1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền theo pháp luật việt nam

71 784 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, một nền kinh tế vừa thoát ra từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, sự quản lý và điều tiết của nhà nước đan

Trang 1

PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Hà Nội – 6/2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều tập thể, cá nhân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành Luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy giáo Tiến sĩ Đồng Ngọc Ba đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi nghiên cứu đề tài; cảm ơn sự góp ý và tạo điều kiện giúp đỡ, tận tình giảng dạy của các cô giáo, thầy giáo khoa Luật và khoa đào tạo sau đại học Viện Đại học mở Hà Nội trong suốt hai năm tôi học cao học tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn những người bạn, những đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Hà Nội, ngày 18 tháng 6 năm 2015

Tác giả Luận văn

Nguyễn Khắc Minh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong công trình nào, các số liệu, thí

dụ trích dẫn trong luận văn là tin cậy và trung thực, có nguồn gốc rõ ràng đã được công bố

Tác giả luận văn

Nguyễn Khắc Minh

MỤC LỤC

Trang 4

iii

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN VÀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT ĐỐI VỚI HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN 5

1.1 Một số vấn đề lý luận về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền. 5 1.1.1 Quan niệm về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền 5 1.1.2 Các yếu tố cấu thành của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường,

vị trí độc quyền trong nền kinh tế thị trường 9 1.1.3 Nguyên nhân và tác động của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền trong nền kinh tế thị trường 12 1.2 Pháp luật kiểm soát với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền. 16 1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền 16 1.2.2 Vai trò của pháp luật trong việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền 18 1.3 Pháp luật kiểm soát đối với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường,

vị trí độc quyền của một số nước trên thế giới. 20 1.3.1 Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền theo pháp luật của Mỹ 20 1.3.2 Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền theo pháp luật của Liên minh Châu Âu (EU) 22

1.3.3 Kiểm soát hành vi vi phạm lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền theo

Trang 5

Pháp luật Trung Quốc 23

CHƯƠNG 2: KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 26

2.1 Những quy định về xác định thị trường liên quan, xác định vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền của doanh nghiệp. 26 2.1.1 Xác định thị trường liên quan 26 2.1.2 Xác định vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền 31 2.2 Những quy định về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh. 38 2.3 Những quy định về hành vi lạm dụng vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh. 41

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN Ở VIỆT NAM 43

3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền. 43 3.1.1 Hoàn thiện pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền phải phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế và hướng tới mục đích đảm bảo duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh 43 3.1.2 Pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền phải phù hợp với thông lệ quốc tế 45 3.1.3 Đảm bảo đồng bộ các yếu tố: xây dựng vị trí thống lĩnh, tổ chức bộ máy quản lý cạnh tranh, cơ chế thực thi pháp luật 48

Trang 6

3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiệnpháp luật và nâng cao hiệu quả kiểm

soát hành vi lạm dụng vị trí thống thị trường, vị trí độc quyền 49

3.1.1 Hoàn thiện các quy định về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền 49

3.2.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền 52

3.2.3 Xây dựng cơ chế thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền 55

KẾT LUẬN 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

CÁC TRANG WEB 64

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

APEC : Diễn đàn hợp tác Châu Á - Thái Bình Dương

EU : Liên minh Châu Âu

FTC : Uỷ ban thương mại liên bang Hoa Kỳ

OECD : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

TRIPS : Hiệp định Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại UNCTA : Tổ chức thương mại và phát triển Liên hiệp quốc

WTO : Tổ chức thương mại thế giới

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng từ năm 1986 đến nay, nền kinh tế Việt nam đã đạt được những thành tựu quan trọng; nhiều ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển nhanh, có mức tăng trưởng ấn tượng Tuy nhiên bên cạnh những thành công bước đầu đó chúng ta cũng phải đối mặt với những hệ quả tiêu cực của cơ chế thị trường, đó là tạo ra sức ép cạnh tranh lên các doanh nghiệp

và xuất hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh và tình trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền của các doanh nghiệp

Cạnh tranh thiếu lành mạnh là một khuyết tật cố hữu của kinh tế thị trường Đất nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, một nền kinh tế vừa thoát ra từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, sự quản lý và điều tiết của nhà nước đang từng bước đổi mới cho phù hợp và đáp ứng đòi hỏi của quy luật kinh tế thị trường; lối mòn hoạt động của các doanh nghiệp quốc doanh vẫn còn ảnh hưởng, sự gia tăng nhanh chóng và không ngừng lớn mạnh của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân; sự hiện diện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có sự vượt trội về khả năng tài chính, tư duy kinh tế và kinh nghiệm thương trường, đã khiến cho các hành vi cạnh tranh thiếu lành mạnh, hạn chế cạnh tranh, mà trong đó có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền đang có chiều hướng gia tăng khó kiểm soát, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đầu tư, và xa hơn đó là gây ra những thiệt hại về kinh tế - xã hội, ảnh hưởng không tốt đến chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước

Vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và xem xét, đối chiếu với thực tiễn nhằm xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường từ đó xây dựng chính sách pháp luật có thể kiểm soát và ngăn chặn các hành vi trên, duy trì trật tự cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ lợi ích cho các chủ thể trong nền kinh tế là vấn đề có

Trang 9

tầm quan trọng được Đảng và nhà nước ta hết sức quan tâm Luật Cạnh tranh được Quốc hội thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2005, thi hành đến nay được 10 năm , đã phát huy tác dụng to lớn trong trật tự quan hệ thương mại, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển lành mạnh Tuy nhiên qua quá trình thực hiện còn có nhiều vấn về phát sinh, bộc lộ những bất cập cần phải nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế tại Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền còn khá mới mẻ ở nước ta, cho đến nay việc nghiên cứu về lĩnh vực này còn

khá khiêm tốn Có một số công trình nghiên cứu như: Đặng Vũ Huân (2002), Pháp

luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam,

Luận án tiến sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Viện nghiên cứu quản lý

trung ương (2002), các vấn đè pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm

soát độc quyền kinh doanh, Dự án hoàn thiện môi trường kinh doanh VIE/97/061, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội; PGS, TS Nguyễn Như Phát, Ths Nguyễn Ngọc

Sơn (2006), Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về hành vi

lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, NXB

Tư pháp, Hà Nội; ThS Lữ Lâm Uyên, Thực hiện pháp luật chống cạnh tranh không

lành mạnh theo pháp luật Việt Nam, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh; Viện nghiên

cứu quản lý kinh tế trung ương, Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh

tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh, v.v Tuy nhiên, các nghiên cứu nói trên tiếp cận, xem xét ở phạm vi rộng hoặc nội dung của một vài khía cạnh Chưa có công trình nghiên cứu độc lập chuyên sâu nào xem xét xem xét, mổ xẻ các khía cạnh liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, đặc biệt là pháp luật về kiểm soát vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền Do vậy việc nghiên cứu đề tài này là rất thiết thực

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là các quy định của pháp luật cạnh tranh hiện hành và pháp luật quốc tế về cạnh tranh, các vấn đề lý luận và thực tiễn áp

Trang 10

dụng pháp luật canh tranh ở Việt Nam; đi sâu nghiên cứu vấn đề kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền theo pháp luật Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đề tài là phương pháp luận của triết học Mác - Lênin mà hạt nhân là phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử cũng như các quy luật, phạm trù cơ bản, nhất là quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, các quan hệ kinh tế quyết định các quan hệ pháp luật Trên nền tảng các phương pháp đó, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học xã hội như phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, hệ thống hoá

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn bám sát các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta thể hiện qua các văn kiện của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước về cạnh tranh và kiểm soát các hành vi độc quyền, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

5 Mục đích nghiên cứu đề tài

- Làm rõ những vấn đề lý luận về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền ỏ Việt Nam, phân tích nguyên nhân kinh tế-xã hội, những tác động tích cực hay tiêu cực của tình trạng thống lĩnh thị trường và đặc biệt

- Đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện và thực thi có hiệu quả chính sách pháp luật về điều chỉnh, kiểm soát các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

và vị trí độc quyền trong thương mại ở Việt Nam

Trang 11

6 Những kết quả nghiên cứu mới

- Khái quát những vấn đề lý luận về vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền và việc kiểm soát các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, phân tích nguyên nhân, những tác động tích cực và tác động tiêu cực vào nền kinh tế

- Trình bày khái quát các quy định của pháp luật về kiểm soát các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền của các doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới, rút ra những nhận xét để tham khảo, rút kinh nghiệm cho Việt Nam

- Trình bày bức tranh toàn cảnh về thực trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền ở nước ta, phân tích nguyên nhân của tình trạng lạm dụng

vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền ở nước ta

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật góp phần kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường,

vị trí độc quyền

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn được chia làm 3 chương, cơ cấu như sau:

Lời nói đầu

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền và pháp luật điều chỉnh đối với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền

Chương 2: Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền theo Luật cạnh tranh Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền ở Việt Nam

CHƯƠNG I

Trang 12

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN

VÀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT ĐỐI VỚI HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ

TRÍ ĐỘC QUYỀN

1.1 Một số vấn đề lý luận về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí

độc quyền

1.1.1 Quan niệm về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh chính là động lực phát triển của các thành phần, các chủ thể kinh tế cùng tham gia kinh doanh Động lực cạnh tranh kích thích các doanh nghiệp cải tiến thiết bị, công nghệ, phương thức quản lý để ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá và của doanh nghiệp của mình Theo một phương diện nào đó, cạnh tranh cũng có ý nghĩ tích cực là nó duy trì áp lực liên tục lên tất cả các đối thủ trên thương trường, buộc chúng phải luôn tìm cách đổi mới để thích nghi và tồn tại, nếu không muốn bị loại khỏi cuộc chơi Nhưng mặt khác, sự cạnh tranh sẽ dẫn đến các đối thủ sẽ tìm mọi cách tiêu diệt, thôn tính lẫn nhau để chiếm lĩnh thị trường và khẳng định sức mạnh kinh tế của mình Quá trình này thường diễn biến theo logic

từ cạnh tranh lành mạnh đến cạnh tranh không lành mạnh và dẫn đến một hệ quả tất yếu là sản sinh ra tình trạng thống lĩnh và độc quyền

Vị trí thống lĩnh được hiểu là khả năng kiểm soát thực tế hoặc tiềm năng đối với thị trường liên quan của một loại hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ của một hoặc một số doanh nghiệp Với cách hiểu như vậy thì vị trí thống lĩnh không chỉ được xem xét dưới góc độ vị trí của một doanh nghiệp mà còn có thể là vị trí của một nhóm doanh nghiệp cùng hành động Tức là giữa nhóm doanh nghiệp này không có sự thỏa thuận trước nhưng đã cùng hành động, cùng nhau thực hiện các hành vi như bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ để loại bỏ đối thủ…

Trang 13

Chính vì vậy, việc xác định vị trí độc quyền tương đối dễ dàng, nhưng trong trường hợp chưa đạt được vị trí độc quyền thì việc xác định vị trí thống lĩnh là khá phức tạp Vì vị trí thống lĩnh chỉ cho thấy sức mạnh kinh tế vượt trội của doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường liên quan đối với một hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ cụ thể Như vậy, cho dù doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp đã có vị trí thống lĩnh thị trường thì trên thị trường vẫn có sự cạnh tranh các đối thủ yếu hơn Điều đó có nghĩa là sự cạnh tranh trên thị trường vẫn tồn tại Mặc dù có những nét đặc trưng khác biệt vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền như vậy, song không có nghĩa là chúng hoàn toàn khác biệt mà thực chất vị trí độc quyền chỉ là một dạng đặc thù vị trí thống lĩnh Khi đã xác lập được vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, các doanh nghiệp thống lĩnh, độc quyền luôn tìm cách để duy trì địa vị thống lĩnh thị trường của mình với cách thức như: Thôn tính, tiêu diệt các đối thủ cạnh tranh, ngăn cản không cho các đối thủ tiềm năng gia nhập thị trường, tiếp tục củng cố ưu thế và sức mạnh thị trường bằng việc lôi kéo các đối thủ liên kết tạo sức mạnh, phân chia thị trường, định giá cả…

Theo các nhà kinh tế học thì thống lĩnh và độc quyền là những hiện tượng khách quan, tồn tại trong tất cả các nền kinh tế Nó là kết quả của quá trình cạnh

Trang 14

tranh, một yếu tố không thể thiếu để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, thậm trí một số hình thái độc quyền còn được nhà nước xác lập và duy trì như một trạng thái cần thiết cho sự phát triển cân bằng của nền kinh tế Quan trọng là ở chỗ, các doanh nghiệp sau khi đã có được vị trí thống lĩnh, độc quyền hoặc được nhà nước xác lập cho vị trí thống lĩnh, độc quyền thì luôn có xu hướng lạm dụng vị trí của mình để thu lợi nhuận, gây hại đến lợi ích của các chủ thể khác và của nhà nước Chính từ thực trạng các doanh nghiệp khi có vị trí thống lĩnh, độc quyền thường lạm dụng vị trí của mình đã làm cho pháp luật tất yếu phải có những quy định để điều chỉnh và kiểm soát các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để kiếm lời và xâm phạm đến lợi ích của các chủ thể khác thì bị coi là bất chính

Với bất kỳ nền kinh tế nào, nếu không có sự quản lý, điều tiết hiệu quả bằng chính sách, luật pháp thì rất dễ phát sinh lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền Khi mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển nền kinh tế thị trường thì quá trình tích tụ Tư bản dẫn tới sự hình thành các tập đoàn kinh tế có khả năng chi phối hoạt động kinh doanh, sản xuất, cung ứng và giá cả trên thị trường

Muốn kiểm soát được một quan hệ nào đó thì trước hết pháp luật phải nhận diện được đối tượng đó và những thuộc tính của nó Tương tự như vậy, để điều chỉnh hành vi thống lĩnh và độc quyền thì pháp luật về cạnh tranh và chống lạm dụng vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền cũng phải đưa ra được khái niệm về thống lĩnh, vị trí độc quyền Tùy theo đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau mà pháp luật của mỗi nước cũng đưa ra những quan niệm và tiêu chí xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền khác nhau

Tại Canada Điều 79 của Luật cạnh tranh quy định ba dấu hiệu của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh là

- (i) một hoặc một nhóm doanh nghiệp kiểm soát thị trường liên quan

- (ii) thực hiện hành vi phản cạnh tranh được quy định trong luật cạnh tranh;

- (iii) hành vi đó đã, đang và hoặc có thể làm cản trở, làm giảm cạnh tranh trên thị trường một cách đáng kể [11]

Bên cạnh đó, còn có một xu hướng khác trong pháp luật cạnh tranh trên thế giới khi định nghĩa về hành vi lạm dụng Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên hiệp

Trang 15

quốc được thông qua ngày 22 tháng 4 năm 1980 và Luật mẫu về cạnh tranh của tổ chức thương mại và phát triển liên hiệp quốc định nghĩa hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh

mà doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền sử dụng để duy trì hay tăng cường vị trí của nó trên thị trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh [22, tr52] Ở đây có sự khác nhau giữa Luật cạnh tranh của Canada và Bộ quy tắc mẫu có dấu hiệu chủ quan của hành vi Nếu như Luật cạnh tranh Canada mô tả hành vi lạm dụng luôn mang trong mình nó khả năng (hậu quả) làm sai lệch cản trở hoặc làm giảm cạnh tranh, thì bộ quy tắc và luật mẫu

về cạnh tranh lại nhấn mạnh đến mục đích duy trì, củng cố vị trí của doanh nghiệp

vi phạm bằng cách ngăn cản người khác gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh

Nếu so sánh từ góc độ lý luận, cách tiếp cận của Luật cạnh tranh Canada có

vẻ trừu tượng hơn so với khái niệm của luật mẫu cạnh tranh, bởi lẽ việc xác định mức độ sai lệch, giảm hoặc cản trở cạnh tranh không phải là việc đơn giản, do cạnh tranh là khái niệm phản ánh mối quan hệ ganh đua trên thương trường nên khó có đại lượng khách quan nào có thể cân đong được mức độ của quan hệ cạnh tranh một cách chính xác Trong khi đó, xác định khả năng duy trì và củng cố vị trí của doanh nghiệp sẽ là đơn giản hơn, người ta có thể dựa vào những thông số kinh tế, kỹ thuật trên thị trường liên quan về số lượng doanh nghiệp, về thị phần, mức chênh lệch thị phần giữa các doanh nghiệp… là có thể đưa ra các kết luận khá chính xác

Ở Việt Nam, không phải đợi hội nhập, hay sức ép của việc gia nhập WTO

mà ngay từ Đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu rõ: “Hình thành đồng bộ và tiếp tục

phát triển, hoàn thiện các loại thị trường đi đôi với xây dựng khuôn khổ pháp lý và thể chế, để thị trường hoạt động năng động, có hiệu quả, có trật tự, kỷ cương trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch, hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh ” và “Mọi doanh nghiệp, mọi công dân được đầu tư kinh doanh

theo các hình thức do luật định và được pháp luật bảo vệ Mọi tổ chức kinh doanh theo các hình thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng và là bộ phận cấu thành quan

Trang 16

trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” Thêm vào đó, Nghị quyết Hội

nghị Trung ương Đảng lần thứ 3, khoá IX đã chỉ rõ: “Thực hiện độc quyền nhà

nước trong những lĩnh vực cần thiết, nhưng không biến độc quyền nhà nước thành

độc quyền doanh nghiệp ”

Thực hiện chủ chương đúng đắn đó của Đảng, với việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, chúng ta đã từng bước xoá bỏ sự độc quyền của các doanh nghiệp nhà nước và tạo lập được môi trường kinh doanh bình đẳng cho tất cả các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường Điều này đã tạo động lực cho nền kinh tế Việt Nam phát triển lành mạnh và đúng hướng Để trở thành thành viên chính thức thứ

150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Việt Nam đã phải mất hơn 11 năm đàm phán và sửa đổi, bổ sung chính sách kinh tế thương mại của mình Trong số những nguyên tắc chủ đạo của WTO thì nguyên tắc không phân biệt đối xử và cạnh tranh bình đẳng có vai trò cực kỳ quan trọng Là Thành viên của WTO, Việt Nam bắt buộc phải thực hiện nguyên tắc này Hơn thế nữa, để đảm bảo có được một môi trường kinh doanh bình đẳng, ngay từ trước khi gia nhập, trong số hàng trăm văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam phải sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới có Luật Cạnh tranh Ngày 03/12/2004, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Cạnh tranh và Luật này đã có hiệu lực từ ngày 01/7/2005

