1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về các hình thức khuyến mại và thực tiễn thi hành trên địa bàn thành phố hà nội

76 1,1K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu của Luận văn có giá trị tham khảo đối với các nhà nghiên cứu, nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách, pháp luật và hoàn thiện các quy định hiện hành về các hình

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI

VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI

VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đây là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả, các số liệu trong luận văn

là trung thực, không sao chép của công trình khác đã được công bố Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm./

Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2015

Tác giả

Vũ Bằng Thương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian học tập, nghiên cứu tại Viện Đại học Mở Hà Nội, để hoàn thành

luận văn " Pháp luật về các hình thức khuyến mại và thực tiễn thi hành trên địa bàn thành phố Hà Nội", tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ của các cá

Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2015

Tác giả

Vũ Bằng Thương

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Đối tượng nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 4

8 Đóng góp của Luận văn 5

8.1 Đóng góp về mặt lý luận 5

8.2 Đóng góp về mặt thực tiễn 5

9 Kết cấu của Luận văn 5

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI 7

1.1 Lịch sử hình thành, phát triển của hoạt động khuyến mại và pháp luật về khuyến mại 7

1.2 Khái niệm, đặc điểm pháp lý của khuyến mại 10

1.2.1 Khái niệm 10

1.2.2 Đặc điểm pháp lý của khuyến mại 11

Trang 6

1.3 Nội dung cơ bản của pháp luật về các hình thức khuyến mại theo quy định của

pháp luật hiện hành 12

1.3.1 Các hình thức khuyến mại theo quy định của pháp luật hiện hành 12

1.3.2 Các nguyên tắc khi thực hiện khuyến mại 26

1.3.3 Các hình thức khuyến mại bị cấm 28

CHƯƠNG II THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 38

2.1 Thực trạng tình hình hoạt động khuyến mại trên địa bàn thành phố Hà Nội 38

2.2 Những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về khuyến mại từ thực tiễn áp dụng tại địa bàn thành phố Hà Nội 47

2.2.1 Nhiều quy định của pháp luật còn mập mờ, khó áp dụng 48

2.2.2 Một số quy định của pháp luật còn bất hợp lý 48

2.2.3 Các quy định về chế tài còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe, ngăn ngừa vi phạm 50

2.3 Những hạn chế, bất cập trong công tác thực thi pháp luật và quản lý nhà nước về các hình thức khuyến mại 50

CHƯƠNG III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU LỰC THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI 53

3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện và nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật về các hình thức khuyến mại 53

3.1.1 Yêu cầu xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và môi trường kinh doanh đồng bộ 53

3.1.2 Yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế 54

3.1.3 Yêu cầu bảo vệ quyền lợi của người sản xuất, người tiêu dùng 55

3.2 Phương hướng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về các hình thức khuyến mại 55

Trang 7

3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về các hình thức khuyến mại 56 3.3.1 Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về các hình thức khuyến mại 56 3.3.2 Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về các hình thức khuyến mại 61 3.3.3 Kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại 63 KẾT LUẬN 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ khi nước ta chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, quyền tự do kinh doanh của các doanh nghiệp được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Các thương nhân được tự do lựa chọn ngành nghề, hình thức và phương thức tổ chức hoạt động kinh doanh Từ đó, việc các doanh nghiệp trong cùng một lĩnh vực sản xuất kinh doanh có sự cạnh tranh lẫn nhau, tranh giành thị trường là điều không thể tránh khỏi Trong cuộc ganh đua đó, các doanh nghiệp

sử dụng mọi giải pháp để tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội bán hàng và cung ứng dịch vụ như: Tuyên truyền, giới thiệu, khuyếch trương hàng hóa, dịch vụ, tổ chức việc bán hàng có giảm giá, phát quà tặng Các hoạt động này được gọi chung là xúc tiến thương mại

Khuyến mại là một trong những hình thức xúc tiến thương mại phổ biến nhất được thương nhân lựa chọn Khuyến mại là cách thức ngắn nhất và đơn giản nhất để đưa sản phẩm, dịch vụ thâm nhập vào thị trường Khuyến mại kích thích nhu cầu mua sắm một sản phẩm, dịch vụ nào đó và qua đó tăng cường cơ hội bán hàng, cung cấp dịch vụ cho thương nhân Bên cạnh đó khuyến mại còn góp phần định hướng cho người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng nhận biết được xu hướng tiêu dùng lành mạnh, tiếp cận được những sản phẩm có uy tín, chất lượng

Khuyến mại nếu được áp dụng phù hợp với pháp luật và chuẩn mực đạo đức kinh doanh sẽ góp phần tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các thương nhân, thúc đẩy thương mại phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những hoạt động khuyến mại lành mạnh thì cũng có không ít thương nhân vì lợi ích của mình mà thực hiện những hành vi khuyến mại trái pháp luật, vi phạm đạo đức và chuẩn mực kinh doanh Những hành vi khuyến mại không lành mạnh đó sẽ làm méo mó hoạt động thương

Trang 9

mại, làm xấu môi trường kinh doanh và xâm hại quyền lợi của các đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng

Hiện nay, hoạt động khuyến mại đang diễn ra hết sức đa dạng, phong phú và phức tạp tại các trung tâm lớn mà thành phố Hà Nội là một ví dụ Cùng với việc đem đến bức tranh sôi động cho kinh tế của các địa phương này và cả nước nói chung, các hoạt động khuyến mại cũng đang chứa đựng nhiều bất cập, thậm chí vượt ra ngoài khuôn khổ pháp luật và sự quản lý của nhà nước, đe doạ đến trật tự quản lý kinh tế và quyền lợi của các thương nhân làm ăn chân chính và người tiêu dùng Tình hình đó có nguyên nhân từ những quy định bất cập của pháp luật, cộng với sự lung túng, buông lỏng quản lý của các cơ quan có thẩm quyển Xuất phát từ

lý do đó, tác giả đã chọn đề tài "Pháp luật về các hình thức khuyến mại và thực

của mình, với mong muốn góp phần làm sáng tỏ những cơ sở lý luận và thực tiễn, những bất cập của pháp luật thực định về các hình thức khuyến mại và thực tiễn thi hành trên địa bàn một trong những trung tâm kinh tế của cả nước Từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý cũng như nâng cao năng lực thực thi pháp luật về khuyến mại trên địa bàn Hà Nội và cả nước nói chung

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Pháp luật về các hình thức khuyến mại là một vấn đề có ý nghĩa cả về lý luận

và thực tiễn, do vậy đã thu thút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả, nhà khoa học, nhà quản lý và các sinh viên Thời gian qua đã có một số công trình nghiên

cứu, bài viết về đề tài này được công bố như: TS Nguyễn Thị Dung (2007), Pháp

luật về khuyến mại – Một số vướng mắc về lý luận và thực tiễn, Tạp chí Luật học

số7/2007; Bùi Thị Keng (2008), Những hình thức pháp lý để xúc tiến thương mại, Luận văn thạc sĩ luật học; Nguyễn Thanh Tú (2009), Tìm hiểu pháp luật khuyến mại

ở Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật Hà Nội

Các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về các hình thức khuyến mại, nhưng ở bình diện chung nhất mà

Trang 10

không gắn với một địa bàn cụ thể nào Mặt khác, các công trình nghiên cứu đó đều

đã được thực hiện khá lâu nên những thông tin và vấn đề nghiên cứu không còn mang tính cập nhật Với việc thực hiện đề tài này, tác giả gắn việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn pháp lý về hoạt động khuyến mại với thực tế tại một địa bàn cụ thể

là thành phố Hà Nội, nơi được cho là hội tụ tất cả các sắc thái của hoạt động khuyến mại hiện nay Vì vậy, đề tài này có tính mới và không trùng lặp với các đề tài nghiên cứu đã được công bố trước đây

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn pháp lý về hoạt động khuyến mại nói chung, gắn với thực tế tại địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn sẽ nêu lên những vấn đề tồn tại, bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành về các hình thức khuyến mại cũng như thực tiễn thi hành các quy định đó Trên cơ sở đó, Luận văn đưa ra những giải pháp kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật về khuyến mại trong thực tiễn

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ tính cấp thiết và mục đích nghiên cứu của đề tài, Luận văn đặt

ra những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về các hình thức khuyến mại và pháp luật về các hình thức khuyến mại dưới góc độ khoa học pháp lý của Việt Nam và các nước nói chung

- Phân tích và đánh giá những quy định của pháp luật hiện hành về các hình thức khuyến mại và thực tiễn áp dụng tại địa bàn thành phố Hà Nội;

-Đề xuất phương hướng và những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về các hình thức khuyến mại cũng như nâng cao hiệu lực thi hành trong thực tiễn

