TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG TRẦN MINH SUỐT KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH VÀ THỨC ĂN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG THÂN THỊT CỦA GÀ TÀU VÀNG TRONG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
TRẦN MINH SUỐT
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH
VÀ THỨC ĂN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG THÂN THỊT CỦA GÀ
TÀU VÀNG TRONG ĐIỀU KIỆN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH
VÀ THỨC ĂN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG THÂN THỊT CỦA GÀ TÀU VÀNG TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI NHỐT TỪ 5
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH
VÀ THỨC ĂN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG THÂN THỊT CỦA GÀ TÀU VÀNG TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI NHỐT TỪ 5
ĐẾN 13 TUẦN TUỔI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y
Cần thơ, ngày… tháng… năm 2014 Cần thơ, ngày…tháng… năm 2014
TS PHẠM NGỌC DU ………
PGS.TS TRẦN NGỌC BÍCH
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Cần Thơ, ngày 20 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
TRẦN MINH SUỐT
Trang 5LỜI CẢM TẠ
Trước hết, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến mọi người trong gia đình, đặc biệt là cha và mẹ đã nuôi dạy tôi nên người, luôn bênh cạnh và động viên tôi trong suốt thời gian qua, gia đình đã cho tôi thêm niềm tin để bước hết con đường học vấn của mình
Xin chân thành cám ơn quý thầy cô khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng đã tận tình giảng dạy và truyền đạt kến thức quý báu trong suốt thời gian 4 năm học
Tôi xin cảm ơn thầy Trần Ngọc Bích đã tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài
Xin cám ơn gia đình chú Ba Hoàng, các anh ở trại và các bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Đặt biệt, tôi xin ghi nhớ công ơn của thầy Phạm Ngọc Du người đã hết lòng thương yêu, chỉ dạy, động viên và hướng dẫn nhiệt tình, giúp tôi hoàn thành bài tốt nghiệp này
Cuối cùng xin chúc quý thầy cô luôn dồi dào sức khỏe để tiếp tục sự nghiệp cao cả, thiêng liêng của mình
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM TẠ v
MỤC LỤC vi
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH x
TÓM LƯỢC 1
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 2
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC GIỐNG GÀ THẢ VƯỜN 3
2.1.1 Gà Tàu Vàng 3
2.1.2 Gà Ri 4
2.1.3 Gà Tam Hoàng 5
2.1.4 Gà Ác 6
2.1.5 Gà Nòi (gà Chọi) 7
2.2 SƠ LƯỢC VỀ BỘ MÁY TIÊU HÓA CỦA GIA CẦM 7
2.2.1 Miệng 8
2.2.2 Thực quản và diều 9
2.2.3 Dạ dày tuyến 9
2.2.4 Dạ dày cơ 10
2.2.5 Ruột 11
2.3 VAI TRÒ DINH DƯỠNG 13
2.3.1 Vai trò protein đối với sự phát triển của gia cầm 13
2.3.2 Vai trò năng lượng đối với sự phát triển của gia cầm 15
2.3.3 Vai trò vitamin đối với sự phát triển của gia cầm 17
2.3.4 Vai trò chất khoáng đối với sự phát triển của gia cầm 18
2.3.5 Vai trò chất béo đối với sự phát triển của gia cầm 19
2.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA GIA CẦM 20
2.4.1 Ảnh hưởng của di truyền 20
2.4.2 Ảnh hưởng của tính biệt 20
Trang 72.4.3 Ảnh hưởng của lứa tuổi 21
2.4.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi 21
2.5 QUY TRÌNH VỆ SINH VÀ PHÒNG BỆNH 22
2.5.1 Sát trùng chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi 22
2.5.2 Vệ sinh con giống 23
2.5.3 Xử lý chất độn chuồng 24
2.5.4 Phòng bệnh cho gà 24
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 25
3.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 25
3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 25
3.1.2 Đối tượng thí nghiệm 25
3.1.3 Chuồng trại thí nghiệm 25
3.1.4 Dụng cụ thí nghiệm 25
3.1.5 Thức ăn và thuốc sử dụng trong thí nghiệm 26
3.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 27
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 27
3.2.2 Chăm sóc và nuôi dưỡng 28
3.2.3 Phòng bệnh bằng vaccine 29
3.2.4 Chỉ tiêu theo dõi 30
3.2.4.1 Khả năng sinh trưởng 30
3.2.4.2 Mổ khảo sát 30
3.2.4.3 Các chỉ tiêu phân tích hóa học 30
3.2.5 Phân tích thống kê 31
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM 32
4.1 KHỐI LƯỢNG CỦA GÀ TÀU VÀNG TRỐNG VÀ MÁI Ở CÁC NGHIỆM THỨC 32
4.2 TĂNG TRỌNG CỦA GÀ TÀU VÀNG THEO NGHIỆM THỨC THỨC ĂN VÀ GIỚI TÍNH 34
4.3 ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ TƯƠNG TÁC GIỮA NGHIỆM THỨC THỨC ĂN VÀ GIỚI TÍNH TRÊN SỰ TĂNG TRỌNG 36
4.4 ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN TRÊN CÁC KẾT QUẢ MỔ KHẢO SÁT GÀ TÀU VÀNG 37
Trang 84.5 ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH TRÊN CÁC KẾT QUẢ MỔ KHẢO
SÁT GÀ TÀU VÀNG 39
4.6 ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN VÀ GIỚI TÍNH TRÊN CÁC KẾT QUẢ MỔ KHẢO SÁT GÀ TÀU VÀNG 41
4.7 THÀNH PHẦN DƯỠNG CHẤT CỦA THỊT ỨC VÀ THỊT ĐÙI GÀ TÀU VÀNG Ở CÁC NGHIỆM THỨC THỨC ĂN 44
4.8 THÀNH PHẦN DƯỠNG CHẤT CỦA THỊT ỨC VÀ THỊT ĐÙI GÀ TÀU VÀNG Ở CÁC NGHIỆM THỨC GIỚI TÍNH 45
4.9 THÀNH PHẦN DƯỠNG CHẤT CỦA THỊT ỨC GÀ TÀU VÀNG DƯỚI ẢNH HƯỞNG TƯƠNG TÁC CỦA THỨC ĂN VÀ GIỚI TÍNH 46
4.10 THÀNH PHẦN DƯỠNG CHẤT CỦA THỊT ỨC GÀ TÀU VÀNG DƯỚI ẢNH HƯỞNG TƯƠNG TÁC CỦA THỨC ĂN VÀ GIỚI TÍNH 47
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
5.1 KẾT LUẬN 49
5.2 ĐỀ NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 53
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Kích thước hạt sỏi bổ sung cho gà 11Bảng 2.3: Chế độ dinh dưỡng cho gà Tàu vàng 13Bảng 2.5: Nhu cầu vitamin tính cho 1 kg thức ăn hỗn hợp của gia cầm 18Bảng 2.6: Nhu cầu chất khoáng trong 1kg thức ăn hỗn hợp của gia cầm 19Bảng 2.7: Quy trình phòng bệnh cho gà 24Bảng 3.1: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 26Bảng 3.2: Quy trình phòng bệnh cho gà tại trại 29Bảng 4.1: Khối lượng của gà Tàu Vàng trống và mái ở các nghiệm thức (g/con) 32Bảng 4.2: Tăng trọng của gà Tàu Vàng theo nghiệm thức thức ăn và giới tính (g/con/ngày) 34Bảng 4.3: Ảnh hưởng của sự tương tác giữa nghiệm thức thức ăn và giới tính trên sự tăng trọng của gà Tàu Vàng (g/con/ngày) 36Bảng 4.4: Ảnh hưởng của thức ăn Cargill (C) và Deheus (D) đến kết quả
mổ khảo sát gà Tàu Vàng 37Bảng 4.5: Ảnh hưởng của giới tính trên các kết quả mổ khảo sát gà Tàu Vàng 39Bảng 4.6: Ảnh hưởng tương tác giữa giới tính và nghiệm thức thức ăn đến kết quả mổ khảo sát gà Tàu Vàng 41Bảng 4.7: Thành phần chất dinh dưỡng của thịt ức gà Tàu Vàng ở các nghiệm thức thức ăn (% trạng thái tươi) 44Bảng 4.8: Thành phần dưỡng chất của thịt ức gà Tàu Vàng mái và trống (% trạng thái tươi) 45Bảng 4.9: thành phần dưỡng chất của thịt ức gà Tàu Vàng dưới ảnh hưởng tương tác của giới tính và thức ăn (% trạng thái tươi) 46Bảng 4.10: thành phần dưỡng chất của thịt đùi gà Tàu Vàng dưới ảnh hưởng tương tác của giới tính và thức ăn (% trạng thái tươi) 47