1.1.2 Các yếu tố cầu thành của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền

Các yếu tố dù được mô tả bằng nhiều hình thức khác nhau, song nhìn chung hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền thường có ba dấu hiệu

để nhận dạng

Dấu hiệu thứ nhất: Hành vi lạm dụng là những hành vi được luât cạnh tranh

liệt kê Ngoài những khái niệm căn bản mang tính học thuật về hành vi hạn chế cạnh tranh nói chung, cần phải gọi tên được từng hành vi lạm dụng Dựa vòa đó, người ta có thể phân tích bản chất của hành vi dưới góc độ của lý thuyết, đồng thời trong công tác thực thi pháp luật, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể dễ dàng xác định sự vi phạm bằng cách đối chiếu các hành vi thực tế với những quy định của pháp luật Một hành vi của doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền trên thị

Trang 17

trường chỉ bị quy kết là lạm dụng để hạn chế cạnh tranh khi nó mang đầy đủ các dấu hiệu của một hành vi nào đó đã được luật quy định là lạm dụng Khi chưa thể hoặc chưa có đủ chứng cứ cần thiết để kết luận về doanh nghiệp đã thực hiện một số các dạng vi phạm được quy định thì cũng không thể quy kết trách nhiệm về sự lạm dụng [19] Dưới góc độ lý luận, hành vi nào đó đã được luật quy định là lạm dụng mang trong mình nó không chỉ là những thủ đoạn lợi dụng lợi thế do quyền lực thị trường đem lại cho doanh nghiệp, mà còn là nguyên nhân gây ra những hậu quả không tốt cho tình trạng cạnh tranh trên thị trường hiện đại hoặc tương lai

Dấu hiệu thứ hai: Chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp hoặc nhóm

doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền trên thị trường liên quan Lý thuất cạnh tranh đã chỉ ra rằng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền có thể được hình thành từ sự tích tụ trong quá trình cạnh tranh; từ những điều kiện tự nhiên của thị trường như: yêu cầu về quy mô hiệu quả tối thiểu, sự biến dị của sản phẩm, sự tồn tại của các rào cản gia nhập thị trường; hoặc sự bảo hộ của quyền lực nhà nước… Trong những trường hợp nói trên, vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền của doanh nghiệp là hợp pháp và đem lại cho doanh nghiệp quyền lực thị trường, hay còn gọi

là khả năng chi phối các quan hệ trên thị trường

Theo cuốn từ điển kinh tế học hiện đại thì quyền lực độc quyền là khả năng của một doanh nghiệp hoặc một nhóm các doanh nghiệp trong việc tác động đến giá

cả thị trường của một loại hàng hóa hoặc dịch vụ mà họ bán hoặc mua [13,tr682]

Về mặt học thuật, có hai vấn đề cần phải làm rõ là: thứ nhất, hành vi lạm

dụng chỉ xảy ra sau khi vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền trên thị trường liên quan đã được xác lập Do đó, pháp luật chống lạm dụng không nhằm đến việc xóa

bỏ vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp, pháp luật chỉ hướng đến việc loại bỏ hành vi lạm dụng vị trí thống trị thị trường để trục lợi hoặc để bóp méo cạnh tranh Một khi doanh nghiệp có quyền lực thị trường chưa có các biểu hiện của sự lạm dụng thì

chúng vẫn có chủ thể được pháp luật bảo vệ; thứ hai, chủ thể thực hiện việc lạm

dụng có thể là một doanh nghiệp đơn lẻ hoặc một nhóm doanh nghiệp (tối đa là 4)

có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền trên thị trường liên quan

Trang 18

Đối với vụ việc điều tra về hành vi lạm dụng của nhóm doanh nghiệp có quyền lực thị trường, cơ quan có thẩm quyền cần phải phân biệt được hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Bởi trong pháp luật về hạn chế cạnh tranh, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và hành vi lạm dụng có một số điểm giống nhau, ví dụ (i) đều có thể do một nhóm doanh nghiệp thực hiện; (ii) nội dung của chúng cũng giống nhau, như: phân chia thị trường, hạn chế sản xuất, phân phối sản phẩm, hạn chế phát triển khoa học kỹ thuật… Tuy nhiê, khi một nhóm doanh nghiệp (với tổng thị phần kết hợp đủ để thống lĩnh thị trường) thực hiện hành

vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh thì giữa họ không có

sự thỏa thuận trước Ngược lại, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền có đủ chứng

cứ chứng minh rằng đã tồn tại một thỏa thuận trong nhóm doanh nghiệp đó để thực hiện những hành vi nói trên thì hành động của họ sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật chống thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Dấu hiệu thứ ba: Hậu quả của hành vi lạm dụng là làm sai lệch, cản trở hoặc

giảm cạnh tranh trên thị trường liên quan Dấu hiệu này cho thấy khả năng hạn chế cạnh tranh của hành vi lạm dụng và tác hại của nó đối với thị trường Như đã phân tích, doanh nghiệp thực hiện hành vi lạm dụng với mục đích duy trì, củng cố vị trí hiện có hoặc tận tưởng các lợi ích có được từ việc bóc lột khách hàng Các nhà hoạch định chính sách cạnh tranh của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (viết tắt của OECD) đã đưa ra nhiều khuyến nghị về việc xác định hành vi lạm dụng, trong

đó họ cảnh báo rằng chỉ có thể chống lại sự lạm dụng quyền lực thị trường thành công, khi pháp luật và người thi hành nó xác định được những hành vi cụ thẻ có thể gây hại cho cạnh tranh và đánh giá được những hành động toàn diện của chúng trên thị trường có liên quan [23,tr60] Đối với hành vi hạn chế cạnh tranh, lý luận và kinh nghiệm pháp lý của các nước đã chỉ ra rằng, nhóm hành vi này có 3 lạm dụng

vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền và tập trung kinh tế, nên không thể đưa ra một khái niệm chung chứa đựng nhữn căn cứ cụ thể cho mọi trường hợp Trong tình trạng đó, dấu hiệu về hậu quả của hành vi hạn chế cạnh tranh chỉ được diễn tả rất khái quát, mang tính định dạng về mặt lý luận hơn là lượng hóa bằng những căn cứ cụ thể Mặt khác, do hành vi vi phạm được liệt kê rất đa dạng bao gồm các hành vi về việc

Trang 19

định giá bán, giá mua sản phẩm, hành vi hạn chế sản lượng sản xuất, phân phối, hạn chế thị trường, hành vi phân biệt đối xử , áp đặt các điều kiện thương mại bất hợp lý đối với khách hàng, mỗi hành vi có đối tượng xâm hại khác nhau và mức độ thiệt hại có thể gây ra cũng không giống nhau, nên việc đưa ra một tiêu chuẩn chung để làm căn cứ xác định hậu quả gây ra của mọi hành vi là không thể Vì thế, khoa học pháp lý và thực tiễn áp dụng buộc phải dựa vào việc phân tích từng hành vi vi phạm

để kết luận về khả năng và mức gây thiệt hại của nó đối với thị trường Theo đó, từng hành vi có khả năng cản trở, giảm và sai lệch cạnh tranh ở những mức độ khác nhau

Dấu hiệu về hậu quả của hành vi là căn cứ để phân biệt hành vi lạm dụng với hiện tượng tập trung kinh tế (cũng là một loại hành vi hạn chế cạnh tranh) Tập trung kinh tế được luật cạnh tranh mô tả thông qua bốn biểu hiện cụ thể là sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh, là những chiến lược do các doanh nghiệp thực hiện

có khả năng hình thành nền các thế lực độc quyền thông qua các sự tích tụ dần từ hiệu quả kinh tế Như vậy, nếu mức giảm, sai lệch hoặc hạn chế cạnh tranh mà hành

vi lạm dụng gây ra được chứng minh bằng những lợi ích mà các doanh nghiệp khác, hoặc khách hàng phải gánh chịu, thì đối với tập trung kinh tế, điều đó sẽ được chứng minh bằng những suy đoán là việc các doanh nghiệp sáp nhập, hợp nhất, mua lại hay liên doanh có thể thay đổi cấu trúc và tương quan cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường do chúng đã tạo ra doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có quyền lực thị trường Nói cách khác, pháp luật chống lạm dụng hướng đến việc cấm đoán hành vi, còn pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế có nhiệm vụ ngăn chạn khả năng hình các thế lực có quyền lực trên thị trường bằng việc tiến hành tập trung kinh tế

1.1.3 Nguyên nhân và tác động của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền trong nền kinh tế thị trường

Thống lĩnh và độc quyền có thể xuất hiện với tính cách là hậu quả của thủ pháp thông đồng ngầm của các doanh nghiệp về giá, sản lượng, khách hàng hoặc vùng tiêu thụ nhằm tối đa hóa lợi nhuận của ngành Thống lĩnh và độc quyền cũng

có thể xuất hiện do sự tồn tại của những vật cản đối với khả năng nhập cuộc của các