Trang 11

5 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống lý luận pháp lý; các quy định của pháp luật hiện hành về các hình thức khuyến mại và thực tiễn thi hành pháp luật

về các hình thức khuyến mại trên địa bàn thành phố Hà Nội

6 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:

- Những vấn đề lý luận pháp lý về cá hình thức khuyến mại dưới góc độ khoa học pháp lý các nước và Việt Nam;

- Hệ thống pháp luật thực định về các hình thức khuyến mại được quy định trongLuật thương mại năm 2005, Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 của Chính phủ quy định chi tiết luật Luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại, Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16/01/2008 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại;

- Thực tiễn thi hành pháp luật về các hình thức khuyến mại trên địa bàn Hà Nội kể từ khi Luật Thương mại 2005 được ban hành cho đến nay

7 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, hệ thống các quan điểm, học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các quan điểm, chính sách về thương mại nói chung, về hoạt động khuyến mại nói riêng của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện trong các văn kiện của Đảng và hệ thống phápluật của Nhà nước

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, Luận văn sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, lý thuyết hệ thống, quy nạp, diễn dịch, lôgic, kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn Các phương pháp được sử dụng nhằm làm rõ nội dung cơ bản của đề tài nghiên cứu, bảo đảm tính khoa học và

Trang 12

lôgic giữa các vấn đề được nêu ra Ngoài ra, luận văn cũng kế thừa, phát triển các kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan đến nội dung đề tài nhằm làm rõ những vấn đề chính của luận văn

8 Đóng góp của Luận văn

8.1 Đóng góp về mặt lý luận

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn pháp luật về các hình thức khuyến mại ở Việt Nam, đánh giá về thực trạng áp dụng pháp luật về các hình thức khuyến mại trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn góp phần làm phong phú thêm các quan điểm, nhận thức và các luận cứ khoa học, thực tiễn về các vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của đề tài

8.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật về các hình thức khuyến mại ở Việt Nam; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng để thúc đẩy các hoạt động thương mại, góp phần phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế

Kết quả nghiên cứu của Luận văn có giá trị tham khảo đối với các nhà nghiên cứu, nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách, pháp luật và hoàn thiện các quy định hiện hành về các hình thức khuyến mại của thương nhân cũng như trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả thực thi của các quy định này Ngoài ra, Luận văn cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy pháp luật về cạnh tranh

9 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về các hình thức khuyến mại và pháp luật về các hình thức khuyến mại

Trang 13

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về các hình thức khuyến mại trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật về các hình thức khuyến mại

Trang 14

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI

1.1 Lịch sử hình thành, phát triển của hoạt động khuyến mại và pháp luật về khuyến mại

Cùng với sự phát triển của nền sản xuất, hàng hóa được đưa ra thị trường với một khối lượng lớn và ngày càng đa dạng, phong phú, hoạt động thương mại ngày càng trở nên sôi động, cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn làm cho vấn đề tiêu thụ hàng hóa trở thành vấn đề sống còn và là mối quan tâm hàng đầu đối với các thương nhân Hoạt động xúc tiến thương mại chỉ hình thành trong cơ chế thị trường khi mà

có nhiều thương nhân cùng có khả năng cung cấp một loại hàng hóa, dịch vụ còn người tiêu dùng có quyền lựa chọn để mua hàng hoá hoặc dịch vụ phù hợp với nhu cầu của mình

Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thông qua các chỉ tiêu kế hoạch, Nhà nước là người quyết định cả ba khâu: Sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai Trong lĩnh vực thương mại, hoạt động mua bán sản phẩm (bao gồm

cả việc mua sắm các yếu tố đầu vào cho sản xuất), việc tiêu thụ sản phẩm sản xuất

và vấn đề giá cả của sản phẩm, dịch vụ đều do Nhà nước quy định và được diễn ra theo kế hoạch Tuy nhiên, trong bối cảnh Nhà nước độc quyền về thương mại, việc mua bán theo chỉ tiêu và địa chỉ định sẵn, việc hạch toán kinh doanh chỉ là hình thức và tính chủ động, sáng tạo của doanh nghiệp bị triệt tiêu Khi mà người sản xuất biết được sản phẩm của mình đã có người mua, thậm chí ngay cả khi sản phẩm

đó chưa được sản xuất ra, khi mà các doanh nghiệp thương mại luôn biết chắc chắn rằng hàng hóa của mình kinh doanh là bán được thì họ không cần phải quan tâm hiệu quả của quá trình kinh doanh, không cần tìm kiếm cơ hội kinh doanh mới Việc nghiên cứu nhu cầu khách hàng, chiến lược sản phẩm, chiến lược phân phối, chiến

Trang 15

lược xúc tiến để thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng trở nên không cần thiết đối với các doanh nghiệp Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp không cần thiết phải tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, không cần thiết phải thực hiện quảng cáo, khuyến mại

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đánh dấu bước ngoặt ở Việt Nam, đặc biệt là việc chuyển đổi nền kinh tế từ chỉ huy, tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, các doanh nghiệp tự hạch toán và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình Vì vậy, các doanh nghiệp sẽ phải cạnh tranh, giành giật để tìm kiếm cơ hội kinh doanh nếu không thì họ sẽ bị loại khỏi thị trường Xu thế cạnh tranh ngày càng khốc liệt đòi hỏi các doanh nghiệp phải có chiến lược nghiên cứu thị trường, phân tích hành vi và nhu cầu của người tiêu dùng, tìm mọi cách để tiêu thụ hàng hóa và cung ứng dịch

vụ Ngoài việc thực hiện tốt khâu sản xuất, sản phẩm đảm bảo đạt chất lượng tốt thì cần phải thu hút sự quan tâm và kích thích nhu cầu sử dụng hàng hóa và dịch vụ của khách hàng Ngày nay, hàng hóa và dịch vụ xuất hiện ngày càng nhiều, cùng chủng loại và chất lượng tương đối ngang nhau, vì vậy chúng mang đến cho khách hàng nhiều sự lựa chọn Do đó, các thương nhân cần phải tạo ra sự khác biệt giữa sản phẩm của mình với sản phẩm của các thương nhân khác, đó chính là cơ sở để khách hàng lựa chọn sản phẩm của mình trong số hàng loạt các sản phẩm tương tự Điểm khác biệt đó chính là những lợi ích nhất định mà các thương nhân dành cho khách hàng thông qua các chương trình khuyến mại Chương trình khuyến mại được thực hiện dưới nhiều hình thức như là giới thiệu sản phẩm, tặng hàng mẫu, giảm giá sản phẩm, mua hàng có thưởng

Nói tóm lại, khuyến mại luôn là một hoạt động ưu tiên trong chiến lược kinh doanh của các thương nhân và đó chính là xu thế phổ biến hiện nay trong cộng đồng các thương nhân bất kể tính đặc thù của các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh khác nhau

Trang 16

Cùng với sự phát triển đa dạng của các loại hình kinh doanh, kéo theo sự gia tăng mạnh mẽ số lượng các thương nhân tạo ra ngày càng nhiều hàng hóa, dịch vụ trên thị trường đưa ra nhiều lựa chọn cho người tiêu dùng Trong bối cảnh đó, pháp luật thương mại nói chung và pháp luật khuyến mại nói riêng trở nên có vị trí quan trọng Văn bản đầu tiên điều chỉnh về hoạt động xúc tiến thương mại được ban hành ngày 01/8/1994 là Quyết định số 390/TTg ban hành quy chế về hội chợ, triển lãm thương mại Tiếp đó là Nghị định số 194/CP ngày 31/12/1994 quy định về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, những văn bản này đều là những văn bản dưới luật và chưa điều chỉnh hết các hành vi xúc tiến thương mại Tiếp theo là Nghị định số 194/CP ngày 31/12/1994 quy định về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, những văn bản này đều là những văn bản dưới luật và chưa điều chỉnh hết tất cả hành vi xúc tiến thương mại, hoạt động đang diễn ra mạnh mẽ và có nhiều hình thức đa dạng trong môi trường kinh doanh Luật Thương mại năm 1997 ra đời đánh dấu sự phát triển cao hơn vì nó đã bổ sung thêm nhiều hình thức hoạt động xúc tiến thương mại, đặc biệt là hình thức khuyến mại được đưa vào điều chỉnh ở một văn bản pháp lý cao hơn Nhằm đáp ứng nhu cầu điều chỉnh của hoạt động thương mại, ngày 05/5/1999 Chính phủ ban hành Nghị định số 32/1999/NĐ-CP về hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại và hội chợ triển lãm thương mại Khi các quan hệ thương mại diễn ra ngày càng mạnh mẽ

và phức tạp thì lúc này các văn bản hiện hành không còn phù hợp để điều chỉnh các vấn đề mới phát sinh do đó những văn bản mới ra đời là một tất yếu, vì vậy, Luật Thương mại năm 2005 ra đời nhằm điều chỉnh những vấn đề mà Luật Thương mại năm 1997 chưa kịp điều chỉnh

Bên cạnh đó, để đảm bảo tính cạnh tranh của các thương nhân, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này nhiều văn bản pháp luật liên quan cũng được ban hành để điều chỉnh vấn đề này Cụ thể là Luật Cạnh tranh năm 2004, Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, Pháp lệnh Bảo

vệ người tiêu dùng năm 1999 được thay thế bằng Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm

Trang 17

2010, Nghị định số 175/2004/NĐ-CP ngày 10/10/2004 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại , đã được thay thế bằng Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16/01/2008 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại, Thông tư liên tịch

số 07/2007/TTLT-BTM-BTC ngày 06/7/2007 của Bộ Thương mại và Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều về khuyến mại và hội chợ triển lãm thương mại quy định tại Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại

Hiện nay, có rất nhiều văn bản điều chỉnh về hoạt động xúc tiến thương mại nói chung và hoạt động khuyến mại nói riêng Tuy còn chưa thực sự hoàn chỉnh nhưng các văn bản nói trên đã góp phần điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực hoạt động khuyến mại, làm cho hoạt động cạnh tranh càng lành mạnh hơn, góp phần đưa nền kinh tế phát triển Đồng thời, các văn bản pháp luật này đang không ngừng sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và quá trình hội nhập quốc tế

1.2 Khái niệm, đặc điểm pháp lý của khuyến mại

1.2.1 Khái niệm

Khoản 1 Điều 88 Luật Thương mại 2005 đưa ra định nghĩa về khuyến mại

như sau:“Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc

tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định”

Như vậy, khuyến mại là cách thức, biện pháp thu hút sự quan tâm của khách hàng đối với hàng hoá, dịch vụ do thương nhân cung cấp thông qua việc dành cho khách hàng những lợi ích nhất định, bao gồm lợi ích vật chất (tiền, hàng hóa) hoặc lợi ích phi vật chất (được cung ứng dịch vụ miễn phí) Thông qua việc dành tặng các lợi ích cho khách hàng sẽ tác động đến tâm lý, nhu cầu và quyết định mua hàng,

sử dụng dịch vụ của khách hàng nhằm giúp thương nhân tiêu thụ được hàng hóa,

Trang 18

dịch vụ của mình Dấu hiệu dành cho khách hàng những lợi ích vật chất nhất định

để tác động tới thái độ và hành vi mua bán của họ là đặc trưng của khuyến mại để phân biệt với các hình thức xúc tiến thương mại khác

1.2.2 Đặc điểm pháp lý của khuyến mại

1.2.2.1 Về chủ thể:

Chủ thể thực hiện hành vi khuyến mại phải là thương nhân Theo quy định của Luật Thương mại 2005, mọi thương nhân được phép tự mình tổ chức thực hiện việc khuyến mại để tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ do mình cung cấp Ngoài ra, thương nhân cũng có thể thực hiện dịch vụ khuyến mại đối với hàng hoá, dịch vụ do thương nhân khác cung cấp thông qua hợp đồng dịch vụ khuyến mại giữa thương nhân có nhu cầu khuyến mại và thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại Trong trường hợp này, thương nhân thực diện dịch vụ khuyến mại cho thương nhân khác phải đáp ứng những điều kiện nhất định do pháp luật quy định

1.2.2.2 Về cách thức xúc tiến thương mại:

Thương nhân sẽ đạt được mục đích kích thích nhu cầu mua sắm, sử dụng dịch vụ của khách hàng bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định Tùy thuộc vào mục tiêu của đợt khuyến mại, tùy thuộc vào trạng thái cạnh tranh, phản ứng của đối thủ cạnh tranh trên thương trường và điều kiện kinh tế dành cho khuyến mại, lợi ích mà thương nhân dành cho khách hàng có thể là những lợi ích vật chất như tặng quà, tặng hàng mẫu để dùng thử, mua hàng giảm giá … hoặc là lợi ích phi vật chất như tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật Khách hàng được khuyến mại có thể là người tiêu dùng hoặc các trung gian phân phối như các đại lý bán hàng

1.2.2.3 Mục đích của khuyến mại:

Mặc dù khuyến mại cũng có mục đích xúc tiến việc bán hàng và cung ứng dịch vụ như các hình thức xúc tiến thương mại khác nhưng để thực hiện mục đích này, các đợt khuyến mại có thể hướng tới mục tiêu lôi kéo hành vi mua sắm, sử

Trang 19

dụng dịch vụ của khách hàng, giới thiệu một sản phẩm mới, kích thích trung gian phân phối chú ý hơn nữa đến hàng hóa của doanh nghiệp, tăng lượng hàng đặt mua… thông qua đó tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường hàng hóa, dịch

vụ liên quan

1.3 Nội dung cơ bản của pháp luật về các hình thức khuyến mại theo quy

định của pháp luật hiện hành

1.3.1 Các hình thức khuyến mại theo quy định của pháp luật hiện hành

1.3.1.1 Đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền

Đây là hình thức khuyến mại mà thương nhân tung hàng mẫu, dịch vụ mẫu tặng cho khách hàng dùng thử miễn phí để tạo cơ hội cho khách hàng tiếp cận trực tiếp với sản phẩm, dịch vụ do mình cung cấp, qua đó giúp khách hàng làm quen với sản phẩm, dịch vụ của mình, đồng thời thăm dò phản ứng của khách hàng về các sản phẩm, dịch vụ đó Đưa hàng mẫu cho khách hàng dùng thử còn là một chiêu quảng cáo hiệu quả mà thương nhân sử dụng để chứng minh với khách hàng về chất lượng hàng hoá của mình so với các thông tin mà doanh nghiệp đã công bố

Theo quy định tại Điều 7 Nghị định 37/2006/NĐ-CP, hàng mẫu đưa cho khách hàng, dịch vụ mẫu cung ứng cho khách hàng dùng thử phải là hàng hoá, dịch

vụ được kinh doanh hợp pháp mà thương nhân đang hoặc sẽ bán, cung ứng trên thị trường Khi nhận hàng mẫu, dịch vụ mẫu, khách hàng không phải thực hiện bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nào Thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại theo hình thức đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu phải chịu trách nhiệm về chất lượng của hàng mẫu, dịch vụ mẫu và phải thông báo cho khách hàng đầy đủ thông tin liên quan đến việc sử dụng hàng mẫu, dịch vụ mẫu Khi phát hàng mẫu, cung ứng dịch

vụ mẫu cho khách hàng thì phải phát kèm với những chỉ dẫn sử dụng, những tính năng, công dụng, khuyến cáo từ nhà sản xuất để không gây nhầm lẫn dẫn đến nguy hiểm cho người tiêu dùng, làm mất hình tượng tốt về sản phẩm cũng như thiệt hại cho nhà sản xuất

Trang 20

Hàng mẫu là phiên bản nhỏ hơn sản phẩm thực tế, chưa một lượng vừa đủ

để người tiêu dùng có thể đánh giá được các tính chất của sản phẩm Thông thường hàng mẫu có khối lượng nhỏ hơn so với khối lượng thực tế của sản phẩm, ví dụ: sữa rửa mặt, dầu gội đầu, kem đánh răng Nhưng đối với những loại sản phẩm có kích thước và khối lượng nhỏ như: nước giải khát, xà phòng cục, cà phê hòa tan, mì ăn liền thì thương nhân có thể sử dụng chính sản phẩm thực tế do mình cung cấp để làm hàng mẫu khuyến mại

Về phương thức thực hiện khuyến mại, hàng mẫu có thể được phát cho mọi khách hàng tại địa điểm công cộng như tại các hội chợ, triển lãm… Hàng mẫu cũng

có thể được trao đến tận tay các khách hàng mục tiêu mà thương nhân nhắm tới Thậm chí hàng mẫu còn được thương nhân phát cho khách hàng của đối thủ cạnh tranh để họ so sánh với các sản phẩm cạnh tranh mà họ đang sử dụng

Việc đưa hàng mẫu, dịch vụ mẫu cho khách hàng dùng thử là cách thức khuyến mại đem lại hiệu quả cao, nhưng cũng là hình thức khuyến mại có chi phí tốn kém Do vậy, khi sử dụng hình thức khuyến mại này đòi hòi thương nhân phải

có một tiềm lực về tài chính sản phẩm, dịch vụ khuyến mại phải có một dung lượng thị phần đáng kể trên thị trường Việc phát hàng mẫu phải duy trì thường xuyên, liên tục trong một khoảng thời gian nhất định thì mới đem lại hiệu quả, nếu không thì việc khuyến mại sẽ giảm tác dụng và gây lãng phí cho thương nhân

1.3.1.2 Tặng hàng hóa cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền

Thương nhân được phép tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng không thu tiền để thực hiện mục tiêu xúc tiến thương mại Tặng quà được thực hiện đối với khách hàng có hành vi mua sắm hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ của thương nhân Hàng hóa, dịch vụ dùng làm quà tặng có thể là hàng hóa, dịch vụ mà thương nhân đang kinh doanh hoặc là hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác Việc luật pháp cho phép sử dụng hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác để phát tặng vừa là

để tăng tính hấp dẫn của việc khuyến mại, vừa khuyến khích sự liên kết của các thương nhân trong hoạt động xúc tiến thương mại nhằm phát huy lợi thế của mỗi

Trang 21

bên Việc tặng quà trong trường hợp này không chỉ có ý nghĩa thúc đẩy hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ mà thương nhân còn có cơ hội quảng cáo, giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ của nhau

Theo quy định tại Điều 8 Nghị định 37/2006/NĐ-CP, thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại bằng hình thức tặng hàng hoá cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền, không kèm theo việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ Phải chịu trách nhiệm về chất lượng của hàng hoá, tặng cho khách hàng, dịch vụ không thu tiền và phải thông báo cho khách hàng đầy đủ thông tin liên quan đến việc sử dụng hàng hoá, dịch vụ đó Để đạt được hiệu quả tốt nhất thì hàng hóa dùng tặng kèm nên sử dụng hàng hóa do chính hãng của doanh nghiệp tự sản xuất Hàng hóa tặng kèm phải độc đáo, gây ấn tượng, phù hợp với nhu cầu và sở thích của người tiêu dùng, đặc biệt hàng hóa tặng kèm phải làm nổi bật sản phẩm chính, khi thấy nó khiến người tiêu dùng nhớ đến sản phẩm chính

Hạn mức tối đa về giá trị quà tặng hàng hóa, giá trị dịch vụ mà thương nhân dành cho khách hàng không bị hạn chế Nhưng theo Khoản 2 Điều 5 Nghị định 37/2006/NĐ-CP thì tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại mà thương nhân thực hiện trong một chương trình khuyến mại không được vượt quá 50% tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại Quy định này có mục đích vừa bảo đảm tính chủ động cho thương nhân thực hiện khuyến mại, vừa ngăn ngừa hành vi bán phá giá nhằm cạnh tranh không lành mạnh thông qua việc tặng hàng hóa cho khách hàng

Về phương thức thực hiện của hình thức khuyến mại này cũng rất đa dạng, phong phú Hình thức tặng hàng hóa, quà tặng kèm là hình thức khi khách hàng mua một sản phẩm được tặng kèm thêm một món hàng nhưng giá không đổi Ví dụ: mua dầu gội đầu được tặng kèm dầu xả tóc, mua bột giặt được tặng kèm nước xả quần áo, mua kem đánh răng tặng ly, mua (đổi) bình ga được tặng tạp dề nấu bếp

Trang 22

Dưới đây là một ví dụ về khuyến mại bằng hình thức tặng quà:

Từ ngày 04/05/2015 đến 31/07/2015, Công ty Việt Nam Suzuki dành nhiều quà hấp dẫn cho tất cả các khách hàng mua xe Suzuki tại đại lý chính thức của Công ty Việt Nam Suzuki trên toàn quốc Mua xe Suzuki Impulse 125Fi và xe Suzuki Axelo 125 được hỗ trợ 500.000 VNĐ tiền lệ phí trước bạ và tặng áo thun GP, mua

xe Suzuki Raider R150 được tặng 01 nón bảo hiểm thể thao và áo thun GP, mua các dòng xe khác được tặng áo thun 1

Ngoài ra, việc triển khai các dịch vụ hậu mãi, dịch vụ chăm sóc khách hàng cũng là một phương thức khuyến mại được các thương nhân quan tâm áp dụng Dịch vụ hậu mãi là các hoạt động sau bán hàng để xử lý các vấn đề phát sinh liên quan đến sản phẩm, qua đó đảm bảo sự hài lòng của khách hàng trong việc tiêu dùng sản phẩm Các dịch vụ hậu mãi tương đối đa dạng, bao gồm hướng dẫn sử dụng, lắp đặt, kiểm tra miễn phí, bảo hành, bảo dưỡng, đại tu và sửa chữa sản phẩm trong các trường hợp trục trặc, bị hỏng Trong nhiều trường hợp, hậu mãi bao gồm việc nhận lại hàng hóa khi khách hàng cho rằng sản phẩm đó không phù hợp với nhu cầu của họ

Dưới đây là một ví dụ về dịch vụ hậu mãi:

Kể từ ngày 1/7/2015 – 10/7/2015, HKbike chính thức triển khai "Ngày hội

Tân trang" quý III/2015 trên phạm vi toàn quốc Trong 10 ngày tân trang, khi mang

xe đạp điện của HKbike đến bất cứ showroom nào thuộc hệ thống đại lý phân phối của hãng này, người dùng sẽ được hưởng gói dịch vụ tân trang bao gồm: bảo dưỡng, thay thế phụ tùng trực tiếp tại showroom, tra dầu, thay ốc, nâng yên, đánh bóng, cân chỉnh phanh, tăng xích, kiểm tra nguồn điện, bơm lốp, lau bóng, rửa xe

Trang 23

tại các địa điểm được các đại lý bố trí sẵn, Toàn bộ những dịch vụ chăm sóc xe

đạp điện này đều được miễn phí 2

Theo quy định của pháp luật thì hình thức hàng mẫu và tặng hàng hóa chủ yếu chỉ được phân biệt với nhau ở hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại Thương nhân chỉ có thể sử dụng hàng hóa mà mình đang bán hoặc sẽ bán trên thị trường để làm hàng mẫu Trong khi đó, hàng hóa, dịch vụ dùng để tặng có thể là hàng hóa, dịch vụ do thương nhân khác kinh doanh Trong trường hợp thương nhân dùng hàng hóa, dịch vụ do mình kinh doanh để khuyến mại, sẽ không có tiêu chí cụ thể để phân biệt giữa hình thức hàng mẫu và hình thức tặng quà Vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền cần phải ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về cách phân biệt giữa hình thức đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu không phải trả tiền và hình thức tặng hàng hóa cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền không kèm theo việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

1.3.1.3 Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thông báo hay còn gọi là hình thức giảm giá

Giảm giá là việc bán hàng, cung ứng dịch vụ trong thời gian khuyến mại với giá thấp hơn giá bán, giá cung ứng dịch vụ bình thường trước đó được áp dụng trong thời gian khuyến mại mà thương nhân đã đăng ký hoặc thông báo Đây là một hình thức xúc tiến thương mại khá phổ biến, thường được tổ chức nhân dịp khai trương, sinh nhật cửa hàng, siêu thị hay những ngày lễ lớn trong năm Tùy theo doanh nghiệp thực hiện khuyến mại mà mức giảm giá có thể là giảm theo tỷ lệ phần trăm hay giảm theo một giá trị nhất định Chẳng hạn, nhân dịp khuyến mại sản phẩm giảm 20%, các sản phẩm khác giảm 30% so với các sản phẩm trước đó; tất cả các sản phẩm đều đồng loạt giảm 500.000 đồng trong một thời gian nhất định

2 Chương trình khuyến mại "Ngày hội Tân trang",

Trang 24

Hình thức khuyến mại giảm giá có tác dụng thúc đẩy sự tiêu thụ đối với mặt hàng hóa cần tăng doanh số hoặc hàng hóa tồn đọng Trong trường hợp này, thương nhân chấp nhận hy sinh một phần lợi nhuận bằng việc giảm giá bán để kích thích sức mua của khác hàng đối với mặt hàng này Đây là hình thức hấp dẫn khách hàng vì

nó đánh vào tâm lý tiêu thụ của họ, khách hàng có thể nhận thấy lợi ích bằng cách

so sánh giá cả chênh lệch trước và trong thời gian khuyến mại

Dưới đây là một ví dụ về khuyến mại bán hàng giảm giá:

Từ ngày 18/7 đến 19/7/2015, khi tới tham quan và mua sắm tại các gian hàng Nine West , khách hàng sẽ được giảm 50% một số sản phẩm trong BST hè

2015, giảm 15% toàn bộ hàng nguyên giá 3

Khi khuyến mại theo cách thức này, để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, chống hành vi bán phá giá, luật pháp thường có quy định giới hạn mức độ giảm giá đối với từng đơn vị hàng hóa, dịch vụ Việc giới hạn này là cần thiết để đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp xúc tiến thương mại, của người tiêu dùng, khách hàng và của thương nhân khác Theo quy định tại Điều 9 Nghị định 37/3006/NĐ-

