1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện trạng và định hướng sử dụng hợp lí đất nông nghiệp tỉnh phú thọ

79 635 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản đồ hiện trạng sử dụng đất Việt Nam tỉ lệ 1: 1000.000 được xâydựng 5 năm một lần bằng phương pháp tổng hợp các bản đồ hiện trạng sử dụngđất tỉ lệ 1: 250.000 đến bản đồ 1: 1000.000 cảu

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong vài thập kỷ trở lại đây, sự gia tăng dân số của thế giới đã thúc đẩynhu cầu ngày càng lớn về lương thực và thực phẩm Song song với sự phát triểndân số là sự phát triển về kinh tế, khoa học kỹ thuật Và để thỏa mãn nhu cầungày càng cao, nhiều hoạt động của con người đã gây ảnh hưởng đến môi trường

và các nguồn tài nguyên đất đai, một dạng tài nguyên không tái tạo được Do đó,việc đánh giá tài nguyên thiên nhiên làm cơ sở cho việc sử dụng hợp lý, hiệu quả

và phát triển bền vững là một nhiệm vụ khó khăn trong giai đoạn hiện nay

Bên cạnh đó, việc sử dụng đất nông nghiệp đạt hiệu quả cao là vấn đềquan tâm hàng đầu trong công tác quản lý, sử dụng đất của nhà nước Sản xuấtnông nghiệp là một ngành kinh tế lấy đất đai làm tư liệu sản xuất thì mỗi mụcđích sử dụng đất có những yêu cầu nhất định mà đất đai cần đáp ứng Việc lựachọn, so sánh các kiểu sử dụng đất hoặc cây trồng khác nhau phù hợp với điềukiện đất đai là đòi hỏi của người sử dụng đất, các nhà làm quy hoạch, để từ đó

có những quyết định đúng đắn, phù hợp trong việc sử dụng đất mang lại hiệuquả kinh tế và bền vững Vì vậy, đánh giá mức độ thích hợp tài nguyên đất đaiphục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp là một việc làm tất yếu của bất kỳ mộtquốc gia, một vùng lãnh thổ hay tại một địa phương nào đó là rất cần thiết

Tình hình thực tế ở nước ta cho thấy, việc quản lý và sử dụng đất cònnhiều bất cập Đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng được quản lý và

sử dụng chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của người dân và phụ thuộc vào thời tiếtkhí hậu Ngoài ra, việc canh tác cây trồng ít quan tâm đến bảo vệ và cải tạo đấtđai đã làm cho chất lượng đất ngày càng bị suy giảm nghiêm trọng Vì vậy, việcnghiên cứu đánh giá hiện trạng đất đai hợp lý, bền vững và đạt hiệu quả cao theohướng sản xuất hàng hóa đang được quan tâm nghiên cứu trên phạm vi cả nước

và từng vùng

Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, có diện tíchđất tự nhiên là 351.858 ha, và tổng dân số là 1.351 nghìn người Địa hình đồinúi chiếm ¾ diện tích tự nhiên Đồng bằng chiếm một diện tích nhỏ, tập trungchủ yếu ở phía nam của huyện Lâm Thao, phía đông nam của huyện Tam Nông

Do đất đai có độ phì thấp, cộng thêm sự phức tạp của địa hình đồi núi thườngxuyên bị xói mòn, rửa trôi, hiệu quả sản xuất không cao nên để đáp ứng nhu cầungày càng cao về lương thực thực phẩm, đồng thời góp phần tăng thu nhập chongười dân, thâm canh trên một đơn vị diện tích đất được coi là biện pháp hữu

Trang 2

hiệu nhất Tuy nhiên, nếu thâm canh không hợp lý nhiều khi lại làm tăng nhanhmức độ ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, làm giảm nhanh sức sản xuấtcủa đất Vì vậy, trong quá trình khai thác sẽ không tránh khỏi tình trạng sử dụngđất không hợp lý hiệu quả sử dụng đất không cao Xuất phát từ thực tế đó, em

lựa chọn đề tài “Hiện trạng và định hướng sử dụng hợp lí đất nông nghiệp tỉnh Phú Thọ” làm nội dung nghiên cứu.

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất trên thế giới và Việt Nam

Đánh giá tài nguyên đất đai là khái niệm được sử dụng phổ biến trong cáccông trình nghiên cứu đánh giá phục vụ quy hoạch sử dụng đất Theo Stewat

(1968), đánh giá đất đai là “sự đánh giá khả năng thích nghi của đất đai cho việc sử dụng của con người vào nông nghiệp, lâm nghiệp, thiết kế thuỷ lợi, quy hoạch sử dụng đất,…” và đánh giá nhằm mục tiêu cung cấp những thông tin về

thuận lợi và khó khăn cho việc sử dụng đất đai” [10] Tại Liên Xô (cũ) và cácnước Đông Âu, trong những năm 60 của thế kỉ XX, các công trình đánh giá đấtđai được thực hiện theo 3 bước: 1- Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng; 2- Đánh giákhả năng sản xuất của đất đai (kết hợp thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu); 3- Đánhgiá kinh tế đất Như vậy các bước này chưa xem xét đầy đủ các khía cạnh kinh

tế – xã hội của việc sử dụng đất đai

Tại Hoa Kì năm 1951 cục cải tạo đất đai (USBR – United States Bureau

of Reclamation) đã tiến hành phân loại khả năng thích nghi của đất đai có tưới.Ngoài đặc điểm đất đai, một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội cũng được chú trọngnghung giới hạn ở phạm vi thuỷ lợi Đến năm 1964 các tác giả Klinggebiel và

Montgomery đã đưa ra khái niệm “Khả năng đất đai” với tiêu chí chính để phân

loại khả năng đất đai là các hạn chế của lớp phủ thổ nhưỡng cho mục tiêu canhtác được đề nghị Đây là một dạng đánh giá đất đai sơ lược, gắn với hiện trạng

sử dụng đất

Hiện nay trên thế giới, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển, việc xâydựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất và theo dõi biến động của hiện trạng sử dụngđất được tiến hành thường xuyên trên cơ sở sử dụng tưu liệu viễn thám cùng vớicác phần mềm sử lí số chuyên dùng Ví dụ, ở Hoa Kì người ta thường sử dụngphương pháp xử lí ảnh số để thường xuyên cập nhật thông tin về hiện trạng sửdụng đất trong quản lí đất đai, trong nghiên cứu biến động rừng, thậm chí còndùng để dự báo khả năng tình trạng sâu bệnh với các loại cây trồng nông nghiệp

Trang 3

Tại Việt Nam, những công trình nghiên cứu đánh giá đất đai tiêu biểu từthập niên 80 của thế kỉ xx trở lại đây:

Năm 1984, tác giả Tôn Thất Chiểu và cộng sự đã thực hiện đánh giá phânhạng đất đai khái quát toàn quốc theo nguyên tắc phân loại khả năng đất đai củaHoa Kì, chỉ tiêu là các đặc điểm thổ nhưỡng và địa hình, phân cấp thành 7nhóm: 4 nhóm cho nông nghiệp, 2 nhóm cho lâm nghiệp và 1 nhóm cho mụcđích khác

Năm 1985, tác giả Bùi Quang Toản và cộng sự đã nghiên cứu đánh giáquy hoạch sử dụng đất khai hoang ở Việt Nam theo phương pháp của FAO Cácchỉ tiêu đánh giá bao gồm thổ nhưỡng, thuỷ văn và các điều kiện tưới tiêu.Hệthống phân vị là lớp (class) thích hợp cho từng loại hình sử dụng đất

Năm 1986, nhóm tác giả thuộc viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã

biên tập “Cơ sở khoa học bố trí sử dụng đất đồng bằng sông Cửu Long” trên cơ

sở xây dựng bản đồ sinh thái nông nghiệp Đơn vị cơ sở là các dơn vị sinh thái,

từ đó xây dựng bản đồ thích nghi cho một số cây trồng như lúa, ngô, mía,… với

4 cấp: thích hợp nhất, thích hợp, ít thích hợp và không thích hợp

Năm 1990, tác giả Hoàng Xuân Tứ và cộng sự đã thực hiện đề tài “

Nghiên cứu đánh giá tiềm năng đất trống đồi núi trọc và xác định phương hướng sử dụng hợp lí”, việc đánh giá tiềm năng đất dựa trên sự phân loại sinh

khí hậu, xây dựng bản đồ mức độ thích hợp về mặt sinh khí hậu, đánh giá khảnăng cây trồng và phục hồi rừng, áp dụng cho vùng đồi Quảng Ninh – Đà Nẵng

Việc điều tra nghiên cứu và hiện trạng sử dụng đất thông qua xây dựng vàkhai thác thông tin từ bản đồ trong những năm gần đây dạt được những thànhtựu đáng kể Bản đồ hiện trạng sử dụng đất Việt Nam tỉ lệ 1: 1000.000 được xâydựng 5 năm một lần bằng phương pháp tổng hợp các bản đồ hiện trạng sử dụngđất tỉ lệ 1: 250.000 đến bản đồ 1: 1000.000 cảu các địa phương trong cả nước.Các bản đồ này được xây dựng từ các số liệu đo vẽ và thống kê diện tích cácloại hình sử dụng đất ở các cấp xã, huyện, tỉnh theo quy trình thống nhất do tổngcục quản lí ruộng đất nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định Thành lậpbản đồ hiện trạng sử dụng đất bằng phương pháp truyền thống có cách thứctương đối đơn giản và kết quả sát với thực tế, song công tác điều tra rất tốn thờigian và công sức mà tính tổng hợp của các bản đồ không cao Hiện nay việc điềutra hiện trạng sử dụng đất còn có sự hỗ trợ của công nghệ viễn thám nên đã phầnnào khắc phục được những hạn chế của phương pháp truyền thống

Trang 4

Nghiên cứu về điều kiện tự nhiên nói chung, nguồn tài nguyên đất ở tỉnhPhú Thọ cũng đã có những đề tài nghiên cứu cụ thể Tiêu biểu có thể kể đến cáccông trình nghiên cứu như:

- “Địa lí địa phương tỉnh Phú Thọ” của tác giả Ngô Văn Nhuận của NXB

Đại học sư phạm năm 2010

- “Đánh giá thực trạng và đề xuất việc sử dụng đất nông nghiệp huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ” của tác giả Nguyễn Thị Mến trường đại học Nông

nghiệp Hà Nội

- Tác giả Đào Kim Quế có luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu đến đặc điểm địa

lí tự nhiên và vấn đề sử dụng đất đai tỉnh Phú Thọ” với số liệu hiện trạng đất được

sử dụng phân tích đến năm 2003

Gần đây nhất là luận án tiến sĩ của tác giả Đặng Thị Huệ năm 2013:

“Nghiên cứu đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển nông – lâm nghiệp tỉnh Phú Thọ” Công trình đã đề cập đến các nhân tố thành tạo cảnh quan tỉnh Phú

Thọ, trong đó có nhân tố thổ nhưỡng

Như vậy, mỗi công trình xuất phát từ những các tiếp cận và yêu cầu thựctiễn khác nhau, tuy nhiên nghiên cứu hiện trạng và định hướng sử dụng hợp líđất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2005 - 2013 thì chưa cócông trình nào nổi bật và chuyên biệt theo hướng này

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích những thay đổi trong hiện trạng sử dụng tài nguyên đất nôngnghiệp trong giai đoạn 2005 – 2013 Từ đó, đề xuất những giải pháp sử dụng tàinguyên đất hợp lí, phục vụ mục đích phát triển ngành nông nghiệp của tỉnh PhúThọ

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

Hệ thống các cơ sở lí luận và phương pháp luận nghiên cứu tài nguyên đấtphục vụ phát triển nông nghiệp của tỉnh Phú Thọ

Phân tích được hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp nói chung và nhữngthay đổi trong việc sử dụng đất phục vụ sản xuất nông nghiệp của tỉnh Phú Thọgiai đoạn 2005 - 2013

Đề xuất các giải pháp để sử dụng có hiệu quả và bền vững đất nôngnghiệp phục vụ cho việc phát triển nông nghiệp của tỉnh Phú Thọ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 5

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu, tài nguyên đất để phục vụ phát triển nông nghiệp của tỉnhPhú Thọ trong giai đoạn 2005 – 2013

ra các giải pháp phù hợp để sử dụng đất có hiệu quả và bền vững

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm nghiên cứu

5.1.1 Quan điểm hệ thống

Theo quan điểm này, đối tượng nghiên cứu là một hệ thống với các bộphận cấu thành tương đối hoàn chỉnh, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết vớinhau, tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau tạo thành một hệ thống thống nhấthoàn chỉnh Mỗi hệ thống vừa là một cấp đơn vị nhỏ của một hệ thống lớn hơn

nó, nhưng đồng thời bên trong nó lại tồn tại hai mối quan hệ Mối quan hệ giữacác thành phần trong hệ thống và mối quan hệ của hệ thống đó với hệ thốngkhác Các mối quan hệ này luôn gắn bó với nhau tạo thành một thể thống nhất

và hoàn chỉnh Vận dụng quan điểm vào đề tài để đánh giá tài nguyên đất củatỉnh Phú Thọ trên cơ sở đó thấy được thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và đưa

ra những giải pháp sử dụng hợp lý

5.1.2 Quan điểm tổng hợp

Vận dụng quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu địa lí tự nhiên là nghiêncứu các đối tượng trong tổng hòa mối quan hệ biện chứng với nhau Các đốitượng địa lí có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và tạo thành một thể thống nhất

Do vậy, khi nghiên cứu không thể tách rời tài nguyên đất ra khỏi mối quan hệvới các đối tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội khác

