TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH LÊ THỊ THÚY DUYÊN PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG MÔ HÌNH 3Rs TRONG QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI XÃ TƯỜNG L
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÊ THỊ THÚY DUYÊN
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG MÔ HÌNH 3Rs TRONG QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI XÃ
TƯỜNG LỘC, HUYỆN TAM BÌNH,
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÊ THỊ THÚY DUYÊN MSSV: 4115180
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG MÔ HÌNH 3Rs TRONG QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI XÃ
TƯỜNG LỘC, HUYỆN TAM BÌNH,
11 – 2014
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Trước hết em xin vô cùng biết ơn gia đình thân yêu của em, cám ơn cha
mẹ đã tạo điều kiện cho em ăn học và có thể bước chân vào giảng đường đại học, luôn luôn ở bên cạnh, ủng hộ, lo lắng và động viên em trên con đường học vấn
Qua 3 năm học tập tại trường Đại học Cần Thơ em xin chân thành biết
ơn quý Thầy, Cô Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh nói riêng và của trường Đại học Cần Thơ nói chung đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý giá cho
em trong thời gian học tập và thực hiện đề tài Đặc biệt em chân thành cám ơn
cô Ngô Thị Thanh Trúc đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Chân thành cám ơn các cán bộ ở Sở Tài nguyên và Môi trường Vĩnh Long, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tam Bình đã nhiệt tình giúp đỡ
và hỗ trợ tài liệu nghiên cứu cho em Em cũng xin chân thành cám ơn Chủ tịch
Ủy ban xã Tường Lộc, cán bộ môi trường xã Tường Lộc và các cán bộ ở các
ấp trong xã Tường Lộc và những đáp viên đã được phỏng vấn đã tạo điều kiện
và hỗ trợ nhiệt tình cho em trong quá trình thu thập số liệu thực tế, giúp em hoàn thành được đề tài
Do kiến thức còn hạn chế nên luận văn sẽ không tránh khỏi những sai sót Vì vậy em rất kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Quý Thầy/Cô
và các Anh/Chị cùng các bạn để luận văn của em hoàn thiện hơn
Cuối cùng em xin chúc Quý Thầy Cô Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Cô Ngô Thị Thanh Trúc, cán bộ trong Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường, cán bộ các cấp ở xã Tường Lộc nhiều sức khỏe, hạnh phúc và thành công
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
Người thực hiện
Lê Thị Thúy Duyên
Trang 4TRANG CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực và đề tài không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
Người thực hiện
Lê Thị Thúy Duyên
Trang 5NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014
Thủ trưởng đơn vị
(ký tên và đóng dấu)
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 1
GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.4.1 Không gian 2
1.4.2 Thời gian 2
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 3
CHƯƠNG 2 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
2.1.1 Tổng quan về chất thải rắn 4
2.1.2 Một số phương pháp xử lý rác thải 9
2.1.3 Tổng quan về mô hình 3Rs 11
2.1.4 Tình hình áp dụng 3Rs ở Việt Nam và một số nước trên Thế Giới 18 2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng 3Rs trong quản lý rác thải sinh hoạt 20
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 24
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 24
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 25
CHƯƠNG 3 28
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOAT Ở XÃ TƯỜNG LỘC, HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG 28
3.1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH VĨNH LONG 28
3.1.1 Vị trí địa lý 28
3.1.2 Điều kiện tự nhiên 29
3.1.3 Điều kiện văn hóa- xã hội 29
Trang 73.2 TỔNG QUAN VỀ XÃ TƯỜNG LỘC, HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH
VĨNH LONG 30
3.2.1 Vị trí địa lý 30
3.2.2 Điều kiện tự nhiên 31
3.2.3 Đặc điểm kinh tế và văn hóa - xã hội 31
3.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RÁC THẢI TẠI XÃ TƯỜNG LỘC, HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG 33
3.3.1 Nguồn gốc và thành phần rác thải 33
3.3.2 Tổng hợp khối lượng rác thải trên địa bàn huyện Tam Bình 35
3.3.3 Công tác thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt của xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long 36
4.1 MÔ TẢ ĐỐI TƯỢNG PHỎNG VẤN 44
4.1.1 Thông tin đáp viên 44
4.1.2 Giới tính, trình độ học vấn của đối tượng phỏng vấn 45
4.2.1 Thực trạng phát sinh rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình ở xã Tường Lộc 47
4.2.2 Thực trạng bán phế liệu của các hộ gia đình ở xã Tường Lộc 50
4.3 NHẬN THỨC CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT 3Rs 52
4.3.1 Các hoạt động về giảm thiểu rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình tại xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long 52
4.3.2 Các hoạt động về tái sử dụng rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình tại xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long 54
4.3.3 Hiểu biết về tái chế của các hộ gia đình tại xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long 55
4.4 PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ RÁC THẢI 3Rs Ở XÃ TƯỜNG LỘC 56
4.4.1 Tỷ lệ các hộ gia đình đồng ý tham gia vào chương trình quản lý rác thải 3Rs ở xã Tường Lộc 56
4.4.2 Mục đích tham gia mô hình 3Rs ở xã Tường Lộc, huyện Tam Bình , tỉnh Vĩnh Long 58
4.4.3 Đánh giá của các hộ gia đình chấp nhận tham gia về việc thực hiện chương trình 3Rs 60
Trang 84.5 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG MÔ HÌNH 3Rs
TRONG QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI XÃ TƯỜNG LỘC,
HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG 64
4.5.1 Các biến trong mô hình logistic 64
4.5.2 Kết quả mô hình logistic 66
CHƯƠNG 5 69
GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN RÁC THẢI SINH HOẠT THEO MÔ HÌNH 3Rs TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TƯỜNG LỘC, HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG 69
CHƯƠNG 6 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
6.1 KẾT LUẬN 73
6.2 KIẾN NGHỊ 73
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 Diễn giải các biến độc lập trong mô hình hồi quy logictic 27
Bảng 3.2 Các nguồn phát sinh chất thải rắn 34
Bảng 3.3 Khối lượng rác thải ở huyện Tam Bình 36
Bảng 3.4 Tình hình thu gom xử lý rác tại huyện Tam Bình 39
Bảng 4.5 Mô tả đối tượng phỏng vấn ở xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long 44
Bảng 4.6 Khối lượng rác thải gia đình ở xã Tường Lộc, huyện Tam bình, tỉnh Vĩnh Long 48
Bảng 4.7 Các loại phế liệu thường bán ở xã Tường Lộc, huyện Tam bình, tỉnh Vĩnh Long 52
Bảng 4.8 Các hoạt động giảm thiểu phát sinh rác ở xã Tường Lộc, huyện Tam bình, tỉnh Vĩnh Long 53
Bảng 4.9 Các hoạt động tái sử dụng rác thải ở xã Tường Lộc, huyện Tam bình, tỉnh Vĩnh Long 55
Bảng 4.10 Hiểu biết về tái chế ở xã Tường Lộc, huyện Tam bình, tỉnh Vĩnh Long 56
Bảng 4.11 Tỷ lệ hộ gia đình tham gia vào mô hình 3Rs ở xã Tường Lộc, huyên Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long 57
Bảng 4.12 Lý do không tham gia chương trình của các hộ gia đình ở xã Tường Lộc, huyện Tam bình, tỉnh Vĩnh Long 58
Bảng 4.13 Mục đích quyết định tham gia mô hình 3Rs ở xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long 59
Bảng 4.14 Nội dung thực hiện được ngay trong chương trình 3Rs ở xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long 60
Bảng 4.15 Yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của chương trình 3Rs ở xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long 61
Bảng 4.16 Kênh thông tin hiệu quả cho việc tuyên truyền 3Rs ở xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long 63
Bảng 4.17 Các biến định lượng và sự khác biệt giữa hai nhóm biểu hiện định tính trong mô hình hồi qui logistic 64
Bảng 4.18 Các biến định tính và mối quan hệ giữa các biến định tính với quyết định tham gia vào mô hình 3Rs 66
Trang 10Bảng 4.19: Kết quả hồi quy và kết quả tác động biên của mô hình logistic 67 Bảng 5.20 Những vấn đề và giải pháp trong việc quản lý rác thải sinh hoạt ở
xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long 69 Phụ bảng 2.1: Thống kê nhóm của biến tuổi 86 Phụ bảng 2.2 Kết quả kiểm định giả thuyết về sự bằng nhau giữa hai trung bình tổng thể của biến tuổi 86 Phụ bảng 2.3 Thống kê nhóm của biến trình độ học vấn 86 Phụ bảng 2.4 Kết quả kiểm định giả thuyết về sự bằng nhau giữa hai trung bình tổng thể của biến trình độ học vấn 87 Phụ bảng 2.5 Thống kê nhóm của biến số thành viên 87 Phụ bảng 2.6 Kết quả kiểm định giả thuyết về sự bằng nhau giữa hai trung bình tổng thể của biến số thành viên 87 Phụ bảng 2.7 Thống kê nhóm của biến thu nhập 88 Phụ bảng 2.8 Kết quả kiểm định giả thuyết về sự bằng nhau giữa hai trung bình tổng thể của biến thu nhập 88 Phụ bảng 2.9 Thống kê nhóm của biến tham gia cộng đồng 88 Phụ bảng 2.10 Kết quả kiểm định giả thuyết về sự bằng nhau giữa hai trung bình tổng thể của biến tham gia cộng đồng 89 Phụ bảng 3.11: Bảng chéo giữa biến giới tính và quyết định tham gia mô hình 3Rs trong quản lý rác thải sinh hoạt 90 Phụ bảng 3.12 Kết quả kiểm định mối quan hệ giữa biến giới tính và quyết định tham gia mô hình 3Rs trong quản lý rác thải sinh hoạt 90 Phụ bảng 3.13 Bảng chéo giữa biến Bán ve chai và quyết định tham gia mô hình 3Rs trong quản lý rác thải sinh hoạt 91 Phụ bảng 3.14 Kết quả kiểm định mối quan hệ giữa biến biến Bán ve chai và quyết định tham gia mô hình 3Rs trong quản lý rác thải sinh hoạt 91 Phụ bảng 4.15: Kết quả thông kê các biến trong mô hình hồi quy logistic 92
Trang 11DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ tác hại của chất rắn đối với sức khỏe con người 6
Hình 2.2 Sơ đồ mối quan hệ giữa các thành phần trong hệ thống quản lý CTR 9 Hình 2.3 Các thứ tự ưu tiên trong việc quản lý chất thải rắn 12
Hình 2.4 Các hoạt động trong chương trình quản lý tổng hợp chất thải rắn ở khu dân cư 13
Hình 2.5 Sơ đồ quản lý tổng hợp chất thải rắn 17
Hình 3.6 Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Long 28
Hình 3.7 Bản đồ vị trí địa lý xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long 30
Hình 3.8 Sơ đồ mô hình thu gom xử lý rác thải sinh hoạt xã Tường Lộc 37
Hình 3.9 Mô hình tổ thu gom rác thải sinh hoạt 41
Hình 3.10 Hình ảnh hố xử lý rác của hộ gia đình 42
Hình 4.11 Tỷ lệ giới tính của đáp viên 45
Hình 4.12 Tỷ lệ trình độ học vấn của đáp viên 46
Hình 4.13 Đối tượng trực tiếp đổ rác trong gia đình 47
Hình 4.14 Tỷ lệ rác hữu cơ và vô cơ ở xã Tường Lộc 48
Hình 4.15 Nguồn phát sinh rác thải của xã Tường Lộc 49
Hình 4.16 Tỷ lệ bán phế liệu của Tường Lộc 50
Hình 4.17 Dịp bán phế liệu nhiều nhất ở xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long 51
Trang 12UNCRD Trung tâm phát triển vùng Liên Hợp Quốc
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tại Diễn đàn khu vực châu Á lần thứ IV về giảm thải, tái sử dụng, tái chế chất thải (3Rs) được thành lập theo sáng kiến của Bộ Môi trường Nhật Bản (MOEJ) và Trung tâm phát triển vùng Liên Hợp Quốc (UNCRD) từ năm
2004, đến nay đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần đắc lực trong bảo vệ môi trường bền vững Hiện nay, tăng trưởng kinh tế thế giới đang chững lại, nhân loại đang phải đối mặt trước hàng loạt các vấn đề môi trường, như suy thoái đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu…Với mong muốn thông qua Diễn đàn này sẽ góp phần thúc đẩy đối thoại chính sách cấp cao giữa các bên liên quan, giải quyết về nguyên tắc mối liên kết giữa 3Rs và những vấn đề khác, như quản lý tổng hợp chất thải rắn, sản xuất - tiêu dùng bền vững, tuần hoàn vật chất hợp lý Đây là cơ hội mới để Việt Nam chia sẻ cũng như học tập kinh nghiệm của các nước tham gia về quản lý tổng hợp chất thải, đồng thời tăng cường hợp tác với UNCRD, Bộ Môi trường Nhật Bản và các nước khác trong lĩnh vực quản lý chất thải 3Rs nói chung, bảo vệ môi trường, sử dụng
hiệu quả năng lượng và tài nguyên, ứng phó với biến đổi khí hậu
Theo thống kê của Bộ Tài Nguyên và Môi trường thì lượng rác thải sinh hoạt chiếm tỷ trọng 80% và là thành phần chiếm tỷ trọng cao nhất trong
cơ cấu các loại rác thải ở Việt Nam Rác thải sinh hoạt không chỉ gây ô nhiễm môi trường trầm trọng ở các đô thị lớn của Việt Nam mà nó còn tạo nên những tác động tiêu cực đến các đô thị vừa và nhỏ Thế nhưng hiện nay, công tác quản lí và xử lí rác thải sinh hoạt vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong đợi Nhược điểm trong công tác quản lí và xử lí rác thải là chưa có quy hoạch lâu dài về bãi chôn lấp, gây mất vệ sinh môi trường Rác thải chưa được phân loại trước khi thu gom, những rác độc hại, nguy hiểm, lây nhiễm bệnh, chưa được tách khỏi rác chung Ngoài ra, còn thiếu các văn bản pháp lí cũng như các quy
định nghiêm ngặt về việc giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế rác
Việc áp dụng mô hình giảm thải, tái sử dụng, tái chế (3Rs) đã tạo nên một bước ngoặt lớn trong chiến lược bảo vệ môi trường và pháp triển bền vững với những thành công ban đầu rất đáng khích lệ cũng như còn tồn tại nhiều bất cập và khó khăn Phần lớn người dân hầu như không biết hay không quan tâm đến mô hình 3Rs dù bản chất của mô hình này là rất đơn giản và gần gũi với cuộc sống của họ đặc biệt là các hộ dân sống ở nông thôn hay các đô thị vừa và nhỏ chỉ mới được thành lập trong thời gian ngắn và đang trong giai
đoạn phát triển kinh tế xã hội
Trang 14Việc thực hiện 3Rs thành công sẽ xây dựng một xã hội tuần hoàn vật chất, tiết kiệm được nguồn tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo môi trường sống cho người dân Sáng kiến 3Rs đã được xây dựng thành công tại nhiều quốc gia trên thế giới và đó là xu hướng tất yếu hướng tới phát triển bền vững Sáng kiến 3Rs được áp dụng thành công ở Hà Nội và nhân rộng mô hình thực hiện
ra các tỉnh thành trên toàn quốc Xuất phát từ những lí do đó, “phân tích nhân
tố ảnh hưởng đến việc áp dụng 3Rs trong quản lý rác thải sinh hoạt hộ gia đình tại xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long” Đã được chọn
làm đề tài nghiên cứu
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng mô hình 3Rs trong quản lý rác thải sinh hoạt tại xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
Từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rác thải sinh hoạt theo mô
hình 3Rs tại xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Phân tích thực trạng quản lý rác thải sinh hoạt ở xã Tường Lộc, huyện
Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng mô hình 3Rs trong
quản lý rác thải sinh hoạt tại xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rác thải sinh hoạt theo mô
hình 3Rs tại xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
Số liệu thứ cấp: được thu thập từ phòng Tài Nguyên và Môi Trường
huyện Tam Bình từ năm 2012 đến tháng 2014
Thời gian thu thập số liệu sơ cấp: Số liệu được thu thập từ tháng 9 năm
2014 đến tháng 10 năm 2014
Thời gian thu thập dữ liệu phát sinh trong năm 2014
Trang 151.4.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phỏng vấn trực tiếp các chủ hộ sinh sống tại xã Tường Lộc Tuy nhiên, khi đến phỏng vấn trực tiếp mà không có chủ hộ thì có thể thay thế bằng những thành viên hiểu rõ nhất những hoạt động trong gia đình đến việc áp dụng mô hình 3Rs trong quản lý rác thải sinh hoạt
tại Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
Trang 16CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Tổng quan về chất thải rắn
2.1.1.1 Khái niệm chất thải rắn
Theo tác giả Lê Hoàng Việt (1998): “Rác thải là tất cả dạng rắn sản sinh do các hoạt động của con người và động vật Đó là các vật liệu hay hàng hóa không còn sử dụng được hay không còn hữu dụng đối với người sử dụng
nó nên được bỏ đi.”
Phan Anh Vũ (2006) cũng có nhận định tương tự rằng chất thải rắn hay còn gọi là rác thải là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động sản xuất của con người và động vật Chất thải rắn phát sinh từ các
hộ gia đình, khu công cộng, khu thương mại, khu xây dựng, bệnh viện, khu xử
2.1.1.2 Khái niệm và phân loại rác thải sinh hoạt
Theo Bùi Thị Nga (2008) định nghĩa “Chất thải rắn sinh hoạt là những chất liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại.”
Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn
sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà lông vịt, vải, giấy, rơm rạ, xác động vật, vỏ rau quả… Sau đây là phân loại CTRSH theo phương diện khoa học hiện nay:
Chất thải thực phẩm: loại này bao gồm các thức ăn thừa, rau, quả…
Đây là phân loại mang bản chất dễ bị phân hủy sinh học, quá trình phân hủy sẽ tạo ra các mùi khó chịu, đặc biệt dễ phân hủy nhất là trong điều kiện thời tiết
ôi bức, nóng ẩm Bên cạnh các thức ăn dư thừa từ các hộ gia đình thì phân loại này còn phát sinh từ thức ăn dư thừa của các bếp ăn tập thể, nhà hàng, khách sạn hay các ký túc xá…
Trang 17Chất thải trực tiếp của động vật: phân người và phân của các loài động
vật là thành phần chủ yếu của phân loại này
Chất thải lỏng: chủ yếu là các bùn ga cống rãnh, là các chất phát sinh từ
các khu vực sinh hoạt của cộng đồng dân cư
Tro và các thành phần thừa khác: loại này được phát sinh sau quá trình
đốt gỗ, than, than cốc và các vật liệu cháy khác trong gia đình hoặc trong kho của các công sở, cơ quan, xí nghiệp
Các chất thải rắn từ đường phố: đây là phân loại chủ yếu do con người
thải ra trong các hoạt động kinh tế - xã hội chủ yếu là cây, que, nilon, vỏ bao gói…
2.1.1.3 Thành phần và tính chất của chất thải rắn sinh hoạt
Thành phần rác thải mô tả các phần riêng biệt mà từ đó tạo nên chất thải và mối quan hệ giữa các thành phần này thường được biểu thị bằng phần trăm theo khối lượng Thành phần riêng biệt của rác thải thay đổi theo vị trí địa lý, thời gian, mùa trong năm và điều kiện kinh tế Thành phần rác phụ thuộc nhiều vào mức sống của người dân, trình độ sản xuất, tài nguyên của đất nước và mùa vụ trong năm
Nguyễn Trung Việt và Trần Thị Mỹ Diệu (2008) đã xác định thành phần CTRSH, đồng thời xác định tính chất hóa học và tính chất sinh học của CTRSH Dựa trên khảo sát thống kê, thực hành thí nghiệm bằng máy đo và dựa trên công thức tính toán năng lượng của thành phần rác sinh hoạt trong phòng thí nghiệm các tác giả đã thống kê được các chỉ số về tính hóa học và sinh học của thành phần rác thải Theo đó những thành phần trong rác thải sinh hoạt chủ yếu được xác định là: giấy, hàng dệt (có nguồn gốc từ các sợi), thực phẩm, cỏ, lá, gỗ củi, rơm rạ, chất dẻo, các kim loại, thủy tinh, đá, sành sứ
và các chất hỗn hợp (gồm cát đá, đất, tóc ) Trong đó, khả năng phân hủy sinh học của rác thực phẩm đạt 0,82 BF; giấy tùy loại từ 0,22 BF đến 0,82 BF; rác vườn là 0,72 BF Từ kết quả nghiên cứu trên, nhận thấy rằng loại rác có thành phần chứa hàm lượng hữu cơ cao có tỷ lệ phân hủy cao hơn các thành phần khác và tỷ lệ này khác nhau ở những thành phần khác nhau
Thành phần rác thải và tính chất sinh học có vai trò rất quan trọng Nó quyết định nên việc lựa chọn các thiết bị xử lý, các quá trình xử lý, cũng như hoạch định các chương trình và hệ thống quản lý rác thải cho phù hợp để đạt được mục tiêu xác định
Trang 182.1.1.4 Tác hại của chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn hay rác thải là một trong những sản phẩm của con người trong các hoạt động sinh hoạt cũng như trong sản xuất Tuy nhiên, khác với các sản phẩm thông thường, CTR là sản phẩm mà con người không mong muốn nhưng phải chấp nhận Đó là vì CTR có ảnh hưởng lớn đến các vấn đề sức khỏe của con người cũng như gây tác động to lớn đến các thành phần môi trường và các nguồn tài nguyên vốn có Quan trọng hơn những ảnh hưởng và tác động đó đều ở góc độ tiêu cực
Tác hại của rác thải đối với con người
Sức khỏe con người chịu ảnh hưởng rất lớn từ các CTR Việc thải các chất thải hữu cơ và xác chết động vật mà không được xử lý hợp lý sẽ tạo ra nhiều loại bệnh gây tác hại trực tiếp và gián tiếp đến con người Trong đó đa phần là qua đường hô hấp, ăn uống và tiếp xúc qua da Đó là trường hợp CTR chỉ tác động ở mức độ nhẹ, đôi khi CTR còn gây ra các căn bệnh nặng hơn và lan rộng hơn thậm chí trở thành dịch
Hình 2.1 Sơ đồ tác hại của chất rắn đối với sức khỏe con người
Nguồn: Giáo trình Cơ sở Khoa học môi trường, 2008
Qua đường
Nước mặt Nước ngầm Môi trường đất
Người, động vật
Trang 19Tác hại của rác thải đối với môi trường
Chất thải rắn được thải ra môi trường với nhiều dạng, nhiều cách khác nhau và do đó cũng có nhiều nơi tiếp nhận CTR khác nhau Trong đó đất, nước, không khí là ba môi trường chính yếu tiếp nhận CTR
Tác hại của CTR với môi trường đất: Trong môi trường đất, CTR phân
hủy ở hai dạng yếm khí và yếu khí Khi có độ ẩm thích hợp, CTR sẽ phân hủy cho ra hàng loạt các sản phẩm trung gian Sản phẩm cuối cùng chính là các chất khoáng đơn giản, CO2 và H2O Đó là trong trường hợp yếu khí Còn trong trường hợp yếm khí, sản phẩm cuối cùng của CTR là CH4, H2S và CO2 Như vậy, dù trong điều kiện yếm khí hay yếu khí sản phẩm cuối cùng sau khi phân hủy CTR đều là những chất gây hại cho môi trường Mặc dù môi trường có khả năng tự làm sạch, tuy nhiên tốc độ dân số tăng nhanh cùng với sự phát triển của các nền công nghiệp là các yếu tố đẩy nhanh lượng CTR vào môi trường Do đó, quá tải và ô nhiễm môi trường phải gánh chịu
Tác hại của CTR đối với môi trường nước: Các chất hữu cơ trong môi
trường nước sẽ phân hủy nhanh chóng Phần nổi lên trên mặt nước sau quá trình khoáng hóa chất hữu cơ sẽ cho ra sản phẩm cuối cùng là chất khoáng và nước Tuy nhiên, phần chìm dưới mặt nước sau quá trình phân hủy yếm khí tạo ra sản phẩm cuối cùng đa phần là CH4, H2S, H2O và CO2 Đây đều là những sản phẩm gây độc và có mùi thối, bên cạnh đó còn có các vi trùng và siêu vi trùng làm ô nhiễm nguồn nước Ngoài ra, các CTR có nguồn gốc từ những kim loại sẽ có tác hại rất lớn trong việc làm bẩn nước thông qua quá trình ăn mòn và ôxy hóa Đồng thời các CTR có chứa Hg, Pb hoặc các chất phóng xạ sẽ gây nguy hiểm rất lớn đối với con người và các loài thủy sinh trong nước
Tác hại của CTR đối với môi trường không khí: CTR gây ô nhiễm
không khí khi được thải ra môi trường ở dạng có khả năng bay hơi Chính khả năng bay hơi này đã mang theo các mùi hôi làm môi trường không khí bị ô nhiễm Đó là tác hại trực tiếp, còn ở gốc độ gián tiếp đa phần không khí bị ô nhiễm do các sản phẩm cuối cùng của CTR Trong điều kiện nhiêt độ và độ
ẩm thích hợp (nhiệt độ 350
C và ẩm độ 70 – 80%), nhờ vào hoạt động của các
vi sinh, CTR sẽ được biến đổi tạo ra các sản phẩm gây hại cho không khí như
Trang 20nhiều loại sinh vật biển, đồng thời CTR còn là một trong những yếu tố tạo nên các nơi cư trú cho các loài vi sinh gây bệnh đe dọa đến sức khỏe con người
2.1.1.5 Khái niệm về quản lý rác thải sinh hoạt và tổng quan về hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị
Theo Nguyễn Trung Việt và Trần Thị Mỹ Diệu (2008) định nghĩa”Hoạt động quản lý rác thải sinh hoạt bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu
tư xây dựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khỏe con người”
Theo Cù Huy Đấu và Trần Thị Hường (2010) thì hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị bao gồm các thành phần chức năng: quản lý sự phát sinh, giảm thiểu CTR; phân loại, thu gom, lưu giữ, xử lý CTR tại nguồn và thu gom sơ cấp CTR; thu gom, vận chuyển thứ cấp CTR; xử lý sơ bộ để tách, phân chia các hợp phần CTR; thu hồi và xử lý tái chế CTR; xử lý cuối cùng nhằm loại
bỏ CTR
Quản lý nguồn phát sinh CTR: nguồn phát sinh CTR rất đa dạng và
phức tạp, ở mọi chỗ, mọi nơi và khó xác định Tuy nhiên, thông qua các giải pháp quy hoạch người ta có thể quản lý nguồn phát sinh CTR; áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ để giảm thiểu chất thải
Thu gom, phân loại, lưu chứa, xử lý CTR tại nguồn và thu gom sơ cấp
CTR: bao gồm các hoạt động liên quan đến quản lý CTR từ nguồn phát sinh
đến khi bỏ, lưu chứa vào thùng côngtenơ để thu gom thứ cấp; hoạt động này cũng bao gồm cả việc vận chuyển tập trung các côngtenơ này đến điểm tập trung (điểm cẩu rác)
Phân loại CTR tại nguồn, lưu chứa CTR trong các thùng chứa riêng đối vơi từng loại CTR là bước quan trọng trong hệ thống quản lý CTR Vị trí tốt nhất để phân loại phế liệu phục vụ cho mục đích sử dụng lại, thu hồi tái chế CTR là tại nguồn phát sinh Người dân có thể phân loại ngay tại nguồn các loại: giấy báo, bìa carton, chai lọ, chất thải vườn, can nhôm và các loại kim loại sắt khác
Thu gom, vận chuyển thứ cấp CTR đô thị: thu gom, vận chuyển CTR
từ điểm cẩu rác đến khu vực tiếp nhận như: cơ sở xử lý, tái chế CTR, bãi chôn lấp CTR hợp vệ sinh, lò đốt CTR…
Giá thành chi phí cho việc thu gom, vận chuyển CTR hằng năm chiếm khoảng 50% tổng giá thành quản lý CTR
Có 2 giai đoạn trung chuyển và vận chuyển CTR:
Trang 21- Trung chuyển từ các xe thu gom cỡ nhỏ đến thiết bị vận chuyển lớn hơn, cự ly vận chuyển ngắn
- Vận chuyển trên cự ly đường dài với các phương tiện, thiết bị vận chuyển lớn đến các khu xử lý, tái chế CTR
Hình 2.2 Sơ đồ mối quan hệ giữa các thành phần trong hệ thống quản lý CTR
Nguồn: Giáo trình Quản lý chất thải rắn đô thị, 2010
2.1.2 Một số phương pháp xử lý rác thải
2.1.2.1 Phương pháp chôn lấp
Chôn lấp chất thải hợp vệ sinh là một phương pháp kiểm soát sự phân hủy của CTR khi chúng được chôn nén và phủ lấp bề mặt Đây là phương pháp cổ điển, được áp dụng từ lâu Việc xử lý CTR ở Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ là các bãi thải lộ thiên không có sự kiểm soát (Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, 2007)
Phương pháp này có một số nhược điểm như: gây mất mỹ quan khu chôn lấp; các bãi rác thường là ổ dịch bệnh tiềm tàng, là môi trường thuận lợi cho các động vật gặm nhắm, các loài côn trùng, vi trùng gây bệnh nguy hiểm cho sức khỏe con người; các loại ni-lông đựng trong rác khi chôn lấp sẽ tồn tại rất lâu trong đất, khó phân hủy; tốn nhiều diện tích đất để chôn lấp rác
Hiện nay, phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt chủ yếu ở Việt Nam là chôn lấp Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam (2007), trong số 91
Trang 22bãi rác lớn tồn tại trên cả nước, chỉ có 17 bãi hợp vệ sinh, chiếm chưa tới 19%, trong khi đó 74 bãi chôn lấp không hợp vệ sinh thì có 49 bãi rác (chiếm gần 54%) đang gây ô nhiễm nghiêm trọng
2.1.2.2 Phương pháp thiêu đốt
Theo Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (2007),
xử lý rác bằng phương pháp đốt là làm giảm tới mức tối thiểu chất thải cho khâu xử lý cuối cùng Đây là phương pháp phổ biến nhất ngày nay ở các nước phát triển và chỉ thường áp dụng đối với chất thải nguy hại như rác thải bệnh viện hoặc rác thải công nghiệp
Tuy nhiên, từ tổng luận của Trung Tâm cho thấy đây là phương pháp
xử lý rác tốn kém nhất, so với phương pháp chôn lấp rác chi phí để đốt một tấn rác cao hơn khoảng 10 lần Bên cạnh việc tiêu tốn năng lượng, nó đòi hỏi phải trang bị hệ thống xử lý khí thải vô cùng tốn kém, xử lý khói là công đoạn đắt nhất trong công nghệ đốt rác Ngoài ra, việc đốt rác sinh hoạt gồm nhiều chất thải khác nhau sinh khói độc và dễ sinh ra khói độc đi-ô-xin nếu không giải quyết tốt việc xử lý khói Tro sau khi đốt vẫn phải tiếp tục đem chôn lấp và tro
lò đốt được xem là chất thải nguy hại
2.1.2.3 Phương pháp ép kiện
Phương pháp ép kiện được thực hiện trên cơ sở toàn bộ rác thải được tập trung thu gom vào nhà máy Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (2007) cho biết rác được phân loại bằng thủ công trên băng tải, các chất có thể tận dụng tái chế: kim loại, ni-lông, giấy, thuỷ tinh, nhựa được thu hồi để tái chế Những chất còn lại được băng tải chuyền qua hệ thống ép nén rác bằng thuỷ lực với mục đích làm giảm tối đa thể tích rác và tạo thành các kiện có các tỷ số nén cao Các khối rác ép được sử dụng vào việc san lấp, làm
bờ chắn các vùng trũng
2.1.2.4 Phương pháp xử lý công nghệ Hydromex
Đối với công nghệ Hydromex, công nghệ này được sử dụng nhằm xử lý rác đô thị thành các sản phẩm phục vụ ngành xây dựng, vật liệu, năng lượng
và sản phẩm dùng trong nông nghiệp hữu ích Bản chất của công nghệ Hydromex là nghiền rác nhỏ sau đó polime hoá và sử dụng áp lực lớn để ép nén, định hình các sản phẩm
Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (2007) cho biết rác thải được thu gom (rác hỗn hợp, kể cả rác cồng kềnh) được chuyển về nhà máy, không cần phân loại và đưa vào máy cắt nghiền nhỏ, sau đó đưa đến các thiết bị trộn bằng băng tải Chất thải lỏng pha trộn trong bồn phản ứng, các
Trang 23phản ứng trung hoà và khử độc thực hiện trong bồn Sau đó, chất thải lỏng từ bồn phản ứng được bơm vào các thiết bị trộn; chất lỏng và rác thải kết dính với nhau hơn sau khi cho thêm thành phần polime hoá vào Sản phẩm ở dạng bột ướt được chuyển đến máy ép khuôn cho ra sản phẩm mới Các sản phẩm này bền, an toàn về mặt môi trường
2.1.2.5 Phương pháp xử lý sinh học (ủ phân compost)
Ủ sinh học rác thải hữu cơ thành phân compost là quá trình ô-xi hóa các chất hữu cơ dễ phân hủy, các chất đơn giản, các chất béo, các hy-drat cac-bon… trong các mô động vật và thực vật thành sản phẩm giống như mùn được gọi là compost (Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, 2007)
Compost hay còn gọi là PHCVS, nó là sản phẩm giàu chất hữu cơ và
có hệ vi sinh vật dị dưỡng phong phú, ngoài ra còn chứa các nguyên tố vi lượng cho đất và cây trồng Sản phẩm compost được sử dụng chủ yếu làm phân bón hữu cơ trong nông nghiệp hay các mục đích cải tạo đất và cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng
Quá trình ủ rác và sản xuất phân compost được thực hiện theo hai phương pháp: ủ hiếu khí và ủ yếm khí Mỗi phương pháp đều có những ưu và nhược điểm riêng
- Reuse (Tái sử dụng): Sử dụng lại các sản phẩm hay một phần của sản phẩm hay một phần của sản phẩm cho chính mục đích cũ hay cho một mục đích khác Ví dụ: Sử dụng lại chai đựng nước khoáng để đựng nước…
- Recycle (Tái chế): Sử dụng rác thải làm nguyên liệu sản xuất ra các vật chất có ích khác
Trang 24b Thứ tự ưu tiên của 3Rs trong chương trình quản lý chất thải tổng hợp Chương trình quản lý tổng hợp chất thải rắn phải dựa trên chiến lược 3Rs: Reduce (giảm phát thải); Reuse (tái sử dụng) và Recycle (tái chế) (INVENT, 2009)
Hình 2.3 Các thứ tự ưu tiên trong việc quản lý chất thải rắn
Nguồn: Mc Dougall, 2001
Ngăn ngừa phát thải hay còn gọi là giảm phát thải tại nguồn, có nghĩa
là giảm lượng rác phát thải bằng cách không tạo ra chúng Để ngăn ngừa phát thải chúng ta có thể mua và sử dụng hàng hóa bền, có tuổi thọ cao hơn hay sử dụng các hàng hóa bao bì không có độc tố, không làm hại đến môi trường Thực hiện bằng các việc làm như chuyển thói quen tiêu dùng từ việc sử dụng hàng hóa một lần rồi thải bỏ sang việc sử dụng hàng hóa có thể sử dụng lại, hay thiết kế lại sản phẩm, sử dụng ít nguyên liệu thô hơn, tăng độ bền của hàng hóa Theo Tchobanoglous và Kreith (2002) đã tổng kết các hoạt động quản lý tổng hợp rác thải sinh hoạt tại khu dân cư Rác thải ở các khu dân cư
có thể ở dạng hỗn hợp tất cả thành phần, rác được thu gom khi các chủ hộ đặt các túi chứa rác ở ven đường, lượng rác thu gom này có thể được đưa đi đến trạm trung chuyển sau đó chuyển đến bãi chôn lấp hay được đưa trực tiếp đến bãi chôn lấp Hoặc từ trạm trung chuyển đưa đến các cơ sở xử lý, sau quá trình
xử lý, phần còn thừa sẽ đưa đến bãi chôn lấp Áp dụng giải pháp quản lý, rác
sẽ được phân loại tại nguồn, các loại rác này được thu gom riêng, phần tái chế, tái sử dụng sẽ được đưa đến nơi thu mua hoặc hoặc các cơ sở tái chế để tái chế, các loại rác nguy hại sẽ trả lại cho nhà sản xuất để xử lý Như vậy, một phần chất thải từ khu dân cư sẽ được chuyển hướng sang các dòng khác và có
Trang 25thể trở lại thành các sản phẩm hữu dụng Lượng chất thải chuyển sang dòng khác càng lớn thì chương trình quản lý càng bền vững
Hình 2.4 Các hoạt động trong chương trình quản lý tổng hợp chất thải rắn ở
khu dân cư
Nguồn: Tchobanoglous và Kreith, 2002
2.1.2.2 Nguyên tắc 3Rs
Nguyên tắc về giảm thiểu chất thải (giảm thải), tái sử dụng và tái chế các nguồn tài nguyên và các sản phẩm thường được gọi là “3Rs” – Reduce, Reuse, Recycle Giảm thải có nghĩa là lựa chọn sử dụng các vật hoặc hàng hóa với sự quan tâm đến việc giảm lượng rác thải sau khi sử dụng vật, hàng hóa
đó Tái sử dụng liên quan đến việc sử dụng lại các món hàng hay một phần của sản phẩm mà có thể sử dụng với một mục đích nào đó Tái chế là việc sử dụng lại chính rác thải như một nguồn tài nguyên Giảm thiểu tối đa rác thải có thể đạt được thông qua một cách hiệu quả bằng cách tập trung chủ yếu chữ R đầu trong “3Rs” là giảm thải - reduce tiếp theo là tái sử dụng - reuse và tái chế
- recycle
Trang 262.1.3.3 Nội dung 3Rs
* Phân loại rác thải tại nguồn
Theo nguyên tắc 3R, rác thải sinh hoạt cần được phân loại tại nguồn và gồm 3 công việc chính:
Người dân phân loại rác tại nguồn (gia đình, cơ quan, xí nghiệp,…) theo đúng nguyên tắc phân loại của dự án
Thu gom và vận chuyển các loại rác đã được phân loại trong các dụng
cụ riêng
Xử lí theo đúng mục tiêu cam kết của dự án đối với từng nhóm rác đã được người dân phân loại
* Giảm thiểu: Trong thực hiện 3R, giảm thiểu phát sinh chất thải rắn đô
thị là một trong những vấn đề cần thiết cần phải ưu tiên Ví dụ trong quá trình thay đổi cách sống trong quá trình đô thị hóa thì rất cần thúc đẩy giảm lượng chất thải thực phẩm phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, người bán lẻ và khuyến khích sự nỗ lực của ngành công nghiệp thực phẩm để xem xét lại thành phần bao bì và quá trình sản xuất để giảm thải Mặt khác, do thành phần của chất thải rắn đô thị rất phong phú, vì vậy nên việc phân loại chất thải được thực hiện
Khi thực hiện phân loại chất thải tại nguồn, rác sẽ được phân ra thành 3 loại rác là rác hữu cơ, rác vô cơ và rác tái chế Điều này sẽ kéo theo nhiều tác động tích cực như: hạn chế việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, giảm bớt khối lượng chất thải phải vận chuyển và xử lí Do đó tiết kiệm được chi phí vận chuyển và xử lí chất thải kể cả tiết kiệm mặt bằng cho việc chôn lấp chất thải rắn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý cuối cùng các thành phần không
có khả năng tái chế
* Tái sử dụng: Tái sử dụng lại là một dạng của việc làm giảm chất thải
– mở rộng các nguồn cung cấp nguyên liệu, giảm năng lượng sử dụng và giảm
ô nhiễm hơn cả tái chế Hoạt động tái sử dụng chất thải rắn có thể được thực hiện tốt ở các khu công nghiệp tập trung trên cơ sở hình thành một hệ thống thông tin để trao đổi chất thải vì trong một số trường hợp chất thải cần phải loại bỏ ở nơi này thành nguyên liệu đầu vào nơi khác
Hoạt động tái sử dụng tập trung vào thu hồi sản phẩm đã sử dụng để dùng lại cho cùng một mục đích, hoặc tìm ra một mục đích sử dụng khác Trong tái sử dụng, sản phẩm được giữ nguyên về chất liệu kết cấu và hình dáng cũng như chức năng ban đầu và được đưa vào quá trình chuyển hóa (ví dụ: bao bì đóng gói nhiều lần) Đôi khi cũng có thể tiếp tục sử dụng sản phẩm
Trang 27được nếu như sản phẩm với kết cấu chất liệu, hình dáng ban đầu được sử dụng theo một chức năng khác (ví dụ: cốc đựng mì ăn liền làm cốc uống nước, bình nhựa làm thùng chứa nước mưa, lốp ô tô làm ghế xích đu hay đài hoa.)
* Tái chế có thể ở dạng tái sinh hoặc tái tạo lại giá trị hoặc tiếp tục tận
dụng giá trị
Tái sinh là một khái niệm thời sự thông qua hình thức sử dụng lại hay tận dụng lại giá trị của những sản phẩm đã qua sử dụng Khái niệm này liên quan đến chất thải của sản xuất và tiêu dùng, những vật mà trước khi đưa vào quá trình tái sinh đã được chủ của nó coi là những thứ muốn vứt bỏ đi
Tái tạo lại giá trị là quá trình trong đó chất liệu kết cấu ban đầu được tái tạo lại thông qua một quá trình xử lý Hình thái ban đầu và chủ đích sử dụng ban đầu có thể tái tạo Ví dụ: Sử dụng sắt vụn trong công nghiệp luyện thép, nấu chảy mảnh kính trong công nghiệp thủy tinh, giấy vụn trong công nghiệp giấy…
Tiếp tục tận dụng giá trị: Có thể áp dụng với cả hình thức vật chất và năng lượng Đặc tính của việc tiếp tục tận dụng giá trị vật chất là sự chuyển hóa vật chất thông qua một quá trình xử lí và làm thay đổi chức năng của sản phẩm mới hình thành Ví dụ: ủ các chất hữu cơ, sản xuất ván ép từ mùn cưa, sản xuất vật liệu cách âm từ giấy phế thải, vật liệu xây dựng từ chất dẻo cũ…
Một hình thức nữa của việc tận dụng giá trị là tận dụng năng lượng Sự chuyển hóa vật chất sang năng lượng là một quá trình không thể đảo ngược được Do bản thân năng lượng sau khi được sử dụng vào quá trình chuyển hóa thì chỉ có thể thu hồi lại được rất ít, nên quá trình này là mắt xích cuối cùng trong chu trình có khả dĩ Tái tạo lại năng lượng ngoài việc thể hiện tái sử dụng vào chức năng ban đầu của nó còn thể hiện việc tiếp tục sử dụng vào các chức năng khác Ví dụ: Việc sử dụng điện năng để sản xuất, nhiệt năng sinh ra trong quá trình sản xuất này được tận dụng để sưởi ấm
2.1.3.4 Vai trò của mô hình 3Rs trong quản lý CTR
Theo Franchetti (2009) thứ tự ưu tiên trong lĩnh vực quản lý CTR của
Mỹ được thể hiện trong Luật phòng ngừa ô nhiễm năm 1990 như sau: “Quốc hội tuyên bố chính sách quốc gia của Mỹ là việc ô nhiễm nếu có thể phải được phòng ngừa hay giảm tại nguồn; các ô nhiễm không được phòng ngừa phải được tái chế bằng các phương pháp an toàn đối với môi trường; các ô nhiễm không thể phòng ngừa hay tái chế phải được xử lý bằng các phương pháp an toàn đối với môi trường; việc thải bỏ hay phát tán vào môi trường là phương
án cuối cùng và phải thực hiện bằng các phương pháp an toàn đối với môi
Trang 28trường” Dựa trên định nghĩa này thứ tự ưu tiên của việc quản lý CTR được xếp như sau:
1 Giảm phát thải
2 Tái chế ngay tại quy trình sản xuất
3 Tái chế ngay tại chỗ
* Vai trò của 3R trong quản lý CTR
Reduce (giảm phát thải)
Để giảm phát thải chúng ta phải áp dụng nguyên lý “được nhiều hơn từ
ít hơn” (More with Less) Theo quan điểm này chúng ta phải sử dụng hiệu quả các tài nguyên thiên nhiên, có quy trình khai thác, chế biến hợp lý hơn để sử dụng ít nguyên liệu và năng lượng hơn nhưng tạo ra nhiều hàng hóa và giá trị dịch vụ hơn và thải ra ít chất thải hơn
Trong các hoạt động sống, việc phát thải CTR không thể tránh khỏi Ngăn ngừa phát thải hay còn gọi là giảm phát thải tại nguồn, có nghĩa là giảm lượng rác thải bằng cách không tạo ra chúng Để ngăn ngừa phát thải chúng ta
có thể mua và sử dụng hàng hóa bền, có tuổi thọ cao hơn hay sử dụng các hàng hóa hoặc bao bì không có độc tố, không làm hại đến môi trường Công việc này có thể thực hiện bằng các việc làm đơn giản như chuyển thói quen tiêu dùng từ việc sử dụng hàng hóa một lần rồi thải bỏ sang việc sử dụng hàng hóa có thể tái sử dụng lại hay bằng các việc làm phức tạp hơn như thiết kế lại sản phẩm, sử dụng ít nguyên liệu thô hơn, tăng độ bền của hàng hóa
Do đây là biện pháp tránh sinh ra chất thải và nó góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, ngăn ngừa phát thải các chất khí gây hiệu ứng nhà kính nên nó được xếp thứ tự hàng đầu
Reuse (tái sử dụng)
Trang 29Tái sử dụng là việc sử dụng lại các hàng hóa cho cùng mục đích, hay cho các mục đích thấp hơn
Ví dụ: Sử dụng lại các vỏ chai thủy tinh chứa thức uống (nước ngọt, rượu, bia…), hay sử dụng các vỏ chai này để chứa nước uống, các loại nước chấm
Recycle (tái chế)
Tái chế là sử dụng lại các vật liệu cấu thành hàng hóa, để biến chúng thành các nguồn tài nguyên có giá trị Việc tái chế làm cho lượng chất thải phải chôn lấp ít đi, do đó cũng làm giảm lượng phát thải các chất khí gây hiệu ứng nhà kính Để việc tái chế mang lại hiệu quả về mặt kinh tế cũng như môi trường, nhà nước cần phải có chính sách khuyến khích và các vấn đề môi trường trong quá trình tái chế phải được xem xét một cách cẩn thận, đầy đủ
Hình 2.5 Sơ đồ quản lý tổng hợp chất thải rắn
Nguồn: Sơ đồ quản lý tổng hợp chất thải rắn
Tái chế Phân hủy
sinh học
Thiêu hủy Chôn lấp Thiêu hủy
lượng
Sự ô nhiễm Khí
thải
Xử lý cuối cùng
Trang 302.1.4 Tình hình áp dụng 3Rs ở Việt Nam và một số nước trên Thế Giới
2.1.4.1 Tình hình áp dụng 3Rs ở thế giới
Tình hình áp dụng ở Nhật Bản
Chính phủ Nhật Bản đã ban hành “Kế hoạch hỗ trợ thiết lập một xã hội tái chế” (Support Scheme for Estabblishing a Sound Material-Cycle Society) năm 2005 với mục đích thúc đẩy các hoạt động 3R thông qua việc thiết lập các
cơ sở, thiết bị xử lý và tái chế chất thải (cơ sở thu hồi năng lượng, tái chế vật liệu và chất thải hữu cơ) rộng rãi trên toàn quốc với sự tham gia của chính quyền trung ương và địa phương
Một phần ba kinh phí cho các dự án này được chính phủ cấp, phần còn lại là đóng góp của địa phương Tuy nhiên đối với các dự án công nghệ cao (như tận thu metan vá các khí sinh học với hiệu suất cao), chính phủ trợ cấp đến 50% kinh phí Trong năm 2005 có 273 thành phố/ đô thị lớn đã xây dựng
xã hội tái chế theo mô hình này
Về truyền thông, Bộ trưởng Môi Trường Nhật Bản đã đưa ra sang kiến khuyến khích sử dụng Furoshiki, một loại túi vải khi mua hàng từ các siêu thị
để giảm thiểu chất thải từ các loại túi nhựa bán sẵn Mùa hè năm 2005, một chương trình quảng bá 3R đã được thực hiện trên cả nước Nhật Bản
Hệ thống thu gom rồi phân loại rác tại nguồn chất thải rắn tại các thành phố ở Nhật Bản về cơ bản được chia làm 3 loại:
Thu gom theo nhóm
Thu gom tại các điểm
Thu gom ven đường Tần suất thu gom
Rác tái chế, Rác không thể đốt: Mỗi tuần một lần
Rác hữu cơ, Rác có thể đốt: Hai đến ba lần một tuần
Tại Nhật Bản, việc thu gom các loại rác khác nhau được tiến hành vào các ngày khác nhau, việc này giúp người dân nhận ra sự khác nhau giữa rác thông thường và rác tái chế, đó chính là mục đích cốt lõi của hệ thống phân loại rác thải ngay từ nguồn
Những kết quả về 3R ở Nhật Bản có thể kể đến tỷ lệ chất thải chôn lấp giảm từ 85 triệu tấn chất thải công nghiệp và 19 triệu tấn chất thải đô thị xuống còn 40 và 9 triệu tấn và tỷ lệ tái chế tăng Tỷ lệ tái chế một số loại sản phẩm đã tăng đáng kể, đến năm 2003: máy điều hòa là 81%, tivi 78%, tủ lạnh 63% và máy giặt là 65% Kết quả này đạt được là nhờ sự nổ lực thực hiện các
Trang 31chính sách, xây dựng các diễn đàn về 3R Một diễn đàn quan trọng là Diễn đàn thúc đẩy các hoạt động về 3R với sự tham gia của chính quyền địa phương, viện nghiên cứu và các tổ chức chính phủ/ phi chính phủ được thành lập tháng 1/2006 Diễn đàn này đã tổ chức hội thảo “Zero- Waste Partnership Conference” (tạm dịch: Hợp tác về Không chất thải) với mục tiêu xây dựng xã hội không chất thải
Kinh nghiệm áp dụng tại Thái Lan
Thái Lan đã xây dựng Kế hoạch quản lý chất thải tổng hợp với các nội dung khuyến khích phân loại và giảm thiểu chất thải tại nguồn, khuyến khích
sử dụng phân hữu cơ và sử dụng năng lượng tái tạo Tăng cường trách nhiệm của nhà sản xuất cũng được áp dụng đặc biệt đối với ắc quy và điện thoại di động thông qua cơ chế thu hồi sản phẩm đã qua sử dụng Chương trình này đã nâng tỷ lệ tái chế ắc quy lên tới 85%
Một chương trình trao đổi chất thải công nghiệp đang được thực hiện nhằm thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp tái chế Theo đó các công ty sẽ kê khai số lượng, chủng loại chất thải của mình, nhập vào cơ sở dữ liệu chung (được thiết lập và duy trì bởi Bộ công nghiệp và Viện Môi trường Thái Lan), qua đó tạo điều kiện để trao đổi chất thải Tính đến năm 2005, đã có 450 cơ sở công nghiệp đăng ký và cung cấp thông tin cho cơ sở dữ liệu này
Năm 1998, Giáo sư Yoshifumi Fujii của trường đại học Bunkyo đã đến thăm Hat Yai Được chứng kiến cảnh rác thải bị chôn lấp không hợp lý và ông cũng tiến hành tái chế với 3 nguồn phân loại: phân loại tại nguồn các loại rác, phân loại bởi những người công nhân của thành phố- những người thu gom rác thải và phân loại bởi những người nhặt rác tại bãi chôn lấp
Từ việc giám sát và điều tra ý kiến của người dân, kết quả như sau: 79,6% người dân Klangna biết về hoạt động phân loại rác của dự án, 90,8% có thể phân rác đúng và 98,9% người dân có thể phân loại đúng rác hữu cơ
Tuy nhiên người dân hợp tác trong việc phân loại rác hữu cơ nhiều hơn
là hợp tác trong phân loại rác tái chế Và cũng đã có nhiều rác hữu cơ được bỏ trực tiếp vào thùng rác công cộng mà không hề có sự phân loại trước đó
2.1.4.2 Tình hình áp dụng 3Rs tại Việt Nam
Ngày 1/12/2006, Đoàn Chuyên gia Nhật Bản đã sang Việt Nam nghiên cứu và hỗ trợ Ngày 12/2/2007, UBND TP Hà Nội đã chính thức ra Quyết định phê duyệt dự án 3Rs Kể từ ngày 18/3/2007, dự án ''Thực hiện sáng kiến 3Rs tại Hà Nội để góp phần phát triển xã hội bền vững'' do Công ty TNHH Một thành viên Môi trường đô thị Hà Nội (URENCO) là chủ với mức đầu tư
Trang 32gần 49,5 tỉ đồng từ viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Nhật Bản chính thức khởi động
Thời gian thực hiện dự án kéo dài trong 3 năm, hệ thống 3Rs được thiết lập một cách hài hòa dựa trên các chương trình phân loại rác thải hữu cơ tại nguồn để nâng cao năng lực quản lý và xử lý rác thải hiệu quả Tại Hà Nội, dự
án này mang tính chất thí điểm phân loại rác hữu cơ tại nguồn từ đó nhân rộng
ra toàn thành phố và các địa phương khác Nội dung quan trọng của dự án là thực hiện các hoạt động về giáo dục môi trường, về 3Rs với tinh thần chống lãng phí đồng thời hướng tới việc cải thiện hệ thống thu gom chất thải rắn đô thị Theo đó, các hộ gia đình trên địa bàn 4 quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng,
Ba Đình, Đống Đa sẽ được khuyến khích, tuyên truyền nâng cao kiến thức phân loại rác ngay tại nhà: rác hữu cơ (rau, củ, hoa, quả, thức ăn thừa…) khác với rác vô cơ (chai, lọ, gạch vỡ, kim loại…) trước khi đưa ra xe thu gom của các nhân viên môi trường đô thị Sau đó, thay vì chôn lấp hoặc đốt, rác sẽ được tận dụng trong một số hoạt động có lợi ích kinh tế lớn như chăn nuôi lợn, sản xuất phân hữu cơ Dự án triển khai hoạt động đã sớm gắn kết được các bên liên quan: đơn vị thu gom - người dân - thải rác - nhà máy xử lý rác - nông dân sử dụng phân bón chế biến từ rác
Tuy nhiên, việc phân loại rác tại nguồn được thực hiện đại trà ở Việt Nam thì cần một thời gian dài, không chỉ để xây dựng các quy định mà còn phải tuyên truyền, cải thiện ý thức người dân Lợi ích của việc áp dụng mô hình 3Rs có thể thấy rõ, nhưng việc thực hiện vẫn chưa như ý, vì thói quen xả rác bừa bãi của nhiều người đã trở nên rất khó bỏ Việc phân loại rác tại nguồn chưa được thực hiện nghiêm chỉnh Một số chủ nguồn thải quy mô lớn lại chưa thực hiện phân loại rác tại nguồn Mặc dù, một số địa phương trên cả nước đã và đang thực hiện những dự án 3Rs, song nhìn chung mới chỉ thực hiện nhỏ lẻ, không đồng bộ và thiếu định hướng Còn lại các hộ gia đình trong
cả nước chưa được trang bị thiết bị để phân loại rác thải tại nguồn Các điểm trung chuyển cũng như vận chuyển rác thải chưa được xây dựng, trang bị chưa
đủ để đáp ứng yêu cầu vận chuyển, xử lý riêng từng loại rác thải Bên cạnh đó, cộng đồng chưa nhận thấy những lợi ích của việc thực hiện 3Rs Số lượng doanh nghiệp tham gia áp dụng sản xuất sinh học không nhiều
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng 3Rs trong quản lý rác thải sinh hoạt
Tác giả Miafodzyeva và Brandt (2012), Khoa sinh thái học công nghiệp, Đại học kỹ thuật hoàng gia Thụy Điển đã đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tái chế của các hộ gia đình trong bài nghiên cứu “ Các yếu
tố ảnh hưởng đến hành vi tái chế rác thải của các hộ gia đình” Bài nghiên
Trang 33cứu này tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tái chế rác thải của
hộ gia đình Biến ảnh hưởng đến hành vi tái chế của các hộ gia đình được phân loại thành các nhóm lý thuyết: xã hội-nhân khẩu học, nổ lực cá nhân, chuẩn mực xã hội, kỹ thuật tổ chức
Tuổi: Một số tác giả đã tìm thấy mối quan hệ giữa hành vi tái chế và tuổi McDonald và Ball (1998), Belton và cộng sự (1994), những người khác báo cáo rằng không có mối tương quan đáng kể Theo Saphores và cộng sự (2006), tuổi trung niên (36- 65 tuổi) họ có đầy đủ thời gian cho công việc và gia đình, họ sẵn sàng tham gia vào tái chế Cùng với điều này, Meneses (2005), đã báo cáo rằng những người có tuổi xa mức trung bình của dân số làm việc (khoảng 31- 50) có nhiều rào cản để tham gia tái chế Kết quả nghiên cứu của Miafodzyeva và Brandt (2012), biến tuổi có mối quan hệ với hành vi tái chế Tuổi càng cao thì hành vi tái chế càng nhiều
Thu nhập: Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy mối tương quan giữa thu nhập và hành vi tái chế Afroz và cộng sự (2010) Các phân tích của Kurz và cộng sự (2007), chỉ ra rằng tham gia vào việc tái chế là cao nhất trong khu vực có thu nhập cao, đối với các khu vực có thu nhập trung bình thì hành vi tái chế ít Ngược lại, một nghiên cứu về thu nhập của Hage và So derholm (2002), cho rằng hộ gia đình có thu nhập cao hơn không nhất thiết sẵn sàng
để tái chế nhiều hơn các hộ gia đình có thu nhập thấp, họ kết luận rằng chi phí
cơ hội cho các hộ gia đình cũng phải xem xet Tái chế là hoạt động tốn thời gian, vì vậy chi phí cơ hội của việc tái chế sẽ tăng theo thu nhập
Trình độ học vấn: Theo Saphores và cộng sự (2006) người đã tìm thấy rằng thiếu dục đại học sẽ làm giảm sự sẵn sàng để tái chế Mặt khác, Schultz (1995) báo cáo rằng các thành viên của hộ gia đình có giáo dục cao phải chịu một gánh nặng dưới của vai trò tái chế hơn so với các thành viên của hộ gia đình với một trình độ học vấn thấp
Theo Wichita Singhirunnusorn và cộng sự (2011), “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tái chế của hộ gia đình ở Thái Lan” Nghiên cứu đã sử dụng hai phương pháp tiếp cận chủ quan và khách quan để tạo ra các câu hỏi
và các biện pháp cụ thể Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp định lượng và định tính tích hợp để điều tra cả chiều sâu và chiều rộng các tình huống, chủ yếu tập trung vào phương pháp tiếp cận nghiên cứu thực địa để kiểm tra dữ liệu thực nghiệm từ thực hiện quản lý chất thải Để tái chế các chất thải hiện tại và tình hình kinh tế- xã hội ở hai khu vực nghiên cứu Song- Nue và Ban- Maad, nghiên cứu đã tiến hành một cuộc điều tra bảng câu hỏi với 151 mẫu phỏng vấn Từ đó, lập bảng dữ liệu và phân tích thống kê dựa vào kết quả điều tra, hai khu vực này có sự khác biệt về đặc điểm kinh tế- xã hội và quản
Trang 34lý chất thải Nghiên cứu nhằm so sánh thài độ tái chế và hành vi của người dân sống ở Song- Nue, nơi có chương trình tái chế rác thải đã hoạt động từ năm 2003 và nơi không có chương trình tái chế ở Ban- Maad
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tái chế của hộ gia đình và khả năng
hộ gia đình tham gia vào chương trình tái chế rác thải của cộng đồng Nghiên cứu xem xét hai khu vực trong đô thị Mahasarakham , nơi có sự khác biệt về điều kiện quản lý và tái chế chất thải Cuộc khảo sát, đã minh chứng rằng các thuộc tính nhân khẩu học (tuổi, giới tính, trình độ học vấn) và điều kiện kinh tế- xã hội (thu nhập, khả năng tiếp cận thông tin, kiến thức về tái chế) đóng vai trò quan trọng trong phân loại rác thải và hành vi tái chế của các hộ gia đình Trong khi đó, kiến thức về môi trường và thái độ của các hộ gia đình đã đóng góp vào sự nhận thức của người dân khi quyết định tham gia vào chương trình tái chế
Tuổi: Kết quả nghiên cứu của Nixon và Saphores (2009) cho thấy biến tuổi có mối tương quan với hành vi tái chế, tức là những người lớn tuổi sẽ tham gia vào chương trình tái chế cao hơn những người trẻ tuổi, khi tuổi tác tăng lên thì hành vi tái chế của người dân được cải thiện thêm một ít
Tham gia của cộng đồng về tái chế: Dự án “rác đổi trứng” ở Klong Toey khu ổ chuột ở Bangkok (Visvanathan, 2006), các tổ chức cộng đồng được thành lập dưới hình thức hợp tác Dự án bắt đầu thực hiện với sự tham gia của tất cả thành viên cộng đồng, kết quả nghiên cứu cho thấy đã giảm đáng kể vứt rác bừa bãi, cải thiện môi trường sạch hơn Về kinh tế phúc lợi,
dự án đã tạo ra việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng, trong khi thành phố giảm chi phí xử lý chất thải rắn
Thông tin và kiến thức: Công dân được thông tin tốt hơn về cách tái chế thì có khả năng tham gia tích cực hơn những người khác Họ có thể phân loại rác thải sinh hoạt dễ dàng hơn và làm sẽ không cảm thấy khó khăn Một số nghiên cứu cho thấy kiến thức cụ thể về các chương trình tái chế là yếu tố dự báo quan trọng của hành vi và điều kiện cần thiết cho hiệu quả của việc tham gia (Vining và Ebreo, 1992; Corral-Verdugo, 1996; Gamba và Oskamp 1994; Vicente và Reis, 2008)
Theo Haji và Ho (2013) “Ảnh hưởng các biến nhân khẩu học về chất thải rắn, nghiên cứu ở thành phố Shah Alam, Malaysia” Sở Quy hoạch vùng và đô thị, khoa môi trường xây dựng Phương pháp kỹ thuật mẫu được
sử dụng trong lựa chọn người trả lời tham gia vào chương trình giảm thiểu rác thải Nghiên cứu chia làm 3 nhóm dựa vào các loại nhà: nhà có sân thượng, nhà bán gỗ, và nhà gỗ Người trên 18 tuổi sẽ được phỏng vấn trong mỗi hộ gia
Trang 35đình, trong trường hợp không có chủ hộ ở nhà thì bất kỳ thành viên của mỗi gia đình sẵn sằng tham gia Tổng cộng có 100 bảng câu hỏi đã được dùng, tỷ
lệ lần lược 64% nhà có sân thượng, 18% nhà có bán gỗ và 18% còn lại cho nhà gỗ Dữ liệu được phân tích bằng cách sử dụng SPSS phiên bản 20 Phân tích phương sai (ANOVA) và T-test được tiến hành để xác định có hay không
sự khác biệt tồn tại trong nhóm, nghĩa là một số hộ gia đình được lựa chọn các thuộc tính liên quan đến các mục được sử dụng để nắm bắt kiến thức về giảm thiểu chất thải
Tuổi: Ảnh hưởng của tuổi tác trên kiến thức về giảm thiểu chất thải trong khu vực nghiên cứu cho thấy nhóm tuổi khác nhau không đáng kể Các mục được đánh giá trên thang điểm Likert Kết quả nghiên cứu, người già có
xu hướng đồng ý nhiều hơn, giảm thiểu chất thải để làm cho môi trường trong sạch hơn Những người trả lời trên 55 tuổi so với những người trẻ tuổi 18-24, một lần nữa cho thấy những người lớn tuổi có xu hướng không đồng ý rằng giảm thiểu chất thải nên là trách nhiệm duy nhất của chính phủ và các hộ gia đình không được tham gia Theo Lee và Paik (2011), trong nghiên cứu của họ cho thấy những người lớn tuổi đã ý thức hơn về quản lý chất thải, tác động kinh tế - xã hội và môi trường Cũng như trong nghiên cứu của Tonglet (2004) báo cáo rằng những người trong phạm vi 25 – 39 tuổi ít có khả năng tham gia vào hành vi giảm thiểu chất thải Kết quả nghiên cứu tại thành phố Haji và Ho (2013), những người lớn tuổi (trên 50 tuổi) có xu hướng để có thêm kiến thức
về giảm thiểu chất thải hơn so với nhiều người trẻ tuổi
Giới tính: Theo Haji và Ho (2013), nữ giới có xu hướng đồng ý nhiều hơn, để làm cho môi trường sạch hơn Ngoài ra, nữ hiểu biết nhiều hơn về những vật liệu tái chế và ý nghĩa từng màu sắc trên thùng rác trong khu phố hơn nam giới Theo Sterner Barteling (1999) và Berglund (2006), cho thấy rằng phụ nữ sẵn sàng tham gia vào tái chế, mặt dù thực tế rằng, họ xem nó như
là một hoạt động mang tính xây dựng, có thể nói rằng phụ nữ tham gia tích cực vào hoạt động tái chế tại nhà
Nghề nghiệp: Kiến thức về giảm thiểu chất thải rắn đã tiếp tục nghiên cứu dựa trên các nhóm nghề nghiệp của người được hỏi Những người trả lời đồng ý rằng chất thải tối thiểu là tốt cho môi trường, họ biết những gì về tái chế và các vật liệu tái chế được Các chuyên gia và bán chuyên nghiệp có kiến thức Thêm một chút ý thức hơn về lượng chất thải mà họ tạo ra so với người lao động Trong nhóm nghề nghiệp các chuyên gia về babs chuyên nghiệp hiểu biết thêm về giảm thiểu chất thải hơn so với những người lao động
Tình trạng hôn nhân: Nhận thức người trả lời giảm thiểu chất thải rắn
đã được kiểm tra dựa trên trạng thái hôn nhân của họ The Haji và Ho (2013),
Trang 36tất cả các nhóm (kết hôn, độc thân, duy nhất cha/ mẹ), họ đã đồng ý rằng giảm thiểu chất thải là tốt cho môi trường, giúp các hộ gia đình giảm thiểu chất thải rắn và nhận thức được nhiều vật liệu tái chế được Tuy nhiên, cha mẹ độc thân
có xu hướng tham gia nhiều hơn và có kiến thức về giảm thiểu chất thải so với các cặp vợ chồng kết hôn
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Bài viết nhằm Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng mô hình 3Rs trong quản lý rác thải sinh hoạt hộ gia đình tại xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long Do đó, để phục vụ cho đề tài, việc nghiên cứu, khảo sát và phỏng vấn được thực hiện với những HGĐ sinh sống tại xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Căn cứ theo công thức xác định cỡ mẫu của Slovin (1984), cỡ mẫu được tính như sau:
Trong đó:
N: tổng số HGĐ sinh sống trên địa bàn xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long (2851), n là số mẫu
e: sai số cho phép, được lấy 13%
Từ công thức (2.1) và cân nhắc về thời gian, nhân lực và dựa trên số lượng tổng thể tổng số mẫu được lấy là 60 quan sát đại diện cho 2851 HGĐ sinh sống trên địa bàn xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
Trang 37Căn cứ trên khu vực hành chính và vị trí địa lý mà sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng Có 9 nhóm nhỏ được hình thành, tương ứng với 9
ấp của xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long Trong mỗi nhóm, áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện để chọn ra các HGĐ cần phỏng vấn
Dựa trên phương pháp chọn mẫu phân tầng theo tỷ lệ, tức là số lượng quan sát được chọn trong từng nhóm tỷ lệ với số lượng HGĐ trong từng ấp, căn cứ vào quy mô của từng ấp trên địa bàn xã
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp thống kê mô tả dùng để phân tích thực trạng rác thải sinh hoạt ở địa bàn xã Tường Lộc và đánh giá mức độ áp dụng mô hình 3Rs của người dân Các công cụ cơ bản để tóm tắt và trình bày dữ liệu trong thống kê
mô tả là: bảng tần số, các đại lượng thống kê mô tả như số trung bình cộng, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất, độ lệch chuẩn
Sử dụng phần mềm SPSS 16.00, thông qua kiểm định T để kiểm định giả thuyết về sự bằng nhau giữa hai trung bình tổng thể của các biến định lượng Các biến định lượng bao gồm: tuổi đáp viên, thu nhập của gia đình
Sử dụng phần mềm SPSS 16.00 thông qua kiểm định Chi – bình phương để kiểm định mối quan hệ giữa các biến định tính với việc áp dụng 3Rs trong quản lý rác thải sinh hoạt HGĐ Các biến định tính bao gồm: giới tính đáp viên, trình độ học vấn của đáp viên, hiểu biết của đáp viên, phần trăm
sự tham gia của cộng đồng
Sử dụng phần mềm STATA 11.0 để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia vào mô hình của người dân trên địa bàn xã Tường Lộc Đề tài sử dụng hàm hồi quy với mô hình logistic, mô hình hồi quy logistic nghiên cứu sự phụ thuộc của một biến nhị phân vào các biến độc lập khác Mục đích của mô hình là sử dụng các nhân tố có ảnh hưởng đến biến độc lập để xác định khả năng những biến độc lập này sẽ có mối quan hệ với biến phụ thuộc như thế nào Hàm hồi quy như sau:
Y i =
(2.2)
Các biến được sử dụng trong mô hình logistic:
* Biến phụ thuộc:
Y: Quyết định tham gia vào mô hình thu gom rác thải sinh hoạt
Y = 1 đáp viên chấp nhận tham gia
Y = 0 đáp viên không chấp nhận tham gia
Trang 38* Biến độc lập:
Bao gồm 7 biến và được chia làm 3 nhóm
Đặc điểm của đáp viên
Độ tuổi (tuoi): Là tuổi của đáp viên, tuổi đáp viên càng cao ý thức về môi trường và sự nhìn nhận về lợi ích khi tham gia mô hình càng cao Do đó biến tuổi được kỳ vọng là có ảnh hưởng cùng chiều với mô hình
Giới tính (gioitinh): Là giới tính của đáp viên, được mã hóa là 1 nếu là nam, 0 nếu là nữ Theo Haji và Ho (2013) nữ giới có xu hướng hiểu biết nhiều kiến thức về tái chế và đồng ý tham gia vào mô hình nhiều hơn nam giới Nữ
sẽ được kỳ vọng tham gia vào mô hình 3Rs trong quản lý rác thải sinh hoạt nhiều
Trình độ học vấn (trinhdohv): Là trình độ học vấn của đáp viên Biến này được kỳ vọng sẽ ảnh hưởng cùng chiều quyết định tham gia vào mô hình 3Rs, nghĩa là đáp viên có học vấn càng cao thì quyết định tham gia vào mô hình càng cao
Tham gia cộng đồng
Tham gia cộng đồng (tgcongdong): Là sự ảnh hưởng của cộng đồng làm cho các cá nhân có động lực trong việc áp dụng mô hình 3Rs Được mã hóa là 1 nếu có sự tham gia của cộng đồng, là 0 nếu không có sự tham gia
Trang 39Bảng 2.1 Diễn giải các biến độc lập trong mô hình hồi quy logictic
vọng Đặc điểm của đáp viên
X2: Giới tính Giới tính của đáp viên, X2= 1 nếu là đáp
X3: Trình độ học vấn X3= 1, 2, 3 12: Lớp 1 đến lớp 12,
X3= 13: Trung cấp, X3= 14: Cao đẳng, X3= 15: Đại học, X3= 16: Thạc sĩ, X3=
17: Tiến sĩ
+
Đặc điểm của hộ gia đình
X4: Số thành viên Số thành viên gia đình đáp viên (người) + X5: Thu nhập Thu nhập trung bình hàng tháng của
Tham gia cộng đồng
X6: Bán phế liệu Biến giả, được mã hóa là X6= 1 nếu có bán
X7: Phần trăm tham gia
của cộng đồng
Là sự ảnh hưởng của cộng đồng làm cho các cá nhân có động lực trong việc áp dụng
Trang 40CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG
QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOAT Ở XÃ TƯỜNG LỘC, HUYỆN
TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG 3.1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH VĨNH LONG
3.1.1 Vị trí địa lý
Vĩnh Long là tỉnh nằm ở trung tâm Đồng Bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thuộc vùng giữa sông Tiền- sông Hậu, cách trung tâm TP Hồ Chí Minh 136 km Với tọa độ địa lý từ 90 52’ 45” đến 100 19’ 50” vĩ độ Bắc và từ
1040 41’ 25” đến 1060 17’ 00” kinh độ Đông, tỉnh Vĩnh Long giáp các tỉnh Tiền Giang và Bến Tre về phía Bắc và Đông Bắc, giáp tỉnh Trà Vinh về phía Đông Nam, giáp TP Cần Thơ, các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng về phía Tây Nam và giáp tỉnh Đồng Tháp về phía Tây Bắc Toàn tỉnh có 6 huyện, 1 thị xã và 1 thành phố Tổng diện tích thự nhiên của tỉnh là 1.496,8 km2
Hình 3.6 Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Long
Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long