CP, mức giảm giá tối đa đối với hàng hoá, dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá hàng hoá, dịch vụ đó ngay trước thời gian khuyến mại Không được giảm giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ trong trường hợp giá bán hàng hoá, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quy định giá cụ thể Không được giảm giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ xuống thấp hơn mức giá tối thiểu trong trường hợp giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ thuộc diện Nhà nước quy định khung giá hoặc quy định giá tối thiểu Tổng thời gian thực hiện chương trình khuyến mại bằng cách giảm giá đối với một loại nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ không được vượt quá 90 (chín mươi) ngày trong một năm; một chương trình khuyến mại không được vượt quá 45 (bốn mươi lăm) ngày Nghiêm cấm việc lợi dụng hình thức khuyến mại này

để bán phá giá hàng hóa, dịch vụ Thương nhân không được lợi dụng hình thức

3

Chương trình khuyến mại

Trang 25

khuyến mại giảm giá để đẩy giá lên cao rồi khuyến mại hạ giá nhằm trục lợi, cũng như không dùng hình thức khuyến mại này như một công cụ nhằm cạnh tranh không lành mạnh bán phá giá hàng hóa, dịch vụ

1.3.1.4 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng một hay một số lợi ích nhất định

Hình thức khuyến mại này thường được sử dụng trong kinh doanh thương mại khi khách hàng mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ với một số lượng nhất định sẽ được phát phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất, cung ứng dịch vụ phát hành nhằm khuyến khích mua hàng, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ một cách thường xuyên với số lượng lớn Phiếu mua hàng tạo cho người tiêu dùng

có cơ hội mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ với giá ưu đãi; phiếu mua hàng, phiếu dịch vụ chỉ có giá trị thanh toán không thể quy đổi thành tiền

Dưới đây là một ví dụ về khuyến mại bằng hình thức bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng:

Với mục đích tri ân khách hàng nhân dịp khai trương siêu thị thứ 8 Trần Anh

Thanh Xuân, Trần Anh gửi tặng 500.000 phiếu mua hàng trị giá lên đến

3,000,000đ Chương trình áp dụng: Cho tất cả các khách hàng có hóa đơn mua

hàng và được nhận phiếu mua hàng tại hệ thống siêu thị Điện máy Trần Anh từ ngày 19/7 đến 31/8/2013, Đơn hàng dưới 1,000,000đ: Mỗi đơn hàng tặng kèm 1 phiếu mua hàng Đơn hàng trên 1,000,000đ: Số phiếu mua hàng tặng kèm được tính theo phương thức sau: Đơn hàng trên 1,000,000đ đến 2,000,000đ tặng 2 phiếu

Đơn hàng 2,000,000đ tặng kèm 2 phiếu Đơn hàng trên 2,000,000đ đến 3,000,000đ

tặng 3 phiếu… Phát miễn phí số lượng không hạn chế phiếu mua hàng cho khách hàng thăm quan Trần Anh Thanh Xuân từ 9-10h từ ngày 26/7 đến 2/8 Quý khách hàng có thể sử dụng phiếu ưu đãi để mua hàng tại hệ thống siêu thị Điện máy-Máy

Trang 26

tính-Mobile Trần Anh và nhận được mức chiết khấu tương ứng từ ngày 26/7 đến 31/8 4

Phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ kèm theo hàng hóa được bán, dịch

vụ được cung ứng là phiếu để mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ của chính thương nhân đó hoặc để mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ của thương nhân, tổ chức khác

Theo Điều 10 Nghị Định 37/2006/NĐ-CP, giá trị tối đa của phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ được tặng kèm theo một đơn vị hàng hóa được bán, dịch vụ được cung ứng trong thời gian khuyến mại không được vượt quá 50% giá của đơn

vị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại đó trước thời gian khuyến mại

Nội dung của phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ phải tuân thủ theo quy định tại Điều 97 Luật Thương mại năm 2005 bao gồm các thông tin liên quan như tên của hoạt động khuyến mại; giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ khuyến mại

và các chi phí liên quan để giao hàng hóa , dịch vụ được khuyến mại cho khách hàng; tên, địa chỉ, số điện thoại của thương nhân thực hiện khuyến mại; thời gian khuyến mại, ngày bắt đầu, ngày kết thúc và địa bàn hoạt động khuyến mại

1.3.1.5 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố

Hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng

là hình thức khuyến mại nhằm chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố, nâng cao hiểu biết của người tiêu dùng về sản phẩm, đồng thời giúp các cơ

sở sản xuất và phân phối đánh giá đúng nhu cầu, mức độ quan tâm của khách hàng đối với hàng hóa, dịch vụ của mình, từ đó đưa ra được những chiến lược kinh doanh cho phù hợp Khi thực hiện chương trình khuyến mại theo hình thức này, thương nhân thực hiện khuyến mại phải tổ chức thi công khai, phải trao giải thưởng theo

Trang 27

thể lệ, giải thưởng mà mình đã công bố và có sự chứng kiến của đại diện khách hàng và phải được thông báo cho Sở Thương mại (nay là Sở Công Thương) nơi tổ chức thi, mở thưởng Thương nhân thực hiện khuyến mại phải tổ chức thi à trao giải thưởng theo thể lệ và giải thưởng mà thương nhân đã công bố (Điều 11, Nghị định 37/2006/NĐ-CP)

Hình thức khuyến mại kèm theo phiếu dự thi là đòi hỏi khách hàng có một kiến thức và kỹ năng nhất định nào đó, hình thức này giống với hình thức khuyến mại mang tính may rủi về giá trị của giải thưởng và ít người trúng thưởng nên thu hút đuwọc nhiều người tham gia Hình thức khuyến mại bán hàng kèm phiếu dự thi

là một hình thức khuyến mại mới, được các thương nhân sử dụng khá phổ biến Với nội dung trong phiếu dự thi là câu hỏi liên quan đến nguồn gốc xuất xứ, công dụng,

uy tín thương hiệu đối với sản phẩm, dịch vụ khuyến mại nhằm mục đích thu hút, nâng cao sự hiểu biết của người tiêu dùng về loại hàng hóa, dịch vụ khuyến mại Việc mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ chỉ mang lại cho khách hàng quyền dự thi chờ cơ hội nhận giải thưởng do thương nhân trao tặng Phiếu dự thi có thể mang lại giải thưởng hoặc không mang lại lợi ích nào cho khách hàng vì nó còn phụ thuộc vào kết quả dự thi của họ Khác với hình thức khuyến mại bằng phiếu mua hàng, việc khuyến mại bằng phiếu dự thi không bị giới hạn giá trị tính theo đơn giá hàng hóa nhưng phải đảm bảo quy định tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại trong một chương trình khuyến mại không được vượt quá 50% tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại

Nội dung của phiếu dự thi phải bao gồm các thông tin liên quan được quy định tại Điều 97 Luật Thương mại 2005

Trang 28

1.3.1.6 Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi

Hiện nay môi trường kinh doanh cạnh tranh ngày càng khốc liệt đòi hỏi các thương nhân có những chiến lược kinh doanh mang tính mới mẻ và đột phá vì lượng hàng hóa, dịch vụ tạo ra ngày càng nhiều Vì vậy, các nhà sản xuất đã tận dụng tất cả các hình thức xúc tiến để đẩy mạnh việc bán hàng, cung ứng kể cả các biện pháp có tính chất may rủi Hình thức khuyến mại bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình may rủi gồm các hình thức phiếu tham gia bốc thăm, xổ số để trao giải thưởng, bật nắp chai trúng thưởng, thẻ cào Hình thức này tạo được sức hấp dẫn đối với người tiêu dùng bởi vì đã đánh trúng tâm lý thử vận may của người tiêu dùng, và giải thưởng càng lớn thì sự hấp dẫn ngày càng cao, hiệu quả khuyến mại càng cao việc tiêu thụ sản phẩm, sử dụng dịch vụ càng được hiệu quả cao

Sau đây là một số ví dụ về bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham

dự các chương trình mang tính may rủi:

Ví dụ 1:

Khi mua sản phẩm Coca-Cola, Sprite, Fanta, khách hàng chỉ cần nhắn tin là

có cơ hội trúng 1 trong hơn 2 triệu giải thưởng do VinaPhone và Coca-Cola tài trợ Kể từ 13/09 đến 11/12/2014, VinaPhone kết hợp với Công ty Coca – Cola Việt Nam tung ra một chương trình khuyến mãi cực lớn dành cho người tiêu dùng mang tên “GIẢI LAO TRÚNG LỚN” Khách hàng tham gia chương trình này chỉ cần mua một trong 3 sản phẩm của Công ty Coca-Cola Việt Nam gồm: Coca-Cola, Sprite hoặc Fanta, để lấy mã may mắn ở dưới nắp chai, khoen lon và nhắn tin tới tổng đài 8069 Ngay sau khi nhắn tin, khách hàng sẽ nhận được phản hồi từ tổng

