Vì từ vựng là một đơn vị ngôn ngữ nên nó được thể hiện dưới hai hình thức: Lời nói và chữ viết. Muốn sử dụng được ngôn ngữ đó, tức là phải nắm vững hình thức biểu đạt của từ bằng lời nói và chữ viết. Song do có mối liên quan của từ vựng với các yếu tố khác trong ngôn ngữ (ngữ pháp, ngữ âm, ngữ điệu ...) hoặc trong tình huống giao tiếp cụ thể, ta thấy từ vựng là các “viên gạch”còn ngữ pháp và các yếu tố ngôn ngữ khác được coi như các “mạch vữa”để xây lên thành một ngôi nhà ngôn ngữ.
Trang 1PHỊNG GD&ĐT NINH PHƯỚC
TRƯỜNG THCS NGUYỄN THỊ MINH KHAI Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
ĐỀ TÀI:
GIÚP HỌC SINH LỚP 6 HỌC TỐT TỪ VỰNG TIẾNG ANH
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1/ Cơ sở lý luận:
Trong tình hình hiện nay, bộ giáo dục và đào tạo thực hiện Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân’’, giai đoạn 2008 – 2020 nên việc dạy va học ngoại ngữ nĩi chung và về mơn Tiếng Anh là rất cấp thiết Là một giáo viên dạy bộ mơn tiếng Anh, đào tạo những lớp người sau này cĩ thể nắm bắt được những thơng tin của nước ngồi áp dụng vào việc xây dựng đất nước Việt Nam ta ngày càng giàu mạnh hơn Giáo viên phải nhận thức rằng bộ mơn tiếng Anh được coi là một cơng cụ để giao tiếp, địi hỏi chúng ta phải cĩ một số vốn từ, cho nên việc học từ vựng là một tất yếu khơng thể khơng kể đến trong việc học tiếng Anh
Trong bất kỳ một ngơn ngữ nào, vai trị của từ vựng cũng hết sức quan trọng Cĩ thể thấy một ngơn ngữ là một tập hợp của các từ vựng Khơng thể hiểu ngơn ngữ mà khơng hiểu biết từ vựng, hoặc qua các đơn vị từ vựng Nhưng điều
đĩ khơng đồng nghĩa với việc chỉ hiểu các đơn vị từ vựng riêng lẻ, độc lập với nhau mà chỉ cĩ thể nắm vững được ngơn ngữ thơng qua mối quan hệ biện chứng giữa các đơn vị từ vựng Như vậy việc học từ vựng và rèn luyện kĩ năng sử dụng
từ vựng là yếu tố hàng đầu trong việc truyền thụ và tiếp thu một ngơn ngữ nĩi chung và tiếng Anh nĩi riêng
Vì từ vựng là một đơn vị ngơn ngữ nên nĩ được thể hiện dưới hai hình thức: Lời nĩi và chữ viết Muốn sử dụng được ngơn ngữ đĩ, tức là phải nắm vững hình thức biểu đạt của từ bằng lời nĩi và chữ viết Song do cĩ mối liên quan của
từ vựng với các yếu tố khác trong ngơn ngữ (ngữ pháp, ngữ âm, ngữ điệu ) hoặc trong tình huống giao tiếp cụ thể, ta thấy từ vựng là các “viên gạch”cịn ngữ pháp
và các yếu tố ngơn ngữ khác được coi như các “mạch vữa”để xây lên thành một ngơi nhà ngơn ngữ
Ở trường Trung học cơ sở giáo viên dạy học cho học sinh cùng với các mơn khác trên cơ sở trang bị cho học sinh hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết, nhằm đào tạo đội ngũ lao động cĩ tri thức, cĩ tay nghề, cĩ kỹ năng thực hành, năng động và sáng tạo việc hình thành và rèn luyện các kỹ năng cho học sinh địi hỏi giáo viên khơng chỉ chú ý vào việc truyền thụ kiến thức trong sách giáo khoa,
sử dụng các phương tiện dạy học mà phải quan tâm đến việc tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hố hoạt động của người học, đề cao và phát huy tốt vai
Trang 2trò tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập, tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri thức bằng chính hoạt động của mình, nhưng đa phần học sinh không hiểu tầm quan trọng của từ vựng nên rất lười học hoặc chỉ học qua loa rồi không
sử dụng được nó, trong đó có học sinh lớp 6 (các em vừa từ Tiểu học chuyển lên), với lượng kiến thức mới mà nó khác xa với tiếng mẹ đẻ như thế thì học sinh rất sợ học Do vậy người giáo viên phải làm gì để từ vựng không còn là “nỗi khó khăn” của học sinh, suy nghĩ làm tôi trăn trở mãi, với kinh nghiệm nhiều năm đứng lớp
6, gặp không biết bao nhiêu lần học sinh không thuộc từ vựng, viết sai, hiểu câu
sai đã thôi thúc tôi thực hiện đề tài “Giúp hoc sinh lớp 6 học tốt từ vựng tiếng Anh”.