5.1.3 Quan điểm lãnh thổ

Quan điểm lãnh thổ là một trong những quan điểm đặc thù của địa lí học,bởi vì bất cứ một đối tượng nghiên cứu địa lí nào cũng đều gắn liền với khônggian lãnh thổ nhất định Tại đó có sự phân hóa và phụ thuộc lẫn nhau trong lãnhthổ, nhưng đồng thời lại có mối liên hệ với các lãnh thổ xung quanh trên phươngdiện tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội Trên cơ sở đó đề tài nghiên cứu tàinguyên đất phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và đề xuấtcác giải pháp để sử dụng đất có hiệu quả và bền vững

Trang 6

5.1.4 Quan điểm thực tiễn

Quan điểm thực tiễn là quan điểm đúng đắn nhất, xác định giá trị và khảnăng thực thi của kết quả nghiên cứu Vận dụng quan điểm thực tiễn để đánh giáhiện trạng sử dụng tài nguyên đất phục vụ cho nông nghiệp và đưa ra những giảipháp sử dụng hợp lý đất đai của tỉnh Phú Thọ

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp khảo sát thực địa

Đây là phương pháp nghiên cứu không thể thiếu trong địa lí, nhất là địa lí

tự nhiên Vận dụng phương pháp trong quá trình thực hiện đề tài: Nghiên cứu,tìm hiểu các đặc điểm tự nhiên, tập trung chủ yếu vào nghiên cứu tài nguyên đất

từ đó nắm rõ các đặc điểm địa lí, hiện trạng sử dụng đất và sự phân hóa khônggian lãnh thổ nghiên cứu

5.2.2 Phương pháp thu thập và xử lí số liệu

Đây là phương pháp không thể thiếu giúp cho tài liệu mang tính địnhlượng và đáng tin cậy hơn Những tài liệu thu thập được phải mang tính chínhxác, đầy đủ, cập nhật Sau đó cần tiến hành xử lí, sắp xếp tài liệu một cách hợp

lí Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã tiến hành thu thập những số liệu về vịtrí địa lý, diện tích và hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

5.2.3 Phương pháp bản đồ

Địa lí bao giờ cũng bắt đầu và kết thúc bằng bản đồ, phương pháp bản đồluôn luôn gắn bó mật thiết trong nghiên cứu địa lí Đặc biệt sử dụng các phầnmềm GIS (Mapinfor, ArcGIS) nhằm tích hợp các dữ liệu thành lập các bản đồcủa khu vực nghiên cứu

5.2.4 Phương pháp phân tích tổng hợp

Phương pháp tổng hợp là phương pháp xác định những thuộc tính, nhữngmối liên hệ chung cũng như những quy luật tác động qua lại giữa các yếu tố cấuthành sự vật Tổng hợp có được nhờ những kết quả nghiên cứu phân tích sau đókết hợp chúng lại với nhau thành một chỉnh thể hoàn chỉnh thống nhất Áp dụngphương pháp này trong đề tài để làm tăng tính logic thốngnhất, tổng hợp lại tất

cả các kết quả sau khi tiến hành nghiên cứu

Trong nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất rất cần thiết phải sử dụngphương pháp này nhằm đưa ra các chỉ tiêu đánh giá phù hợp với từng ngành sảnxuất, làm cơ sở đưa ra những định hướng sản xuất hợp lí và có hiệu quả

6 Cấu trúc của đề tài

Trang 7

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dungcủa đề tài được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn việc nghiên cứu tài nguyên đấtphục vụ phát triển nông nghiệp

Chương 2: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Phú Thọ

Chương 3: Định hướng sử dụng đất phục vụ phát triển nông nghiệp tỉnhPhú Thọ

Ngoài ra, trong khóa luận em còn thành lập, biên tập các bản đồ: Hànhchính tỉnh Phú Thọ, bản đồ địa hình tỉnh Phú Thọ, bản đồ nhiệt độ tỉnh Phú Thọ,bản đồ lượng mưa tỉnh Phú Thọ, bản đồ đất tỉnh Phú Thọ, bản đồ hiện trạng sửdụng đất nông nghiệp tỉnh Phú Thọ, bản đồ định hướng sử dụng đất nông nghiệptỉnh Phú Thọ để làm sáng rõ hơn vấn đề nghiên cứu

Trang 8

NỘI DUNG Chương 1

CỞ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN ĐẤT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Khái quát chung về tài nguyên đất và hiện trạng sử dụng đất

Về mặt thuật ngữ khoa học thì “đất” và “đất đai” là hai khái niệm hoàntoàn khác nhau, tuy nhiên trong thực tế thì hai khái niệm này không được phânbiệt một cách rõ ràng:

Định nghĩa đất: Trong tiếng Anh, từ “Soil” có nghĩa là “đất” và nó baohàm những ý nghĩa về tính chất của đất Còn “Land” có nghĩa là “đất đai” lại có

ý nghĩa về mặt không gian hay còn được hiểu là lãnh thổ Vì vậy mà từ trướcđến nay có rất nhiều định nghĩa về đất và đất đai:

Theo V.V Docutsaep: “Thổ nhưỡng là lớp vỏ ngoài hoặc lớp bề mặt của nham thạch, biến hoá một cách tự nhiên dưới tác động tương hỗ của các nhân tố: đá mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình, thời gian và con người”.[2] Định nghĩa

này đã vạch ra mối quan hệ giữa giới vô cơ và giới hữu cơ Khi đó, lớp vỏ thổnhưỡng hay quyển thổ nhưỡng là một quyển thành phần của lớp vỏ địa lí Đó làmột lớp vật chất mềm xốp, nằm trên cùng của thạch quyển, tiếp xúc với khíquyển và có quan hệ mật thiết với sinh quyển

Theo quan điểm kinh tế học thì đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đốitượng lao động, đồng thời là sản phẩm lao động Còn khái niệm về đất đai baogồm các nội dung về mặt lãnh thổ và được sử dụng cho toàn bộ nền kinh tế quốcdân [14]

Định nghĩa đất đai (land): Brinkman và Smyth (1976), “Đất đai là một vùng đất chuyên biệt trên bề mặt của trái đất có những đặc tính mang tính ổn định, hay có chu kì dự đoán được trong khu vực sinh khí quyển theo chiều thẳng đứng từ trên xuống dưới, trong đó gồm: Không khí, đất và lớp địa chất, nước, quần thể thực vật và động vật và là kết quả của những hoạt động bởi con người trong việc sử dụng đất đai ở quá khứ, hiện tại và trong tương lai” [18]

Đến năm 1993, trong Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de Janerio,Brazilm, thì đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng như

sau: “Đất đai là diện tích cụ thể của bề mặt trái đát, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó, bao gồm: Khí hậu

bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước ( hồ, sông , suối, đàm lầy), các lớp

Trang 9

trầm tích sát bề mặt, cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước, hay hệ thống thoát nước, đường xá, nhà cửa,….” [18]

Từ định nghĩa trên, đất đai có thể được hiểu một cách đơn giản là mộtvùng đất có danh giới, vị trí cụ thể và có các nhóm thuộc tính tổng hợp của cácyếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địachất, thuỷ văn, thực vật, động vật và hoạt động sản xuất của con người,…

Theo các báo cáo thống kê, kiểm kê đất đai hàng năm gửi Sở Tài nguyên

và Môi trường của các phòng Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ đất nôngnghiệp chia làm năm loại: Đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôitrồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác

Trong nội dung của khoá luận này, em sử dụng cách phân loại của các SởTài nguyên và Môi trường với năm loại đất kể trên để phân tích, đánh giá, từ đótìm ra những nguyên nhân của sự thay đổi trong hiện trạng và tình hình sử dụngđất, đồng thời đưa ra những định hướng và các giải pháp sử dụng đất hợp lí chotỉnh Phú Thọ Tuy nhiên, do tỉnh Phú Thọ không giáp biển nên đất có mặt nướcven biển và đất làm muối không được đề cập đến (chỉ có diện tích mặt nướcnuôi trồng thuỷ sản nước ngọt được đề cập đến trong đất nông nghiệp)

1.1.2 Chỉ tiêu phản ánh thay đổi hiện trạng sử dụng đất

1.1.2.1 Tỉ lệ biến động

Tỉ lệ biến động là một giá trị định lượng, được thể hiện bằng hệ số biếnđộng diện tích I (là tỉ số giữa hiệu số của năm cuối và năm đầu giai đoạn so vớidiện tích của năm đầu giai đoạn) giá trị này có thể âm (-) hoặc (+) Tỉ lệ biếnđộng được tính theo công thức:

i = x 100

Trong đó: i – tốc độ gia tăng (%)

S1 – diện tích năm đầu

S2 – Diện tích năm cuối [11]

Khi tìm hiểu về tình hình biến động hiện trạng sử dụng đất tại tỉnh PhúThọ cần chú ý số lượng diện tích tăng hay giảm, nhiều hay ít của từng loại hình

sử dụng đất trong giai đoạn nghiên cứu

Trang 10

1.1.2.2 Xu hướng biến động

Xu hướng biến động hiện trạng sử dụng đất là nghiên cứu trạng thái biếnđộng hiện trạng sử dụng đất trên cơ sở nghiên cứu khả năng biến động của từngloại đất Xu hướng biến động có thể tăng hoặc giảm diện tích của một số loạihình sử dụng đất so với năm gốc, có thể theo hướng ảnh hưởng tích cực hoặctiêu cực đến môi trường và vấn đề sử dụng đất bền vững Đây là cơ sở cho việcphân tích, đánh giá những ảnh hưởng của biến động hiện trạng sử dụng đất đếncác vấn đề kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ

1.1.3 Sử dụng đất bền vững

1.1.3.1 Khái quát về phát triển bền vững

Phát triển là yêu cầu tất yếu của xã hội nhằm nâng cao mức sống củangười dân, cải thiện giáo dục, sức khoẻ và bình đẳng xã hội Theo Gerard

Crellet: “Phát triển là một quá trình xã hội đạt đến thoả mãn các nhu cầu xã hội

đó coi là cơ bản” Hiện nay với tốc độ tăng dân số nhanh chóng, sự phát triển

kinh tế xã hội trở nên mạnh mẽ, con người đã và đang sử dụng nhiều tài nguyênthiên nhiên để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mình, do đó nhiều loại tàinguyên bị suy giảm, cạn kiệt hoặc ô nhiễm Điều đó tiềm ẩn nguy cơ phá hoạimôi trường sống cho các thế hệ mai sau, là điều đã được nhiều nước, nhiều tổchức quốc tế và các nhà khoa học cảnh cáo Để có chiến lược khắc phục nguy cơnày, nhiều phương pháp tiếp cận mới cho sự phát triển đã được đề ra Một trongnhững cách tiếp cận ngày càng được chấp nhận và đưa vào sử dụng rộng rãitrong thực tiễn, đó là cách tiếp cận “phát triển bền vững”

Phương pháp tiếp cận phát triển bền vững không phải mới được đưa ragần đây mà nó đã từng được đề cập đến trong một số lý thuyết kinh tế cổ điểnnhư khái niệm về giới hạn của sự tăng trưởng và phát triển đến một trạng thái ổnđịnh của Ricardo, Malthus, Mill và Vandenbergh [16] Từ góc độ coi tài nguyênthiên nhiên là nguồn cung cấp đầu vào cho quá trình sản xuất, trạng thái ổn định

có thể được nhìn nhận là một dạng cụ thể của phát triển bền vững, trong đó mức

độ nhiều của nguồn tài nguyên thiên nhiên quyết định quy mô thực chất của nềnkinh tế Tuy nhiên phát triển bền vững được nêu ra và thực sự trở thành mốiquan tâm nghiên cứu, phân tích của các nhà khoa học chỉ từ những năm 1980

Hiện nay khái niệm “phát triển bền vững” đã được sử dụng như một điểmxuất phát để xem xét một cách sâu rộng hơn các vấn đề kinh tế - xã hội – môitrường, mặt khác khái niệm này cũng ngày càng được chấp nhận trong các

Trang 11

ngành chuyên môn, trong đó có phát triển bền vững đất đai Gần đây nhất, tạiHội nghị thượng đỉnh về lương thực thế giới, tổ chức tại thành phố Rome (Italia)với sự tham gia của hơn 100 quốc gia và tổ chức trên thế giới, đã đưa ra một bảntuyên bố quan trọng gọi tắt là tuyên ngôn Rome đã nêu “Cần thiết phải phát triểnbền vững” [11]

Có nhiều định nghĩa về “phát triển bền vững”, nhưng định nghĩa do Uỷban Môi trường và Phát triển thế giới (WCED – World Commission forEnvironment anh Development) là được chấp nhận rộng rãi nhất Theo WCEDthì: “Một hoạt động phát triển bền vững là phát triển để đáp ứng nhu cầu đời naynhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đời sau”

Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới WB (World Bank) coi phát triểnbền vững thể hiện trên ba lĩnh vực là: kinh tế, xã hội và môi trường Các chỉ số

đánh giá về các mặt trên luôn được bổ sung, cập nhật Khái niệm “tam giác bền vững” và sau này đổi thành “ma trận bền vững” là những đóng góp của WB cho

sự phát triển bền vững

Hình 1.1 Mô hình phát triển bền vững theo ngân hàng thế giới WB [11]

Những tiêu chí của phát triển bền vững được cụ thể hoá trong bốn vấn đề sau:

- Sinh thái cân bằng: Bảo vệ môi trường sinh học, tài nguyên tự nhiên và đadạng sinh học không bị cạn kiệt

