1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật về quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội

78 239 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu Thực hiện mục tiêu bảo tồn giá trị và tăng trưởng các quỹ thành phần của quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, sau đây gọi chung là quỹ bảo hiểm xã hội,

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Tiến

sỹ Đồng Ngọc Ban, Cục trưởng Cục Kiểm tra Văn bản - Bộ Tư pháp và các thầy cô trong Hội đồng nghiệm thu kết quả nghiên cứu đã chỉ dẫn tận tình cho tôi trong việc hoàn thiện luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp tại các Ban Pháp chế, Ban thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, Ban Kế hoạch và Đầu tư, Ban Đầu

tư quỹ đã chia sẻ thông tin, để tôi hoàn thành luận văn

Trân trọng cảm ơn

Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của Tiến sỹ Đồng Ngọc Ba – Cục trưởng, Cục Kiểm tra văn bản, Bộ Tư pháp Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là chính xác, trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này

Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2015

Người thực hiện

Trần Minh Hoàng

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu 5

2 Mục tiêu nghiên cứu 7

2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát 7

2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Tình hình nghiên cứu đề tài ………. 8

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu … ……… 8

6 Kết cấu của luận văn ……… 9

Chương I Một số vấn đề lý luận về quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội vào hoạt động tăng trưởng 10

1 Sự hình thành của quỹ bảo hiểm xã hội 10

2 Tổ chức và hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội 12

2.1 Mô hình tổ chức của quỹ bảo hiểm xã hội 12

2.2 Hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội 13

2.2.1 Nội dung quản lý quỹ bảo hiểm xã hội 14

2.2.2 Hoạt động quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội để bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ 15

Kết luận chương I 17

Chương II Thực trạng pháp luật về quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội 18

1 Thực trạng công tác quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội 18

1.1 Thực trạng pháp luật về quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội 18

1.1.1 Nguyên tắc quản lý đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội ……… 20

1.1.2 Nguyên tắc đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội 20

1.1.3 Đối tượng xem xét đầu tư ……… 22

1.1.4 Điều kiện xem xét đầu tư 23

1.1.5 Quy định về quản lý đầu tư 23

1.1.5.1 Phương án đầu tư vào các tổ chức tín dụng 25

1.1.5.2 Quy trình thủ tục thực hiện đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội 26

1.1.5.3 Quản lý việc đầu tư vào các tổ chức tín dụng 34

1.2 Thực trạng công tác quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội 35

1.2.1 Tổng quan chung 35

1.2.2 Kết quả cụ thể 36

2 Khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai các quy định của pháp luật về quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội 40

2.1 Khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật 40

2.2 Khó khăn, vướng mắc bắt nguồn từ thực tiễn áp dụng pháp luật 44

3 Đánh giá chung 47

Trang 4

3.1 Đánh các quy định pháp luật về quản lý đầu tư nguồn tài chính từ Quỹ bảo

hiểm xã hội 47

3.2 Đánh giá việc triển khai công tác quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội 48

3.2.1 Ưu điểm 48

3.2.2 Hạn chế 49

3.2 3 Nguyên nhân 50

Kết luận chương II 51

Chương III Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội 52

1 Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật 52

1.1 Đổi mới công tác quản lý đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội 52

1.2 Xây dựng kế hoạch cho các phương án đầu tư dài hạn 53

1.3 Tăng cường công tác quản lý rủi ro cho hoạt động đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội 57

2 Giải pháp bảo đảm hiệu quả quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội 70

2.1 Kiến nghị với Chính phủ 70

2.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính 70

2.3 Kiến nghị với Hội đồng quản lý quỹ bảo hiểm xã hội 71

3 Kết luận chương III 72

PHẦN KẾT LUẬN 73

Tài liệu tham khảo 75

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu

Thực hiện mục tiêu bảo tồn giá trị và tăng trưởng các quỹ thành phần của quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, sau đây gọi chung là quỹ bảo hiểm xã hội, từ khi có điều lệ bảo hiểm xã hội đến nay Chính phủ và các Bộ, ngành có chức năng quản lý Nhà nước liên quan đã ban hành nhiều văn bản quy định việc quản lý đầu tư nguồn tài chính từ Quỹ bảo hiểm xã hội vào các tổ chức

tín dụng theo nguyên tắc “đầu tư bảo đảm an toàn, bảo toàn được giá trị và

có hiệu quả về kinh tế - xã hội” Tuy nhiên, các văn bản của các Bộ, ngành

khi đưa ra áp dụng luôn bị lạc hậu so với thực tiễn, không theo kịp với sự phát triển của xã hội, phát sinh những bất cập, rủi ro, gây mất an toàn trong hoạt động quản lý đầu tư Quỹ bảo hiểm xã hội

Vào những năm 90 của thế kỷ XX khi các cuộc khủng hoảng của các quỹ hưu trí ở Tây Âu, Bắc Mỹ xảy ra, nhiều hệ thống bảo hiểm trên thế giới

đã phải xem xét lại các quy định pháp lý hiện có để điều chỉnh theo hướng thắt chặt lại các quy định về quản lý đầu tư và Việt Nam cũng không nằm ngoài ngoại lệ Để kiểm soát chặt chẽ việc quản lý đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội, Chính phủ, các bộ, ngành có chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đã nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, thay thế và ban hành mới các quy định để phù hợp với tình hình thực tiễn của nền kinh tế Ngoài ra, bên cạnh việc xây dựng các quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật, Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan quản lý trực tiếp quỹ bảo hiểm xã hội cũng đã ban hành bổ sung nhiều quy định mang tính quy phạm để quản lý đầu tư nguồn tài chính bảo đảm an toàn, tuân thủ theo các quy định chung của pháp luật

Việc xác định đối tượng quản lý để hoàn thành các mục tiêu về thu, thực hiện chi trả chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, xem xét các phương án để đầu tư nguồn tài chính nhàn rỗi từ quỹ bảo hiểm xã hội hiệu quả được Hội đồng quản lý quỹ, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đặt ra là nhiệm vụ thường xuyên phải triển khai và triển khai phải hiệu quả, đảm bảo

Trang 6

việc đầu tư an toàn, bảo toàn nguồn vốn và có tăng trưởng để tiếp tục tạo nguồn cho quỹ

Quỹ bảo hiểm xã hội hiện được đầu tư theo danh mục quy định là cho vay đối với Ngân sách Nhà nước, Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia (nay là Ngân hàng Phát triển), các Ngân hàng thương mại Nhà nước; mua trái phiếu, tín phiếu của Kho bạc Nhà nước và các Ngân hàng Thương mại của Nhà nước; đầu tư vào một số dự án và doanh nghiệp lớn của Nhà nước có nhu cầu về vốn được Thủ tướng Chính phủ cho phép và bảo trợ Kết quả đầu tư quỹ giai đoạn 2007 - 2012 cho thấy nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội có sự tăng trưởng, tương ứng với số vốn đầu tư là số tiền thu lãi hoạt động đầu tư các năm được duy trì tăng trưởng từ 4.795 tỷ năm 2007, đến năm 2010 lên đến hơn 9.373 tỷ đồng, năm 2012 là 18.872 tỷ đồng Tuy nhiên, việc đầu tư quỹ tăng trưởng nhanh không đồng nghĩa với việc đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội có hiệu quả bởi tỷ lệ lạm phát trong nhiều năm luôn ở mức cao dẫn đến tỷ suất lợi nhuận bình quân tăng trưởng các năm không thể bù đắp, dẫn đến giá trị thực tế của quỹ bảo hiểm xã hội so với tình hình phát triển của nền kinh tế - xã hội nói chung chưa có sự tăng trưởng, chưa bảo toàn được giá trị

Mặt khác cơ cấu đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội cũng chưa hợp lý dẫn đến tỷ suất lợi nhuận đầu tư chưa được tối ưu do chủ yếu tập trung cho ngân sách vay, việc điều hành của Chính phủ thường quy định lãi suất chưa bằng các hoạt động đầu tư vào các tổ chức tín dụng, trong khi đó hoạt động đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội vào tổ chức tín dụng lúc tăng, lúc giảm không ổn định

Cơ cấu đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội trong những năm qua chủ yếu tập trung nguồn lực cho ngân sách nhà nước vay và mua trái phiếu, tín phiếu của Kho bạc Nhà nước và các Ngân hàng Thương mại của Nhà nước Mặt khác trong quá trình tổ chức thực hiện, báo cáo đánh giá cho thấy việc tuân thủ theo các quy định pháp luật vẫn có những hạn chế, bất cập nảy sinh do quy định chưa chặt chẽ, hoạt động đầu tư chưa đúng đối tượng dẫn đến thất thoát

Trang 7

vay không đúng mục đích dẫn đến một số đơn vị được vay có nguy cơ không trả được nợ, mục tiêu bảo đảm an toàn quỹ bảo hiểm xã hội bị ảnh hưởng

Để đánh giá thực trạng các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan

về quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội, từ đó đưa ra một số kiến nghị với các cơ quan quản lý, Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam hoàn thiện các quy định pháp luật về đầu tư nguồn tài

chính từ quỹ bảo hiểm xã hội, là lý do tôi chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật về quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội” làm đề tài

luận văn tốt nghiệp Tôi hy vọng, nội dung luận văn sẽ đưa ra những đề xuất có giá trị ứng dụng ngay trong thời gian gần và là giải pháp về mặt

kỹ thuật để có thể bảo toàn nguồn quỹ bảo hiểm xã hội, cũng như tối đa hóa hiệu quả đầu tư

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về thực trạng pháp luật về quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội vào hoạt động cho vay đối với các tổ chức tín dụng; tìm ra những khó khăn vướng mắc

về quy định trong áp dụng thực tiễn, đưa ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật

2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu tổng quát, luận văn có nhiệm vụ cụ thể sau:

- Thứ nhất: Nghiên cứu các quy định cụ thể của pháp luật về quản lý đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội;

- Thứ hai: Đánh giá tình hình thực trạng áp dụng pháp luật và những khó khăn của cơ quan bảo hiểm xã hội trong công tác quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội khi cho vay;

- Thứ ba: Đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật

Trang 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung của pháp luật và thực tiễn liên quan đến công tác quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội; cũng như các lĩnh vực pháp luật khác, quy định pháp luật về đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học với nhiều cách thức và mức

độ tiếp cận khác nhau

- Phạm vi nghiên cứu: Dưới góc độ khoa học pháp lý và phù hợp chuyên ngành Luật kinh tế, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật liên quan đến công tác quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội và thực tiễn điều chỉnh tác động qua lại những quy định của pháp luật để tìm giải pháp tháo gỡ và kiến nghị hoàn thiện

- Thời gian nghiên cứu: Thời gian nghiên cứu của luận văn từ năm

1995 kể từ khi có Nghị định số 19/CP ngày 16/2/1995 của Chính phủ về việc thành lập Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho đến nay

4 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đề tài được nghiên cứu trong thời điểm Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm xã hội đang được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện các quy định trong quản lý thực hiện chế độ chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm

y tế, cơ cấu lại nguồn lực của quỹ bảo hiểm xã hội trong đó có quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội

Việc nghiên cứu đã đánh giá phân tích thực trạng của công tác quản lý trong phạm vi thời gian nghiên cứu đặt ra để đánh giá thực trạng, vướng mắc

và kiến nghị, đề xuất giải pháp quản lý đầu tư hiệu quả nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn, cơ sở lý luận dựa trên những quy định pháp luật hiện hành đang được áp dụng trong thực tiễn

Trang 9

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là các phương pháp của triết học Mác – Lê Nin, trọng tâm là phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn, phân tích và tổng hợp Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp của các khoa học chuyên ngành như phương pháp của lý thuyết

hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp của khoa học thống kê

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày gồm 03 chương, cụ thể:

Chương I Một số vấn đề cơ bản về quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội vào hoạt động tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội

Chương II Thực trạng pháp luật về quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội

Chương III Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội

Trang 10

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ NGUỒN TÀI CHÍNH TỪ QUỸ BẢO HIỂM

XÃ HỘI VÀO HOẠT ĐỘNG TĂNG TRƯỞNG

1 Sự hình thành của quỹ bảo hiểm xã hội

Sự ra đời của chính sách bảo hiểm xã hội cũng giống như các chính sách xã hội khác luôn bắt nguồn từ yêu cầu thực tiễn của cuộc sống đặt ra Từ thời xa xưa, con người để chống lại những rủi ro, thiên tai của cuộc sống đã biết đoàn kết tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau Những sự giúp đỡ này lúc đầu chỉ mang tính tự phát và với quy mô nhỏ trong một nhóm người chung quan hệ huyết thống hoặc trong một nhóm lợi ích xã hội, một cộng đồng trong một phạm vi địa lý nhất định Khi xã hội càng ngày càng phát triển, đặc biệt là khi chuyển sang giai đoạn có sự phân công lao động xã hội, nền sản xuất xã hội phát triển, các mối quan hệ xã hội giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng và giữa các cộng đồng phát triển đến trình độ cao; khi xã hội xuất hiện các tôn giáo thì hình thức tương trợ trong thời kì này đã mang tính có tổ chức và quy mô rộng rãi hơn

Tới giữa thế kỷ XIX hệ thống bảo hiểm xã hội đầu tiên đã được thiết lập tại nước Đức với các chế độ bảo hiểm ốm đau, bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp, bảo hiểm tuổi già, bảo hiểm tàn tật với sự hiện diện của cả ba thành phần xã hội gồm: người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước Hiệu quả thiết thực của bảo hiểm xã hội ở Đức là bài học kinh nghiệm cho các quốc gia khác học tập và nhanh chóng lan rộng ra trên khắp thế giới Cho đến nay, không một ai có thể phủ nhận được vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh

xã hội của hệ thống bảo hiểm xã hội tại mỗi quốc gia Do vậy, mỗi quốc gia luôn có chính sách để duy trì và phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội của mình trong khả năng cho phép

Ở Việt Nam, để cải tiến và thống nhất các chế độ có tính chất bảo hiểm

xã hội, nhằm cải thiện đời sống của công nhân, viên chức Nhà nước, Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Nghị định số 218-CP ngày 27 tháng 12 năm 1961 ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ

Trang 11

Bảo hiểm xã hội đối với công nhân, viên chức nhà nước Quỹ bảo hiểm xã hội cũng bắt đầu hình thành tại cùng thời điểm và mọi đãi ngộ về bảo hiểm xã hội được nhà nước đài thọ Đến Nghị định số 12/CP ngày 26 tháng 01 năm 1995, quỹ bảo hiểm xã hội trở thành một quỹ tài chính độc lập, tập trung, nằm ngoài ngân sách nhà nước, được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội với các nguồn thu nhập hợp pháp Quỹ bảo hiểm xã hội là một công cụ để thực hiện chức năng tài chính bảo hiểm xã hội và chính sách bảo hiểm xã hội của Nhà nước Quỹ bảo hiểm xã hội được thành lập theo Nghị định 12/CP ngày 26 tháng 01 năm 1995 và tổ chức theo hệ thống dọc, quản lý tập trung từ Trung ương đến địa phương Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg ngày 20 tháng 01 năm 2002 và Quyết định số 02/2003/QĐ-TTg ngày 02 tháng 01 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ là căn cứ để hợp nhất quỹ bảo hiểm xã hội và quỹ bảo hiểm y tế, kéo theo một số thay đổi về cơ chế hoạt động tài chính của các quỹ thành phần

Hiện nay, quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ 03 nguồn chính là sự đóng góp bằng tiền của người sử dụng lao động, người lao động tham gia thụ

hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và Nhà nước (Trong đó Nhà nước chỉ đóng và hỗ trợ thêm để bảo đảm thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động) Ngoài ra, quỹ bảo hiểm xã hội còn hình thành từ

các nguồn như đầu tư quỹ vào các tổ chức tín dụng, đầu tư cổ phiếu, trái phiếu, thu từ tiền phạt chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp v.v…

Quỹ bảo hiểm xã hội tuy không chính thức là một quỹ đầu tư tài chính nhưng lại có vị trí như một định chế tài chính hàng đầu trong nền kinh tế quốc dân Hoạt động quản lý đầu tư nguồn tài chính của quỹ không nhằm mục tiêu kinh doanh để thu lợi nhuận như các tổ chức tài chính mà hoạt động trên nguyên tắc đầu tư để bảo tồn và tăng trưởng giá trị nhằm mục tiêu an toàn về tài chính của quỹ

Quỹ bảo hiểm xã hội giữ vai trò trung tâm trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội và tài chính bảo hiểm xã hội, là cầu nối giữa các bên tham gia và các bên hưởng lợi Kết quả hoạt động tài chính, cân đối quỹ là một chỉ

Trang 12

số quan trọng giúp cho việc nghiên cứu, đánh giá, điều chỉnh chính sách bảo hiểm xã hội và ra các quyết định liên quan đến bảo hiểm xã hội

2 Tổ chức và hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội

2.1 Mô hình tổ chức của quỹ bảo hiểm xã hội

Quỹ bảo hiểm xã hội được tổ chức theo mô hình tập trung tại Trung ương do Bảo hiểm xã hội Việt Nam quản lý Cơ quan độc lập giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo và giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách và thu, chi, quản lý, sử dụng các quỹ thành phần của quỹ bảo hiểm xã hội là Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam Hội đồng quản lý gồm đại diện lãnh đạo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ,

Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh hợp tác xã Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Tổng Giám đốc Bảo hiểm Xã hội Việt Nam và thành viên khác do Chính phủ quy định Hội đồng quản lý có Chủ tịch, Phó Chủ tịch thường trực và các thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ; nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản lý là 05 năm

Mô hình tổ chức của quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam như sau:

- Ban Đầu tư quỹ là đơn vị giúp việc Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam có nhiệm vụ tham mưu, lên kế hoạch về việc đầu tư quỹ bảo hiểm

xã hội ngắn hạn, dài hạn và danh mục các loại hình đầu tư để trình Tổng Giám đốc xem xét

- Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội sau khi xem xét các phương án thích hợp sẽ lựa chọn để trình Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội thông qua

lý BHXH

BHXH (TGĐ BHXH VN)

Ban Đầu tư quỹ

Trang 13

- Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội sẽ lấy ý kiến của các thành viên và đưa ra quyết định cuối cùng để trình Bộ tài chính và các Bộ, ngành liên quan

- Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan sau khi xem xét ra quyết định

sẽ trình Chính phủ

2.2 Hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội

Hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội dưới góc độ quản lý Nhà nước là tổ chức hoạt động thu, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và đầu tư nguồn tài chính

từ quỹ bảo hiểm xã hội dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, các cơ quan quản lý như Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Bộ Y tế và các bộ, ngành, cơ quan có liên quan Các cơ quan này có lãnh đạo là thành viên của Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam, vì vậy hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội suy cho cùng là hoạt động tổ chức nhiệm vụ thu, chi, thực hiện chính sách và đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội theo chỉ đạo của Chính phủ và Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Chính phủ và người đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội căn cứ theo báo cáo đột xuất, định kỳ, hàng năm của Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam về tình hình và kết quả hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội

Mọi nhiệm vụ được Hội đồng thông qua phiên họp thường kỳ 03 tháng một lần để xem xét và quyết định Đối với một số vấn đề không nhất thiết phải thảo luận tại phiên họp thì Chủ tịch Hội đồng quản lý gửi văn bản lấy ý kiến từng thành viên Hội đồng quản lý Ngoài ra, Hội đồng quản lý có thể họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách khi Chủ tịch Hội đồng quản

lý hoặc Tổng Giám đốc hoặc trên 50% tổng số thành viên Hội đồng quản lý

đề nghị

Cuộc họp của Hội đồng quản lý được tiến hành khi có ít nhất hai phần

ba thành viên Hội đồng quản lý tham dự Nghị quyết của Hội đồng quản lý phải được trên 50% tổng số thành viên Hội đồng quản lý biểu quyết tán thành Đối với các thành viên vắng mặt được gửi lấy ý kiến tham gia bằng văn bản

Trang 14

Trường hợp số thành viên biểu quyết đồng ý và không đồng ý bằng nhau thì quyết định theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng quản lý Những vấn đề chưa thống nhất ý kiến giữa các thành viên Hội đồng quản lý thì Chủ tịch Hội đồng quản lý báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định Thành viên Hội đồng quản

lý có quyền bảo lưu ý kiến của mình

Nghị quyết của Hội đồng quản lý được gửi đến các thành viên Hội đồng quản lý và Tổng Giám đốc để tổ chức thực hiện

Khi bàn về nội dung công việc liên quan đến các Bộ, ngành và các đơn

vị thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam thì Hội đồng quản lý mời lãnh đạo Bộ, ngành đó và Thủ trưởng đơn vị thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam dự họp Lãnh đạo các cơ quan, đơn vị liên quan được mời dự họp có quyền được phát biểu ý kiến, nhưng không tham gia biểu quyết

Thành viên Hội đồng quản lý có quyền yêu cầu Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam cung cấp thông tin, tài liệu về những nội dung thuộc phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của Hội đồng quản lý Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam có trách nhiệm cung cấp kịp thời, đầy đủ và chính xác các thông tin và tài liệu về những nội dung thuộc phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của Hội đồng quản lý theo yêu cầu của các thành viên Hội đồng quản lý Hàng năm, Hội đồng quản lý báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình và kết quả hoạt động của Hội đồng quản lý

2.2.1 Nội dung quản lý quỹ bảo hiểm xã hội

Việc quản lý quỹ bảo hiểm xã hội xét ở góc độ vị trí, chức năng, nhiệm

vụ do Chính phủ quy định cho Bảo hiểm xã hội Việt Nam là toàn bộ các hoạt động thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; chi trả chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Nhưng xét ở góc độ quản lý về “đầu tư tăng trưởng” thì nội dung quản lý quỹ bảo hiểm xã hội là hoạt động thực thi các quy định của Chính phủ và bộ, ngành, cơ quan có liên quan về đầu tư tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội dựa vào: Quy định hiện có; Kinh nghiệm đầu tư

Trang 15

thực tiễn qua quá trình tổ chức thực hiện của đơn vị nghiệp vụ của Bảo hiểm

xã hội Việt Nam (Ban Kế hoạch Tài chính, Ban Chi; Ban Đầu tư quỹ…)

Nội dung quản lý quỹ bảo hiểm xã hội gồm: Quản lý việc thu, chi các quỹ thành phần; quản lý đầu tư bằng hoạt động nghiệp vụ, xem xét hạn mức cho vay đã được phê duyệt hoặc nhu cầu vay vốn để lên phương án xây dựng

Tờ trình Tổng Giám đốc phê duyệt thực hiện, xem xét đơn vị xin vay vốn, yêu cầu bên vay hoàn thiện hồ sơ thẩm định phương án trước khi vay, tổ chức ký kết hợp đồng cho vay, quản lý hồ sơ cho vay đồng thời theo dõi việc thu nộp lãi định kỳ, phương án đầu tư nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng và theo dõi việc thực hiện đáo hạn hợp đồng thu hồi nguồn vốn cho vay về quỹ bảo hiểm

kỳ phiếu, công trái của Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại của Nhà nước; cho ngân sách nhà nước, Quỹ Hỗ trợ đầu tư phát triển, các ngân hàng thương mại của Nhà nước, Ngân hàng chính sách vay; đầu tư vào một số

dự án có nhu cầu về vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết định (Quy định hiện hành được quy định tại Điều 21 Quyết định số 02/2003/QĐ-TTg ngày 02/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý tài chính đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam)

Như vậy, hoạt động đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội là nguồn lực mang lại lợi nhuận đầu tư của quỹ bảo hiểm xã hội Tuy nhiên, nguồn hình thành này chỉ có giá trị trên thực tế khi hoạt động đầu tư quỹ mang lại giá trị lợi nhuận để bảo toàn và bổ sung nguồn tài chính vào quỹ Qua tình hình, kết quả việc đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội trong những năm trở

Trang 16

lại đây cho thấy những năm trước 2006, 2007 tỷ trọng nguồn vốn đầu tư từ quỹ cho các ngân hàng thương mại vay chiếm tỷ lệ lớn nhất nhưng đang dần thu hẹp quy mô vốn đầu tư vào thời gian gần đây; kế sau là nguồn đầu tư vào mua trái phiếu, tín phiếu của Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại của Nhà nước từ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn (đứng sau đầu tư vào tổ chức tín dụng) nay đã vươn lên chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số vốn đầu tư của quỹ bảo hiểm xã hội; số vốn đầu tư cho hoạt động công trái xây dựng Tổ quốc không đáng kể và trong những năm gần đây gần như không tổ chức thực hiện cho vay đầu tư do không mang lại lợi nhuận cho quỹ, thời gian thu hồi nguồn tài chính về quỹ lâu dài, nguy cơ mất vốn cao

Cơ cấu đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội tại thời điểm 31 tháng 12

hàng năm, giai đoạn 2007-2014

Đơn vị %

Đối tượng cho vay 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014

Cho NSNN vay 8,7 10,1 20,3 36,2 38,1 55,2 57 59,7 Mua TPCP 29,1 26,8 28,9 25,0 22,4 18,2 17,3 16,0 Công trái 1,3 0,2 0,2 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 Cho NHTMNN vay 60,9 62,8 50,6 38,8 38,7 25,0 23,8 22,2 Thủy điện Lai Châu 0,8 1,6 1,9 2,1

Tổng cộng 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0

\

Nguồn: Báo cáo tổng hợp của Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Qua đánh giá số liệu nhanh cho thấy việc cho vay vào các tổ chức tín dụng ở những năm trước đây là hoạt động đầu tư mang lại nguồn thu chính để bảo toàn cho quỹ bảo hiểm xã hội Tuy nhiên, đối tượng này đang dần bị thu hẹp lại do chỉ đạo của Chính phủ, Hội đồng quản lý quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam tập trung vốn cho ngân sách Nhà nước vay để bù đắp bội chi ngân sách Hoạt động đầu tư mua trái phiếu, tín phiếu của Nhà nước, đầu tư vào tổ chức tín dụng tiềm ẩn nhiều rủi ro khó trông thấy do quy định của pháp luật còn

Trang 17

mức cho vay là lý do dẫn đến hoạt động đầu tư này bị thu hẹp về quy mô, định mức đầu tư… Nguyên nhân là do thời điểm trước năm 2011 chưa có quy định chi tiết về hoạt động đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội do Bảo hiểm xã hội Việt Nam quản lý, đây là vướng mắc cơ bản phản ánh thực trạng pháp luật liên quan đến quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội để tăng trưởng nói chung và đầu tư vào các tổ chức tín dụng nói riêng hầu như còn bỏ ngỏ, thậm chí cho đến hiện nay đã có quy định ban hành nhưng đã sớm lạc hậu so với thực tiễn dẫn đến nguy cơ quỹ bảo hiểm xã hội tiếp tục bị xâm hại, ảnh hưởng đến nguồn vốn của quỹ, ảnh hưởng tới niềm tin của người lao động và nhân dân

Hiện nay, quỹ bảo hiểm xã hội đã có trên 1.000 hợp đồng cho vay vốn các loại trong đó có cả cho vay vào các tổ chức tín dụng với số tiền từ vài tỷ đến vài trăm tỷ đồng/hợp đồng cho vay Tuy nhiên, do thực trạng pháp luật về quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ còn những vấn đề chưa hoàn thiện về chính sách, buộc Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải có những chỉ đạo thay đổi về phương án đầu tư như thu hẹp phạm vi đầu tư nguồn tài chính vào tổ chức tín dụng, Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ được phép cho vay trực tiếp vào các

ngân hàng thương mại của Nhà nước (Một trong những lý do liên quan gần đây

là vụ việc Công ty cho thuê tài chính II (ALC II) thuộc Ngân hàng nông nghiệp – Phát triển nông thôn (Agribank) vay vốn mất khả năng thanh toán dẫn đến Bảo hiểm xã hội Việt Nam chưa thu hồi hết số nợ mặc dù có cam kết bảo lãnh của Ngân hàng Agribank sẽ trả nợ cho Công ty trực thuộc)

Trang 18

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ

NGUỒN TÀI CHÍNH TỪ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI

1 Thực trạng công tác quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội

1.1 Thực trạng pháp luật về quản lý đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo

hiểm xã hội

Giai đoạn trước 1995:

Trước 1995, chưa có quỹ tập trung, quỹ bảo hiểm xã hội do hai cơ quan quản lý là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Bộ Lao động Thương binh

và xã hội Cả hai cơ quan này đều không thực hiện được các biện pháp đầu tư tăng trưởng quỹ do quỹ không có kết dư, thu không đủ bù chi Hàng năm, Ngân sách Nhà nước phải cấp bù một số tiền lớn mới đủ chi cho các chế độ

Giai đoạn từ 1995-2006:

Ngày 26 tháng 01 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 20/1998/QĐ-TTg ban hành quy chế quản lý tài chính đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam, có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 01 năm 1998 Theo quy định tại Khoản 2 Điều 17 Quyết định này, Bảo hiểm xã hội Việt Nam được thực hiện

04 biện pháp đầu tư để bảo tồn và tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội như sau:

- Mua trái phiếu, tín phiếu của Kho bạc Nhà nước và các Ngân hàng Thương mại của Nhà nước;

- Cho vay đối với Ngân sách Nhà nước, Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia (nay là Ngân hàng Phát triển), các Ngân hàng thương mại Nhà nước

- Đầu tư vào một số dự án và doanh nghiệp lớn của Nhà nước có nhu cầu về vốn được Thủ tướng Chính phủ cho phép và bảo trợ

Từ 01 tháng 01 năm 2003, hoạt động đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội thực hiện quy chế quản lý tài chính ban hành theo Quyết định số 02/2003/QĐ-TTg ngày 02 tháng 01 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ Tại Quyết định này, danh mục đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội được quy định tại Khoản 2 Điều 21

Trang 19

trong đó bãi bỏ hình thức đầu tư vào một số doanh nghiệp lớn của Nhà nước

tại Quyết định số 20/1998/QĐ-TTg đã ban hành trước đó

Giai đoạn từ 2007 đến 2011:

Ngày 29 tháng 6 năm 2006, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 Hoạt động đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội thực hiện theo Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Bảo hiểm xã hội, Quyết định số 41/2007/QĐ-TTg ngày 29/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về Quản lý tài chính đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Thông tư số 58/2007/TT-BTC ngày 12/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý tài chính đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam Tại Điều 11 Quyết định 04/2007/QĐ-TTg quy định 05 hình thức mà Bảo hiểm xã hội Việt Nam được phép đầu tư là:

- Mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của Nhà nước, của Ngân hàng thương mại của Nhà nước;

- Cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội vay theo lãi suất thị trường;

- Cho Ngân hàng thương mại của Nhà nước vay;

- Đầu tư vào các công trình kinh tế trọng điểm quốc gia;

- Các hình thức đầu tư khác do pháp luật quy định

Tuy nhiên tính đến hết 31 tháng 12 năm 2010, hình thức đầu tư vào các công trình kinh tế trọng điểm vẫn chưa được Thủ tướng Chính phủ cho phép

Giai đoạn từ 2011 đến nay:

Bảo hiểm xã hội Việt Nam thực hiện hoạt động đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội theo Quyết định số 04/2011/QĐ-TTg ngày 20 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư hướng dẫn số 113/2012/TT-BTC ngày 17 tháng 7 năm 2012 của Bộ Tài chính Tại Khoản 2 Điều 7 Quyết định 04/2011/QĐ-TTg quy định 04 hình thức mà quỹ bảo hiểm xã hội được phép đầu tư, bao gồm:

- Mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của Nhà nước, của Ngân hàng thương mại của Nhà nước;

Trang 20

- Cho Ngân sách Nhà nước, Ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội vay ;

- Đầu tư vào các chương trình kinh tế trọng điểm quốc gia, một số dự

án có nhu cầu lớn về vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết định;

- Các hình thức đầu tư khác do Hội đồng Quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định

1.1.1 Nguyên tắc chung về quản lý quỹ bảo hiểm xã hội

Việc quản lý quỹ bảo hiểm xã hội thực hiện theo nguyên tắc chung về quản lý tài chính công với những nguyên tắc cơ bản sau:

a) Nguyên tắc tập trung dân chủ: Được thực hiện ở việc các khoản thu, chi, đầu tư được bàn bạc công khai nhằm đáp ứng mục tiêu an sinh xã hội

b) Nguyên tắc hiệu quả: Là nguyên tắc quan trọng trong quản lý quỹ Bên cạnh mục đích bảo tồn giá trị, việc đầu tư phải mang lại giá trị thặng dư cho quỹ bảo hiểm xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu chi trả chế độ cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, đáp ứng việc quyết toán chi phí quản lý Ngoài ra, còn đáp ứng được yêu cầu của hiệu quả xã hội là đảm bảo dòng tiền cung ứng cho các yêu cầu của nền kinh tế xã hội, làm lợi cho lợi ích cộng đồng

c) Nguyên tắc thống nhất: Thống nhất thực hiện theo quy định của Nhà nước, thống nhất trong công tác chỉ đạo việc đầu tư quản lý Thực hiện nguyên tắc thống nhất sẽ đảm bảo hiệu quả, hạn chế những tiêu cực và rủi ro khi đưa ra quyết định

d) Nguyên tắc công khai, minh bạch: Công khai, minh bạch trong quản

lý nguồn tài chính, phân phối nguồn lực, quản lý đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội được thể hiện trong các báo cáo thường niên định kỳ hàng quý, 6 tháng, cả năm được thực hiện nghiêm chỉnh và công bố toàn ngành

1.1.2 Nguyên tắc quản đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội

Nguyên tắc là những quy định buộc phải tuân thủ theo Nguyên tắc đầu tư tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội là những quy định của cấp có thẩm quyền mà các hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội phải tuân thủ Theo cách

Trang 21

hiểu như vậy, hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội có 04 nguyên tắc chính sau đây:

a) Nguyên tắc an toàn:

Quỹ Bảo hiểm xã hội chủ yếu được sử dụng để chi trả các trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động khi phát sinh nhu cầu Nhu cầu này của người lao động sự phát sinh nhu cầu bảo hiểm xã hội không có giới hạn và dự định trước cả về thời gian và không gian Với đặc điểm đó, quỹ bảo hiểm xã hội phải luôn tồn tích một lượng tiền cần thiết để đáp ứng Vì vậy, nguyên tắc hàng đầu của hoạt động đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội là phải đảm bảo an toàn để đảm bảo lợi ích của hàng triệu người lao động tham gia bảo hiểm xã hội Nói cách khác, quỹ bảo hiểm xã hội phải được đầu tư vào những khu vực, những lĩnh vực ít rủi ro nhất Để tránh được những rủi ro khi đầu tư, một mặt nhà nước phải có những chính sách đầu tư và cơ chế giám sát đầu tư chặt chẽ (quy định

tỷ lệ được đầu tư, chỉ định lĩnh vực đầu tư, bảo hộ quá trình đầu tư…)

b) Nguyên tắc hiệu quả

Hiệu quả đầu tư được hiểu là khả năng sinh lời từ kết quả đầu tư của quỹ bảo hiểm xã hội Dưới góc độ kinh tế, bất kỳ hoạt động đầu tư nào cũng phải

có lãi, tức là phải thu được lợi nhuận, sau khi đã trừ đi các chi phí đầu tư Mặc

dù mục tiêu hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội là phi lợi nhuận, nhưng để đảm bảo cho quỹ bảo hiểm xã hội có độ an toàn cao, có thể chi trả cho người thụ hưởng không chỉ hiện tại, mà cả trong tương lai, quỹ không những phải bảo toàn được giá trị mà còn phải tăng trưởng mới đáp ứng được yêu cầu này Lợi nhuận thu được từ các hoạt động đầu tư phải được tiếp tục tái đầu tư và một phần để bù đắp những tăng thêm của các chi phí bảo hiểm xã hội Để hoạt động đầu tư có được lợi nhuận, Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải cân nhắc, đánh giá cẩn thận các dự án định đầu tư, đánh giá những rủi ro có thể gặp phải để hạn chế thiệt hại có thể xảy ra, hoặc quyết định có tiếp tục đầu tư nữa hay không

c) Nguyên tắc thuận tiện khi thu hồi vốn

Mọi hoạt động chi trả trợ cấp bảo hiểm xã hội, mặc dù phụ thuộc vào

Trang 22

nhiều yếu tố khác nhau, liên quan đến các rủi ro xã hội và các sự kiện được bảo hiểm với những quy mô và mức độ khác nhau, nhưng nhìn chung, diễn ra thường xuyên Vì vậy quỹ bảo hiểm xã hội phải đảm bảo khả năng thanh toán cao nhất cho các đối tượng thụ hưởng Do đó, một trong những nguyên tắc được đặt ra là, phần đầu tư của quỹ phải có khả năng thanh khoản cao, nói cách khác, các khoản đầu tư phải hoàn toàn được chủ động và thuận tiện nếu phải thu hồi vốn Do đó khi đầu tư, quỹ bảo hiểm xã hội phải thực hiện một trong những tiêu chuẩn lựa chọn nguồn vốn đầu tư phải tính linh hoạt cao, có khả năng chuyển đổi từ tài sản đầu tư sang tài sản thanh toán nhanh và không phải chịu những phí tốn lớn

d) Nguyên tắc phục vụ cho những lợi ích công cộng

Hoạt động bảo hiểm xã hội nói chung và hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội nói riêng là thực hiện một trong những chính sách xã hội lớn của quốc gia, nhằm mục tiêu an sinh xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Do vậy, việc đầu tư phần nhàn rỗi của quỹ bảo hiểm xã hội không chỉ thuần tuý là lợi ích kinh tế mà còn có tính xã hội cao Các dự án đầu tư phải phục vụ trước hết là lợi ích trực tiếp của đông đảo những người tham gia bảo hiểm xã hội và những lợi ích công cộng khác, phục vụ gián tiếp người lao động, như tạo việc làm, cải thiện nhà ở, cải thiện các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ của dân cư, Chính vì vậy, khi lập các dự án đầu tư, các nhà đầu tư bảo hiểm xã hội phải tuân thủ hài hoà hai mục tiêu là lợi nhuận và lợi ích công cộng

1.1.3 Đối tượng đầu tư

Đối tượng đầu tư là các khách hàng vay vốn của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, nằm trong phương án đầu tư được Hội đồng quản lý quỹ phê duyệt theo quy định của pháp luật gồm: Mua trái phiếu, tín phiếu, công trái Nhà nước, của Ngân hàng thương mại Nhà nước; Cho Ngân sách Nhà nước vay, Ngân hàng thương mại Nhà nước vay, Ngân hàng Phát triển Việt Nam vay, Ngân hàng Chính sách xã hội vay; Đầu tư vào các công trình kinh tế trọng điểm quốc gia, một số dự án có nhu cầu lớn về vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết định và hình thức đầu tư khác do Hội đồng Quản lý quyết định

Trang 23

1.1.4 Điều kiện xem xét đầu tư

Hoạt động đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội từ năm 1995 đến nay được điều chỉnh tại các Quyết định số 606/QĐ-TTg ngày 26 tháng 9 năm 1995, Quyết định số 02/2003/QĐ-TTg ngày 02 tháng 01 năm 2003, Quyết định số 02/2003/QĐ-TTg ngày 02 tháng 01 năm 2003, Quyết định số 41/2007/QĐ-TTg ngày 29 tháng 3 năm 2007, Quyết định số 04/2011/QĐ-TTg ngày 20 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1066/QĐ-BHXH ngày 08 tháng 10 năm 2013 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành quy chế quản lý đầu tư các quỹ bảo hiểm xã hội và các văn bản do Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành để điều chỉnh trong hoạt động đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội Tuy nhiên các văn bản nhìn chung đều quy định còn thiếu chi tiết về hoạt động đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội và điều kiện xem xét đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội

Theo quy định chung thì nếu không phải đối tượng đầu tư được quy định hoặc không nằm trong phương án đầu tư được Hội đồng quản lý quỹ phê duyệt thì nếu có nhu cầu cần vay vốn cũng không được xem xét Mặt khác, Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam là người quyết định cuối cùng, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Thủ tướng Chính phủ trong việc quyết định số tiền cho vay vào ngân sách nhà nước, mua công trái, tín phiếu, cho vay vào các tổ chức tài chính, ngân hàng,

do đó điều kiện xem xét đầu tư thường là dựa trên kinh nghiệm và tham mưu của đơn vị nghiệp vụ Đối với các tổ chức tín dụng, việc quyết định cho vay căn cứ vào tình hình kinh doanh của đơn vị, báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, thông tin kiểm toán… của đơn vị được xem xét đầu tư, đơn vị nghiệp vụ

sẽ có đánh giá doanh nghiệp, dự kiến phương án đầu tư cụ thể trình Tổng Giám đốc xem xét trước khi ra quyết định

1.1.5 Quy định về quản lý đầu tư

a) Quy định về quản lý

Hàng năm, căn cứ tình hình phát triển kinh tế - xã hội, nguyên tắc và các hình thức đầu tư theo quy định của pháp luật, Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Trang 24

có trách nhiệm cân đối nguồn vốn để thực hiện các biện pháp bảo toàn và tăng trưởng các quỹ bảo hiểm xã hội; xây dựng phương án đầu tư trình Hội đồng quản lý phê duyệt, nội dung đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội vào các tổ chức tín dụng cụ thể là:

- Đánh giá tình hình thực hiện hoạt động đầu tư năm trước, ước thực hiện năm nay theo các chỉ tiêu tổng hợp và chi tiết theo từng hình thức đầu tư, gồm: Số dư nợ đầu tư, số tiền đầu tư, số tiền thu nợ (gốc, lãi), mức lãi suất đầu tư

- Trích 2% lập quỹ dự phòng rủi ro để xử lý, bù đắp những rủi ro do nguyên nhân khách quan trong hoạt động đầu tư

- Dự kiến nội dung đầu tư trong năm kế hoạch theo các chỉ tiêu tổng hợp và chi tiết theo từng hình thức ưu tiên đầu tư, gồm: Số tiền đầu tư, thời hạn đầu tư, lãi suất đầu tư, số tiền thu nợ (gốc, lãi), số dư nợ đầu tư cuối năm Căn cứ phương án đầu tư đã được Hội đồng quản lý phê duyệt, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổ chức thực hiện đầu tư theo đúng chế độ quy định Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu xét thấy cần thiết phải điều chỉnh hoặc bổ sung phương án đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả, Bảo hiểm xã hội Việt Nam báo cáo Hội đồng quản lý xem xét, quyết định

b) Quy trình đầu tư

Khi có nhu cầu vay vốn, bên vay là các tổ chức tín dụng có văn bản đề nghị vay gửi Bảo hiểm xã hội Việt Nam, trong đó nêu rõ: số dư nợ đang vay của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, mức vay, thời hạn vay, số lần nhận tiền vay

và thời điểm chuyền tiền

Trong phạm vi tối đa 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản

đề nghị của bên vay (theo ngày, tháng ghi trong dấu công văn đến của đơn vị), Bảo hiểm xã hội Việt Nam kiểm tra, xác minh, nếu thuộc đối tượng cho vay theo quy định thì xem xét quyết định việc cho vay; trường hợp không giải quyết cho vay thì phải có văn bản trả lời cho bên vay và nêu rõ lý do

Việc cho vay phải được lập thành hợp đồng Tuỳ theo điều kiện cụ thể

Trang 25

trong hợp đồng nhưng không trái quy định về hoạt động cho vay của Bảo hiểm xã hội Việt Nam tại Điều 8 Quyết định số 04/2011/QĐ-TTg ngày 20 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ theo đó:

- Mức cho vay do Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định căn cứ vào nhu cầu vay vốn, khả năng trả nợ của bên vay và phương án đầu tư trong năm đã được Hội đồng quản lý phê duyệt;

- Thời hạn cho vay được tính kể từ ngày cho vay đến ngày thu nợ; thời hạn cho vay cụ thể của từng hợp đồng cho vay do Bảo hiểm xã hội Việt Nam

và bên vay thỏa thuận nhưng tối đa không quá 5 năm;

- Lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận theo quy định của pháp luật về đầu từ quỹ bảo hiểm xã hội;

- Thu hồi nợ: tiền gốc thanh toán một lần khi đến hạn, tiền lãi được thanh toán hàng tháng Đến hạn trả lãi, nếu bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ lãi theo quy định thì cùng với việc phải trả đủ số tiền lãi chưa trả, còn phải trả lãi đối với số tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất cho vay quá hạn tại khoản 3 Điều này tương ứng với thời gian chậm trả;

- Trong thời gian thực hiện hợp đồng cho vay, bên vay có quyền trả lại vốn trước hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi đối với thời hạn cho vay còn lại của hợp đồng cho vay tương ứng với số tiền gốc trả nợ trước hạn và lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm trả nợ trước hạn;

- Đến hạn trả nợ gốc, nếu bên vay có nhu cầu gia hạn nợ hoặc vay lại thì phải có văn bản đề nghị, gửi Bảo hiểm xã hội Việt Nam xem xét giải quyết Căn cứ đề nghị của bên vay, Bảo hiểm xã hội Việt Nam xem xét gia hạn nợ một lần với thời hạn tối đa không quá 6 tháng hoặc cho vay lại; thủ tục cho vay lại thực hiện như cho vay lần đầu

1.1.5.1 Phương án đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội

Hàng năm, Bảo hiểm xã hội Việt Nam xây dựng phương án đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội để trình Hội đồng Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội

Trang 26

- Căn cứ để xây dựng Phương án đầu tư các quỹ bảo hiểm hàng năm là các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư quỹ và liên quan đến đầu tư quỹ hiện hành; tình hình thực hiện đầu tư các quỹ bảo hiểm năm trước; dự toán thu - chi trong năm kế hoạch của Ngành do các Ban nghiệp vụ (Kế hoạch - Tài chính, Thu, Chi, Thực hiện chính sách BHYT) cung cấp; số tiền dự kiến cho Ngân sách Nhà nước vay và mua trái phiếu Chính phủ; số dư nợ cuối năm

và số tiền thu nợ (gốc, lãi) trong năm kế hoạch; nguồn vốn cho các yêu cầu cấp thiết khác theo chỉ đạo của Hội đồng Quản lý và Tổng Giám đốc

Căn cứ vào các dữ liệu chủ yếu trên, Ban Đầu tư quỹ thực hiện cân đối thu - chi để xây dựng Phương án đầu tư các quỹ bảo hiểm năm kế hoạch, gửi Ban Kế hoạch - Tài chính trước ngày 20 tháng 7 để tổng hợp chung trong dự toán ngân sách năm của Ngành, trình Phó Tổng Giám đốc phụ trách xem xét trước khi trình Tổng Giám đốc để đưa ra cuộc họp Ban Cán sự đảng Sau đó Tổng Giám đốc trình Hội đồng Quản lý phê duyệt

Lập kế hoạch đầu tư các quỹ bảo hiểm hàng tháng căn cứ theo phương

án đầu tư các quỹ bảo hiểm đã được Hội đồng Quản lý phê duyệt; số dư trên các tài khoản của Bảo hiểm xã hội Việt Nam vào ngày đầu tiên của tháng; dự kiến số thu, chi trong tháng và ước thực hiện tháng sau; số tiền gốc và lãi đầu

tư đến hạn trả trong tháng và dự kiến trả trong tháng sau Từ ngày 26 đến 28 tháng trước, Ban Đầu tư quỹ căn cứ các số liệu trên để tính toán, xác định số tiền tạm thời nhàn rỗi trong tháng có thể đầu tư được và xây dựng kế hoạch đầu tư trong tháng sau, trình Phó Tổng Giám đốc phụ trách cho ý kiến trước khi trình Tổng Giám đốc phê duyệt Chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng

phải trình Tổng Giám đốc kế hoạch đầu tư tháng sau (trừ trường hợp từ ngày

26 - 28 trùng vào ngày nghỉ lễ hoặc nghỉ cuối tuần)

1.1.5.2 Quy trình thủ tục thực hiện đầu tư

a) Cho ngân sách Nhà nước vay

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 8, Quyết định số 04/2011/QĐ-TTg ngày 20 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ, quy trình, thủ tục cho vay đối với ngân sách nhà nước được quy định như sau:

Trang 27

- Mức cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay:

+ Mức cho vay do Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định căn cứ vào nhu cầu vay vốn của ngân sách nhà nước và phương án đầu

tư trong năm đã được Hội đồng quản lý phê duyệt

+ Thời hạn cho vay được tính kể từ ngày cho vay đến ngày thu nợ; thời hạn cho vay cụ thể của từng hợp đồng cho vay do Bảo hiểm xã hội Việt Nam

và Bộ Tài chính thỏa thuận nhưng tối đa không quá 10 năm

+ Lãi suất cho vay đối với từng khoản vay bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ có cùng kỳ hạn phát hành tại thời điểm cho vay Trường hợp tại thời điểm cho vay không đấu thầu hoặc bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ có cùng kỳ hạn, thì lãi suất sẽ do Chủ tịch Hội đồng quản lý quyết định Đối với các khoản vay có thời hạn trên 05 năm, định kỳ 05 năm/một lần, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Bộ Tài chính xem xét điều chỉnh lãi suất cho vay cho phù hợp để bảo đảm quyền lợi của các bên

- Quy trình, thủ tục cho vay:

+ Khi có nhu cầu vay vốn, Bộ Tài chính có văn bản đề nghị vay vốn gửi Bảo hiểm xã hội Việt Nam, trong đó nêu rõ mức vay, thời hạn vay, số lần nhận tiền vay, mục đích sử dụng tiền vay, thời gian cụ thể chuyển tiền

+ Trong phạm vi tối đa 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị vay vốn của Bộ Tài chính (theo ngày, tháng ghi trong dấu công văn đến của đơn vị), Bảo hiểm xã hội Việt Nam kiểm tra, đối chiếu với hạn mức cho ngân sách nhà nước vay trong năm đã được Hội đồng quản lý thông qua, nếu phù hợp thì xem xét quyết định việc cho vay; trường hợp không giải quyết cho vay thì phải có văn bản trả lời cho Bộ Tài chính và nêu rõ lý do

+ Việc cho vay phải được lập thành hợp đồng, trong đó ghi rõ: mức vay, thời hạn vay, lãi suất vay, mục đích sử dụng tiền vay và các thoả thuận khác liên quan (lập theo mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư này)

+ Căn cứ hợp đồng cho vay đã được ký kết, Bảo hiểm xã hội Việt Nam chuyển số tiền cho vay vào tài khoản của ngân sách nhà nước

Trang 28

- Thu hồi nợ:

+ Tiền gốc được thanh toán một lần khi đến hạn

+ Tiền lãi được thanh toán hàng năm trên số dư nợ cho vay và mức lãi suất cho vay ghi trong hợp đồng; thời điểm thanh toán lãi vào ngày tròn năm tính từ khi Bộ Tài chính nhận được vốn vay Công thức tính:

Số tiền lãi thanh toán hàng năm

=

Dư nợ cho vay

b) Cho Ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng phát triển Việt Nam, Ngân hàng chính sách xã hội vay

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 Quyết định số 04/2011/QĐ-TTg ngày 20 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ, quy trình, thủ tục cho vay đối với Ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng phát triển Việt Nam, Ngân hàng chính sách xã hội được quy định như sau:

- Đối tượng cho vay (sau đây gọi chung là bên vay), gồm:

+ Ngân hàng thương mại Nhà nước, bao gồm: Ngân hàng thương mại trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ; Ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ

+ Ngân hàng Phát triển Việt Nam

+ Ngân hàng Chính sách xã hội

- Mức cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay:

Trang 29

+ Mức cho vay do Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định căn cứ vào nhu cầu vay vốn, khả năng trả nợ của bên vay và phương án đầu tư trong năm đã được Hội đồng quản lý phê duyệt

+ Thời hạn cho vay được tính kể từ ngày cho vay đến ngày thu nợ; thời hạn cho vay cụ thể của từng hợp đồng cho vay do Bảo hiểm xã hội Việt Nam

và bên vay thỏa thuận nhưng tối đa không quá 05 năm

Để nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư, tận dụng triệt để những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi tại từng thời điểm trong năm, Bảo hiểm xã hội Việt Nam chủ động trong việc áp dụng thời hạn cho vay (ngày, tuần, tháng, năm), tùy theo nhu cầu của bên vay nhưng phải đảm bảo nguyên tắc an toàn, hiệu quả, thu hồi vốn đúng thời hạn, đồng thời không ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư theo các hình thức khác đã được Hội đồng quản lý phê duyệt

+ Lãi suất cho vay:

Lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận nhưng không thấp hơn mức lãi suất huy động bình quân cùng kỳ hạn của bốn sở giao dịch hoặc chi nhánh trên địa bàn thành phố Hà Nội thuộc bốn Ngân hàng thương mại Nhà nước tương ứng tại thời điểm cho vay Công thức xác định như sau:

Mức lãi suất huy động bình quân cùng kỳ hạn của bốn sở giao dịch hoặc chi nhánh Ngân hàng thương mại Nhà nước

Trang 30

triển nông thôn Việt Nam Việc lựa chọn bốn Sở giao dịch hoặc chi nhánh nêu trên do Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định

Để phục vụ cho công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động đầu tư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được thuận lợi, Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải mở hồ sơ lưu đầy đủ các biểu lãi suất huy động của bốn sở giao dịch hoặc chi nhánh Ngân hàng thương mại Nhà nước đã lựa chọn để xác định

lãi suất cho vay hoặc điều chỉnh lãi suất cho vay (bản chính hoặc bản phôtô hoặc bản fax)

- Điều chỉnh lãi suất cho vay:

+ Trong thời gian thực hiện hợp đồng cho vay, khi mức lãi suất huy động bình quân cùng kỳ hạn của bốn sở giao dịch hoặc chi nhánh trên địa bàn thành phố Hà Nội có biến động tăng hoặc giảm đến 30% so với mức lãi suất của hợp đồng đang có hiệu lực thì Bảo hiểm xã hội Việt Nam và bên vay xem xét điều chỉnh lãi suất cho vay theo tỷ lệ tương ứng để bảo đảm quyền lợi của các bên

+ Bảo hiểm xã hội Việt Nam khi xác định lãi suất cho vay căn cứ vào mức lãi suất huy động bình quân cùng kỳ hạn của bốn sở giao dịch hoặc chi nhánh Ngân hàng thương mại Nhà nước nào, thì khi điều chỉnh lãi suất cho vay cũng phải căn cứ vào mức lãi suất huy động bình quân cùng kỳ hạn của bốn sở giao dịch hoặc chi nhánh Ngân hàng thương mại Nhà nước đó

+ Lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay tại thời điểm đến hạn trả nợ

- Quy trình, thủ tục cho vay:

+ Khi có nhu cầu vay vốn, bên vay có văn bản đề nghị vay gửi Bảo hiểm xã hội Việt Nam, trong đó nêu rõ: số dư nợ đang vay của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, mức vay, thời hạn vay, số lần nhận tiền vay và thời điểm chuyền tiền

+ Trong phạm vi tối đa 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của bên vay (theo ngày, tháng ghi trong dấu công văn đến của

Trang 31

cho vay theo quy định thì xem xét quyết định việc cho vay; trường hợp không giải quyết cho vay thì phải có văn bản trả lời cho bên vay và nêu rõ lý do

- Thủ tục cho vay: Việc cho vay phải được lập thành hợp đồng (lập theo mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư này) Tuỳ theo điều kiện cụ thể của đối tượng cho vay, hai bên thống nhất bổ sung các điều khoản cụ thể trong hợp đồng nhưng không trái quy định tại Điều 8 Quyết định số 04/2011/QĐ-TTg ngày 20 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 113/2012/TT-BTC ngày 17 tháng 7 năm 2012 của Bộ Tài chính

- Thu hồi nợ:

+ Tiền gốc được thanh toán một lần khi đến hạn

+ Tiền lãi được thanh toán hàng tháng trên số dư nợ cho vay hoặc dư

nợ của từng khoản vay và mức lãi suất cho vay tại thời điểm đến hạn trả lãi; thời điểm thanh toán lãi vào ngày tròn tháng tính từ khi bên vay nhận được vốn vay Đối với các khoản cho vay ngắn hạn dưới 03 tháng, tiền lãi được thanh toán hàng tháng hoặc một lần cùng với thu hồi nợ gốc, tuỳ theo thoả thuận của các bên nhưng phải ghi rõ trong hợp đồng cho vay Công thức tính:

Số tiền

lãi thanh

toán

= Dư nợ cho vay x

Lãi suất cho vay (%/năm)

x

Số ngày vay thực tế

360

- Gia hạn nợ, cho vay lại:

+ Trước khi đến hạn trả nợ gốc 30 ngày, nếu bên vay có nhu cầu gia hạn nợ hoặc vay lại thì phải có văn bản đề nghị và tiêu rõ lý do, gửi Bảo hiểm

xã hội Việt Nam xem xét giải quyết

+ Trong phạm vi tối đa 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của bên vay (theo ngày, tháng ghi trong dấu công văn đến của đơn vị), Bảo hiểm xã hội Việt Nam xem xét, nếu đồng ý thì cho gia hạn nợ hoặc cho vay lại, nêu không đồng ý thì phải có văn bản trả lời cho bên vay và nêu rõ lý

do

Trang 32

- Trường hợp Bảo hiểm xã hội Việt Nam đồng ý cho gia hạn nợ hoặc cho vay lại thì thực hiện như sau:

+ Trường hợp cho gia hạn nợ: Mỗi khoản vay chỉ được giải quyết cho gia hạn nợ một lần với thời hạn tối đa không quá 06 tháng, thời hạn gia hạn

nợ cụ thể không được vượt quá thời hạn đã cho vay của hợp đồng

+ Trường hợp cho vay lại: Bên vay chưa phải trả nợ gốc nhưng phải trả hết tiền lãi của hợp đồng đã vay, sau đó cùng đại diện Bảo hiểm xã hội Việt Nam thoả thuận thống nhất thời hạn cho vay, lãi suất cho vay và lập lại hợp đồng cho vay Căn cứ hợp đồng cho vay mới đã được ký kết, Bảo hiểm xã hội Việt Nam lập chứng từ chuyển khoản thu nợ gốc của hợp đồng đến hạn và cho vay theo hợp đồng mới; thời hạn cho vay ghi trong hợp đồng mới được tính kể từ ngày đến hạn trả nợ của hợp đồng cho vay cũ

- Xử lý đối với các trường hợp trả nợ trước hạn, nợ quá hạn:

+ Trong thời gian thực hiện hợp đồng cho vay, bên vay có quyền trả lại vốn trước hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi đối với thời hạn cho vay còn lại của hợp đồng cho vay tương ứng với số tiền gốc trả nợ trước hạn và lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm trả nợ trước hạn Công thức tính:

x

Lãi suất cho vay (%/năm)

x

Số ngày trả trước hạn

360 (ngày)

+ Đến hạn trả lãi, nếu bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ lãi theo quy định thì cùng với việc phải trả đủ số tiền lãi chưa trả, còn phải trả lãi đối với số tiền lãi chậm trả theo lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay tại thời điểm đến hạn trả lãi tương ứng với thời gian chậm trả Công thức tính:

Lãi suất quá hạn (%/năm)

x

Số ngày chậm trả lãi

360 (ngày)

Trang 33

+ Đến hạn trả nợ gốc, nếu bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ tiền gốc đã vay thì cùng với việc phải trả đủ số tiền gốc đã vay, còn phải trả lãi đối với số tiền gốc chậm trả theo lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay tại thời điểm đến hạn trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả Công thức tính:

Tiền lãi

nợ quá

hạn

= Nợ gốc chậm trả x

Lãi suất quá hạn (%/năm)

x

Số ngày chậm trả gốc

360 (ngày)

c) Các hình thức đầu tư khác

Theo quy định tại Tiết d, Khoản 2, Điều 7, Quyết định số TTg ngày 20 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định các hình thức đầu tư khác do Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định

04/2011/QĐ Ưu tiên vốn đầu tư theo hình thức mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của Nhà nước và cho vay đối với ngân sách nhà nước”

Điều kiện thực hiện đầu tư là phải thuộc danh mục đầu tư và trong phạm vi mức vốn đầu tư trong năm đã được Hội đồng quản lý phê duyệt Mức lãi suất đầu tư thực hiện theo mức lãi suất trái phiếu, tín phiếu, công trái do Nhà nước, Ngân hàng thương mại Nhà nước quy định hoặc lãi suất đấu thầu qua thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật

Các quy định về chuyển tiền, thanh toán tiền gốc, lãi trái phiếu, tín phiếu, công trái được thực hiện theo quy định của Nhà nước và của Ngân hàng thương mại Nhà nước về phát hành trái phiếu, tín phiếu, công trái

- Đầu tư vào các công trình kinh tế trọng điểm quốc gia, dự án có nhu cầu lớn về vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết định:

Điều kiện thực hiện đầu tư, gồm:

Phải là công trình kinh tế trọng điểm quốc gia, dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và quyết định đầu tư, nguồn vốn thực hiện đầu tư

có nguồn vốn do Bảo hiểm xã hội Việt Nam quản lý

Trang 34

Phải thuộc danh mục đầu tư và trong phạm vi mức vốn đầu tư trong năm đã được Hội đồng quản lý phê duyệt

- Các quy định về phương thức đầu tư, phương thức thanh toán, tổ chức triển khai thực hiện, cơ chế kiểm tra, giám sát để bảo đảm sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả và các nội dung khác liên quan được thực hiện theo văn bản quy định riêng của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết của Hội đồng quản lý đối với từng trường hợp cụ thể

1.1.5.3 Quản lý việc đầu tư vào các tổ chức tín dụng

Quản lý vốn đầu tư là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu sau khi thực hiện việc ra quyết định đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội

Đối với danh mục đầu tư vào mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của Nhà nước, của Ngân hàng thương mại của Nhà nước; đầu tư vào các chương trình kinh tế trọng điểm quốc gia; đầu tư vào một số dự án có nhu cầu lớn về vốn do Thủ tướng Chính phủ và các hình thức đầu tư khác do Hội đồng Quản

lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định, việc quản lý, theo dõi nguồn vốn đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội thực hiện theo chỉ đạo định kỳ của Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Đối với hoạt động đầu tư cho Ngân sách Nhà nước, Ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội vay… thực hiện theo nguyên tắc cho vay đầu tư và kiểm soát phải đảm bảo nguyên tắc tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có tức là giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ, một số tài sản

nợ khác của tổ chức tín dụng theo quy định của Ngân Hàng Nhà Nước, và vốn

tự có là căn cứ để tính toán các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng và hoạt động đầu tư Quỹ bảo hiểm xã hội Việc quản lý căn cứ vào giới hạn tín dụng được quy định tại Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 4 năm 2005 của Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước nhằm quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư quỹ, bảo hiểm xã hội đảm bảo thực hiện đúng nguyên

tắc “đầu tư bảo đảm an toàn, bảo toàn được giá trị và có hiệu quả về kinh tế -

xã hội”

Trang 35

Hàng quý, Ban Đầu tư quỹ có trách nhiệm tổng hợp báo cáo tình hình

dư nợ từ hoạt động đầu tư Quỹ, đánh giá kết quả kinh doanh của các Ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội… báo cáo Tổng Giám đốc trước phiên họp thường kỳ của Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam

1.2 Thực trạng công tác quản lý đầu tư nguồn tài chính từ Quỹ bảo hiểm xã hội

1.2.1 Tổng quan chung

Căn cứ vào cơ cấu đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội trong những năm qua,

và cho thấy công tác quản lý quỹ bảo hiểm xã hội còn tồn tại nhiều hạn chế,

việc đầu tư chưa hiệu quả, mục tiêu đầu tư với nguyên tắc “đầu tư bảo đảm

an toàn, bảo toàn được giá trị và có hiệu quả về kinh tế - xã hội” trong thực

tế chưa đạt hiệu quả

Về mục tiêu bảo đảm an toàn:

Với danh mục đầu tư như hiện nay, quỹ bảo hiểm xã hội hoàn toàn đảm bảo mục tiêu an toàn nhưng vẫn còn tồn tại bất cập.Mặc dù đảm bảo nguyên tắc đầu tư đúng đối tượng, nhưng do cách thức quản lý và quy định pháp lý thiếu chặt chẽ dẫn đến việc đầu tư nguồn tài chính từ quỹ chưa hiệu quả, có tình trạng lạm dụng việc quản lý để trục lợi Cụ thể, đối tượng mặc dù đúng theo quy định nhưng được chia nhỏ thành nhiều gói hợp đồng để tạo cơ chế

“xin cho” dẫn đến hậu quả là việc quản lý đối tượng dàn trải

Về mục tiêu bảo toàn giá trị:

Căn cứ vào hiệu quả tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội và tình hình phát triển kinh tế xã hội hàng năm, có thể thấy việc bảo toàn giá trị quỹ bảo hiểm

xã hội được bảo đảm Tuy nhiên, thực tế thì việc bảo toàn không có nhiều ý nghĩa nếu việc đầu tư không mang lại giá trị gia tăng cho quỹ bảo hiểm xã hội

vì hiệu quả kinh tế - xã hội của việc đầu tư không đạt

Bản chất quỹ bảo hiểm xã hội cũng là một kênh huy động vốn của nền kinh tế Vì vậy, sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động được qua kênh này bằng cách đầu tư một phần quỹ chưa sử dụng đến là cần thiết, vừa tránh lãng

Trang 36

phí nguồn lực, đồng thời nhằm tăng thu, bảo toàn và phát triển quỹ Tuy nhiên, qua số liệu về tình hình, kết quả công tác đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội ở dưới đây sẽ minh chứng cho việc thiếu hiệu quả của công tác quản lý quỹ bảo hiểm xã hội

1.2.2 Kết quả cụ thể

Trong những năm qua, nguồn quỹ bảo hiểm xã hội tồn tích chủ yếu được đầu tư vào mục đích bảo toàn vốn, cụ thể là mua trái phiếu Chính phủ và cho các ngân hàng thương mại Nhà nước vay Tuy nhiên, Căn cứ vào số liệu theo thống kê về phần tồn dư Quỹ thì chỉ tính riêng năm 2009, Quỹ bảo hiểm

xã hội còn tồn 95.163 tỷ đồng gồm cả phần cộng dồn từ năm 2008 thì cho ngân sách Nhà nước vay 20 nghìn tỷ đồng, mua trái phiếu Chính phủ 28.500

tỷ đồng, mua công trái giáo dục 200 tỷ đồng và cho các ngân hàng thương mại của nhà nước vay 46.463 tỷ đồng

Năm 2010 Quỹ bảo hiểm xã hội tồn gần 84.000 tỷ đồng thì cho ngân sách nhà nước vay 8.500 tỷ, mua trái phiếu chính phủ 22.500 tỷ đồng, mua công trái giáo dục hết 200 tỷ đồng, còn lại cho các ngân hàng thương mại của nhà nước vay 52.773 tỷ đồng

Việc mua công trái xây dựng Tổ quốc qua các năm đang có xu hướng giảm đi đáng kể Mặc dù trước đây, năm 2003 tỷ lệ này là 4.1% tuy có thấp nhưng phần đóng góp này so với năm 2009 chỉ có 0,21% là gấp gần 20 lần Như vậy, nhìn vào danh mục đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội những năm gần đây, việc đầu tư đang được chuyển hướng chú trọng tới những hình thức đầu tư mang lại lợi tức như cho Ngân hàng thương mại hay Ngân sách Nhà nước vay lấy lãi suất thay vì đầu tư vào những loại hình thu lợi trong dài hạn Điều này đã phản ánh trên thực tế, hơn 10 năm qua, hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội chủ yếu thực hiện ba hình thức trên, còn hình thức đầu tư khác gần như chưa được thực hiện

Có thể thấy rõ sự mất cân đối về danh mục đầu tư qua biểu đồ dưới đây:

Cơ cấu danh mục đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội giai đoạn 2003 – 2009

Trang 37

cho NHTM vay mua công trái xây dựng tổ quốc mua trái phiếu chính phủ cho NSNN vay

Nguồn: Báo cáo tổng hợp của Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Hầu hết phần tồn dư quỹ bảo hiểm xã hội dùng cho việc cho các Ngân hàng thương mại vay và mua trái phiếu Chính phủ Suốt từ năm 2005 đến năm 2008 lượng tiền cho các Ngân hàng thương mại vay không ngừng tăng lên trong cơ cấu đầu tư của mình từ 59.23% lên 62.58% và năm 2009 con số này giảm xuống còn 48.82%

Một phần lớn thứ hai từ tồn dư quỹ là cho ngân sách nhà nước vay không ngừng tăng lên Từ năm 2008 đến 2009 tỷ lệ phần cho vay trong quỹ

đã tăng gấp đôi từ 10.12% lên 21.02%

Cùng với thời gian và tình hình thu nộp được cải thiện sau khi Luật Bảo hiểm xã hội ra đời, phần kết dư quỹ bảo hiểm xã hội không ngừng được tăng lên qua các năm và tính đến cuối năm 2009 con số kết dư này đã là 95,163 tỷ đồng Với giá trị này, quỹ bảo hiểm xã hội đang là một trong những quỹ đầu

tư lớn nhất trong nền kinh tế

Trong những năm qua, hầu như phần quỹ bảo hiểm xã hội kết dư đều được mang đi đầu tư nhằm mục đích sinh lời theo đúng chủ trương và kế hoạch của chính sách đặt ra Tuy nhiên nhìn vào tiến độ thực hiện đầu tư thì

Trang 38

số vốn đầu tư mới được thực hiện trong năm qua các năm lớn nhưng con số thu hồi lại quá nhỏ; cá biệt một số năm như 2006 chỉ thu hồi được 100 tỷ đồng so với con số đầu tư mới là hơn 9.000 tỷ đồng Điều này phản ánh tính không hiệu quả của hoạt động đầu tư Những năm gần đây, con số này đã có

sự chuyển biến theo hướng tích cực hơn, đó là sự gia tăng phần thu hồi và lãi suất bình quân cũng có gia tăng nhưng số lãi thu được lại quá thấp so với vốn đầu tư bỏ ra Không những vậy, năm 2008 lãi đầu tư đã thu được 8.987 tỷ đồng thì sang năm 2009 con số này lại giảm xuống 8.408 tỷ đồng; đồng thời

tỷ lệ lãi cũng giảm xuống 9,1%

Hiệu quả hoạt động đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam

So sánh lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội

với các chỉ tiêu tài chính khác

Đơn vị: %

Năm Tỷ lệ lạm

phát Tốc độ tăng

GDP Lãi suất đầu

tư bình quân Lãi suất thực

Đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội căn

cứ vào các chỉ tiêu nói trên có thể thấy:

Mặc dù từ năm 1996, quỹ bảo hiểm xã hội bắt đầu có kết dư và tiến hành

Trang 39

2009 nếu nhìn vào số liệu của tỷ lệ sinh lời nói riêng có thể thấy tỷ lệ này đã gia tăng đồng biến trong suốt giai đoạn nói trên, riêng năm 2008 là 11,76% thì sang 2009 giảm xuống 9,1% Tuy nhiên nếu đem tỷ lệ này so sánh với tương quan của tỷ lệ lạm phát của cùng giai đoạn thì lãi suất đầu tư quỹ qua nhiều năm còn thấp hơn cả lạm phát dẫn đến lãi suất thực bị âm; cụ thể vào các năm

2004 là –2,71%; năm 2005 là -1,95%; năm 2007 là -5,32% và điểm đặc biệt là năm 2008 tỷ lệ sinh lời là cao nhất trong giai đoạn 2003 – 2009 là 11,76% thì đồng thời so với tỷ lệ lạm phát mức chênh lệch tạo ra lãi suất thực cũng là thấp nhất -10,11%; với mức sinh lời như vậy thì lãi suất thực chỉ có năm 2003

là cao nhất được 3,44%; năm 2006 tuy lãi suất thực lớn hơn “0” nhưng lại là con số khá khiêm tốn với 0,67%; năm 2009 tuy tỷ lệ sinh lời có thấp hơn nhưng mức lãi suất thực được cải thiện thành 2,2%, dù là con số nhỏ nhưng

so với năm trước đó thì đây là dấu hiệu tăng trưởng

Mặt khác, so với tốc độ tăng trưởng của GDP cả nước trong giai đoạn này, có thể thấy tốc độ tăng trưởng của Việt Nam thời gian qua tương đối ổn định với mức dao động trung bình khoảng 8%; hai năm gần đây, do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới con số này có giảm xuống là 6,32% năm

2008 và 5,32% nhưng đều vượt so với chỉ tiêu đặt ra Tuy nhiên, tỷ lệ sinh lời của quỹ bảo hiểm xã hội qua các năm tương đối thấp, chưa đáp ứng được xu hướng phát triển chung của cả nước Mức sinh lời của quỹ bảo hiểm xã hội qua các năm hầu như đều thấp hơn tốc độ tăng trưởng của GDP cùng thời kỳ Những năm 2003 – 2007 tốc độ tăng trưởng GDP khá tốt thì tỷ lệ sinh lời khá khiêm tốn; con số này mới cải thiện được qua hai năm gần đây do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Chúng ta có thể thấy rõ xu hướng tăng trưởng cũng như hiệu quả đầu tư của quỹ bảo hiểm xã hội qua biểu đồ dưới đây:

Ngày đăng: 20/06/2016, 20:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2008), Văn bản pháp quy về BHXH, BHYT tập 1 và 2, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác
14. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2010), Báo cáo 5 năm thực hiện chính sách BHYT (2005 - 2009) gửi Thủ tướng Chính phủ Khác
15. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2010), Báo cáo tình hình thực hiện chính sách BHYT và cân đối quỹ BHYT gửi Ban Bí thư Trung ương Đảng Khác
16. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2010), Báo cáo tình hình bội chi quỹ BHYT và đề xuất giải pháp gửi Chính phủ Khác
17. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2011, 2012, 2013, 2014), Báo cáo tình hình quản lý và sử dụng quỹ Bảo hiểm xã hội;18. Trang web Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w