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Gà Tàu Vàng 3
Hình 2.2: Gà Ri 4
Hình 2.3: Gà Tam Hoàng 5
Hình 2.4: Gà Ác 6
Hình 2.5: Gà Nòi 7
Hình 2.6: Sơ đồ hệ tiêu hoá của gà 8
Hình 2.8: Sơ đồ chuyển hóa năng lượng của gia cầm 16
Hình 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 27
Hình 3.2: Gà Tàu Vàng thí nghiệm 27
Hình 4.1: Tăng trọng của gà Tàu Vàng qua các giai đoạn tuần tuổi theo nghiệm thức 35
Hình 4.2: Tăng trọng của gà Tàu Vàng qua các giai đoạn tuần tuổi theo giới tính 35
Hình 4.3: Gà Tàu Vàng mổ khảo sát 43
Trang 11TÓM LƯỢC
Nhằm xác định ảnh hưởng của hai loại thức ăn Cargill, Deheus và giới tính đến tăng trưởng, năng suất, chất lượng thịt của gà Tàu Vàng nên chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu tại trại chăn nuôi gà thực nghiệm Ba Hoàng, tổ 7, khu vực Thới Thạnh, phường Thới An Đông, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ Thí nghiệm được thức hiện trên 36 con gà Tàu Vàng, thí nghiệm được bố trí theo thể thức thừa số hai nhân tố, nhân tố thứ nhất là 2 loại thức ăn Cargill và Deheus, nhân tố thứ 2 là giới tính trống, mái Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức và
3 lần lặp lại
Kết quả thí nghiệm cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về khối lượng, tăng trọng từ 5 - 13 tuần tuổi, năng suất quầy thịt và chất lượng thịt của gà Tàu Vàng ở các nghiệm thức (P>0,05) Tuy nhiên, khối lượng và tăng trọng của gà ở nghiệm thức D (Sử sụng thức ăn Deheus) có khuynh hướng cao hơn so với gà ở nghiệm thức C (Sử sụng thức ăn Cargill) Nhóm gà Tàu Vàng trống có năng suất thịt cao hơn gà mái Gà Tàu Vàng được nuôi bằng thức ăn D
có năng suất thịt cao hơn so với thức ăn C Chất lượng thịt của gà Tàu Vàng không bị ảnh hưởng bởi sự tương tác của hai loại thức ăn
Trang 12CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong điều kiện khí hậu và vị trí địa lý thuận lợi của vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay Thêm vào đó là một nền dân cư đông đúc với tập quán chăn nuôi lâu đời của người dân, đã tạo nên một tiềm năng cho nghành chăn nuôi và đặc biệt là chăn nuôi gia cầm Đây là ngành rất phổ biến và phát triển mạnh mẻ
để cung cấp sản lượng thịt và trứng phục vụ cho người dân Đồng bằng sông Cửu long và rộng hơn là trên cả nước
Hiện nay, có hai hệ thống chăn nuôi gia cầm đang phát triển song song: Chăn nuôi gà công nghiệp và gà thả vườn Các giống gà công nghiệp đã du nhập vào nước ta đang rất phát triển tuy nhiên đầu tư rất tốn kém và giá cả trên thị trường bất ổn, thay vào đó Đồng bằng sông Cửu Long có các giống gà nội thả vườn có phẩm chất tốt, thích nghi với điều kiện khí hậu ở đồng bằng, khả năng chống chịu bệnh tật cao, dễ nuôi dưỡng nên có thể tận dụng thêm thức ăn sẵn có,
tự kiếm mồi, đầu tư chuồng trại thấp và đặc biệt là thị trường rất được ưa chuộng, giá thành cao, ổn định vì vậy rất thích hợp cho những hộ gia đình phát triển chăn nuôi khi nông nhàn
Một số giống gà thả vườn được nhiều nông hộ lựa chọn như gà Ri, gà Lương Phượng, gà Tam Hoàng, gà Nòi… Nhưng phổ biến là gà Tàu Vàng với đặc điểm thích nghi tốt với khí hậu, môi trường sinh thái đồng bằng sông Cửu Long Gà rất nhanh nhẹn, màu sắc và chất lượng thân thịt thơm ngon, ít bệnh, chống chịu tốt với thay đổi môi trường, năng suất sinh sản cao, dễ nuôi dưỡng, chăm sóc Do đó việc nâng cao năng suất, chất lượng thịt ở đàn gà Tàu Vàng được chú trọng, không chỉ góp phần gia tăng thu nhập cho người nuôi, mà còn bảo tồn nguồn gen quý hiếm của giống gà bản địa này
Chính vì vậy, được sự chấp thuận của Bộ môn Chăn Nuôi - Khoa Nông Nghiệp & SHƯD - Trường Đại Học Cần Thơ tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:
“Khảo sát ảnh hưởng của giới tính và thức ăn đến tăng trưởng và chất lượng thân thịt của gà Tàu Vàng trong điều kiện nuôi nhốt từ 5 - 13 tuần tuổi” nhằm
xác định loại thức ăn có ảnh hưởng tốt đến khả năng tăng trưởng, năng suất và
chất lượng thịt của gà Tàu Vàng
Trang 13CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC GIỐNG GÀ THẢ VƯỜN
2.1.1 Gà Tàu Vàng
Hình 2.1: Gà Tàu Vàng
Gà Tàu Vàng còn có tên gọi là gà Trụi, gà Đất, được nuôi rộng rải ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, tập trung ở Long An, Tiền Giang, Tây Ninh, Bình Dương Gà có tầm vóc lớn, có nhiều màu lông khác nhau, nhưng thường gặp là màu vàng rơm và màu vàng đậm, có đốm đen ở cổ, cánh và đuôi Da vàng, chân vàng, thịt trắng, mềm, rất thơm ngon, phần lớn là mào đơn, số ít có mào nụ (mào kép) Gà rất nhanh nhẹn và ưa thích tìm kiếm mồi trong vườn, sức kháng bệnh tốt nên rất phù hợp trong điều kiện nuôi chăn thả ở qui mô nông hộ Gà mọc lông chậm, khoảng 6 - 7 tuần tuổi thì gà bắt đầu mọc lông cổ, lông lưng và lông lườn, đến tuần tuổi thứ 16 thì quá trình mọc lông xem như hoàn tất Đặc điểm quan trọng của giống gà này là có mọc hàng lông chân nhỏ chạy dọc từ trên xuống
(Bùi xuân mến, 2007) Khoảng bốn tuần tuổi đã xác định được tính biệt Gà trống
có đầu to, lông ít, chậm mọc lông Gà mái đầu thon long mọc đầy đủ Khối lượng
cơ thể lúc mới nở là 30 g (Sử An Ninh và ctv, 2003) Khi trưởng thành, gà trống nặng 3 kg, mái nặng 2 kg (Hội chăn nuôi Việt nam, 2002) Theo kết quả nghiên
cứu của viện chăn nuôi thì gà Tàu vàng đến 16 tuần tuổi đạt tỉ lệ nuôi sống là 92,5%, tiêu thụ 3,79 kg thức ăn, khối lượng thân thịt 67,79% (mái) 80% (trống),
tỉ lệ thịt đùi là 21,8% (mái) và 22,5% (trống), tỉ lệ thịt ức 17,7% (mái) và 15,2%
(trống)
Gà có khối lượng vừa phải, thường giết thịt vào 16 tuần tuổi, khả năng sinh sản kém, khi nuôi tập trung thì tỉ lệ đẻ bình quân toàn đàn chỉ từ 25 - 30% nếu
Trang 14như áp dụng kỹ thuật cai ấp Nếu không có chế độ cai ấp thì tỉ lệ này nhiều khi chỉ đạt dưới 20% Gà tàu vàng ở 180 ngày tuổi đã đẻ trứng đầu tiên, sản lượng trứng 100 quả/mái/năm Tỉ lệ trứng có phôi 80%, ấp nở khoảng 88% Khối lượng
trứng 42 - 45 g (Đặng Vũ Bình, 2007) Theo kết quả nghiên cứu khả năng sinh sản và sinh trưởng gà Tàu Vàng ở Đồng Nai của Lâm Minh Thuận, Lâm Thanh
Vũ (2003), thì tỉ lệ trứng có phôi 93,5 - 97,6%, tỉ lệ ấp nở 82,4 - 87,9%
2.1.2 Gà Ri
Gà Ri là giống gà địa phương có từ lâu đời trên đất nước ta và được nuôi phổ biến ở khắp mọi miền đất nước, thường tập trung nhiều ở vùng đồng bằng trung du Bắc bộ và Nam Trung Bộ
Hình 2.2: Gà Ri
Qua nhiều năm, gà Ri bị pha tạp nhiều, sắc lông không đồng nhất Gà mái
có màu lông vàng, nâu, nâu nhạt, đen hoặc điểm các đốm đen ở đầu, cánh, cổ và chót đuôi Gà trống có bộ lông sặc sỡ nhiều màu, nhất là lông cổ và đuôi, nhưng
đa số có màu vàng đậm, tía Đầu thanh, đa số mào đơn (95%) Da chân vàng, chân có 2 hàng vẩy, thịt vàng, vẩy chân có khi màu đen gọi là chân chì Gà Ri mọc lông sớm, chỉ hơn một tháng con đã đủ lông như gà trưởng thành Phần lớn gà Ri có màu lông vàng rơm, chân vàng, đầu nhỏ, thanh, có mào đơn Gà trống có lông màu đỏ tía, cánh và đuôi có lông đen, dáng chắc khỏe, ngực vuông
và mào đứng Khối lượng cơ thể lúc mới nở là 28 g (Sử An Ninh và ctv, 2003),
lúc 4 tháng tuổi gà trống trung bình đạt 1,7 kg, gà mái 1,2 kg, khối lượng cơ thể khi 1 năm tuổi, con trống nặng 1,8 - 2,5 kg; con mái nặng 1,3 - 1,8 kg
Gà Ri là giống sinh sản sớm 4 - 4,5 tháng đã bắt đầu đẻ Sản lượng trứng đạt 120 - 150 quả/mái/năm Nếu nuôi tốt, thực hiện chế độ cai ấp khi có
con có thể cho sản lượng 164 - 182 quả/mái/năm (Viện chăn nuôi, 1970) Khối
lượng trứng 40 - 45 g, tỉ lệ trứng có phôi đạt 89 - 90%, tỉ lệ nở/trứng ấp: 94%, tỉ
lệ nuôi con đến 2 tuần tuổi là 98% (Sử An Ninh và ctv, 2003)
Trang 15Ưu điểm nổi bật nhất của gà Ri là gà mọc lông, phát dục sớm, thịt, trứng thơm ngon, thích nghi với khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới, ít mẫn cảm đối với bệnh cầu trùng, bạch lỵ, đường hô hấp Nhưng tầm vóc bé, trứng nhỏ, sản lượng trứng thấp và tính đòi ấp cao Vì vậy, gà Ri thích hợp với chế độ nuôi quảng canh theo hướng thịt và trứng ở từng hộ gia đình Trong tương lai, khi mà trên đại trà ngành
gà nuôi các giống gà cao sản, nuôi thâm canh thì gà Ri sẽ được coi là một đặc sản
lệ ít, khoảng cách sai khác giữa màu lông mất dần theo tuổi Gà trưởng thành chủ yếu là màu vàng Da chân vàng, mào đơn đỏ, ngực nở, đùi to Khối lượng cơ thể
lúc mới nở là 35 g (Sử An Ninh và đồng nghiệp, 2003) Dòng 882 màu lông vàng
hoặc lốm đốm đen, đa số có cườm cổ, ở 11 tuần tuổi gà trống nặng 1,4 - 1,45 kg,
gà mái nặng 1,2 kg Dòng Jiangcun lông màu vàng tuyền, ở 11 tuần tuổi con
trống 1,3kg; con mái nặng trên dưới 1 kg (Hội chăn nuôi Việt nam, 2002) Nếu được nuôi tốt dòng Jiangcun đạt 1,8 kg/con/11 - 12 tuần tuổi (Nguyễn Thiện,
1999) Gà mái lúc 5 tháng tuổi đã đẻ bói, lúc gần 7 tháng tuổi tỉ lệ đẻ đạt trên
60% Sản lượng trứng dòng Jiangcun đạt 170 quả/mái/năm, dòng 882 đạt 156
quả/mái/năm (Hội chăn nuôi Việt nam, 2002) Khối lượng trứng 51 - 52 g/quả, tỉ
lệ trứng có phôi đạt 95%, tỉ lệ nở so với trứng có phôi đạt 83% (Nguyễn Thiện,
1999) Tỉ lệ nuôi sống đến 2 tuần tuổi là 95%
Trang 16Theo Nguyễn Duy Hoan và ctv (1999), gà thành thục sinh dục sớm Tuổi đẻ
trứng đầu tiên là 135 - 145 ngày Sản lượng trứng đạt 131 - 160 quả/mái/năm Khối lượng trứng trung bình là 45,5 - 57,9 g Khối lượng cơ thể gà mái lúc 20 tuần tuổi đạt trung bình 1750 - 1850 g Gà thương phẩm 882 nuôi 91 ngày tuổi đạt 1,7 - 1,9 kg Tiêu tốn từ 2,8 - 3,0 kg thức ăn/1kg tăng trọng Tỉ lệ thân thịt 65,32 - 67,25% Khối lượng thịt lườn và thịt đùi chiếm 31,81 - 34,67% thân thịt
Gà có sức kháng bệnh cao, dễ nuôi, chi phí thức ăn là 3,173 - 3,606 kg/kg thịt
Gà Tam Hoàng có những đặc điểm nổi bật là: tỉ lệ nuôi sống cao, chống chịu bệnh tật, chịu khó kiếm mồi, phẩm chất thịt và trứng thơm ngon, sản lượng trứng và thịt cao hơn các giống gà nội Việt Nam, hợp với thị hiếu của người nuôi
và tiêu dùng ở Việt nam Do đó, gà Tam Hoàng được nuôi khắp 3 miền: Bắc -
Trung - Nam với số lượng trên triệu con để lấy thịt và trứng (Nguyễn Đức Hưng,
Gà Ác được nuôi chủ yếu để hầm với thuốc bắc hoặc ngâm rượu để bồi bổ sức khoẻ và trị bệnh Gà trên 4 tháng tuổi có khối lượng trung bình 640 - 760 g Tuổi
đẻ trứng đầu tiên là 110 -120 ngày, sản lượng trứng 70 - 80 quả/mái/năm, trứng
nặng 30 - 32 g (Hội chăn nuôi Việt nam, 2002), tỉ lệ trứng có phôi 90%, tỉ lệ ấp
Trang 17nở/trứng xấp xỉ 64% Gà mái có thể sử dụng tới 2,5 năm (Bùi Đức Lũng và Lê
Hồng Mận, 2003)
2.1.5 Gà Nòi (gà Chọi)
Theo Nguyễn Huy Vũ và Nguyễn Đức Lưu (2001), giống gà nòi được nuôi
khắp nơi trong cả nước và thường được gọi là gà chọi Đây là giống gà được nuôi
lâu đời ở các tỉnh Nam Bộ và chiếm khoảng 70% các giống gà thả vườn Gà Nòi
có rất nhiều ưu điểm nên thường được chọn nuôi, gà thích nghi tốt với điều kiện nuôi chăn thả vì có sức đề kháng cao và ít bệnh hơn so với một số giống gà thả vườn khác Gà Nòi là giống dễ sử dụng, vừa chơi được gà chọi vừa ăn thịt, thịt gà thơm ngon, da hồng hào nên đã trở thành một đặc sản của vùng sông nước Cửu Long và các tỉnh miền Đông Nam Bộ Giá gà Nòi thường mắc gấp 2 - 3 lần giá các loại gà công nghiệp, và đặc biệt là gà trống chọi thì giá rất cao nên có rất nhiều người nuôi Tuy nhiên còn một số khuyết điểm mà giống gà này mắc phải
là khả năng sinh sản kém, giống bị lai tạp nhiều, chậm lớn
Hình 2.5: Gà Nòi
Gà Nòi có màu sắc lông rất đa dạng, gồm có gà ô, gà điều, gà khét, gà nhạn,
gà ó, … Lúc trưởng thành khoảng 5 tháng tuổi con trống nặng 2,8- 3,2 kg, con
mái nặng 2,0- 2,2 kg Năng suất trứng bình quân 50- 60 quả/năm (Hội chăn nuôi
Việt Nam, 2004)
2.2 SƠ LƯỢC VỀ BỘ MÁY TIÊU HÓA CỦA GIA CẦM
Theo Xelianxki (1986) (được trích dẫn bởi Nguyễn Thị Mai và ctv, 2009)
gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá Ở gà còn non thì tốc độ là 30 - 39 cm trong 1 giờ, ở gà lớn hơn là 32 - 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 - 42 cm Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, vì vậy thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó
Trang 18không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác Do đó, để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn ra thuận lợi và có hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp với tuổi, trạng thái sinh lý, chế biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất
Cấu tạo tổng quát bộ máy tiêu hóa của gia cầm gồm các bộ phận chủ yếu
sau: Mỏ, xoang miệng, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, và lỗ huyệt (Dương
Thanh Liêm, 2003)
Hình 2.6: Sơ đồ hệ tiêu hoá của gà
1 - Thực quản; 2 - Diều; 3 - Dạ dày tuyến; 4 - Dạ dày cơ; 5 - Lá lách; 6 - Túi mật; 7 - Gan; 8 - Ống mật; 9 - Tuyến tuỵ; 10 - Ruột hồi manh tràng; 11 - Ruột non; 12 - Manh tràng; 13 - Ruột già; 14 - Ổ nhớp, lổ huyệt
2.2.1 Miệng
Gia cầm có mỏ thay cho môi ở gia súc, phần sừng của mỏ khá phát triển và
tác dụng của nó dùng để mổ lấy thức ăn (Nguyễn Đức Hưng, 2006)
Theo Nguyễn Thị Mai và ctv (2009), gia cầm lấy thức ăn bằng mỏ, hình
dáng và độ lớn của mỏ ở các loài gia cầm rất khác nhau Gà, gà tây và chim bồ câu có mỏ ngắn, nhọn và cứng, hơi cong Trong chất sừng của mỏ có rất nhiều các đầu dây thần kinh, dây thần kinh còn có ở trên vòm miệng cứng và dưới lớp sừng biểu bì của lưỡi
Lưỡi gia cầm nằm ở đáy khoang miệng, có hình dạng và kích thước tương ứng với mỏ Trên bề mặt phía trên của lưỡi có những gai rất nhỏ hoá sừng hướng
về cổ họng, có tác dụng giữ khối thức ăn trong miệng và đẩy chúng về phía thực quản Các chồi vị giác nằm thưa thớt ở gốc lưỡi nên giải thích cho sự nhận biết vị
giác ở gia cầm là rất kém (Bùi Xuân Mến, 2007)
Các cơ quan thị giác và xúc giác kiểm tra sự tiếp nhận thức ăn Đối với gà
và gà tây, các cơ quan vị giác và khứu giác rất kém phát triển Khi không đủ ánh sáng, gà và gà tây sẽ ăn kém Gia cầm thực hiện mổ và nuốt thức ăn nhờ các