2 Cơ sở lý luận thực tiễn:
Qua quá trình tìm hiểu, khảo sát, thăm dò tôi rút ra kết luận rằng học sinh vướng phải những vấn đề trên là do :
Thứ nhất ít được giao tiếp bằng tiếng anh, ít phát biểu Thầy mà còn ít nói
bằng tiếng Anh nói tiếng Việt nhiều hơn thì thử hỏi sao trò nói được
Thứ hai là do hoàn cảnh khách quan như thiếu các câu lạc bộ nói tiếng
Anh, thiếu các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ …
Chúng ta thử quan sát một đứa bé Em bé sẽ quan sát, bắt chước những gì người lớn nói, người lớn làm Em bé sẽ bập bẹ những tiếng đầu đời “ba , ba”, “bà, bà”, “ê, a” Từ đó chúng ta liên tưởng tới việc học ngoại ngữ -Tiếng Anh Tiếng Anh cũng như ngoại ngữ khác thì khác hoàn toàn tiếng Việt cho nên chúng ta phải bắt chước giống như họ nói Từ này nói như thế nào? Từ kia nói như thế nào? Tình huống này phải hỏi và đáp ra làm sao ?
Ví dụ sau đây là một tình huống đơn giản nhưng nhiều em có thể nói không
trôi Giao tiếp chào hỏi thường ngày:
T : How are you?
S : I’m fine Thank you And you?
T : I’m fine Thanks
Hiện nay trong nhà trường phổ thông, cũng giống như các bộ môn khác, việc dạy và học tiếng Anh đang diễn ra cùng với sự đổi mới phương pháp giáo dục, cải cách sách giáo khoa, giảm tải nội dung chương trình học nhằm làm phù hợp với nhận thức của học sinh, làm cho học sinh được tiếp cận với các nội dung, kiến thức hiện đại Vốn từ vựng tiếng Anh trong chương trình học cũng được sử dụng phù hợp với sự phát triển chung của xã hội và ở bất cứ một thứ tiếng nào trên thế giới, muốn giao tiếp được với nó, đòi hỏi chúng ta phải có một vốn từ Bởi vì từ vựng là một thành phần không thể thiếu được trong ngôn ngữ, được sử dụng cho hoạt động giao tiếp Do vậy, việc nắm vững số từ đã học để vận dụng là việc làm rất quan trọng
Trong Tiếng Anh chúng ta không thể rèn luyện và phát triển bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết của học sinh mà không dựa vào nền tảng của từ vựng Thật
Trang 3vậy nếu không có số vốn từ cần thiết, các em sẽ không nghe được và hệ quả của
nó là không nói được, đọc không được và viết cũng không xong, cho dù các em
có nắm vững mẫu câu
Qua thực tế dạy học những năm qua, tôi nhận thấy phương pháp cũ dạy học
từ vựng thường được diễn ra theo kiểu: Người dạy (giáo viên) đọc bài rồi liệt kê
ra những từ, theo giáo viên chưa từng xuất hiện trong quá trình dạy học là từ mới (new words); sau đó người giáo viên giảng giải nghĩa, cách sử dụng từ, từ loại cho học sinh Nó có những hạn chế cơ bản như sau: Làm cho học sinh thụ động trong việc làm giàu vốn từ cho mình, sử dụng từ trong ngữ cảnh giao tiếp bị hạn chế, không linh hoạt và thường lệ thuộc vào cấu trúc ngữ pháp
Từ đó vấn đề được đặt ra ở đây là nghiên cứu áp dụng các kỹ năng dạy từ vựng,
cụ thể là các kỹ năng giới thiệu và kiểm tra từ vựng đối với học sinh sao cho phù hợp và có hiệu quả tốt
Những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này:
a) Thuận lợi:
- Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất và tài liệu chuyên môn phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn : bộ tranh lớp
6, máy cassette, máy chiếu
- Chính quyền địa phương và các đoàn thể trong và ngoài nhà trường luôn hỗ trợ giáo viên trong quá trình công tác
- Bản thân giáo viên bộ môn luôn nhận được sự hỗ trợ từ các giáo viên cùng tổ chuyên môn và các đồng nghiệp
- Đa số các em học sinh trong lớp đều yêu thích học Tiếng Anh và chuẩn bị tốt sách vở, đồ dùng cho việc học tập
- Phần lớn phụ huynh học sinh luôn quan tâm và tạo điều kiện để con em mình học tập
b) Khó khăn:
- Đa số các em là học sinh vùng bãi ngang, kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn, các em chưa có phương pháp học từ vựng thật sự hiệu quả Về phía phụ huynh, cũng rất khó khăn trong việc kiểm tra hoặc hướng dẫn các em tự học ở nhà bởi môn ngoại ngữ, không phải phụ huynh nào cũng biết
- Các em còn chưa nhận thức được tầm quan trọng của môn học và ngoại ngữ
là một môn học khó khiến một phần các em chán nản
- Một số học sinh ít có thời gian học bài ở nhà vì ngoài giờ học các em còn phải phụ giúp cha mẹ làm việc nhà, việc đồng áng …
- Các em ít có điều kiện để giao tiếp bằng tiếng Anh và các em cũng ngại giao tiếp, trao đổi nhau bằng tiếng Anh ngoài giờ học
Trang 4- Đa số các học sinh trong lớp đều có hoàn cảnh khó khăn nên các em ít có sách tham khảo để nâng cao vốn từ ngoài những từ vựng mà sách giáo khoa cung cấp
- Tuy ở Tiểu học các em đã được tiếp xúc với bộ môn tiếng Anh nhưng không được đồng đều, các em ở vùng Hòa Thạnh, Phú Thọ chưa có giáo viên dạy Tiếng Anh cho các em nên khi vào lớp 6 các em rất bỡ ngỡ với việc học ngoại ngữ, làm cho công việc giảng dạy của giáo viên cũng rất vất vả
II CÁC BƯỚC THỰC HIỆN
Để dạy từ vựng Tiếng Anh thật sự có hiệu quả thì vai trò của người dạy và vai trò của người học đóng vai trò chủ đạo Để dạy cho các em hiểu, nắm được nghĩa của từ vựng và dùng trong ngữ cảnh thích hợp, bản thân tôi đã xác định như sau:
1.1 Xác định vai trò của người giáo viên:
Người giáo viên đóng vai trò vô cùng quan trọng, là người điều khiển, tổ chức cho học sinh nói Thầy phải tạo ra các tình huống đơn giản cho học sinh nói Chúng ta cứ quan sát xem một tình huống đơn giản thì rất nhiều em đưa tay phát biểu, nhưng gặp tình huống khó khăn hơn thì đa số học sinh co cụm lại không phát biểu kể cả em cho là khá, giỏi cũng e dè
Người thầy phải “vươn tay ra” gợi ý, làm cho tình huống đơn giản, khích lệ các em nói, tán thưởng khi các em làm đúng, không phê phán, chê trách khi các
em làm sai mà nhẹ nhàng sửa chữa
Người giáo viên là người bạn cùng giao tiếp với học sinh nếu lớp học có một em lẻ không có cặp để thực hành, giao tiếp
Người giáo viên phải biết nói “thank you”, “You’re very good ” để động viên các em kịp thời
Nhưng đôi khi người giáo viên muốn làm cho học sinh hiểu được tình huống nhanh bằng cách giới thiệu trực tiếp bằng tiếng Việt thì thật là không đúng với mục tiêu giảng dạy ngoại ngữ Bởi vì các em lại một lần nữa học tiếng Việt chứ không phải học tiếng Anh Ví dụ như khi vào lớp người giáo viên nên chào hỏi học sinh hay giới thiệu bài mới nên bằng tiếng Anh, các em sẽ nghe được sẽ biết được vì đây là kiến thức nền của các em Đây là môi trường tốt nhất cho các
em tiếp cận với ngôn ngữ nước ngoài vì khi về nhà các em ít có cơ hội được thực hành, được giao tiếp
Example :
T: Good morning, class
Now sit down , please
Ss: Sit down
T: ask “Who’s absent today?
Trang 5Ss: Answer
Giáo viên giới thiệu bài mới bằng câu rất đơn giản như thế này :
T: Today we’re going to begin the Unit 10, section B, Now open your book
on page 108, please
Tiếp theo các em sẽ học các từ vựng mới sau đây :
Example 1:
T: fruit (n) : a banana, an orange or an apple is a kind of fruit
T: What kinds of fruit do you like?
Ss: a banana / an apple / an orange
Các em sẽ hiểu được từ fruit có nghĩa là gì mà không cần phải ghi nghĩa
bằng tiếng Việt vì các từ như banana, orange, apple các em đã biết trước đó
Example 2:
T: weather ( hot, cold, cool, warm )
T: What is the weather like in the Summer?
S: It is hot in the Summer
Các em có thể hiểu được weather có nghĩa là thời tiết Hoặc chỉ vào tranh
cho các em nhận xét thời tiết của từng mùa trong năm
Trong tiết học trên lớp, các em chú ý bài học.
Người giáo viên cũng phải biết tạo nên “khoảng trống” để học sinh nói về
Trang 6chính các em.Các em thấy mình cũng quan trọng được thể hiện ý tưởng, suy nghĩ Mặc dù các em nói không đúng văn phạm cũng không sao, dần dần các em tự khắc phục vì xung quanh em không ai nói từ này, cấu trúc kia như vậy
Nói tóm lại mục đích cuối cùng của việc dạy từ vựng và cấu trúc cũng phải đảm bảo cho các em được thực hành hỏi, đáp bằng ngôn ngữ mục tiêu
Tôi có thể đưa ra sơ đồ thực hiện của người giáo viên như sau:
1 2 Xác định vai trò của học sinh :
Theo phương pháp dạy học tích cực thì chúng ta lấy học sinh làm trung tâm Học sinh phải lắng nghe giáo viên giảng bài, từ đó nắm bắt kiến thức mới cũng như ôn luyện lại kiến thức cũ, mục tiêu cuối cùng là thực hành giao tiếp
Học sinh trình bày trước lớp thì giáo viên mới phát hiện được các em có nắm bắt được bài học không, có khả năng vận dụng không
Học sinh trình bày trước lớp làm cho các em tự tin hơn ,khắc phục được tính tự ti, cảm giác sợ trước đám đông
Học sinh có thể hỏi lại thầy tránh lối truyền đạt một chiều thầy - trò mà bây giờ sẽ là: thầy - trò, trò - trò, trò - thầy
Qua quá trình giao tiếp này giáo viên sẽ phát hiện và điều chỉnh phương pháp của mình cho thích hợp
Giáo viên
Giảng giải, cung cấp thông tin
Giao tiếp
Trang 7Chỉ có thực hành học sinh mới thành thạo biến kiến thức thành sản phẩm của mình như ngạn ngữ phương tây có nói :
Khi bạn nghe, bạn sẽ quên
Khi bạn nghe và nhìn, bạn sẽ nhớ chút ít
Khi bạn nghe, nhìn và thực hành, bạn sẽ học được kiến thức và kĩ năng
Bên cạnh đó, để phát huy tốt tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập, thì người giáo viên cần tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học, trong quá trình dạy và học, giáo viên chỉ là người truyền tải kiến thức đến học sinh, học sinh muốn lĩnh hội tốt những kiến thức đó, thì các em phải tự học bằng chính các hoạt động của mình
Phương pháp chủ đạo trong dạy học ngoại ngữ của chúng ta là lồng ghép, nghĩa là từ mới cần được dạy trong ngữ cảnh, ngữ cảnh có thể là một bài đọc, một đoạn hội thoại hay một bài khoá Tuy nhiên, nói đến cùng thì việc dạy và học ngoại ngữ vẫn là việc dạy từ mới như thế nào? Dạy cấu trúc câu mới như thế nào
để học sinh biết cách sử dụng từ mới và cấu trúc mới trong giao tiếp bằng tiếng nước ngoài
Ngay từ đầu, giáo viên cần xem xét các thủ thuật khác nhau cho từng bước
xử lý từ vựng trong các ngữ cảnh mới: gợi mở, dạy từ, kiểm tra và củng cố từ vựng
Giáo viên
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Học sinh
Trang 8- Có nên dạy tất cả những từ mới không? Dạy bao nhiêu từ trong một tiết thì vừa?
- Dùng sẵn mẫu câu đã học hoặc sắp học để giới thiệu từ mới
- Dùng tranh ảnh, dụng cụ trực quan để giới thiệu từ mới
- Đảm bảo cho học sinh nắm được cấu trúc, vận dụng từ vựng vào cấu trúc để hoàn thiện chức năng giao tiếp, thiết lập mối quan hệ giữa cấu trúc mới và vốn từ
đã có
- Khắc sâu vốn từ trong trí nhớ của học sinh thông qua các mẫu câu và qua những bài tập thực hành
1.3 Các kỹ năng giới thiệu từ vựng:
Bước giới thiệu bài, giới thiệu chủ đề: đây là bước khá quan trọng trong việc dạy từ vựng Bước này sẽ quyết định sự thành công của tiết học, nó sẽ gợi mở cho học sinh liên tưởng đến những từ sắp học qua chủ điểm vừa mới được giới thiệu
Điều quan trọng nhất trong giới thiệu từ mới là phải thực hiện theo trình tự: nghe, nói, đọc, viết Đừng bao giờ bắt đầu từ hoạt động nào khác “nghe” Hãy nhớ lại quá trình học tiếng mẹ đẻ của chúng ta, bao giờ cũng bắt đầu bằng nghe, bắt chước phát âm rồi mới tới những hoạt động khác Chính vì vậy mà giáo viên phải giúp cho học sinh có thói quen học từ mới một cách tốt nhất:
Bước 1: “nghe”, giáo viên cho học sinh nghe từ mới bằng cách đọc mẫu Bước 2: “nói”, sau khi học sinh đã nghe được ba lần giáo viên mới yêu cầu
học sinh nhắc lại Khi cho học sinh nhắc lại , giáo viên cần chú ý cho cả lớp nhắc lại trước, sau đó mới gọi cá nhân
Bước 3: “đọc”, giáo viên viết từ đó lên bảng và cho học sinh nhìn vào đó
để đọc Cho học sinh đọc cả lớp, rồi đọc cá nhân và sửa lỗi cho học sinh tới một chừng mực mà giáo viên cho là đạt yêu cầu
Bước 4: “viết”, sau khi học sinh đã đọc từ đó một cách chính xác rồi giáo
viên mới yêu cầu học sinh viết từ đó vào vở
Bước 5: Giáo viên hỏi xem có học sinh nào biết nghĩa của từ đó không và
yêu cầu một học sinh lên bảng viết nghĩa của từ đó bằng tiếng Việt
Bước 6: đánh trọng âm từ: phát âm lại từ và yêu cầu học sinh nhận diện âm tiết có trọng âm và đánh dấu.
Bước 7: cho câu mẫu và yêu cầu học sinh xác định từ loại của từ mới học.
1.4 Các thủ thuật củng cố từ mới:
Trang 9Hình ảnh kiểm tra từ vựng trên lớp
Nên giới thiệu từ trong từng mẫu câu cụ thể Ở những tình huống giao tiếp khác nhau, giáo viên có thể kết hợp việc làm đó bằng cách thiết lập được sự quan
hệ giữa từ cũ và từ mới, từ vựng phải được củng cố liên tục
Giáo viên thường xuyên kiểm tra từ vựng vào đầu giờ bằng cách goi một số
em viết từ lên bảng, với cách này giáo viên có thể quan sát được học sinh ở lớp, bắt buộc các em phải học bài và nên nhớ cho học sinh vận dụng từ vào trong mẫu câu, với những tình huống thực tế giúp các em nhớ từ lâu hơn, giao tiếp tốt và mang lại hiệu quả cao
Để học sinh tiếp thu bài tốt đòi hỏi khi dạy từ mới, giáo viên cần phải lựa chọn các phương pháp cho phù hợp, chúng ta cần chọn cách nào ngắn nhất, nhanh nhất, mang lại hiệu quả cao nhất, là sau khi học xong từ vựng thì các em đọc được, viết được và biết cách đưa vào các tình huống thực tế
Chúng ta biết rằng chỉ giới thiệu từ mới thôi không đủ, mà chúng ta còn phải thực hiện các bước kiểm tra và củng cố Các thủ thuật kiểm tra và củng cố sẽ khuyến khích học sinh học tập tích cực và hiệu quả hơn Trong hoạt động này, chúng ta có thể sử dụng để kiểm tra từ mới Sau đây là năm thủ thuật kiểm tra từ mới:
1 Rub out and Remember (giải thích – ví dụ)
2 Slap the board (giải thích – ví dụ)
3 What and where (giải thích – ví dụ)
4 Matching (giải thích – ví dụ)
5 Bingo (giải thích – ví dụ)
6 Lisle order vocabulary (giải thích – ví dụ)
1.5 Các kỹ năng kiểm tra
Trang 10Kiểm tra từ vựng của học sinh cũng là một phần quan trọng trong quá trình dạy học Nó xác định xem học sinh nắm được từ ở mức độ nào Việc kiểm tra thường diễn ra dưới hai cấp độ; Đơn giản và hoàn thiện
a Kiểm tra đơn giản
Kiểm tra đơn giản là việc kiểm tra từ vựng riêng lẻ, kiểm tra ngay sau khi hoàn thành việc giới thiệu từ vựng Các hoạt động kiểm tra ở từng bài giảng thường được giáo viên nêu ra dưới dạng các trò chơi khiến học sinh thích thú, say
mê với bài học, kích thích sự ganh đua trong học tập
Ví dụ:
Rub out and remember: Xóa phần từ đã giới thiệu trên bảng và yêu cầu học sinh tái tạo lại ở trên bảng
Slap the board: Viết phần từ vừa giới thiệu hoặc dán tranh thể hiện từ trên bảng Yêu cầu học sinh vỗ tay vào phần từ hoặc tranh khi nghe giáo viên đọc từ
đó (từ trên bảng bằng tiếng Anh thì đọc bằng tiếng Việt và ngược lại)
What and Where: Viết từ vừa giới thiệu vào các vòng tròn trên bảng, cho học sinh đọc và xóa dần các từ, sau đó yêu cầu học sinh viết lại từ đúng vị trí cũ của nó
Jumbled words: Giáo viên viết các từ với các chữ cái xáo trộn, sau yêu cầu học sinh viết lại từ cho đúng
Word square: Giáo viên chuẩn bị ô chữ có chứa các từ đã giới thiệu, yêu cầu học sinh khoanh tròn các từ mà các em tìm thấy
Netword: Học sinh viết mạng từ theo chủ điểm
Bingo: Học sinh chọn 5 từ trong số các từ mà giáo viên gợi ý trên bảng, sau khi nghe giáo viên đọc, nếu học sinh nào nghe có được 5 từ trước nhất thì hô
to “bingo”
Guessing game: Một học sinh viết từ vào một tờ giấy hoặc sử dụng hình ảnh từ, sau đó dùng các từ khác miêu tả, diễn đạt từ đó cho các học sinh khác đoán
Matching: Một cột giáo viên viết từ, còn cột thứ hai viết khái niệm hoặc định nghĩa không theo thứ tự của cột thứ nhất, sau yêu cầu học sinh nối từ với khái niệm hoặc định nghĩa của chúng
Ordering: Giáo viên yêu cầu học sinh viết các từ vào vở, sau đó giáo viên đọc một đoạn văn ngắn có chứa các từ đó, học sinh nghe và đánh dấu thứ tự các
từ theo trình tự đọc
Các kĩ năng kiểm tra được thực hiện ở mỗi giờ dạy khác nhau để tạo ra sự mới mẻ, không gây nhàm chán cho học sinh Song ta cũng cần chú ý đến đối tượng học sinh, hay chính là trình độ nhận thức của học sinh nhanh hay chậm để đảm bảo việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên và với mọi học sinh Đối với các học sinh khá, tiếp thu nhanh giáo viên sử dụng các kĩ năng thường mang tính chất yêu cầu học sinh tái tạo lại phần từ đã học như ; Rubout and remember, slap