Trang 20

doanh nghiệp tiềm năng Đó là những vật cản mang tính pháp lý, hành chính và những vật cản mang tính kinh tế Những vật cản mang tính pháp lý chính là các điều luật loại bỏ hoàn toàn sự nhập cuộc của các doanh nghiệp tiềm năng vào một ngành kinh tế trong một giai đoạn nhất định Một ví dụ phổ biến nhất trong thực tế là lĩnh vực bảo hộ việc độc quyền khai thác các đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp của chủ văn bằng bảo hộ Việc làm này, một mặt khuyến khích đầu tư cho khoa học

kỹ thuật, mặt khác lại gây ra sự thiệt haị cho xã hội do có sự độc quyền Bởi vậy, pháp luật phải tìm được thời hạn tối ưu cho việc khai thác độc quyền các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp của chủ văn bằng bảo hộ

Ngoài nguyên nhân cạnh tranh khốc liệt như đã nói ở trên, có thể chỉ ra 3 nguyên nhân khác dẫn đến vị trí thống lĩnh và độc quyền là:

- (i) sự thông đồng ngầm giữa các doanh nghiệp ở trong ngành;

- (ii) những cản trở đối với việc nhập cuộc của các doanh nghiệp tiềm năng, - (iii) độc quyền nhà nước và độc quyền tự nhiên

Mặc dù độc quyền gây nhiều hậu quả cho xã hội, song ở một số ngành đặc biệt (hàng hóa và dịch vụ công cộng, ảnh hưởng tới an ninh quốc gia) nhiều nước đã phải duy trì tình trạng độc quyền nhà nước ở mức độ nhất định để đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng và duy trì chi phí sản xuất xã hội ở mức hợp lý do tính kinh tế của quy mô sản xuất lớn

Độc quyền tự nhiên xuất hiện thoát ly ý thức chủ quan của nhà kinh doanh

Tự nhiên ở đây nói lên rằng, cơ cấu độc quyền là do đặc điểm công nghệ và nhu cầu đối với sản phẩm của ngành tạo ra chứ không phải là yếu tố lịch sử hay ảnh hưởng của cơ chế chính sách kinh tế Hay nói cách khác, trong những điều kiện về công nghệ và nhu cầu như vậy, sự tồn tại của độc quyền là khách quan và do đó biện pháp duy nhất mà nhà nước có thể làm là điều tiết những độc quyền đó Hình thái độc quyền tự nhiên thường gặp trong các ngành công nghiệp như: điện, khí đốt, nước sạch, viễn thông…

Giống như các hiện tượng khác, thống lĩnh và độc quyền có tác động rất lớn đối với đời sống kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, theo cả chiều hướng tiêu cực và tích cực

Trang 21

Đối với chiều tiêu cực: Bên cạnh những tác động tích cực nếu lạm dụng vị trí

thống lĩnh và độc quyền thì tác hại của nó như sau:

Thứ nhất lạm dụng vị trí thống lĩnh và độc quyền sẽ ngược lại trật tự cạnh tranh lành mạnh, kìm hãm động lực phát triển của nền kinh tế Khi đã có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, các doanh nghiệp luôn tìm cách duy trì vị trí thống lĩnh, độc quyền của mình bằng cách tiêu diệt các đối thủ tiềm năng, hạn chế sự xuất hiện trên thị trường của các đối thủ này Bằng thủ đoạn bóp chết đối thủ cạnh tranh thực chết

đã triệt tiêu sự cạnh tranh thương trường, mà một khi không còn cạnh tranh thì sẽ không còn áp lực để các doanh nghiệp phát triển

Thứ hai, lạm dụng vị trí thống lĩnh và độc quyền tạo ra nguy cơ khủng hoảng

và suy thoái của nền kinh tế Các doanh nghiệp thống lĩnh và độc quyền sử dụng vị thế này vào việc tự định giá cả hàng hóa độc quyền, kìm hãm sản lượng hàng hóa để tăng giá bán nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch mà không chú trọng tới việc đổi mới công nghệ, tăng năng suất nữa Tình trạng này kéo dài sẽ làm cho năng lực của các công ty thống lĩnh và độc quyền bị suy yếu, thậm chí dẫn đến suy giảm và suy thoái của cả một ngành sản xuất nào đó Sự khan hiếm của hàng hóa và giả cá leo thang

do tình trạng thống lĩnh và độc quyền gây ra sẽ là nguyên nhân đến sự lạm phát và gây ổn định nền kinh tế, làm tăng số người thất nghiệp

Thứ ba, lạm dụng vị trí thống lĩnh và độc quyền tạo ra cho các công ty thống lĩnh và độc quyền những khoản thu nhập bất chính từ lợi nhuận siêu ngạch, góp phần làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo, bất công trong xã hội Ngay từ thế kỷ XIX, trong tác phẩm nổi tiếng “Sự giàu có của các quốc gia”, Adam Smith đã chỉ ra

bản chất của độc quyền là: “Bằng cách làm cho thị trường luôn luôn không đủ dự

trữ, các nhà độc quyền… đã bán hàng hóa của họ với mức giá cao hơn giá tự nhiên rất nhiều, và nhờ đó, tăng phần thu nhập của họ dưới dạng tiền thưởng hay lợi nhuận…” Như vậy, lợi nhuận mà các công ty độc quyền có được thực chất là nhờ vào việc hưởng mức chênh lệch quá đáng từ giá cả độc quyền với giá tự nhiên của hàng hóa, tức là đã bòn rút thu nhập của đại bộ phận người tiêu dùng bỏ vào túi một

số ít công ty độc quyền, đẩy những người nghèo đi đến chỗ càng nghèo thêm, còn các công ty độc quyền thì phất lên nhanh chóng

Trang 22

Thứ tư, lạm dụng vị trí thống lĩnh và độc quyền còn dẫn đến tình trạng “cửa quyền”, hay “đặc quyền” cho một nhóm người có lợi ích Thống lĩnh, độc quyền tất yếu sẽ sản sinh ra cơ chế “xin – cho”, “ban phát” và điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt và sản xuất Nói về tác hại của độc quyền đối với tự phát triển về nền

kinh tế, Thủ tướng Phan Văn Khải cũng đã từng nhận định : “…Độc quyền sẽ dẫn đến cửa quyền… Độc quyền sẽ làm cho những nhân tốt tích cực, những người làm

ăn giỏi không ngóc đầu dậy được…” [24]

Ngoài ra thống lĩnh và độc quyền còn là bạn đồng hành với tiêu cực và tham nhũng Các doanh nghiệp thống lĩnh, độc quyền luôn có xu hướng liên hệ và tranh thủ sự ủng hộ các cơ quan quản lý Nhà nước để bảo vệ thế thống lĩnh và độc quyền của mình Điều này làm xuất hiện nguy cơ tham nhũng, tha hóa trong bộ máy công quyền Kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy, khi các Chaebol vượt ra ngoài tầm kiểm soát, chúng quay trở lại mua chuộc, lôi kéo các quan chức nhà nước, gây nên nạn tham nhũng trầm trọng [26 tr84] Ở Việt Nam hiện nay cũng vậy, trong bối cảnh dư luận xã hội đang lên tiếng mạnh mẽ phản đối tình trạng thống lĩnh, độc quyền nhà nước, để duy trì vị thế thống lĩnh, độc quyền, các doanh nghiệp thống lĩnh, độc quyền phải tìm cách “nuôi” bộ máy công quyền, mua chuộc những nhà chức trách có thẩm quyền để họ lên tiếng bảo vệ sự thống lĩnh và độc quyền Một số

vụ án kinh tế lớn được đưa ra xét xử trong thời gian qua có liên quan đến các quan chức cấp cao trong bộ máy Nhà nước đã phần nào minh chứng cho điều này

Đối với chiều tích cực:

Vị trí thống lĩnh và độc quyền góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ, tập trung các nguồn lực để phát triển, nhất là trong những ngành kinh tế mũi nhọn Sau khi đã xác lập được vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, các công ty thống lĩnh, độc quyền thường phát triển nhanh chóng thành những tập đoàn hùng mạnh Sự tích tụ và tập trung nguồn lực vào tay một hoặc một nhóm các doanh nghiệp tạo điều kiện đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, mở rộng quy mô, tăng năng xuất lao động, tạo ra những bước ngoặt mang tính đột phá cho bản thân doanh nghiệp và cho ngành sản xuất đó [15,tr32] Sự mở rộng về quy mô sản xuất, đến lượt nó sẽ tạo động lực kích thích trở lại các doanh nghiệp, bởi trên thực tế ai cũng biết rằng lợi

Trang 23

nhuận của một doanh nghiệp sẽ tăng lên theo quy mô sản suất kinh doanh Không phải ngẫu nhiên mà nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ là Joseph Shcumpeter (1883 – 1950) đã ủng hộ mô hình kinh tế trong đó có sự tồn tại của các thế lực thống lĩnh và độc quyền

Đối với độc quyền nhà nước, nếu duy trì ở quy mô thích hợp và được kiểm soát tốt sẽ góp phần tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế cũng như trong việc thực thi các chiến lược phát triển kinh tế xã hội của chính phủ, tạo thế chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế, bảo vệ các ngành và các cơ sở sản xuất trong nước, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng và đáp ứng tốt các nhu cầu của quốc kế dân sinh Ở hầu hết các quốc gia, độc quyền nhà nước được sử dụng như một công cụ kinh tế hữu hiệu bên cạnh các công cụ khác trong việc điều tiết nền kinh tế quốc dân

Cũng cần nói thêm rằng người tiêu dùng không chỉ phải chi phí đắt thêm cho hàng hóa, dịch vụ thống lĩnh, độc quyền, mà họ chỉ chịu thiệt thòi khi không được hưởng những thành quả sáng tạo trong sản xuất Nhà sản xuất sau khi đã đạt đến vị trí thống lĩnh và độc quyền sẽ lơ là việc đầu tư cho nghiên cứu phát minh vì giờ đây

họ không còn đối thủ để ganh đua nữa, thay vào đó họ chỉ lo việc khống chế sản lượng để tăng giá nhằm thu về lợi nhuận thống lĩnh, độc quyền tối đa Kết quả là nền sản xuất bị giậm chân tại chỗ, thị trường sẽ thiếu vắng những sản phẩm dịch vụ mới với những chất lượng tốt hơn, còn người tiêu dùng thì vẫn phải chấp nhận những sản phẩm, dịch vụ cũ với giá cao vì họ không còn có sự lựa chọn nào khác

1.2 Pháp luật kiểm soát với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền

Về khái niệm và đặc điểm đó là: Nhằm tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, điều hòa lợi ích của các chủ thể trên thị trường, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, các quốc gia đều phải xây dựng một khung pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát thống lĩnh, độc quyền Theo giáo sư Yves Serra, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu luật cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng, khoa Luật, Đại học Montpellier,

Luật cạnh tranh được hiểu là “tổng hợp các quy phạm pháp luật áp dụng đối với các

Trang 24

tác nhân kinh tế trong hoạt động cạnh tranh nhằm bảo đảm cho cạnh tranh diễn ra một cách hợp lý, tức là không thái quá”. Luật cạnh tranh thực chất là tổng hợp các biện pháp tác động ngược trở lại các quyền tự do này bằng cách xác định những hành vi mà các chủ thể kinh doanh không được phép làm Nói cách khác, luật cạnh tranh chính là biện pháp mà nhà nước sử dụng để điều tiết, để đảm bảo cho cạnh tranh không diễn ra một cách nguyên thủ, vô chính phủ

Hoa kỳ là nước đầu tiên trên thế giới ban hành đạo luật chống độc quyền Đó

là đạo luật Sherman năm 1890, sau đó là đạo luật Clayton năm 1914 Mục đích của việc ban hành những đạo luật này là nhằm ngăn cản độc quyền hay sự tập tung quá mức của quyền lực kinh tế, ngăn cản những hành vi hạn chế, phá hoại cạnh tranh Những quy định trong hai đạo luật nói trên là của Hoa Kỳ sau này đã ảnh hưởng đến hầu hết các quốc gia Phương Tây cũng như các quốc gia khác

Tiếp sau Hòa Kỳ, hàng loạt các nước Châu Âu và Châu Á đã ban hành đạo luật riêng rẽ hoặc các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động cạnh tranh, trong đó

có các quy định về kiểm soát hành vi thống lĩnh và độc quyền

Mặc dù chính sách cạnh tranh và kiểm soát thống lĩnh, độc quyền của từng nước là khác nhau, song vẫn có thể nhận thấy bên cạnh những điểm đặc thù của sự chi phối bởi các yếu tố chính trị và truyền thống, pháp luật về kiểm soát thống lĩnh, độc quyền các quốc gia có những điểm chung

Thứ nhất, Pháp luật kiểm soát thống lĩnh, độc quyền bao gồm những quy phạm pháp luật nội dung và các quy phạm pháp luật tố tụng Các quy phạm pháp luật tố tụng là những đảm bảo pháp lý quan trọng cho việc thực thi các quy phạm pháp luật nội dung trong thực tiễn Pháp luật kiểm soát thống lĩnh, độc quyền cũng quy định cụ thể và các thiết chế có thẩm quyền thực thi pháp luật kiểm soát thống lĩnh, độc quyền như Cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh Bên cạnh đó pháp luật kiểm soát thống lĩnh, độc quyền có mối quan hệ chặt chẽ với các ngành luật khác nhau như Hiến pháp, Luật hình sự, Luật hành chính và các lĩnh vực khác như Luật tài sản, Luật hợp đồng, Luật về bồi thường thiệt hại, Luật sở hữu trí tuệ…

Thứ hai, cho dù nội dung cụ thể có khác nhau, nhưng mục đích chung của việc điều chỉnh các quan hệ cạnh tranh và kiểm soát thống lĩnh, độc quyền bằng

Trang 25

pháp luật ở các nước là nhằm tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, điều hòa lợi ích của các chủ thể trên thị trường, thúc đẩy nền kinh tế phát triển Pháp luật chống các hành vi hạn chế cạnh tranh, kiểm soát độc quyền nhằm mục đích đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh, công bằng và từ đó đảm bảo cho hoạt động kinh doanh được công bằng, tự do Nó là công cụ của Nhà nước để duy trì quyền tự do cạnh tranh lành mạnh bằng việc hạn chế các đặc quyền kinh tế trong kinh doanh Mục đích lớn nhất của pháp luật chống các thỏa thuận hoặc hành vi hạn chế cạnh tranh, kiểm soát độc quyền là đảm bảo sự điều hành nền kinh tế phát triển một cách

tự do, xác lập các hoạt động kinh doanh công bằng Và ngày nay, ở nhiều nước trên thế giới người ta nói rằng, pháp luật chống các thỏa thuận hoặc hành vi hạn chế cạnh tranh, kiểm soát độc quyền được xem như là hiến pháp của kinh tế

Thứ ba, Pháp luật về kiểm soát thống lĩnh, đôc quyền của hầu hết các nước đều tập trung vào hai vấn đề trọng tâm là quy định hành lang pháp lý để kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền của các công ty thống lĩnh, độc quyền, và kiểm soát hoạt động tập trung quyền lực kinh tế thông qua việc hợp nhất, sáp nhập, mua lại quyền điều hành dưới mọi hình thức Trong đó khía cạnh thứ hai được pháp luật kiểm soát hành vi thống lĩnh, độc quyền của các nước đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, pháp luật các nước có sự điều chỉnh cũng không hoàn toàn giống nhau về kiểm soát việc hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp

Thứ tư, Pháp luật về kiểm soát thống lĩnh, độc quyền ở các nước đều quy định các biện pháp chế tài rất nghiêm khắc đối với những hành vi bị coi là vi phạm pháp luật chống độc quyền hoặc tập trung kinh tế trái pháp luật đối với các công ty thống lĩnh, độc quyền cũng như đối với những người lãnh đạo, quản lý các công ty

đó Những chế tài này có thể bao gồm từ chế tài hành chính (như hủy bỏ vụ sáp nhập, buộc phải chia tách…) chế tài kinh tế (phạt tiền) đến chế tài hình sự (bỏ tù những cá nhân sai phạm…)

1.2.2 Vai trò của pháp luật trong việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền

Đa số các quốc gia đều nhận thức được rằng không thể xóa bỏ thống lĩnh, độc quyền bằng sức mạnh nhà nước hay bằng bất kỳ cách thức nào khác, trái lại,

Trang 26

Nhà nước chỉ có thể áp dụng những biện pháp nhằm hạn chế và kiểm soát nó Bằng những thuộc tính của mình, đặc biệt là tính quy phạm và tính cưỡng chế bắt buộc, pháp luật được xem là công cụ quan trọng nhất cho việc kiểm soát thống lĩnh, độc quyền Tình trạng lạm dụng vị thé thống lĩnh, độc quyền chỉ được kiểm soát tốt nếu như các hành vi của doanh nghiệp bị kiềm tỏa bởi hệ thống các quy định của pháp luật ổn định, chặt chẽ, đi kèm những chế tài nghiêm khắc Ngược lại, nếu thiếu điều này thì các giải pháp kiểm soát thống lĩnh, độc quyền sẽ khó phát huy tác dụng Nhà nước, thông qua pháp luật xác định ranh giới pháp lý mà nếu vượt qua ranh giới đó thì một doanh nghiệp sẽ bị coi là ở vào vị thế thống lĩnh hoặc độc quyền, pháp luật cũng xác định đâu là những hành vi lạm dụng vị thế thống lĩnh, độc quyền mà doanh nghiệp bị cấm hoặc bị hạn chế và những chế tài nếu doanh nghiệp vi phạm Pháp luật về chống độc quyền còn thiết lập cơ chế pháp lý nhằm kiểm soát từ xa tất cả các thỏa thuận, liên két và các hành vi tập trung kinh tế có thể dẫn đến hạn chế hoặc triệt tiêu cạnh tranh và tạo ra nguy cơ hình thành độc quyền

Có thể nói, mục đích lớn nhất của pháp luật kiểm soát thống lĩnh, độc quyền là duy trì sự tương quan thị trường trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh, giới hạn

và diều hòa giữa lợi ích của các chủ thế có vị thế độc quyền trên thị trường với lợi ích chung của toàn xã hội

Thông qua cơ chế điều chỉnh như trên, pháp luật về kiểm soát hành vi thống lĩnh và độc quyền có những vai trò như sau:

- Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước những hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền của các doanh nghiệp hoặc tổ chức có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền

- Đảm bảo quyền lợi của các chủ thể kinh doanh khác trong một thị trường liên quan (đảm bảo quyền lợi của các đối thủ cạnh tranh đối với cùng một loại hàng hóa, dịch vụ ở một khu vực địa lý nhất định)

- Đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế thị trường, ngăn chặn các tác hại và khuyến khích những mặt tích cực của hoạt động cạnh tranh cơ chế thị trường

Trang 27

- Đảm bảo độc quyền nhà nước trong một số lĩnh vực, đối tượng hàng hóa, dịch vụ trong một khoảng thời gian, không gian nhất định nhằm đảm bảo an ninh quốc phòng, đảm bảo sự ổn định tương đối của thị trường, đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế

Khái quát lại, vai trò của pháp luật cạnh tranh là duy trì sự tương quan thị trường trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh, duy trì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền và các doanh nghiệp khác trên thị trường, góp phần tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng Với vai trò phân tích ở trên, việc ban hành pháp luật cạnh tranh được xem là công cụ pháp lý hữu hiệu nhất trong tay nhà nước để can thiệp, điều tiết cạnh tranh, kiểm soát độc quyền có hiệu quả, duy trì sự vận hành bình thường của nền kinh tế, góp phần tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng tạo đà cho sự phát triển kinh tế đất nước bền vững

1.3 Pháp luật kiểm soát đối với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền của một số nước trên thế giới

1.3.1 Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền theo pháp luật của Mỹ

Trên thế giới, Mỹ là quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển hàng đầu,

và cũng là nước mà các hành vi cạnh tranh diễn ra sôi động và khốc liệt nhất Mỹ là một trong những nước đã ban hành luật cạnh tranh khá sớm, do đó không lấy gì làm ngạc nhiên chỉ sau Canada Vì nước Mỹ luôn cổ vũ cho sự cạnh tranh tự do, nên pháp luật cạnh tranh của Mỹ không thiết lập nên nhiều các ràng buộc pháp lý để kiểm soát hành vi cạnh tranh, vì theo họ làm như vậy sẽ hạn chế sự cạnh tranh, mối

đe dọa lớn nhất có thể bóp chết cạnh tranh

Mọi doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền, đều thể hiện khả năng điều khiển thị trường qua giá cả, cung cầu,… Ở Mỹ, một số trường hợp sẽ bị đưa ra xét xử tại tòa hình sự chứ không chỉ còn đơn thuần là xử phạt hành chính Luật Sherman không cấm trở thành nhà độc quyền hoặc thậm chí là ứng xử như nhà độc quyền bằng cách tăng giá hoặc giảm sản lượng Thay vì đó, hành vi bị cấm là hành

vi sử dụng các biện pháp không lành mạnh để đạt được hoặc duy trì độc quyền chủ

Trang 28

yếu bằng cách loại các đối thủ cạnh tranh có hiệu quả Các hình phạt hiện đang áp dụng rất hà khắc, nhằm đạt được mục tiêu buộc đa dạng hóa hoặc tái cơ cấu nhờ đó phá vỡ độc quyền và tạo ra các doanh nghiệp cạnh tranh thay cho các doanh nghiệp độc quyền Nhưng các trường hợp độc quyền hóa có thể bằng những thủ đoạn rất tinh vi, phức tạp và ít khi bị kiện [25, tr269] Theo tiến sĩ I.Elizabeth Callison, Ủy ban thương mại Liên bang Hoa Kỳ, 2/3 mục tiêu quan trọng nhất của chính sách cạnh tranh Hoa Kỳ tập trung chính vào người tiêu dùng: thúc đẩy lợi ích của người tiêu dùng, thứ đến là bảo vệ cạnh tranh cho lợi ích của người tiêu dùng

Tại nước Mỹ, có hai cơ quan khác nhau được giao việc duy trì chính sách pháp luật và thực thi nhiệm vụ kiểm soát độc quyền Cơ quan thứ nhất là: Ủy ban Thương mại liên bang (Federal Trade Commission), là một cơ quan độc lập được đặt giữa cơ quan này là để đưa nhiều hơn kiến thức chuyên sâu và chính sách cạnh tranh Tuy nhiên, luật cơ bản của Ủy ban thương mại liên bang (FTC) được xây dựng trên cơ sở luật chung về cạnh tranh, và FTC còn được giao nhiệm vụ thực thi

và tố tụng luật Cơ quan thứ hai là: Vụ chống độc quyền (Antitrust Division) thuộc

Bộ Tư pháp, là một bộ phận thuộc một cơ quan điều hành của Chính phủ Việc đặt

cơ quan này trong Bộ Tư pháp hơn là một bộ chuyên sâu hơn về chính sách kinh tế xuất phát từ thực tế là Luật Sherman có nguồn gốc là một luật về hình sự Luật này vận dụng truyền thống khởi tố cũng như phân tích chính sách

Năm 1914, các kiến nghị thành lập một cơ quan cạnh tranh có quyền điều tiết kinh tế trực tiếp đã bị bãi bỏ ngay lập tức [25,tr266,269) Như vậy, nước Mỹ có 2 cơ quan thực thi luật cạnh tranh; cán bộ của cả 2 cơ quan này là các luật gia và các nhà kinh tế; cả hai cơ quan này đều kết hợp các kiến thức chuyên môn về chính sách và các kỹ năng tố tụng với sự điều giải chính trị (đạt được bằng những cách khác nhau), cả hai cơ quan đều thực thi chính sách cạnh tranh chủ yếu bằng cách áp dụng các nguyên tắc chung vào từng trường hợp cụ thể Thực tế lịch sử cho thấy việc tồn tại hai cơ quan như trên không dẫn tới sự mâu thuẫn do thẩm quyền của chúng đã được phân định Nhưng việc có hai cơ quan cũng làm phát sinh thêm một số chi phí cho mỗi cơ quan trong việc phối hợp chính sách và hành động với nhau Cả hai cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh đều có đủ quyền lực để hành động một cách độc

Trang 29

lập, để thu thập thông tin cần thiết cho việc ra các quyết định có căn cứ và để bảo đảm quyết định của họ khả thi Trong một số ngành nghề, lĩnh vực quan trọng thì cả hai cơ quan đều có thẩm quyền can thiệp và chỉ cần một trong hai cơ quan có kết luận rằng vụ việc hoặc hành vi nào đó vi phạm luật cạnh tranh là coi như vụ việc hoặc hành vi đó có vi phạm và sẽ bị xử lý

1.3.2 Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền theo pháp luật của Liên minh Châu Âu (EU)

Khối Liên minh Châu Âu Một trong những mục tiêu liên kết của họ là nhằm

“thực hiện một chính sách thương mại chung” và “xác lập một hệ thống bảo đảm cho việc cạnh tranh trong thị trường chung” Bởi vậy, Hiệp ước EC – với tích cách

là một trong hai hiệp ước nền tảng của Liên minh Châu Âu – đã chứa đựng nhiều điều khoản về chống hạn chế cạnh tranh trong thị trường Châu Âu Có thể tóm tắt các điều khoản quan trọng nhất là: Điều 30 quy định cấm áp dụng hạn chế số lượng

và các biện pháp có tác dụng tương tự Điều 34 quy định việc cấm tương tự đối với hàng xuất khẩu Điều 37 bổ sung cho Điều 30, 34, theo đó yêu cầu các quốc gia

thành viên cần “điều chỉnh dần dần đối với các hành vi độc quyền thương mại để đảm bảo không có sự phân biệt về các điều kiện mua và thâm nhập hàng hóa trên

thị trường giữa các công dân của các nước thành viên” Quy định này chỉ áp dụng đối với các hành vi độc quyền của các quốc gia trong lĩnh vực cung cấp hàng hóa, không áp dụng trong lĩnh vực dịch vụ

Điều 86 cũng cấm việc tận dụng một cách lạm dụng vị trí thống trị thị trường chung hoặc tận dụng một cách lạm dụng một phần cơ bản của thị trường chung bởi một hoặc nhiều doanh nghiệp, nếu việc đó có thể dẫn đến việc làm ảnh hưởng giữa các nước thành viên

Nếu cạnh tranh có nguy cơ bị hạn chế đáng kể trên lãnh thổ một quốc gia thành viên khi không có sự can thiệp của Ủy ban và nếu lợi ích của quốc gia thành viên này không có khả năng được bảo vệ một cách đầy đủ bởi những quy định khác với quy định của quy chế này thì cần phải hạn chế thẩm quyền của các cơ quan quản lý Nhà nước về cạnh tranh của quốc gia thành viên đó Các quốc gia thành viên khác có liên quan cần phải hành động nhanh chóng trong những trường hợp

Trang 30

như vậy Do có sự khác biệt giữa pháp luật của các quốc gia thành viên cho nên Quy chế này không thể ấn định cho tất cả các quốc gia một thời hạn duy nhất trong việc ban hành những biện pháp cần thiết

Khi xem xét đến những hệ quả của hoạt động tập trung kinh tế một khi chúng được thực hiện hiện tại các thị trường độc quyền ít người bán, thì càng thấy sự cần thiết phải duy trì cạnh tranh thực tế trên những thị trường loại này Việc có nhiều thị trường độc quyền ít người bán là dấu hiệu về mức độ cạnh tranh phù hợp Tuy nhiên, trong một số trường hợp, những dự án tập trung kinh tế có nội dung loại bỏ những ràng buộc cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp này đối với doanh nghiệp khác hoặc làm giảm áp lực cạnh tranh đối với các đối thủ cạnh tranh khác thì cho dù không có sự liên kết giữa các thành viên của nhóm độc quyền, vẫn có thể coi những dự án như vậy là có hệ quả làm hạn chế đáng kể cạnh tranh thực tế

1.3.3 Kiểm soát hành vi vi phạm lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền theo pháp luật Trung Quốc

Nước có đặc điểm nền kinh tế rất giống nền kinh tế Việt nam là Trung Quốc

Ở nước này, sự “ngự trị” của cơ chế kinh tế kế hoạch hóa, tập trung trong suốt một thời gian dài với doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tập thể chiếm tỷ trọng tuyệt đối, sự tham gia của bộ phận kinh tế cá thể không đáng kể, nên việc cần thiết phải có một cơ chế pháp lý nhằm bảo hộ quyền tự do kinh doanh hầu như chưa được đặt ra Quan hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế chủ yếu dựa trên sự hợp tác, thi đua chứ chưa mang tính chất cạnh tranh Trong những năm đầu thập kỷ 80, Trung Quốc vẫn chưa xây dựng một văn bản pháp luật chung đó là Luật về cạnh tranh nhằm thống nhất áp dụng trong cả nước để điều chỉnh các nhóm quan hệ cạnh tranh, chống các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp

Với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ tại nước này vào cuối thập kỷ 80 và đầu những năm 90, đã xuất hiện những hành vi cạnh tranh không lành mạnh và ngăn cản cạnh tranh Luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Trung Quốc mới được chính thức ban hành ngày 02/09/1993, có hiệu lực từ ngày 01/12/1993 để đảm bảo

sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế, nhằm khuyến khích và bảo vệ cạnh tranh lành mạnh, ngăn chặn những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bảo vệ quyền lợi

Trang 31

được pháp luật thừa nhận của các nhà kinh doanh và người tiêu dùng Chính việc ban hành Luật chống cạnh tranh không lành mạnh, Nhà nước Trung Quốc đã thể hiện sự khuyến khích, ủng hộ và bảo vệ mọi tổ chức tham gia giám sát hành động cạnh tranh Phạm vi điều chỉnh của Luật rất rộng, về việc lạm dụng vị trí độc quyền

có những quy định sau:

- Chính quyền địa phương không được sử dụng các biện pháp hành chính để

ép buộc khách hàng mua hàng hóa ở những địa chỉ chỉ định, không được ngăn cản

sự giao lưu và chuyên chở hàng hóa giữa các vùng (Điều 7)

- Các xí nghiệp đang được pháp luật công nhận vị thế độc quyền không được

ép buộc mọi người mua hàng hóa của doanh nghiệp do họ chỉ định nhằm loại trừ những sản xuất kinh doanh khác ra khỏi vòng cạnh tranh lành mạnh (Điều 6); Mọi hành vi hối lộ, đút lót có được lợi thế khi mua bán hàng hóa, ngăn cản hành vi bán phá giá, hạ giá một cách phi lý để loại trừ cạnh tranh được ngăn chặn (trừ một số mặt hàng được quy định như hàng tươi sống, hàng ế hoặc sắp hết thời hạn sử dụng, hàng theo mùa, hàng phục vụ cho những mục đích hợp lý như để trả

nợ, thay đổi công nghệ sản xuất)

Bộ luật cũng quy định rất rõ, nếu người kinh doanh vi phạm những quy định của luật này thì phải bồi thường thiệt hại do họ gây ra kể cả những thiệt hại phát sinh từ những thiệt hại ban đầu Hành vi vi phạm cá nhân có thể bị phạt từ 10.000 đến 20.000 nhân dân tệ, còn đối với các xí nghiệp bị phạt từ 50.000 đến 200.000 nhân dân tệ và có thể bị tru tố trước Tòa án nhân dân

Bộ luật quy định về công tác kiểm tra và thanh tra nhằm tăng cường hiệu lực của Luật nhằm thực hiện tốt những điều khoản trong Bộ luật này Cấp cao nhất là Thanh tra trung ương, Cơ quan này và những chi nhánh của nó có thẩm quyền kiểm tra và thanh tra với những chức năng được quy định rất cụ thể:

- Được quyền thanh tra các tài khoản, tài sản có liên quan tới hoạt động cạnh tranh không lành mạnh đã được quy định ở trên Khi cần thiết, được quyền đòi nhà kinh doanh đang bị thanh tra phải giải thích rõ về nguồn gốc chất lượng hàng hóa, được quyền tạm thời đình chỉ việc bán hàng hóa đó [28;tr423, 424]

Trang 32

- Được phép khảo sát và sao lại các văn bản hợp đồng, sổ sách kế toán, phiếu thu, phiếu chi báo giá, phiếu nhập hàng, công văn, giấy tờ và những tài liệu liên quan đến hoạt động kinh doanh

- Được quyền thẩm vấn nhà kinh doanh khi bị nghi là có hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các đơn vị, cá nhâ, người làm chứng có liên quan; được quyền yêu cầu họ cung cấp các tài liệu làm bằng chứng hoặc các thông tin có liên quan

Vì thế, những nhân viên thực hiện thanh tra và kiểm soát những hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền hạn rất lớn, tuy nhiên họ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những quyết định của họ

Trang 33

CHƯƠNG II KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ ĐỘC

QUYỀN THEO PHÁP LUẬT

VIỆT NAM 2.1 Những quy định về xác định thị trường liên quan, xác định vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền của doanh nghiệp

2.1.1 Xác định thị trường liên quan

Quan hệ cạnh tranh có hay không ? Muốn xác định được, trước hết đòi hỏi phải xác định được thị trường liên quan Khi xử lý các vụ việc về cạnh tranh thì việc xác định thị trường liên quan chính là công việc đầu tiên mà các chủ thể áp dụng luật cạnh tranh cần phải tiến hành Câu trả lời có hay không có thị trường liên quan

có thể sẽ dẫn đến việc thụ lý hay không thụ lý một vụ việc cạnh tranh

Cạnh tranh không thể nói một cách chung chung, mà ngay trong định nghĩa

đã chỉ rõ: Cạnh tranh chỉ có thể diễn ra trên thị trường liên quan Nói một cách dễ hiểu, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu giống nhau trên một khu vực địa lý xác định Đương nhiên, không thể nói đến cạnh tranh giữa một nhà sản xuất xi măng với một nhà kinh doanh đồ ăn uống; hoặc không thể cạnh tranh giữa hai nhà sản xuất quần áo ở hai quốc gia chưa hề có quan hệ thương mại

Liên quan đến thị trường là một trong những khái niệm cơ bản quan trọng hàng đầu của luật cạnh tranh và trước tiên, nó thuộc về phạm trù kinh tế Nội hàm của nó thường được xác định thông qua hai yếu tố là thị trường sản phẩm liên quan

và thị trường địa lý liên quan Theo luật mẫu về cạnh tranh của Tổ chức thương mại

và phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD) thì liên quan thị trường dùng để chỉ những điều kiện chung theo đó người bán và người mua trao đổi hàng hóa, và cũng

có nghĩa chỉ ra phạm vi về mặt không gian để xác định những nhóm người bán và người mua hàng hóa trong đó cạnh tranh có thể bị hạn chế

Trang 34

Việc phân chia thị trường liên quan thành thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan không có nghĩa là có hai thị trường riêng biệt Ngược lại, đây là hai khía cạnh của một thị trường liên quan: khía cạnh sản phẩm và phía cạnh địa lý Ví dụ: Thị trường nước giải khát có ga tại Việt Nam- Thị trường của tất cả các sản phẩm liên quan là các loại nước giải khát có ga có thể thay thế cho nhau trong một khu vực địa lý liên quan là toàn bộ lãnh thổ Việt Nam

Luật cạnh tranh quy định tại khoản 1 Điều 3 về thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan:

- Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể (có thể là một khu phố, một tỉnh, một vùng, một quốc gia, thậm chí là liên quốc gia) đó có những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận Đó là giới hạn không gian mà các hành

vi cạnh tranh tác động một cách đáng kể đến các chủ thể tham gia cạnh tranh Ví dụ: Khi Tổng công ty bưu chính viễn thông yêu cầu các doanh nghiệp thành viên thống nhất mức cước điện thoại di động tối thiểu thì thỏa thuận khống chế giá của các doanh nghiệp này chỉ có tác động trên thị trường Việt Nam; khi Hiệp hội taxi Hà Nội thỏa thuận khống chế, thỏa thuận sử dụng loại xe giữa các doanh nghiệp thành viên thì các thỏa thuận này chỉ có hiệu lực trên thị trường Hà Nội mà không ảnh hưởng đáng kể đến thị trường các khu vực địa lý khác

- Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả Về lý luận cũng như kinh nghiệm của các nước có truyền thống về luật cạnh tranh, để xác định thị trường liên quan, người ta phải xác định cho được các hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau một cách hợp lý hay không Tuy nhiên, để xác định cho được khả năng thay thế cho nhau một cách hợp lý giữa các hàng hóa hay dịch vụ cụ thể không phải

là điều đơn giản Thông thường, để làm được điều này, người ta căn cứ vào tổng thể nhiều tiêu chí như đặc điểm của sản phẩm, mục đích sử dụng của người tiêu dùng, chi phí, giá thành sản phẩm… Trong đó, các nước khác nhau nhấn mạnh đến những tiêu chí khác nhau Chẳng hạn, Hoa kỳ nhấn mạnh đến 3 yếu tố là: các tính toán về chi phí dự đoán để thay thế sản phẩm; ý kiến đánh giá của các chuyên gia kinh tế,

Trang 35

dữ liệu từ nghiên cứu thị trường Trong khi đó, Cộng hòa liên bang Đức thường tham khảo ý kiến của người tiêu dùng mà xác định sản phẩm có thể thay thế được chức năng của nhau hay không Ví dụ, thị trường giữa các nhà sản xuất xi măng với nhau, thị trường giữa các nhà sản xuất thép với nhau, hoặc thị trường giữa các nhà sản xuất xà phòng bột và chất tẩy rửa (trong chừng mực mà hai sản phẩm có thẻ thay thế được cho nhau trong điều kiện thương mại thông thường)

Đây là điều có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình xử lý vụ việc cạnh tranh đối với việc xác định thị trường liên quan

Thứ nhất, xác định thị trường liên quan là cơ sở quan trọng để xác định hai doanh nghiệp có phải là đối thủ cạnh tranh của nhau hay không Các doanh nghiệp chỉ có thể là đối thủ cạnh tranh của nhau nếu những doanh nghiệp này cùng hoạt động trên cùng một thị trường liên quan

Thứ hai, xác định thị trường liên quan giúp cho việc xác định mức độ gây hạn chế cạnh tranh do hành vi vi phạm các quy định của Luật cạnh tranh gây ra [20]

Thứ ba, xác định thị trường liên quan là công việc đầu tiên để xác định thị phần của từng doanh nghiệp trong vụ việc cạnh tranh Theo các quy định tại khoản

2 Điều 9, Điều 11, 18 và 19 của Luật cạnh tranh, thị phần là cơ sở để xác định liệu các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có bị cấm thực hiện thỏa thuận đó hay không; xác định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp, xác định trường hợp tập trung kinh tế bị cấm và trường hợp các doanh nghiệp tập trung kinh tế cần phải thông báo cho Cục quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành

* Xác định thị trường sản phẩm liên quan

Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 09 năm 2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh (sau đây gọi tắt là Nghị định số 116) Theo quy định tại Điều 4:Việc xác định thị trường sản phẩm liên quan bao gồm xác định các hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng

và giá cả

- Mục đích sử dụng của hàng hóa, dịch vụ được xác định căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu nhất của hàng hóa, dịch vụ đó

Ngày đăng: 20/06/2016, 20:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Cơ quan phát triển quốc tế Canada – Bộ Công thương Việt Nam (2006), Luật Cạnh tranh Canada một số hướng dẫn thi hành, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lu"ậ"t C"ạ"nh tranh Canada m"ộ"t s"ố" h"ướ"ng d"ẫ"n thi hành
Tác giả: Cơ quan phát triển quốc tế Canada – Bộ Công thương Việt Nam
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2006
12. Cục Quản lý Cạnh tranh, Bộ Thương mại (2006), Hỏi – đáp về luật cạnh tranh Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: H"ỏ"i – "đ"áp v"ề" lu"ậ"t c"ạ"nh tranh Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Cục Quản lý Cạnh tranh, Bộ Thương mại
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
13. David W. Pearce (1999), Từ điển kinh tế học hiện đại (tái bản lần thứ 4), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ừ đ"i"ể"n kinh t"ế" h"ọ"c hi"ệ"n "đạ"i (tái b"ả"n l"ầ"n th"ứ" 4)
Tác giả: David W. Pearce
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 1999
14. Phan Thị Vân Hồng (2005), Độc quyền và Pháp luật về kiểm soát độc quyền ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: c quy"ề"n và Pháp lu"ậ"t v"ề" ki"ể"m soát "độ"c quy"ề"n "ở" Vi"ệ"t Nam hi"ệ"n nay
Tác giả: Phan Thị Vân Hồng
Năm: 2005
15. Đặng Vũ Huân (2002), Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lu"ậ"t v"ề" ki"ể"m soát "độ"c quy"ề"n và ch"ố"ng c"ạ"nh tranh không lành m"ạ"nh "ở" Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Đặng Vũ Huân
Năm: 2002
18. PGS. TS Nguyễn Như Phát, Ths. Bùi Nguyên Khánh, Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ti"ế"n t"ớ"i xây d"ự"ng pháp lu"ậ"t v"ề" c"ạ"nh tranh trong "đ"i"ề"u ki"ệ"n chuy"ể"n sang n"ề"n kinh t"ế" th"ị" tr"ườ"ng Vi"ệ
19. PGS. TS Nguyễn Như Phát, Ths. Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích và lu"ậ"n gi"ả"i các quy "đị"nh c"ủ"a Lu"ậ"t C"ạ"nh tranh v"ề" hành vi l"ạ"m d"ụ"ng v"ị" trí th"ố"ng l"ĩ"nh th"ị" tr"ườ"ng, v"ị" trí "độ"c quy"ề"n "để" h"ạ"n ch"ế" c"ạ"nh tranh
Tác giả: PGS. TS Nguyễn Như Phát, Ths. Nguyễn Ngọc Sơn
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2006
20. Ths. Nguyễn Ngọc Sơn (2005), Xác định thị trường liên quan theo Luật cạnh tranh 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác "đị"nh th"ị" tr"ườ"ng liên quan theo Lu"ậ"t c"ạ
Tác giả: Ths. Nguyễn Ngọc Sơn
Năm: 2005
21. Tổ chức phát triển Liên Hiệp Quốc (2003), Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên Hiệp Quốc, Luật mẫu về cạnh tranh Sách, tạp chí
Tiêu đề: B"ộ " quy t"ắ"c v"ề" c"ạ"nh tranh c"ủ"a Liên Hi"ệ"p Qu"ố"c, Lu"ậ"t m"ẫ"u v"ề" c"ạ
Tác giả: Tổ chức phát triển Liên Hiệp Quốc
Năm: 2003
22. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế - Ngân hàng thế giới (2004), Khuôn khổ cho việc xây dựng và thực thi Luật và chính sách cạnh tranh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuôn kh"ổ" cho vi"ệ"c xây d"ự"ng và th"ự"c thi Lu"ậ"t và chính sách c"ạ
Tác giả: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế - Ngân hàng thế giới
Năm: 2004
23. Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế Quốc tế và Đại sứ Pháp tại Việt Nam (2004), Các văn bản pháp quy điều tiết cạnh tranh của Pháp và Liên minh Châu Âu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các v"ă"n b"ả"n pháp quy "đ"i"ề"u ti"ế"t c"ạ"nh tranh c"ủ"a Pháp và Liên minh Châu Âu
Tác giả: Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế Quốc tế và Đại sứ Pháp tại Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
24. Hoàng Hải Vân (1999), Độc quyền làm cho những người làm ăn giỏi không ngóc đầu dậy được, Báo Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: c quy"ề"n làm cho nh"ữ"ng ng"ườ"i làm "ă"n gi"ỏ"i không ngóc "đầ"u d"ậ"y "đượ"c
Tác giả: Hoàng Hải Vân
Năm: 1999
25. Viện nghiên cứu quản lý trung ương (2002), Các vấn đề pháp lý về thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh, Dự án hoàn thiện môi trường kinh doanh VIE/97/061, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các v"ấ"n "đề" pháp lý v"ề" th"ể" ch"ế" v"ề" chính sách c"ạ"nh tranh và ki"ể"m soát "độ"c quy"ề"n kinh doanh, D"ự" án hoàn thi"ệ"n môi tr"ườ"ng kinh doanh VIE/97/061
Tác giả: Viện nghiên cứu quản lý trung ương
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2002
26. Viện quản lý kinh tế trung ương (2000), Cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách cạnh tranh ở Việt Nam, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C"ơ" s"ở" khoa h"ọ"c và th"ự"c ti"ễ"n cho vi"ệ"c xây d"ự"ng chính sách c"ạ"nh tranh "ở" Vi"ệ"t Nam, NXB Lao "độ"ng
Tác giả: Viện quản lý kinh tế trung ương
Nhà XB: NXB Lao "độ"ng
Năm: 2000
27. Vụ công tác lập pháp (2005), Những nội dung cơ bản của Luật Cạnh tranh, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nh"ữ"ng n"ộ"i dung c"ơ" b"ả"n c"ủ"a Lu"ậ"t C"ạ"nh tranh
Tác giả: Vụ công tác lập pháp
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2005
28. Vụ Pháp chế, Bộ Công thương (2003) Tài liệu tham khảo khuôn khổ pháp lý đa phương điều chỉnh hoạt động cạnh tranh và luật cạnh tranh của một số nước và vùng lãnh thổ, Nxb Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài li"ệ"u tham kh"ả"o khuôn kh"ổ" pháp lý "đ"a ph"ươ"ng "đ"i"ề"u ch"ỉ"nh ho"ạ"t "độ"ng c"ạ"nh tranh và lu"ậ"t c"ạ"nh tranh c"ủ"a m"ộ"t s"ố" n"ướ"c và vùng lãnh th
2. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Khác
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
4. Ban Tuyên giáo Trung ương (2011), Tài liệu nghiên cứu các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
5. Luật Cạnh tranh Việt Nam (2004) 6. Luật Thương mại Việt Nam (2005) 7. Luật Doanh nghiệp Việt Nam (2005) 8. Luật Dân sự Việt Nam (2005) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w