- Kinh tế sống động: Sản xuất có năng suất cao và lợi nhuận tốt

- Thích hợp với phát triển xã hội: Phù hợp với văn hoá truyền thống dân tộc

Trang 12

- Có kỹ thuật tương ứng: Kỹ thuật được sử dụng trên cơ sở tài nguyên sẵn

có ở địa phương và kinh nghiệm của người dân có điều chỉnh trong điều kiệnmới

1.1.3.2 Khung đánh giá sử dụng đất bền vững ở Việt Nam

Một khuân khổ về đánh giá giải pháp quản lí đất bao gồm ít nhất ba mặt:Lợi ích – là giải pháp quản lí đất đáp ứng được nhu cầu bảo vệ môi trường vàđem lại lợi ích bao nhiêu cho con người; Thời hạn – là giải pháp có sớm đạtđược lợi ích hay không; Hỗ trợ chính sách – là giải pháp có thể thực hiện đượctrong khuân khổ tổ chức và chính sách quốc gia hay không Khung đánh giáquản lí đất bền vững (do Dumanski và cộng sự đề sướng năm 1991) của mỗivùng sinh thái hay của mỗi quốc gia đều có những tiêu chí đánh giá đất bềnvững khác nhau Trong bảng hướng dẫn về tiêu chuẩn quốc tế cho đánh giá chấtlượng đất đai và sử dụng bền vững ( Hortensius và Weiiing, 1997) có hai loạitiêu chuẩn: cấp quốc tế và cấp quốc gia

Đối với Việt Nam, xác định các chỉ số đánh giá phải dựa trên cơ sở điềukiện thực tiền, kinh tế - xã hội , đất đai và phương thức canh tác của người dân[16] Khi đánh giá tính bền vững của đất đai cần phải dựa trên sự ổn định về thờigian của các tiêu chí đánh giá Các tiêu chí đánh giá sử dụng đất bền vững ởViệt Nam được cụ thể hoá trong bảng sau đây:

Bảng 1.1: Một số tiêu chí đánh giá sử dụng đất bền vững ở Việt Nam

1 Hiệu quả kinh tế

1.1 Năng suất cao

Đạt tiêu chuẩn tiêu thụ sản phẩm tại đại phương và xuất khẩu

Trên mức trung bình của các hệ thống sử dụng đất của địa phương.

Trang 13

- Về tiền mặt

- Về nhu cầu củi gỗ

2.2 Phù hợp với năng lực nông hộ

Đủ gỗ thông thường và củi đun

Phù hợp với đất được giao Phù hợp với lao động nông thôn thuê được tại địa phương.

Không phải vay lãi cao Phát huy được tri thức bản địa, kỹ năng nông thôn, nông hộ tự làm nếu được tập huấn.

Tham gia mọi khâu kế hoạch Nông dân tự quyết việc sử dụng đất không áp đặt và được hưởng lợi ích lớn.

Không làm phụ nữ nặng nhọc và phụ thuộc Không làm trẻ em mất cơ hội học hành

Phù hợp với luật đất đai và luật khác Phù hợp với văn hoá dân tộc Phù hợp với tập quán đại phương.

3 Chấp nhận sinh thái

3.1 Giảm thiểu xói mòn, thoái hoá

đất đến mức chấp nhận

3.2 Tăng độ che phủ

3.3 Bảo vệ nguồn nước

3.4 Nâng cao đa dạng sinh học cảu

Không gây ô nhiễm nguồn nước.

Số loài cây không giảm hoặc tăng Tỉ lệ cây dài ngày và ngắn ngày phù hợp Khai thác tối

đa các loài bản đại Bảo toàn và làm phong phú quỹ gen.

Nguồn: Môi trường và tài nguyên đất Việt Nam

Tính ổn định theo thời gian phụ thuộc vào bản chất của đất đai, các yếu tốmôi trường và phương thức canh tác Một số yếu tố của đất rất ổn định và ít biến

Trang 14

động theo thời gian như các đặc điểm về địa chất, đá mẹ và địa hình (chủ yếu là

độ dốc) Các yếu tố nhạy cảm dễ thay đổi là những yếu tố dễ đánh giá như năngsuất cây trồng, dinh dưỡng và độ phì của đất Sử dụng đất được coi là bền vữngkhi duy trì được sự cân bằng và ổn định của những tiêu chí có độ nhạy cảm cao.Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên (1999) đã đưa ra tiêu chí xác định tính bền vữngtheo thời gian như sau:

Sử dụng đất được coi là bền vững khi tính ổn định của đất ít nhất trên 7 năm:

- Bền vững lâu dài: Giới hạn thời gian trên 25 năm

- Rất không bền vững: Dưới 2 năm

Trong đề tài cũng áp dụng đánh giá đất cho giai đoạn từ 2005 - 2013, thờigian đánh giá đủ 07 năm để đảm bảo tính ổn định và bền vững của tài nguyênđất nông nghiệp

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ

1.2.1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên

a Vị trí địa lí

Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc, nằm sát với đỉnh của đồngbằng châu thổ sông Hồng Phía Bắc giáp các tỉnh Tuyên Quang và Yên Bái; phíaĐông giáp Vĩnh Phúc; phía Đông Nam giáp tỉnh Hà Tây (cũ), nay là Hà Nội;phía Tây giáp tỉnh Sơn La; phía Nam giáp Hòa Bình Phú Thọ nằm trong hệ tọa

độ địa lí:

- Điểm cực Bắc: 21043'04"B (Làng Han, xã Đông Khê, huyện ĐoanHùng)

- Điểm cực Nam: 20049'26"B (xã Yên Sơn, huyện Tân Sơn)

- Điểm cực Tây: 104048'42"Đ (xã Thu Cúc, huyện Thanh Sơn)

- Điểm cực Đông: 105027'11"Đ (xã Sông Lô, thành phố Việt Trì)

Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 353330,47 ha gồm 13 huyện, thành, thị,trong đó có thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ và 11 huyện: Đoan Hùng, HạHòa, Cẩm Khê, Yên Lập, Tam Nông, Phù Ninh, Lâm Thao, Thanh Sơn, TânSơn và Thanh Thủy [4]

Trang 15

Tỉnh Phú Thọ có vị trí rất thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội Là cửangõ về đồng bằng của vùng Tây Bắc; nằm trên con đường ra biển gần nhất củavùng Vân Nam (Trung Quốc) và Bắc Lào.Vị trí ấy tạo cho Phú Thọ có tiềmnăng lớn để trao đổi phát triển kinh tế văn hóa.

Vị trí địa lí chính là nhân tố quyết định tới tính chất khí hậu Với vị trí địa

lí nằm trên vùng trung du đã góp phần hình thành nên khí hậu đặc trưng cho tỉnhPhú Thọ Khí hậu chủ yếu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ là khí hậu nhiệt đới giómùa có một mùa đông lạnh nhưng lại mang tính chất chuyển tiếp giữa khí hậuđồng bằng và khí hậu miền núi

Với vị trí địa lí như vậy, tỉnh Phú Thọ có những thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng Tuy nhiên do nằm sâu trong nội địa cùng với địa hình chia cắt tương đối mạnh khiến cho tỉnh Phú Thọ gặp khó khăn trong việc giao lưu kinh tế với các vùng lân cận.

Địa hình núi trung bình và núi thấp phân bố ở Tây, Tây Bắc và Tây Nam:

phân bố chủ yếu ở các huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, phía Tây Cẩm Khê

và một phần Hạ Hoà Đây là vùng núi với các thung lũng nằm dưới chân núi có

độ cao từ 100 – 150 m và độ cao bề mặt ruộng 30 – 40m Địa hình sắp xếp theohướng Tây Bắc – Đông Nam Trong đó, địa hình núi trung bình được cấu tạo bởi

đá vôi, đá biến chất, đá vôi xen biến chất, đá granit, macma Núi thấp cấu tạobởi đá biến chất, đá Paleozoi, đá vôi xen đá biến chất, đá trầm tích Mezozoi, đágranit, macma và núi sót bóc mòn trên các đá khác nhau

Do ảnh hưởng địa hình núi chia cắt, đây là vùng khó khăn trong việc đilại, giao lưu với các nơi khác Tuy nhiên, ở đây còn nhiều tiềm năng phát triển,nhất là về lâm nghiệp, khai thác khoáng sản, du lịch sinh thái

Địa hình đồi gò bát úp: phân bố chủ yếu ở phía Đông Bắc thuộc Đoan

Hùng, Hạ Hoà, Thanh Ba, Cẩm Khê, Phù Ninh, một phần Tam Nông và ThanhThuỷ Đặc điểm chủ yếu là địa hình lượn sóng tạo thành hệ thống đồi bát úp,đỉnh cao nhất trên 200 m, trung bình trên 100 m, độ dốc nhỏ < 200, cá biệt có nơidốc >250 Trong đó, những khu vực địa hình đồi thấp dạng bát úp là di tích mựcsan bằng, phân cách bởi các thung lũng rộng hình thành trên các đá biến chất

Trang 16

Những khu vực đồi cao có đỉnh bằng hẹp là di tích mực san bằng bị phân cáchbởi hệ thống thung lũng hẹp hình thành trên các đá biến chất, trầm tích biếnchất Những dãy đồi cao, đỉnh hẹp, sườn thẳng, sườn lồi lõm bị phân cắt mạnhbởi quá trình xâm thực.

Đây là dạng địa hình vùng trung du và là vùng được khai thác lâu đời, đồi

bị xói mòn rửa trôi nhiều, đồng ruộng lầy thụt chua úng, thuận lợi cho việc trồngcác loại cây nguyên liệu giấy, cây công nghiệp dài ngày như chè, cây ăn quả,phát triển lương thực, chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản

Địa hình đồng bằng xen kẽ núi sót: phân bố thành một dải đồng bằng thấp

dọc ven sông Đà, sông Lô, sông Thao gặp chủ yếu ở Lâm Thao, ven sông Lô(thuộc Phù Ninh), ven Cẩm Khê, sông Đà (thuộc Tam Nông, Thanh Thuỷ, ViệtTrì ) Địa hình thấp dần về phía Đông Nam, độ cao trung bình < 30m, tuy nhiên

có xen một số khu vực núi sót, hẹp Trong đó, đồng bằng aluvi rìa đồng bằngchâu thổ cấu tạo bởi trầm tích bở rời nguồn gốc sông, gồm cát, sét loang lổ bịlaterit hóa Đồng bằng đáy các trũng giữa núi cấu tạo bởi trầm tích bở rời nguồngốc aluvi, proluvi, deluvi bề mặt bằng phẳng nghiêng thoải Đồng bằng đáythung lũng và cánh đồng karst cấu tạo bởi aluvi, aluvi xen terra rossa Đồngbằng thung lũng sông bề mặt phân bậc dạng bậc thềm cấu tạo bởi aluvi mới và

có chỗ lộ đá gốc Ngoài ra, rải rác có một số đồng bằng bãi bồi dạng đảo nhô lêngiữa các dòng sông

Đây là dải đồng bằng phù sa mới tương đối bằng phẳng, là vùng có tiềmnăng thâm canh lúa, màu và cây công nghiệp ngắn ngày Tuy nhiên, vùng này cónhiều khu vực thấp, trũng, thường xuyên úng ngập, vụ đông và vụ mùa sản xuấtbấp bênh do vậy cần có các công trình tiêu úng

Phú Thọ là một tỉnh có đặc điểm địa hình chia cắt tương đối mạnh, đồi núi chiếm phần lớn diện tích tự nhiên Nhân tố địa chất – địa hình, nền tảng rắn trong cấu trúc cảnh quan, và có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành đặc điểm khí hậu của tỉnh, thể hiện trước hết và rõ nét nhất là sự phân hoá khí hậu theo đai cao, càng lên cao mùa lạnh càng đến sớm và kết thúc muộn, mùa nóng thì ngược lại.

c Khí hậu

Trang 17

Nét nổi bật của khí hậu tỉnh Phú Thọ là khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùađông lạnh vùng trung du mang tính chất chuyển tiếp giữa khí hậu đồng bằng vàkhí hậu miền núi.

Phú Thọ là tỉnh trung du nên hàng năm có lượng nhiệt nhân được khá cao,trung bình năm trên 220C.Số giờ nắng trong năm cũng khá cao khoảng từ 1500 –

1650 giờ/năm Mặc dù nằm trong vùng nhiệt đới nhưng do ảnh hưởng của chế

độ gió mùa nên nhiệt độ có sự phân hóa theo mùa Mùa hạ kéo dài từ đầu tháng

V cho đến cuối tháng X, nhiệt độ trung bình cao nhất là vào tháng VII với khảng

28 – 290C.Mùa đông từ tháng XI cho tới tháng IV năm sau, nhiệt độ trung bìnhnăm thấp nhất là vào tháng I với khoảng 15 – 160C

Biên độ nhiệt trung bình năm tại Phú Thọ dao động trong khoảng 6,2 –7,40C Tháng II và tháng III là tháng có biên độ nhiệt ngày đêm trung bình thấpnhất trong năm với trị số trung bình 4,8 – 5,80C, biên độ nhiệt cao nhất là tháng

V, VI, VII dao động từ 7 – 8,50C

Bảng 1.2: Số giờ nắng trung bình tháng và năm (giờ) tại Phú Thọ

Trang 18

Bảng 1.3: Tổng lượng mưa trung bình tháng và năm ở Phú Thọ

Ở Phú Thọ độ ẩm tương đối có sự khác nhau trong năm Nhìn chung tất

cả các tháng đều có độ ẩm trung bình trên 80%.Độ ẩm tương đối trung bình là

85 - 86%

Ngoài ra còn các hiện tượng thời tiết đặc biệt như gió khô nóng, sươngmuối, sương mù, mưa đá, mưa phùn, bão

Phú Thọ với địa hình nhiều đồi núi và núi thấp và bị chia cắt mạnh nên

đã tạo ra các khu vực khí hậu khác nhau, là điều kiện thuận lợi để hình thành nên cơ cấu cây trồng, vật nuôi đa dạng Tuy nhiên, khó khăn của khí hậu ở đây

là tính chất thất thường, hạn hán, lũ quét, sâu bệnh cũng thường xuyên xảy ra, làm thiệt hại không nhỏ tới sản xuất nông nghiệp của tỉnh.

d Thủy văn

Trên địa bàn Phú Thọ có 3 con sông lớn cùng trong hệ thống sông Hồngchảy qua, đó là sông Thao, sông Lô, sông Đà

- Sông Thao: diện tích lưu vực từ nơi bắt nguồn đến Việt Trì khoảng

55.605 km2, riêng phần Việt Nam là: 11.173 km2 Chiều dài chảy qua Phú Thọ

từ Hậu Bổng (Hạ Hòa) đến Bến Gót (Việt Trì) khoảng 110 km, theo hướng TâyBắc – Đông Nam Lưu lượng lũ lớn nhất trên 30.000 m3/s

- Sông Lô: lưu vực sông từ nơi bắt nguồn đến Việt Trì khoảng 25.000

km2, chiều dài chảy qua Phú Thọ từ Chí Đám (Đoan Hùng) đến Bến Gót (ViệtTrì) khoảng 67 km cũng chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam gần như songsong với Sông Thao Tuy bắt nguồn và chảy qua các tâm mưa của vùng Việt

Trang 19

Bắc, song các chi lưu và suối ngòi đổ vào không cùng chế độ thủy văn nên ítxảy ra lũ trùng hợp, dữ dội Lưu lượng lũ lớn nhất xấp xỉ 9.000 m3/s.