Trang 19động tác nâng lên, hạ xuống linh hoạt của đầu Gà thực hiện từ 180 đến 240 động tác mổ trong 1 phút, ở gà tây 60 động tác Số lượng thức ăn mà gia cầm ăn được trong một đơn vị thời gian phụ thuộc vào mức độ hấp dẫn của thức ăn, loài và tuổi của gia cầm Khi gia cầm đói thì mổ nhanh và ăn nhiều Gia cầm tiếp nhận thức ăn lỏng và nước bằng cách nâng đầu rất nhanh rồi ngửa cổ lên để nuốt Riêng chim bồ câu uống nước bằng cách thả mỏ, hút nước vào nhờ áp lực âm
trong xoang miệng (Nguyễn Thị Mai và ctv, 2009)
Miệng gia cầm không có răng nên không nhai thức ăn Sau khi vào miệng, nhờ di động của lưỡi mà thức ăn được đưa nhanh xuống hầu Nước bọt của gia cầm rất ít, thành phần chủ yếu của nước bọt là dịch nhầy có tác dụng thấm ướt thức ăn cho dễ nuốt Gà mái có thể tiết 7 - 12 ml nước bọt trong một ngày đêm
(Nguyễn Văn Hùng và CTV, 1994) Bình quân một ngày đêm nước bọt của gà tiết
khoảng 12 ml (Lê Văn Thọ và Đàm Văn Tiện, 1992)
2.2.2 Thực quản và diều
Ống thực quản ở gia cầm dài hơn loài động vật có vú Đoạn ống thực quản phía trước xoang ngực phình to ra tạo thành một cái túi chứa được một lượng thức ăn gọi là diều, sau đó nó nhỏ dần lại bình thường và nối với dạ dày tuyến
(Dương Thanh Liêm, 2003) Các tuyến của ống thực quản tiết ra chất nhầy thấm
ướt bề mặt thức ăn làm cho nó di chuyển dễ dàng trong diều, các tuyến nhày chỉ
có ở thành phía trên nơi tiếp giáp với thực quản (Lê Hồng Mận và Bùi Lan
Hương Minh, 2009)
Theo Nguyễn Đức Hưng (2006), diều là một túi chứa thức ăn ở gia cầm
Sức chứa của diều từ 100 - 200 g Thức ăn được giữ ở diều với thời gian phụ thuộc vào loại gia cầm và các loại thức ăn Thức ăn cứng khoảng 10 - 15 giờ, thức ăn mềm, bột khoảng 3 - 4 giờ Thức ăn từ diều được chuyển dần xuống dạ dày tuyến
Diều không có tuyến tiết dịch tiêu hoá, nó chỉ có tác dụng dự trữ, thấm ướt
và làm mềm thức ăn nhờ niêm dịch Tuy vậy, thức ăn trong diều vẫn được tiêu hoá một phần nhờ men amylase của nước bọt xuống và hoạt động của vi sinh vật,
mặc dù không đáng kể (Nguyễn Đức Hưng, 2006)
2.2.3 Dạ dày tuyến
Thức ăn chỉ ở lại dạ dày tuyến một thời gian ngắn nên không được tiêu hoá
ở đây Dịch vị do dạ dày tuyến tiết ra sẽ theo thức ăn xuống dạ dày cơ (Nguyễn
Đức Hưng, 2006)
Theo Nguyễn Thị Mai và ctv (2009), dịch dạ dày tinh khiết là một chất lỏng
không màu hoặc hơi trắng đục, có pH acid Độ acid chung của dịch dạ dày ở gia cầm thường là 2,6 Độ acid sẽ giảm xuống sau khi tiếp nhận thức ăn giàu chất
Trang 20kiềm, cacbonat canxi, bột xương Ở gà, số lượng dịch dạ dày và độ acid tăng dần lên cùng với độ tuổi Ở gà con vài ngày tuổi, dịch dạ dày có tính acid (pH = 4,2 - 4,4) Acid clohidric tự do không thường xuyên được tìm thấy trong khối chứa trong dạ dày của gà con có độ tuổi từ 1 - 5 ngày Ở gà con 31 - 40 ngày, độ acid đạt mức tối đa (pH = 1,15 - 1,55) và cứ ở mức độ này với sự dao động không lớn trong các thời kỳ tiếp theo
Theo Dương Thanh Liêm (2003) Khi dạ dày tuyến bị tổn thương do các
bệnh dịch tả, Rumboro thì khả năng tiêu hóa protein cũng giảm
2.2.4 Dạ dày cơ
Dạ dày cơ hay thường được gọi là mề, có dạng hình tròn hoặc ô van, có hai thành cứng, phía trong được phủ lớp niêm mạc dày, cứng để chống lại sự va đập, xay xát khi nghiền thức ăn, phía dưới lớp niêm mạc dày cứng là lớp tế bào tăng sinh để thay thế lớp niêm mạc ở trên bị bào mòn Trên bề mặt niêm mạc có rất nhiều gai nhỏ nhô lên làm cho niêm mạc trở nên nhám như tờ giấy nhám, người
ta thường gọi nó là răng mề
Theo Techver (được trích dẩn bởi Nguyễn Thị Mai và ctv, 2009) Màng
sừng của mề luôn bị mòn đi, nhưng nhờ sự dày lên ở đáy nên độ dày của nó được
ổn định Ngoài ý nghĩa cơ học, màng sừng còn giữ cho vách dạ dày khỏi bị tác động của những yếu tố bất lợi Màng sừng bền với pepsin, không bị hoà tan trong các acit loãng, kiềm và các chất hoà tan hữu cơ
Qua khỏi lớp tế bào tăng sinh là lớp mô cơ rất phát triển, cấu tạo từ mô cơ phẳng, một đôi cơ lớn chính có dạng hình tam giác hướng các đáy lại với nhau đã tạo nên khối cơ của vách mề Nhờ có hệ thống cơ này co bóp rất mạnh để nghiền nát dễ dàng thức ăn cho ruột tiêu hóa Sự co bóp của dạ dày cơ diễn ra có chu kỳ, bình quân cứ 20 - 30 giây co bóp một lần Khi đói nhịp co bóp chậm, khi no co bóp tăng lên Áp lực xoang dạ dày cơ khi co bóp tăng lên rất cao tới 100 - 150 mmHg ở gà, 180 mmHg ở vịt, 260 - 280 mmHg ở ngỗng Chất tiết trong dạ dày
cơ có dạng lỏng, có pH = 3 - 4,5 Thành phần dịch dạ dày gồm nước, HCl, men pepsin Ở dạ dày cơ, hydratcacbon được cắt ngắn, chia nhỏ ra, protit phân giải thành các peptit và acit amin, tuy nhiên chưa thật triệt để Dạ dày cơ có thể xem
như hạ vị của dạ dày loài có vú và có chức năng đặc biệt (Nguyễn Đức Hưng,
2006)
Theo Dương Thanh Liêm (2003), trong dạ dày cơ luôn luôn có cát sỏi hỗ trợ
cho sự nghiền nát thức ăn, nếu thiếu sỏi thì làm giảm khả năng tiêu hóa thức ăn hạt trên 10%, còn khi có sỏi trong dạ dày cơ thì sẻ giúp nghiền nát thức ăn nhanh hơn, gà tiêu thụ thức ăn nhiều hơn
Trang 21Bảng 2.1: Kích thước hạt sỏi bổ sung cho gà
Tuần tuổi của gà kích thướt đường kính hạt sỏi
Gà con dưới 5 tuần tuổi 1 – 2 mm
Gà giò từ 5 – 12 tuần tuổi 3 – 4 mm
dạ dày cơ, kéo dài cho đến đoạn ruột thừa
Theo Dương Thanh Liêm (2003), ruột non được chia làm ba phần là tá tràng
(Duodenum), không tràng (Jejunum) và hồi tràng (Ileum) Ruột non là nơi diễn
ra sự tiêu hóa và hấp thu rất mãnh liệt dưới sự tác động của các loại enzyme từ dịch ruột, dịch vị, dịch tụy và dịch mật Phần lớn các chất dinh dưỡng như cacbohydrat, protein, lipid được tiêu hóa và hấp thu, những mảnh thức ăn còn cứng chưa thể tiêu hóa hết thì được nhu dộng ngược của ruột đưa trở lên dạ dày
cơ để nghiền nhỏ ra, vì vậy nên niêm mạc của dạ dày cơ có màu vàng nhạt của sắc tố mật, thời gian tiêu hóa của ruột non từ 6 - 8 giờ
Theo Nguyễn Đức Hưng (2009), Dịch mật chứa 78 - 80% nước, 20 - 22%
chất đặc, trong đó có acid mật, keo, cholesterin, muối vô cơ và sắc tố mật (bilirubin, biliverdin) Dịch mật của gia cầm khác với gia súc là trong thành phần của nó chứa acid stearic
Dịch tụy lỏng, trong suốt, có phản ứng kiềm yếu, pH = 7,2 - 7,5 Trong dịch tuỵ có nhiều loại men như: tripsin, amylase, mantase, lipase…
Thông qua kích thích cơ học vào màng nhầy, tuyến ruột tiết ra dịch ruột Dịch ruột có phản ứng kiềm pH = 7,42, màu đục Trong dịch ruột có chứa các loại men như: enterokinase, amylase, mantase…
Theo Nguyễn Thị Mai và ctv (2009), sự tiêu hoá xảy ra trong manh tràng
của gia cầm nhờ có các men đã đi vào cùng với dưỡng chất từ phần ruột non và
từ hệ vi khuẩn Các vi sinh vật bắt đầu thâm nhập vào manh tràng gia cầm non ngay từ lần tiếp nhận thức ăn đầu tiên Ở đây các vi khuẩn streptococei, trực khuẩn ruột, lactobasilli và các loại khác, chúng sinh sản rất nhanh Trong manh
Trang 22tràng có các quá trình tiêu hoá protein, gluxit và lipit Ngoài ra, các vi khuẩn còn tổng hợp các vitamin nhóm B
Ruột già cũng được chia làm ba phần là manh tràng (Caecum), kết tràng (Colon), trực tràng (Rectum) Tiêu hoá ở ruột già cũng có hai quá trình lên men
và thối rữa Lên men xảy ra mạnh ở manh tràng, thối rữa ở trực tràng Manh tràng gia cầm khá phát triển nên quá trình lên men tương đối mạnh, nhất là những gia cầm ăn nhiều thức ăn thực vật thô sơ Ruột của gia cầm nói chung tương đối ngắn, thức ăn lưu lại không quá một ngày đêm
Lỗ huyệt (Cloaca) gia cầm có cấu tạo như một cái túi, ở đây có các cửa đổ vào như: ruột già, hai ống dẫn niệu và đường sinh dục (tử cung ở gia cầm mái và ống dẫn tinh ở gia cầm trống) Phân và nước tiểu nằm lại ở lỗ huyệt một thời gian, ở đây xảy ra quá trình hấp thu nước và muối rất mạnh Vì vậy, phân của gia cầm khô hơn, nước tiểu cũng cô đặc lại thành muối urat màu trắng ở trên cục phân Nếu cho gia cầm ăn thừa chất protein thì muối urat sinh ra càng nhiều, nếu cho
ăn thiếu protein thì phân có màu đen hơn (Dương Thanh Liêm, 2003)
Bảng 2.2: Các enzyme được tìm thấy trong ống tiêu hóa của gia cầm
(Nguồn: Dương Thanh Liêm, 1999)
Vị trí ống
tiêu hóa
Dịch tiêu hóa
Enzyme tiêu hóa
Chất được tiêu hóa
Sản phẩm thủy phân cuối cùng
Dạ dày tuyến Dịch vị,HCL Pepsin Protein Pepton
Tuyến tụy Dịch tụy Amylase Tinh bột Glucose
acid béo Trypsine Pepton Acid amin Ruột Dịch ruột Enterokinase Trypsinogen Trypsine
Disaccharase Disaccharide Monosaccharide Nuclease Acid nucleic Ribose
Deoxyribose Purin, purimidin
thành hạt nhỏ, hấp thụ trực tiếp Sắc tố mật
Trang 232.3 VAI TRÒ DINH DƯỠNG
Ngày nay, trong chăn nuôi gà thịt, để tăng tốc độ phát triển cơ thể gà, ngoài công tác giống ra thì con người cần cung cấp thức ăn tối ưu với đầy đủ các vật chất dinh dưỡng được cân bằng nghiêm ngặt giữa các acid amin và khoáng vi lượng Ngoài ra thức ăn hỗn hợp cho chúng còn bổ sung hàng loạt các chế phẩm hóa sinh học, tuy không mang ý nghĩa về dinh dưỡng nhưng nó kích thích sinh trưởng và làm tăng chất lượng thịt như các enzyme (amylase, protease), các hormone sinh trưởng, một số khoáng chất không gây hại cho con người, một số
sắc tố làm tăng màu vàng của da (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 2000)
Bảng 2.3: Chế độ dinh dưỡng cho gà Tàu vàng
0-7 tuần tuổi 8-19 tuần tuổi Đẻ
2.3.1 Vai trò protein đối với sự phát triển của gia cầm
Protein là thành phần cấu trúc quan trọng nhất của cơ thể gia súc, gia cầm dùng để duy trì sự sinh trưởng Protein có những đặc tính mà các chất hữu cơ khác không có được Những đặc tính này bảo đảm chức năng của protein là chất cấu tạo và biểu hiện của sự sống Khác với lipit và gluxit, trong cấu trúc của protein bao giờ cũng chứa nitơ (16%) Một số protein còn chứa lượng nhỏ lưu huỳnh (S), đôi khi có chứa photpho (P) và một số các nguyên tố vi lượng khác như sắt (Fe), kẽm (Zn), đồng (Cu), mangan (Mn) Đối với gia cầm, protein có rất nhiều chức năng và là thành phần chính của xương, dây chằng, lông, da, các
cơ quan và cơ Do protein được sử dụng cho duy trì, sinh trưởng và sản xuất nên
nó được thường xuyên đưa vào cơ thể Nếu lượng protein ăn vào thấp hơn nhu cầu thì mức độ sinh trưởng và điều kiện sống của các mô bào sẽ bị ảnh hưởng, dẫn đến sự phát triển chậm các cơ quan cần thiết trong cơ thể Sự phát triển của
gà gắn liền với sự tích lũy protein trong cơ thể chúng Sự tích lũy xảy ra nhanh ở
gia cầm non, sau đó giảm dần theo lứa tuổi (Bùi Đức Lũng, 1995) Trong cơ thể
động vật nói chung và cơ thể gia cầm nói riêng, protein không thể tổng hợp từ lipit hay gluxit mà phải lấy protein từ thức ăn đưa vào hàng ngày với số lượng
đầy đủ và theo một tỉ lệ thích hợp theo nhu cầu của cơ thể (Vũ Duy Giảng và ctv,
1995)
Trang 24Nhu cầu protein của gia cầm được tính bằng số gram protein thô cho mỗi con gia cầm trong một ngày đêm, tuy nhiên gia cầm không thể lấy trực tiếp số lượng Protein thô theo nhu cầu đã tính được mà nó phụ thuộc vào lượng thức ăn thu nhận vào mỗi ngày, vì vậy trong khẩu phần ăn của gia cầm, nhu cầu protein
thường được biểu thị bằng tỉ lệ phần trăm (%) protein thô (Nguyễn Thị Mai và
ctv, 2009)
Tỉ lệ tiêu hóa protein là phần trăm protein được tiêu hóa và hấp thụ trong thức ăn, nó phụ thuộc vào nguồn gốc protein: Protein từ động vật (bột cá, bột thịt, bột sữa và các động vật khác) có tỉ lệ tiêu hóa cao hơn so với protein có nguồn gốc thức ăn thực vật (đậu, ngũ cốc, bột cỏ) Protein chứa đầy đủ thành phần và số lượng 10 acid amin không thay thế cho tỉ lệ tiêu hóa cao hơn protein không được cân đối 10 acid amin không thay thế Khả năng tiêu hóa sử dụng protein trong thức ăn phụ thuộc vào giống, tuổi, tính năng sản xuất của gia cầm: Gia cầm non yêu cầu và khả năng sử dụng protein cao hơn so với gia cầm trưởng thành và già Gà nuôi thịt (gà Broiler) yêu cầu và khả năng sử dụng protein cao
hơn gà đẻ trứng (Nguyễn Duy Hoan và ctv, 1999)
Theo Dương Thanh Liêm (2003), nếu chúng ta cung cấp thừa protein trong
khẩu phần gây nên lãng phí và tăng giá thành sản phẩm, khi đó protein thừa không được tiêu hóa hết sẽ lên men thối ở ruột già và gây tình trạng tiêu chảy Đồng thời sự dư thừa acid amin dẫn đến phản ứng về acid amin quá mạnh thải ra urea và acid uric có hại cho gan và thận Sự dư thừa acid amin làm cho nồng độ acid amin trong máu tăng, giảm tính thèm ăn của gia cầm, không cải thiện được tăng trọng mà còn giảm khối lượng Sự ngộ độc protein sẽ xảy ra khi khẩu phần
có chứa từ 30% protein trở lên
Ngược lại khi không cung cấp đủ lượng protein cần thiết cho gia cầm thì cơ thể chúng sẽ thiếu nguyên liệu cho nhu cầu duy trì và tăng trưởng, đồng thời sức
đề kháng của gia cầm cũng giảm Thức ăn thiếu acid amin nhất là các acid amin giới hạn sẽ làm cho quá trình trao đổi chất mất cân bằng, giảm sức đề kháng chống chịu với ngoại cảnh, chậm lớn, giảm sự tạo lông, thay lông không đúng
quy luật và xuất hiện sự cắn mổ lẫn nhau (Nguyễn Thị Đào, 1999)
Theo Dương Thanh Liêm (2003), mức protein thô (CP) trong khẩu phần đối
với gà thịt công nghiệp giai đoạn 0 - 3 tuần tuổi là 23%, giai đoạn 3 - 6 tuần tuổi
là 20%, giai đoạn 6 tuần tuổi đến khi xuất chuồng là 18% Đối với gà Lương Phượng thả vườn, mức CP trong giai đoạn từ 0 - 21 ngày tuổi là 20%, giai đoạn
từ 22 - 42 ngày tuổi là 17% Theo Leeson và Summers (1997) nhu cầu CP trong
khẩu phần gà thịt là 16 - 23%, tuy nhiên còn phải tùy thuộc vào mức năng lượng
trao đổi (ME) của khẩu phần Theo Rose (1997) nhu cầu CP của gà thịt từ 35 ngày tuổi đến khi xuất chuồng là 18 - 22% Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn
Trang 25Văn Quyên (2008), nhu cầu CP trong khẩu phần của gà Nòi giai đoạn từ 0 - 8
tuần tuổi là 18%, từ 9 - 16 tuần tuổi là 15% để cho tăng trọng cao nhất
Giá trị sinh học của protein trong thức ăn được đánh giá bằng sự hiện diện của các acid amin mà cơ thể không tự tổng hợp được hoặc có tổng hợp được cũng không thể đáp ứng được nhu cầu của cơ thể, các acid amin mà cơ thể không thể tự tổng hợp được gọi là các acid amin thiết yếu Trong các acid amin thiết yếu, những acid amin thường thiếu trong thức ăn là acid amin giới hạn và nó quyết định mức độ tổng hợp protein trong cơ thể Gia cầm cần 11 acid amin thiết yếu là: methionin, lysine, tryptophan, phenylalanine, leucine, isoleucine, valine, histidine, agrinine và glycine Trong đó có bốn acid amin giới hạn giảm dần là methionin, lysine, tryptophan, phenylalanine Nếu protein có chứa tất cả các acid amin thiết yếu đáp ứng nhu cầu cơ thể thì chúng là protein có giá trị sinh học cao
và ngược lại (Lã Thị Thu Minh, 1998)
Bảng 2.4: Nhu cầu acid amin không thay thế cho gà thịt
(Nguồn: Nguyễn Đức Hưng (2006) trích dẫn từ Larbier và Leelercq, 1992)
2.3.2 Vai trò năng lượng đối với sự phát triển của gia cầm
Năng lượng là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá giá trị dinh dưỡng của thức ăn Năng lượng tỏa nhiệt tuỳ thuộc vào môi trường nuôi dưỡng, thành phần dinh dưỡng của khẩu phần và trạng thái, chức năng sinh lý
của cơ thể (Vũ Duy Giảng, 1996)
(mg/kgP/ngày)
Tăng trưởng (g/100gTT)
Trang 26Theo NRC (1994) sơ đồ chuyển hóa năng lượng của gia cầm được trình bày qua hình 2.2:
Hình 2.8: Sơ đồ chuyển hóa năng lượng của gia cầm
Để cung cấp đầy đủ, cân đối và chính xác khẩu phần ăn cho gia cầm thì yếu
tố đầu tiên là mức năng lượng thích hợp trong khẩu phần Năng lượng cần thiết cho việc duy trì các hoạt động, sinh trưởng và phát triển của cơ thể Lượng năng lượng thừa so với nhu cầu sẽ được sử dụng không có hiệu quả và tích lũy thành
mỡ Trong khẩu phần gia cầm, nguồn năng lượng trước hết từ carbohydrate, sau
đó là mỡ và cuối cùng là từ protein Năng lượng rất cần thiết cho sự sinh trưởng của mô bào, các hoạt động và duy trì thân nhiệt Vì thế, năng lượng chính là
"ngọn lửa của sự sống" (Nguyễn Đức Hưng, 2006)
Trong thời kỳ sinh trưởng, nhu cầu năng lượng của gia cầm rất khác nhau, không chỉ do sự thay đổi về tỉ lệ năng lượng chuyển thành nhiệt mà còn do sự thay đổi về số lượng năng lượng được tích luỹ và sự phân chia năng lượng tích luỹ đó trong protein và mỡ Khi mức năng lượng ăn vào cao, khoảng 85% năng lượng tích trong mỡ và 15% năng lượng dự trữ trong protein Khi mức năng lượng ăn vào thấp, một lượng mỡ cơ thể được huy động trong khi protein được
tích luỹ (Nguyễn Đức Hưng, 2006)
Theo Bùi Xuân Mến (2007) trong thực tế sản xuất gà thịt, tốc độ tăng trọng
tối đa là yêu cầu rất cần thiết để gà đạt trọng lượng xuất chuồng trong thời gian ngắn nhất, khẩu phần khởi động cho gà hậu bị có thể từ 2.750 - 2.970 kcal ME/kg Đối với gà thịt khẩu phần khởi động có mức năng lượng cao từ 3.080 - 3.410 kcal ME/kg là tốt nhất
Năng lượng thô
Năng lượng tiêu hóa
Năng lượng qua
Trang 27Theo Dương Thanh Liêm (2003), thì mức năng năng lượng trao đổi đối với
gà thịt công nghiệp là 3100 kcal ME/kg thức ăn Đối với gà thả vườn giai đoạn 1
- 21 ngày tuổi thì mức năng lượng cần là 3000 kcal ME/kg thức ăn, giai đoạn gà
giò đến xuất chuồng là 2800 kcal ME/kg thức ăn Theo Leeson và Summer
(1997), thì nhu cầu năng lượng cho gà thịt từ 2900 - 3150 kcal ME/kg thức ăn
Theo Rose (1997), nhu cầu năng lượng trao đổi cho gà thịt từ 35 ngày tuổi đến
khi xuất chuồng là 13 - 13,4 MJ/kg Mức năng lượng trao đổi đối với gà Sao nuôi thịt giai đoạn từ 0 - 4 tuần tuổi là 11,3 MJ/kg thức ăn và giai đoạn 5 - 12 tuần tuổi
là 12,1 MJ/kg thức ăn
2.3.3 Vai trò vitamin đối với sự phát triển của gia cầm
Theo Nowland (1978), (được trích dẫn bởi Nguyễn Đức Hưng, 2006) các
vitamin rất cần thiết cho sức khoẻ, duy trì sự sống, sinh trưởng và sinh sản của gia cầm và các loài động vật khác Một số vitamin có liên quan trực tiếp với sức khỏe và bảo vệ tổ chức, nhiều vitamin khác lại rất cần thiết cho trao đổi chất Tuy nhiên, nhu cầu về một loại vitamin nào đó phụ thuộc vào điều kiện môi trường, loại thức ăn và giai đoạn sinh trưởng hay sản xuất của gia cầm Vitamin có hai nhóm là tan trong dầu (A,D,K,E) và nhóm tan trong nước (vitamin nhóm B, C) Loại trừ vitamin tan trong dầu mỡ (A, D, K, E), các vitamin dự trữ trong cơ thể rất ít, đặc biệt vitamin nhóm B và vitamin C, cho nên cần phải cung cấp đầy đủ vitamin trong khẩu phần ăn hàng ngày nhằm thỏa mãn nhu cầu của gia cầm Vitamin có liều lượng rất nhỏ trong thức ăn nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng vitamin tham gia vào các quá trình xúc tác sinh học trong trao đổi các chất dinh dưỡng: protein, cacbohydrat, lipid, khoáng, các hoạt động của hormone và enzyme Vitamin tham gia vào cấu tạo một lượng lớn hormone và enzyme Thừa hoặc thiếu một loại vitamin nào cũng ảnh hưởng lên quá trình phát triển và sinh
sản của gia súc, gia cầm (Dương Thanh Liêm, 2003)
Trang 28Bảng 2.5: Nhu cầu vitamin tính cho 1 kg thức ăn hỗn hợp của gia cầm
Vitamin ĐVT Gà con Gà sinh
trưởng Gà đẻ thương phẩm
Gà đẻ giống
2.3.4 Vai trò chất khoáng đối với sự phát triển của gia cầm
Chất khoáng là một thành phần vô cơ của thức ăn hoặc mô Chúng thường được chia thành hai loại dựa trên số lượng cần thiết trong khẩu phần của gia cầm Đối với khoáng đa lượng gồm Ca, P, Mg, Na, K, Cl, S… thường được thể hiện theo tỉ lệ phần trăm của khẩu phần, trong khi khoáng vi lượng gồm Fe, Cu, Co,
Mn, I, Se, Zn… được quy định bằng mg cho mỗi kg hoặc phần triệu trong khẩu phần Khoáng chất rất cần thiết cho sự hình thành của bộ xương, là thành phần của các hợp chất khác nhau với chức năng cụ thể trong cơ thể, là đồng yếu tố của các enzym, và để duy trì sự cân bằng thẩm thấu trong cơ thể của gia cầm Canxi
và phốt pho là thành phần cần thiết nhất cho sự hình thành và duy trì xương Natri, kali, magiê và clorua chức năng với phốt pho và bicarbonate để duy trì trạng thái cân bằng các mối quan hệ thẩm thấu và độ pH trong cơ thể Hầu hết lượng canxi trong chế độ ăn uống của gia cầm được sử dụng để hình thành xương, trong khi ở các loài gia cầm đẻ trứng thì chế độ ăn uống cần rất nhiều canxi để hình thành vỏ trứng Các chức năng khác bao gồm vai trò của canxi trong quá trình đông máu và như một sứ giả thứ hai trong thông tin liên lạc bên
Trang 29trong tế bào Một chế độ ăn uống dư thừa canxi cản trở sự sẵn có của các khoáng chất khác, chẳng hạn như phốt pho, magiê, mangan và kẽm Một tỉ lệ khoảng 2
canxi và 1 phốt pho là thích hợp cho hầu hết các chế độ ăn thịt gia cầm (NRC,
1994)
Nguyên tố vi lượng, bao gồm đồng, iốt, sắt, mangan, selen và kẽm được yêu cầu với số lượng nhỏ trong chế độ ăn Cobalt cũng là cần thiết, nhưng nó không cần phải được cung cấp như là một khoáng chất bởi vì nó là một phần của vitamin B12 Trong chế độ ăn thực tế, đồng và sắt thường xuất hiện ở đủ các cấp
mà không bổ sung Nguyên tố vi lượng có chức năng như là một phần của các phân tử hữu cơ lớn hơn Sắt là một phần của hemoglobin và cytochrome, và iốt là một phần của thyroxine Đồng, mangan, selen, kẽm và chức năng là yếu tố phụ
kiện cần thiết để các enzyme (NRC, 1994)
Ca và Mg có vai trò quan trọng trong kích thích thần kinh, hai nguyên tố này có tác dụng ức chế sự hưng phấn cho nên nếu thiếu chúng sẽ xuất hiện quá
trình hưng phấn, nếu nghiêm trọng sẽ xuất hiện co giật (Vũ Duy Giảng, 1997)
Bảng 2.6: Nhu cầu chất khoáng trong 1kg thức ăn hỗn hợp của gia cầm
(Nguồn: NRC, 1984)
2.3.5 Vai trò chất béo đối với sự phát triển của gia cầm
Chất béo là nguồn cung cấp năng lượng cao cho gia cầm bởi vì năng lượng đốt cháy của chất béo trong cơ thể cao gấp 2,0 - 2,5 lần so với tinh bột và protein
Xu hướng dinh dưỡng hiện nay trên thế giới là người ta sử dụng dầu ăn thay vì
mỡ động vật, số lượng mỡ động vật không sử dụng này được dùng làm nguồn
cung cấp năng lượng trong thức ăn gia cầm (Dương Thanh Liêm, 2003)
Loại Gà con
0 - 8 tuần
Gà sinh trưởng
Gà đẻ thương phẩm
Gà đẻ trứng
Trang 30Theo Nguyễn Nhựt Xuân Dung và Lưu Hữu Mãnh (2008), các acid béo là
tiền chất của Prostaglandins, Thromboxanes và Leukotrienes (các chất có số lượng ít nhưng đóng vai trò sinh lý rất quan trọng trong cơ thể) Vì vậy khi khẩu phần thiếu các acid béo thiết yếu thì gia cầm dễ mắc một số bệnh như: da khô,
chậm lớn, tăng sự mất nước… Theo Dương Thanh Liêm (2003), chất béo là dung
môi để hòa tan các vitamin và các sắc tố tan trong chất béo để giúp cho cơ thể hấp thu thuận lợi Nếu thiếu chất béo thì sự hấp thu carotene, vitamin A, D, E, và
K sẻ giảm, đặc biệt ở gia cầm chất béo giúp xúc tiến hấp thu và tích lũy sắc tố vàng để tạo màu cho lòng đỏ trứng và màu da Chất béo còn cung cấp một số acid béo thiết yếu, cần thiết cho cơ thể động vật như acid linoleic, acid linolenic
và acid arachidonic
2.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA GIA CẦM
2.4.1 Ảnh hưởng của di truyền
Khối lượng cơ thể, tốc độ sinh trưởng và năng suất sản phẩm của gia súc và gia cầm rất khác nhau do khả năng tiêu hoá, hấp thu cũng như quá trình trao đổi chất của chúng khác nhau, tuỳ theo hướng sản xuất mà nhu cầu về các chất dinh
dưỡng cho duy trì, sinh trưởng và sản xuất khác nhau (N.R.C, 1984)
Theo Nguyễn Đức Hưng (2006) giống gà nhẹ cân tiêu thụ ít thức ăn và ít
năng lượng hơn so với giống gà nặng cân Gà có tốc độ tăng trọng cao tiêu thụ nhiều thức ăn hơn so với gà có tốc độ tăng trọng vừa, đồng thời gà càng lớn chỉ
số tiêu tốn thức ăn càng cao Tuy nhiên tăng trọng càng nhanh thì hiệu quả sử dụng thức ăn càng tốt bởi vì phần thức ăn dành cho tăng trọng nhiều hơn Các giống gà khác nhau có phản ứng khác nhau với mức protein và acid amin trong khẩu phần Gà nặng cân yêu cầu về số lượng acid amin nhiều hơn so với gà nhẹ cân
2.4.2 Ảnh hưởng của tính biệt
Theo Nguyễn Đức Hưng (2006) quá trình trao đổi chất của gà trống và gà
mái khác nhau, con trống luôn có hệ số trao đổi chất cao hơn con mái Tất cả các hoạt động sinh lý như hô hấp, tuần hoàn, thần kinh của gà trống và mái khác nhau, vì vậy chúng có nhu cầu khác nhau về mức năng lượng và protein trong khẩu phần Kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước cho biết, khối lượng
cơ thể của gà trống cao hơn gà mái 15 - 20% (Bùi Đức Lũng, 1991) Gà trống và
mái có qui luật sinh trưởng khác nhau rõ rệt khi cùng nuôi khẩu phần có mức
protein 24% và mức năng lượng 3100 Kcal/kg thức ăn (Lê Hồng Mận và ctv,
1993)
Theo Summer và Leeson (1997), mức năng lượng trong khẩu phần ảnh
hưởng rất lớn đến tăng trọng của gà mái, trong khi đó ít ảnh hưởng đến tăng
Trang 31trọng của gà trống Gà trống giai đoạn 5 - 8 tuần tuổi sử dụng năng lượng trong
khẩu phần hiệu quả hơn so với gà mái Nhu cầu mức protein trong khẩu phần của
gà mái luôn thấp hơn so với gà trống khi khẩu phần đó có cùng mức năng lượng Hàm lượng protein trong khẩu phần nuôi gà trống phải trên 20% khi năng lượng trao đổi là 3220 Kcal/kg thức ăn, trong khi đó mức protein để nuôi gà mái chỉ cần
16% (Bùi Đức Lũng, 1991) Khi tăng đồng thời mức protein và năng lượng trong
khẩu phần, phản ứng của gà trống và gà mái có khác nhau Gà trống có phản ứng mạnh khi thay đổi khẩu phần về protein tăng từ 22% lên 24% đồng thời với mức năng lượng tăng từ 2445 Kcal lên 3325 Kcal/kg thức ăn, trong khi đó gà mái không có phản ứng rõ rệt Gà mái bị hạn chế phát triển ở khẩu phần có mức
protein cao, năng lượng thấp (Beremski, 1978- dẫn theo Bùi Đức Lũng, 1991) Kết quả nghiên cứu của Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng và ctv (1993) khẳng định
rằng nhu cầu protein cho gà Broiler giai đoạn 0- 4 tuần tuổi của con trống là 24%, của con mái là 22%
2.4.3 Ảnh hưởng của lứa tuổi
Theo Nguyễn Đức Hưng (2006), nhu cầu các chất dinh dưỡng trong thức ăn
của gà thịt trong quá trình phát triển có khác nhau Nhu cầu năng lượng ngày càng tăng trong khi nhu cầu các chất dinh dưỡng khác thì giảm dần theo lứa tuổi
Vì có sự thay đổi về cấu trúc của cơ thể, gà càng lớn nhu cầu năng lượng cho tăng trọng càng cao, trong khi đó nhu cầu protein cho tăng trọng càng giảm
Để đáp ứng nhu cầu năng lượng, trong tiêu chuẩn hoặc khẩu phần ăn khuyến cáo cho gà broiler, mức năng lượng trong khẩu phần đều tăng dần theo lứa tuổi Mức năng lượng (Kcal ME/kg thức ăn) cho giai đoạn đầu (0 - 3 tuần tuổi) và giai đoạn sau (4 - 6 tuần tuổi) của gà thịt tương ứng là 3050 - 3150 đối với hãng Arbor Acress Mỹ; 3000 - 3100 đối với Liên Hiệp các xí nghiệp gia cầm
Việt Nam; 3100 - 3200 đối với hãng Ross Breeder (Bùi Đức Lũng, 1995)
2.4.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi
Gia cầm là động vật đẳng nhiệt, thân nhiệt luôn ổn định mặc dù nhiệt độ môi trường có thể thay đổi lên xuống Thân nhiệt bình quân của gà trưởng thành dao động 41,2 - 42,20C, cao hơn so với thân nhiệt của loài động vật có vú (36 -
390C) Gà con mới nở có thân nhiệt thấp hơn 2 - 30C và đạt được thân nhiệt của
gà trưởng thành sau 6 ngày tuổi do tích luỹ lớp mỡ dưới da và phát triển bộ lông bao phủ có tác dụng cách nhiệt Sự ổn định thân nhiệt của cơ thể gà được điều khiển bởi trung tâm điều hoà thân nhiệt nằm ở vùng dưới đồi (hypothalamus)
bằng hai quá trình sinh nhiệt và tỏa nhiệt (Lê Văn Thọ và Đàm Văn Tiện, 1992)
Khi nhiệt độ môi trường tăng, nhu cầu năng lượng cho duy trì của gia cầm giảm Khoảng nhiệt độ tối thích đối với gà trưởng thành là 18 - 260C , gọi là vùng nhiệt độ trung bình Khi nhiệt độ môi trường cao hoặc thấp hơn khoảng nhiệt độ
Trang 32trên đều gây bất lợi cho cơ thể và có thể gây cho quá trình điều hoà thân nhiệt khó khăn Khi nhiệt độ chuồng nuôi dưới vùng trung bình, gia cầm phải ăn nhiều thức ăn để sinh nhiệt, gây lãng phí thức ăn Khi nhiệt độ cao hơn vùng trung bình thì gà phải chịu hiện tượng stress nhiệt Gà chịu lạnh tốt hơn chịu nóng, chính vì thế gà thường bị chết nóng nhiều hơn bị chết lạnh Khi nhiệt độ chuồng nuôi tăng lên 26,60C, thân nhiệt của gà tăng 0,1 - 0,40C Vì vậy, nhiệt độ của dòng máu chảy đến não bộ tăng lên, làm rối loạn các hoạt động sống của gà Vì gà không
có tuyến mồ hôi nên cách tỏa nhiệt hiệu quả nhất là qua đường hô hấp, thở bằng
miệng (Nguyễn Đức Hưng, 2006)
Theo Oluyemi (1979) (được trích dẫn bởi Nguyễn Đức Hưng, 2006) trong
điều kiện bình thường, nhịp thở của gà là 20 lần/phút Khi bị tác động của stress nhiệt độ, nhịp thở của gà lên tới 140 - 200 lần/phút và sự bốc hơi nước cũng tăng
từ 5 g lên 30 g/giờ Khi thở gà thải ra lượng khí CO2 nên làm giảm lượng CO2trong máu và gây ra hiện tượng kiềm hoá máu Những biến đổi đó làm thay đổi
nồng độ các chất điện phân, độ pH và áp suất thẩm thấu của máu Trong điều
kiện như vậy gà không thể thực hiện được các chức năng của cơ thể một cách bình thường Gà giảm tính thèm ăn, uống nước nhiều, khả năng chuyển hoá thức
ăn kém, hiệu quả sử dụng thức ăn thấp
Gà tăng mức tiêu thụ nước ở nhiệt độ cao để bù đắp cho sự mất nước trong quá trình bốc hơi và làm giảm nhiệt độ cơ thể bằng cách thở và thải phân Chính
vì nước uống vào đi nhanh qua đường tiêu hoá nên kéo theo cả lượng thức ăn chưa được tiêu hoá và hấp thu hết Quá trình đó đã gây nên sự thay đổi về cấu trúc tế bào của bộ máy tiêu hoá, làm thay đổi cả về sức chứa lẫn khả năng tiêu
hoá các chất dinh dưỡng (Nguyễn Đức Hưng, 2006)
2.5 QUY TRÌNH VỆ SINH VÀ PHÒNG BỆNH
Trong những năm gần đây ở nước ta tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm diễn biến hết sức phức tạp, hiện nay vẫn còn một số bệnh nguy hiểm vẫn còn tiềm tàng tồn tại trong môi trường nhất là những nơi đã qua quá trình chăn nuôi trước đó, gây tổn thất rất lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm Trước tình hình này người chăn nuôi bắt buộc phải thực hiện quy trình vệ sinh, sát trùng chuồng trại chặt chẽ khi chăn nuôi gia cầm, để giảm bớt thiệt hại do dịch bệnh gây ra mà còn bảo vệ môi trường và tính mạng con người do lây lan bệnh dịch
2.5.1 Sát trùng chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi
Quy trình vệ sinh, sát trùng cần phải bao gồm tất cả các khu vực trong, ngoài chuồng nuôi kể cả khu vực bảo quản thức ăn và tất cả các dụng cụ chăn nuôi Tần suất áp dụng tùy thuộc vào quy trình và phương thức chăn nuôi Cần
có sổ sách theo dõi ghi chép chương trình vệ sinh, sát trùng (thời gian, loại thuốc, nồng độ pha, …)
Trang 332.4.1.1 Nguyên tắc vệ sinh, sát trùng
- Chỉ dùng thuốc sát trùng sau khi đã làm sạch bề mặt
- Phải để khô hoàn toàn vì vi sinh vật gây bệnh không thể sống trong môi trường khô
2.4.1.2 Quy trình vệ sinh, sát trùng
Bước 1 - Làm sạch chất hữu cơ trước khi rửa:
Hầu hết các thuốc sát trùng không có tác dụng diệt khuẩn nếu dụng cụ được sát trùng không sạch sẽ Đất, rơm, trấu, sữa, máu, phân gây bất hoạt thuốc sát trùng Trước khi rửa bằng nước cần dùng chổi, xẻng hoặc các dụng cụ thích hợp làm sạch các chất hữu cơ bám trên nền chuồng, tường chuồng, trên bề mặt các dụng cụ chăn nuôi
Bước 2 - Rửa sạch bằng nước
Sau khi vệ sinh cơ học các chất hữu cơ tiến hành rửa sạch bằng nước Đối với dụng cụ, sàn, vách ngăn, máng ăn, máng uống… bị chất bẩn bám chặt bề mặt lâu ngày, cần ngâm nước 1 - 3 ngày trước khi rửa
Bước 3 - Tẩy bằng xà phòng, nước vôi hoặc thuốc tẩy:
Dùng nước xà phòng, nước vôi 30% hoặc thuốc tẩy rửa để phun, dội rửa lên nền hoặc ngâm các dụng cụ chăn nuôi
Bước 4 - Sát trùng bằng thuốc sát trùng:
Lưu ý thời hạn dùng thuốc và thời hạn dùng dung dịch thuốc sát trùng đã pha loãng Cần đảm bảo đủ thời gian cho thuốc tiếp xúc với dụng cụ được sát trùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất
Phun thuốc sát trùng trần, tường của chuồng, lồng, máng ăn, máng uống, diện tích xung quanh chuồng bằng dung dịch thuốc sát trùng formol 2% hoặc crezil 3% liều lượng 1 lít/m2 Sau đó, để trống chuồng trong vòng từ 7 đến 14 ngày
Bước 5 - Để khô:
Sau khi khử trùng bằng thuốc, cần phải để khô dụng cụ và trang thiết bị thời gian để khô trước khi thả gia súc, gia cầm vào là 1 - 2 ngày
(PQQ - Khuyến Nông VN, 04/01/2012)
2.5.2 Vệ sinh con giống
Khi mua gia cầm con, phải chọn mua ở những cơ sở giống đã an toàn về dịch bệnh, phải biết rõ nguồn gốc của đàn gia cầm mua Đàn gà giống phải được
Trang 34tiêm ngừa và không mắc bệnh gì, cần đề phòng những bệnh như dịch tả gà,
marek, gumboro, đậu gà… (Bùi Xuân Mến, 2008)
2.5.3 Xử lý chất độn chuồng
Sau khi xuất mỗi lứa gà phải thu dọn phân, làm vệ sinh, thay lớp độn chuồng mới, tổng tẩy uế trong chuồng nuôi, và đảm bảo mỗi chuồng có một thời gian nghỉ trước khi vào nuôi lứa khác: 15 ngày cho gà thịt thương phẩm, 30 ngày cho gà giống sản xuất Vệ sinh tẩy uế chuồng, quét dọn, rửa sạch, quét vôi đặt trên nền chuồng, kệ máng ăn, máng uống Tốt nhất là sát trùng bằng hóa chất như
erezyl, formol… (Lê Hồng Mận, 1999).2.5.4 Phòng bệnh cho gà
Tiêm dưới da cổ Uống hoặc nhỏ mũi Uống hoặc nhỏ mũi
Đậu gà
Lasota Đậu gà
Nhỏ mắt hoặc mũi Đâm qua da cánh
10 – 15 Grumboro lần 2 Grumboro chủng B87 Uống hoặc nhỏ mắt
14 Cúm gia cầm Cúm H5N1 Chủng Re1 Tiêm dưới da
Nhỏ mắt hoặc mũi Uống hoặc nhỏ mũi Uống hoặc nhỏ mắt Tiêm dưới da
Cúm H5N1 Chủng Re-1
Tiêm ức Nhỏ mắt, mũi Tiêm dưới da
Tiêm ức uống hoặc nhỏ mũi
Trang 35CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ
NGHIỆM
3.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM
3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
Thời gian tiến hành thí nghiệm bắt đầu từ tháng 02 năm 2014 đến tháng 04 năm 2014
Thí nghiệm được thực hiện tại trại chăn nuôi gà thực nghiệm Ba Hoàng, tổ
7, khu vực Thới Thạnh, phường Thới An Đông, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ Mẫu thịt được phân tích tại phòng Dinh Dưỡng, bộ môn Chăn Nuôi - thú y, khoa Nông Nghiệp Và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ
3.1.2 Đối tượng thí nghiệm
Thí nghiệm được thực hiện trên 36 con gà Tàu Vàng với tỉ lệ trống, mái là 1:1, gà được đưa vào thí nghiệm lúc bắt đầu tuần tuổi thứ 5 và kết thúc vào cuối tuần tuổi thứ 13
Thí nghiệm mổ khảo sát và phân tích chất lượng thịt được thực hiện trên 12 con gà Tàu Vàng với tỉ lệ trống, mái là 1:1, gà được mổ khảo sát và lấy mẫu vào lúc kết thúc tuần tuổi thứ 13
3.1.3 Chuồng trại thí nghiệm
Trại nuôi gà ở đây có quy mô nhỏ, chỉ có 1 trại được xây dựng theo kiểu 2 mái lợp lá, nền chuồng bằng xi măng, vách được bao bọc bằng lưới B40 xung quanh và có rèm che là các tấm cao su Chuồng được xây dựng theo hướng Đông
- Tây, xung quanh có cây che mát và có gió nhẹ tạo nên sự thông thoáng và mát
mẽ
Trong trại được chia làm 3 dãy chuồng, một dãy nuôi gà sinh sản, một dãy nuôi gà sinh trưởng và dãy còn lại nuôi gà úm Ô chuồng thí nghiệm được bố trí trong trại, thí nghiệm chia làm 6 ô chuồng có diện tích 1,5 m2/ô, được ngăn cách nhau bằng lưới chì, nền chuồng được đệm bằng lớp trấu mới