1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến sự sinh trưởng in vitro cây lan vũ nữ hoàng hậu (grammatophyllum scriptum)

59 365 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN SINH LÝ – SINH HOÁ Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài “ẢNH HƯỞNG CỦA PHỔ ÁNH SÁNG ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG IN VITRO

Trang 2

Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Thị Thu Nga MSSV: 3118298 Ngành: Công nghệ rau hoa quả

và cảnh quan K37

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN SINH LÝ – SINH HOÁ

Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài “ẢNH HƯỞNG CỦA PHỔ ÁNH

SÁNG ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG IN VITRO CÂY LAN VŨ NỮ HOÀNG HẬU (Grammatophyllum scriptum)” Do sinh viên Nguyễn Thị Thu Nga

thực hiện và đề nạp

Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần Thơ, Ngày…tháng…năm 2015

PGS.TS Lê Văn Bé

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN SINH LÝ – SINH HOÁ

Luận văn tốt nghiệp kèm theo với đề tài “ẢNH HƯỞNG CỦA PHỔ ÁNH

SÁNG ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG IN VITRO CÂY LAN VŨ NỮ HOÀNG HẬU (Grammatophyllum scriptum)” Do sinh viên Nguyễn Thị Thu Nga

thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp và đã được thông qua

Luận văn tốt nghiệp được hội đồng đánh giá ở mức:………

Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:………

………

………

………

.………

Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2015 Chữ ký của thành viên hội đồng Thành viên 1 ………

Thành viên 2 ………

Thành viên 3 ………

Duyệt của khoa Trưởng Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng ………

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Nga

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Xin kính dâng lên cha mẹ và gia đình tôi!

Xin tỏ lòng tri ân sâu sắc!

Thầy Lê Văn Bé đã tận tình hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu trong suốt quá trình thực hiện đề tài, người đã hướng dẫn tôi cách mở khóa đến với thành công

Cô Lê Thị Điểu, anh Nguyễn Thành Nhân, anh Trương Hoàng Ninh, đã trực tiếp chỉ dẫn, luôn động viên và truyền đạt lại những kinh nghiệm quý báu

Thầy cố vấn học tập Nguyễn Văn Ây và Phạm Phước Nhẫn đã quan tâm dìu dắt và giúp đỡ tôi trong suốt 4 năm đại học

Quý Thầy Cô Trường Đại học Cần Thơ, Khoa Nông Nghiệp và SHƯD

đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức bổ ích cho tôi trong suốt quá trình học

Chân thành cảm ơn!

Các bạn lớp Công nghệ rau hoa quả và cảnh quan K37 như Thoa, Bình, Thiện… đã nhiệt tình giúp, chia sẻ những khó khăn cũng như vui, buồn trong suốt quá trình học tập và làm luận văn

Thân gửi đến thầy cô, anh chị và tất cả các bạn những lời chúc tốt đẹp và thành công trong tương lai!

Nguyễn Thị Thu Nga

Trang 7

TIỂU SỬ CÁ NHÂN

Họ tên: Nguyễn Thị Thu Nga

Ngày sinh: 11/06/1993

Nơi sinh: TP Trà Vinh

Họ tên cha: Nguyễn Văn Hơn

Họ tên mẹ: Huỳnh Mỹ Nghiệp

Địa chỉ liên lạc: 27/A Quang Trung, Khóm 5, Phường 4, Thành phố Trà Vinh, Tỉnh Trà Vinh

Quá trình học tập:

- 1999 – 2000: Trường Tiểu học Minh Trí I, TP Trà Vinh

- 2000 – 2004: Trường Tiểu học Lê Văn Tám, TP Trà Vinh

- 2004 – 2008: Trường Trung học cơ sở Lý Tự Trọng, TP Trà Vinh

- 2008 – 2011: Trường Trung học phổ thông Phạm Thái Bường, TP Trà Vinh

- 2011 – 2015: Trường Đại học Cần Thơ, ngành Công nghệ rau hoa quả

và cảnh quan, khóa 37, Khoa Nông Nghiệp và SHƯD

Cần Thơ, ngày tháng…năm 2015

Nguyễn Thị Thu Nga

Trang 8

1.1 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT CỦA CÂY LAN VŨ NỮ HOÀNG HẬU 2

Trang 9

1.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ SỬ DỤNG CÁC LOẠI BÓNG ĐÈN

2.2.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của phổ ánh sáng và nồng độ BA

2.2.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến sự ra rễ của

2.2.3 Thí nghiệm 3: Hiệu quả của các loại giá thể và phân bón lá lên

sự sinh trưởng của cây lan vũ nữ hoàng hậu in vitro trong điều kiện

nhà lưới

19

3.3 THÍ NGHIỆM 3: HIỆU QUẢ CỦA CÁC LOẠI GIÁ THỂ VÀ

PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LAN VŨ NỮ

HOÀNG HẬU IN VITRO Ở ĐIỆU KIỆN NHÀ LƯỚI

28

Trang 10

3.3.3 Số rễ và chiều dài rễ gia tăng 30 3.4 NHẬN XÉT HIỆU QUẢ CỦA CÁC LOẠI BÓNG ĐÈN TRONG QUÁ TRÌNH NHÂN CHỒI VÀ RA RỄ CỦA LAN VŨ NỮ HOÀNG

Trang 11

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT

ANOVA Analysis of variance

NAA α – Naphthalene acetic acid

MS Môi trường Murashige & Skoog (1962)

In vitro Trong ống nghiệm

SPSS Statistical Package for Social Sciences

2,4 D 2,4 Dichlorophenoxy acetic acid

Trang 12

DANH SÁCH BẢNG

3.1 Ảnh hưởng của phổ ánh sáng và nồng độ BA đến số chồi lan 8

3.2 Ảnh hưởng của phổ ánh sáng và nồng độ BA đến chiều cao

3.3 Ảnh hưởng của phổ ánh sáng và nồng độ BA đến số lá của

3.4 Ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến số rễ và chiều dài rễ (cm)

3.5 Ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến hàm lượng diệp lục tố a, b và

carotenoid (µg/g lá tươi) của lan 8 tuần sau khi cấy 27

3.6 Hiệu quả của các loại giá thể và phân bón lá đến chiều cao gia

tăng (cm) của cây lan sau 4 tuần thuần dưỡng ở điều kiện nhà

lưới

30

3.7 Hiệu quả của các loại giá thể và phân bón lá đến số rễ gia tăng

của cây lan sau 4 tuần thuần dưỡng trong điều kiện nhà lưới 31

3.8 Hiệu quả của các loại giá thể và phân bón lá đến chiều dài rễ

gia tăng (cm) của cây lan sau 4 tuần thuần dưỡng trong điều

kiện nhà lưới

31

3.9 Sự tương tác giữa các loại giá thể và phân bón lá lên chiều dài

rễ gia tăng (cm) của cây lan sau 4 tuần thuần dưỡng trong điều

kiện nhà lưới

33

3.10 So sánh lượng điện tiêu thụ giữa các loại bóng đèn trong quá

trình nhân chồi và ra rễ của lan vũ nữ hoàng hậu 34

Trang 13

DANH SÁCH HÌNH

1.1 (A) Cây lan vũ nữ hoàng hậu (Grammatophyllum scriptum) ;

2.1 Các điều kiện chiếu ánh sáng bố trí thí nghiệm 16

2.2 Cây lan in vitro trồng trong các loại giá thể 20

3.1 Sự nhân chồi lan 8 tuần sau khi cấy ở ánh sáng của đèn

3.2 Sự ra rễ lan 8 tuần sau khi cấy ở các nghiệm thức 28

3.3 Cây lan sau 4 tuần thuần dưỡng trong điều kiện nhà lưới 32

Trang 14

NGUYỄN THỊ THU NGA 2015 “ẢNH HƯỞNG CỦA PHỔ ÁNH SÁNG

ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG IN VITRO CÂY LAN VŨ NỮ HOÀNG HẬU (Grammatophyllum scriptum) Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Công nghệ

rau hoa quả và cảnh quan Khoa Nông Nghiệp và Sinh học ứng dụng - Đại học Cần Thơ 35 trang Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ VĂN BÉ

TÓM LƯỢC

Đề tài “Ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến sự sinh trưởng in vitro cây lan vũ

nữ hoàng hậu” được thực hiện nhằm mục đích khảo sát sự ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến sự sinh trưởng in vitro của cây lan vũ nữ hoàng hậu Đề tài bao gồm ba thí nghiệm: Ảnh hưởng của phổ ánh sáng và nồng độ BA đến sự nhân chồi của lan vũ nữ hoàng hậu; Ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến sự ra rễ của lan vũ nữ hoàng hậu; Hiệu quả của các loại giá thể và phân bón lá lên sự sinh trưởng của cây lan vũ nữ hoàng hậu in vitro trong điều kiện nhà lưới Kết quả cho thấy (1) Môi trường có bổ sung 1,5 mg BA/lít phối hợp với ánh sáng của đèn compact đỏ 20W, đèn LED đỏ 7W hoặc compact vàng 20W cho số chồi và chiều cao chồi tốt nhất; (2) Môi trường có bổ sung 0,5 mg NAA/lít với ánh sáng của đèn compact đỏ 20W hoặc đèn LED đỏ 7W cho số rễ và chiều dài rễ tốt nhất; (3) Giá thể chỉ xơ dừa kết hợp với phun phân bón lá với hàm lượng NPK 6-30-30 có hiệu quả cao lên sự gia tăng chiều cao, số lá, số rễ và chiều dài rễ của cây Sử dụng đèn LED 7W thì sẽ tiết kiệm 87% lượng điện tiêu thụ

và có hiệu quả cao trong quá trình nhân chồi và ra rễ của cây lan vũ nữ hoàng hậu so với đèn huỳnh quang 36W

Từ khóa: lan vũ nữ hoàng hậu, in vitro, BA, ánh sáng

Trang 15

MỞ ĐẦU

Hiện nay, hoa lan là một trong những loài hoa được ưa chuộng nhất và được xem là loài hoa vương giả, thể hiện sự tao nhã và thuần khiết, bởi các giống lan này có đa dạng về màu sắc, dáng hoa và hương thơm Bên cạnh đó, hoa lan còn có giá trị kinh tế cao và được sử dụng phổ biến là hoa cắt cành hay

hoa chậu Trong đó, lan Grammatophyllum scriptum thuộc loài lan

Cymbidium là một giống lan mới Hoa nổi bật với màu lục vàng đốm nâu hay màu xanh nhạt, phát hoa dài có nhiều hoa và thời gian ra hoa kéo dài (Trần Hợp, 1998) Cây được nhân giống chủ yếu bằng cách tách cụm chồi (khoảng 3 chồi) và hiện nay, còn có kỹ thuật nuôi cấy mô Loài lan này có đặc điểm là trong giai đoạn sinh trưởng và bắt đầu ra hoa thì có nhu cầu ánh sáng cao (Trần Văn Huân và Văn Tích Lượm, 2004) Vì vậy, ánh sáng là một trong những yếu tố quan trọng đối với vi nhân giống loài lan này nói riêng và nuôi cấy mô thực vật nói chung

Trước đây, người ta thường sử dụng đèn huỳnh quang trong nuôi cấy

mô thực vật Tuy nhiên, ánh sáng đèn huỳnh quang là sự phối trộn của nhiều vùng quang phổ từ những vùng ánh sáng có bước sóng ngắn 300 nm đến bước sóng dài 800 nm và có vùng bước sóng ngắn không có lợi cho sự sinh trưởng

và phát triển của thực vật Trong thời gian gần đây, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến việc sử dụng nguồn sáng nhân tạo với ánh sáng đơn sắc trong nuôi

cây in vitro như đèn compact, đèn LED… để tiết kiệm điện năng Hơn thế

nữa, đèn compact và đèn LED có nhiều ưu điểm hơn như kích thước nhỏ, tuổi thọ cao, vùng quang phổ có thể kiểm soát được, tiết kiệm điện năng và ít tỏa nhiệt Trong khi đó, đèn huỳnh quang chiếm nhiều không gian, tuổi thọ thấp,

có những vùng quang phổ không cần thiết, tiêu tốn điện năng và tỏa một lượng nhiệt cao Theo Taiz và Zeiger (2003) ánh sáng đơn sắc có thể cải thiện được chất lượng cây trồng, có nhiều ưu thế hơn đến sự sinh trưởng, phát triển, phát sinh hình thái và các phản ứng sinh lý tích cực với nhiều loại cây trồng khác

nhau Vì vậy, đề tài “Ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến sự sinh trưởng in vitro

cây lan vũ nữ hoàng hậu ( Grammatophyllum scriptum)” được thực hiện với

mục tiêu tìm ra phổ ánh sáng thích hợp cho sự sinh trưởng in vitro của cây lan

vũ nữ hoàng hậu và tiết kiệm chi phí điện năng góp phần làm giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành cây giống

Trang 16

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT CỦA CÂY LAN VŨ NỮ HOÀNG HẬU

1.1.1 Phân loại thực vật

Giới: Plantae

Ngành: Angiospermae Lớp: Monocotyledonae

1.1.3 Đặc tính thực vật của cây lan

Grammatophyllum scriptum là một loại lan có kích thước lớn thường

mọc trên các cành cây, hốc cây hoặc giữa các nhánh trên thân cây mọc ở các vùng rừng rậm, cần nhiều ánh sáng vào tất cả thời gian trong năm và đây là điều kiện tiên quyết cho lan có thể ra hoa đẹp (Trần Văn Bảo, 1999)

Rễ: nhiều, cứng dạng tròn, màu trắng bạc, đầu chóp có màu xanh và

bao quanh cụm giả hành Rễ bám vào bất cứ nơi nào mà chúng tiếp xúc và rễ

có khuynh hướng hướng lên (Nguyễn Thiện Tịch, 2001)

Thân: dạng thân thảo, đa niên đẻ nhánh hàng năm tạo thành những bụi

nhỏ Thuộc nhóm lan đa thân, thuộc giống bán địa lan nên có giả hành nằm trên mặt đất, giả hành phù mập dạng củ màu lục với các bẹ lá hay sẹo lá ở quanh thân Các chồi bên của thân củ sẽ phát triển thành cây lan mới theo kiểu cọng trụ (Nguyễn Thiện Tịch, 2001)

Lá: mọc ra từ giữa thân, hình ngọn giáo hay lưỡi kiếm dài 50 – 100

cm, đầu lá nhọn, lá xanh quanh năm không giống như các loại bán địa lan như:

Calanthe, Anoectochilus…lá kém phát triển hoặc có thể tàn vào mùa khô

(Nguyễn Thiện Tịch, 2001)

Hoa: hoa không có màu sắc nổi bật như là đỏ, vàng, hồng…chỉ có

màu lục vàng với đốm nâu hay màu xanh nhạt (Hình 1.1) Hoa lưỡng tính đối

Trang 17

xứng hai bên, hoa thưa, lớn, cánh môi nhỏ và chia 3 thùy Phát hoa dài hình vòng cung khoảng 1 – 2 m mang 30-50 hoa và hoa to 15 – 20 cm nở rất lâu tàn (Trần Hợp, 1998) Chồi hoa xuất hiện bên dưới của giả hành từ các nách lá Chồi hoa thường xuất hiện cùng với chồi thân nhưng chồi hoa căng tròn hơn, trong khi đó chồi thân thì dẹt hơn

Quả: khô tự khai khi chín vỏ quả bung thành 3 – 6 mảnh Hạt rất nhỏ

và nhiều, thường không có nội nhũ Do nhẹ nên hạt dễ phát tán nhờ gió Trong điều kiện tự nhiên, thì tỷ lệ hạt lan nảy mầm là rất thấp

1.2 SƠ LƯỢC VỀ VI NHÂN GIỐNG

1.2.1 Định nghĩa

Vi nhân giống là việc nhân đúng kiểu cây của một kiểu gen được

tuyển chọn bằng cách sử dụng kỹ thuật in vitro (Debergh và Zimmerman,

1991) Theo Altman (2000) thì vi nhân giống thực vật là quá trình phát triển thành một cá thể hoàn chỉnh của các tế bào, mô hoặc cơ quan của cây trồng được tách ra, khử trùng và nuôi cấy trong môi trường vô trùng có bổ sung chất điều hòa sinh trưởng để tạo ra hàng loạt cây con giống cây mẹ

Theo Nguyễn Đức Thành (2000) vi nhân giống có một số ưu việt hơn

so với phương pháp nhân giống truyền thống như:

Cho hệ số nhân cao, rút ngắn thời gian đưa giống vào sản xuất

Hình 1.1 (A) Cây lan vũ nữ hoàng hậu (Grammatophyllum scriptum) ; (B) Hoa

lan vũ nữ hoàng hậu (Grammatophyllum scriptum)

Trang 18

Cây con tạo ra có đặc điểm di truyền giống cây mẹ

Tạo giống từ các mẫu cấy rất nhỏ

Nhân được số lượng cây lớn trên một diện tích nhỏ

Không phụ thuộc vào thời tiết hay vụ mùa Mẫu vật có thể dự trữ lâu dài

Có thể tạo ra các đột biến điểm trong quá trình nuôi cấy

Hơn nữa, cây con in vitro thường có sức sống yếu hơn cây trồng tự nhiên trong giai đoạn thuần dưỡng do cây in vitro chưa phát triển hoàn thiện cấu trúc

hình thái và sinh lý (Nguyễn Bảo Toàn, 2010)

1.2.2 Các giai đoạn của vi nhân giống

Theo Debergh và Zimmerman (1991) thì quy trình vi nhân giống chia làm 4 giai đoạn (không kể giai đoạn 0):

a Giai đoạn 0: Lựa chọn và chuẩn bị cây mẹ

Cây mẹ phải được lựa chọn cẩn thận, đặc trưng cho giống loài, sạch bệnh và đang ở giai đoạn tăng trưởng mạnh nhất để đạt được kết quả cao trong nhân giống Giai đoạn này góp phần rất lớn vào các giai đoạn sau (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy Tiên, 2002)

b Giai đoạn 1: Khử trùng, tạo chồi mô cấy

Tạo mẫu cấy ban đầu là bước đầu tiên của vi nhân giống Giai đoạn này cần đảm bảo các yêu cầu: tỷ lệ nhiễm thấp, tỷ lệ sống cao, mô tồn tại và

sinh trưởng tốt (Nguyễn Quang Thạch và ctv., 2005) Kết quả của giai đoạn

này phụ thuộc vào cách lấy mẫu, chọn đúng phương pháp khử trùng, nồng độ hóa chất và thời gian khử trùng Các mẫu cấy được sử dụng thường là các mầm ngủ hoặc mô phân sinh chồi (đỉnh sinh trưởng) hoặc từ các bộ phận khác như thân, lá (Nguyễn Bảo Toàn, 2010) Nhưng thông thường tỷ lệ mẫu sạch còn sống sau mỗi đợt khử trùng rất biến động và khó đạt mức cao (Debergh và Zimmerman, 1991) Do đó, mẫu cấy mô trong điều kiện ban đầu trong điều kiện vô trùng được xem như là một bước quyết định trong vi nhân giống

c Giai đoạn 2: Nhân chồi

Nhân chồi là giai đoạn kích thích mô nuôi cấy phát sinh hình thái và tăng nhanh số lượng thông qua các con đường: hoạt hóa chồi nách, tạo chồi

Trang 19

bất định và tạo phôi vô tính Để tăng hệ số nhân chồi, thường thêm vào môi trường dinh dưỡng nhân tạo các chất điều hòa sinh trưởng (auxin, cytokinin, gibberellin…) nhưng theo nguyên tắc chung thì môi trường có nhiều cytokinin

sẽ kích thích tạo chồi và phải kết hợp với các yếu tố nhiệt độ và ánh sáng thích hợp Tùy thuộc vào đối tượng nuôi cấy người ta có thể nhân nhanh số lượng từ

sự kích thích các trung tâm mô phân sinh như đỉnh sinh trưởng, chồi chính, chồi bên hoặc tái sinh phôi vô tính từ các bộ phân không chứa đỉnh sinh trưởng Phương pháp để gia tăng số chồi ở giai đoạn 2 là cấy chồi đỉnh hoặc chồi bên (Debergh và Zimmerman, 1991)

c Giai đoạn 3: Ra rễ

Mục đích của giai đoạn này là tạo cây phát triển đầy đủ rễ, thân, lá có khả năng thực hiện quang hợp và sống sót mà không cần cung cấp nguồn cacbohydrate nhân tạo Giai đoạn này chia làm 2 giai đoạn phụ:

- Giai đoạn: kéo dài

Kéo dài các chồi ở giai đoạn 2 để đạt kích thước thích hợp cho việc tạo rễ đầy đủ Môi trường kéo dài thường không chứa cytokinin hoặc một lượng cytokinin thấp hơn lượng cytokinin ở giai đoạn 2 Tùy thuộc vào kiểu cây mà có thể kéo dài trên chồi đơn hay cụm chồi (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy Tiên, 2002)

- Giai đoạn: kích thích tạo rễ và tiền thuần dưỡng

Auxin thường được sử dụng để kích thích ra rễ Để cảm ứng ra rễ thì nồng độ auxin cao nhưng muốn kéo dài rễ thì nồng độ auxin thấp là cần thiết và tạo rễ tốt nhất thường đạt trên môi trường khoáng thấp Rễ của nhiều loài cây có thể hình thành dễ dàng khi nồng độ các muối khoáng giảm đi một nửa hoặc giảm hơn và nồng độ đường giảm từ 2 – 5% (Webb và Street, 1977)

Rễ của một số loài cây có thể được hình thành dễ dàng hơn khi bổ sung than hoạt tính vào môi trường Than hoạt tính có tác dụng hạn chế mức độ chiếu sáng và có khả năng hấp thụ các chất ức chế ra rễ có trong môi trường nuôi cấy (George và Sherrington, 1984) Ngoài việc kích thích ra rễ, giai đoạn này cũng thích hợp cho sự thuần dưỡng bằng cách làm tăng khả năng tự dưỡng của cây con cây mô với việc cung cấp ít cacbohydrate hoặc làm thấp ẩm độ tương đối trong bình

d Giai đoạn 4: Thuần dưỡng cây con ngoài môi trường tự nhiên

Giai đoạn chuyển cây in vitro ra vườn ươm là giai đoạn cuối cùng của

quy trình vi nhân giống Chính trong giai đoạn này có thể xảy ra những thất bại, điều này sẽ là một trở ngại lớn cho sự phát triển của nuôi cấy mô thực vật (Lâm Ngọc Phương, 2010)

Trang 20

Mục đích của giai đoạn này là giảm thiểu sự chết cây con khi chuyển

từ in vitro sang điều kiện nhà lưới hoặc ngoài đồng (Wardle và ctv., 1983)

Nguyên nhân lớn làm cho cây con bị chết là do sự thoát hơi nước quá nhiều ở

bề mặt lá và sự hấp thu nước ở rễ quá yếu Vì vậy để tăng tỷ lệ sống của cây con ở ngoài nhà lưới thì cây con phải trải qua thời gian thích nghi với điều kiện gần giống như bên ngoài như tăng dần ánh sáng, nhiệt độ, giảm ẩm độ… (Debergh và Zimmerman, 1991) Thời gian tối thiểu cho sự thích nghi cây khoảng 2 – 3 tuần (George, 1993)

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến vi nhân giống

1.2.3.1 Môi trường

Một trong những yếu tố quan trọng nhất trong sự tăng trưởng và phát sinh hình thái của tế bào và mô thực vật trong nuôi cấy mô là thành phần môi trường nuôi cấy (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy Tiên, 2002) Môi trường nuôi cấy được xem là phần đệm để cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho

sự tăng trưởng và phát triển của cây trong suốt quá trình nuôi cấy in vitro

Hiện nay, thì có nhiều loại môi trường dinh dưỡng như: MS, WPM, WV3, N6, B5, LS…nhưng trong đó môi trường được sử dụng phổ biến là Murashige và Skoog (1962) (môi trường MS) vì nó thích hợp với nhiều loại cây trồng Môi trường nuôi cấy bao gồm các thành phần sau:

a Nguồn Cacbohydrate

Trong nuôi cấy mô, các tế bào chưa có khả năng quang hợp để tổng hợp chất hữu cơ vì vậy người ta đưa vào môi trường một lượng hợp chất carbon nhất định để cung cấp năng lượng cho tế bào và mô (Debergh và Zimmerman, 1991) Nguồn carbon ở đây là các loại đường, có tác dụng giúp

mô tế bào thực vật tổng hợp các hợp chất hữu cơ và giúp tế bào gia tăng sinh khối Ngoài ra, nó đóng vai trò là chất thẩm thấu chính của môi trường Người

ta thường sử dụng hai loại đường là sucrose và glucose Trong đó, sucrose là nguồn cung cấp carbon được sử dụng phổ biến hơn glucose, sử dụng đường với nồng độ 20 – 30 mg/l Nếu hàm lượng đường cao mô nuôi cấy sẽ khó hút được nước và hàm lượng đường cao là một trong những nguyên nhân gây ra

hiện tượng thủy tinh thể (Vũ Văn Vụ và ctv., 2006)

Trang 21

vô cơ được đưa vào môi trường ở hai dạng NH4+

và NO3- và nguồn nitrogen hữu cơ thường được sử dụng là các amino acid và polyamine Ngoài ra, thì các nguyên tố khác cũng đóng vai trò quan trọng với mô nuôi cấy: Mg2+

là thành phần củ diệp lục tố; Ca2+ là thành phần của màng tế bào Theo Pasqualeotto và

ctv., (1986) cho rằng K+ là một cation chủ yếu trong cây, sự thiếu K+ trong môi trường nuôi cấy mô sẽ dẫn đến tình trạng thừa nước, làm giảm tốc độ hấp thu phosphate và môi trường giàu Kali sẽ thúc đẩy quá trình trao đổi chất mạnh hơn

c Các nguyên tố vi lượng

Fe, Cu, Bo, Zn, Mn, Co…là các nguyên tố rất quan trọng và không thể thiếu trong sự phát triển mô và tế bào do chúng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động của enzyme Chúng được dùng ở nồng độ thấp < 0,05 mM/l Sự hiện diện của nguyên tố Fe đặc biệt quan trọng trong quá trình tạo chồi và rễ bất định Trong môi trường nuôi cấy mô, sử dụng sắt vi lượng dạng phức hợp chelate (Fe-EDTA) vì ở dạng này, sắt không bị kết tủa mà phóng thích từ từ vào môi trường nuôi cấy theo nhu cầu của mô thực vật (Nguyễn Văn Uyển, 1993)

d Vitamin

Vitamin đóng vai trò là chất xúc tác trong các quá trình biến dưỡng và thường được sử dụng với hàm lượng rất nhỏ (mg/l) Mặc dù, tất cả các loại mô

và tế bào thực vật nuôi cấy in vitro có khả năng tự tổng hợp được hầu hết các

loại vitamin nhưng thường không đủ về lượng, do đó phải bổ sung từ bên ngoài vào Các vitamin chủ yếu dùng trong nuôi cấy mô là: thiamine (B1), acid nicotinic (PP), pyridoxine (B6), myo-inositol (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy Tiên, 2002)

e Nước dừa

Nước dừa đã được sử dụng vào nuôi cấy mô 1941 và được sử dụng

khá rộng rãi trong các môi trường nhân nhanh in vitro Trong nước dừa có

chứa các loại khoáng acid amine, acid hữu cơ, đường, myo-inositol, các hợp chất có hoạt tính auxin, các gluxit của cytokinin Các thành phần này có hàm lượng thay đổi, khác nhau giữa quả non, quả già, thậm chí khác nhau giữa những quả có cùng độ tuổi Vì vậy, nước dừa cũng là một thành phần phức hợp không xác định Nó có tác dụng kích thích sự phân hóa và nhân nhanh chồi (George, 1993) Hàm lượng nước dừa sử dụng: 10 – 20% (Vũ Văn Vụ và

ctv., 2006)

f Agar

Agar là một loại polysaccarite của tảo biển, agar tan 1000C và đông đặc

ở 450C Là thành phần quyết định trạng thái vật lý của môi trường, có tác dụng

Trang 22

đông cứng môi trường là nhờ các polysaccarite kết hợp với các phân tử nước tạo thành thể keo có tính dẻo (polime) Do agar không phản ứng với các chất trong môi trường nuôi cấy và không bị phân hủy bởi enzyme thực vật nên thường được sử dụng rộng rãi trong nuôi cấy mô thực vật (Nguyễn Đức Lượng

và Lê Thị Thủy Tiên, 2002) Nồng độ agar thường được sử dụng trong nuôi cấy mô thực vật từ 6 – 8 g/l Nếu nồng độ agar cao môi trường trở nên cứng,

sự khuếch tán chất dinh dưỡng cũng như sự hấp thu của mô sẽ gặp khó khăn (Bùi Bá Bổng, 1995)

g pH môi trường

Cần chú ý đến độ pH của môi trường vì nó ảnh hưởng khá rõ nét tới khả năng hòa tan của các chất rắn trong môi trường, sự ổn định của môi trường, khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng của cây, khả năng đông tụ agar và khả năng tăng trưởng của tế bào Các chất đặc biệt mẫn cảm với pH như: NAA, GA3 và acid amine (Nguyễn Đức Thành, 2002) Murashige và Skoog (1962) cho rằng pH từ 5,7 – 5,8 là thích hợp để duy trì sự hòa tan các chất khoáng trong môi trường

1.2.3.2 Chất điều hòa sinh trưởng

Chất điều hòa sinh trưởng hay còn gọi là chất kích thích sinh trưởng thực vật là các yếu tố cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của thực vật Chất điều hòa sinh trưởng thực vật có thể là những chất tự nhiên được sản sinh với một lượng rất nhỏ trong một bộ phận nào đó của cá thể thực vật hoặc là những chất được tổng hợp nhân tạo Các chất điều hòa sinh trưởng thực vật bao gồm hai nhóm chính là auxin và cytokinin Ngoài ra, gibberelin và ethylene cũng có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển và trao đổi chất ở thực vật

a Auxin

Auxin là nhóm chất điều hòa sinh trưởng thực vật được sử dụng thường xuyên trong nuôi cấy mô tế bào Auxin tự nhiên được tìm thấy nhiều ở thực vật là indole acetic acid (IAA) IAA có tác dụng kích thích sinh trưởng kéo dài tế bào và điều khiển sự hình thành rễ Ngoài ra, con có các auxin tổng hợp: NAA, IBA, 2,4-D chúng có hoạt tính mạnh hơn auxin tự nhiên IAA Chúng có vai trò quan trọng trong sự phân chia tế bào và tạo rễ Trong đó, IAA có tác dụng kích thích ra rễ và kiềm hãm sự phát triển của callus và ngược lại, 2,4-D kích thích hình thành callus và kiềm hãm sự hình thành rễ trong môi trường nuôi cấy Mặc dù, cùng nhóm chất auxin nhưng hai chất này lại có tính đối kháng Năm 1973, Went và Thimann tìm ra NAA, chất này có tác dụng làm tăng hô hấp của tế bào và mô nuôi cấy, tăng hoạt tính enzyme và

Trang 23

ảnh hưởng mạnh đến trao đổi nitơ, tăng khả năng tiếp nhận và sử dụng đường

trong môi trường (Nguyễn Văn Uyển và ctv., 1984; Vũ Văn Vụ, 1999)

b Cytokinin

Cytokinin là chất điều hòa sinh trưởng có tác dụng làm tăng sự phân chia tế bào và quyết định sự phân hóa chồi bất định từ mô sẹo và cơ quan Các cytokinin thường gặp là kinetin và 6 – Benzyl adenine (BA) Kinetin được Skoog phát hiện ngẫu nhiên trong khi chiết xuất acid nucleic Kinetin là dẫn xuất của baze nitơ adenine BA là cytokinin tổng hợp nhân tạo nhưng có hoạt tính mạnh hơn kinetin Kinetin và BA có cùng tác dụng kích thích phân chia tế bào, kéo dài thời gian hoạt động của tế bào phân sinh và làm hạn chế hóa già của tế bào Ngoài ra, các chất này có tác dụng lên quá trình trao đổi chất, quá trình tổng hợp DNA, tổng hợp protein và tăng cường một số hoạt động của

một số enzyme (Nguyễn Văn Uyển và ctv., 1984; Murat Top và Bill Tatura,

2002; Nayak, N.R., S.R Patnaik, và S.P Rath, 1997)

Một số ghi nhận trong các nghiên cứu nhân chồi in vitro nếu tăng nồng

độ cytokinin quá cao sẽ dẫn đến hiện tượng cây sinh trưởng bất thường, lá nhỏ, cong queo, mất diệp lục tố, đặc biệt trong môi trường lỏng gọi là hiện tượng dư thừa nước (hyperhydricity) (Debergh và Read, 1991) Để giảm bớt hiện tượng này phải giảm hàm lượng cytokinin trong môi trường cấy hoặc kết hợp với nhóm auxin (George, 1993) Ngoài ra, trên một số cây trồng lại cho thấy tỷ lệ nhân giống giảm khi tăng nồng độ cytokinin

1.2.3.3 Môi trường vật lý

a Ánh sáng

Ánh sáng là nhân tố môi trường quan trọng kiểm soát sự sinh trưởng

và phát triển của thực vật, vì nó liên quan đến quang hợp, sự quang dưỡng và

sự phát triển hình thái (Salisbury và Ross, 1994; Read và Preece, 2003) Ánh sáng có ảnh hưởng tới mẫu cấy thông qua thời gian chiếu sáng, cường độ ánh sáng và chất lượng ánh sáng Với đa số các loài cây, thời gian chiếu sáng thích hợp khoảng 8 – 12 h/ngày Cường độ ánh sáng cao kích thích sinh trưởng của

mô sẹo trong khi cường độ thấp gây nên sự tạo chồi (Ammirato, 1986) Bên

cạnh thời gian chiếu sáng, cường độ ánh sáng thì chất lượng ánh sáng cũng ảnh hưởng khá rõ tới sự phát sinh hình thái của mô nuôi cấy Ánh sáng đỏ làm tăng chiều cao của thân chồi hơn so với ánh sáng trắng, còn ánh sáng xanh ức chế sự vươn cao của chồi nhưng lại ảnh hưởng tốt tới sự sinh trưởng của mô sẹo Chính vì vậy mà phòng thí nghiệm thường sử dụng ánh sáng đèn huỳnh quang với cường độ 2000 – 3000 lux (Economou và Read, 1987) Tuy nhiên, nhiều tác giả cho rằng ánh sáng không cần thiết trong trường hợp ra rễ, sự tạo

Trang 24

rễ tốt hơn nếu làm tối môi trường nuôi cấy (Bressan ctv., 1982) và ánh sáng

với cường độ 3000 lux có thể ức chế tạo rễ (Khos Khui và Sink, 1982)

b Nhiệt độ

Nhiệt độ là nhân tố có ảnh hưởng khác nhau lên tiến trình sinh lí như

hô hấp và quang hợp Theo Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy Tiên (2002) thì nhiệt độ thích hợp kích thích ra rễ tốt nhất là 25 ÷ 280C Nhiệt độ không những làm thay đổi vận tốc của quá trình quang hợp mà còn gây ra những biến đổi sâu sắc về quá trình trao đổi chất và hình thành các sản phẩm trong quang hợp Trong sản xuất, ta cần bố trí thời vụ thích hợp cho từng loại cây trồng theo nhu cầu nhiệt độ của chúng đối với quang hợp, để chúng có hoạt động quang hợp tối ưu và tích lũy cũng tối ưu (Nguyễn Kim Thanh và Nguyễn Thuận Châu, 2005)

1.3 ÁNH SÁNG

1.3.1 Khái niệm

Ánh sáng là từ phổ thông dùng để chỉ các bức xạ điện từ có bước sóng nằm trong vùng quang phổ nhìn thấy được bằng mắt thường (khoảng từ 380

nm – 720 nm) Giống như mọi bức xạ điện từ, ánh sáng có thể được mô tả như những đợt sóng hạt chuyển động gọi là photon Ánh sáng do mặt trời tạo ra gọi là ánh sáng trắng bao gồm nhiều ánh sáng đơn sắc biến thiên liên tục từ đỏ đến tím Ánh sáng có hai tính chất là sóng và hạt (Bùi Trang Việt, 2005)

1.3.2 Vai trò của các loại ánh sáng lên quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật

Ánh sáng là một yếu tố sinh thái có vai trò quan trọng đối với thực vật Ánh sáng ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống của thực vật từ khi hạt nảy mầm, sinh trưởng, phát triển cho đến khi cây ra hoa kết trái rồi chết

Theo George (1993) các đặc tính của ánh sáng ảnh hưởng đến in vitro

là độ dài sóng, cường độ sáng và thời gian chiếu sáng hay chu kì sáng Sự chiếu sáng với cường độ ánh sáng và chất lượng ánh sáng khác nhau tác động

đáng kể lên sự sinh trưởng mô sẹo của Cistanche deserticola và sự sinh tổng

hợp phenylethanoid glycosides – là một thành phần có vai trò quan trọng trong việc ổn định chức năng sinh sản, tiếp nhận các gốc oxy tự do, chống lão hóa,

là enzyme then chốt xúc tác cho sự bố trí cố định không gian, khử nhóm

ammonia từ phenyalanine và tyrosine để tạo ra cinamic acid (Ouyang và ctv.,

2003)

a Ánh sáng trắng

Ánh sáng trắng là tổng hợp các loại ánh sáng có bước khác nhau (400 – 800 nm), thích hợp cho nhiều loại đáp ứng của thực vật Trong nuôi cấy dịch

Trang 25

huyền phù của Perilla frutescens chiếu ánh trắng với cường độ 27,2 W.m-2

trong suốt thời gian nuôi cây thì hàm lượng anthocyanin tạo ra cao gấp hai lần

so với không chiếu sáng (Zhong và ctv., 1991) Ánh sáng trắng tăng cường sự sinh trưởng của chồi cây Artemisia annua L và trong điều kiện tối, chồi không sinh trưởng (Liu và ctv., 1999)

Theo Ouyang và ctv., (2003) mô sẹo được nuôi cây dưới ánh sáng

xanh khoảng 435 nm cho nhiều sinh khối cao hơn 19% so với nuôi cấy dưới ánh sáng trắng Việc chiếu ánh sáng xanh liên tục trong nuôi cấy cây Diếp cá trong môi trường nước làm giảm đáng kể sự kéo dài trục hạ diệp so với việc

chiếu ánh sáng đỏ (Volmaro và ctv., 1998)

1.3.3 Vai trò của ánh sáng đến sự quang phát sinh hình thái của thực vật

Thực vật có thể bị tác động bởi ánh sáng trực tiếp, chất lượng ánh sáng, cường độ ánh sáng và quang kỳ Ánh sáng gây ra tính hướng ánh sáng, quang phát sinh hình thái, sự phân hóa lục lạp và các phản ứng khác của thực vật như sự ra hoa và sự nảy mầm

Theo Taiz và Zeiger (2003) thì sự phát sinh hình thái là những thay đổi

về hình thái và phát triển của thực vật gây ra bởi ánh sáng Vì vậy, ánh sáng không chỉ cung cấp nguồn năng lượng cho quá trình quang hợp mà còn đóng vai trò như một tín hiệu cho sự tăng trưởng và phát triển của thực vật Quá trình này được điều khiển bởi ít nhất bốn loại thụ quan sau:

- Phytochrome: hấp thụ ánh sáng đỏ vả đỏ xa, ảnh hưởng đến tất cả các giai đoạn phát triển của cây

- Crytochrome: hấp thụ ánh sáng xanh, đóng vai trò quan trọng trong qua trình phát triển của cây con, đóng mở khí khổng và giai đoạn nở hoa

- Phototropin: hấp thụ ánh sáng xanh, điều hòa sự phát triển của cây theo cường độ ánh sáng

- Thụ quan thứ 4 ít được đề cập tới

1.3.3.1 Phytochrome – thụ quan hấp thu ánh sáng đỏ và đỏ xa ở thực vật

Phytochrome là một loại protein mang sắc tố xanh, có khối lượng phân

tử khoảng 120 kDa Hiện diện trong nhân và tế bào chất Ở thực vật hai lá mầm thì có năm loại phytochrome là PhyA, PhyB, PhyC, PhyD và PhyE Còn

Trang 26

ở thực vật một lá mầm thì chỉ có ba loại phytochrome là PhyA, PhyB và PhyC Phytochrome mang sắc tố xanh do đó rất khó phát hiện trong mô màu xanh lá cây và một phần bị che lấp bởi diệp lục tố Kendrick và Frankland (1983) đã phát hiện ra phytochrome phân bố tập trung ở những vùng mô phân sinh như là lá mầm, phôi và vùng tăng trưởng của rễ ở một giống đậu, điều này giúp cho xác định hàm lượng phytochrome dễ dàng hơn

Phytochrome tồn tại ở hai dạng là phytochrome red (Pr) hấp thu ánh sáng đỏ (660 nm) và phytochrome far red (Pfr) hấp thu ánh sáng đỏ xa (730 nm) Hai dạng của phytochrome có thể chuyển đổi lẫn nhau Khi Pr hấp thu ánh sáng đỏ sẽ chuyển thành Pfr, khi Pfr hấp thu ánh sáng đỏ xa sẽ chuyển thành Pr và trong tối, Pfr sẽ chuyển thành Pr Pfr là một dạng hoạt động sinh lí của cây có ảnh hưởng đến hoạt tính của các enzyme và sự biểu hiện gene

(Wang và ctv., 1991) Trong suốt ban đêm, Pfr phần lớn chuyển thành PR và

một phần bị phá hủy Không thể tách riêng được hai dạng Pr và Pfr Trong 100% ánh sáng đỏ có 85% Pfr và 100% ánh sáng đỏ xa có 97% Pr Tỉ lệ cân bằng đỏ/đỏ xa được gọi là trạng thái quang cân bằng (photoationary)

Phytochrome là sắc tố tham gia vào hầu hết sự thay đổi về hình thái cũng như phát triển của cây như kích thích hạt nảy mầm, phân hóa lục lạp từ proplastid, ức chế sự giãn dài của trụ mầm kích thích lá mầm phát triển và cảm ứng ra hoa Phytochrome kiểm soát sự phiên mã một số gene bao gồm tiểu phần nhỏ rubisco, protein gắn kết với chlorophyll a hay chlorophyll b và enzyme phân giải phenylalanine ammonia Dưới ánh sáng đỏ, tốc độ phiên mã của tiểu phần nhỏ rubisco có thể tăng lên 20 lần (Taiz và Zeiger, 2003) Ánh sáng đỏ xa có một số ảnh hưởng không mong muốn lên thực vật như sự kéo dài thân và cản trở sự phân nhánh (Moe và Heins, 1990; Vince – Prue và Canham, 1983) Các đèn sợi đốt có tỉ lệ (Pr:Pfr) thấp, thường dẫn đến sự kéo dài cuống, trong khi đèn huỳnh quang với tỉ lệ (Pr:Pfr) cao lại làm cho cây

Trang 27

Cryptochrome không có hoạt tính sinh hóa, nhưng sự biểu hiện của gene cryptochrome lại được điều hòa bởi ánh sáng bằng các cơ chế khác nhau

từ sự phiên mã cho đến sự thoái hóa Chức năng của cryptochrome trong sự phát sinh hình thái thực vật tương tự với các chức năng của phytochrome (như

ở Arabidopsis) Vai trò của cryptochrome ở Arabidopsis được thể hiện trong

điều khiển phản vàng hóa, biểu hiện gene và cảm ứng ra hoa theo quang kỳ được điều khiển bởi cả cryptochrome và phytochrome (Gressel, 1979)

b Phototropin

Cho đến nay, phototropin đã được xác định ở nhiều loài thực vật khác

nhau, từ loài tảo xanh Chlamydomonas reinhardtii cho đến các loài thực vật bậc cao (Briggs và ctv., 2001) Phototropin được biết đến như là một protein

liên kết với màng sinh chất có trọng lượng 120 kDa, có thể cảm ứng quá trình

phosphoryl hóa bởi ánh sáng xanh ở cây Arabidopsis thaliana (Gällagher và

Chlamydomonas (Huang và Beck, 2003)

1.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ SỬ DỤNG CÁC LOẠI BÓNG ĐÈN MÀU KHÁC NHAU TRONG VI NHÂN GIỐNG

Grimstad (1991) nghiên cứu về hiệu quả tương đối của 6 loại đèn huỳnh quang khác nhau lên sự tăng trưởng và phát triển của cây Rau diếp trong phòng nuôi cấy, thì thấy có sự khác biệt đáng kể về trọng lượng khô và

sự tạo lá Trọng lượng khô cao ở các nguồn đèn phát ra nhiều ánh sáng xanh,

đỏ và đỏ xa và cây trồng dưới các đèn này có hàm lượng chlorophyll trong lá cao

Magdalita và ctv., (2005) nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng lên sự nảy mầm và tăng trưởng của phôi dừa (Cocos nucifera L.) Ghi nhận ánh sáng

xanh dương, đỏ và vàng (400 – 700) thúc đẩy sự sinh trưởng như: chiều dài lá chiều cao chồi, số lượng lá, số lượng rễ…Sử dụng các màu sắc ánh sáng này

sẽ cải thiện được sự sinh trưởng của phôi dừa trong nuôi cấy

Ngô Thanh Phú (2013) đã nghiên cứu về ảnh hưởng phối hợp của màu sắc ánh sáng và chất điều hòa sinh trưởng lên sự sinh trưởng lên sự sinh

trưởng in vitro của Lan Denrobium Nghiên cứu sử dụng nguồn sáng bằng ánh

sáng trắng lọc qua giấy màu hồng có bước sóng 630 – 650 nm và giấy màu đỏ

có bước sóng 710 – 730 nm kết hợp với phối hợp của NAA và PBZ Kết quả

Trang 28

cho thấy ánh sáng màu hồng cho hiệu quả tốt trong sự gia tăng chiều cao, số

chồi, số lá và rễ in vitro so với màu đỏ

Dương Tấn Nhật (2010) đã nghiên cứu về ánh sáng đơn sắc (Led – Light Emitting Diode) và cho rằng Led đỏ và Led xanh ứng dụng riêng lẻ hoặc phối hợp lên sinh trưởng của nhiều loại cây trồng Các loại cây con Bạch đàn, Dâu tây, Địa lan, Hồ điệp và Chuối có thân kéo dài dưới hệ thống Led đỏ, lan

Ý lại tăng trưởng bình thường trong điều kiện này Những cây có thân kéo dài dưới hệ thống Led đỏ có thân mảnh lá hơi vàng, có lượng chlorophyll, tốc độ quang hơp, trọng lượng tươi của đỉnh và rễ cũng thấp hơn so với những cây được nuôi dưới hệ thống Led kết hợp đỏ và xanh Nhiều nghiên cứu đã nổ lực tìm ra vai trò của việc kết hợp ánh sáng xanh và đỏ nhưng vẫn chưa làm rõ được chất lượng ánh sáng

Trang 29

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU

2.1.1 Thời gian và địa điểm thực hiện

Thời gian từ tháng 04/2014 đến tháng 12/2014

Địa điểm: phòng cấy mô của Bộ môn Sinh lý – Sinh hóa, khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Đại học Cần Thơ

2.1.2 Vật liệu thí nghiệm

Mẫu cây lan Grammatophyllum scriptum được nhân giống trong phòng

nuôi cấy mô của Bộ môn Sinh lý – Sinh hóa, khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Đại học Cần Thơ

2.1.3 Thiết bị và hóa chất

Các loại bóng đèn do Công ty cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông cung cấp (http://www.rangdongvn.com(04/04/2015)) Các loại bóng đèn có phổ và cường độ ánh sáng được mô tả phần 2.1.4 Lux-meter 4NA-315…

Hóa chất: môi trường khoáng đa lượng và vi lượng MS (Murashige và Skoog, 1962), các chất điều hòa sinh trưởng thực vật: 6 – Benzyl adenine s(BA), α – Naphthalene acetic acid (NAA); vitamin B1 và B6; acetone 80%; agar; nước dừa; đường; cồn 70%; xà phòng; than hoạt tính; phân bón lá NPK 6-30-30…

2.1.4 Điều kiện thí nghiệm

Phòng nuôi cấy mô thực vật (Hình 2.1): Phòng nuôi cấy mô của bộ

môn Sinh Lý Sinh Hóa, 24 ± 20C, thời gian chiếu sáng 10 giờ/ngày Năm loại đèn có phổ ánh sáng và cường độ sáng khác nhau trong phòng nuôi cấy mô như sau:

độ ánh sáng và nhiệt độ hai lần mỗi ngày (lúc 9 giờ sáng và 3 giờ chiều) với nhiệt độ trung bình 26 ± 2oC Ánh sáng tán xạ tự nhiên với cường độ ánh sáng trung bình từ lux 500 – 1.000 lux

Ngày đăng: 20/06/2016, 19:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  Tên hình  Trang - ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến sự sinh trưởng in vitro cây lan vũ nữ hoàng hậu (grammatophyllum scriptum)
nh Tên hình Trang (Trang 13)
Hình 1.1 (A) Cây lan vũ nữ hoàng hậu (Grammatophyllum scriptum); (B) Hoa - ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến sự sinh trưởng in vitro cây lan vũ nữ hoàng hậu (grammatophyllum scriptum)
Hình 1.1 (A) Cây lan vũ nữ hoàng hậu (Grammatophyllum scriptum); (B) Hoa (Trang 17)
Hình 2.1 Các điều kiện ánh sáng bố trí thí nghiệm - ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến sự sinh trưởng in vitro cây lan vũ nữ hoàng hậu (grammatophyllum scriptum)
Hình 2.1 Các điều kiện ánh sáng bố trí thí nghiệm (Trang 30)
Bảng 2.1 Các nghiệm thức của thí nghiệm 1 - ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến sự sinh trưởng in vitro cây lan vũ nữ hoàng hậu (grammatophyllum scriptum)
Bảng 2.1 Các nghiệm thức của thí nghiệm 1 (Trang 31)
Hình 2.2 Cây lan in vitro trồng trong các loại giá thể - ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến sự sinh trưởng in vitro cây lan vũ nữ hoàng hậu (grammatophyllum scriptum)
Hình 2.2 Cây lan in vitro trồng trong các loại giá thể (Trang 34)
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của phổ ánh sáng và nồng độ BA đến số chồi lan 8  tuần sau khi cấy - ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến sự sinh trưởng in vitro cây lan vũ nữ hoàng hậu (grammatophyllum scriptum)
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của phổ ánh sáng và nồng độ BA đến số chồi lan 8 tuần sau khi cấy (Trang 35)
Hình 3.1 Sự nhân chồi lan 8 tuần sau khi cấy ở ánh sáng của đèn - ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến sự sinh trưởng in vitro cây lan vũ nữ hoàng hậu (grammatophyllum scriptum)
Hình 3.1 Sự nhân chồi lan 8 tuần sau khi cấy ở ánh sáng của đèn (Trang 36)
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của phổ ánh sáng và nồng độ BA đến chiều cao chồi  lan (cm) 8 tuần sau khi cấy - ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến sự sinh trưởng in vitro cây lan vũ nữ hoàng hậu (grammatophyllum scriptum)
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của phổ ánh sáng và nồng độ BA đến chiều cao chồi lan (cm) 8 tuần sau khi cấy (Trang 38)
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của phổ ánh sáng và nồng độ BA đến số lá của chồi  lan 8 tuần sau khi cấy - ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến sự sinh trưởng in vitro cây lan vũ nữ hoàng hậu (grammatophyllum scriptum)
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của phổ ánh sáng và nồng độ BA đến số lá của chồi lan 8 tuần sau khi cấy (Trang 39)
Hình 3.2 Sự ra rễ lan 8 tuần sau khi cấy ở các nghiệm thức - ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến sự sinh trưởng in vitro cây lan vũ nữ hoàng hậu (grammatophyllum scriptum)
Hình 3.2 Sự ra rễ lan 8 tuần sau khi cấy ở các nghiệm thức (Trang 41)
Hình 3.3 Cây lan sau 4 tuần thuần dưỡng trong điều kiện nhà lưới - ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến sự sinh trưởng in vitro cây lan vũ nữ hoàng hậu (grammatophyllum scriptum)
Hình 3.3 Cây lan sau 4 tuần thuần dưỡng trong điều kiện nhà lưới (Trang 47)
Bảng 2: Ảnh hưởng của phổ ánh sáng và nồng độ BA đến chiều cao (cm)  chồi 8 tuần sau khi cấy - ảnh hưởng của phổ ánh sáng đến sự sinh trưởng in vitro cây lan vũ nữ hoàng hậu (grammatophyllum scriptum)
Bảng 2 Ảnh hưởng của phổ ánh sáng và nồng độ BA đến chiều cao (cm) chồi 8 tuần sau khi cấy (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w