- Sông Đà: có lưu vực khoảng 50.000 km2, chảy qua Phú Thọ từ TinhNhuệ (Thanh Sơn) đến Hồng Đà (Tam Nông), khoảng 41,5 km theo hướng BắcNam Đây là con sông chảy qua các tâm mưa dữ dội nhất của vùng núi cao hiểmtrở Tây Bắc nên có lưu lượng lũ khá lớn trên 18.000 m3/s, lượng lũ chiếm tới49% tổng lượng lũ sông Hồng và là nguyên nhân gây lũ lụt nhiều nhất

Ngoài 3 dòng sông lớn kể trên, Phú Thọ có 130 sông ngòi nhỏ, trong đóđáng kể là: sông Bứa, sông Dân, sông Chảy và 72 ngòi Đặc điểm chung của cácsông ngòi là đều bắt nguồn từ đường phân thủy của sông Hồng và sông Lô hoặc

từ những dãy núi cao của huyện Thanh Sơn, Yên Lập có độ dốc lớn, về mùamưa nước dâng cao đột ngột thường gây lũ lụt, sạt lở ảnh hưởng xấu tới giaothông và phá hủy mùa màng Tổng lượng nước hàng năm đạt tới 70-100 tỉ m3,lượng dòng chảy qua thành phố Việt Trì đạt tới 30.000 m3/s

Tài nguyên nước mặt của tỉnh đạt khoảng 2,64 tỷ m3 có nguồn từ nướcmưa, nếu chia theo đầu người chỉ bằng 20% trung bình cả nước Nhưng do có vịtrí địa lí thuận lợi, tỉnh có đủ cả 3 sông chính cấp 1 của hệ thống sông Hồngchảy qua, đó là các sông: Đà, Thao và Lô Tỉnh Phú Thọ có khả năng tiếp cậndòng chảy của cả ba sông này trung bình hàng năm là 119 tỷ m3 nước

Cũng như các nơi khác ở nước ta, mưa là nguồn cung cấp chính của dòngchảy sông ngòi Phú Thọ Do đó, chế độ nước sông phụ thuộc chủ yếu vào chế

độ mưa và phân phối không đều trong năm Hàng năm, nước sông chia làm haimùa chính: mùa lũ bắt đầu từ tháng 6 – 10, mùa cạn từ tháng 11 – 5 năm sau.Mùa lũ của từng năm có thể bắt đầu, kết thúc sớm hoặc muộn hơn, thời gian kéodài mùa lũ và mùa cạn có thể xê dịch trong vòng 1 – 3 tháng Trong đó, lượngdòng chảy mùa lũ thường chiếm 70 – 80% lượng dòng chảy năm

Nhìn chung, tài nguyên nước của tỉnh Phú Thọ dồi dào, chất lượng còn khá tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, sinh hoạt và điều hòa môi trường khí hậu Nhưng cũng có những thời điểm tài nguyên nước ở một số địa bàn đã

có biểu hiện bị ô nhiễm, có thời gian bị hạn hán, có thời gian mưa lớn gây lũ quét, lụt lội, sạt lở ảnh hưởng xấu tới giao thông và phá hoại mùa màng, ảnh hưởng đến cuộc sống của nhân dân.

e Đất đai

Trang 20

Theo bản đồ thổ nhưỡng (lưu trữ tại Viện Quy hoạch và Thiết kế Nôngnghiệp Việt Nam), sau khi xét đến khả năng sử dụng trong sản xuất nông, lâmnghiệp của vùng, đề tài đã gộp các loại đất ở tỉnh Phú Thọ thành 11 nhóm:

Bảng 1.4: Diện tích và phân bố các nhóm loại đất chính ở Phú Thọ

hiệu

Diện tích (ha)

Tỉ lệ % so với DTTN Phân bố chủ yếu

1 Đất phù sa được bồi

hàng năm Pb 28.625 8,14

Thanh Sơn, Tam Nông, Thanh Thủy, Tân Sơn, Lâm Thao, Yên Lập, Phù Ninh Tp Việt Trì 2.

Đất phù sa không

được bồi hàng năm P 30.890 8,8

Thanh Ba, Hạ Hòa, Thanh Sơn, Tân Sơn, Lâm Thao, Thanh Thủy, Tp Việt Trì.

Đất phù sa úng nước (Pj): diện tích 15.810 ha chiếm 4,5% diện tích tự

nhiên, hình thành ở địa hình thấp, trũng, khó tiêu nước hoặc có mực nước ngầmnông, do vậy thường bị ngập nước vào mùa mưa Phân bố tập trung ở LâmThao, Yên Lập, Phù Ninh, Thanh Sơn, Tân Sơn và Thành phố Việt Trì

Trang 21

Đất phù sa không được bồi hàng năm (P): Diện tích 30.890 ha chiếm

8,8% diện tích tự nhiên Đất (P) phân bố ở huyện Thanh Ba, Hạ Hòa, ThanhSơn, Tân Sơn, Lâm Thao và Thành phố Việt Trì

Hầu hết đất phù sa không được bồi hàng năm đã và đang được sử dụngtrồng lúa, màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả Đây cũng là nơi tậptrung dân cư sinh sống lâu đời

Đất xám bạc màu trên phù sa cổ (X): Diện tích 2.626 ha chiếm 0,74%

diện tích tự nhiên, có màu xám nhạt Phân bố tập trung chủ yếu tại Lâm Thao,Thanh Ba

Đất feralit đỏ vàng trên đá biến chất và đá sét (Fs): Đất Fs có màu đỏ

vàng, diện tích 215.548 ha chiếm 61,47% diện tích tự nhiên, phân bố thành cácvùng lớn ở: Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Thanh Ba, Hạ Hoà, Phù Ninh, LâmThao

Đất feralit vàng đỏ trên đá macma axit (Fa): Loại đất này chỉ chiếm

6.012 ha với 1,71% diện tích tự nhiên, phân bố ở Yên Lập, Hạ Hòa, Thanh Sơn

Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp): Diện tích 24.291 ha chiếm 6,93% diện

tích tự nhiên Đất Fp màu nâu vàng, phân bố nhiều ở Tam Nông, Thanh Thủy,Yên Lập, Lâm Thao

Đất feralit đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (Fl): Diện tích 4.439 ha,

chiếm 1,27% diện tích tự nhiên, phân bố ở Đoan Hùng, Thanh Sơn, Tân Sơn, HạHoà Đây là đất tại chỗ, được dân san thành ruộng bậc thang trồng lúa nước, có

độ dốc trung bình <80, tầng dày >100cm, do trồng lúa nước nên đã làm thay đổimột số tính chất, đặc biệt là tính chất vật lý đất

Đất mùn vàng đỏ trên đá sét và đá biến chất (Hs): Diện tích 3.470 ha,

chiếm 0,99% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở hai huyện Thanh Sơn và TânSơn Loại đất này nằm ở vùng núi trung bình từ độ cao 700 – 900 m trở lên Hầuhết còn rừng vì ở đó là núi cao, độ dốc lớn >250

Đất mùn vàng đỏ trên đá macma axit (Ha): Chiếm diện tích rất hẹp chỉ

với 1.012 ha, phân bố ở độ cao >700m, núi có độ dốc lớn >250 Đất chủ yếutrồng cây lâm nghiệp, tạo rừng đầu nguồn, trồng cây ăn quả, rau có nguồn gốc

ôn đới,

Đất dốc tụ thung lũng (D): Diện tích 14.973 ha, chiếm 4,27% diện tích tự

nhiên Đất (D) hình thành do sự tích đọng các sản phẩm từ hai bên sườn đồi núiđưa xuống Phân bố ở các thung lũng hẹp, chân các dãy đồi và núi thấp ở ThanhSơn, Tân Sơn, Yên Lập, Hạ Hoà

Trang 22

Đất xói mòn trơ sỏi đá (E): Với diện tích không đáng kể, chỉ vào khoảng

540 ha và chiếm gần 0,15% diện tích, phân bố chủ yếu ở huyện Phù Ninh, do bịkhai thác không hợp lý nên chất lượng đất rất thấp

Nhìn chung, Phú Thọ có tiềm năng về đất đai, thuận lợi cho cho phát triển nông, lâm nghiệp, đặc biệt là phát triển về cây công nghiệp lâu năm Tuy nhiên, do ảnh hưởng của yếu tố địa hình, nhiều đồi núi thường xuyên có mưa to

lũ quét, đất đai bị xói mòn, sạt lở Cộng với sự tăng trưởng, phát triển kinh

tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn; sự thiếu hiểu biết của người dân trong quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên đất, dẫn đến tình trạng thoái hoá đất, sử dụng không hiệu quả.

f Sinh vật

Thảm thực vật: Theo điều tra của Viện Điều tra quy hoạch rừng năm

2010, tỉnh Phú Thọ có 726 loài thực vật bậc cao thuộc 475 chi và 134 họ, trong

đó ngành Ngọc lan chiếm đa số (82,8 % số họ 93,4% số chi, 92,5 số loài) sau đóđến Dương xỉ, ít loài nhất là ngành Khuyết lá thông và Quản bút Với số liệunhư vậy có thể thấy Phú Thọ chiếm 12,6 % số họ thực vật (134/1064) và 2,52%

số loài thực vật của cả nước (726/28863) Hệ thực vật ở đây không chỉ đa dạng

về thành phần loài, mà thành phần thực vật cũng rất phong phú

Như vậy, trong số 134 họ thực vật khảo sát được tỉnh Phú Thọ có tới 20

họ với số loài từ 10 trở lên Theo A.L.Tolmachop (1974) chỉ ra rằng ở vùng đấtnhiệt đới, thành phần khá đa dạng được thể hiện ở chỗ ít họ chiếm 10% tổng sốloài của hệ thực vật và tổng tỉ lệ phần trăm của 10 họ nhiều loài nhất chỉ đạt 40 –50% tổng số loài của cả hệ thực vật Qua danh sách trên có thể thấy, hệ thực vật

có số loài lớn nhất thuộc họ Thầu dầu, họ Cỏ, mỗi họ có 36 loài chỉ chiếm 4,9%tổng số loài, còn trong 10 họ thực vật có số loài lớn nhất ≥ 16 loài với tổng số là

236 loài chiếm tỉ lệ 32,5% tổng số loài của tỉnh

Cũng như các khu hệ thực vật khác ở Việt Nam, những họ quen thuộcxuất hiện với số lượng loài lớn vẫn là các họ Đậu, Long não, Dâu tằm, Cỏ, Lan.Tuy nhiên, vai trò lập quần lại là các họ sau: họ De, Long não, Dầu, Bồ hòn,Thầu dầu, Xoan, Hòa thảo, Đậu

Hơn nữa, trong thành phần thực vật rừng tỉnh Phú Thọ, có đủ các yếu tốthực vật có liên quan đến khu hệ thực vật Việt Nam Trước hết, là khu hệ thựcvật bản địa Bắc Việt Nam – Nam Trung Hoa gồm các đại diện tiêu biểu là cáccây trong các họ Dẻ, De, Óc chó, Xoan, Đậu, Vang, Trôm, Ngọc lan, là những

Trang 23

yếu tố chiếm ưu thế trong hệ thực vật của tỉnh Ngoài ra, còn có các luồng thựcvật di cư khác.

Với mối quan hệ tương hỗ giữa nhóm nhân tố tự nhiên như vị trí địa lí –địa hình, khí hậu – thủy văn, đá mẹ - thổ nhưỡng và khu hệ thực vật đã tạo điềukiện cho thảm thực vật rừng tỉnh Phú Thọ hội tụ các tính chất nhiệt đới, á nhiệtđới, có các kiểu rừng tương ứng với sự phân hóa của điều kiện tự nhiên:

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp: phân bố ở độ cao

700 – 800 m trở lên, hình thái và cấu trúc rừng vẫn mang sắc thái một quần thểnguyên sinh Kiểu rừng này phát triển chủ yếu trên đất feralít mùn vàng đỏ trên

đá macma axit và đá biến chất, tầng đất trung bình (từ 50 – 100cm) Rừngthường có cấu trúc đơn giản, từ 2 – 3 tầng, chủ yếu là loài cây lá rộng thuộc các

họ Dẻ, họ Re, họ Na, họ Ngọc lan, họ Thích, họ Sến, họ Nhân sâm, Riêng cácloài cây thuộc họ Dầu không có mặt trong kiểu rừng này

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới: phân bố ở độ cao < 700 – 800 m.