đài về thông tin trúng giải Với chương trình khuyến mãi cực lớn gồm hơn

2,32 triệu giải thưởng, khách hàng mua các sản phẩm Coca-Cola, Sprite hoặc Fanta có cơ hội trúng thưởng rất cao Theo đó, VinaPhone thiết kế tới 120.000 giải thưởng cho phép khách hàng lựa chọn giữa:50 phút gọi trong nước trong 7 ngày kể

Trang 29

từ ngày kích hoạt; hoặc 1.5Gb Data sử dụng trên điện thoại thông minh dùng trong

7 ngày Ngoài ra, còn có 2,2 triệu giải thưởng khác, mỗi giải gồm: 50 phút gọi & 50 SMS nội mạng VinaPhone trong vòng 5 ngày kể từ khi kích hoạt; hoặc 1 Gb data sử dụng cho điện thoại thông minh dùng trong vòng 5 ngày 5

Ví dụ 2:

Chương trình"“GIẬT NẮP PUSHMAX, TẾT ĐẾN QUÀ VỀ” của công ty

TNHH Đầu tư Thương mại và Dịch vụ Long Hưng ( áp dụng các tỉnh, thành phố từ

Hà Tĩnh trở ra phía Bắc từ ngày 01/12/2014 đến ngày 28/02/2015) dành cho các khách hàng mua sản phẩm nước ép trái cây Pushmax của công ty giật nắp lon xác

định trúng thưởng Với 20 giải Tấn lộc, mỗi giải 01 chiếc điện thoại Iphone 6 –

16G; 15 giải thưởng Tấn tài, mỗi giải thưởng 01 Tivi 32'' Samsung UA-32F4001

Hình thức khuyến mại này chứa đựng yếu tố thụ động, may rủi của khách hàng trong việc nhận những lợi ích do thương nhân tặng, ngược lại thương nhân khuyến mại rất chủ động trong việc chuẩn bị cơ cấu giải thưởng, số lượng, giá trị giải thưởng Chính vì vậy, thương nhân khuyến mại có thể lợi dụng hình thức may rủi tạo ra sự gian dối về giải thưởng Để thu hút được khách hàng, nhiều thương nhân đã tung ra những chương trình khuyến mại mang tính may rủi với giá trị giải thưởng hấp dẫn như tiền mặt, xe ô tô, vàng, nhà tuy nhiên nhiều chương trình có giá trị cao không tìm được chủ nhân giải thưởng

1.3.1.7 Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên

Đây là hình thức khuyến mại được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến nhằm lôi kéo khách hàng thường xuyên Thông qua việc mua sắm hàng hóa, sử dụng dịch

vụ với một số lượng , giá trị nào đó sẽ được cấp thẻ là khách hàng thường xuyên hay khách hàng thân thiết và sẽ được hưởng những lợi ích nhất định như quà tặng,

ưu tiên mua hàng, giảm giá hàng hóa, dịch vụ

5 Nguồn:

Trang 30

Sau đây là ví dụ về khuyến mại bằng hình thức tổ chức trao giải thường xuyên:

Petrolimex triển khai chương trình khuyến mại với tên gọi là “khách hàng thường xuyên” kéo dài 14,5 tháng tính từ ngày 15 tháng 10 năm 2009 đến hết ngày

31 tháng 12 năm 2010 Chương trình này áp dụng cho các khách hàng mua xăng dầu bằng thẻ Flexicad (ghi nợ và trả trước định danh) theo nguyên tắc “tích điểm

đổi xăng dầu” Để định danh thẻ, khách hàng là cá nhân và tổ chức khi mua thẻ trả

trước cần cung cấp cho nhân viên phát hành thẻ các thông tin: Họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ liên hệ và số điện thoại (nếu có, đối với cá nhân); tển đơn vị, địa chỉ pháp lý, ngày thành lập, mã số thuế, họ tên và điện thoại người liên hệ (đối với

tổ chức) Khi định danh thẻ, khách hàng được hưởng các quyền lợi nạp tiền bổ sung vào thẻ và được tham dự các chương trình khuyến mại Đây là sự khác biệt mà thẻ trả trước vô danh không có được 6

Các sự kiện này được tổ chức gắn liền hoặc tách rời với việc mua hàng hóa,

sử dụng dịch vụ của khách hàng, ví dụ chương trình mang tính may rủi mà khách hàng trúng thưởng hoàn toàn do sự may mắn Bốc thăm, cào số trúng thưởng, bóc,

mở sản phẩm trúng thưởng, vé số dự thưởng là các sự kiện được tổ chức gắn liền với hành vi mua sắm Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí có thể là lợi ích phi vật chất mà thương nhân dành khuyến mại cho khách hàng, cũng có thể nhằm hướng tới khách hàng mục tiêu của thương nhân Ngoài các sự kiện trên đây, thương nhân có thể tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại Việc tổ chức các sự kiện

và chương trình khách hàng thường xuyên cũng được quy định cụ thể tại Điều 12, Điều 13 Nghị định 37/2006/NĐ-CP

Thương nhân thực hiện khuyến mại phải tuân thủ quy định về thông báo các thông tin liên quan tại điều 97 Luật Thương mại; có trách nhiệm xác nhận kịp thời,

6 Nguồn: http://www.petrolimex.com.vn/nd/thongtin-khuyenmai/chuongtrinhkhachhangthuongxuyen.html ,

truy cập ngày 23/7/2015

Trang 31

chính xác sự tham gia của khách hàng vào chương trình khách hàng thường xuyên Pháp luật không cấm thương nhân sử dụng các hình thức khác để khuyến mại nhưng khi tiến hành phải được cơ quan quản lý Nhà nước về thương mại chấp thuận

Như vậy, lợi ích mà khách hàng nhận được thông qua khuyến mại là lợi ích vật chất hoặc phi vật chất Lợi ích vật chất có thể được xác định theo đơn giá sản phẩm, được tặng cho hoặc được trao thưởng do mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ của thương nhân Lợi ích phi vật chất có thể là việc thụ hưởng dịch vụ miễn phí Tùy thuộc mức độ ảnh hưởng của các hình thức khuyến mại đến môi trường kinh doanh, đến lợi ích của khách hàng, lợi ích của thương nhân khác, Nhà nước có những quy định khác biệt về điều kiện thủ tục thực hiện khuyến mại Thủ tục đó có thể là đăng

ký hoặc xin phép trước khi thực hiện hoạt động khuyến mại, thông báo kết quả sau khi kết thúc đợt khuyến mại tại cơ quan quản lý Nhà nước về thương mại

1.3.1.8 Tổ chức chương trình cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại

Khuyến mại bằng hình thức này là việc tổ chức các sự kiện đặc biệt thu hút khách hàng qua đó quảng cáo sản phẩm tạo sân chơi giải trí cho người tiêu dùng đã

sử dụng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Sự kiện đặc biệt như đoàn diễu hành mang sản phẩm đi quanh các phố chính, hay tổ chức người thuyết minh về sản phẩm tại các điểm công cộng mà khách hàng tiềm năng thường lui tới như các siêu thụ , khu mua sắm Khi tổ chức khuyến mại bằng hình thức này thì thương nhân cần phải tôn trọng , tuân thủ các quy định của pháp luật liên quan trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật cũng như tuân thủ pháp luật khuyến mại đảm bảo không gây hạ đến thuần phong mỹ tục, văn hóa, an ninh trật tự xã hội

1.3.1.9 Các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý nhà nước về thương mại chấp thuận

- Gói hàng chung là một cách đảm bảo cho người tiêu dùng tiết kiệm được một số tiền so với giá bình thường của sản phẩm được ghi trên nhãn hiệu hay bao

Trang 32

bì Gói hàng chung rất có hiệu quả đối với việc kích thích tiêu thụ nhắn hạn thậm chí nó có tác dụng hơn cả phiếu mua hàng Ví dụ: mua 5 đôi tất tặng 1 đôi, mua 3 đôi dép đi trong nhà được tặng 1 đôi

- Quà tặng quảng cáo là hình thức sử dụng những vật phẩm có ích và rẻ để tặng cho khách hàng triển vọng và khách hàng hiện tại mà ở trên đó có ghi tên, địa chỉ và đôi khi cả thông điệp quảng cáo của doanh nghiệp Những vật phẩm đó thường là: bút, lịch, sổ tay, ba lô Ví dụ: Hạt nêm knor tặng hộp đựng thức ăn có in hình chữ knor, sữa Nootifood tặng ba lô trên đó có in chữ Nootifood, hãng ga Hồng Thái tặng ly thủy tinh có in logo hình ga Hồng Thái

- Khuyến mại trực tuyến: Trong điều kiện phát triển kinh tế đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, để đảm bảo sự tồn tại và phát triển, đòi hỏi các doanh nghiệp phải biết khai thác và sử dụng những kỹ thuật công nghệ mới, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin, Internet trong quá trình hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động khuyến mại nói riêng

