DANH SÁCH HÌNH 3.1 Phần trăm số nông hộ trồng khoai lang với độ tuổi khác nhau tại xã Thành Đông huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long 28 3.2 Phần trăm nông hộ với diên tích canh tác khác nhau
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 2KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: KHOA HỌC ĐẤT
Đề Tài ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐẶC TÍNH ĐẤT TRỒNG KHOAI LANG TÍM NHẬT TẠI
XÃ THÀNG ĐÔNG, HUYỆN BÌNH TÂN,
TỈNH VĨNH LONG
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Lớp: KHĐ K37
Trang 3Tôi xin cam đoan đề tài luận văn:
“Điều tra, đánh giá hiện trạng và đặc tính đất trồng khoai lang tím Nhật tại xã Thành Đông, Huyện Bình Tân, Tỉnh Vĩnh Long” Là công trình
nghiên cứu của bản thân Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ tài liệu nghiên cứu nào
trước đây
Người viết luận văn
Hồ Vũ Trường Giang
Trang 4NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Xác nhận đề tài: “Điều tra, đánh giá hiện trạng và đặc tính đất trồng khoai lang tím Nhật tại xã Thành Đông, Huyện Bình Tân, Tỉnh Vĩnh Long” Do sinh viên: Hồ Vũ Trường Giang lớp Khoa học đất K37 thuộc Bộ
môn Khoa học đất – Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại
Học Cần Thơ thực hiện
Nhận xét của cán bộ hướng dẫn:
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày….tháng… năm 2015
Cán bộ hướng dẫn
Trang 5KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
o0o
XÁC NHẬN CỦA BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT Xác nhận đề tài: “Điều tra, đánh giá hiện trạng và đặc tính đất trồng khoai lang tím Nhật tại xã Thành Đông, Huyện Bình Tân, Tỉnh Vĩnh Long” Do sinh viên: Hồ Vũ Trường Giang lớp Khoa học đất K37 thuộc Bộ Môn Khoa học đất – Khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng dụng – Trường Đại Học Cần Thơ thực hiện Ý kiến của Bộ Môn: ………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày… tháng … năm 2015
Trang 6KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
o0o
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG BÁO CÁO Hội đồng chấm báo cáo luận văn tốt nghiệp chấp thuận đề tài: “Điều tra, đánh giá hiện trạng và đặc tính đất trồng khoai lang tím Nhật tại xã Thành Đông, Huyện Bình Tân, Tỉnh Vĩnh Long” Do sinh viên: Hồ Vũ Trường Giang lớp Khoa học đất K37 thuộc Bộ môn Khoa học đất – Khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng Dụng – Trường Đại Học Cần Thơ thực hiện Luận văn tốt nghiệp đã được hội đồng đánh giá ở mức………
Ý kiến của hội đồng: ………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2015
Chủ tịch hội đồng
Trang 7Lời đầu tiên Tôi xin gởi lời tri ơn sâu sắc đến Cha, Mẹ đã chăm sóc, lo lắng cho tôi được ăn học Kính chúc Cha, Mẹ thật nhiều sức khỏe
Chân thành biết ơn cô Tất Anh Thư cô Đỗ Thị Xuân, thầy Nguyễn Minh Đông, cô Nguyễn Đỗ Châu Giang, anh Nguyễn Vũ Bằng, chị Nguyễn Thị Tố Quyên, Nguyễn Kiều Oanh, chị My đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp Xin cảm ơn thầy Nguyễn Minh Đông là cố vấn học tập lớp Khoa Học Đất khóa 37 đã quan tâm, động viên, giúp đỡ, cung cấp kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt khóa học Chân thành cảm ơn quý thấy, cô và các anh chị của bộ môn Khoa học đất – Khoa nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báo trong suốt thời gian tôi học tập tại Trường Kính chúc quý Thầy, Cô và các anh, chị luôn được nhiều sức khỏe, nhiều niềm vui và công tác thật tốt
Xin chân thành cảm ơn!!!
Trang 8I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
• Họ và tên: Hồ Vũ Trường Giang Giới tính: Nam
• Ngày, tháng, năm sinh: 27/5/1992 Nơi sinh: Long An
• Quê quán: Tân Hưng – Long An Dân tộc: kinh
• Địa chỉ liên lạc: xã Hưng Điền B, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An
Trang 9LỜI CAM ĐOAN i
XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN ii
XÁC NHẬN CỦA BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT VÀ NÔNG NGHIỆP SẠCH iii XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG BÁO CÁO iv
LỜI CẢM TẠ v
LÝ LỊCH CÁ NHÂN vi
MỤC LỤC vii
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT x
DANH SÁCH HÌNH xi
TÓM LƯỢC xiv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc phân bố và tình hình sản xuất cây khoai lang 2
1.1.1 Nguồn gốc phân bố 2
1.1.2 Tình hình sản xuất cây khoai lang 2
1.2 Đặc tính sinh học của khoai lang 3
1.2.1 Rễ 4
1.2.2 Thân (dây) 4
1.2.3 Lá 5
1.2.4 Hoa 5
Trang 101.3.1 Điều kiện ngoại cảnh 6
1.3.2 Sinh trưởng và phát triển của cây khoai lang 9
1.3.3 Chế độ phân bón và dịch bệnh trên cây khoai lang 11
1.3.3.1 Chế độ phân bón 11
1.3.3.2 Dịch bệnh trên khoai lang 15
1.4 Kĩ Thuật Canh Tác Khoai lang 17
1.4.1 Các giống khoai lang 17
1.4.2 Thời vụ trồng 18
1.4.3 Cách chọn hom giống 20
1.4.4 Kĩ thuật làm đất và lên liếp 20
1.4.5 Chăm sóc cây khoai lang 21
1.4.6 Luân canh 22
Chương 2: PHƯƠNG TIỆN PHƯƠNG PHÁP 2.1 Thời gian và địa điểm 24
2.3 Phương tiện phương pháp 24
2.3.1 Phương tiện 24
2.3.2 Phương pháp 24
2.3.2.1 Điều tra phỏng vấn nông hộ 24 2.3.2.2 Đánh giá một số các đặc tính hóa học đất canh tác khoai lang xã
Trang 112.5 Xử lý số liệu 26
Chương 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 3.1 Điều tra 27
3.1.1 Các thông tin cơ bản về nông hộ canh tác khoai lang tại xã Thành Đông, huyện Bình, Tân tỉnh Vĩnh Long 27
3.1.2 Thực trạng sử dụng giống khoailang trong sản xuất 29
3.1.2.1 Giống 29
3.1.2.2 Tiêu chuẩn và độ dài dây giống 30
3.1.2.3 Cách đặt hom giống 31
3.1.3 Kĩ thuật canh tác khoai lang 32
3.1.3.1 Kĩ thuật làm đất 32
3.1.3.2 Phân bón 32
3.1.3.3 Thời gian bắt đầu bón và số lần bón phân sau khi trồng 36
3.1.4 Thu hoạch 37
3.2 Sự thay đổi một số đặc tính hóa học đất canh tác khoai lang tại xã Thành Đông huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long theo thời gian 38
3.2.1 Giá trị pH và EC 38
3.2.2 Chất hữu cơ trong đất 39
3.2.3 Sự thay đổi hàm lượng đạm hữu dụng trong đất trồng khoai lang 40
3.2.4 Sự thay đổi hàm lượng lân hữu dụng trong đất 41
Chương 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 124.2 Kiến nghị 43
Trang 13Từ viết tắt Diễn giải từ viết tắt
ND Nông dân
SKXK Sau khi xuống khoai
NSKT Ngày sau khi trồng
Trang 14DANH SÁCH HÌNH
3.1 Phần trăm số nông hộ trồng khoai lang với độ tuổi khác nhau
tại xã Thành Đông huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long 28
3.2 Phần trăm nông hộ với diên tích canh tác khác nhau tại xã
Thành Đông huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long 29
3.3
Phần trăm nông hộ chọn chiều dài hom giống khác nhau
trong canh tác khoai lang ở xã Thành Đông huyện Bình Tân
tỉnh Vĩnh Long
31
3.4 Liều lượng phân đạm bón cho cây khoai lang của nông hộ ở
xã Thành Đông huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long 33
3.5 Liều lượng phân lân bón cho cây khoai lang của nông hộ ở
xã Thành Đông huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long 34
3.6 Liều lượng phân kali bón cho cây khoai lang của nông hộ ở
xã Thành Đông huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long 35
3.7 Phần trăm các nông hộ có số lần bón khác nhau ở xã Thành
3.8 Phần trăm các nông hộ có tổng số lần bón ở xã Thành Đông
huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long 36
3.9 Phần trăm các nông hộ đạt năng suất khoai lang khác nhau ở
xã Thành Đông huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long 37
3.10 pH đất của các hộ nông dân trong vụ trồng khoai lang 38
Trang 153.12 Hàm lượng chất hữu cơ của các hộ ND trong vụ trồng khoai
lang ở xã Thành Đông huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long 39
3.13 Hàm lượng đạm hữu dụng của các hộ ND trong vụ trồng
khoai lang ở xã Thành Đông huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long 40
3.14 Hàm lượng lân hữu dụng của các hộ ND trong vụ trồng khoai
lang ở xã Thành Đông huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh long 42
Trang 16Tóm lược
Đề tài “Điều tra, đánh giá hiện trạng và đặc tính đất trồng khoai lang tím Nhật tại xã Thành Đông, Huyện Bình Tân, Tỉnh Vĩnh Long” thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu về các vấn đề thường gặp của nông dân trong quá trình sản xuất, đánh giá các tính chất hóa học như pH, EC, CHC, NH4+, NO3-, lân, trong quá trình canh tác khoai lang ở xã Thành Đông huyện Bình Tân tỉnh Vĩnh Long
từ 1/2014 – 5/2014 Kết quả điều tra 25 hộ canh tác khoai lang cho thấy tất cả nông dân sử dụng giống khoai lang tím Nhật, nguồn giống mua tại địa phương
đa số nằm trong độ tuổi lao động, năng suất đạt cao nhất là >40 tấn/ha và thấp nhất là <35 tấn/ha, hàm lượng phân đạm phần lớn nông dân bón là từ 130 – 200 kg/vụ/ha, lân là 130 – 200 kg/vụ/ha và kali là < 100 kg/vụ/ha , tất cả đều không
sử dụng phân hữu cơ và phân bón lá
Kết quả phân tích mẫu đất cho thấy không có sự khác biệt thống kê về giá trị của pH, EC, hàm lượng chất hữu cơ trong đất
Hàm lượng đạm và lân hữu dụng cao nhất ở giai đoạn giữa vụ và thấp nhất
ở giai đoạn cuối vụ, không có khác biệt thống kê giữa đầu vụ và cuối vụ
Trang 17Mở Đầu
Khoai lang (Ipomoea batatas L.) loại cây thân bò thuộc họ bìm bìm
(Convolvulaceae) là loài cây có củ ăn được, là cây lương thực quan trọng ở vùng nhiệt đới và một số khu vực ôn đới bao gồm các vùng phía nam của châu Âu và châu Mỹ Củ khoai lang tích lũy lượng tinh bột khá cao Khoai lang giàu năng lượng, vitamin, cũng như hàm lượng protein từ 2% đến 10% khối lượng chất khô (Lê Xuân Thao, 2012) Khoai lang có tác dụng giảm chloleserol, cầm máu, giữ cân bằng acid và muối trong máu, là thức ăn tốt cho người mắc bệnh tiểu đường giúp ổn định lượng đường trong máu và giảm đề kháng insulin Tổ chức FAO đánh giá khoai lang là thực phẩm bổ dưỡng tốt của thế kỷ 21, đang được thị trường thế giới ưa chuộng Khoai lang dễ trồng, có thể phát triển được trên nhiều loại đất khác nhau, bộ phận thu hoạch là thân, lá và củ Do dễ trồng và tương đối
dễ tiêu thụ nên trong những năm gần đây diện tích canh tác khoai lang đã không ngừng gia tăng Huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long là vùng trồng khoai lang lớn nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, hầu hết các nông hộ canh tác khoai lang hiện nay gặp không ít khó khăn trong quá trình canh tác do chưa nắm vững kỹ thuật canh tác, bón phân chưa cân đối, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật chưa phù hợp, năng suất đạt chưa cao Vì vậy, đề tài “điều tra, đánh giá hiện
trạng và đặc tính đất trồng khoai lang tím Nhật ở xã Thành Đông huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long” nhằm giải quyết:
• Các vấn đề khó khăn trong sản xuất của nông dân, đánh giá ảnh hưởng của
các tính chất hóa học lên quá trình canh tác khoai và cung cấp những thông tin cần thiết cho quá trình nghiên cứu phát triển cây khoai lang
• Tìm hiểu liều lượng phân bón trong kỹ thuật canh tác khoai lang, xác định hiện trạng dinh dưỡng trong canh tác cây khoai lang
Trang 18Chương 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc phân bố và tình hình sản xuất cây khoai lang
1.1.1 Nguồn gốc phân bố
Khoai lang có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới châu Mỹ, nó được con người
trồng cách đây trên 5.000 năm (Bùi thế Hùng và ctv., 1997) Khoai lang được
trồng rộng khắp trong các khu vực nhiệt đới và ôn đới ấm với lượng nước đủ để
hỗ trợ sự phát triển của nó Tại châu Á khoai lang được trồng đầu tiên tại Ấn Độ
và sau đó được du nhập vào Trung Quốc vào năm 1954 và là quốc gia trồng nhiều khoai lang nhất; chiếm tới 80% sản lượng toàn thế giới (với sản lượng năm
1.1.2 Tình hình sản xuất cây khoai lang
giới là 127 triệu tấn, trong đó phần lớn tại Trung Quốc với sản lượng khoảng 105 triệu tấn và diện tích trồng là 49.000 km² Khoảng một nửa sản lượng của Trung Quốc được dùng làm thức ăn cho gia súc và gia cầm (FAO, 2004)
Năm 2008 trên thế giới có 111 nước trồng khoai lang chiếm diện tích 8,17 triệu ha, trong đó 95% khoai lang trồng ở các nước đang phát triển Trên thế giới
Trang 19khoai lang là cây lương thực đứng thứ bảy sau khoai mì, lúa mạch, lúa nước, khoai tây, bắp, lúa mì (Nguyễn Thị Lang, 2010)
Ở Việt Nam: Khoai lang là cây lương thực truyền thống đứng thứ tư sau
lúa, khoai mì, ngô (Nguyễn Thị Lang, 2010) Khoai lang là loại cây dễ trồng trên nhiều loại đất khác nhau
Diện tích và sản lượng của cây khoai năm 2013: trên cả nước chiếm tổng diện tích trồng là 135,5 nghìn ha đạt sản lượng 1364,2 nghìn tấn; các khu vực như đồng bằng sông Hồng 22,4 nghìn ha sản lượng 212,9 nghìn tấn, Trung Du
và miền núi phía Bắc 34,8 nghìn ha đạt sản lượng 234,1 nghìn tấn, vùng bắc bộ
và duyên hải miền Trung có diện tích 42,7 nghìn ha đạt 272,6 nghìn tấn, Tây Nguyên 14,3 nghìn ha đạt sản lượng 138 nghìn tấn, Đông Nam Bộ 1,3 nghìn ha
đạt 10,2 nghìn tấn, ĐBSCL chiếm diện tích 20 nghìn ha đạt sản lượng 466,6
nghìn tấn (Tổng cục thống kê, 2013)
Tình hình sản xuất khoai lang ở Bình Tân tỉnh Vĩnh Long: Huyện Bình Tân
có 11 xã và tất cả 11 xã đều có tham gia vào mô hình trồng khoai lang Tím Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên của từng xã mà mỗi xã có diện tích trồng khác nhau Ngoài ra, còn do quy mô trồng của từng xã cũng khác nhau nên năng suất và sản lượng của các xã cũng có sự chênh lệch, nhưng chênh lệch không nhiều Chính vì mô hình trồng khoai lang Tím là một trong những mô hình cây nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao của tỉnh Vĩnh Long, nên mô hình này đang rất
được quan tâm và ưa chuộng trồng của nông dân Đây là lí do mà diện tích của
mô hình trồng khoai của huyện ngày càng gia tăng
1.2 Đặc tính sinh học của khoai lang
Cây khoai lang từ khi trồng đến thu hoạch trãi qua 4 thời kì sinh trưởng và phát triển: mọc mầm ra rễ, sinh trưởng thân lá, phân cành kết củ và phình to củ
Trang 20Các thời kì sinh trưởng phát triển này chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố ngoại cảnh và có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố tạo thành năng suất của cây
khoai lang
1.2.1 Rễ
Căn cứ vào đặc tính, chức năng, nhiệm vụ và mức độ phân hóa có thể chia
rễ khoai lang làm 3 loại rễ như sau: rễ phụ và rễ củ và rễ đực
Rễ phụ: Theo Đinh Thế Lộc (1997) cho rằng phát triển ở lớp đất mặt và
phát triển tối đa ở giai đoạn sau khi trồng khoảng 1,5 – 2 tháng, chức năng chủ yếu là hút nước và chất dinh dưỡng để nuôi cây
Rễ củ: Được phân hóa thành từ rễ phụ, trong điều kiện thuận lợi sau khi
trồng từ 15 – 20 ngày, ở rễ phụ có sự phân hóa và hoạt động của thượng tần quyết định rễ phụ phân hóa thành rễ củ và sau đó phát triển thành củ khoai lang
Củ khoai lang được hình thành ổn định (hay gọi là củ hữu hiệu) vào thời điểm sau khi trồng khoảng 30 ngày (đối với giống ngắn ngày) Sự phân hóa thành củ khoai lang còn phụ thuộc vào nhiệt độ, độ ẩm và sự cân bằng dinh dưỡng Củ thường tập trung nhiều ở các mắt gần sát mặt đất Thời gian đầu phát triển chủ yếu theo chiều dài, thời gian cuối phát triển theo chiều ngang Màu sắc, hình dáng và số củ trên dây phụ thuộc vào giống (Trịnh Xuân Ngọ và Đinh Thế Lộc, 2005)
Rễ đực: Theo Trần Thị Kim Ba (2008) rễ đực khá to với đường kính
khoảng 2 cm, rất dài và nhiều sơ Rễ này làm tiêu hao dưỡng liệu và không có lợi cho cây
1.2.2 Thân (dây)
Khoai lang gồm có thân chính và thân nhánh:
Trang 21Thân chính: Theo Trần Thị Kim Ba (2008) cho thấy thân chính ở dây khoai
trồng bằng hom ngọn, được tạo thành do hom mọc dài ra, thân chính mang nhiều chồi phụ
Thân nhánh: Do nhiều chồi phụ ở thân chính tạo ra Nó có nhiều chồi
nhưng chỉ có một số phát triển thành nhánh cấp hai (Dương Minh, 1999)
Thân khoai lang chủ yếu là thân bò bên cạnh đó cũng có một số giống thân
đứng và thân leo; màu sắc thân cũng tùy vào giống khác nhau Trong sản xuất,
để có năng suất cao thường người ta chỉ chọn giống có thân ngắn hoặc trung
bình, thân đứng hoặc bán đứng đường kính thân lớn và chiều dài đốt ngắn (Trịnh Xuân Ngọ và Đinh Thế Lộc, 2004)
ảnh hưởng tới quá trình tích lũy chất khô Để tạo cho cây khoai lang có được một
kết cấu hợp lí, nâng cao khả năng quang hợp cần phải chú ý đến cách chọn giống, bố trí mật độ khoảng cách trồng hợp lí cũng như việc tác động của biện pháp chăm sóc tưới nước bón phân hợp lí (Trịnh Xuân Ngọ và Đinh Thế Lộc, 2004)
1.2.4 Hoa
Hoa hình phễu màu tím nhạt, trắng hay vàng Khoai lang ít khi ra hoa nếu khoảng thời gian ban ngày vượt quá 11 giờ
Trang 22Hoa thường mọc ở nách lá hoặc đầu ngọn thân, mọc riêng lẽ hoặc thành chùm 3 – 7 bông, mỗi hoa chỉ nở 1 lần vào lúc sáng sớm và héo vào lúc giữa trưa
(Trịnh Xuân Ngọ và Đinh Thế Lộc, 2004)
1.2.5 Củ
Tùy vào giống mà củ khoai lang có nhiều màu sác khác nhau: tím, trắng
đỏ… Với nhiều hình dạng: tròn, trụ… Kinh nghiệm cho thấy những giống có
củ dài thường cho năng suất cao (Dương Minh, 1999)
1.3 Điều Kiện Ngoại Cảnh, Sinh Trưởng Phát Triển, Chế Độ Phân Bón Và Dịch Bệnh Trên Cây Khoai Lang
1.3.1 Điều kiện ngoại cảnh
Nhiệt độ: Khoai lang có nguồn gốc nhiệt đới nên quá trình sinh trưởng của
cây cũng yêu cầu nhiệt độ tương đối cao Cây khoai lang sinh trưởng và phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 20 – 300 C có thể chịu đựng ở 450 C (Dương Minh, 1999) Tùy từng giai đoạn sinh trưởng của cây khoai lang mà ảnh hưởng điều kiện nhiệt độ khác nhau Giai đoạn mọc mầm ra rễ nếu điều kiện nhiệt độ ẩm, độ cao cây sẽ nhanh bén rễ, tỷ lệ dây sống cao sinh trưởng nhanh Giai đoạn phình
to của củ cần biên độ và nhiệt độ ngày và đêm lớn giúp cho quá trình tích lũy tinh bột về củ thuận lợi Ở miền Bắc do điều kiện lạnh nên khoai lang Đông Xuân thường bị ảnh hưởng Khoai lang vụ Đông cần tranh thủ trồng sớm để tạo
điều kiện cho thân lá sinh trưởng và củ phát triển trong giai đoạn nhiệt độ còn
cao Khoai lang Đông Xuân khi trồng cần có biện pháp chống rét, tránh trồng vào những ngày có nhiệt độ thấp, ảnh hưởng đến quá trình bén rễ mọc mầm của cây Vì vậy, xác định thời vụ và phương pháp trồng thích hợp là biện pháp kĩ thuật có hiệu quả trong sản xuất khoai lang
Trang 23Ánh sáng: Theo Kovatch (2003) ánh sáng rất quan trọng đến sự tạo củ Thí
nghiệm cho thấy củ phát triển tốt nhất ở 12,5 – 13 giờ chiếu sáng mỗi ngày, tuy nhiên ánh sáng chịu ảnh hưởng yếu hơn nhiệt độ trong quá trình tạo và phát triển
củ cũng như khả năng chi phối khả năng quan hợp của lá (Dương Minh, 1999) Hiệu suất quang hợp (NAR) của khoai lang thấp 2.5 – 5 g/m2/ngày Trong khi đó khoai tây có NAR là 10 – 11 g/m2/ngày Tùy theo đặc điểm sinh trưởng của các giống, NAR tăng tối đa 2 – 3 tháng sau đó giảm dần NAR giai đoạn sau càng lớn sẽ đưa đến năng suất cao (Đinh Thế Lộc 1978 trích đẫn bởi Dương Minh, 1999)
Cường độ sáng cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây khoai lang Cường độ sáng càng mạnh sẽ phát triển càng tốt và ngược lại cường độ sáng yếu (cường độ sáng bằng 26,4 % cường độ sáng trung bình) sẽ kích thích cây ra hoa
Hiệu số sử dụng ánh sáng của khoai lang thường thấp hơn khoảng 0,76 – 1,28% Mặt khác tầng lá trên cùng nhận nhiều ánh sáng nhưng các tầng là dưới khả năng thu nhận ánh sáng giảm Vì vây, cần trồng ở mật độ hợp lí và chọn giống thân ngắn, ít bò lang, lá đứng để nâng cao năng suất (Trịnh Xuân Ngọ và
Đinh Thế Lộc, 2004)
Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ cao ánh sáng đầy
đủ tổng lượng bức xạ lớn và rãi đều trong các tháng Vì vậy, nước ta có thể trồng
khoai lang quanh năm và đạt năng suất cao nếu được đầu tư thâm canh (Trịnh Xuân Ngọ và Đinh Thế Lộc, 2004)
Trang 24Nước: Tùy từng mùa vụ trồng mà nhu cầu nước của khoai lang cũng khác
nhau Khoai lang yêu cầu ẩm độ đất khoang 70 – 80 % trong vụ trồng, song mỗi giai đoạn sinh trưởng khoai lang cần nhu cầu ẩm độ đất không giống nhau
Theo Trịnh Xuân Ngọ và Đinh Thế Lộc (2004) nhu cầu nước của cây khoai lang được chia làm 3 giai đoạn:
− Giai đoạn đầu (từ lúc trồng đến khi phân cành kết củ) lúc này nhu cầu nước thấp ẩm độ từ 65 – 75 % ẩm độ tối đa ruộng đồng Nếu ẩm độ đất quá cao (90 – 100 %) có lợi cho quá trình mọc mầm tạo rễ nhưng ảnh hưởng không tốt đến sự phân hóa tạo củ và số củ trên cây Lượng nước sử dụng thấp khoảng 15 – 20 % tổng lượng nước cây cần trong thời kì sinh trưởng phát triển, lúc này sinh trưởng cây khoai tăng chậm Giai đoạn này quyết định
ảnh hưởng đến sự tạo củ và số củ trên cây Tuy nhiên đây cũng là thời kì
cây khoai lang chịu hạn khá tốt
− Giai đoạn thứ 2 (phát triển thân lá): Cây khoai lang bước vào thời kì sinh trưởng mạnh của các bộ phận trên mặt đất Số lá và diện tích tăng số cành cấp 1, 2, 3 phát triển mạnh tạo sinh khối lớn Lúc này củ phát triển nhưng chậm Cây cần nhiều nước nhất khoảng 50 – 60 %, ẩm độ 70 – 80 % để khoai có đủ độ thoáng khí Giai đoạn này cần tưới nhiều nước thì hiệu quả tăng năng suất thấy rõ nhất
− Giai đoạn thứ 3 (sau khi thân, lá đạt đỉnh cao nhất nhu cầu nước giảm xuống từ từ cho đến khi thu hoạch): Bộ phận trên mặt đất ngừng sinh trưởng và giảm sút Quá trình phát triển tập trung vào sự vận chuyển chất hữu cơ từ thân lá vào củ Tốc độ lớn của củ tăng nhanh, nhất là lúc trước thu hoạch 1 tháng Lúc này lượng nước giảm cây sử dụng khoảng 20% và
Trang 25ẩm độ đất khoảng 70 – 80 % trong giai đoạn này nông dân thường ít tưới vì
ẩm độ trong đất quá cao hoặc mưa nhiều làm củ dễ thối
Cung cấp nước cho cây khoai lang là 1 biện pháp kĩ thuật quan trọng phải dựa trên cơ sở nhu cầu nước qua từng thời kì sinh trưởng và phát triển cây kết hợp với việc xác định ẩm độ trên đất trồng Vì vậy, trong quá trình sản xuất cần
có chế độ nước tưới cho cây khoai lang củ thể về lượng nước tưới, thời kì tưới và phương pháp tưới thích hợp
Đất: Khoai lang có đặc tính thích ứng và đề kháng rất mạnh nên trồng ở bất
kì loại đất nào cũng có thể cho năng suất, một trong những điều kiện quan trọng
để cho củ khoai lang phát triển thuận lợi là đất phải thoát nước tốt, tươi xốp Lý
tưởng nhất là đất thịt pha cát nhiều hữu cơ và lớp thứ cấp dễ thấm nước (Dương Minh, 1997) Nếu đất thoát nước kém ẩm độ cao có thể làm thối rễ (Đinh Thế
Lộc và ctv., 1997)
Theo Lưu Bảo Nhiệm (1963) (được trích dẫn bởi lời Dương Minh, 1999)
đất cát pha 30 – 40 % sét là tốt nhất Đất sét nặng cây cho năng suất kém củ bị
méo mó, tăng trưởng chậm, củ có nhiều nước và khó tồn trữ, đất thịt cây cho nhiều rễ ít rễ củ
Theo thí nghiệm pH tối thích cho sự sinh trưởng và phát triển của cây khoai lang 5,6 – 6,6 Tuy nhiên cây cũng có thể phát triển ở pH 4,5 – 7,5 trừ đất sét nặng có hàm lượng nhôm cao (Trịnh Xuân Ngộ và Đinh Thế Lộc, 2004)
1.3.2 Sinh trưởng và phát triển của cây khoai lang
Theo Trịnh Xuân Ngọ và Đinh Thế Lộc (2005) thì có thể chia sinh trưởng
và phát triển của cây khoai lang làm 4 thời kì như sau:
Trang 26Thời kì mọc mầm ra rễ: Nếu điều kiện nhiệt độ cao, độ ẩm đầy đủ và đất
tươi xốp, chất lượng dây giống tốt là những yếu tố đảm bảo cho quá trình mọc mầm ra rễ thuận lợi, tỉ lệ dây sống cao Đặc điểm chủ yếu của thời kì này là sự hình thành và phát triển của rễ con, mầm của đỉnh sinh trưởng ngọn Một số rễ con bắt đầu phân hóa thành củ, bộ phận thân lá trên mặt đất phát triển chậm
Thời kì phát triển thân lá tích cực: Chiếm 2/3 thời gian trồng và đạt trọng
lượng cao nhất sau 2 tháng thời kì này cây cần nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt
đối với thân lá cần nhiều đạm và củ cần nhiều kali
Thời kì tạo củ: Chiếm 1/3 thời gian trồng, vào giai đoạn giữa (Dương Minh,
1999) Thời kì này khoai lang bắt đầu hút nhiều chất dinh dưỡng (Đinh Thế Lộc, 1997)
Thời kì phát triển củ: Chiếm khoảng 1/3 thời gian trồng, rễ củ phình to vào
cuối thời kì này (từ sau 2/3 thời gian sinh trưởng) (Dương Minh, 1999) Thường thời điểm củ lớn nhanh nhất vào khoảng 1 tháng trước khi thu hoạch (Trịnh Xuân Ngộ và Đinh Thế Lộc, 2004)
Sinh trưởng thân lá và tạo củ là 2 thời kì quan trọng có mối quan hệ mật thiết với nhau, vừa có tác dụng xúc tiến vừa có tác dụng khống chế lẫn nhau Đó
là mối quan hệ giữa thân lá và rễ củ, giữa bộ phận trên mặt đất và bộ phận dưới mặt đất và được biểu thị bằng chỉ số T/R Để cây khoai lang sinh trưởng phát triển cân đối cần điều khiển cho tỉ lệ T/R tăng hay giảm phù hợp với đặc tính từng loại giống Muốn vậy cần phải có chế độ bón phân hợp lí cho từng loại giống khoai lang, căn cứ vào đặc điểm của đất đai, điều kiện thời tiết khí hậu và mục đích sử dụng Tùy thuộc vào loại giống lấy thân là hay lấy củ mà trông quá trình sinh trường tỉ lệ T/R biến đổi khác nhau, với giống lấy thân lá là chủ yếu thì
tỉ lệ T/R sớm đạt giá trị lớn hơn 1 và kéo dài đến thời kì cuối khi thu hoạch vẫn
Trang 27còn lớn hơn 1, nghĩa là khối lượng thân là lớn hơn khối lượng rễ củ Còn những giống lấy củ là chủ yếu thì tỉ lệ T/R đạt giá trị nhỏ hơn 1 thường từ giữa thời gian sinh trưởng đến khi thu hoạch biến động khoảng 0,3 – 0,8 nghĩa là với những giống cho năng suất củ cao thời kì giữa và cuối khi thu hoạch vật chất khô phải
ưu tiên tập trung vận chuyển về củ, đó chính là giai đoạn phình to của củ (Đinh
Thế Lộc, 1997; Mai Thạch Hoàng, 1998)
Số củ trên cây được quyết định bởi thời kì phân cành kết củ, trong thời kì này các yếu tố ngoại cảnh trong đó có ẩm độ, độ thoáng của đất và liều lượng phân đạm có ảnh hưởng rất lớn đến số củ hình thành trên cây Thời vụ, liều lượng phân bón và phương pháp trồng thích hợp có tác dụng tăng số củ trên cây
1.3.3 Chế độ phân bón và dịch bệnh trên cây khoai lang
1.3.3.1 Chế độ phân bón
Mỗi nguyên tố dinh dưỡng đều có vai trò khác nhau đối với sự sinh trưởng
và phát triển và tạo thành năng suất cho cây khoai lang Ngoài tác động riêng lẽ các nguyên tố dinh dưỡng còn có tác động tương hổ với nhau, hổ trợ nhau thúc
đẩy quá trình hoạt động sống của cây khoai lang Nếu đủ lân sẽ tăng hiệu quả đạm, hoặc đủ kali thì quá trình phình to của củ sẽ thuận lợi (Mai Thạch Hoàng,
1998; Mai Thúc Lân, 1969; Đinh Thế Lộc, 1979) Cũng theo Đinh Thế Lộc (1997) đạm và kali thể hiện rõ trong việc tăng số lượng trung bình củ và khối lượng thân lá
Theo Iso E (dẫn theo Đinh Thế Lộc, 1997) tỷ lệ NPK trong dây lá khoai tương ứng là 0,81; 0,15; 0,005% khối lượng khô, trong củ là 1,8; 1,14; 3 % khối lượng khô Ruộng khoai lang muốn đạt năng suất 15 tấn củ trên ha, cây khoai lang phải lấy từ đất khoảng 70 kg N; 20 kg P2O5; 110 kg K2O Về liều lượng, cây
Trang 28khoai lang cần nhiều nhất là kali, tiếp đó là đạm và cuối cùng là lân trong suốt quá trình sinh trưởng Về thời kì sinh trưởng, cây khoai lang cần nhiều đạm nhất vào thời kì đầu (thời kì sinh trưởng thân lá), cần nhiều kali nhất vào giai đoạn sau (giai đoạn phát triển phình to của củ), còn lân thì cây cần trong suốt quá trình sinh trưởng, nhất là giai đoạn đầu hình thành và phát triển của bộ rễ (Mai Thạch Hoàng, 1998; Mai Thúc Lân, Hồ Thế Hùng, 1999; Đinh Thế Lộc, 1989)
Vai trò của phân đạm cho cây khoai lang: Đinh Thế Lộc và ctv, (1979) cho
rằng bón thúc đạm sớm từ 20 – 45 ngày, làm tăng năng suất 10 – 20 % so với đối chúng không có đạm, nhưng nếu bón đạm muộn từ 80 – 90 ngày sẽ làm giảm năng suất củ 10 % so với đối chứng Bón lót đạm tuy không làm tăng năng suất
củ rõ như bón thúc nhưng cũng làm tăng năng suất 7% Đạm là yếu tố quan trọng trong quá trình nâng cao năng suất khoai lang Trên hầu hết các loại đất bón phân đạm giúp gia tăng sự tăng trưởng của cây đặc biệt là của thân, lá (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)
Vai trò của kali đối với khoai lang: Kali là nguyên tố dinh dưỡng quan
trọng hàng đầu của cây khoai lang, kali xúc tiến quá trình quang hợp, hình thành
và vận chuyển tinh bột về củ Hàm lượng kali do hoa màu hút bằng 3 – 4 lần so lân và bằng với chất đạm nên cây trồng sẽ đòi hỏi 1 lượng kali lớn (Võ Thị
Gương và ctv, 2004)
Theo Đinh thế Lộc và ctv, (1989) khi nghiên cứu liều lượng kali thích hợp cho
khoai lang Đông Xuân vùng Đồng bằng Bắc Bộ nền phân bón thấp (8 tấn phân chuồng + 20 kg N + 20 kg P2O5 + 80 – 120 kg K2O trên ha) Thời kì bón kali cho
khoai lang (Đinh thế Lộc và ctv., 1989) cũng đã xác định rằng: bón thúc kali
thích hợp nhất vào giai đoạn 45 – 60 ngày sau khi trồng đã làm tăng năng suất 18
Trang 29– 55 % (bón thúc quá sớm 20 ngày sau khi trồng) hoặc quá muộn (90 ngày sau khi trồng) tác dụng tăng năng suất của kali không rõ
Vai trò của lân đối với khoai lang: Lân thúc đẩy việc ra rễ hình thành củ,
lân có ảnh hưởng rất lớn khả năng quan hợp và vận chuyển chất dinh dưỡng, thiếu lân năng suất và phẩm chất của củ giảm không để được lâu (Đinh Thế lộc, 1979) Lân giúp gia tăng quá trình quang hợp, tạo tinh bột và nâng cao chất lượng củ
Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến năng suất củ của khoai: Cây khoai lang có
phản ứng tốt đối với phân hữu cơ Phân hữu cơ làm cho đất tơi xốp giúp cho quá trình hình thành và phình to của củ được thuận lợi Nguyên nhân là quá trình phân giải chất hữu cơ đã tạo nên sự chênh lệch nhiệt độ: nhiệt độ trong luống khoai lang luôn cao hơn nhiệt độ bên ngoài và trên mặt luống Nhờ vậy đã tạo nên sự chênh lệch áp suất làm hình thành quá trình đối lưu không khí từ 2 bên sườn luống vào giữa luống (nơi có rễ củ khoai lang phát triển), từ trên mặt luống xuống gốc cây khoai lang giúp quá trình vận chuyển vật chất quang hợp từ lá xuống gốc vào củ nhanh, nhất là về đêm (Mai Thạch Hoàng, 1998) Nhiều tác giả cũng thống nhất, bón phân hữu cơ cho cây khoai lang càng cao càng tốt, nhất
là trên đất nghèo mùn, nghèo dinh dưỡng Chưa thấy hiện tượng thừa phân hữu
cơ trên khoai lang
Bón phối hợp NPK cho cây khoai lang: Trong quá trình sinh trưởng, phát
triển cây khoai lang cần cả 3 yếu tố dinh dưỡng NPK Vì vậy, cung cấp đầy đủ 3 yếu tố dinh đưỡng trên cho cây sinh trưởng và phát triển cân đối, tạo điều kiện cho thân lá củ và rễ thúc đẩy phát triển nhau Tuy nhiên, trong từng giai đoạn sinh trưởng cây cần từng yếu tố dinh dưỡng ở mức độ khác nhau Đạm cần nhiều trong giai đoạn sinh trưởng thân, lá và phân hóa củ, lân cần trong suốt quá trình
Trang 30sinh trưởng phát triển, nhất là giai đoạn phát triển của bộ rễ, kali cây cần nhiều trong giai đoạn phát triển phình to của củ và tích lũy tinh bột Nhưng giữa 3 yếu
tố dinh dưỡng này lại có mối quan hệ mật thiết và hổ trợ nhau Tùy từng loại đất
mà tỉ lệ NPK thay đổi cho thích hợp, với mục đích vừa tăng năng suất vừa tăng hiệu quả của bón phân Với những loại đất nghèo dinh dưỡng (đất cát ven biển,
đất bạc màu….) ở nước ta nên bón với tỉ lệ NPK là 2: 1: 3 còn ở Mỹ thường bón
với tỉ lệ 1: 2: 3 hay 1: 3: 6 (Đinh Thế Lộc và ctv., 1997)
Kĩ thuật bón phân hợp lí cho khoai lang đạt năng suất cao: Theo nghiên
cứu của trường cán bộ nông nghiệp tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc) và theo Đinh Thế Lộc (1979) tỉ lệ giữa phân bón lót và bón thúc cho thấy nếu bón lót 3/5 bón thúc 2/5 năng suất so sánh với đối chứng tăng 15%, bón lót 2/3 bón thúc 1/3 năng suất chỉ tăng (so với bón thúc 100%) 2 % Còn bón thúc tất cả năng suất giảm hơn so với đối chứng 4 % Sở dĩ như vậy là do bón thúc muộn, thân là phát triển chậm thời kì đầu sẽ giảm tiềm năng quang hợp tạo thành chất khô vì diện tích lá thấp, thời kì cuối sẽ phát triển quá mạnh ảnh hưởng đến sự tích lũy vật chất khô về củ
Ở nước ta việc bón phân hiệu quả cho khoai lang như sau: bón lót đầy đủ bón lót sớm theo nguyên tắc giữa nặng hai đầu nhẹ nghĩa là lần thúc đầu và lần thúc sau bón ít, lần thúc giữa bón nhiều (Mai Thúc Lân và Hồ Thế Hùng, 1969)
Về thời kì bón thúc: sở nông nghiệp Hoa Bắc (Trung Quốc) nghiên cứu trên
đất cát pha cho thấy bón thúc đạm và kali sớm (40 ngày sau trồng) năng suất
tăng 21,9% so với bón thúc muộn (90 ngày sau trồng), bón amom sufat sớm tăng 16,4 % so với bón muộn, bón tro thảo mộc sớm tăng 19,3 % so với bón muộn
(Đinh Thế Lộc, 1989) Đinh Thế Lộc và ctv, (1997) cho biết: bón thúc 2 lần vào
thời kì 20 ngày và 80 ngày sau khi trồng tăng năng suất 28 % so với không bón
Trang 31thúc, bón thúc 3 lần vào các thời kì 20 ngày, 80 ngày và 120 ngày sau khi trồng năng suất chỉ tăng 21,4 % so với không bón thúc
1.3.3.2 Dịch bệnh trên khoai lang
Sùng khoai lang (cylas formicarius Fabr): theo Dương Minh (1999) sùng
khoai lang là loại côn trùng phá hoại nhất và cũng quan trọng nhất trên khoai lang Nhiều nơi có thể bị thiệt hại 20 – 100 %
Triệu chứng: Sùng khoét củ khoai tạo thành những đường ngầm, gây độc tố
cho củ khoai, sau đó tạo điều kiện cho các dịch hại khác tấn công Nơi củ bị sùng thường bị mất màu và có mùi hôi, khi bị hại ở bên trong dây làm cho dây bị dị dạng phình to và bị nức chổ bị hại (Mai Thạch Hoàng, 2001)
Phòng trừ: Để trống ruộng sau khi thu hoạch hay luân canh với những cây
hoa màu khác:
Tồn trữ củ sớm, cận thận vệ sinh kho vựa
Xông hơi kho vựa vơi methyl bromide hay phostosine Khử củ giống với thuốc sát trùng
Khử đất bằng thuốc sát trùng Basudin, Furadan (xịt hoặc rải) dọc theo hàng khoai lúc củ đang lớn
Diệt dư thừa thực vật, nhất là những họ bìm bịp có quang ruộng khoai lang
Sâu cuốn lá (B convolvuli):
Triệu chứng: Sâu cuốn là xanh đẻ trứng thành ổ ở mặt trên lá sát gân chính
làm là thủng giống như viền đang ten, chỉ chừa gân là (Mai Thạch Hoàng, 2001)
Phòng trừ: Sử dụng hôm giống không bị nhiễm là 1 phương pháp có hiệu quả làm giảm tỉ lệ sâu cuốn lá (Nguyễn Văn Đĩnh và ctv., 2001)
Trang 32Sâu ăn lá (aspidomorpha spp):
Triệu chứng: Theo Mai Thạch Hoàng (2001) sâu trưởng thành lẫn sâu non
đều ăn lá, tạo nên những lỗ thủng tròn trên lá và khi bị hại nặng thì sẽ bị trơ cọng
hoàn toàn là vơ dây khoai lang bị gậm hết
Phòng trừ: Trừ cỏ dại thuộc họ bìm bịp ở xung quanh ruộng sẽ làm giảm
đáng kể sâu cuốn lá Nhiều loại kẻ thù của sâu ăn lá như kí sinh trùng và côn
trùng bắt mồi như loài bọ ngựa đã được phát hiện (Mai Thạch Hoàng, 2001)
Sâu keo (s litura):
Triệu chứng: Sâu tuổi nhỏ phá hoại bằng cách gậm nhu mô làm trầy sướt và
rách bề mặt là Từ 3 tuổi trở về sau chúng ăn nhu mô lá chỉ chừa lại gân lá
Phòng trừ: Thu lượm ổ trứng hay sâu non sống tập trung, phun thuốc sâu
từng điểm hay phun basillus thuringiensis ở giai đoạn sâu tuổi nhỏ sử dụng chế
phẩm virut đa diện… (Đỗ Tấn Dũng và ctv., 2001)
Bệnh thối thân (Stem rot):
Triệu chứng: do nấm Fusarium oxysporum f.batatas suynder và hansen gây
ra Nấm sống trong đất, xâm nhập vào tế bào làm cho thân cây bị đen đi Lúc
đầu, bệnh chỉ là vệt màu vàng, sau đó lang thành vùng mất màu làm lá bị nhăn
cây héo và chết Vào mùa mưa, ở cành bệnh còn có các ty khuẩn màu hồng phát triển Nhiệt độ cao (trên 320 C) và không khí ẩm làm bệnh càng trầm trọng Bệnh cũng lang truyền trong kho vựa, trên giống củ Vì vậy, dễ truyền sang liếp ương
và giống (Dương Minh, 1999)
Phòng trừ: Chọn củ giống khỏe mạnh, xử lí củ giống và hôm giống với các
loại thuốc sát khuẩn (arasan, Benlate, copper, bordeaux mixture…) và khử đất ở liếp ương, chọn giống kháng, luân canh (Dương Minh, 1999)
Trang 33Bệnh héo xanh do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum:
Triệu chứng: Ruộng bị bệnh thường có một số cây bị héo Bệnh bắt đầu từ
gốc ở dạng vết bệnh mọng nước màu vàng nhạt rồi chuyển sang màu nâu Bó mạch của dây bị biến màu Ở củ, bó mạch cũng bị biến màu nhưng chủ yếu là những vết chạy dọc màu nâu cũng như những vết bệnh mọng nước màu nâu trên
bề mặt Củ bị bệnh nhẹ, nếu bảo quản củ bị thối hoàn toàn và có mùi rất khác biệt (Mai Thạch Hoàng, 2001)
Phòng trừ: Khi đất bị nhiễm bệnh cần luân canh với cây trồng khác từ 3 – 4
năm, ngoài ra để làm giảm tỉ lệ bệnh nên dùng hom giống ít mẫn cảm và sạch bệnh (Lerner, 1980)
1.4 Kĩ Thuật Canh Tác Khoai Lang
1.4.1 Các giống khoai lang
Giống khoai lang tím nhật (HL 491): Do trung tâm nghiên cứu thực nghiệm
nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp murasa kisarami polycross nguồn gốc từ Nhật Bản (Nguyễn Thị Thủy và Hoàng Kim, 1997), giống đã được Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn công nhận giống năm
1997, hiện phổ biến trong sản xuất ở phía Nam và được bán nhiều ở các siêu thị Thời gian sinh trưởng từ 95 – 110 ngày, năng suất củ tươi 15 – 27 tấn/ ha, tỉ lệ chất khô 27 – 31 % chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu tía, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây (Hoàng Kim, 2012)
Giống khoai cao sản (HL518): Có nguồn gốc Việt Nam, thời gian sinh
trưởng kéo dài khoảng 95 – 110 ngày, với năng suất 17 – 32 tấn/ha được trồng rộng rãi ở các tỉnh phía Nam Có thân dây màu xanh tím, vỏ củ màu đỏ đậm và
Trang 34thịt củ màu cam nên được người tiêu dùng ưa thích và bán nhiều ở các siêu thị Mức độ nhiễm sùng và sâu đục thân nhẹ
Giống khoai bí đường (Hùng Lộc 4 hay HL4): có nguồn gốc Việt Nam, thời
gian sinh trưởng tương đối ngắn 85 – 95 ngày năng suất đạt 18 – 33 tấn/ ha, thân dây màu xanh, mức độ nhiễm sùng và sâu đục dây nhẹ, vỏ có màu đỏ và thịt củ
có màu cam đậm rất thích hợp cho việc chế biến món ăn
Giống khoai lang trắng giấy (HL284): có nguồn gốc Đài Loan, thời gian
sinh trưởng từ 90 – 105 ngày Năng suất củ tươi 18 – 29 tấn/ ha, tỉ lệ chất khô 28 – 31 % chất lượng củ luộc khá, độ bột nhiều hơn độ dẽo, vỏ củ màu trắng, thịt củ màu trắng kem, dạng củ đều, dây xanh, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình (Hoàng Kim, 2012)
Giống khoai lang sữa (hay còn gọi là giống khoai lang cực nhanh): có
nguồn gốc từ Trung Quốc, năng suất củ từ 12 – 15 tấn/ha Dạng lá sẽ thùy chân vịt màu xanh, ngọn xanh, có vỏ và ruột củ màu trắng ngà Tỉ lệ chất khô khá cao 27,5% – 31,21 % khá chịu rét, chịu hạn khá (Nguyễn Thị Lang, 2010)
1.4.2 Thời vụ trồng
Theo Trịnh Xuân Ngọ và Đinh Thế Lộc (2004) ở Việt Nam có bốn thời vụ
trồng khoai lang nhu sau:
Vụ khoai lang Đông Xuân: Trồng từ tháng 11 – 12 đến tháng 4 – 5 thu
hoạch, có thể trồng ở tất cả các vùng trên cả nước trừ các vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, chủ yếu trồng các giống dài ngày có tiềm năng năng suất cao do thời gian sinh trưởng kéo dài Tuy nhiên, bắt đầu từ tháng 12 trở đi nhiệt
độ bắt đầu giảm làm cho bộ phận trên mặt đất sinh trưởng chậm, khả năng hình
thành củ kém, vào giai đoạn cuối nhiệt độ và lượng mưa tăng dần thúc đẩy thân