Thảm thực vật phát triển chủ yếu trên nền đất feralit đỏ vàng trên đá macma axit và

đá biến chất Tầng đất từ mỏng đến dày (dao động từ 50 – 100cm, nhiều nơi

>100cm) Cấu trúc rừng nhiều tầng tán, trung bình từ 4 – 5 tầng, thực vật tạo rừngkhá phong phú, phổ biến là các loài trong các họ Dầu, Bồ hòn, Trinh nữ, Vang, Thầudầu, Dâu tằm, Dẻ, Na, Trâm, Thị và nhiều họ khác Rừng được phân cấp thành 4tầng rõ rệt:

+ Tầng ưu thế sinh thái: tạo nên tán rừng tương đối đồng đều, liên tục với cây

thân gỗ cao trung bình 18 – 20 m, thân thẳng, tán lá tròn và hẹp, phần lớn là các loàicây thường xanh như: Táu muối, Sao Trung hoa, Chò chỉ, Chò nâu, Trường, Sâng,Gội, Cà Lồ, Trâm,

+ Tầng dưới tán rừng: ngoài những cây của tầng trên, còn có nhiều loài cây

gỗ nhỏ mọc rải rác, không tạo thành tán rừng liên tục, cao <15m Đó là các họ: Lòngtrứng, Chè, Sảng, Hột, Thừng mực, Thị, Nóng, Thâu lĩnh, Trọng đũa, Máu chó, Bờilời và nhiều họ khác như Thầu dầu, Cam, Đay, Cà phê,

+ Tầng cây bụi: cao < 5m gồm các loài Bọt ếch, Cau chuột, Xú hương, Lấu,

Trọng đũa, đôi khi có cả Nứa , tuy không nhiều

+ Tầng thảm tươi cao trên dưới 1m: thành phần khá phong phú và phụ thuộc

vào từng điều kiện cụ thể, bao gồm các loài thuộc các họ: Dương xỉ, Ôrô, Gừng, Cỏ,Hương bài, Cà phê, Dứa dại, Ngoài ra kiểu rừng này còn có nhiều loài thân thảo bòleo chằng chịt làm tăng thêm sự rậm rạp

Trang 24

Hiện nay các khu rừng tốt với cấu trúc như trên chỉ còn phân bố rải rác ở một

số nơi thuộc phía Tây Nam tỉnh Phú Thọ (thuộc huyện Thanh Sơn và một phầnhuyện Yên Lập), ranh giới tiếp giáp với tỉnh Sơn La, diện tích khoảng 6.575,4 ha (có2.432 ha rừng giàu trên núi đá thuộc VQG Xuân Sơn) Rừng có khả năng phòng hộ,chống xói mòn, giảm được dòng chảy mặt khá tốt, vì vậy cần phải bảo vệ

Một số khu vực thuộc huyện Tân Sơn, Thanh Sơn, Yên Lập, Hạ Hòa và CẩmKhê chỉ quan sát thấy rừng với cấu trúc kém hơn với 2 hoặc 3 tầng cây gỗ Trong đó,rừng trung bình chiếm 864,4 ha, rừng nghèo chiếm 11.841 ha, rừng phục hồi chiếm19.842,4 ha Đây là những đối tượng cần ưu tiên bảo vệ nhằm duy trì các hệ sinhthái, các giá trị đa dạng sinh học ở Phú Thọ

- Rừng thứ sinh: là kiểu rừng có tính phức tạp và đa dạng cao, chiếm tỉ lệ

diện tích khá tại Phú Thọ Rừng do sự tác động của con người vào thảm thực vật

tự nhiên đã hình thành nên nhiều đơn vị rừng có hình thái, cấu trúc rất khácnhau Thường là rừng thứ sinh sau quá trình khai thác gỗ hoặc phá rừng làmnương rẫy nhưng đã có một thời gian không chịu tác động của cháy rừng và chịucác mức độ tác động yếu đến trung bình bởi con người Thành phần có sự gópmặt của các ưu hợp tre, nứa phổ biến là kiểu rừng tre nứa thuần loại, rừng hỗngiao, rừng thưa trên núi đá Rừng này ít có giá trị kinh tế, tuy nhiên trong điềukiện đất rừng ít màu mỡ và có mức độ chiếu sáng cao, rừng tre nứa có vai tròlớn trọng việc giữ đất, chống xói mòn và tạo ra những điều kiện môi trườngsống cho một số loài động vật Kiểu thảm thực vật này cần được bảo vệ, pháttriển để tạo thành nhiều tầng tán có độ che phủ cao, nhất là những nơi xung yếu

- Trảng cây bụi cỏ thứ sinh: được hình thành chủ yếu từ các khu vực rừng

bị tàn phá, cháy rừng, đất xói mòn mạnh Kiểu thảm này khá phổ biến tại PhúThọ, tập trung nhiều tại huyện Hạ Hòa, Cẩm Khê, Thanh Ba, Yên Lập, Tân Sơn,Thanh Sơn, rải rác một số nơi tại Đoan Hùng, Phù Ninh, thị xã Phú Thọ thànhphần chủ yếu là một số cây bụi lớn mọc rải rác (họ na, thầu dầu, sim, mua, cỏ roingựa, ) xen kẽ các trảng cỏ (cỏ lau, cỏ tranh, cỏ gấu, cỏ may,

Ngoài ra, kiểu cảnh quan trảng cỏ cây bụi cũng khá phổ biến, phân bốthành những diện tích nhỏ hẹp, mọc rải rác trên các khu vực bãi bồi ven sôngHồng Thành phần thực vật nghèo nàn, thường gặp phổ biến là một số loại cỏmọc ven bờ nước khá đặc trưng như cỏ lác nước, cỏ lông tượng, mần trầu,

- Thảm thực vật trồng

+ Rừng trồng: chủ yếu là bạch đàn, keo tai tượng, keo lá tràm Diện tích

rừng trồng hàng năm tại Phú Thọ không ngừng tăng, đến cuối năm 2012, diện

Trang 25

tích rừng đạt 123.145 ha Trong đó, trồng tập trung mới chiếm 6.543 ha, trồng

bổ sung chiếm 3.297 ha, trồng phân tán 1.302 ha và khoanh nuôi tái sinh rừngvới 1.560 ha [4] Rừng trồng thường phân bố trên vùng núi thấp, vùng đồi vàđồng bằng cao Cấu trúc rừng đơn giản với một tầng cây gỗ và tầng cây bụi, cỏbên dưới

+ Lúa nước: phân bố tập trung ở các đồng bằng thấp dọc thung lũng các

sông Đà, Thao, Lô và rải rác dọc theo các thung lũng ven sông suối

+ Hoa màu: trồng ở các khu vực có địa thế cao ở đồng bằng và phổ biến

trên đồi ở vùng trung du, trên các sườn núi thoải ở vùng núi Các cây trồng phổbiến thường là các loại Đậu, Lạc, Ngô, Khoai, Sắn, Dong riềng và các loại rau

Nương rẫy phân bố rải rác ở vùng núi, diện tích hiện có 3.630 ha Hìnhthức canh tác vẫn là đốn rừng, chờ khô và đốt lấy đất canh tác Các cây trồng cóLúa nương và các cây lương thực như Ngô, Khoai, Sắn

+ Cây công nghiệp lâu năm: cây chè là cây công nghiệp chủ lực của tỉnh

Phú Thọ, được trồng ở nhiều địa phương như Thanh Ba, Phù Ninh, thị xã PhúThọ Ngoài chè ra còn có một số loại cây dài ngày được trồng như Sơn, Trẩu,Cao su, nhưng trồng với quy mô nhỏ trong các vườn hộ gia đình

+ Cây ăn quả: cây ăn quả chủ lực được xác định là Bưởi, Hồng không

hạt, Vải, Chuối, Dứa Diện tích cây ăn quả đến cuối năm 2012 đạt 10.689,3 ha.Phú Thọ có một số vùng đất bãi (sông Hồng, sông Lô) phù sa màu mỡ thích hợpcho phát triển một số loại cây ăn quả có hiệu quả kinh tế cao

+ Các cây trồng ở khu dân cư: thường trồng các cây trồng lấy gỗ loại nhỏ

hay lấy bóng mát Vùng nông thôn, ngoài các cây trên còn có các cây làm vậtliệu xây dựng (tre, nứa), các cây ăn quả, cây hoa màu xen lẫn trong khu dân cư

Hệ động vật: Phú Thọ có khoảng 180 loài động vật, trong đó: Thú có

khoảng 40 loài, Chim có khoảng 100 loài, Bò sát và Lưỡng cư khoảng 40 loài.Trong đó, một số loài thú lớn có giá trị là: Gấu, Hươu, Lợn rừng những loàileo trèo như Khỉ, Sóc, Chồn, đến các loài thú nhỏ như Cầy, Cáo, các loài bò sátnhư Tê tê, Kỳ đà, Tắc kè Đặc biệt là loài Vượn quần đùi trắng, một trongnhững loài động vật quý hiếm cũng thường xuyên thấy xuất hiện ở VQG XuânSơn

1.2.1.2 Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ

a Dân cư và lao động

Dân số tỉnh Phú Thọ không ngừng tăng lên về số lượng Năm 1927 dân sốtỉnh Phú Thọ là 263.866 người, đến 2002 tăng lên 1.296.263 người, năm 2013 là

Trang 26

1.351.224 người [4] Tuy nhiên số người tăng lên trung bình hàng năm theo cáckhoảng thời gian có xu hướng giảm dần, tỉ suất gia tăng tự nhiên năm 2013 củaPhú Thọ là 1,19% Tổng tỉ suất sinh của phụ nữ gần đạt mức thay thế, dân sốcủa Tỉnh dần đi vào ổn định

Về kết cấu dân số, nhóm 0 tuổi có số lượng nam nhiều hơn nữ Tính ra, cứ107,4 bé trai thì có 100 bé gái Số lượng nam nhiều hơn nữ kéo dài đến hết tuổi

17 Từ tuổi 18 trở đi số nam bắt đầu ít hơn số nữ, càng nhiều tuổi thì số nữ càngnhiều hơn số nam

Lực lượng trong độ tuổi lao động lớn: 730.816 người, chiếm 57,9% dân

số Nguồn lao động của tỉnh tăng lên qua các năm, chủ yếu là có khả năng laođộng Lao động được phân phối cụ thể như sau:

+ Số người tham gia vào các ngành kinh tế là chủ yếu và tăng lên: 83,2% sốlao động

+ Số lao động đi học có xu hướng tăng lên, chiếm 10,6% và gánh nặng phụthuộc đang có xu hướng giảm dần

+ Số lao động không tham gia lao động: 5,9% và có xu hướng tăng lên về sốlượng

Số dân dưới độ tuổi lao động: 416.970 chiếm 33% dân số Như vậy nguồn

dự trữ lao động của tỉnh lớn

Mật độ dân số trung bình 382 người/km2 (2013), nhưng phân bố khôngđồng đều Cụ thể là phân bố chủ yếu ở đồng bằng, thành phố, thị xã, thị trấn…thưa thớt ở khu vực đồi núi, nông thôn Việt Trì có mật độ dân cư đông nhất:

1665 người/km2, thị xã Phú Thọ: 1052 người/km2, Lâm Thao: 1071 người/km2,năm 2013 Ngược lại, các huyện có mật độ thấp như: Thanh Sơn, Tân Sơn, YênLập, với mật độ lần lượt là: 110, 186, 189 người/km2 (2013) Ngay trong mộtđơn vị hành chính lãnh thổ, thị xã, huyện mật độ dân số cũng khác nhau Dân cưcủa tỉnh Phú Thọ có xu hướng tập trung theo các trục giao thông Tại mỗi huyệnthị, dân cư tập trung chủ yếu ở thị trấn và mật độ giảm dần về hai phía trên trụcgiao thông

Phú Thọ có 36 dân tộc Trong đó dân tộc Kinh chiếm tỉ lệ cao nhất, trên85% dân số Sau đó xếp theo thứ tụ từ cao xuống thấp là các dân tộc Mường,Dao, Sán Chay, Tày và các dân tộc thiểu số khác

Với đặc điểm nguồn lao động như trên, tỉnh Phú Thọ đòi hỏi phải có sự chuyển dịch mạnh mẽ hơn nữa cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động Vì vậy, ngành nông nghiệp cần chuyển dịch để có thể thu hút nguồn lao động của địa phương.

Trang 27

Vấn đề quy hoạch các vùng chuyên canh cây ăn quả là rất cần thiết, giúp cho việc thu hút nguồn lao động của địa phương và giúp cho việc khai thác tốt hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên của tỉnh.

b Kinh tế

Những năm qua, đặc biệt là sau thời kì đổi mới, nền kinh tế của tỉnh luônphát triển, nhịp độ phát triển ngày càng tăng Điều này được thể hiện qua tổnggiá trị sản phẩm sản xuất trên địa bàn toàn tỉnh, cụ thể như sau:

Bảng 1.5: Tổng sản phẩm GDP của tỉnh Phú Thọ theo giá so sánh

Tổng sản phẩm

(triệu đồng) 11.763.286 19.027.007 20.736.931 21.945.895 23.357.484

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ năm 2014

Cơ cấu kinh tế cũng chuyển biến theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phùhợp với sự chuyển dịch chung của cả nước Khu vực I (nông – lâm – ngư nghiệp)đang có xu hướng giảm về tỉ trọng, khu vực II (công nghiệp – xây dựng) và khu vựcIII (dịch vụ) đang có xu hướng tăng

Bảng 1.6: Cơ cấu giá trị sản xuất phân theo ngành kinh tế

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ năm 2014

Trên địa bàn toàn tỉnh Phú Thọ nông nghiệp là nền kinh tế trọng yếu.cùngvới xu hướng phát triển chung của cả nước, nền kinh tế trên địa bàn tỉnh PhúThọ đã có nhiều chuyển biến tích cực và bước đầu đạt được những lợi thế riêng.Các loại hình kinh tế trang trại, đồi rừng, kinh tế hộ gia đình được khuyến khíchphát triển

Sản xuất cây công nghiệp là một thế mạnh trên địa bàn tỉnh, trong đó cóthể kể đến các cây công nghiệp lâu năm như: chè, sơn, trẩu, cà phê và các câycông nghiệp hàng năm như: lạc, mía, đậu tương Bên cạnh đó cũng phải kể đếncác cây ăn quả trên địa bàn tỉnh Đây cũng là một thế mạnh chính trong pháttriển kinh tế của tỉnh nhà Các cây ăn quả tiêu biểu của tỉnh là cây bưởi, chuối,dứa Phú Thọ còn hội tụ nhiều điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thuận lợi cho

Trang 28

việc phát triển nhiều ngành công nghiệp như sản xuất giấy, vật liệu xây dựng,phân bón, hóa chất, Trong đó vật liệu xây dựng là ngành có tỉ trọng GDPkhông ngừng tăng cao, do có sự đóng góp tích cực của các ngành kinh tế trên địabàn thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, huyện Phù Ninh và huyện Lâm Thao.

Trên địa bàn tỉnh còn có tiềm năng du lịch dồi dào cả về tiềm năng du lịch

tự nhiên như: Khu du lịch Bến Gót (Việt Trì), Ao Châu (Hạ Hòa), vườn quốc giaXuân Sơn, khu du lịch Đảo Ngọc Xanh (Thanh Thủy) và tiềm năng du lịchnhân văn như: Đền Hùng (Việt Trì), Đền Mẫu (Hạ Hòa), tượng đài chiến thắngSông Lô (Đoan Hùng)…

Nhìn chung điều kiện kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối

ổn định và có mức tăng trưởng khá Đây là địa bàn hội tụ những tiềm năng kinh tếlớn để phát triển không chỉ công nghiệp mà còn cả nông - lâm - ngư nghiệp Tuynhiên vẫn còn tồn tại một số hạn chế vì sự phát triển chưa đồng nhất giữa cácngành và giữa các huyện, thị, thành trên địa bàn tỉnh Chẳng hạn như sự pháttriển mạnh mẽ của thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, huyện Lâm Thao, huyệnPhù Ninh, song đặt cạnh bức tranh kinh tế có sự phát triển mạnh đó là sự kémphát triển hơn của các huyện Thanh Ba, Tân Sơn, Yên Lập Thu nhập bình quânđầu người nhìn chung chưa tương xứng với tiềm năng mà địa bàn có

1.2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2005- 2013

1.2.2.1 Đánh giá khái quát toàn ngành nông nghiệp

Ngành nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế tỉnh PhúThọ, năm 2013 chiếm 84,6% trong cơ cấu giá trị sản xuất của khu vực nông -lâm - thuỷ sản Nhìn chung chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp tiếptục phát triển theo hướng như sau:

Cơ cấu Nông - lâm - ngư nghiệp: Giai đoạn 2005 – 2013, ngành nôngnghiệp giảm 6,8%, ngành lâm nghiệp tăng 5,3%, ngành thuỷ sản tăng 5,7%.Ngành thuỷ sản được xác định là 1 trong 6 chương trình nông nghiệp trọng điểmcủa tỉnh Phú Thọ Nhờ các chính sách đầu tư, phát huy thế mạnh của từng vùng

và đẩy mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật, đưa giống có năng suất cao vào sảnxuất, thời gian qua, nuôi trồng thủy sản Phú Thọ không ngừng phát triển đạtđược những thành tựu quan trọng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2005– 2013 cao: 25.35%/năm

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp: trồng trọt giảm 7,6%, chăn nuôi tăng

7,9%, dịch vụ nông nghiệp tăng 0,2% Cơ cấu trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ pháttriển tích cực theo hướng giảm tỉ trọng ngành trồng trọt, tăng tỉ trọng ngành chăn

Trang 29

nuôi và dịch vụ Trong những năm 2004 đến năm 2006 dịch bệnh như cúm giacầm, lở mồm long móng bùng phát trong cả nước, làm giảm đàn gia súc giacầm, mặt khác do giá gia súc, gia cầm bấp bênh, người nuôi bị lỗ, nên tỉ trọngngành chăn nuôi giảm; những năm 2007, 2008, 2009 giá cả hợp lí, chăn nuôi cólãi, dịch bệnh cơ bản được khống chế nhìn chung trong giai đoạn 2005 – 2013ngành chăn nuôi phát triển bình quân 5,7%/ năm.

Bảng 1.7: Cơ cấu nông nghiệp tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2005 – 2013

2

Cơ cấu giá trị sản phẩm NN 100 100 100

Trồng trọt 62,9 57,1 54,8 -7,6 Chăn nuôi 34,0 40,4 41,9 7,9 Dịch vụ 3,1 2,4 3,3 0,2

3

Cơ cấu trong nội bộ ngành Trồng trọt 100 100 100

Cây lúa 45,02 40,5 37,7 -7,32 Cây màu 15,6 21,6 27,9 12,4 Cây ăn quả 39,38 37,9 34,4 -4,98

Nguồn: Sở NN& PTNN tỉnh Phú Thọ

Quá trình công nghiệp hoá đang có những tác động rõ rệt vào sản xuấtnông nghiệp với sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành Cơ cấu ngành nôngnghiệp đang có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọng ngành trồng trọt, tăngdần tỉ trọng ngành chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp Tuy nhiên, sự chuyển dịchdiễn ra còn chậm và chưa ổn định

Cơ cấu trong nội bộ ngành trồng trọt: diện tích cây lúa tiếp tục giảm,

riêng cây lâu năm do tốc độ tăng chậm hơn cây màu, giá thấp, không ổn địnhnên trong cơ cấu nội bộ ngành trồng trọt cây lâu năm giảm 5,27%, cây màu tăng12,4%, đã hình thành vùng trồng màu với diện tích lớn tập trung như huyệnCẩm Khê, Lâm Thao, Thanh Ba

Đối với cây lúa tuy diện tích lúa hàng năm giảm, nhưng nhờ ứng dụngtiến bộ khoa học kĩ thuật nên năng suất và chất lượng lúa được nâng lên, năngsuất lúa bình quân cả năm tăng liên tục trong các năm 2010, 2011, 2012, 2013đạt trên 5 tấn/ ha Sản lượng bình quân đầu người hàng năm đạt khoảng 379.000tấn phong trào đưa cây màu xuống ruộng phát triển khá mạnh (bình quân trên11.000 ha/năm), góp phần đưa diện tích rau màu tăng từ 11129,8 ha năm 2005

Trang 30

lên 13114.2 ha năm 2013 Chương trình cải tạo vườn tạp, lập vườn mới và đầu

tư thâm canh cay ăn quả tiếp tục phát triển Năm 2013 tổng diện tích cây lâunăm là 17798,3 ha, tăng 4903.7 ha so với năm 2005

Trong ngành trồng trọt, cơ cấu cây trồng cũng có những thay đổi:

Cây lúa: Từ nhiều đời nay, trong cơ cấu diện tích và sản lượng cây lương

thực của tỉnh, cây lúa vẫn luôn giữ vai trò quan trọng Diện tích canh tác lúa ởtỉnh Phú Thọ, tăng giảm không ổn định qua các năm từ 2005 đến nay, tuy nhiên

xu hướng chung là giảm diện tích canh tác lúa Sự sụt giảm này nằm trong xuthế chung của cả nước do chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng và do chuyểnđổi mục đích sử dụng đất trồng lúa sang đất chuyên dùng và đất ở

Bảng 1.8: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa tỉnh Phú Thọ

giai đoạn 2005 - 2013

(nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ năm 2014

Năng suất lúa tăng lên theo thời gian và xếp vào loại cao trong vùngTrung du và miền núi phía Bắc, năm 2013 đạt 54,38 tạ/ha Chính nhờ sự tănglên của năng suất lúa mà sản lượng lúa của tỉnh Phú Thọ cũng có xu hướng tăngtrong xu thế giảm dần về diện tích đất canh tác Tuy nhiên trong năm 2006 và

2007, năng suất lúa sụt giảm đáng kể, từ 48,6 tạ/ha năm 2005 xuống còn 48,0 và

45 tạ/ha trong năm 2006, 2007 kéo theo sự sụt giảm của sản lượng lúa cả năm…

đó là do những ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, dịch bệnh…mặc dù có nhiềutiến bộ, song năng suất lúa vẫn thấp hơn mức trung bình cả nước (55,8 tạ/ha).Điều này đòi hỏi Phú Thọ cần quan tâm hơn nữa trong công tác cải tạo giống,ứng dụng tiến bộ kĩ thuật để đẩy nhanh năng suất lúa

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Phú thọ tiến hành canh tác 2 vụ lúa chính:

Trang 31

+ Vụ lúa đông xuân: có xu hướng tăng cả về diện tích, năng suất và sảnlượng Tuy nhiên mức tăng còn chậm và chưa ổn định Năm 2013, vụ lúa đôngxuân chiếm 52,56% diện tích, 56,04% sản lượng lúa cả năm.

+ Vụ lúa mùa: cũng có sự tăng trưởng không ổn định về cả diện tích, năngsuất và sản lượng Năm 2013, vụ lúa mùa chiếm 47,49% diện tích và 43,96%sản lượng lúa cả năm

Sản xuất rau thực phẩm: Diện tích rau, đậu thực phẩm có xu hướng tăng

nhanh từ 11,1 nghìn ha năm 2005 lên 13,1 nghìn ha năm 2013 tăng bình quân2%/năm Trong đó diện tích rau tăng từ 9,4 nghìn ha lên 11,8 nghìn ha Năngsuất rau các loại tăng từ 126,01 tạ/ha năm 2005 lên 139,81 tạ/ha năm 2013 Sảnlượng rau tăng từ 118,8 tấn năm 2005 lên 165,5 tấn năm 2013

Vùng sản xuất rau thực phẩm tập trung chủ yếu ở huyện Lâm Thao, vùngven TP Việt Trì, TX Phú Thọ… về sản sản xuất rau an toàn chất lượng cao, hiệntỉnh chưa có quy hoạch thành vùng tập trung, làm cơ sở để thu hút các nguồnđầu tư Tuy nhiên hiện nay đã có một số hộ sản xuất rau theo hướng an toàn,song chủ yếu là nhỏ lẻ và quy mô không đáng kể

Cây công nghiệp hàng năm: Diện tích gieo trồng cây công nghiệp hàng

năm có xu hướng tăng nhưng không ổn định, năm 2013 đạt 6.5 nghìn ha Sảnlượng cây công nghiệp hàng năm vì thế cũng biến động bất thường Chính sựdiễn biến bất thường của thị trường và tình trạng sản xuất thiếu quy hoạch trongnhân dân đã dẫn tới những biến động về diện tích gieo trồng và sản lượng cácloại cây công nghiệp Cây công nghiệp hàng năm của tỉnh chủ yếu là cây lạc vàđậu tương

+ Lạc: Phú Thọ là tỉnh có diện tích gieo trồng lạc đứng thứ 2 trong vùng

Trung du và miền núi phía Bắc, sau tỉnh Bắc Giang Diện tích gieo trồng lạc daođộng trong khoảng 5 – 6 tạ/ha Sản lượng lạc năm 2013 đạt 9,7 nghìn tấn, tăngbình quân 1,7%/năm giai đoạn 2005 – 2013 Tất cả các huyện, thị đều trồng lạc,trong đó vùng sản xuất tập trung chủ yếu tại các huyện Cẩm Khê, Yên Lập,Thanh Ba, Lâm Thao

Bảng 1.9: Diện tích, sản lượng một số cây công nghiệp hàng năm

tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2005 - 2013

Trang 32

Cây công nghiệp lâu năm:

Diện tích cây công nghiệp lâu năm của tỉnh năm 2013 là 28.761,8 ha Sựtăng trưởng của cây công nghiệp lâu năm nhanh chóng và ổn định Giai đoạn

2003 – 2013 diện tích cây công nghiệp lâu năm được mở rộng nhanh chóng từ11.125,9 ha lên 28.761,8 ha, tốc độ tăng bình quân là 7,15%/năm

Các cây công nghiệp lâu năm chính trên địa bàn tỉnh Phú Thọ là cây chè vàcây sơn Phú Thọ nổi tiếng với “rừng cọ đồi chè”, chè Phú Thọ thuộc giống chèTrung du Bắc Bộ, cây thấp thân gỗ nhỏ, làm trà đen và trà xanh Cây chè là câycông nghiệp mũi nhọn, được xác định là một trong những chương trình kinh tếtrọng điểm, chiếm 93,6% diện tích cây công nghiệp lâu năm của tỉnh Năm 2013diện tích chè toàn tỉnh là hơn 12 nghìn ha, trong đó diện tích chè trồng mới, trồng lại

là 440 ha, diện tích chè cho sản phẩm đạt 11,47 nghìn ha Năng suất chè tăng bìnhquân 6%/ năm (giai đoạn 2005 – 2013), năm 2013 ngành trồng chè của tỉnh đạt năngsuất trung bình 83,2 tạ/ha Sản lượng chè năm 2013 đạt 136,2 nghìn tấn So với trướckhi triển khai thực hiện chương trình phát triển chè năm 2000, diện tích chè toàn tỉnhtăng gấp 2 lần tương ứng với tăng 7108 ha, năng suất tăng gấp đôi, sản lượng tănggấp 3 lần

Tính đến hết năm 2013, toàn tỉnh có 1.513,2 ha trồng sơn, tăng 2,7 lần so vớinăm 2005 Cùng với sự mở rộng diện tích, sản lượng sơn cũng không ngừng tănglên Năm 2013 sản lượng toàn tỉnh đạt 487,3 tấn, tăng gấp 3,5 lần so với năm 2005.Năng suất sơn đạt 3,1 tạ/ha

Nhìn chung điều kiện sinh thái của tỉnh có nhiều thuận lợi để có thể trồng chè

và sơn Chúng được trồng khắp nơi trong các huyện trên địa bàn tỉnh

Diện tích cây công nghiệp lâu năm tập trung chủ yếu ở các huyện Đoan Hùng,

Hạ Hòa, Thanh Ba, Yên Lập, Thanh Sơn và Tân Sơn; sáu huyện này chiếm 81,7%diện tích cây công nghiệp lâu năm của toàn tỉnh Diện tích cho sản phẩm cũng tậptrung chủ yếu ở các huyện có diện tích cây lâu năm lớn

Bảng 1.10: Diện tích và sản lượng cây chè và cây sơn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Trang 33

Cây công nghiệp

chính

Diện tích (ha) Sản lượng (tấn) Diện tích

Nguồn: Niên giám thống kê Phú Thọ năm 2014

Có thể thấy diện tích các cây công nghiệp lâu năm của Phú Thọ đã bước đầuđược quy hoạch xây dựng thành vùng chuyên canh nguyên liệu và được tỉnh chútrọng đầu tư đồng thời có sự liên doanh với nước ngoài

Chăn nuôi:

An ninh lương thực được đảm bảo, có vùng gò đồi, công nghiệp chế biến thức

ăn gia súc phát triển… là cơ sở để ngành chăn nuôi của tỉnh Phú Thọ luôn có mứctăng trưởng khá Tính trung bình cho cả giai đoạn 2005 – 2013, giá trị sản xuấtngành chăn nuôi đạt tốc độ tăng 5,9%/ năm, cao hơn so với mức tăng trưởng trungbình của ngành nông nghiệp toàn tỉnh

Bảng 1.11: Số lượng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh Phú Thọ

độ bình quân 4,7%/ năm Các huyện nuôi nhiều trâu là Thanh Sơn, Tân Sơn,Yên Lập

+ Chăn nuôi bò: số lượng đàn bò giảm nhanh từ 129.4 ngìn con năm 2005

xuống 91,1 nghìn con năm 2013, giảm 38,3 nghìn con Số lượng đàn bò đứng

Trang 34

thứ 3 trong vùng Trung du miền núi phía Bắc, chỉ sau tỉnh Sơn La và tỉnh BắcGiang Trong đó, đàn bò thịt chất lương cao là trên 40 nghìn con, chiếm 31,3%tổng đàn bò toàn tỉnh.

+ Chăn nuôi lợn: Đàn lợn tăng liên tục với tốc độ nhanh trong khi đàn bò

và đàn trâu giảm

Thực hiện đề án phát triển chăn nuôi và chế biến thịt lợn xuất khẩu vùngtrọng điểm, từ năm 2005 – 2013, đàn lợn tăng hơn 1,3 lần Năm 2013, tổng đànlợn là 756,0 nghìn con Mặc dù dịch bệnh ở lợn (dịch lợn tai xanh, dịch lở mồmlong móng…) hoành hành những năm gần đây, song đàn lợn vẫn tăng ổn địnhqua các năm Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 93,3 nghìn tấn (năm 2013),tăng bình quân 6,3%/năm giai đoạn 2005 – 2013

+ Chăn nuôi gia cầm: Chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là gia cầm cạn, là thế

mạnh của các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Phú Thọ nóiriêng Số lượng đàn gia cầm của tỉnh năm 2013 là 11292 nghìn con, tăng gấp 1,4lần so với năm 2005 Sản lượng thịt gia cầm đạt trên 21,7 nghìn tấn, tăng bìnhquân 7.5% giai đoạn 2005 – 2013 Số lượng trứng các loại năm 2013 đạt 147,5triêu quả

Gia cầm được nuôi ở khắp các địa phương trong cả tỉnh Hình thức nuôi

có sự thay đổi, ngoài kiểu chăn nuôi gia cầm như một hoạt động kinh tế phụ,kiểu kinh doanh chăn nuôi gia cầm đã xuất hiện ngày càng nhiều Nhiều hộ đãxây dựng trang trại chuyên nuôi gia cầm, chú trọng công tác phòng chống dịchbệnh, sử dụng thức ăn công nghiệp nhằm nâng cao năng suất Sự hình thành các

mô hình chăn nuôi mới cộng với việc tích cực nhập nhiều giống mới để cải tạogiống nội, hướng vào sản xuất hàng hoá mà ngành chăn nuôi gia cầm đang tiếptục có nhiều khởi sắc

Thuỷ sản:

Ngành nuôi trồng thuỷ sản trong những năm gần đây được phát triểnnhanh Diện tích nuôi trồng thuỷ sản ngày càng được mở rộng do việc chuyểnđổi mục đích sử dụng đất từ những ruộng cấy lúa 1 vụ, vụ lúa bấp bênh sangkhoanh vùng nuôi trồng thuỷ sản, đồng thời khuyến khích nông dân mở rộngdiện tích 1 lúa – 1 cá Năm 2013 diện tích nuôi trồng thuỷ sản là 9,5 nghìn hatăng 2,2 nghìn ha so với năm 2005

Trang 35

Hình 1.2 Biểu đồ diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh Phú Thọ

giai đoạn 2005 - 2013

Năm 2013 tổng số lồng, bè trong toàn tỉnh là 389 chiếc, giảm 1177 chiếc sovới năm 2005 Số hộ nuôi trồng thuỷ sản cùng giảm mạnh từ 1.235 hộ năm 2005xuống còn 294 hộ năm 2013

Thanh Thủy là huyện phát triển thủy sản nhất của tỉnh Nuôi trồng thủy sản ởThanh Thủy đã có từ lâu đời, nhưng nuôi thủy sản theo hướng hàng hóa mới pháttriển mạnh trong những năm gần đây Tại các xã Bảo Yên, Xuân Lộc, Đoan Hạ,người dân đã tận dụng nguồn nước sông Đà phát triển nghề nuôi cá lồng đem lạihiệu quả kinh tế cao gấp 2 - 3 lần với nuôi cá ở ao, hồ, đầm Riêng ở xã Sơn Thủy, từkhi chuyển đổi mô hình canh tác từ những ruộng lúa kém hiệu quả sang ao nuôi cáhoặc một vụ lúa một vụ cá, nền kinh tế vùng đã có nhiều phát triển

Dịch vụ nông nghiệp:

Trong những năm qua, ngành dịch vụ nông nghiệp đã có những hỗ trợthiết thực cho hoạt động sản xuất nông nghiệp Giá trị sản xuất dịch vụ nôngnghiệp năm 2013 đạt 243.868 triệu đồng, tăng 12% so với năm 2012; tăng82,12% so với năm 2005, bình quân giai đoạn tăng 12,8% Năm 1013 dịch vụnông nghiệp chiếm tỉ trọng 3.3% trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp Các loạihình dịch vụ khá đa dạng, trong đó dịch vụ cung ứng giống, phân bón, các loại

Trang 36

vật tư nông nghiệp, hỗ trợ vốn chiếm tỉ trọng khá cao Ngoài ra các công tácphòng trừ sâu bệnh, tưới tiêu và vận chuyển cũng đóng góp quan trọng vàonhững khởi sắc của ngành dịch vụ nông nghiệp Điểm dịch vụ nông nghiệp đãđược mở rộng đến tận các làng xã trên cơ sở kinh doanh của các hộ cá thể vàhoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp Các hoạt động dịch vụ nông nghiệp

có bước phát triển tạo thêm việc làm mới cho người lao động, góp phần cải thiện

và nâng cao đời sống cho nhân dân

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Đánh giá tiềm năng đất đai có ý nghĩa rất quan trọng trong sử dụng bền vữngtài nguyên đất: là cơ sở khoa học cho việc hoạch định, lập chính sách phát triển; làmcăn cứ cho sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững; là cơ sở để đưa quỹ đất chưa

sử dụng vào sử dụng một cách hiệu quả Trên thế giới đã có nhiều phương phápphân hạng, phân loại và đánh giá tiềm năng đất khác nhau với các lý luận và mụcđích khác nhau, nghiên cứu về đánh giá tiềm năng đất đai ngày càng trở nên hoànthiện, có ý nghĩa thiết thực đối với sản xuất nông lâm nghiệp nói riêng và sử dụngđất đai nói chung

Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng trung du đồi núi thấp, đồng bằng chỉ chiếmmột diện tích rất nhỏ bé, có một hệ đất trồng phong phú đa dạng, có hệ nhiệt ẩm dồidào là nơi có điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp

Tỉnh Phú Thọ có vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội rấtthuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp Do vậy, việc nghiên cứu để đưa ra phươnghướng khai thác để sử dụng tối đa thế mạnh về đất của từng vùng lãnh thổ nhằmhình thành những vùng chuyên canh nông nghiệp lớn và đem lại hiệu quả kinh tế cao

là một việc thiết thực và ý nghĩa

Chương 2 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

TỈNH PHÚ THỌ 2.1 Đặc điểm của các loại đất nông nghiệp tỉnh Phú Thọ

Theo kết quả điều tra về nông hoá thổ nhưỡng của tỉnh thì tài nguyên đấtnông nghiệp của tỉnh có 3 nhóm đất chính: Nhóm đất phù sa (16.69%), nhómđất feralit (69.67%), nhóm đất khác (13,64%)

Trang 37

Về độ phì nhiêu, hình thái phẫu diện thường gắn với các hệ thống sôngsuối: bản chất do lượng sản phẩm phong hoá từ thượng nguồn Nói chung trừnhững đất phù sa chua mang sản phẩm từ đá mẹ giàu thạch anh thì nghèo, cònđại bộ phận có các chất dinh dưỡng như chất hữu cơ, đạm, lân, kali….

Đây là loại đất chính được sử dụng để trồng lúa, là nguồn cung cấp lươngthực cho toàn tỉnh với sản lượng ngày càng cao theo sự phát triển của các giốnglúa và hệ thống canh tác mới Những vùng đất cao cần chủ động tưới tiêu hoặctrồng các cây cạn vào mùa đông để tăng thu nhập

+ Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb): có diện tích 11.915 ha, chiếm

3.39% diện tích tự nhiên Đất có màu nâu tươi, phẫu diện khá đồng nhất, thànhphần cơ giới nhẹ Đất này phân bố ngoài đê sông Hồng, sông Đà,sông Lô, nhiềunhất ở Thanh Sơn, Tam Nông, Thanh Thuỷ

Đất bị ngập nước trong mùa mưa lũ và có biến động Độ phì tự nhiên cao,hàm lượng chất dinh dưỡng trong phù sa được bồi của sông Hồng, sông Đà caohơn sông Lô và sông Chảy

Đất phù sa được bồi hàng năm là một trong những loại đất tốt, có độ phìcao, rất thích hợp với cây rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày song phải bố tríthời vụ và loại cây trồng hợp lí tránh được thời gian ngập lụt

+ Đất phù sa không được bồi đắp hàng năm (P): Diện tích 30.890 ha

chiếm 8.8% diện tích tự nhiên Đất có mầu nâu nhạt , vì không được bồi hàngnăm nên hình thái phẫu diện đất đã có sự phân hoá Thành phần cơ giới thay đổi

từ thịt nhẹ đến thịt nặng.Đạm tổng số từ trung bình đến khá, hàm lượng mùntrung bình, lân tổng số khá, kali tổng số và dễ tiêu từ khá đến giàu, lân dễ tiêuthấp.Phân bố ở Thanh Ba, Hạ hoà, Thanh Sơn, Lâm Thao, Việt Trì Hầu hết đấtphù sa không được bồi hằng năm đã và đang được sử dụng trồng lúa, màu, câycông nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả Đây cũng là nơi tập trung dân cư lâu đời

+ Đất phù sa ngòi suối: Diện tích ít, khoảng 500 ha, phân bố ở các huyện

Thanh Sơn, Thanh Thuỷ Đất này được hình thành từ phù sa của các suối nhỏtrong vùng, tạo thành những giải đất hẹp và nằm dọc một số suối lớn Lí hoá

Trang 38

tính của nó phụ thuộc vào loại đá mẹ nới các dòng sông suối chảy qua.Đất nàyđang được tròng hai vụ lúa hoặc một vụ lúa một vụ màu.

+ Đất phù sa úng nước (Pj): Diện tích 15.810 ha, chiếm 4.5% diện tích.

Đất được hình thành ở vùng địa hình thấp, trũng, khó tiêu nước hoặc có mựcnước ngầm nông nên thường bị ngập nước vào mùa mưa Phân bố tập trung ởLâm Thao, Yên Lập, Phù Ninh, Thanh Sơn, Việt Trì

Đất có phản ứng chua, hàm lượng mùn và đạm tổng số khá, lân dễ tiêunghèo, thành phần cơ giới nặng Hình thái phẫu diện các tầng dưới thường cơmàu xám xanh do bị ngập nước thường xuyên Loại đất nay hiện chỉ trồng một

+ Đất feralit đỏ vàng trên đá biến chất và đá sét (Fs): chiếm diện tích

209.536 ha, chiếm 59,76% diện tích đất tự nhiên, phân bố thành các vùng lớn ởThanh Sơn, Yên Lập, Thanh Ba, Hạ Hoà, Phù Ninh và Lâm Thao

Loại đất này phát triển trên đá mẹ giàu sét (gơnai, đá phiến…) nên thànhphần cơ giới nặng, kém tơi xốp Đất có độ trung bình.Phẫu diện đất phân tầng

rõ, tầng mặt thiên về sắc đỏ và tương đối xốp, ẩm, xuống sâu thiên về sắc vàng,hơi chặt đến chặt và ẩm ướt Khi mất lớp phủ rừng đất dễ bị rửa trôi và bào mòntrong mùa mưa, do đó nếu không có biện pháp bảo vệ đất nghèo đi nhanh chóng.Đất thích hợp để trồng ngô, sắn, nơi dốc cao có thể để khoanh nuôi, tái sinhrừng

+ Đất feralit đỏ vàng trên đá macma axit (Fa): Diện tích 6.012 ha, chiếm

1,71% diện tích tự nhiên, phân bố ở Thanh Sơn, Yên Lập Địa hình đá macmaaxit thường có sườn dốc trên 25o, đá lại giàu thạch anh khó phong hoá, nên tầngđất thường mỏng, thành phần cơ giới trung bình, lớp đất mặt có thể nhẹ do bịrửa trôi Đất thường nghèo mùn, lân và có phản ứng chua

Với đặc điểm trên và tầng đất mỏng nên loại đất này ít có ý nghĩa choviệc phát triển nông nghiệp

+ Đất feralit vàng nâu trên phù sa cổ (Fp): Diện tích 24.291 ha, chiếm

6,93% diện tích tự nhiên, phân bố nhiều ở Tam Nông, Thanh Thuỷ, Yên Lập,Lâm Thao Đặc điểm của đất là hình thành trên các đồi thấp, thoải, mẫu chất phù

Trang 39

sa cổ, thành phần cơ giới là thịt trung bình Đất có màu nâu vàng, tính chất líhoá đều kém vì không có cấu tượng, nhiều kết von, có nơi đã xuất hiện tầng đáong dày, đồng thời cũng chua, nghèo phì nhiêu.

Phần lớn đất đã bị khai thác trồng cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày

và cây mầu ngắn ngày

+ Đất feralit biến đổi do trồng lúa (F1): diện tích 4.439 ha, chiếm 1,27%

diện tích tự nhiên, phân bố ở Đoan Hùng, Thanh Sơn, Hạ Hoà Là loại đất tạichỗ, được dân san thành ruộng bậc thang trồng lúa nước Do trồng lúa nước nênmột số tính chất vật lí của đất đã bị thay đổi như cấu trúc lớp đất tầng mặt bị phá

vỡ, glay xuất hiện, kết von được hình thành Đất bị bạc mầu tầng mặt thô dần donước tràn bờ cuốn trôi phì nhiêu và các phần tử mịn, có nơi thành tầng cát thạchanh Đất có đội phì tự nhiên rất thấp

2.1.3 Nhóm đất khác

+ Đất mùn vàng đỏ trên đá sét và đá biến chất (Hs): Loại đất này nằm ở

vùng núi trung bình từ độ cao 700 - 900 m trở lên Hầu hết còn rừng vì ở đó lànúi cao, độ dốc lớn >250 Do địa hình cao, độ dốc lớn, thường bị xói mòn mạnh,quá trình phong hóa yếu nên tầng đất ở đây khá phức tạp, những nơi sườn dốctầng dày rất mỏng <50cm, xen kẽ khu vực sườn thoải có độ dày khá lớn

>100cm Đất có phản ứng chua vừa đến chua ít, hàm lượng mùn cao, lân tổng số

và dễ tiêu từ nghèo đến trung bình Kali tổng số từ nghèo đến trung bình, dungtích hấp thụ thấp, nghèo các cation kiềm Thành phần cơ giới từ nhẹ đến trungbình Đất có hàm lượng mùn khá cao, ở dạng mùn thô, độ phân giải mùn thấp Đấtthích hợp cho phát triển nông - lâm kết hợp, trồng cây dược liệu, cây ăn quả ônđới Đây cũng là vùng rừng đầu nguồn cần được bảo vệ

+ Đất mùn vàng đỏ trên đá macma axit (Ha): Đất mùn vàng đỏ trên đá

macma axit chiếm diện tích rất hẹp, phân bố ở độ cao >700m, núi có độ dốc lớn

>250 Ở độ cao này thì cường độ của quá trình feralit bị giảm đi Khi độ caotăng, thì nhiệt độ giảm và độ ẩm tăng lên đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trìnhtích lũy mùn Đất có thành phần cơ giới trung bình, tầng đất dày từ 50-100 cm,đất có hàm lượng mùn và đạm ở tầng mặt khá, nghèo lân, nhưng giàu kali traođổi Do nằm ở địa hình cao nên đất bị rửa trôi mạnh, có phản ứng chua, độ nobazơ thấp Đất có thảm thực vật che phủ tương đối cao Đất chủ yếu trồng câylâm nghiệp, tạo rừng đầu nguồn, trồng cây ăn quả, rau có nguồn gốc ôn đới,

Ngày đăng: 20/06/2016, 20:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Huy Bá ( 2009), Môi trường và tài nguyên đất Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và tài nguyên đất Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
2. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Giáo trình thổ nhưỡng học, trường đại học nông nghiệp Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thổ nhưỡng học
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
3. Nguyễn Kim Chương, chủ biên (2004), Địa lí tự nhiên đại cương, tập III.NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí tự nhiên đại cương
Tác giả: Nguyễn Kim Chương, chủ biên
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2004
4. Cục Thống kê, Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ các năm, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ
Nhà XB: NXB Thống kê
5. Chương trình tiến bộ Khoa học cấp Nhà nước 42A (1989), Số liệu Khí tượng – Thủy văn, tập 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu Khítượng – Thủy văn, tập 1
Tác giả: Chương trình tiến bộ Khoa học cấp Nhà nước 42A
Năm: 1989
6. Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh (1997), Cơ sở cảnh quan học việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở cảnh quan học việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môitrường lãnh thổ Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
7. Đặng Thị Huệ (2014), Nghiên cứu đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp tỉnh Phú Thọ, Luận án tiến sĩ Địa lí, Trường đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Đặng Thị Huệ
Năm: 2014
8. Lê Văn Khoa (1997), Môi trường và phát triển bền vững ở miền núi, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và phát triển bền vững ở miền núi
Tác giả: Lê Văn Khoa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
9. Lê Văn Khoa (1999), Nông nghiệp và Môi trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp và Môi trường
Tác giả: Lê Văn Khoa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
10. Đặng Duy Lợi, Nguyễn Thục Nhu, Đặng Văn Hương (2007), Giáo trình địa lí tự nhiên Việt Nam 2 (phần khu vực), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình địa lí tự nhiên Việt Nam 2 (phần khu vực)
Tác giả: Đặng Duy Lợi, Nguyễn Thục Nhu, Đặng Văn Hương
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
11. Nguyễn Duy Mạnh (2007), các yếu tố môi trường trong sử dụng đất bền vững, NXB nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: các yếu tố môi trường trong sử dụng đất bền vững
Tác giả: Nguyễn Duy Mạnh
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 2007
12. Ngô Văn Nhuận (2010), Địa lí địa phương tỉnh Phú Thọ, NXB Đại học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí địa phương tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Ngô Văn Nhuận
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 2010
13. Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, Vũ Tấn Phương (2004), Hệ thống đánh giá đất lâm nghiệp Việt Nam, NXB Khoa học &amp; Kĩ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống đánhgiá đất lâm nghiệp Việt Nam
Tác giả: Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, Vũ Tấn Phương
Nhà XB: NXB Khoa học & Kĩ thuật
Năm: 2004
14. Lê Thông (chủ biên, 2002), Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam (tập 2). NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
15. Lê Thông (chủ biên), Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Minh Tuệ (2001), Giáo trình Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam
Tác giả: Lê Thông (chủ biên), Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Minh Tuệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
16. Lê Bá Thảo (1998), Cơ sở địa lí tự nhiên (tập I, II, III), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở địa lí tự nhiên
Tác giả: Lê Bá Thảo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
17. Lê Bá Thảo (2003), Thiên nhiên Việt Nam, NXB Giáo dục, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên nhiên Việt Nam
Tác giả: Lê Bá Thảo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
18. Lê Quang Trí (2005), Giáo trình đánh giá đất đai, NXB Giáo dục, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đánh giá đất đai
Tác giả: Lê Quang Trí
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
19. Trường đại học Nông nghiệp I, Bộ môn Khoa học Đất (2006), Giáo trình Thổ nhưỡng học, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thổ nhưỡng học
Tác giả: Trường đại học Nông nghiệp I, Bộ môn Khoa học Đất
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
20. Sở nông nghiệp tỉnh Phú Thọ (2000), Quy hoạch nông nghiệp tỉnh Phú Thọ, Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch nông nghiệp tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Sở nông nghiệp tỉnh Phú Thọ
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Mô hình phát triển bền vững theo ngân hàng thế giới WB [11] - Hiện trạng và định hướng sử dụng hợp lí đất nông nghiệp tỉnh phú thọ
Hình 1.1. Mô hình phát triển bền vững theo ngân hàng thế giới WB [11] (Trang 11)
Bảng 1.3: Tổng lượng mưa trung bình tháng và năm ở Phú Thọ - Hiện trạng và định hướng sử dụng hợp lí đất nông nghiệp tỉnh phú thọ
Bảng 1.3 Tổng lượng mưa trung bình tháng và năm ở Phú Thọ (Trang 18)
Bảng 1.4: Diện tích và phân bố các nhóm loại đất chính ở Phú Thọ - Hiện trạng và định hướng sử dụng hợp lí đất nông nghiệp tỉnh phú thọ
Bảng 1.4 Diện tích và phân bố các nhóm loại đất chính ở Phú Thọ (Trang 20)
Bảng 1.5: Tổng sản phẩm GDP của tỉnh Phú Thọ theo giá so sánh - Hiện trạng và định hướng sử dụng hợp lí đất nông nghiệp tỉnh phú thọ
Bảng 1.5 Tổng sản phẩm GDP của tỉnh Phú Thọ theo giá so sánh (Trang 27)
Bảng 1.7:  Cơ cấu nông nghiệp tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2005 – 2013 - Hiện trạng và định hướng sử dụng hợp lí đất nông nghiệp tỉnh phú thọ
Bảng 1.7 Cơ cấu nông nghiệp tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2005 – 2013 (Trang 29)
Bảng 1.9: Diện tích, sản lượng một số cây công nghiệp hàng năm - Hiện trạng và định hướng sử dụng hợp lí đất nông nghiệp tỉnh phú thọ
Bảng 1.9 Diện tích, sản lượng một số cây công nghiệp hàng năm (Trang 31)
Bảng 1.11: Số lượng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh Phú Thọ - Hiện trạng và định hướng sử dụng hợp lí đất nông nghiệp tỉnh phú thọ
Bảng 1.11 Số lượng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh Phú Thọ (Trang 33)
Hình 1.2. Biểu đồ diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh Phú Thọ - Hiện trạng và định hướng sử dụng hợp lí đất nông nghiệp tỉnh phú thọ
Hình 1.2. Biểu đồ diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh Phú Thọ (Trang 35)
Hình 2.1. Diện tích đất nông nghiệp tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2005 – 2013 - Hiện trạng và định hướng sử dụng hợp lí đất nông nghiệp tỉnh phú thọ
Hình 2.1. Diện tích đất nông nghiệp tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2005 – 2013 (Trang 41)
Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 2005 tỉnh Phú Thọ - Hiện trạng và định hướng sử dụng hợp lí đất nông nghiệp tỉnh phú thọ
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 2005 tỉnh Phú Thọ (Trang 42)
Hình 2.2. Biểu đồ biểu đồ cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp tỉnh Phú Thọ - Hiện trạng và định hướng sử dụng hợp lí đất nông nghiệp tỉnh phú thọ
Hình 2.2. Biểu đồ biểu đồ cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp tỉnh Phú Thọ (Trang 45)
Bảng 2.4: Thay đổi diện tích đất nông nghiệp tỉnh Phú Thọ - Hiện trạng và định hướng sử dụng hợp lí đất nông nghiệp tỉnh phú thọ
Bảng 2.4 Thay đổi diện tích đất nông nghiệp tỉnh Phú Thọ (Trang 46)
Hình 2.3. Biểu đồ thể hiện sự thay đổi diện tích đất nông nghiệp - Hiện trạng và định hướng sử dụng hợp lí đất nông nghiệp tỉnh phú thọ
Hình 2.3. Biểu đồ thể hiện sự thay đổi diện tích đất nông nghiệp (Trang 49)
Bảng 2.5: Thay đổi diện tích đất nông nghiệp phân theo địa phương - Hiện trạng và định hướng sử dụng hợp lí đất nông nghiệp tỉnh phú thọ
Bảng 2.5 Thay đổi diện tích đất nông nghiệp phân theo địa phương (Trang 50)
Hình 2.4. Biểu đồ thể hiện sự thay đổi diện tích đất nông nghiệp của các địa - Hiện trạng và định hướng sử dụng hợp lí đất nông nghiệp tỉnh phú thọ
Hình 2.4. Biểu đồ thể hiện sự thay đổi diện tích đất nông nghiệp của các địa (Trang 51)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w