Internet tác động mạnh mẽ tới cuộc sống hàng ngày của hầu hết mọi người

Nó mang lại rất nhiều tiện ích cho người sử dụng, đó là hệ thống thư điện tử , trò chuyện trực tuyến, công cụ truy tìm dữ liệu, các dịch vụ thương mại nó cung cấp một lượng thông tin và dịch vụ khổng lồ Internet là sự kết hợp của nhiều yếu tố: vừa tạo khả năng nhận biệt về thương hiệu, vừa cung cấp thông tin, và vừa tiến hành trao đổi mua bán tại một địa điểm Trên Internet, thương nhân có thể tiến hành quảng cáo giống như truyền hình, báo chí và tiến hành giao dịch giống như đi mua sắm ở siêu thị

Theo điều 14 Nghị định 37/2006/NĐ-CP, đối với chương trình khuyến mại được mua, bán hoặc cung ứng qua internet và các phương tiện điện tử khác, thương nhân thực hiện khuyến mại phải tuân thủ các quy định về khuyến mại của Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định 37/NĐ-CP

Trang 33

1.3.2 Các nguyên tắc khi thực hiện khuyến mại

Những năm qua hoạt động khuyến mại không ngừng phát triển cả về số lượng các chương trình khuyến mại cũng như hình thức Thông qua các hoạt động khuyến mại nhiều doanh nghiệp đã thu hút được người tiêu dùng tìm đến với sản phẩm của mình, tăng doanh thu bán hàng và giúp doanh nghiệp mở rộng thêm nhiều thị trường mới Bên cạnh những mặt tích cực đạt được của hoạt động khuyến mại vẫn còn tồn tại một số hạn chế, đó là các thương nhân vì lợi ích trước mắt đã thực hiện các chương trình khuyến mại mập mờ, không rõ ràng gây hiểu nhầm cho người tiêu dùng và khuyến mại cạnh tranh không lành mạnh đối với các đối thủ cạnh tranh, tất cả các hành vi này đều vượt qua giới hạn của pháp luật cho phép Những

"chiêu" khuyến mại như vậy có thể đem lại doanh số và lợi nhuận trong ngắn hạn nhưng về tổng thể nó sẽ tác động không tốt đến chính doanh nghiệp, thương nhân

đã đánh mất uy tín và niềm tin của mình từ đó tạo nên tâm lý lo ngại hay nghi ngờ nơi người tiêu dùng khi chọn mua những sản phẩm khuyến mại Những hệ lụy đó không chỉ ảnh hưởng đến những thương nhân kinh doanh không lành mạnh mà còn ảnh hưởng đến thương nhân khác và người tiêu dùng

Nhằm bảo đảm hoạt động khuyến mại được thực hiện theo đúng pháp luật đồng thời bảo vệ lợi ích người tiêu dùng, lợi ích nhà sản xuất, nhà phân phối lợi ích chung cho toàn xã hội, nhà làm luật đã đưa ra các nguyên tắc về hoạt động khuyến mại Khi thực hiện hành vi khuyến mại nhằm xúc tiến thương mại thì thương nhân phải đảm bảo các nguyên tắc khuyến mại, các nguyên tắc này được quy định tại Điều 4 Nghị định 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại:

- Nguyên tắc trung thực, công khai, minh bạch: Chương trình khuyến mại phải được thực hiện hợp pháp, trung thực, công khai, minh bạch và không được xâm hại đến lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, của các thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân khác

Trang 34

- Nguyên tắc không phân biệt đối xử: Không được phân biệt đối xử giữa các khách hàng tham gia chương trình khuyến mại trong cùng một chương trình khuyến mại

- Nguyên tắc hỗ trợ khách hàng: Thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại phải bảo đảm các điều kiện thuận lợi cho khách hàng trúng thưởng nhận giải thưởng và có nghĩa vụ giải quyết rõ ràng, nhanh chóng các khiếu nại liên quan đến các chương trình khuyến mại( nếu có)

- Nguyên tắc chất lượng hàng hóa, dịch vụ: Thương nhân thực hiện khuyến mại có trách nhiệm bảo đảm về chất lượng hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại

- Nguyên tắc không lạm dụng lòng tin: Không được lợi dụng lòng tin và sự thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm của khách hàng để thực hiện khuyến mại nhằm phục vụ cho mục đích riêng của bất kỳ thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân nào

- Nguyên tắc cạnh tranh không lành mạnh: Việc thực hiện khuyến mại không được tạo ra sự so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ của thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân khác nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh

- Nguyên tắc không khuyến mại thuốc chữa bệnh: Theo Điều 1, Nghị định 68/2009/NĐ-CP ngày 06/8/2009 sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 4, Nghị định 37/2007/NĐ-CP: Không được dùng thuốc chữa bệnh cho người, kể cả loại thuốc đã được phép lưu thông để khuyến mại, trừ trường hợp khuyến mại cho thương nhân kinh doanh thuốc

Khuyến mại không chỉ tạo ra lợi ích cho người tiêu dùng mà còn tạo ra lợi nhuận tối đa, giúp cho doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường Do đó, các thương nhân muốn đạt được mục tiêu về lợi nhuận, xây dựng thườn hiệu thì cần phải thực hiện khuyến mại đúng nguyên tắc, không vi phạm điều cấm của pháp luật

Trang 35

1.3.3 Các hình thức khuyến mại bị cấm

Khuyến mại là quyền của thương nhân trong hoạt động kinh doanh thương mại, Nhà nước không thể cản trở tự do cạnh tranh của mọi thương nhân và cũng không thể vì khuyến khích thực hiện mục tiêu phát triển thương mại của thương nhân mà bỏ qua quyền, lợi ích chính đánh của người tiêu dùng Cơ hội thương mại

mà thương nhân khuyến mại có được là vấn đề “nhạy cảm” vì nó có thể tạo ra những khó khăn cho thương nhân khác, có thể “đụng chạm” đến lợi ích của khách hàng và tính lành mạnh của môi trường kinh doanh Để ngăn ngừa những tác động tiêu cực có thể xảy ra và bảo vệ thương nhân và người tiêu dùng, Luật thương mại năm 2005 đã quy định một số hoạt động khuyến mại bị cấm tại Điều 100

1.3.3.1 Khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ bị hạn chế kinh doanh và hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng

Xuất phát từ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chung của cộng đồng và nhằm bảo đảm trật tự kinh tế xã hội cần thiết, thương nhân không được sử dụng hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ bị hạn chế kinh doanh và hàng hóa chưa được phép lưu thông , dịch vụ chưa được phép cung ứng Hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh và hạn chế kinh doanh được quy định tại Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện Hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh bao gồm: vũ khí quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, các chất ma túy, các sản phẩm văn hóa, phản động, đồi trụy, mê tín dị đoan hoặc có hại tới giáo dục thẩm mỹ và nhân cách, các loại pháo, dịch vụ tổ chức đánh bạc, gá bạc dưới mọi hình thức, dịch vụ kinh doanh môi giới kết hôn có yếu tố nước ngoài nhằm mục đích kiếm lời đây là những loại hàng hóa, dịch vụ không được thực hiện khuyến mại Bên cạnh đó, hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng cũng không được thực hiện khuyến mại

Trang 36

1.3.3.2 Sử dụng hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hóa, chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng

Tương tự như hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại, thương nhân không được

sử dụng hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng Khi thực hiện khuyến mại, thương nhân chỉ được sử dụng hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là những hàng hóa, dịch vụ hợp pháp, được phép lưu thông và cung ứng trên thị trường Đây là quy định mới và tiến bộ của Luật thương mại năm 2005 so với Luật thương mại năm 1997 Bởi vì, Luật thương mại năm 1997 không quy định cấm đối với hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh mà chỉ áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa chưa được phép lưu thông

1.3.3.3 Khuyến mại hoặc sử dụng rượu, bia để khuyến mại cho người dưới 18 tuổi Khuyến mại hoặc sử dụng thuốc lá, rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên để khuyến mại dưới mọi hình thức

Những người dưới 18 tuổi là người chưa trưởng thành đầy đủ về thể chất và tinh thần, phần lớn còn đang ở độ tuổi đi học, do vậy đây là thế hệ tương lai của đất nước cần được Nhà nước và toàn xã hội chăm lo, bảo vệ Pháp luật đã có những quy định cụ thể về mua bán, trao đổi , sản xuất các mặt hàng như rượu, bia cũng như nghiêm cấm mọi hình thức khuyến mại hay sử dụng loại hàng hóa này dùng để khuyến mại nhằm bảo vệ những người dưới 18 tuổi

