TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC VÀ ĐỊNH DANH MỘT SỐ CHỦNG NẤM GÂY BỆNH THÁN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC VÀ ĐỊNH DANH MỘT SỐ CHỦNG NẤM GÂY
BỆNH THÁN THƯ TRÊN XOÀI (Mangiferae indica L.) TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH A,
TỈNH HẬU GIANG BẰNG
KỸ THUẬT PCR
Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
MSSV: 3113513
2015
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Chứng nhận đã chấp thuận luận văn tốt nghiệp với đề tài:
“ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC VÀ ĐỊNH DANH MỘT SỐ
CHỦNG NẤM GÂY BỆNH THÁN THƯ TRÊN XOÀI
(Mangiferae indica L.) TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH A,
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Ngày……tháng……năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Tuấn
Trang 5TIỂU SỬ CÁ NHÂN
1 LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Họ & tên: Nguyễn Trọng Tuấn Giới tính: Nam
Sinh ngày: 01/03/1993 Dân tộc: Kinh
Email: tuan113513@gmail.com
Họ & tên cha: Nguyễn Trọng Kha
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Cẩm Châu
Quê quán: ấp Phú Hoà, xã Phú Hữu, huyện An Phú, tỉnh An Giang
2 QUÁ TRÌNH HỌC TẬP:
- Từ năm 1999 – 2004: Học sinh Trường tiểu học “A” Phú Hữu
Địa chỉ: xã Phú Hữu, huyện An Phú, tỉnh An Giang
- Từ năm 2004 – 2008: Học sinh Trường THCS Vĩnh Lộc
Địa chỉ: xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú, tỉnh An Giang
- Từ năm 2008 – 2011: Học sinh Trường THPH Vĩnh Lộc
Địa chỉ: xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú, tỉnh An Giang
- Từ năm 2011 – 2015: Sinh viên ngành Bảo vệ thực vật khoá 37, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ
Địa chỉ: Đường 3/2, Quận Ninh Kiều, Tp Cần Thơ
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Kính dâng:
Cha mẹ cả đời vất vả vì chúng con lòng biết ơn chân thành và thiêng liêng nhất
Chân thành biết ơn:
Thầy Lê Phước Thạnh đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ
em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này
Thầy cố vấn học tập Nguyễn Chí Cương cùng các thầy/cô Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức khoa học, những kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian em học tại trường
Chân thành cảm ơn:
Các anh/chị trong phòng thí nghiệm bệnh cây, Bộ môn Bảo vệ thực vật đã nhiệt tình giúp đỡ, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho em thực hiện tốt các thí nghiệm của đề tài
Anh Trần Văn Bé Năm, phòng thí nghiệm sinh học phân tử, Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học đã tạo điều kiện thuận lợi cho
em tiến hành các thí nghiệm đề tài
Bạn Huỳnh Hữu Lý, Trần Đỗ Dự, Lê Phát Nam đã luôn quan tâm, giúp đỡ tôi trong quãng thời gian thực hiện đề tài này
Các anh/chị Trạm Bảo vệ thực vật huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang đã nhiệt tình giúp đỡ trong những ngày điều tra và thu mẫu tại địa bàn
Thân ái gởi về:
Các bạn lớp Bảo vệ thực vật K37 cùng toàn thể các bạn sinh viên Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng lời chúc tốt đẹp nhất
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
TIỂU SỬ CÁ NHÂN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH BẢNG viii
DANH SÁCH HÌNH ix
TÓM LƯỢC xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Giới thiệu sơ lược về cây xoài 2
1.1.1 Nguồn gốc, phân bố 2
1.1.2 Đặc điểm thực vật 2
1.1.3 Một số yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh trong canh tác xoài 3
1.2 Một số côn trùng gây hại trên xoài 6
1.2.1 Xén tóc đục thân 6
1.2.2 Côn trùng đục ngọn, cành non 6
1.2.3 Rầy hại bông xoài 7
1.3 Một số bệnh hại quan trọng trên xoài 8
1.3.1 Bệnh thán thư (Anthracnose) 8
1.3.2 Bệnh đốm đen vi khuẩn (Bacterial black spot) 10
1.4 Phân loại và đặc điểm của nấm Colletotrichum gây bệnh thán thư trên xoài…… ……… 11
1.5 Phương pháp sinh học phân tử để định danh loài nấm Colletotrichum 15
1.5.1 Tầm quan trọng của phương pháp phát hiện và định danh nấm bằng sinh học phân tử 15
1.5.2 Xác định nấm bệnh bằng kỹ thuật PCR 16
1.5.3 Một số công trình định danh nấm Colletotrichum bằng kỹ thuật PCR…… ……… ………… 17
Trang 8CHƯƠNG 2.PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 19
2.1.Phương tiện 19
2.1.1.Thời gian và địa điểm 19
2.1.2.Phương tiện và vật liệu 19
2.2.Phương pháp 20
2.2.1 Điều tra kỹ thuật canh tác xoài, thu mẫu bệnh thán thư, mẫu đất 20
2.2.2 Phân lập và đánh giá khả năng gây hại của các chủng nấm Colletotrichum spp trên xoài 21
2.2.3 Khảo sát sự phát triển khuẩn lạc và khả năng tạo bào tử của các chủng nấm Colletotrichum spp 22
2.2.4 Xác định tên loài của các chủng Colletotrichum spp phân lập được bằng kỹ thuật PCR 23
2.3 Phương pháp phân tích số liệu 24
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Ghi nhận tổng quát 25
3.1.1 Tình hình chung khu vực điều tra 25
3.1.2 Tổng quát kết quả phân lập và định danh nấm Colletotrichum 26
3.2 Hiện trạng canh tác và sử dụng nông dược trên xoài tại huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang năm 2014 26
3.2.1 Cây giống 26
3.2.2 Đất trồng 28
3.2.3 Loại hình canh tác 31
3.2.4 Kỹ thuật canh tác 32
3.3 Phân lập và định danh nấm Colletotrichum gây bệnh thán thư trên xoài bằng kỹ thuật PCR 41
3.3.1 Kết quả phân lập các chủng nấm Colletotrichum trên xoài ở huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang 41
3.3.2 Kết quả định danh một số chủng nấm Colletotrichum bằng kỹ thuật PCR……….……… ……….44
3.4 Kết quả tuyển chọn chủng nấm Colletotrichum có độc tính mạnh 50
Trang 93.4.1 Đánh giá khả năng gây bệnh của 29 chủng nấm Colletotrichum đã phân
lập ……… 50
3.4.2 Đánh giá khả năng tạo bào tử và hình thành khuẩn lạc của các chủng nấm Colletotrichum đã phân lập 55
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58
4.1 Kết luận 58
4.1.1 Kỹ thuật canh tác 58
4.1.2 Sâu bệnh hại xoài 58
4.1.3 Phân lập và định danh nấm Colletotrichum: 58
4.1.4 Kết quả tuyển chọn dòng nấm: 58
4.2 Đề nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ CHƯƠNG 1 64
PHỤ CHƯƠNG 2 68
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
1.1 Liều lượng phân hữu cơ cho cây xoài ở các
lứa tuổi (Nguyễn Bảo Vệ, 2014)
5
1.2 Liều lượng vôi cần bón cho xoài ở các độ
tuổi (Nguyễn Bảo Vệ, 2014)
5 1.3 Mức độ kháng đối với bệnh thán thư của
một số giống xoài ở một quốc gia (vùng
lãnh thổ) (Nelson, 2008)
14
2.1 Thang đo cấp độ bệnh và sự mô tả vết bệnh
thán thư theo từng thang đo (Cai et al.,
2009)
22
3.1 Một số thông tin chung về các hộ trồng xoài
tại huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang
3.3 Phân bố các mẫu nấm Colletotrichum thu
thập được trên địa bàn huyện Châu Thành
3.5 Cấp bệnh trên trái xoài ở các thời điểm 6, 7,
8, 9, 10, 11 ngày sau khi chủng nấm
Colletotrichum spp ghi nhận theo thang đo
của Cai et al., (2009)
52
3.6 Mật số bào tử của các chủng nấm
Colletotrichum spp ở thời điểm 10 NSNC
55
3.7 Đường kích khuẩn lạc của các chủng nấm
Colletotrichum spp ở thời điểm 10 NSNC
56
Trang 11DANH SÁCH HÌNH
1.1 Hình dạng các thành phần cấu trúc của loài nấm C
gloeosporioides (Dạng hữu tính: Glomerella cingulata) (A)
Ổ nấm với gai cứng trên bề mặt vết bệnh, (B) Cuống bào tử
đính, (C) Bào tử đính, (D) Thể quả nang, (E) Nang chứa bào
tử, (F) Bào tử nang và (G) Đĩa áp (Ploetz, 2003)
12
1.2 Hình dạng các thành phần cấu trúc của loài nấm C acutatum
(Dạng hữu tính: Glomerella acutatum) (A) Ổ nấm với gai
cứng trên bề mặt vết bệnh, (B) Cuống bào tử đính và gai
cứng, (C) Bào tử đính và (D) Đĩa áp (Ploetz, 2003)
13
3.1 Tỉ lệ (%) về nguồn gốc cây giống của các hộ trồng xoài ở
huyện Châu Thành A, Hậu Giang
27
3.2 Tỉ lệ % chiều rộng mặt liếp chia theo 3 nhóm kích thước tại
các vườn xoài tại huyện Châu Thành A, Hậu Giang 28
3.3 Lên liếp theo kiểu thông thường của nông dân (Nguyễn Bảo
Vệ và Lê Thanh Phong, 2011)
28
3.4 Phần trăm (%) các tỉ lệ rộng liếp/rộng mương tại các vườn xoài
huyện Châu Thành A, Hậu Giang
29
3.5 Tỉ lệ (%) các hộ trồng xoài có pH đất vườn đạt (5,5-7,0) và
không đạt (<5,5) yêu cầu tại huyện Châu Thành A, Hậu Giang 30
3.6 Tỉ lệ (%) các vườn có và không có bờ bao ngạn tại huyện Châu
3.10 Tỉ lệ (%) lượng đạm được nông dân bón cho các vườn xoài ở
thời kỳ cho trái tại huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang
34
3.11 Tỉ lệ sử dụng các loại phân bón lá/chất kích thích sinh trưởng
của các nông hộ trồng xoài ở huyện Châu Thành A, Hậu
Giang
35
3.12 Tỉ lệ (%) các thời điểm phun thiourea sau khi tưới
paclobutrazol của các hộ trồng xoài ở huyện Châu Thành A,
Trang 123.15 Cây xoài bị xén tóc đục thân gây hại nặng và đang chết dần 38
3.17 Vết bệnh đốm đen vi khuẩn trên trái xoài 40 3.18 Khuẩn lạc chủng nấm Col.CTA.HG.5 ở thời điểm 10 ngày sau
nuôi cấy (A: mặt trên; B: mặt dưới)
42 3.19 Khuẩn lạc chủng nấm Col.CTA.HG.13 ở thời điểm 10 ngày
sau nuôi cấy (A: mặt trên; B: mặt dưới)
43
3.20 Khuẩn lạc chủng nấm Col.CTA.HG.10 ở thời điểm 10 ngày
sau nuôi cấy (A: mặt trên; B: mặt dưới)
43
3.21 Khuẩn lạc chủng nấm Col.CTA.HG.31 ở thời điểm 10 ngày
sau nuôi cấy (A: mặt trên; B: mặt dưới)
3.24 Các dạng bào tử của nấm C gloeosporioides 47
3.26 Các dạng khuẩn lạc của nấm C gloeosporioides ở thời điểm
10 NSNC (A): Mặt trên khuẩn lạc; (B): Mặt dưới khuẩn lạc
49
3.27 Các dạng khuẩn lạc của nấm C acutatum ở thời điểm 10
NSNC (A): Mặt trên khuẩn lạc; (B): Mặt dưới khuẩn lạc
50
3.28 Vết thương trên trái xoài của nghiệm thức đối chứng ở thời
điểm 11 NSKC
53
3.29 Vết bệnh thán thư trên trái xoài của chủng Col.CTA.HG.4 và
Col.CTA.HG.29 ở thời điểm 7 NSKC
54
3.30 Vết bệnh thán thư trên trái xoài của chủng Col.CTA.HG.4 và
Col.CTA.HG.29 ở thời điểm 11 NSKC
54
Trang 13Nguyễn Trọng Tuấn, 2014 “Điều tra hiện trạng canh tác và định danh một số chủng
nấm gây bệnh thán thư trên xoài (Mangiferae indica L.) tại huyện Châu Thành A,
tỉnh Hậu Giang bằng kỹ thuật PCR” Luận văn tốt nghiệp đại học, ngành Bảo vệ thực vật, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng Trường Đại học Cần Thơ Cán
bộ hướng dẫn: Th.S Lê Phước Thạnh
TÓM LƯỢC
Đề tài “Điều tra hiện trạng canh tác và định danh một số chủng nấm gây
bệnh thán thư trên xoài (Mangiferae indica L.) tại huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu
Giang bằng kỹ thuật PCR” được thực hiện từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2014 nhằm tìm hiểu và đánh giá thực trạng canh tác xoài của nông dân tại địa phương, từ đó, xác định các yếu tố canh tác chính ảnh hưởng đến tình hình bệnh thán thư trên xoài Kết hợp với khâu điều tra, đề tài còn tiến hành thu mẫu bệnh thán thư để phân lập
và định danh một số chủng nấm gây bệnh để làm cơ sở cho các khuyến cáo phòng trị bệnh đạt hiệu quả
Qua quá trình điều tra, thực trạng canh tác xoài của nông dân được ghi nhận như sau:
- Về tình trạng sử dụng giống, có 100% nông hộ sử dụng giống xoài Cát Hòa Lộc để canh tác Trong đó, số hộ chỉ tự để giống 68,75% nông hộ
- Về khâu thiết kế mương liếp: chiều rộng liếp biến động từ 3,5 – 12 m, chiều rộng mương thay đổi từ 2 – 6 m Tỉ lệ rộng liếp/rộng mương thay đổi từ 0,88 đến 3,2 Tỉ lệ này cho biết hiệu quả sử dụng đất vườn Số hộ có tỉ lệ rộng liếp/rộng mương hợp lý theo khuyến cáo (1,1 - 2,4) chiếm đa số 78,13%
- Về bờ bao chống lũ: các vườn có bờ bao chiếm đa số với tỉ lệ khá cao 65,63%, còn các vườn không có bờ bao chiếm 34,37%
- Về khoảng cách trồng, 93,75% các hộ có khoảng cách trồng xoài đúng theo khuyến cáo (5 - 8 m)
- Về pH của đất vườn, 93,75% nông hộ có giá trị pH thấp hơn khuyến cáo (pH < 5,5)
- Về bón vôi xử lý đất, có 50% nông hộ không bón vôi
- Về tình hình sử dụng phân hữu cơ: 100% nông dân trồng xoài không bón các dạng phân hữu cơ hoai mục cho cây
Trang 14- Về tình hình sử dụng phân hóa học: có đến 87,1% nông hộ bón thiếu đạm, 96,77% nông hộ bón thiếu lân và 100% nông hộ bón thiếu kali
- Về tình trạng xử lý ra hoa nghịch vụ, có đến 100% vườn xoài đang trong độ tuổi cho trái tiến hành xử lý cho cây ra hoa trong mùa mưa ở ĐBSCL Thời gian
xử lý dao động từ tháng 6 - 11 dl, đây là khoảng thời gian thường hay có mưa, trời
âm u, ít nắng nên bệnh có điều kiện gây hại nặng
- Về côn trùng gây hại xoài: xén tóc đục thân loài côn trùng gây hại bổ biến nhất Có 96,88% các hộ trồng xoài bị gây hại bởi loài này Nông dân không có biện pháp thật sự hữu hiệu để phòng trị, nên 100% nông hộ tiến hành phòng trị bằng việc bắt thủ công kết hợp với tiêm thuốc trừ sâu vào đường đục
- Về bệnh hại: 100% các vườn xoài đều bị nhiễm bệnh thán thư Trong đó, các vườn có tỉ lệ diện tích nhiễm từ 50% trở lên chiếm tỉ lệ khá cao 71,88% Ngoài, thán thư, bệnh xì mũ trái cũng xuất hiện và gây hại quan trong, có 34,38% nông hộ gây hại bởi bệnh này
Song song với mảng điều tra thực trạng canh tác xoài, mảng phân lập và định
danh các chủng nấm đạt được kết quả như sau: 29 chủng nấm Colletotrichum đã
được phân lập, trong đó có 7 chủng đã được định danh đến loài bằng kỹ thuật PCR, bao gồm 5 chủng Col.CTA.HG.1, Col.CTA.HG.2, Col.CTA.HG.6, Col.CTA.HG.8
và Col.CTA.HG.9 là loài C gloeosporioides, còn 2 chủng Col.CTA.HG.3, Col.CTA.HG.4 là loài C acutatum
Để tuyển chọn chủng nấm độc tính mạnh nhất trong 29 chủng phân lập được, thí nghiệm đánh giá khả năng gây bệnh của nấm đã được thực hiện Hai chủng Col.CTA.HG.4 và Col.CTA.HG.29 được ghi nhận có chỉ số bệnh lớn nhất ở thời điểm 11 ngày sau khi chủng bệnh, có khác biệt ý nghĩa với 14 chủng khác, nhưng không khác biệt ý nghĩa với 12 chủng còn lại Vậy khả năng gây bệnh của các chủng nấm nhìn chung là tương đương nhau Về khả năng tạo bào tử, ghi nhận ở thời điểm 10 ngày sau nuôi cấy, chủng nấm Col.CTA.HG.10 có mật số bào tử lớn nhất, đạt 1,17x108 bào tử/đĩa petri và khác biệt ý nghĩa với các chủng còn lại Về kích thước khuẩn lạc, ghi nhận ở thời điểm 10 ngày sau nuôi cấy không có chủng nấm nào có kích thước vượt trội mang ý nghĩa thống kê
Trang 15MỞ ĐẦU
Xoài là loại cây ăn trái nhiệt đới được trồng trên 80 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới và nhu cầu về sản lượng ngày càng gia tăng Năm 2012, Việt Nam là nước đứng hạng thứ 13 trên thế giới về sản lượng xoài, đạt 775.942 tấn trái với diện tích trồng xoài cả nước là 73.690 ha (Smith, 2014) Riêng ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), diện tích trồng xoài là 43.000 ha chiếm trên 49% diện tích trồng xoài cả nước và năm 2010 đưa ra thị trường khoảng 562.850 tấn trái (Viết Anh, 2011) Cùng với nhiều loại cây ăn trái khác, xoài cũng là loại cây đặc sản có giá trị kinh tế cao và được trồng rộng rãi ở các tỉnh như Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Hậu Giang và Cần Thơ Tiềm năng thương mại của xoài rất lớn, Việt Nam
đã xuất khẩu xoài sang các nước như Hồng Kông, Australia, Singapore và đã mở rộng thêm thị trường EU, Nga, Trung Quốc, Campuchia với xoài Cát Hòa Lộc, Cát Chu (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011)
Hiện nay, tình trạng xử lý ra hoa xoài nghịch vụ rất phổ biến trong nông dân nên tình hình sâu, bệnh hại trên xoài diễn biến rất phức tạp, đặc biệt là bệnh thán thư Bệnh đang xảy ra và gây hại rất nghiêm trọng vào mùa mưa (mùa nghịch) và
rất khó phòng trị Bệnh thán thư trên xoài do các loài nấm Collecotrichum spp gây
ra Các nghiên cứu của Ploectz (2003), Naqvi (2004), Cooke et al., (2009), Honger (2014) cho rằng hai loài nấm C acutatum và C gloeosporioides là tác nhân chính
gây ra bệnh Các đặc điểm hình thái học của hai loài này khá biến động nên khó phân biệt chúng nếu chỉ dựa vào tiêu chí hình thái học, nhưng với phương pháp sinh học phân tử sẽ giúp định danh chính xác hai loài này Theo một nghiên cứu đã
công bố của Jayasinghe & Fernando (2009), hai loài nấm C acutatum và C
gloeosporioides có mức độ phản ứng với thuốc trừ nấm carbendazim là khác nhau
Cụ thể là, loài nấm C acutatum không bị mẫn cảm với thuốc trừ nấm gốc carbendazim, còn loài C gloeosporioides có tính mẫn cảm cao với loại thuốc trừ
nấm này Do đó, việc điều tra khảo sát để đánh giá hiện trạng canh tác xoài của nông dân là rất quan trọng trong việc tìm ra nguyên nhân của việc bùng phát và gây hại của các loại dịch hại này Đồng thời, việc xác định tên loài nấm gây ra bệnh thán thư trên xoài cũng góp phần hỗ trợ phòng trị bệnh thán thư Chính vì thế mà
đề tài “Điều tra hiện trạng canh tác và định danh một số chủng nấm gây bệnh
thán thư trên xoài (Mangiferae indica L.) tại huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu
Giang bằng kỹ thuật PCR” được thực hiện
Trang 16CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu sơ lược về cây xoài
1.1.2 Đặc điểm thực vật
1.1.2.1 Rễ
Phần lớn rễ tập trung trong phạm vi cách gốc 2 m trở lại ở tầng đất 1,25 m, riêng rễ cái có thể ăn sâu từ 6 - 8 m Trong những năm đầu bộ rễ phát triển nhanh hơn các bộ phận khác trên cây, đến năm thứ 5, 6 rễ ăn sâu xuống đến 5,5 m (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011)
1.1.2.2 Thân và tán lá
Xoài là cây thân gỗ, mọc rất khỏe Thân thường cao 10-12 m, tán có độ rộng tương đương hoặc rộng hơn nhiều (Nguyễn Hoàng Anh, 2009) Theo Nguyễn Bảo
Vệ và Lê Thanh Phong (2011), tỉ lệ giữa chiều cao cây và chiều rộng tán cho biết
sự phát triển cân đối của cây, hầu hết các giống đều tập trung trong khoảng từ 0,9
- 1,3
1.1.2.3 Lá
Lá thuộc dạng đơn nguyên hình lưỡi mác thuôn, màu xanh đậm, có độ dai Khí khẩu có ở hai mặt lá, nhưng mặt dưới nhiều hơn (Singh, 1968 trích dẫn bởi Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011) Lá non ra trên các chồi mới, mọc đối xứng, một chùm có từ 7 - 12 lá Khoảng 2 tuần sau khi mọc, lá non phát triển đầy
đủ kích thước, nhưng đến khoảng 35 ngày là mới chuyển xanh hoàn toàn (Nguyễn Hoàng Anh, 2009)
1.1.2.4 Hoa
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2011), điểm sinh trưởng của hoa xoài nằm ở chỗ cuối của chồi non sinh ra từ nách lá Hoa xoài thường mọc thành chùm ở ngọn cành Chùm hoa to, dài khoảng 30 cm, nhưng cũng có trường hợp hoa ra từng cành nhỏ chen với lá ở ngọn cành (Nguyễn Hoàng Anh, 2009) Một chùm hoa xoài có cả hai loại hoa: đơn tính và lưỡng tính Mỗi hoa mang từ 0 - 2 bao phấn hữu thụ và 0 - 6 bao phấn bất thụ Tỉ lệ hoa lưỡng tính thay đổi tùy giống
và điều kiện thời tiết (Trần Văn Hâu, 2009)
Trang 171.1.2.5 Trái
Trái xoài có hình trứng đến thuôn dài, chiều dài trái từ 8 - 10 cm, rộng trái từ
6 - 7 cm, thịt trái có màu vàng, từ vàng nhạt đến vàng, hơi đỏ, hoặc màu hơi lục giống vỏ trái, có mùi thơm dễ chịu, ở một vài loại trái có mùi hôi Giữa trái có hột,
vỏ bao hột rất cứng, hình dạng và kích thước tùy giống (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011)
1.1.3 Một số yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh trong canh tác xoài
1.1.3.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ lý tưởng cho sự ra hoa và phát triển của trái xoài là dao động quanh
33oC và còn khoảng thuận lợi để cây xoài sinh trưởng dinh dưỡng là trong khoảng
từ 25 - 270C (Galán Saúco, 2009 trích dẫn bởi Paull & Duarte, 2011)
Theo Trần Thế Tục (2000), nhiệt độ thích hợp để canh tác xoài là từ 24 - 26oC, tháng lạnh nhất không dưới 15oC
Tuy nhiên, nhiệt độ cao (46oC), hoặc nhiệt độ thấp (5 - 10oC) xoài cũng có thể chụi đựng được Thời gian lạnh kéo dài sẽ làm cây bị rụng lá, rụng hoa, ảnh hưởng đến sự phát triển của trái (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011)
1.1.3.2 Lượng mưa và ẩm độ không khí
Lượng mưa khoảng 1000 mm/năm và phân bố đều giữa các tháng trong năm
là thích hợp nhất, có thể trồng mà không cần tưới Giới hạn 500 – 1.500 mm/năm cũng được xem là điều kiện khá tốt khi quyết định trồng xoài Ngoài giới hạn này phải có những biện pháp điều chỉnh ẩm độ cho thích hợp Vùng có lượng mưa thấp (250 - 300 mm/năm) vẫn trồng được nếu có điều kiện tưới Còn vùng có lượng mưa cao (hơn 1500 mm/năm) xoài vẫn mọc tốt nhưng ra lá nhiều, hoa ra ít và nhiều sâu bệnh (Vũ Công Hậu, 2000)
Lượng mưa và ẩm độ cao là điều kiện để nấm bệnh phát triển, đặc biệt là xì
mủ trái và thán thư Tỷ lệ đậu trái trên cây bị ảnh hưởng nếu mưa đúng vào lúc hoa nở, vì mưa nhiều làm giảm sự hoạt động của côn trùng, do đó sự thụ phấn khó thành công Vì vậy, mùa khô là thời điểm ra hoa tốt nhất (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011)
1.1.3.3 Gió
Gió là nguyên nhân gây nên rụng hoa, rụng trái, vì vậy khi quy hoạch vườn chuyên canh xoài nên lưu ý đến điều này Tác hại rất lớn của gió bảo ảnh hưởng mạnh đến vùng trồng xoài chuyên canh như Philippine, đây là quốc gia phải chịu nhiều thiệt hại do gió xoáy làm giảm sản lượng Khu vực ĐBSCL có vận tốc gió trung bình dưới 3 m/giây, hiếm khi có trung tâm bảo đi qua, nên không cần phải lập vành đai chắn gió cho xoài (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011)
Trang 18là xoài Châu Hạng Võ chịu ngập tốt hơn (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Vĩnh Thúc, 2003, trích dẫn bởi Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011)
Cây xoài chịu đựng phèn trong đất tương đối khá, nhiều giống xoài mọc tốt ở đất phèn Đồng Tháp Mười, Bán Đảo Cà Mau của ĐBSCL (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011)
Theo Vũ Công Hậu (2000) độ pH đất thích hợp cho xoài là từ 5,5 đến 7,5 Ngoài ra, xoài còn có thể chịu được độ mặn của muối trong nước từ 0,04 - 0,05%
1.1.3.5 Nước
Cây xoài là loại cây chịu hạn tốt nhưng để đảm bảo sản lượng thương phẩm thì phải cung cấp đủ nước tưới Vùng ĐBSCL có mực nước ngầm cao nên không
sợ thiếu nước vào mùa khô (Vũ Công Hậu, 2000)
Nhu cầu tổng lượng nước trung bình cung cấp cho 1 ha xoài/năm khoảng 11.000 m3, kể cả lượng mưa Sau khi thu hoạch, tưới thường xuyên để duy trì độ
ẩm cho đất, tưới nước đủ ẩm để rễ dễ phát triển và hạn chế rụng trái non vào mùa khô (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011)
1.1.4 Phân bón
Cây xoài là một loại cây phản ứng mạnh với phân bón, có thể phục hồi nhanh chóng sau một thời gian dài kiệt quệ do thiếu dinh dưỡng (Ruchle, 1951 trích dẫn bởi Vũ Công Hậu, 2000)
Theo Vũ Công Hậu (2000) rễ xoài ăn sâu và rộng phân bố nhiều ở độ sâu 15
cm cách mặt đất, còn lại chủ yếu ở độ sâu từ 30 - 60 cm Do đó phải bón nông, càng ít động đến rễ càng tốt
Quy trình bón phân cho xoài (Vũ Công Hậu, 2000):
- Bón vào hố trước khi đặt cây: mỗi hố bón 20-25 kg phân chuồng hoai mục, 2,5 kg super lân, 1 kg kali clorua trộn với lớp đất mặt theo tỷ lệ phân/đất mặt khoảng 1/3
- Bón cho cây non năm thứ nhất: 170 g ure, 112 g super lân, 114 g kali clorua Năm thứ hai bón một lượng gấp đôi năm nhất Năm thứ ba bón gấp 3 lần năm nhất và cứ như thế cho đến năm thứ 10
Trang 19Gần đây, nghiên cứu của Phan Huỳnh Anh (2013) đã cho thấy công thức bón phân N : P2O5 : K2O= 1,3-1,4 : 1,1 : 1,4-1,6 kg/cây/năm cho năng suất cao nhất và giữ nguyên phẩm chất trái ở cả 3 độ tuổi của cây xoài Cát Hòa Lộc: <15, 15-30,
>30 năm
Thời gian bón nên chia làm 2 lần bón trên năm: Lần 1 là khi bắt đầu mùa mưa
và lần 2 vào lúc vừa thu hoạch quả xong (Nguyễn Hoàng Anh, 2009) Còn theo Trần Thế Tục (2000), hai thời điểm bón phân cho xoài là trước khi cây ra hoa và sau khi thu hoạch trái
Về nhu cầu phân hữu cơ cho xoài, Nguyễn Bảo Vệ (2014) đã khuyến cáo bón phân hữu cơ cho cây xoài như sau:
Bảng 1.1: Liều lượng phân hữu cơ cho cây xoài ở các lứa tuổi (Nguyễn Bảo Vệ, 2014)
Tuổi cây (kg/cây/năm) Hữu cơ
Về nhu cầu vôi, Nguyễn Bảo Vệ (2014) cũng đã khuyến cáo bón với hàm lượng như sau:
Bảng 1.2: Liều lượng vôi cần bón cho xoài ở các độ tuổi (Nguyễn Bảo Vệ, 2014)
Khoanh nhánh hay thân (tạo vết thương trên thân): Kết quả cho thấy khấc trên thân 60 - 75 ngày trước khi phun Nitrate kali sẽ làm tăng tỉ lệ ra hoa và thu hoạch
Trang 20sớm hơn đối chứng 23 ngày, nhưng sự sinh trưởng dinh dưỡng của cây bị khấc kém hơn đối chứng
Xử lý hóa chất: Sử dụng các chất ức chế quá trình sinh tổng hợp GA, làm giảm sự sinh trưởng của cây như: Chlormequat chloride, Paclobutrazol Sau một khoảng thời gian sau đó, dùng Thioure và Nitrate kali để phá miên trạng cho xoài
Tập quán sinh sống và cách gây hại:
Thành trùng thường bị thu hút bởi ánh sáng đèn vào đầu mùa mưa khi vừa trưởng thành.Thành trùng cái đẻ trứng trong các cháng ba của cây, trong các vết nức hay vết thương ở trên thân cây Ấu trùng khi mới nở ăn vỏ cây thành những đường ngoằn ngoèo không đều nhau Càng lớn ấu trùng ăn càng nhiều và gây ra tiếng động rất dễ nghe thấy Sau đó chúng đục vào thân do các vết bệnh trên thân
và đục dần lên Đôi khi không có điểm thích hợp để đục vào, ấu trùng di chuyển dần xuống phía dưới gốc và đục vào bên trong làm thành những đường hầm ngoằn ngoèo bên trong thân, các đường này chứa phân do chúng thải ra (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Biện pháp phòng trị:
Không nên chặt hay lột vỏ cây để kích thích cây ra trái vì sẽ tạo nơi thuận tiện cho thành trùng cái đến đẻ trứng Có thể dùng bẩy đèn để bắt bớt thành trùng Thường xuyên thăm vườn cây và nếu phát hiện thấy cây bị hại nhưng nhẹ thì có thể dùng cây xoi lỗ xong nhét thuốc trừ sâu dạng hột vào bên trong thân cây, sau
đó trét đất lại (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
1.2.2 Côn trùng đục ngọn, cành non
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), tại ĐBSCL có 6 loài côn trùng gây hại bằng cách ăn phá trong ngọn, chồi, cành non của cây xoài Trong đó có 2 loài thuộc
Bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) và 4 loài thuộc Bộ Cánh cứng (Coleoptera) Hai loài
thuộc Bộ cánh vẩy là Chlumetia transversa (Walker) và Dudua aprobola
(Meyrick) Còn trong 4 loài thuộc Bộ Cánh cứng thì có 2 loài gây hại quan trọng
là Vòi voi 1 và Vòi voi 2 đều chưa định danh
Dưới đây là thông tin mô tả về 2 loài đã được định danh là Chlumetia
transversa (Walker) và Dudua aprobola (Meyrick):
Trang 21 Chlumetia transversa (Walker)
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), cách gây hại và biện pháp phòng trị của
cả hai loài này tương tự nhau
- Tập quán sinh sống và cách gây hại:
Thành trùng đẻ trứng vào ban đêm, trứng được đẻ rãi rác từng cái một trên chồi non, lá non Sâu mới nở thường đục ngay vào gân chính, cuống lá non hoặc chồi non, sau đó sâu chui dần xuống thân xoài non Chồi bị hại sau đó sẽ bị héo, khô Nếu sâu tấn công trên bông sẽ làm bông bị khô và rụng Trong quá trình gây hại, sâu cũng được ghi nhận ăn cả lá non (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
- Biện pháp phòng trị:
Vào giai đoạn ra đọt rộ, quan sát chồi, nếu thấy sâu và chồi héo, cần loại bỏ ngay để diệt sâu hiện diện trong cành non Khi bị nhiễm có thể sử dụng các loại thuốc hóa học để phòng trị, có thể sử dụng các loại thuốc gốc lân hoặc gốc cúc tổng hợp Điều quan trọng là nên sử dụng thuốc luân phiên để trành tình trạng sâu quen thuốc (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
1.2.3 Rầy hại bông xoài
Ở đồng bằng sông Cửu Long, thành phần rầy gây hại trên bông gồm ít nhất
ba loài, trong đó quan trọng nhất là Idioscopus nitidulus và Idiocopus clypealis (Lê
Tập quán gây hại
Trang 22Ấu trùng và thành trùng tập trung chích hút nhựa từ bông xoài Những bông xoài bị gây hại nặng có thể bị chuyển màu nâu đen rồi khô, ảnh hưởng đến hình thành trái, ngoài ra rầy còn tiết ra chất dịch ngọt hấp dẫn sự tấn công của nấm bồ hóng Rầy đẻ trứng vào hoa hoặc cành cây xoài (CABI, 2012) Một con cái có thể
đẻ 100 - 200 trứng (Lê Thị Sen, 2000) Cả hai loài Idioscopus nitidulus và
Idiocopus clypealis đều có thời gian ủ trứng 5 – 6 ngày, ấu trùng có 4 tuổi thời gian
tương ứng 7 - 10 ngày (I nitidulus) và 9 – 12 ngày (I clypealis) Thành trùng sống
4 - 7 ngày (I nitidulus) và 3 - 6 ngày (I clypealis) (Hiremath and Thontadayrya,
1991; trích dẫn bởi Lê Thị Sen, 2000)
Biện pháp phòng trị
Sau thu hoạch cần tiến hành vệ sinh vườn, cắt tỉa cành nhánh cho thông thoáng nhằm hạn chế sự gây hại của rầy Trước giai đoạn ra hoa từ 1 đến 2 tuần có thể sử dụng bẩy đèn để thu hút thành trùng Ở những vùng thường xuyên bị nhiễm rầy, nên phun thuốc hóa học phòng trừ rầy vào giai đoạn hoa vừa nhú
1.3 Một số bệnh hại quan trọng trên xoài
1.3.1 Bệnh thán thư (Anthracnose)
1.3.1.1 Triệu chứng
Trên xoài, bệnh thán thư là bệnh quan trọng nhất, ảnh hưởng đến cây trồng bằng cách làm hư hại phát hoa, tạo ra những đốm nâu, đen trên lá, và đặc biệt là gây ra những đốm màu nâu đến đen lõm vào phần thịt trái khi nó gần tới giai đoạn chín (Agrios, 2005)
Bệnh gây hại trên tất cả các bộ phận trên mặt đất của cây
Trên lá: Vết bệnh lúc đầu là các chấm đen nhỏ Sau đó, các vết bệnh này lan
ra và liền lại thành mảng lớn, nâu đen và khô lại Phần diện tích bị bệnh này thường
bị rách và có thể tách rời khỏi phần mô khỏe Chồi non mới mọc rất dễ bị bệnh
Trên hoa: Vết bệnh ban đầu cũng là các chấm đen nhỏ phân bố không đều
Sau đó, vết bệnh lan rộng và liền lại là nguyên nhân làm các hoa rơi rụng
Trên trái: Bệnh có thể phát triển từ lúc trái non mới hình thành, tạo ra những
đốm đen và làm rụng trái Trái phát triển đến đường kính khoảng chừng 4 – 5 cm thì sự xâm nhiễm của mầm bệnh chậm lại hoặc không tạo ra vết bệnh cho đến khi trái chín Các vết bệnh lan ra, hình dạng bất định, hình thành các vùng trũng nâu đen và mềm trên bề mặt trái chín Trong điều kiện ẩm độ không khí cao, tại các vùng trũng này sẽ mọc các khối sợi nấm Vết bệnh cũng có thể xuất hiện ở phần cuống trái Bào tử nấm từ các vết bệnh khác trên cây có thể bị rửa trôi đến bám lên
bề mặt của trái Bào tử cũng tồn tại trong các giọt nước trên bề mặt trái, sau đó nẩy mầm xâm nhiễm và phát triển vết bệnh suốt trong quá trình chín của trái Các giọt
Trang 23nước này cũng là điều kiện thuận lợi cho các loại nấm bệnh khác tấn công gây hại
(Cooke et al., 2009)
1.3.1.2 Tác nhân
Theo Ploetz (2003) có 3 chủng nấm có quan hệ gần gũi đã được phân loại gây bệnh thán thư trên xoài:
- Nấm Colletotrichum gloeosporioides Penz & Sacc: Đây là loài nấm sinh sản
vô tính Giai đoạn sinh sản hữu tính nấm có tên khoa học là Glomerella
cingulata
- Nấm C gloeosporioides var minor: Đây là loài có quan hệ gần gũi với loài C
gloeosporioides Penz & Sacc nhưng bào tử đính có kích thước nhỏ hơn Theo
Honger (2014), loài C gloeosporioides var minor chỉ được ghi nhận xuất hiện
ở Australia
- Nấm C acutatum: Đây là loài nấm sinh sản vô tính Giai đoạn sinh sản hửu
tính nấm có tên khoa học G acutata
1.3.1.3 Biện pháp quản lý
Biện pháp cánh tác:
Cắt tỉa cành bệnh, tạo tán lá thông thoáng để hạn chế sự lây lan, phát triển của
mầm bệnh Nấm C gloeosporioides dễ dàng xâm nhiễm và gây bệnh khi có vết
thương trên mô cây Do đó, phải vệ sinh dụng cụ cắt tỉa và tránh các hành động làm tổn thương không cần thiết (Vũ Triệu Mân, 2007)
Biện pháp hóa học:
Áp dụng thuốc trừ nấm vào giai đoạn bông và trái để làm giảm thiệt hại do
bệnh Nếu phòng trị bệnh trước khi cây ra hoa sẽ tăng khả năng đậu trái (Jeffries et
al., 1990 trích dẫn bởi Ploetz, 2003)
Sử dụng Mancozeb với nồng độ 200 g/100 lít nước để phun vào giai đoạn ra hoa để bảo vệ phát hoa Nếu trời mưa, việc phối trộn Mancozeb với Prochloraz sẽ hiệu quả hơn Đối với công tác bảo quản trái sau thu hoạch nên áp dụng nhúng quả vào dung dịch nước nóng có chứa benomyl trong 5 phút (Vũ Triệu Mân, 2007) Nước được sử dụng để nhúng xoài có nhiệt độ khoảng 55oC nhúng trong 5 phút, còn khi áp dụng thêm thuốc trừ bệnh (benomyl hoặc imazalil) trong nước thì nên giảm nhiệt độ của nước xuống khoảng 52-53oC (Ploetz, 2003)
Phòng trị bệnh thán thư trên các giống xoài mẫn cảm với mầm bệnh và trong môi trường thuận lợi cho sự phát triển của mầm bệnh cần phải áp dụng thuốc trừ nầm theo định kỳ Chọn đúng thời điểm và số lần phun thuốc là rất quan trọng trong việc kiểm soát bệnh thán thư Nên bắt đầu phun thuốc khi phát hoa xoài vừa nhú cho đến khi trái có đường kính khoảng 2,5-5 cm (Nelson, 2008)
Trang 24 Biện pháp sinh học:
Theo nghiên cứu của Admasu, W & ctv (2013), các loài nấm Trichoderma spp và vi khuẩn vùng rễ Bacillus spp thể hiện khả năng đối kháng tích cực với nấm C gloeosporioides trên môi trường PDA Kết quả này hứa hẹn sẽ tìm ra một
biện pháp phòng trừ sinh học có triển vọng đến với bệnh thán thư trên xoài
1.3.2 Bệnh đốm đen vi khuẩn (Bacterial black spot)
1.3.2.1 Triệu chứng
Trên lá: Vết bệnh có màu nâu đến đen, hơi lồi lên bề mặt lá và có độ nhớt Vết bệnh lan rộng với dịch nhựa cây và vi khuẩn Thông thường, vết bệnh bị giới hạn bởi gân lá Bệnh có thể xuất hiện trên các đọt non, tán lá trưởng thành và các phần bị tổn thương của cây Bao quanh vết bệnh là viền vàng và có thể trở nên xám
và theo thời gian có thể bị tách khỏi phiến lá So với vết bệnh thán thư, vết bệnh vi khuẩn có màu tối hơn và nhiều gốc cạnh rõ nét, thường có độ nổi so với bề mặt lá Bệnh còn tấn công cuống lá và cành non Các vết bệnh gần nhau có thể liền lại và phá hủy một diện tích lớn của lá
Trên trái: Ban đầu vết bệnh thường xuất hiện từ các khí khổng bất kỳ, đẫm nước tạo ra các đốm bởi sự xâm nhiễm của giọt vi khuẩn Các vết bệnh li ti này nằm sát nhau và nhìn có vẻ giống vết chích của ruồi đục trái gây ra Vết bệnh không
ăn sâu, gây biến dạng bề mặt trái và làm giảm phẩm chất của trái Tổn thương do vết bệnh gây ra trên trái có ảnh hưởng quan trọng nhất về phương diện kinh tế
Trang 25Hai loại hoạt chất streptocycline ở nồng độ 300 ppm và copper oxychloride ở nồng độ 0.3% cho hiệu quả phòng trị bệnh vi khuẩn trên xoài Phun Bavistin (1.000 ppm) định kỳ hàng tháng cũng có hiệu quả làm giảm thiệt hại của bệnh Ngoài ra, Bavistin (1000 ppm) cũng được tiêm vào thân cây xoài khoảng từ 3 - 5 năm tuổi cho thấy hiệu quả phòng trị bệnh (Naqvi, 2004).
Biện pháp sinh học
Vi khuẩn Bacillus coagulans có hiệu quả đối kháng với vi khuẩn
Xanthomonas campestris pv Mangiferaeindicae Đây là loài vi khuẩn có tiềm năng
trong việc phòng trị bệnh đổm vi khuẩn trên xoài Bên cạnh loài vi khuẩn trên, hai
loài vi khuẩn B subtilis và B amyloliquifaciers còn cho hiệu quả đối kháng cao
hơn và có triển vọng phát triển một biện pháp phòng trị sinh học hiệu quả đối với bệnh này (Naqvi, 2004)
1.4 Phân loại và đặc điểm của nấm Colletotrichum gây bệnh thán thư trên xoài 1.4.1 Đặc điểm các loài nấm Colletotrichum gây bệnh thán thư trên xoài
*Colletotrichum gloeosporioides:
Đây là loài nấm có phổ ký chủ rộng nhất trong chi Colletotrichum Gây ra
bệnh trên nhiều loại cây trồng quan trọng như: bơ, sầu riêng, mít, ổi, đu đủ, măng cụt, mẵng cầu xiêm, chôm chôm, na, vải, xoài
Trên môi trường PDA, khuẩn lạc có màu từ trắng đến xám tối Bào tử đính trong suốt, đơn bào, hình trụ vởi hai đầu dạng tù tròn hoặc hình elip với hai đầu tròn hẹp dần về đỉnh và có kích thước dao động trong khoảng 7 - 20 x 2,5 - 5 µm Bào tử nang cũng có dạng đơn bào, trong suốt nhưng hình cong và có kích thước dao động trong khoảng 14 - 20 x 5 - 6 µm Gai nấm có màu nâu, kích thước dao động trong khoảng 4 - 8 x 200 µm, bao gồm từ 2 đến 5 tế bào
Bào tử đính có vai trò rất quan trọng trong việc lây nhiễm bệnh Nhiệt độ 25
- 30oC và ẩm độ cao là điều kiện cần thiết cho sự nẩy mầm và xâm nhiểm của bào
tử (Ploetz, 2003)
Trang 26Hình 1.1: Hình dạng các thành phần cấu trúc của loài nấm C
gloeosporioides (Dạng hữu tính: Glomerella cingulata) (A) Ổ nấm với gai
cứng trên bề mặt vết bệnh, (B) Cuống bào tử đính, (C) Bào tử đính, (D) Thể quả nang, (E) Nang chứa bào tử, (F) Bào tử nang và (G) Đĩa áp (Ploetz, 2003)
*Colletotrichum acutatum:
Đây là một loài nấm đa ký chủ nhưng có phổ ký chủ hẹp hơn loài C
gloeosporioides Nấm gây bệnh trên một số loài cây ăn trái nhiệt đới như bơ, ổi,
vải, đu đủ và xoài Là nguyên nhân gây bệnh thán thư nhưng ít quan trọng hơn C
gloeosporioides
Trang 27Khuẩn lạc ban đầu có màu trắng rồi trở nên xanh xám, cam, sau đó trở thành màu xám hơi xanh lục hoặc đen Bào tử đính trong suốt, đơn bào, dạng thẳng, viền trơn, hình thoi và có kích thước dao động trong khoảng 8 - 16 x 2,5 - 4 µm Đĩa áp phân bố rãi rác thưa thớt, có màu nâu sáng đến nâu, hình chùy, có kích thước dao động trong khoảng 4,5 - 7,4 µm, với bề mặt trơn bằng phẳng (Ploetz, 2003)
Hình 1.2: Hình dạng các thành phần cấu trúc của loài nấm C acutatum (Dạng hữu tính: Glomerella acutatum) (A) Ổ nấm với gai cứng trên bề mặt
vết bệnh, (B) Cuống bào tử đính và gai cứng, (C) Bào tử đính và (D) Đĩa áp (Ploetz, 2003)
1.4.2 Các điều kiện ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm bệnh
*Nhiệt độ
Nhiệt độ tối ưu để bệnh thán thư xâm nhiễm là khoảng 25oC (Naqvi, 2004) Nhìn chung, quá trình xâm nhiễm sẽ diễn ra thuận lợi khi nhiệt độ môi trường nằm
Trang 28trong khoảng từ 20 - 30oC (Alemu, 2014) Trong phạm vi nhiệt độ này, những
chủng nấm C gloeosporioides được phân lập từ những nơi khác nhau sẽ có sự khác
biệt về nhiệt độ tối ưu cho sự nẩy mầm của bào tử và sự hình thành đĩa áp (Arauz,
2000 được trích dẫn bởi Alemu, 2014)
*Ẩm độ
Khả năng gây hại của nấm bệnh còn phụ thuộc nhiều vào ẩm độ, lượng mưa, sương mù hay sự ngựng tụ các giọt nước trên bề mặt mô cây, đặc biệt là vào thời điểm cây ra hoa Thời tiết ẩm ướt duy trì suốt thời điểm ra hoa sẽ làm cho tình trạng bệnh thêm trầm trọng Ẩm độ môi trường trên 95% kéo dài suốt 12 giờ là yếu tố
cần thiết để nấm C gloeosporioides xâm nhiễm và gây hại trên trái xoài Tiến trình
xâm nhiễm của nấm diễn ra nhanh hơn đối với vết thương hở của mô cây và với trái xoài giai đoạn chín (Naqvi, 2004)
Tuy nhiên, bào tử đính của nấm có thể tồn tại từ 1 đến 2 tuần trong điều kiện
ẩm độ thấp 62% và sau đó có thể nẩy mầm nếu ẩm độ môi trường là 100% (Alemu, 2014)
*Giống
Thí nghiệm của Dinh, S Q & ctv (2003) được tiến hành trên trái xoài với chủng nấm được sử dụng để chủng bệnh thán thư là C gloeosporioides cho thấy
có sự khác biệt về tính kháng bệnh thán thư của 6 giống xoài ở Thái Lan Trong
đó, 4 giống xoài bao gồm Nam Dok Mai, Nang Klang Wan và Chok Anan dễ bị tổn thương bởi nấm bệnh, còn 2 giống xoài còn lại là Rad và Kaew có thể hiện tính kháng
Tính kháng của một giống xoài đối với bệnh thán thư là không giống nhau ở tất cả các vùng sinh thái Do đó, một giống có thể là giống kháng ở đại phương này nhưng lại trở thành giống nhiễm của địa phương khác Sự khác nhau về tính kháng của một số giống xoài ở các vùng sinh thái khác nhau được thể hiện ở bảng sau Bảng 1.3 Mức độ kháng đối với bệnh thán thư của một số giống xoài ở một quốc gia (vùng lãnh thổ) (Nelson, 2008)
Trang 29Caraboa Florigon,
Tommy Atkins,
Saigon
Manaranijan
Philippines
Palmer, Siam, Velei-Colomban, Joe Welch
Fernandin, Arumanis, Edward, Gedong, Tjenkir
Paris, Fairchild, Rapoza
Haden
Irwin, Sensation Kent, Keitt,
Tommy Atkins
1.5 Phương pháp sinh học phân tử để định danh loài nấm Colletotrichum
1.5.1 Tầm quan trọng của phương pháp phát hiện và định danh nấm bằng
sinh học phân tử
Việc định danh các loài nấm bệnh bằng phương pháp thông thường là dựa trên các đặc điểm sinh học về kiểu hình thường mất nhiều thời gian và bị ảnh hưởng bởi tính chất không ổn định và chủ quan của các đặc điểm về hình thái, trong đó nhất là dễ dàng bị ảnh hưởng bởi điều kiện nuôi cấy Ngược lại, phương pháp sinh học phân tử có liên quan đến trình tự gen là rất khách quan, kết quả định danh không bị ảnh hưởng bởi các điều kiện nuôi cấy vi sinh vật, nhanh hơn phương pháp dựa trên kiểu hình và có khả năng phân biệt được các loài nấm không của đủ các
đặc điểm về hình thái để định danh (Borman, A M., & et al, 2008)
Theo Capote, N., & at al (2012), việc phát hiện và xác định chính xác tác
nhân gây bệnh là một trong những chiến lược quan trọng để kiểm soát bệnh hại thực vật, thực hiện các biện pháp phòng ngừa và chửa bệnh Vì lý do đó, nhu cầu
về một phương pháp nhanh, nhạy, chính xác để phát hiện và xác định tác nhân gây
Trang 30bệnh là ngày càng cần thiết để cải thiện việc ra quyết định kiểm soát dịch bệnh Và phương pháp sinh học phân tử đã được phát triển để gia tăng độ tin cậy của các nghiên cứu về sự biến đổi di truyền của các tác nhân gây bệnh và ứng dụng vào việc mô tả loài mới
1.5.2 Xác định nấm bệnh bằng kỹ thuật PCR
1.5.2.1 Nguồn gốc và khái niệm
Phương pháp PCR (Polymerase Chain Reaction) là phản ứng dây chuyền nhờ hoạt động của enzyme DNA-polymerase - do K Mulis cùng cộng sự phát minh năm 1985, đã mang lại một cuộc cách mạng trong di truyền học phân tử Đây là phương pháp hoàn toàn mới trong việc nghiên cứu, phân tích gen và hệ gen Khó khăn lớn nhất trước đây trong việc phân tích gen là ở chỗ chúng là những mục tiêu đơn lẻ và rất nhỏ trong một hệ gen phức tạp khổng lồ Kỹ thuật PCR ra đời đã thay đổi tất cả, giúp chúng ta có thể tạo ra một số lượng lớn các bản sao của một đoạn DNA mong muốn (Bùi Chí Bửu, 2013)
Sử dụng phương pháp PCR để xác định nấm, đòi hỏi phải sử dụng cặp mồi được thiết kế đặc hiệu cho từng loài nấm, với cặp mồi này, trong quá trình phản ứng chỉ khuếch đại DNA từ loài nấm cần xác định Các primer cũng có thể được thiết kế cho vùng có nhiều đoạn copy như rDNA ITS (Ribosomal DNA Internal Transcribed Spacers) với mục đích tăng tính nhạy cảm Sử dụng phương pháp mồi đặc hiệu PCR có thể thích hợp với nhiều loại thiết bị, cho phép chạy nhiều mẫu một lúc Việc ứng dụng phương pháp này bao gồm việc phát hiện và xác định được sớm các loài nấm bệnh, sẽ kiềm chế được sự lan rộng sinh học của bệnh và kiểm soát được sự di chuyển của các mầm bệnh từ vùng này sang vùng khác (Phạm Quang Thu, 2009)
1.5.2.2 Nguyên tắc của phương pháp PCR
Nguyên tắc của phương pháp là tạo lượng lớn các đoạn DNA đặc thù từ DNA khuôn dựa trên cơ sở hoạt động của DNA-polymerase để tổng hợp sợi mới bổ sung (Bùi Chí Bửu, 2013)
Theo Bùi Chí Bửu (2013), các yếu tố cơ bản để thực hiện phản ứng PCR bao gồm:
- Sợi khuôn DNA chỉ cần biết trình tự nucleotide của đoạn nhỏ nằm cạnh đoạn cần nhân để thiết kế hai mồi oligonucleotide
- Hai đoạn mồi ngắn để xác định các điểm bắt đầu tổng hợp DNA Là tín hiệu chỉ hướng đi (5’ → 3’) của enzyme DNA-polymerase Mồi dài khoảng 20
Trang 31nucleotide và các nucleotide ở hai đầu của mồi không tự kết hợp với nhau theo nguyên tắc bổ sung
- Có đầy đủ các loại nucleotide dATP, dTTP, dGTP, dCTP
- Môi trường đệm cung cấp ion Mg và nước tinh khiết không có enzyme RNase và DNase
- Enzyme chịu nhiệt Thermus aquaticus (Taq)
- Dung tích tổng số cho một phản ứng PCR khoảng từ 20 µl đến 50µl
- Đặc điểm của phản ứng PCR là chọn lọc, nhậy và nhanh
Nguyễn Hoàng Lộc & ctv (2007) cho rằng từ chu kỳ thứ hai Taq polymerase
bắt đầu tạo ra các đoạn DNA có chiều dài xác định Các primer thường là một oligonucleotide tổng hợp (synthetic oligonucleotide) có khoảng 10-20 nucleotide hoặc dài hơn Nếu biết trình tự của đoạn gen cần khuếch đại thì có thể tổng hợp nhân tạo các primer tương ứng để thực hiện PCR và tách chúng ra bằng kỹ thuật điện di PCR thường tiến hành khoảng 25 – 35 chu kỳ, qua đó từ 10-6 µg DNA ban đầu có thể khuếch đại (amplification) lên tới trên 1 µg (khoảng 2 kb) Mỗi chu kỳ PCR bao gồm ba giai đoạn có nhiệt độ khác nhau:
- Gây biến tính (denaturation) ở 90 – 95 oC Trong giai đoạn biến tính phân
tử DNA khuôn mẫu ở dạng xoắn kép được tách thànhhai sợi đơn (single strands)
- Gắn primer (annealing) ở 40 – 65 oC Trong giai đoạn này các primer gắn vào các vị trí có trình tự tương đồng ở DNA khuôn mẫu Các liên kết ion tạo thành một đoạn nhỏ (các primer đã lắp ráp chính xác) và trên các đoạn nhỏ DNA sợi đôi
đó (khuôn mẫu và primer) enzyme Taq polymerase có thể bắt đầu quá trình sao chép khuôn mẫu
- Kéo dài phân tử (extension) ở 70 – 72 oC Đây là khoảng nhiệt độ tối thích cho Taq polymerase tiến hành tổng hợp DNA bắt đầu từ các vị trí có primer theo chiều 5’3’
1.5.3 Một số công trình định danh nấm Colletotrichum bằng kỹ thuật PCR
Theo Kamle, M., et al (2013), phương pháp PCR là phương pháp nhanh, nhạy
để nhận dạng loài nấm C gloeosporioides gây bệnh thán thư trên xoài Các cặp
mồi ITS1 và ITS4 đã được sử dụng để khuếch đại đoạn gen có kích thước 560 bp
nằm trong vùng ITS của chi nấm Colletotrichum Đoạn gen để nhận diện loài nấm
C gloeosporioides được lưu trữ ở ngân hàng gen NCBI có kí hiệu là HM10205 và
đoạn mồi của nó đã được thiết kế Để chứng tỏ đoạn mồi đã được thiết kế để định danh là chính xác, một phản ứng PCR nhạy đã được thực hiện với cặp mồi đã thiết
Trang 32kế là MKCgF 5`TTGCTTCGGCGGGTAGGGTC3` (mồi xuôi) và MKCgR 3`ACGCAA AGGAGGCTCCGGGA 5` (mồi ngược) thu được sản phẩm PCR là đoạn gen có kích thước 380 bp đặc trưng của loài Quá trình nghiên cứu đã cho
thấy loài nấm C gloeosporioides gây bệnh thán thư trên xoài đã cơ bản phân biệt được với các loài nấm cùng chi Colletotrichum như C acutatum, C falcatum và C
capsici gây bệnh thán thư trên các loại cây trồng khác
Ở Ấn Độ, loài C gloeosporioides gây bệnh thán thư trên phong lan cũng đã được định danh bằng kỹ thuật PCR bởi Chowdappa, Pallem, et al (2012) Kết quả
chạy PCR bằng các sử dụng mồi ITS4 thu được sản phẩm có độ dài 450 bp Đối
chiếu với dữ liệu của loài C gloeosporioides ở ngân hàng gen (NCBI), cho thấy
trình nucleotide của vùng ITS của ribosomal DNA (rDNA) của các chủng phân lập
có kết quả tương đồng 100% Vì vậy, nghiên cứu hiện tại đã chứng minh loài nấm
gây bệnh thán thư trên phong lan là C gloeosporioides trên cơ sở của các đặc điểm
hình thái, kết quả chạy PCR và giải trình tự đối chiếu với dữ liệu của ngân hàng gen
Trang 33CHƯƠNG 2
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Phương tiện
2.1.1 Thời gian và địa điểm
Thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 06/2014 đến tháng 12/2014 Địa điểm:
- Phòng thí nghiệm bệnh cây (C102), Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng Trường Đại học Cần Thơ
- Phòng thí nghiệm Sinh học phân tử, Viện Nghiên Cứu và Phát Triển Công Nghệ Sinh Học, Trường Đại học Cần Thơ
2.1.2 Phương tiện và vật liệu
Phương tiện và vật liệu sử dụng trong thí nghiệm: tủ cấy vi sinh, tủ thanh
trùng ướt (autoclave), tủ thanh trùng khô (hot air oven), lò vi sóng (microwave energy), máy đo pH, cân điện tử, máy lắc vortex, máy chạy điện
di, máy PCR, đĩa petri, ống nghiệm, ống falcon, đũa cấy, kính hiển vi, cốc thủy tinh, bình thủy tinh, kẹp gắp, đèn cồn, cồn 70o, nước cất một lần, nước cất hai lần, đầu col, micropipet, giấy thấm và một số dụng cụ khác
Mẫu bệnh thán thư xoài và mẫu đất: Mẫu bệnh thán thư xoài và mẫu đất
được thu tại các vườn xoài ở huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang
Giống xoài được sử dụng trong thí nghiệm chủng bệnh nhân tạo: là
giống xoài cát Hoà Lộc
Các loại môi trường nuôi cấy dùng trong thí nghiệm:
Môi trường WA (Water Agar)
Trang 34 Nguồn nấm sử dụng trong thí nghiệm: Nguồn nấm được phân lập từ
những mẫu bệnh thán thư thu được trong quá trình điều tra kỹ thuật canh tác xoài
Phương tiện, hóa chất sử dụng trong ly trích DNA nấm và chạy PCR
- Máy nghiền mẫu
- Máy ly tâm eppendorf (Centrifuge 5417C)
- Đầu col, micropipet
- Máy ly tâm chân không eppendorf (Concentrator 5301)
- Máy PCR
2.2 Phương pháp
2.2.1 Điều tra kỹ thuật canh tác xoài, thu mẫu bệnh thán thư, mẫu đất
Mẫu bệnh có triệu chứng nhiễm bệnh thán thư được thu thập tại các vườn xoài thuộc huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang Vườn xoài được chọn để điều tra, thu mẫu bệnh, mẫu đất phải có diện tích ít nhất 2000 m2
Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu điều tra soạn sẵn và hỏi trực tiếp nông
dân kết hợp với việc đi quan sát thực tế tại vườn để ghi nhận thông tin
Cách thu mẫu bệnh: đi khảo sát vườn và chọn những lá có vết bệnh đặc
trưng từ nhẹ đến nặng Mỗi vườn thu khoảng 15 lá và cho vào túi có dây kéo Lá bệnh được mang về phòng thí nghiệm phân lập ngay hoặc được bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ khoảng 3oC chờ hôm sau phân lập
Cách thu mẫu đất: Mỗi vườn thu khoảng 500 g đất, dùng xẽn đào lấy mẫu
đất liếp xoài ở độ sâu khoảng 15 cm và cách gốc xoài khoảng 1 m cho vào bọc nilon Mỗi vườn đào ở 5 điểm khác nhau trong vườn theo đường chéo gốc và cho
Trang 35vào bọc nilon Mẫu đất được mang về phòng thí nghiệm bảo quản ở nhiệt độ phòng, chờ lấy mẫu đo pH
Cách đo pH mẫu đất: Mỗi mẫu đất cân lấy 7 g cho vào ống falcon thể tích
50 ml Tiếp theo, cho vào ống 35 ml nước cất 2 lần và lắc mẫu bằng máy vortex Cho mẫu dung dịch đất tự lắng trong 24 giờ Sau đó tiến hành đo pH các mẫu đất bằng máy đo pH HI 2211 - 02 HANNA Mỗi mẫu đất lặp lại 3 lần
2.2.2 Phân lập và đánh giá khả năng gây hại của các chủng nấm
Colletotrichum spp trên xoài
2.2.2.1 Phương pháp phân lập nấm bệnh:
Dùng cồn 70o khử trùng bề mặt các mẫu lá, trái xoài mới bị nhiễm bệnh Sau
đó, cắt lấy khoảng 3 – 4 mm2 phần tiếp giáp giữa mô bệnh và mô khỏe Tiếp theo, khử trùng phần mô vừa cắt bằng cồn 70o trong 15 giây Sau đó, rửa lại bằng nước cất vô trùng 2 lần Tiếp theo, đặt nó lên giấy thấm đã thanh trùng để cho ráo nước Cuối cùng, đặt các mẫu mô đó lên môi trường WA (Water Agar) nuôi cấy ở nhiệt
độ phòng Khoảng 2 ngày sau, dùng que cấy nấm dích phần thạch agar ở rìa của các khuẩn lạc nấm và cấy sang môi trường PDA để nuôi cấy và tách ròng
2.2.2.2 Đánh giá khả năng gây hại của các chủng nấm Colletotrichum spp trên
trái xoài của giống xoài Cát Hòa Lộc:
Mục đích:
Chọn ra chủng nấm Colletotrichum sp độc nhất trong các mẫu nấm đã phân
lập được trên cây xoài để sử dụng trong các thí nghiệm tiếp theo
Các chủng nấm Colletotrichum được nuôi cấy trong 7 - 10 ngày ở điều kiện
nhiệt độ phòng (30oC) Dùng 10 ml dung dịch tween 0,1% (hổn hợp tween:nước cất thanh trùng theo tỉ lệ thể tích 1:1000) để thu bào tử nấm Sau đó, các dung dịch bào tử nấm được quy về cùng một mật số bào tử Các dung dịch này được dùng để chủng bệnh
Mỗi trái được tạo một vết thương ở giữa bề mặt trái bằng tâm tre khử trùng Gắp các mảnh giấy thấm hình tròn đường kính 6 mm có tẩm dịch bào tử nấm
Colletotrichum spp ở mật số 107 bào tử/ml đặt lên bề mặt vết thương vừa tạo
Trang 36Đặt các trái trong các khay nhựa Để vào mỗi khay nhựa một bọc nilon có chứa một lớp giấy thấm tẩm 40 ml nước cất vô trùng, các bọc nilon để hở cho nước
có thể bốc hơi Các khay nhựa được đậy kín để tạo ẩm độ Đặt các khay ở nhiệt độ phòng để theo dõi và lấy chỉ tiêu
Chỉ tiêu theo dõi:
Tiến hành ghi nhận chỉ tiêu khi bệnh bắt đầu xuất hiện Đo đường kính lớn nhất (chiều dài) và đường kính nhỏ nhất (chiều rộng) của vết bệnh trên trái, ghi nhận sự phát triển của vết bệnh theo từng ngày cho đến khi vết bệnh phát triển giáp diện tích mặt trên của trái (mặt chủng bệnh)
Các chỉ tiêu đường kính vết bệnh kết hợp với quan sát đánh giá bề mặt vết
bệnh theo mô tả của Cai et al., (2009) để ghi nhận cấp độ bệnh của trái theo thang
1 1-2% diện tích trái bị bệnh hoặc chổ chủng bệnh có biểu hiện
nhũng nước hơi lan ra xung quanh điểm chủng bệnh
3 >2-5% diện tích trái bị bệnh hoặc chổ chủng bệnh bị nhũng nước
và lan ra chiếm khoảng 5% bề mặt trái
5 >5-15% diện tích trái bị bệnh hoặc chổ chủng bệnh bị nhũng nước
và lan ra khoảng 25% bề mặt trái
7 >15-25% diện tích trái bị bệnh hoặc chổ chủng bệnh có sự xuất
hiện của các ổ nấm (sợi nấm) trên bề mặt
9 >25% diện tích trái bị bệnh hoặc vết bệnh bao quanh trái với rất
nhiều sợi nấm trên bề mặt
2.2.3 Khảo sát sự phát triển khuẩn lạc và khả năng tạo bào tử của các chủng
nấm Colletotrichum spp
Mục đích:
Chọn ra chủng nấm Colletotrichum có khả năng tạo bào tử nhiều nhất, tốc độ
phát triển khuẩn lạc nhanh nhất
Bố trí thí nghiệm:
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên một nhân tố, với 3 lặp lại
Phương pháp thực hiện:
Trang 37Các chủng nấm được nuôi cấy trên môi trường PDA, mỗi chủng sử dụng cùng
một thể tích môi trường PDA (10 ml) để nuôi cấy trên đĩa petri
Chỉ tiêu theo dõi:
Đường kính khuẩn lạc: Đo ghi nhận đường kính của khuẩn lạc ở thời điểm
10 ngày sau khi cấy
Mật số bào tử/đĩa petri: Khi ngừng lấy chỉ tiêu đường kính khuẩn lạc, bào
tử của mỗi khuẩn lạc nấm trên đĩa petri được thu hoạch bằng 10 ml dung dịch tween 1‰ Sau đó, tiến hành đếm và ghi nhận mật số bào tử của các các chủng nấm bằng lame đếm
2.2.4 Xác định tên loài của các chủng Colletotrichum spp phân lập được bằng kỹ thuật PCR
- Cho 1 viên bi sắt vào tube
- Dùng micropipet hút 100 µl dung dịch lysis buffer cho vào tube và lắc bằng máy nghiền mẫu
- Dùng micropipet hút 900 µl dung dịch lysis buffer cho vào tube, lắc đều và ủ
ở nhiệt độ phòng trong 15 phút
- Ly tâm với tốc độ 13.000 vòng/phút trong 10 phút, dùng micropipet hút lấy
600 µl phấn dịch phía trên chuyển sang tube mới (sử dụng tube 1,5 ml)
- Cho một lượng tương đương ethanol 95% vào tube, lắc đều nhẹ tay và ủ ở nhiệt độ phòng trong 10 phút
- Ly tâm với tốc độ 13.000 vòng/phút trong 5 phút, sau đó chút bỏ phần dịch phía trên
- Rửa phần tủa DNA bằng 500 µl ethanol 70%, ly tâm 13.000 vòng/phút trong
5 phút
- Sấy khô chân không trong 20 phút ở 45oC
- Hòa tan DNA trong 100 µl TE 0,1X
- Trữ ở - 20oC
2.2.4.2 Phản ứng PCR
Trình tự primer Vi khuẩn
ITS 1 5’-TCCGTAGGTGAACCTGCGG-3’
Trang 382.2.4.3 Giải trình tự mẫu DNA nấm
Giải trình tự một chiều bằng primer ITS 1 theo quy trình của công ty Macrogen Hàn Quốc
2.3 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu điều tra được xử lý và vẽ biểu đồ bằng phần mềm Microsoft Office Excel Các số liệu của các thí nghiệm trong phòng được xử lý bằng phần mềm SPSS 16
Trang 39CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Ghi nhận tổng quát
3.1.1 Tình hình chung khu vực điều tra
Theo số liệu của Trạm Bảo vệ thực vât huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang (2014), xoài là loại cây ăn trái có diện tích canh tác lớn nhất huyện với 891,97 ha Trong đó, 3 nơi trồng xoài nhiều nhất của huyện chiếm tới 63,79% diện tích xoài
cả huyện là Trị trấn (TT.) Một Ngàn với 190 ha, TT Bảy Ngàn với 142 ha, xã Tân Hòa với 236,6 ha
Công tác điều tra đã được tiến hành trên 32 hộ trồng xoài tại huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang Qua quá trình điều tra hiện trạng canh tác xoài của 32
hộ nông dân, với tổng diện tích điều tra là 239.850 m2 kết quả ghi nhận được như sau:
Các chủ nông hộ có độ tuổi dao động khá lớn, từ 27 – 72 tuổi Trong đó, số chủ nông hộ lớn tuổi, có độ tuổi từ 60 trở lên chiếm 21,88%
Về kinh nghiệm trồng, người có kinh nghiệm canh tác xoài lâu nhất là 30 năm, vài hộ mới lập vườn chỉ có kinh nghiệm trồng 2 năm, còn phần lớn đã có kinh nghiệm từ 10 năm trở lên chiếm 68,75%
Về sử dụng lao động, 100% nông hộ sử dụng lao động là các thành viên trong gia đình, ít khi thuê mướn lao động
Về độ tuổi các vườn xoài, tuổi cây dao động trong khoảng từ 2 đến 34 năm Trong đó, vườn vừa mới lập (2 năm tuổi, vẫn chưa cho trái) chiếm tỉ lệ rất thấp 3,13% Còn các vườn còn lại đã bước vào giai đoạn cho trái Những vườn cho trái
ổn định, đã cho thu hoạch từ 6 năm trở lên tính từ thời điểm cây bắt đầu cho trái, tức là tuổi cây ≥ 10 năm (Nguyễn Hoàng Anh, 2009) chiếm tỉ lệ cao nhất 65,63%
Về giống xoài, 100% nông dân sử dụng giống xoài Cát Hòa Lộc để canh tác
Về kiến thức canh tác xoài, đa số nông hộ ở đây đều đã tham gia các buổi tập huấn, hội thảo của công ty, cán bộ nông nghiệp địa phương hoặc do cán bộ khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại học Cần Thơ tổ chức, số này chiếm 62,5% (20 hộ) Còn lại 12 hộ chiếm 37,5% là tự hiểu biết từ kinh nghiệm thực tế canh tác, từ truyền thông hoặc bạn bè
Trang 40Bảng 3.1 Một số thông tin chung về các hộ trồng xoài tại huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang
Tổng diện tích điều tra (m2)
Diện tích (nhỏ nhất - lớn nhất)
239.850 2.000 - 20.000
truyền thông chiếm 37,5%
3.1.2 Tổng quát kết quả phân lập và định danh nấm Colletotrichum
Các mẫu bệnh thán thư được thu thập trong quá trình điều tra tình hình canh tác xoài ở các xã và thị trấn (TT) của huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang: TT Một Ngàn, TT Bảy Ngàn, TT Rạch Ròi, xã Tân Hòa, xã Nhơn Nghĩa Thời gian điều tra thu mẫu: từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2014
Kết quả phân lập: đã phân lập được 29 mẫu nấm Colletotrichum spp Tất các
các mẫu nấm đều được phân lập từ vết bệnh trên lá
Việc xác định đến chi Colletotrichum của các chủng nấm này dựa vào sự hiện
diện của đĩa đài, hình dạng của bào tử, đĩa áp của từng mẫu phân lập theo sự mô tả của Ploetz (2003)
Có tất cả 7 mẩu nấm phân lập đã được định danh đến loài Việc xác định tên loài của các chủng nấm được tiến hành bằng kỹ thuật PCR kết hợp với việc so sánh
dữ liệu ở Ngân Hàng Gen
3.2 Hiện trạng canh tác và sử dụng nông dược trên xoài tại huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang năm 2014
3.2.1 Cây giống
3.2.1.1 Giống xoài canh tác
Qua quá trình điều tra cho thấy 100% nông hộ sử dụng giống xoài Cát Hòa Lộc để canh tác Theo Viện Cây Ăn Quả Miền Nam (2009), xoài Cát Hòa Lộc nằm