1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của protein lên năng suất sinh sản của gà ác từ 22 đến 27 tuần tuổi

48 424 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chỉ tiêu về chất lượng trứng như: chỉ số hình dáng, chỉ số lòng trắng đặc, chỉ số lòng đỏ, màu lòng đỏ, độ dày vỏ trứng trung bình và các tỉ lệ về các thành phần của trứng đều không

Trang 1

LÝ HUỲNH NHƯ THẢO

ẢNH HƯỞNG CỦA PROTEIN LÊN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA GÀ ÁC TỪ 22 ĐẾN 27 TUẦN TUỔI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CHĂN NUÔI – THÚ Y

Trang 2

LỜI CẢM TẠ

Con xin tỏ long kính yêu và biết ơn sâu sắc hai đấng sinh thành đã sinh ra con, nuôi nấng và dạy dỗ con lớn lên trong tình yêu thương của mái ấm gia đình Con xin được cảm ơn chú Ba, thím Ba và các anh chị đã quan tâm, chăm sóc,

lo lắng, giúp đỡ và động viên con trong suốt quá trình thực tập

Em xin được gởi lời cảm ơn chân thành đến:

Toàn thể quý thầy cô trong bộ môn Chăn nuôi – Thú Y và Công Nghệ Giống Vật Nuôi đã tận tình chỉ dạy và truyền đạt những kiến thức quý báo cho em

Em xin cảm ơn cô Nguyễn Thị Kim Khang – CVHT đã quan tâm, chỉ dạy và hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập

Cô Nguyễn Nhựt Xuân Dung đã hết lòng dạy dỗ, tận tình hướng dẫn, truyền đạt cho em nguồn kiến thức vô cùng quý báo trong quá trình học tập, đồng thời cô đã tạo điều kiện tốt nhất cho em hoàn thành tốt đề tài này

Thầy Trương Văn Phước chủ trại nuôi gà trứng thương phẩm ở xã Trung An – Tỉnh Tiền Giang – Tp Mỹ Tho đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện và môi trường cho em hoàn thành thí nghiệm tốt nhất Em vô cùng biết ơn những kiến thức thực tiễn mà thầy đã chỉ dạy cho em để một phần làm hành trang bước vào đời Tất cả các anh em ở trại đã giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và làm việc

Chị Ngô Thị Minh Sương và tất cả các bạn trong phòng thí nghiệm đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian qua

Bạn Điền Nhựt Linh – người bạn cùng thực tập chung trại gà, đã quan tâm, giúp đỡ, chia sẽ những buồn vui và khó khăn trong suốt 3 tháng hoàn thành thí nghiệm

Một lần nữa em xin được cảm ơn và biết ơn sâu sắc đến tất cả mọi người Chúc mọi người thật nhiều sức khoẻ, nhiều niềm vui và luôn thành công trong cuộc sống!

Cần Thơ, Ngày….tháng…năm… Sinh viên thực hiện

LÝ HUỲNH NHƯ THẢO

Trang 3

TÓM LƯỢC

Một thí nghiệm được thực hiện để đánh giá khả năng ảnh hưởng của các mức độ protein lên năng suất sinh sản của gà Ác từ 22 – 35 tuần tuổi Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức (NT) là đối chứng (ĐC) có 17,0% CP với mức năng lượng (ME) là 2500 Kcal/kg; NT1 có 17,5%

CP (CP C ); NT2 có 16,0% CP (CP V ); NT3 có 14,5% CP (CP T ) và có cùng mức

độ năng lượng là 2600 Kcal/kg, được lập lại 7 lần

Các chỉ tiêu theo dõi gồm tỉ lệ đẻ, tiêu tốn thức ăn, khối lượng trứng và hiệu quả sử dụng thức ăn

Các mức độ protein ảnh hưởng lên tỉ lệ đẻ trứng của gà Ác (P=0,05) Tỉ lệ

đẻ của các thí nghiệm lần lượt là (ĐC) 57,27%; (CP C ) 64,59%; (CP V ) 61,94%; (CP T ) 55,98% Khối lượng trứng (g) không bị ảnh hưởng bởi các mức độ protein (P=0,35) lần lượt là (ĐC) 32,39 g; (CP C ) 32,73 g; (CP V ) 32,77 g; (CP T ) 31,95 g Nhưng các mức độ protein lại ảnh hưởng lên khối lượng trứng (g/gà/ngày), kết quả lần lượt là (ĐC) 18,54; (CP C ) 21,16; (CP V ) 20,30; (CP T ) 17,88 Tiêu tốn thức ăn (g/ngày) cũng bị các mức độ protein ảnh hưởng (P=0,03), cao nhất là nghiệm thức CP C 65,44 và thấp nhất là nghiệm thức CP T 58,01 Tuy nhiên các mức độ protein không ảnh hưởng lên hệ số chuyển hóa thức ăn (P=0,76), kết quả lần lượt như sau: (ĐC) 3,17; (CP C ) 3,12; (CP V ) 3,07 và (CP T ) 3,28

Các chỉ tiêu về chất lượng trứng như: chỉ số hình dáng, chỉ số lòng trắng đặc, chỉ số lòng đỏ, màu lòng đỏ, độ dày vỏ trứng trung bình và các tỉ lệ về các thành phần của trứng đều không có ý nghĩa thống kê Chỉ riêng đơn vị Haugh bị ảnh hưởng bởi các mức độ protein (P=0.05), cao nhất là 72.97 (ĐC) và thấp nhất là 61.91 (CP T. )

Hiệu quả kinh tế: CPC có hiệu quả kinh tế cao nhất là 1.839.563 đồng và thấp nhất là ĐC 1.605.403 đồng

Nên sử dụng thức ăn có mức protein 17,5% cho gà Ác đẻ trứng thương phẩm vì với khẩu phần này gà có tỉ lệ đẻ cao, hiệu quả sử dụng thức ăn tốt và đem lại hiệu quả kinh tế cao

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bài trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây

Tác giả luận văn

LÝ HUỲNH NHƯ THẢO

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ i

TÓM LƯỢC ii

LỜI CAM ĐOAN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC HÌNH viii

DANH MỤC BẢNG ix

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2

2.1 SƠ LƯỢC VỀ MỘT SỐ GIỐNG GÀ NỘI ĐỊA Ở NƯỚC TA 2

2.1.1 Gà Tre 2

2.1.2 Gà Ri 2

2.1.3 Gà Nòi (hay còn gọi là gà chọi) 2

2.1.4 Gà Tàu Vàng 2

2.1.5 Gà Ta Vàng 3

2.1.6 Gà Ác 3

2.1.6.1 Tốc độ tăng trưởng của gà Ác 3

2.1.6.2 Phẩm chất quầy thịt của gà Ác 5

2.1.6.3 Khả năng sản xuất trứng của gà Ác 6

2.1.6.4 Sức đẻ trứng của gia cầm 7

2.2 ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẨU VÀ SINH LÝ SINH SẢN CHUNG CỦA GIA CẦM MÁI 8

2.2.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh sản 8

2.2.2 Sự hình thành quả trứng trong ống dẫn trứng 10

2.2.3 Đẻ trứng 11

2.3 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA GIA SÚC 11

2.3.1 Thành phần protein và nhu cầu protein 11

2.3.1.1 Nhóm acid amin không thay thế (acid amin thiết yếu) 12

2.3.1.2 Nhóm acid amin thay thế được 14

2.3.2 Vai trò của protein đối với gia cầm 14

2.3.2.1 Nhu cầu sinh trưởng 15

2.3.2.2 Nhu cầu đẻ trứng 16

2.3.3Vai trò của năng lượng đối với gia cầm 16

2.3.4 Tỉ lệ năng lượng và protein đối với gia cầm 17

2.3.5 Vitamin 17

2.3.6 Khoáng 18

Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 20

Trang 6

3.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 20

3.1.1 Thời gian thực hiện 20

3.1.2 Địa điểm thí nghiệm 20

3.1.3 Chuồng trại 20

3.1.4 Động vật thí nghiệm 21

3.1.5 Thức ăn thí nghiệm và các khẩu phần thí nghiệm 22

3.1.6 Dụng cụ thí nghiệm 22

3.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 23

3.2.1 Bố trí thí nghiệm 23

3.2.2 Chăm sóc nuôi dưỡng 23

3.2.3 Quy trình phòng bệnh 23

3.2.4 Phương pháp lấy mẫu trứng 23

3.2.5 Phân tích hóa học 23

3.3 CHỈ TIÊU THEO DÕI 23

3.3.1 Tỉ lệ đẻ 23

3.3.2 Tiêu tốn thức ăn 24

3.3.3 Khối lượng trúng (g) 24

3.3.4 Khối lượng trứng (g/gà/ngày) 24

3.3.5 Hệ số chuyển hóa thức ăn (HSCHTA) 24

3.4 CHỈ TIÊU VỀ TÍNH CHẤT CỦA TRỨNG 24

3.4.1 Chỉ số hình dáng 24

3.4.2 Chỉ số lòng đỏ 24

3.4.3 Chỉ số lòng trắng 24

3.4.4 Độ dày vỏ (mm) 24

3.4.5 Đơn vị Haugh (Haugh Unit, HU) 24

3.5 HIỆU QUẢ KINH TẾ 25

3.6 XỬ LÝ SỐ LIỆU 25

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 NHẬN XÉT VỀ ĐÀN GÀ TRONG THỜI GIAN NUÔI THÍ NGHIỆM

Trang 7

26

4.2 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC ĐỘ PROTEIN LÊN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG 26

4.3 ẢNH HƯỞNG CÁC MỨC ĐỘ PROTEIN CỦA KHẨU PHẦN LÊN SỰ TIÊU THỤ DƯỠNG CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG CỦA GÀ 29

4.4 ẢNH HƯỞNG CÁC MỨC ĐỘ PROTEIN CỦA KHẨU PHẦN LÊN CHẤT LƯỢNG TRỨNG GÀ 30

4.5 HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ CÁC KHẨU PHẦN TRONG THÍ NGHIỆM 33 Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35

5.1 KẾT LUẬN 35

5.2 ĐỀ NGHỊ 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

HSCHTA Hệ số chuyển hóa thức ăn

ME Metabolisable energy (Năng lượng trao đổi) NDF Neutral detergent fiber (Xơ trung tính)

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Cơ quan sinh dục tạo trứng của gà mái 9

Hình 3.1: Bảng đồ địa điểm thí nghiệm 20

Hình 3.2: Sơ đồ trại 20

Hình 3.3: Trại gà nuôi thí nghiệm 21

Hình 3.4: Hệ thống máng ăn và máng uống 21

Hình 3.5: Gà nuôi thí nghiệm 22

Hình 3.6: Trứng gà Ác 25

Hình 4.1: Ảnh hưởng của protein lên tỉ lệ đẻ trứng, % và HSCHTA 28

Hình 4.2: Ảnh hưởng của các mức protein lên khối lượng trứng, g/gà/ngày và tiêu tốn thức ăn, g/ngày 28

Hình 4.3: Ảnh hưởng của các mức protein lên tiêu tốn thức ăn, g/ngày và tiêu tốn thức ăn, g/ trứng 30

Hình 4.4: Ảnh hưởng của protein lên sự tiêu thụ dưỡng chất và năng lượng của gà 32

Hình 4.5: Ảnh hưởng của protein lên chỉ số hình dáng và đơn vị Haugh 32

Hình 4.6: Ảnh hưởng của protein lên màu lòng đỏ 33

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Trọng lượng bình quân của gà Ác qua các tuần tuổi 4Bảng 2.2: Đánh giá cảm quan thịt gà Ác, gà Ri và gà Giò lúc 8 tuần tuổi 5Bảng 2.3: Thành phần (đạm, béo, khoáng) của thịt gà Ác và gà Ri lúc 8 tuần tuổi 6Bảng 2.4: Hệ số chuyển hóa thức ăn/10 quả trứng của gà Ác 7Bảng 2.5: Nhu cầu protein trong thức ăn Error! Bookmark not defined.Bảng 2.6: Hàm lượng các chất khoáng có trong cơ thểError! Bookmark not defined

Bảng 3.1: Thành phần hóa học của các khẩu phần thí nghiệm Error! Bookmark not defined

Bảng 4.1: Ảnh hưởng của các mức độ protein lên năng suất sản xuất của gà

Ác Error! Bookmark not defined.Bảng 4.2: Ảnh hưởng của các mức độ protein của khẩu phần lên sự tiêu thụ dưỡng chất và năng lượng của gà 29Bảng 4.3: Ảnh hưởng của các mức độ protein của khẩu phần lên chất lượng trứng gà 31Bảng Hiệu quả kinh tế và các khẩu phần trong thí nghiệm 34

Trang 12

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

Nước ta là một nước nông nghiệp lâu đời, trồng trọt và chăn nuôi giữ vị trí hàng đầu, trong đó, chăn nuôi gia cầm có vai trò cực kỳ quan trọng vì nó cung cấp một lượng lớn sản phẩm như: thịt, trứng đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cao cho con người

Trong những năm gần đây nước ta đầu tư và đẩy mạnh ngành chăn nuôi gia cầm nhằm góp phần làm đa dạng nguồn sản phẩm trên thị trường So với nhu cầu thị hiếu chung thì hiện nay người tiêu dùng thích sử dụng các sản phẩm gia cầm địa phương như gà Tre, gà Ri, gà Nòi, gà Tàu Vàng, gà Ta Vàng, gà Ác Sản phẩm trứng của các giống gà địa phương này rất được ưa chuộng vì rất giàu dinh dưỡng, sản phẩm thịt thì thơm ngon và bổ dưỡng hơn

so với gà công nghiệp, chứa nhiều axid amin, khoáng vi lượng Thịt gà ác từ lâu đã được nhân dân ta sử dụng như một vị thuốc bổ (gà ác hầm thuốc bắc,

gà ác chưng ngũ vị ) (Bùi Kim Tùng, 1993), một số nơi còn dùng thịt gà ác làm thuốc điều trị một số bệnh, đặc biệt là chất sắt tốt cho người bệnh, sản phụ

và người già yếu và trẻ nhỏ Theo Lê Viết Ly et al (2001), gà Ác là một trong những giống gà địa phương được nuôi phổ biến các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ Với đặc trưng ngoại hình riêng biệt là lông trắng, da, thịt, xương đen và có chân năm ngón hay còn được gọi là “ Ngũ trảo”

Nghiên cứu về sự sinh trưởng và phát triển của gà Ác cũng như nghiên cứu

về sự ảnh hưởng các mức protein lên năng suất sinh sản của gà Ác ở nước ngoài rất nhiều nhưng ở Việt Nam còn hạn chế Protein là những dưỡng chất thiết yếu rất quan trọng trong khẩu phần thức ăn và ảnh hưởng trực tiếp lên khả năng sinh trưởng, sinh sản, phát triển của gà Ác qua từng giai đoạn Ngoài

ra, protein còn tác động đến sản phẩm thịt, trứng và quan trọng hơn nữa là năng suất sinh sản

Chính vì những lý do trên và được sự cho phép của Bộ môn Chăn nuôi Thú Y thuộc Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng dụng của trường Đại học Cần Thơ chúng tôi tiến hành thí nghiệm “ Ảnh hưởng các mức protein lên năng suất sinh sản của gà Ác” nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của protein lên tỉ lệ đẻ, mức tiêu tốn thức ăn, chất lượng trứng và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà Ác

Trang 13

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 Sơ lược về một số giống gà nội địa ở nước ta:

2.1.1 Gà Tre:

Đây là một giống gà bản địa đã từng khá phổ biến tại khu vực miền Nam Việt Nam, đặc biệt làTây Nam Bộ, có kích thước bé, màu lông con trống sặc

sỡ tía đen, nâu sáng, vàng chuối… lông đuôi dài và to so với thân mình, màu

nụ, chân cao, săn chắc Con mái có màu lông đen (ô), vàng, mấu đất… Trưởng thành (12 tháng tuổi) gà trống chỉ nặng trên dưới 1 kg, gà mái 0,7-0,8 kg, gà

đẻ ít 50-60 quả/năm/mái, khối lượng trứng 21-22 g/quả (Lê Hồng Mận, 2002) 2.1.2 Gà Ri:

Là giống gà phổ biến được nuôi ở nhiều nơi Gà có tầm vóc nhỏ, dáng thanh, đầu nhỏ, mỏ vàng, cổ và lưng dài, chân nhỏ màu vàng Gà trống có bộ lông màu nâu sẫm, gà mái có bộ lông màu vàng nhạt

Lúc trưởng thành, con trống nặng 1,8 – 2,3 kg, con mái nặng 1,2 – 1,8 kg, sản lượng trứng trung bình 90 – 120 quả/năm, khối lượng trứng 38 – 42g, gà mái ấp trứng và nuôi con khéo

2.1.3 Gà Nòi (còn gọi là gà chọi):

Giống gà này được nuôi rải rác ở nhiều nơi Có bộ lông phát triển đầy đủ với cựa bén nhọn và dài, đầu to, mỏ đen, mồng hạt đậu, mắt màu đen có vòng

đỏ, cổ dài to, chân coa đen xám, cựa dài, màu da hồng, lông thường đen, xám

có khi pha lẫn màu vàng tươi óng ánh hoặc đỏ, lông đuôi đen

Lúc trưởng thành gà trống nặng 3,0 – 4,0 kg, gà mái nặng 2,0 – 2,5 kg, sản lượng trứng bình quân 60 – 70 quả/năm, vỏ trứng có màu hồng, khối lượng trứng 50 – 55g (Lê Thanh Hải et al 1995)

2.1.4 Gà Tàu Vàng

Có xuất xứ từ Trung Quốc và được nuôi phổ biến ở các tỉnh Nam Bộ Gà

có tầm vóc cao lớn màu lông phổ biến là vàng rơm, vàng đậu, có đốm đen ở

cổ cánh và đuôi Đa phần có mào đơn đỏ tươi, một số mào kép (mào nụ) Gà mọc lông chậm, 3 tháng tuổi gà trống còn lông lơ thơ (Lê Hồng Mận, 2002)

Dọc bàn chân có hàng lông nhỏ mọc phía ngoài chân và mọc xuống dưới

Lúc trưởng thành, gà trống nặng 3 kg, gà mái 2,0-2,2 kg sản lượng trứng một mái trung bình 90-100 trứng trên năm, trứng nặng 45-50 g Con mái ấp và

Trang 14

nuôi con giỏi Gà thịt dễ nuôi, cho thịt ngon và được nhiều người ưa chuộng (Bùi Xuân Mến, 2007)

2.1.5 Gà Ta Vàng

Giống gà được nuôi phổ biến ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Có màu lông vàng, mỏ vàng, đôi khi có vệt đen ở mỏ; da vàng; chân vàng và thấp; cổ ngắn thân mình vừa phải; lưng phẳng, chân màu vàng và không có lông Gà mái có màu vàng tươi, chót cánh và chót đuôi có lông màu đen Gà trống có màu vàng đỏ

Lúc trưởng thành, con trống đạt 2,3 kg, con mái 1,5-1,6 kg, sản lượng trứng/năm đẻ 80-100 quả Trọng lượng trứng đạt khoảng 39-40g Gà thay lông vào mùa thu, thường kéo dài từ 1,5 đến 2 tháng Gà chịu được cuộc sống kham khổ tốt, chịu khó kiếm mồi, nhưng dễ nhiễm bệnh tụ huyết trùng, tân thanh gà (Lê Hồng Mận, 2001)

2.1.6 Gà Ác:

Được nuôi phổ biến ở vùng nông thôn miền Nam, có xuất xứ từ tỉnh Long

An Là giống gà có kích thước bé nhất, chân thấp, có 5 ngón màu xanh (ngũ trảo), màu lông trắng tuyền, riêng da, mỏ, thịt, xương đều đen, thịt hơi tanh do sắc nhiều (Lê Hồng Mận, 2002)

Lúc trưởng thành, con trống có khối lượng 700 – 800g và con mái đạt

500 – 600g Sản lượng trứng trung bình đạt 80 – 90 quả/năm Khối lượng trứng từ 20 – 30g Tỉ lệ trứng có phôi 90% Tỉ lệ nở trên tổng số trứng ấp tự nhiên là 70 – 80% Tỉ lệ nuôi sống con là 90% (Đào Đức Long, 2004)

Gà ác dễ nuôi, thích ứng với nhiều phương thức nuôi dưỡng khác nhau, thích nghi với điều kiện tự nhiên của nước ta, có khả năng tự kiếm mồi tốt và

có tỷ lệ nuôi sống cao Gà Ác thường được nuôi để ăn thịt, thịt gà chứa nhiều chất thuốc rất tốt cho cơ thể nên rất được nhiều người sử dụng làm thức ăn bồi

bổ sức khỏe

2.1.6.1 Tốc độ tăng trưởng của gà Ác:

Tỷ lệ nuôi sống của gà ác thì không cao, bởi vì gà ác phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ từ 22 – 30oC và gà thường chết trong giai đoạn từ 1 – 7 tuần tuổi

Trang 15

Gà ác có trọng lượng nhỏ con hơn các giống gà địa phương khác (bảng 2.1), trọng lượng lúc 8 tuần tuổi từ 309,8 g – 370,4 g; trong khi đó trọng lượng của gà Ri là 559 g, gà Mía là 656 g và gà Đông Tảo là 778 g Trọng lượng của con trống và mái cũng có sự khác biệt đáng kể (bảng 2.1)

Bảng 2.1: Trọng lượng bình quân của gà Ác qua các tuần tuổi (g)

Hệ số chuyển hóa thức ăn của gà ác từ 1,4 – 3,3 kg, thấp hơn so với gà Ri (3,55 kg) và gà Mía (3,59 kg) Tập tính cho ăn của giống gà địa phương ảnh hưởng lên năng suất (Nguyễn Văn Thiện et al., 1999)

Theo Nguyễn Hữu Lợi (2009), nghiên cứu ảnh hưởng của các mức độ protein thô và năng lượng lên khả năng tăng trọng và tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất của gà ác cho kết quả nuôi gà ác giai đoạn từ 3 – 8 tuần tuổi với khẩu phần có mức năng lượng 12MJ và CP 20% cho tăng trọng là 7,16 g/con/ngày và FCR

là 3,1

Theo Trần Thị Đoan Oanh (2004), nghiên cứu sử dụng chế phẩm tự nhiên thay thế kháng sinh trong chăn nuôi gà ác cho kết quả trọng lượng bình quân của lô gà ác dùng chế phẩm tự nhiên nặng hơn 21,8% – 27,9 % so với gà không dùng chế phẩm (lúc 5 tuần tuổi) Tăng trọng tuyệt đối từ 0 – 5 tuần tuổi của gà dùng chế phẩm tự nhiên cao hơn 24,82% – 31,47% so với gà không

Trang 16

dùng chế phẩm Tiêu tốn thức ăn của lô bổ sung chế phẩm giúp gà chuyển hóa thức ăn tốt, hệ số chuyển biến thức ăn thấp hơn 32% – 36% so với gà không dùng chế phẩm

2.1.6.2 Phẩm chất quầy thịt của gà Ác

Đặc điểm của thịt gà Ác so với thịt gà khác được trình bày ở bảng 2.2 và 2.3 Thịt gà Ác ngon hơn gà Ri và gà giò, bởi vì nó có mùi vị đậm đà và độ rỉ nước thấp

Hàm lượng colagen trong thịt gà ác cao hơn so với thịt gà giò (1,3 – 3,0%)

và gà tây (1,2 – 3,3%), đều này làm cho thịt gà ác thơm ngon hơn khi giết thịt lúc 8 tuần tuổi trọng lượng đạt 300g

Bảng 2.2: Đánh giá cảm quan thịt gà Ác, gà Ri và gà Giò lúc 8 tuần tuổi

Trang 17

Bảng 2.3: Thành phần (đạm, béo, khoáng) của thịt gà Ác và gà Ri lúc 8 tuần tuổi

Nguồn: Bùi Đức Lũng et al., 2002

2.1.6.3 Khả năng sản xuất trứng của gà Ác

Sản lượng trứng của gà Ác thấp hơn gà chân đen Trung Quốc (113,9 – 122,7 trứng/gà/năm) nhưng cao hơn gà Mía (75,6 trứng/gà/năm) và gà Đông Tảo (67,7 trứng/gà/năm) Trọng lượng trứng gà Ác cũng nhỏ hơn so với trứng

gà địa phương khác (gà Ác 23,4 g; gà Ri 45,3 g; gà Mía 47,2 g và gà Đông Tảo là 45,3 g) Hệ số chuyển hóa thức ăn/10 quả trứng của gà Ác là 2,32 kg thấp hơn so với gà Ri là 2,67 kg (Bùi Đức Lũng và Trần Long, 1994)

Theo nghiên cứu của Trần Thị Dân và Nguyễn Ngọc Tuân (1998), tuổi bắt đầu đẻ của gà Ác từ 5 – 7 tháng tuổi với mỗi chu kỳ đẻ khoảng 15 trứng Trọng lượng trứng khoảng 30g và trọng lượng trưởng thành của con trống là 1,4kg và con mái là 0,8 – 1,2 kg

Khả năng sinh sản của các nhóm gà Ác cũng có sự khác nhau, theo Trịnh Công Thành và Phạm Thị Hiên (2009), bước đầu nghiên cứu tạo dòng gà Ác Kết quả, qua 5 thế hệ chọn lọc tạo dòng, nhóm nghiên cứu đã tạo ra 2 dòng gà

Ác mới là gà Ác có lông chân và gà Ác không có lông chân (38/100 con cho trứng trong khi các loại gà Ác khác hai dòng nói trên là 29/100 con cho trứng) Dòng gà Ác có lông chân có khuynh hướng di truyền về tăng trưởng trong khi

Trang 18

đó, dòng gà Ác không có lông chân lại có khuynh hướng di truyền về sinh sản

Hệ số chuyển hóa thức ăn/10 quả trứng của gà ác được trình bày bảng 2.4

Bảng 2.4: Hệ số chuyển hóa thức ăn/10 quả trứng của gà Ác

Trang 19

Tỷ lệ đẻ được tính bằng tỷ số trứng thu được và số ngày gà mái đẻ trong thời gian nhất định như trong ngày, trong tuần, trong tháng (Lâm Minh Thuận, 1999)

Tình trạng sức khỏe cũng ảnh hưởng đến tuổi đẻ trứng đầu, khi đàn gà mái hậu bị trải qua tình trạng bệnh thì gà mái bắt đầu đẻ rải rác, không tập trung (Lâm Minh Thuận, 1999)

Chu kỳ đẻ trứng là số trứng đẻ liên tục không gián đoạn tiếp theo một ngày nghỉ Khi gà mái đẻ cách nhật tức là đẻ một ngày nghỉ một ngày như vậy tỷ lệ

đẻ 50% Gà có năng suất trứng cao khi chu kỳ đẻ trứng trên > 3 quả Chu kỳ

đẻ trứng liên quan tới thời gian tạo trứng, gà có thời gian tạo trứng chỉ ổn định khi các điều kiện ảnh hưởng đến quá trình tạo trứng ổn định

2.2 Đặc điểm giải phẫu và sinh lý sinh sản chung của gia cầm mái 2.2.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh sản

Buồng trứng là nơi tạo ra lòng đỏ trứng có kích thước lớn, giàu dinh dưỡng Trong giai đoạn đầu của phát dục phôi thai cả hai buồng trướng đều hình thành và phát triển, sau khoảng một tuần thì buồng trứng trái phát triển mạnh hơn và dần chiếm ưu thế, buồng trứng phải tiêu biến đi Buồng trái nằm

ở thắt lưng của xoang bụng, phía trước thận trái và chứa nhiều tế bào trứng ở những giai đoạn phát triển khác nhau (gà có từ 500 – 3000 tế bào), khối lượng buồng trứng thay đổi theo loài, giống, tuổi, tình trạng dinh dưỡng… - ống dẫn trứng của gà đẻ lúc bình thường dài 10 – 20cm, đường kính 0,3 – 0,8 em vào lúc đẻ rộ có thể dài tới 40 – 50 cm, ống dẫn trứng chia làm 5 đoạn, mỗi đoạn

có chức năng sinh lý riêng:

Loa kèn là phần đầu tiên bao quanh buồng trứng, có hình ô van có đường kính 8 – 10 em tạo thành dạng phễu để hứng trứng rụng, cuối loa kèn thu hẹp lại còn 2 – 4 cái gọi là cổ loa kèn

Trang 20

Phần tiết lòng trắng có thành cơ dày, dài khoảng 30 – 35 cm, mặt niêm mạc có khoảng 15 – 20 nếp gấp niêm mạc theo chiều dọc cao 4,5 mm, dày 2,5

mm, trên thành niêm mạc có nhiều tuyến tiết lòng trắng, cuối đoạn này không

có tuyến và hơi thắt hẹp lại để chuyển sang phần eo

Phần eo có đường kính nhỏ, dài khoảng 8 em, cấu tạo có lớp cơ vòng dày

Hình 2.1: cơ quan sinh dục tạo trứng của gà mái

Tử cung có hình túi, không có ranh giới rõ rang với phần eo, độ dài tử cung khoảng 8 – 9 cm Thành tử cung cấu tạo gồm nhiều lớp cơ vòng dày và lớp cơ dọc Màng nhày niêm mạc tử cung tạo ra nhiều nếp gắp, làm cho tử cung có thể giãn rộng để tiếp nhận trứng di chuyển xuống Tử cung là phần chủ yếu tạo

ra lớp vỏ cứng của trứng

Âm đạo hơi co hẹp lại ngăn cách với tử cung bằng một vòng cơ thắt, lớp

cơ vòng âm đạo rất phát triển, niêm mạc âm đạo cũng tạo nhiều nếp gấp thấp

có chức năng hoàn chỉnh cấu tạo của quả trứng trước khi gà đẻ trứng qua lỗ huyệt

Thành ống dẫn trứng có cấu tạo từ 4 màng với 7 lớp khác nhau Màng phúc mạc bao phủ mặt ngoài ống dẫn trứng Màng cơ có 2 lớp cơ vòng và cơ dọc

Trang 21

Màng mao mạch nằm phía trong màng cơ gồm 2 lớp mô lien kết: một lớp chứa các mạch máu lớn, một lớp chứa các mao mạch Lớp trong cùng được phủ kín bằng lớp biểu mô nhung mao gọi là lớp màng nhầy Ngoài ra trong lớp biểu mô nhung mao còn có các tế bào hình cốc và nhiều loại tuyến có chức năng tiết dịch (trừ âm đạo) Có 2 loại tuyến: tuyến đơn bào tiết dịch nhầy muxin và tuyến ống tiết ra dịch tiết lỏng có hạt Dịch tiết từ hai loại tuyến trộn chung lại tạo thành lòng trắng trứng Ở phần eo, tuyến đơn bào giống như tuyến ở phần tiết lòng trắng nhưng thấp và nhỏ hơn, cả hai loại tuyến ở phần

eo tiết dịch hình thành màng dưới lớp vỏ cứng của trứng Vỏ cứng được hình thành chủ yếu từ dịch tiết của các tuyến ở phần tử cung Phần âm đạo không

có tuyến, toàn bộ lớp biểu bì mô âm đạo đều có chức năng tiết dịch tạo thành lớp sáp bao phủ vỏ cứng, có chứng năng bảo vệ chung chống nhiễm khuẩn 2.2.2 Sự hình thành quả trứng trong ống dẫn trứng

Quả trứng hình thành qua nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn hoàn thành một phần cấu tạo của quả trứng hoàn chỉnh

Trước tiên tế bào trứng có dạng hình cầu màu vàng được tách khỏi buồng trứng để chuyển vào túi lòng đỏ hoặc vào loa kèn và dừng lại ở đó khoảng 20 phút để ược gắn dây chằng lên bề mặt nhưng chưa hoàn chỉnh Dây chằng lòng đỏ được hoàn chỉnh dần tới tận tử cung mới kết thúc

Tiếp theo, lòng đỏ chuyển tiếp tới phần tiết lòng trắng và lưu ở đây chừng 2,5 – 3,0 giờ, tốc độ di chuyển khoảng 2 – 3 mm/phút Do di chuyển của lòng

đỏ theo chiêu quay xoắn trong ống dẫn trứng nên dây chằng lòng đỏ có dạng xoắn Ở phần này lòng đỏ được bao một lớp lòng trắng đặc cố định lòng đỏ ở giữa bởi dây chằng xoắn ở hai đầu Phần tiết lòng trắng của ống dẫn trứng tiếp tục tham gia tạo thành lớp lòng trắng loãng bao ngoài lớp lòng trắng đặc Lớp này đến phần eo thì hoàn chỉnh về cơ bản Lớp bao ngoài lòng trắng loãng cũng bắt đầu hình thành từ phần tiết lòng trắng của ống dẫn trứng nhưng đến phần eo mới đầy đủ Sau khi qua phần tiết lòng trắng thì 60% lòng trắng của quả trứng đã được tạo ra

Trứng tiếp tục chuyển xuống phần eo với tốc độ quay chuyển chận hơn (khoảng 1,4 mm/phút) Phần eo tiết ra dịch dạng keo tạo thành những sợi keo nhỏ, mảnh, gắn chặt các phần với nhau Trong quá trình vận chuyển xoay, các sợi keo xoắn lại dần tạo thành dây chằng lòng đỏ Một phần dịch tiết của phần

eo là những hạt protein nhỏ như keratin, những hạt này thấm nước phồng lên, loãng ra tạo thành lớp màng trong dưới vỏ cứng gồm nhiều sợi rất nhỏ lien kết lại với nhau Trong thời gian dừng lại ở phần eo, trứng tích tụ các chất tiết tạo thành màng ngoài dưới vỏ cứng gồm những sợi lòng trắng to hơn Trong khi hình thành màng dưới vỏ cứng thì ở phần eo cũng xảy ra đồng thời quá trình

Trang 22

tích lũy lớp ngoài lòng trắng loãng Thời gian di chuyển của trứng qua phần eo khoảng 70 phút

Ở phần tử cung, các tuyến tiết ra dịch tiết chứa nhiều nước và chất khoáng Nhờ tính thấm cao của các lớp màng, nước bắt đầu ngấm vào các lớp lòng trắng làm cho lòng trắng loãng ra, các màng dãn căng lên, phía ngoài màng dưới vỏ cứng cũng bắt đầu tích lũy lớp vỏ cứng Ban đầu chỉ là sự lắng đọng của những hạt calci rất nhỏ trên bề mặt của màng dưới vỏ cứng, sau đó tăng dần lên trong quá trình lắng đọng muối calci Muối calci lắng đọng được hòa lẫn một ít lòng trắng tạo thành những núm gai chắc gắn lại với nhau nhưng ở giữa vẫn có các lỗ khí nhỏ, tạo điều kiện cho trao đổi khí của quả trứng với môi trường bên ngoài Trên bề mặt lớp vỏ cứng có lớp protein dạng sợi keo tiết ra từ những tuyến ở phần đầu tử cung, giữa các sợi keo cũng chứa muối calci Đây là lớp thứ hai của vỏ cứng, lớp này chiếm 2/3 chiều dày của vỏ cứng Nhờ các sợi protein làm khung nên các lỗ khí vẫn được duy trì Mật độ

lỗ khí phân bố không đều, đầu to nhiều hơn đầu nhỏ Quả trứng di chuyển qua

tử cung mất khoảng 19 – 20 giờ Ở gà, mỗi vỏ cứng của trứng tích lũy chừng 5 gam Ca nên nhu cầu calci của gà đẻ rất cao

Sau khi hình thành vỏ cứng, các sắc tố có dạng vân ngắm vào vỏ hình thành màu vỏ trứng Màu vỏ trứng là tính trạng chất lượng có tính di truyền cao xác định theo loài, giống Tử cung còn hình thành lớp màng ngoài vỏ cứng không màu có bản chất là lớp sáp mỏng mịn Ánh sáng có chức năng bảo vệ tránh sự nhiễm khuẩn vào trứng

Trứng qua âm đạo rất nhanh sau đó ra ngoài qua lỗ huyệt khi gà đẻ

Qúa trình hình thành trứng diễn ra trong các phần của ống dẫn trứng vào khoảng 23,5 – 24 giờ

2.2.3 Đẻ trứng

Quá trình đẻ diễn ra do co bóp của cơ trơn tử cung, âm đạo Âm đạo là phần cuối ống dẫn trứng có chiều dài bằng chiều dài trong Thành âm đạo có nhiều lớp cơ trơn co bóp chuyển trong từ tử cung qua âm đạo và lỗ huyệt ra ngoài Khi đẻ, phần lớn đầu nhỏ của các tuyến ra trước Các giống gà của ta thường đẻ 10 – 20 trứng rồi ấp nhưng các giống gà được chọn lọc chuyên đẻ

có thể đẻ tới 300 trứng/năm và mất phản xạ ấp trứng Vì thế, khi nuôi gà đẻ ta phải chú ý cung cấp đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng để tạo trứng nhất

là năng lượng, protein, Ca, P và các loại vitamin A, D, E…

2.3 Nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm:

2.3.1 Thành phần protein và nhu cầu protein

Trang 23

Protein thô bao gồm vật chất chứa azot (N), trong đó có Protid và phiprotid Protid luôn luôn có N là chất dinh dưỡng đặc trưng quan trọng nhất

N-và có các chất carbon, hydro, oxy tạo thành hợp chất hữu cơ, còn có lưu huỳnh, phospho và một số nguyên tố vi lượng khoáng mà ở các phân tử lipid, tinh bột thường có

Protein là thành phần cấu tạo tế bào, chiếm đến 1/5 khối lượng cơ thể gà, 1/8 khối lượng trứng Tế bào trứng, tế bào tinh trình, sản phẩm thịt, trứng đều được cấu tạo từ protid Vì vậy, thiếu protein trong thức ăn thì năng suất trứng, thịt giảm

Protid tham gia cấu tạo các men sinh học, các horom làm chức năng xúc tác, điều hòa quá trình đồng hóa các chất dinh dưỡng trong cơ thể gia súc, gia cầm Protein cung cấp năng lượng cho cơ thể như trên đã viết

Bảng 2.5: Nhu cầu protein trong thức ăn

Gà con 0 – 4 tuần tuổi 22 – 24 %

Gà con 5 – 8 tuần tuổi 21 – 22 %

Gà đẻ giai đoạn đầu 18 %

Gà đẻ giai đoạn sau 15 – 16 %

Gà đẻ giai đoạn cuối 13 – 14 % Với các tỉ lệ trên tùy thuộc vào mỗi giống mà có mức cụ thể thích hợp Protein được tạo thành từ nhiều acid amin Acid amin gồm 2 nhóm acid amin không thay thế và acid amin thay thế

2.3.1.1 Nhóm acid amin không thay thế (acid amin thiết yếu)

Nhóm này cơ thể động vật không tổng hợp được mà phải cung cấp từ nguồn thức ăn, gồm 10 loại cho gia cầm là arginin, histidin, leucin, isoleucin, phenylalanin, valin, threonin, lysin, methionin, tryptophan, còn glycin cần thiết cho thức ăn gà dò, không quan trọng ở thức ăn gà lớn

Lysin có vai trò quan trọng nhất cho sinh trưởng, sinh sản đẻ trứng Lysin cần cho tổng hợp nucleoproteid, hồng cầu, trao đổi azot, tạo sắc tố melamin ở

da, lông Thiếu lysin trong thức ăn làm giảm đẻ, tăng trọng chậm, giảm hồng cầu, chuyển hóa caxi, phospho giảm, gây còi xương, cơ thoái hóa, rối loạn sinh dục Lysin có nhiều trong bột cá (8,9%); sữa khô (7,9%); men lạc ít lysin (2,9 – 3,4%) Có L-lysin tổng hợp vi sinh bổ sung tốt khi thức ăn thiếu lysin hoặc để giảm nguồn động vật như bột cá, bột thịt Nhu cầu lysin trong thức ăn:

gà thịt 1,1 – 1,2%; gà đẻ 0,75 – 0,85%

Trang 24

Methionin có vai trò quan trọng đến sinh trưởng, chức năng gan, thận, đều hòa chuyển hóa lipid, chống mỡ hóa gan, cần thiết cho sinh sản tế bào, tham gia quá trình đồng hóa, dị hóa của cơ thể Thiếu methionin trong thức ăn làm mất tính thèm ăn, gà ăn ít làm cho thiếu máu, thoái hóa cơ, nhiễm mỡ gan, hạn chế tổng hợp hemoglobin, giảm sự phân hủy chất độc thải ra ngoài Methionin

có nhiều trong bột cá, sữa khô tách bơ, khô dầu hướng dương (2,4 – 3,2%) Trong các loại hạt ngũ cốc ít methionin Nhu cầu methionin trong thức ăn: gà con 0 – 2 tuần tuổi 0,38 – 0,40%; gà 3 – 7 tuần tuổi 0,35%; gà đẻ 0,38 – 0,40%

Tryptophan có vai trò cho sự sinh trưởng gà con, gà dò, duy trì sức sống cho gà lớn, điều hòa chức năng tuyến nội tiết, tham gia tổng hợp hemoglobin, cần cho sự phát triển của tinh trùng, phôi Thiếu tryptophan tỉ lệ ấp nở giảm, tuyến nội tiết bị phá hủy, khối lượng cơ thể giảm

Threonin có vai trò trong trao đổi và sử dụng đẩy đủ các acid amin trong thức ăn, kích thích sinh trưởng cho gia cầm non Thiếu threonin làm giảm khối lượng sống, azot bị thải theo nước tiểu (azot nhận từ thức ăn) Nguồn thức ăn động vật có đủ threonin cho gia cầm Nhu cầu threonin cho gà: gà thịt 0,52%;

gà đẻ 0,50%

Phenylalanin có vai trò trong duy trì hoạt động của tuyến thượng thận, tuyến giáp, tham gia tạo sắc tố và độ thành thục của tinh trùng phát triển phôi Nhu cầu phenylalanin cho gà: gà thịt 0,55%; gà đẻ 0,50%

Histidin có vai trò cho tổng hớp nucleotid, hemoglobin, cho sinh trưởng gà con, gà dò Histidin cần thiết để điều chỉnh trao đổi chất Thiếu histidin trong thức ăn gây nên thiếu máu, tính thèm ăn giảm, ăn ít, gà châm lớn Nhu cầu histidin cho gà: gà thịt 0,30 – 0,35%; gà đẻ 0,22%

Leucin có vai trò trong duy trì hoạt động của tuyến nội tiết, tham gia tổng hợp protid của plasma Thiếu leucin thì cân bằng azot bị phá hủy, tính thèm

ăn giảm, gà châm lớn Nhu cầu leucin của gà: gà thịt 1,1 – 1,2%; gà đẻ 1,2% Isolencin có vai trò cho trao đổi và sử dụng các axit amin trong cơ thể Thiếu isoleucin giảm sự ngon miệng của gà, cản trở sự phân hủy các vật chất chứa azot thừa trong thức ăn thảiqua nước tiểu, tăng trọng giảm Isoleucin thường có đủ trong thức ăn gà Nhu cầu isoleucin của gà: gà thịt 0,85%; gà đẻ 0,75%

Arginin có vai trò cho sinh trưởng gà con, tạo sụn xương, lông Thiếu arginin gây chết phôi cao, gà phát triển kém Nhu cầu arginin của gà: gà thịt 0 – 5 tuần tuổi 1,1%; gà thịt 5 -8 tuần tuổi 1,02%; Gà đẻ 0,95%

Valin có vai trò trong hoạt động của hệ thần kinh, tham gia tạo glucogen từ glucose Thường có đủ valin trong thức ăn gà Nhu cầu valin cho gà: gà thịt 0,65%; gà đẻ 0,55%

Ngày đăng: 20/06/2016, 19:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Trọng lượng bình quân của gà Ác qua các tuần tuổi (g)  Tuần tuổi - ảnh hưởng của protein lên năng suất sinh sản của gà ác từ 22 đến 27 tuần tuổi
Bảng 2.1 Trọng lượng bình quân của gà Ác qua các tuần tuổi (g) Tuần tuổi (Trang 15)
Bảng 2.2: Đánh giá cảm quan thịt gà Ác, gà Ri và gà Giò lúc 8 tuần tuổi - ảnh hưởng của protein lên năng suất sinh sản của gà ác từ 22 đến 27 tuần tuổi
Bảng 2.2 Đánh giá cảm quan thịt gà Ác, gà Ri và gà Giò lúc 8 tuần tuổi (Trang 16)
Bảng 2.3: Thành phần (đạm, béo, khoáng) của thịt gà Ác và gà Ri lúc 8 tuần  tuổi - ảnh hưởng của protein lên năng suất sinh sản của gà ác từ 22 đến 27 tuần tuổi
Bảng 2.3 Thành phần (đạm, béo, khoáng) của thịt gà Ác và gà Ri lúc 8 tuần tuổi (Trang 17)
Bảng 2.4: Hệ số chuyển hóa thức ăn/10 quả trứng của gà Ác - ảnh hưởng của protein lên năng suất sinh sản của gà ác từ 22 đến 27 tuần tuổi
Bảng 2.4 Hệ số chuyển hóa thức ăn/10 quả trứng của gà Ác (Trang 18)
Hình 2.1: cơ quan sinh dục tạo trứng của gà mái - ảnh hưởng của protein lên năng suất sinh sản của gà ác từ 22 đến 27 tuần tuổi
Hình 2.1 cơ quan sinh dục tạo trứng của gà mái (Trang 20)
Hình 3.1: Bản đồ địa điểm thí nghiệm ở xã Trung An, Tỉnh Tiền Giang, - ảnh hưởng của protein lên năng suất sinh sản của gà ác từ 22 đến 27 tuần tuổi
Hình 3.1 Bản đồ địa điểm thí nghiệm ở xã Trung An, Tỉnh Tiền Giang, (Trang 31)
Hình 3.3 Trại gà nuôi thí nghiệm - ảnh hưởng của protein lên năng suất sinh sản của gà ác từ 22 đến 27 tuần tuổi
Hình 3.3 Trại gà nuôi thí nghiệm (Trang 32)
Bảng 3.1: Thành phần hóa học của các khẩu phần thí nghiệm - ảnh hưởng của protein lên năng suất sinh sản của gà ác từ 22 đến 27 tuần tuổi
Bảng 3.1 Thành phần hóa học của các khẩu phần thí nghiệm (Trang 33)
Hình 3.5 Gà nuôi thí nghiệm  3.1.5 Thức ăn thí nghiệm và các khẩu phần thí nghiệm: - ảnh hưởng của protein lên năng suất sinh sản của gà ác từ 22 đến 27 tuần tuổi
Hình 3.5 Gà nuôi thí nghiệm 3.1.5 Thức ăn thí nghiệm và các khẩu phần thí nghiệm: (Trang 33)
Hình 4.1: Ảnh hưởng của protein lên tỉ lệ đẻ trứng, % và HSCHTA - ảnh hưởng của protein lên năng suất sinh sản của gà ác từ 22 đến 27 tuần tuổi
Hình 4.1 Ảnh hưởng của protein lên tỉ lệ đẻ trứng, % và HSCHTA (Trang 39)
Hình 4.2: Ảnh hưởng của các mức protein lên khối lượng - ảnh hưởng của protein lên năng suất sinh sản của gà ác từ 22 đến 27 tuần tuổi
Hình 4.2 Ảnh hưởng của các mức protein lên khối lượng (Trang 39)
Bảng  4.3  Ảnh  hưởng  các  mức  độ  protein  của  khẩu  phần  lên  chất  lượng  trứng gà - ảnh hưởng của protein lên năng suất sinh sản của gà ác từ 22 đến 27 tuần tuổi
ng 4.3 Ảnh hưởng các mức độ protein của khẩu phần lên chất lượng trứng gà (Trang 42)
Hình 4.6: Ảnh hưởng của protein lên màu lòng đỏ - ảnh hưởng của protein lên năng suất sinh sản của gà ác từ 22 đến 27 tuần tuổi
Hình 4.6 Ảnh hưởng của protein lên màu lòng đỏ (Trang 43)
Bảng 4.4. Hiệu quả kinh tế và các khẩu phần trong thí nghiệm - ảnh hưởng của protein lên năng suất sinh sản của gà ác từ 22 đến 27 tuần tuổi
Bảng 4.4. Hiệu quả kinh tế và các khẩu phần trong thí nghiệm (Trang 45)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm