trang 26Đối với cá nhân, không được quyền thành lập công ty cổ phần nếu là:
- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
- Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự;
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang
bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên
Trang 27quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng
Đối với tổ chức, không được quyền thành lập công ty cổ phần nếu là tổ chức
không có tƣ cách pháp nhân; hoặc làcơ quan Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản Nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình
Việc hạn chế các sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp…trong lực lượng quân đội và công an nhân dân Việt Nam, các công chức, viên chức tham gia thành lập công ty, cơ quan Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản Nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình là nhằm tách bạch chức năng quản lý Nhà nước ra khỏi các hoạt động kinh doanh, nhằm ngăn ngừa những tiêu cực khi thực thi nhiệm vụ, tránh hiện tượng “chân ngoài dài hơn chân trong”, “lạm quyền” trong quá trình thực thi nhiệm vụ
quản lý Nhà nước ở các lĩnh vực an ninh, quốc phòng, quản lý kinh tế
Như vậy, theo quy định của Luật doanh nghiệp, có 7 đối tượng không được phép thành lập công ty cổ phần Trong đó, có đối tượng bị cấm vĩnh viễn, có đối tượng chỉ bị cấm trong những trường hợp và thời gian cụ thể Việc cấm một số đối tượng thành lập công ty cổ phần này là cần thiết và phù hợp với thông lệ quốc tế Quy định này có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của bản thân nhà đầu tư Qua đó bảo đảm cho thị trường diễn ra lành mạnh, có hiệu quả và tuân thủ các nguyên tắc của nền kinh tế thị trường Cần lưu ý rằng, những đối tượng bị cấm thành lập công ty vẫn có quyến góp vốn vào công ty và tuân thủ các quy định của
pháp luật về việc góp vốn
Theo quy định của pháp luật hiện hành, tài sản của Nhà nước bao gồm:
- Tài sản được mua sắm bằng vốn ngân sách nhà nước;
- Kinh phí được cấp từ ngân sách nhà nước;
- Đất được giao sử dụng để thực hiện chức năng và nhiệm vụ theo quy định của pháp luật;
- Tài sản và thu nhập khác được tạo ra từ việc sử dụng tài sản và kinh phí nói trên
Thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình là việc sử dụng thu nhập dưới mọi hình thức có được từ hoạt động kinh doanh, từ góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào một trong các mục đích sau đây:
Trang 28- Chia dưới mọi hình thức cho một số hoặc tất cả những người quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014
- Bổ sung vào ngân sách hoạt động của cơ quan, đơn vị trái với quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước;
- Lập quỹ hoặc bổ sung vào quỹ phục vụ lợi ích riêng của cơ quan, đơn vị Cán bộ lãnh đạo, cán bộ nghiệp vụ trong doanh nghiệp Nhà nước được quy định tại Luật doanh nghiệp bao gồm: thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, kế toán trưởng, thành viên ban kiểm soát, trưởng, các phó phòng, ban nghiệp vụ, trưởng chi nhánh và văn phòng đại diện của doanh nghiệp Nhà nước Tuy nhiên Luật doanh nghiệp không cấm những đối tượng này sử dụng tài sản thuộc sở hữu cá nhân của mình để mua cổ phần trong các công ty cổ phần hoạt động theo Luật doanh nghiệp
* Chủ thể góp vốn vào doanh nghiệp:
So với đối tượng được phép thành lập, đối tượng được quyền góp vốn vào doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng được mở rộng hơn Điều này thể hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm huy động mọi nguồn lực vào sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế Quyền góp vốn vào công ty cổ phần được quy định
cụ thể tại khoản 3 Điều 18 Luật doanh nghiệp như sau: Tổ chức, cá nhân có quyền
mua cổ phần vào công ty cổ phần, trừ trường hợp sau đây:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
- Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức
Từ các quy định trên, có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Các đối tượng được quyền thành lập thì có quyền góp vốn vào doanh nghiệp Tuy nhiên, không phải mọi nhà đầu tư được quyền góp vốn thì cũng có quyền thành lập công ty cổ phần Có một số nhà đầu tư chỉ có thể tham gia góp vốn mà không thể thành lập công ty (ví dụ như: cán bộ, công chức, người chưa thành niên, sĩ quan, hạ sĩ quan…nói chung là những trường hợp bị cấm thành lập doanh nghiệp.)
- Có quyền thành lập doanh nghiệp hay góp vốn, không có nghĩa là có thể thành
Trang 29lập được tất cả mọi loại hình doanh nghiệp hay góp vốn vào tất cả các doanh nghiệp Đây chỉ là tiêu chuẩn chung, còn đối với từng loại hình cụ thể lại có yêu cầu và đặc điểm riêng
Nghĩa vụ căn bản của các thành viên công ty do Điều lệ thành lập công ty ấn định là nghĩa vụ góp vốn Điều đó có nghĩa là khi đã cam kết góp vốn, thành viên đã tự ràng buộc mình trở thành người thụ trái hay con nợ của công ty Các phần vốn góp của các thành viên đều trở thành sản nghiệp của công ty do chính họ tạo dựng nên Hay có thể hiểu thành viên là chủ của công ty, còn công ty là chủ của các tài sản do các thành viên góp vào công ty, chứ không phải thành viên là chủ của các tài sản đó Công ty là một pháp nhân riêng biệt, vì vậy đã trở thành chủ nợ của chính những thành viên - chủ của công ty Nếu thành viên không góp vốn hoặc góp vốn chậm thì công ty có quyền đòi Với việc góp vốn không đủ hoặc không đúng hạn, thành viên có thể phải chịu những hậu quả pháp lý do luật định Chẳng hạn như: “Khi số cổ phần đăng ký góp của các cổ đông sáng lập chưa được góp đủ thì các cổ đông sáng lập cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị
số cổ phần chưa góp đủ đó” Điều 1843-3 Bộ luật dân sự Pháp quy định: “Thành viên phải góp một số tiền vào công ty mà không đóng góp thì đương nhiên trở thành người
có nghĩa vụ thanh tóan lãi của số tiền đó, kể từ ngày phải đóng góp và phải bồi thường thiệt hại, nếu có”
2.2.1.2 Tài sản góp vốn:
Góp vốn bằng tài sản là hình thức góp vốn quan trọng nhất bởi không có tài sản thì công ty không thể hoạt động được Về nguyên tắc, mọi tài sản đều có thể đem góp làm vốn của công ty, với điều kiện các tài sản này phải là các tài sản có thể được chuyển giao trong giao lưu dân sự một cách hợp pháp, bởi góp vốn là một hành vi chuyển giao tài sản, do đó phải tuân thủ những quy tắc chung có liên quan đến việc chuyển giao tài sản
Theo quy định tại Điều 163 của Bộ luật dân sự 2005 tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá (như cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu…) và các quyền tài sản (như quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ, quyền đối với giống cây trồng…)
Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014, Góp vốn là việc góp tài sản để tạo
Trang 30thành vốn điều lệ của công ty (Khoản 13 Điều 4) Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam (Khoản 1 Điều 35).Theo quy định ở trên thì có một số tài sản khác có thể dùng làm góp vốn được quy định trong điều lệ công ty như: bất động sản, động sản…mà gọi chung là các tài sản khác nếu là tài sản hợp pháp, được chuyển giao trong giao dịch dân sự và được các thành viên sáng lập chấp thuận thì có thể đem góp vốn để tạo thành vốn của công ty Ngoài việc góp vốn bằng các tài sản nêu trên, thì trên thực
tế tuy pháp luật không quy định nhưng nếu được các thành viên sáng lập chấp thuận thì một số yếu tố khác cũng có thể dùng làm vốn góp vào công ty chẳng hạn như: góp vốn bằng công sức lao động hay công việc…tuy nhiên việc góp vốn bằng yếu tố này trên thực tế vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau
Góp vốn bằng công sức lao động hay công việc Về mặt lý luận, Điều lệ của công ty là một căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ của các thành viên, và đối tượng của nghĩa vụ bao gồm: chuyển giao quyền sở hữu, thực hiện hoặc không thực hiện một công việc nào đó… Vì vậy việc cam kết thực hiện những hành vi cụ thể có thể trị giá được bằng tiền, và theo quan niệm của pháp luật về nghĩa vụ, cũng có thể trở thành vốn góp Có một điều đáng lưu ý rằng, công sức bỏ ra ở đây không chỉ đơn thuần là những hoạt động lao động thông thường mà phải là những hoạt động lao động mang tính trí tuệ, tài năng hơn những công việc bình thường như: có khả năng điều hành công ty một cách thành công, có năng lực tổ chức sự kiện, bằng tài năng nghệ thuật của mình có thể thu hút khách hàng nhiều hơn…Có thể hiểu một cách đơn giản, công
ty có thể dễ dàng bỏ ra một khoản tiền để mua sức lao động, nên việc góp vốn vào công ty bằng công việc hay hoạt động trên thực tế không có hiệu quả và không được
áp dụng nhiều Tuy nhiên về mặt lý luận, nó vẫn có thể được áp dụng
Tuy nhiên việc góp vốn bằng công sức lao động hay công việc sẽ mang lại khó khăn trên nhiều mặt: tính trị giá phần vốn góp, chứng minh sự vi phạm nghĩa vụ của người góp vốn Việc đánh giá này không được pháp luật quy định mà phụ thuộc hoàn toàn vào sự thỏa thuận định giá giữa các thành viên công ty Vì vậy trên thực tế vẫn có nhiều quan điểm khác nhau về việc góp vốn này Ta có thể xem xét qua ví dụ sau:
Giả sử có 3 thành viên là cá nhân góp vốn để thành lập nên một công ty cổ phần
Trang 31Z với vốn điều lệ là 1,5 tỷ đồng, lĩnh vực hoạt động là mở phòng trà để thu hút khác hàng Ông A cam kết góp 500 triệu tiền mặt, ông B cam kết góp 1 ngôi nhà trị giá 500 triêu, ông C đề nghị với 2 người còn lại là mình sẽ góp 500 triệu còn lại bằng tài năng
ca hát của mình trong thời hạn 6 tháng và hai người kia đã chấp thuận Và sau 6 tháng hoạt động, bằng tài năng của mình, ông C đã thu hút được rất nhiều khách hàng giúp cho công ty bán hàng thu về được 700 triệu Sau khi trừ đi chi phí của công ty bỏ ra cũng như nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước thì còn lại 500 triệu Đến đây, trên thực tế lại xuất hiện hai quan điểm trái ngược nhau Quan điểm thứ nhất thì đồng tình với thoả thuận của các thành viên sáng lập có nghĩa là xem 500 triệu còn lại là phần vốn góp của ông C Nhưng quan điểm thứ hai lại cho rằng số tiền 500 triệu đó là tài sản của công ty, vì đó là kết quả kinh doanh của công ty Và trên thực tế Luật hiện hành của Việt Nam không có quy định một cách cụ thể về trường hợp này mà để cho các thành viên tự thoả thuận với nhau Việc thiếu các quy phạm pháp luật quy định về việc góp vốn bằng hoạt động hay công việc, phải chăng đã tạo tâm lý e ngại cho các thành viên khi quyết định góp vốn thành lập công ty bằng hình thức này, từ đó nó không được áp dụng phổ biến Để hướng tới tính hiệu quả, pháp luật thay vì để cho Điều lệ công ty quy định một số loại tài sản khác có thể dùng làm góp vốn, thì nên quy định một cách cụ thể sự góp vốn bằng công sức, vừa bảo đảm nguyên tắc tự do ý chí,
vừa bảo đảm cho việc tận dụng được nguồn lao động lớn của xã hội
Về trách nhiệm của nhà đầu tư với việc góp vốn vào công ty thì sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, người cam kết góp vốn vào công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty theo quy định sau:
a) Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất, thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc chuyển quyền đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ;
b) Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản;
c) Cổ phần hoặc phần vốn góp bằng tài sản không phải là tiền Việt Nam, ngoại
tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty Các tài sản có đăng ký bao gồm: bất
Trang 32động sản, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, và một số động sản khác theo quy định của pháp luật
Các tài sản không đăng ký bao gồm: động sản, các quyền về tài sản trí tuệ của quyền tác giả có thể được chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng theo Luật sở hữu trí tuệ 2005, mà các quyền này không bắt buộc phải đăng ký
Riêng việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ (quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng…), ta cần hiểu rằng, do tài sản trí tuệ là yếu tố rất phức tạp, liên quan trực tiếp đến tri thức của con người do đó nó thường thay đổi theo từng lĩnh vực, từng thời kỳ, nên việc góp vốn phụ thuộc rất nhiều vào sự thỏa thuận của các thành viên và được điều chỉnh bởi Luật sở hữu trí tuệ
Sở hữu trí tuệ là khái niệm lâu đời nhưng mới được quan tâm nhiều tại Việt Nam thời gian gần đây Trước kia, các tài sản hữu hình như đất đai, tiền… là tiêu chuẩn đánh giá doanh nghiệp Ngày nay, tài sản vô hình nổi lên như một nhân tố đầy giá trị trong hoạt động của doanh nghiệp với bộ phận quan trọng là sở hữu trí tuệ Sở hữu công nghiệp chính là một trong hai bộ phận trụ cột của sở hữu trí tuệ (bộ phận đang được quan tâm khác hiện nay là “quyền tác giả” hay còn gọi là “bản quyền” )
Các đối tượng bảo hộ của pháp luật về sở hữu công nghiệp được quy định tại khoãn 4 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp mang tính chất riêng Quyền sở hữu của các đối tượng sở hữu công nghiệp nếu muốn được xác lập và bảo hộ phải được tiến hành đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
mà ở nước ta là Cục sở hữu trí tuệ và tuân theo thủ tục hành chính Khác với quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả có tính chất “bảo hộ tự động”, phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm văn học, nghệ thuật được sáng tạo dưới hình thức nhất định
Việc định giá tài sản góp vốn vào công ty cổ phần được thực hiện theo nguyên tắc sau:
1 Tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá và được thể hiện thành Đồng Việt Nam
2 Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các cổ đông sáng lập
Trang 33định giá theo nguyên tắc nhất trí hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được đa số các cổ đông sáng lập chấp thuận
Trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế
3 Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do Hội đồng quản trị đối với công
ty cổ phần và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận
Trường hợp nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì thành viên Hội đồng quản trị cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời, liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế
Việc định giá tài sản có ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với các cổ đông mà cả đối với chủ nợ của công ty Đối với các cổ đông sáng lập, việc định giá tài sản là căn cứ để quyết định vị trí, vai trò và lợi ích tài chính trong công ty Đối với các cổ đông được hình thành bằng việc mua cổ phiếu thì sẽ được nhận mệnh giá cổ phiếu tương đương với só tiền mà mình bỏ ra (đó chính là giá trị tài sản góp vốn) Số cổ phiếu mà cổ đông nắm giữ là điều kiện kiên quyết để cho cổ đông được hưởng các quyền của mình đối với công ty như: Quyền được nhận lợi nhuận, quyền được biểu quyết, quyền được nhận giá trị tài sản còn lại của công ty khi công ty giải thể, bị phá sản…Đối với các chủ nợ của công ty, việc định giá tài sản góp vốn giúp cho các chủ nợ nắm bắt được giá trị thực tế của công ty và yên tâm hơn khi làm ăn đối với công ty Vì lúc này, tài sản được định giá là tài sản thuộc sở hữu của công ty và các tài sản này được công ty dùng để bảo đảm cho các khoản nợ của công ty đối với các chủ nợ Nếu tài sản được định giá không đúng với giá trị thực của nó, đến khi có tranh chấp về các khoản nợ hoặc là khi công ty bị giải thể hay bị phá sản thì các chủ nợ sẽ bị thiệt hại do giá trị tài sản còn lại của công ty không đúng với giá trị thực của nó ghi trên sổ sách lên các chủ
Trang 34nợ sẽ bị thiệt thòi Do vậy, việc định giá tài sản phải tuân thủ đúng những quy định của pháp luật Có như vậy việc định giá tài sản mới chính xác và khách quan và mới nói lên được giá trị tài sản đích thức của công ty qua đó mới đảm bảo được quyền của các bên có liên quan
2.2.2 Hình thành vốn trong công ty cổ phần:
2.2.2.1 Một số quy định về việc hình thành vốn ban đầu trong công ty cổ phần:
Việc góp vốn điều lệ cho đủ số một lần hay nhiều lần được nêu vì lý do thực tế
và cũng vì việc góp vốn ở công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên được quy định rõ Theo đó, “thành viên phải góp đầy đủ và đúng hạn bằng loại tài sản góp vốn như đã cam kết; trường hợp có thành viên không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được coi là nợ của thành viên đó đối với công ty; thànhviên đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết”
Đối với công ty cổ phần, như ta đã biết việc góp vốn để thành lập công ty chủ yếu do chính các cổ đông sáng lập góp vào Vì công ty được hình thành lên là do sáng kiến và sự đồng tình của các cổ đông sáng lập Theo thủ tục thành lập và hồ sơ đăng
ký kinh doanh thì cổ đông sáng lập nộp hồ sơ, trong đó ngoài những thứ khác thì có Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh, Điều lệ công ty, danh sách cổ đông sáng lập, Giấy
đề nghị đăng ký kinh doanh và Điều lệ công ty sẽ ghi số cổ phần của cổ đông sáng lập, loại cổ phần, mệnh giá cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại” Và pháp luật hiện hành cũng buộc trong vòng ba năm đầu, kể từ khi công ty có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ 20% số cổ phần phổ thông chào bán và khi công ty đáp ứng đủ các điều kiện về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh như: hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ theo quy định của pháp luật, có trụ sở chính theo quy định của Luật doanh nghiệp…thì công ty sẽ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và kể từ thời điểm được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì công ty sẽ có tư cách pháp nhân, có nghĩa là công ty có quyền hoạt động Dựa vào các quy định như trên, ta có thể lý giải như sau: luật hiện hành không quy định một cách trực tiếp số vốn tối thiểu để công ty cổ phần bắt đầu hoạt động, mà thông qua việc quy định các cổ đông sáng lập phải cùng nhau
Trang 35nắm giữ 20% số cổ phần phổ thông chào bán để quy định một cách gián tiếp số vốn tối thiểu của công ty cổ phần Vậy thì tại thời điểm được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh công ty phải có 20% vốn điều lệ, vậy khi đăng ký 10 tỷ thì công ty phải có
2 tỷ để bắt đầu hoạt động Nếu trong quá trình hoạt động mà cần thêm vốn thì công ty
sẽ huy động thêm cho đến khi đủ 10 tỷ Nếu đã hoạt động được hai năm và kinh doanh
có lãi, công ty có thể phát hành trái phiếu hay cổ phiếu để huy động thêm vốn ngoài số vốn đã đăng ký ban đầu theo những thủ tục quy định trong luật lệ về chứng khoán Điều này tạo điều kiện cho công ty huy động vốn linh hoạt trong giới hạn cho phép mà không cần phải thay đổi điều lệ công ty cũng như không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích cũng như phương hướng phát triển của công ty
2.2.2.2 Giai đoạn huy động thêm vốn:
Khi tiến hành hoạt động kinh doanh và nhất là để kinh doanh có hiệu quả thì điều quan trọng nhất vẫn là cần thêm vốn Do đó để có vốn, công ty cổ phần phải huy động thêm vốn và việc huy động thêm vốn được thực hiện bằng nhiều hình thức: vốn góp của cổ đông, vay, phát hành chứng khoán, thuê tài chính…(Ở đây ta chỉ tìm hiểu khái quát về việc huy động thêm vốn, còn các hình thức huy động vốn một cách cụ thể trong công ty cổ phần ta sẽ tìm hiểu ở phần sau), tuỳ vào chiến lược kinh doanh và tình hình tài chính mà công ty sẽ lựa chọn hình thức huy động vốn một cách có hiệu quả nhất Do đặc thù và cũng là lợi thế của công ty cổ phần là được phát hành và niêm yết chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán Luật doanh nghiệp quy định: “ Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn” Chứng khoán các loại ở đây bao gồm: cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu…Tuỳ theo những quy định của pháp luật cũng như tình hình hoạt động của công ty mà công
ty sẽ quyết định phát hành cổ phần hay phát hành trái phiếu Công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty Công ty có thể phát hành nhiều loại cổ phần khác nhau như: cổ phần phổ thông, cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi biểu quyết…Việc Luật cho phép công ty cổ phần có quyền phát hành nhiều loại cổ phần khác nhau một mặt giúp cho công ty có cơ cấu vốn linh hoạt, một mặt tạo thuận lợi cho công ty có nhiều điều kiện để huy động vốn và các nguồn lực khác nhau từ các nhà đầu tư Cổ phần là công cụ để huy động vốn, đồng thời cũng là một loại “hàng hoá” Phát hành cổ phần tức là công ty bán cổ phần thu tiền hoặc tài sản khác phục vụ