Đối với những người đã trưởng thành, thì việc hút thuốc lá, uống rượu bia quá nhiều đều không tốt cho sức khoẻ của bản thân cũng như làm ảnh hưởng đến những người xung quanh Nhất là với nước ta, một nước đang phát triển có tỷ lệ người uống rượu bia, hút thuốc lá vào loại cao nhất thế giới Tham luận tại Hội thảo sáng ngày 2/4/2015 về phòng chống tác hại rượu bia do Vụ Pháp chế, Bộ Y tế tổ chức, các chuyên gia y tế cảnh báo tình trạng tiêu thụ rượu bia ở Việt Nam đang rất

Trang 37

báo động Với 3 tỷ lít bia tiêu thụ trong năm 2013, Việt Nam trở thành quốc gia tiêu thụ bia cao nhất Đông Nam Á, đứng thứ ba châu Á, chỉ sau Nhật Bản và Trung Quốc.7

Việc lạm dụng rượu, bia của người Việt đã gây nên những hậu quả đáng báo động cho toàn xã hội Theo một tài liệu của Tổ thường trực soạn thảo Luật phòng chống tác hại của lạm dụng rượu bia (Bộ Y tế): “Tại Việt Nam, 70% số vụ tai nạn giao thông có nguyên nhân do lái xe sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông Lạm dụng rượu, bia là nguyên nhân của 70% số vụ bạo lực gia đình, trong đó có bạo lực tình dục.”8

Vì vậy, việc pháp luật quy định cấm khuyến mại hoặc sử dụng rượu, bia để khuyến mại cho người dưới 18 tuổi Khuyến mại hoặc sử dụng thuốc lá, rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên để khuyến mại dưới mọi hình thức chính là để góp phần giảm thiểu tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ của người dân, nhất là đối với thế hệ trẻ

1.3.3.4 Khuyến mại thiếu trung thực hoặc gây hiểu lầm về hàng hóa, dịch vụ để lừa dối khách hàng; hứa tặng, thưởng nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không

đúng

Khuyến mại là một hình thức kích cầu của các doanh nghiệp nhằm thúc đẩy

tiêu thụ sản phẩm Hiện nay thị trường hàng hóa, dịch vụ đang bước vào giai đoạn

cạnh tranh gay gắt với các hình thức khuyến mại kiểu giảm giá, tặng hàng hóa, bốc thăm trúng thưởng ngày càng nở rộ nhằm thu hút khách hàng Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp và các đơn vị bán lẻ đã lợi dụng tâm lý thích mua hàng giá rẻ của người tiêu dùng, liên tục tung ra các chiêu “khuyến mại ảo” để thu hút khách hàng Những hình thức khuyến mại này rất mập mờ không trung thực dễ gây hiểu lầm và

nó giống như cái "bẫy" đối với người tiêu dùng

Trang 38

Sau đây là môt ví dụ về khuyến mại thiếu trung thực:

Chị Vũ Thị Hường, sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Bắc Ninh cho biết:

“Cách đây ít lâu, tôi vào một cửa hàng ở đường Trần Hưng Đạo và ưng ý một chiếc

áo khoác có giá 410.000 đồng nhưng chưa quyết định mua ngay Vài hôm sau, một cửa hàng khác trên dãy phố này treo biển giảm 30% tôi hào hứng vào xem thử Thật ngạc nhiên khi cũng chiếc áo khoác tôi thích được niêm yết giá 600.000 đồng, như vậy thì giảm 30% chỉ mang tính chất lừa khách hàng mà thôi”.

Tại các siêu thị điện máy với những thông tin quảng cáo rầm rộ, nhiều khách hàng có tâm lý chờ đến những đợt giảm giá cận Tết để sắm đồ gia dụng như ti vi, tủ lạnh hay điện thoại, máy tính… song họ đã phải sớm lắc đầu ngán ngẩm sau khi

được hưởng hết lợi ích như khuyến mại Theo khảo sát tại siêu thị MediaMart, hiện

ở đây đang có chương trình “Xả hàng bày mẫu”, trong đó chiếc máy tính xách tay

Lenovo Z400 được quảng cáo với mức giảm cực kỳ hấp dẫn lên tới 40%, từ 11,790 triệu đồng xuống còn 8,990 triệu đồng Tuy nhiên khi tham khảo ở các cửa hàng bán lẻ khác trên địa bàn thành phố, sản phẩm tương tự cũng đang được ấn định ở mức 9 triệu đồng 9

Đối với hình thức khuyến mại mang tính may rủi như bốc thăm trúng thưởng, bật nắp chai, thẻ cào với giá trị xe ô tô, vàng miếng và tiền mặt đến hàng

tỉ đồng nhưng kết quả chỉ là "chúc bạn may mắn lần sau", tạo tâm lý e ngại cho khách hàng, vì họ nghĩ liệu các thương nhân khuyến mại có thật in các giải thưởng

đó không hay đó chỉ là mánh khóe, thủ thuật của doanh nghiệp Có những trường hợp khách hàng đã sử dụng khuyến mại và thấy dòng chữ "chúc mừng bạn đã trúng thưởng", tuy nhiên khách hàng không nhận được quà với nhiều lý do, đem đến đại

lý thì nhân viên đại lý giải thích chẳng nghe nàh sản xuất nói gì về chương trình

Ngày đăng: 20/06/2016, 20:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chương trình khuyến mại: Vút gió ngày hè với phong cách GP, http://www.suzuki.com.vn/index.php/tin-tuc/tin-tuc-xe-may/31-tin-tuc-suzuki-vietnam-xe-may/219-chuong-trinh-khuyen-mai-vut-gio-ngay-he-voi-phong-cach-gp, truy cập ngày 17/7/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://www.suzuki.com.vn/index.php/tin-tuc/tin-tuc-xe-may/31-tin-tuc-suzuki-vietnam-xe-may/219-chuong-trinh-khuyen-mai-vut-gio-ngay-he-voi-phong-cach-gp
2. Chương trình khuyến mại: "Ngày hội Tân trang", http://hkbike.com.vn/hkbike- trien-khai-ngay-hoi-tan-trang-quy-i2015-2015013002163886.html),truy cập ngày 17/7/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngày hội Tân trang
3. ( Theo http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/dan-ong-viet-uong-ruou-bia-gap-4-lan-binh-quan-cua-the-gioi-3176687.html, truy cập ngày 28/7/2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/dan-ong-viet-uong-ruou-bia-gap-4-lan-binh-quan-cua-the-gioi-3176687.html
4. Chương trình khuyến mại http://www.khuyenmaivui.com/khuyen-mai-thoi-trang/nine-west-khuyen-mai-weekend-sale-giam-gia-den-50/, truy cập ngày 20/7/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://www.khuyenmaivui.com/khuyen-mai-thoi-trang/nine-west-khuyen-mai-weekend-sale-giam-gia-den-50/
5. Chương trình khuyến mại nhân dịp khai trương siêu thị thứ 8 Trần Anh Thanh Xuân- 72 Nguyễn Trãi: http://www.trananh.vn/tin-tuc/mung-khai-truong-sieu-thi-thu-8-tran-anh-tang-500-000-phieu-mua-hang-tri-gia-len-den-3-000-000d-n11861, đăng ngày 22/7/2013, truy cập ngày 20/7/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://www.trananh.vn/tin-tuc/mung-khai-truong-sieu-thi-thu-8-tran-anh-tang-500-000-phieu-mua-hang-tri-gia-len-den-3-000-000d-n11861
10. Theo Nguyễn Tuấn, http://phapluatxahoi.vn/kinh-doanh/vi-pham-khuyen-mai-giam-gia-cua-kangaroo-ha-noi-xu-ly-nghiem-de-tao-moi-truong-canh-tranh-lanh-manh-75074 , đăng ngày 6/9/2014, truy cập ngày 20/8/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://phapluatxahoi.vn/kinh-doanh/vi-pham-khuyen-mai-giam-gia-cua-kangaroo-ha-noi-xu-ly-nghiem-de-tao-moi-truong-canh-tranh-lanh-manh-75074
9. Theo Trung Kiên: Ăn mỳ trúng thưởng 100 triệu đồng nhưng không được nhận",http://dantri.com.vn/kinh-doanh/an-mi-trung-thuong-100-trieu-dong-nhung-khong-duoc-nhan-1406629027.htm,đăng ngày 23/7/2014, truy cập ngày 28/7/2015 Link
6. Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại Khác
7. Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2005của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh Khác
8. Nghị định 68/2009/NĐ-CP 06/8/2009 sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 4, Nghị định 37/2007/NĐ-CP.* Danh mục sách, báo, tạp chí Khác
1. Giáo trình Luật Thương mại tập II, Đại học Luật Hà Nội ( 2006), NXB Công an nhân dân Khác
2. TS. Nguyễn Thị Dung (2007, Pháp luật về xúc tiến thương mại ở Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.* Danh mục các trang thông tin điện tử Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm