1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá vai trõ và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã ba trinh, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng

99 229 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác nhận của cán bộ hướng dẫn về đề tài: “Đánh giá vai trò và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng Nông thôn mới tại xã Ba Trinh, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng” do sinh viên

Trang 1

VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐBSCL

Trang 2

VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐBSCL

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được

ai công bố trong các nghiên cứu nào trước đây

Cần Thơ, ngày………tháng………năm 2015

Sinh viên thực hiện

Lưu Thương Tín

Trang 4

Xác nhận của cán bộ hướng dẫn về đề tài: “Đánh giá vai trò và sự tham gia của

nông dân trong quá trình xây dựng Nông thôn mới tại xã Ba Trinh, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng” do sinh viên Lưu Thương Tín – khóa 37, lớp Phát triển nông

thôn, Viện Nghiên cứu Phát triển đồng bằng sông Cửu Long thực hiện từ tháng 09/2014 đến 12/2014

Nhận xét của cán bộ hướng dẫn:

Cần Thơ, ngày tháng năm 2015

Cán bộ hướng dẫn

Ts Phạm Công Hữu

Trang 5

Hội đồng phản biện chấm báo cáo luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Đánh giá vai trò

và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng Nông thôn mới tại xã Ba Trinh, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng” do sinh viên Lưu Thương Tín – khóa 37,

lớp Phát triển nông thôn, Viện Nghiên cứu Phát triển đồng bằng sông Cửu Long thực hiện từ tháng 09/2014 đến 12/2014 và bảo vệ trước hội đồng

Nhận xét của hội đồng:

Cần Thơ, ngày tháng năm 2015

Chủ tịch hội đồng

Trang 6

Quê quán: ấp 6, xã Ba Trinh, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng

Chổ ở hiện nay: số nhà 183/7, ấp 6, xã Ba Trinh, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng

Trang 7

Khoảng thời gian học tập, nghiên cứu, tôi đã học tập được rất nhiều kiến thức quý báu

từ quý Thầy, Cô trường Đại học Cần Thơ, đặc biệt là quý Thầy, Cô Viện Nghiên cứu Phát triển đồng bằng sông Cửu Long Xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô đã cho tôi những kiến thức quý báu đó và nó sẽ là hành trang giúp tôi vững bước trong công việc

và cuộc sống sau này

Xin cảm ơn thầy Nguyễn Công Toàn, thầy đã giúp đỡ tôi từ khi chập chững bước vào môi trường đại học đến nay Cám ơn sự chỉ dẫn nhiệt tình và những tình cảm thầy dành cho lớp Phát triển nông thôn khóa 37

Xin cảm ơn thầy Phạm Công Hữu, thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện để hoàn thành luận văn

Cảm ơn các bạn lớp Phát triển nông thôn khoá 37 đã giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong lúc học tập và khi thực hiện luận văn này

Xin cám ơn các anh chị cán bộ xã Ba Trinh (huyện Kế Sách, Sóc Trăng) cùng tất cả những hộ nông dân đã họp tác, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Lưu Thương Tín

Trang 8

Xã Ba Trinh là một trong những xã điểm xây dựng nông thôn mới của huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng với mục tiêu sẽ đạt chuẩn xã nông thôn mới vào năm 2015 Để

có cơ sở khoa học nhằm thực hiện tốt hơn Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới trên toàn tỉnh Sóc Trăng, đề tài nghiên cứu này nhằm mục tiêu: (1) Đánh giá thực trạng tiến độ xây dựng nông thôn mới tại xã Ba Trinh; (2) Phân tích vai trò và sự tham gia của nông dân trong quá trình thực hiện nông thôn mới; (3) Đánh giá tác động của xây dựng nông thôn mới đến thu nhập của nông hộ tại điểm nghiên cứu; và (4) Đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương

Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia thông qua phỏng vấn nhóm với các câu hỏi bán cấu trúc, phương pháp điều tra nông hộ cũng được sử dụng để thu thâ ̣p thông tin và số liê ̣u cần đa ̣t được cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu đã tìm được các k ết quả: (i) Trong 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới, địa phương đã hoàn thành 14/19 tiêu chí bao gồm: quy hoạch và thực hiện quy hoạch, thủy lợi, điện nông thôn, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện, nhà

ở dân cư, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa, hệ thống tổ chức chính trị xã hội và an ninh trật tự Các khó khăn chính trong xây dựng nông thôn mới hiện nay là nguồn vốn đầu tư cho Chương trình xây dựng nông thôn mới còn quá ít chưa đáp ứng kịp thời trong khi nguồn vốn do cộng đồng dân cư đóp góp còn rất nhiều hạn chế; (ii) Trong tiến trình thực hiện nông dân tham gia nhiều vào các tiêu chí như: giao thông, thủy lợi, giáo dục, y tế, văn hóa và không tham gia vào các tiêu chí như: trường học, chợ nông thôn, bưu điện, hệ thống tổ chức chính trị - xã hội và an ninh trật tự Đồng thời ít tham gia trong các tiêu chí như: cơ sở vật chất văn hóa và nhà ở dân cư và tham gia nhiều trong các tiêu chí g iao thông và thủy lợi , riêng tiêu chí quy hoạch và thực hiện quy hoạch chủ yếu là cán bộ địa phương tham gia; (iii) Sau hơn ba năm thực hiện nông thôn mới, tỷ lệ nông hộ có mức thu nhập tăng chiếm 31,67%, giảm chiếm 28,33% và không thay đổi chiếm 40%; (iv) Giải pháp chính để giải quyết các vấn đề còn hạn chế là tăng cường tuyên truyền, vận động người dân tham gia, huy động mọi nguồn lực xã hội trong và ngoài địa phương, thay đổi cách thực hiện các tiêu chí cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương

Từ khóa: Nông thôn mới, vai trò và sự tham gia

Trang 9

LỜI CAM ĐOAN i

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN ii

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN iii

LÝ LỊCH CÁ NHÂN iv

LỜI CẢM ƠN v

TÓM TẮT vi

MỤC LỤC vii

DANH SÁCH HÌNH ix

DANH SÁCH BẢNG ix

DANH MỤC VIẾT TẮT x

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu 3

1.4.2 Không gian nghiên cứu 3

1.4.3 Thời gian nghiên cứu 4

1.4.4 Đối tượng nghiên cứu 4

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 5

2.1 Khái niệm phát triển nông thôn 5

2.2 Khái niệm phát triển nông thôn bền vững 5

2.3 Khái niệm xây dựng nông thôn mới 5

2.4 Các chính sách xây dựng NTM ở Viê ̣t Nam 5

2.5 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới 7

2.6 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở ĐBSCL 11

2.7 Tổng quan vùng nghiên cứu 12

2.7.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 12

2.7.2 Tình hình phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội 13

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

3.1 Nội dung và tiến trình nghiên cứu 16

3.2 Phương pháp luận 18

3.2.1 Lý thuyết “sự tham gia” 18

3.2.2 Vai trò và ý nghĩa sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM 22

3.3 Phương pháp thu thập số liệu 23

3.3.1 Chọn điểm nghiên cứu 23

3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 23

3.3.3 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 23

3.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 24

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 25

4.1 Thông tin kinh tế – xã hội của nông hộ tại địa phương 25

4.1.1 Giới tính, học vấn và nhân khẩu của hộ 25

4.1.2 Nghề nghiệp và sự tham gia xã hội của hộ 27

Trang 10

4.2.1 Cơ cấu tổ chư ́ c và phối hợp thực hiê ̣n xây dựng NTM 29

4.2.2 Các tác nhân tham gia vào xây dựng NTM tại địa phương 31

4.2.3 Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch XDNTM của địa phương 32

4.3 Vai tro ̀ và sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM 35

4.3.1 Thông tin tuyên truyền về xây dựng NTM đến ngươ ̀ i dân 35

4.3.2 Sư ̣ tham gia của người dân trong các tiêu chí XDNTM tại đi ̣a phương 36

4.3.3 Các hoạ t đô ̣ng tham gia và đóng góp vật chất của người dân trong xây dựng NTM tại địa phương 39

4.4 Đa ́ nh giá sự hài lòng của người dân trong XDNTM ta ̣i đi ̣a phương 40

4.5 Sự a ̉ nh hưởng của XDNTM đến thu nhâ ̣p theo nhân thức người dân 43

4.6 Mô ̣t số trở nga ̣i và khó khăn chính trong XDNTM ta ̣i đi ̣a phương 45

4.6.1 Trơ ̉ ngại và khó khăn trong nhận thức của chính quyền địa phương 45

4.6.2 Trơ ̉ ngại và khó khăn trong nhận thức của người dân 46

4.7 Mô ̣t số giải pháp phắc phu ̣c khó khăn trong XDNTM ta ̣i đi ̣a phương 46

4.7.1 Cách khắc p hục các trở ngại và khó khăn trong xây dựng NTM theo nhận thức của chính quyền địa phương 46

4.7.2 Cách khắc phục các trở ngại và khó khăn theo nhận thức của người dân 47

4.7.3 Mức độ ưu tiên các tiêu chí trong xây dựng NTM 47

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 50

5.1 Kết luận 50

5.2 Đề xuất 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Phụ lục 1 Kế hoạch và thực hiện kế hoạch xây dựng NTM tại địa phương, giai đoạn 2011 – 2015 55

Phụ lục 2 Bảng phân tích SWOT của địa phương trong xây dựng NTM .64

Phụ lục 3 Bảng mức độ ưu tiên các tiêu chí trong xây dựng NTM 66

Phụ lục 4 Kiểm định T-Test 67

Phụ lục 5 Phiếu phỏng vấn cá nhân 69

Phụ lục 6 Phiếu phỏng vấn nhóm 71

Phụ lục 7 Phiếu phỏng vấn nông hộ 73

Trang 11

Hình Tiêu đề Trang

Hình 2.1 Điểm nghiên cứu xây dựng NTM của tỉnh Sóc Trăng 13

Hình 3.2 Cơ chế: Dân biết, dân bàn, dân làm, dâm kiểm tra 19 Hình 4.1 Tháp tuổi của người dân địa phương năm 2014 25 Hình 4.2 Cơ cấu nghề nghiệp của người dân địa phương năm 2014 26 Hình 4.3 Cơ cấu trình độ của người dân địa phương 26 Hình 4.4 Kinh nghiệm làm việc của người dân địa phương 27 Hình 4.5 Tỷ lệ người dân tham gia các tổ chức tại địa phương 27 Hình 4.6 Cơ cấu nhân khẩu của nông hộ tại địa phương 28 Hình 4.7 Tỷ lệ nông hộ theo mức thu nhập tại địa phương (triệu đồng/năm) 28 Hình 4.8 Cơ cấu tổ chức lập kế hoạch và thực hiện lập kế hoạch xây dựng NTM

Hình 4.9 Tỷ lệ người dân biết thông tin Bộ tiêu chí 35 Hình 4.10 Tỷ lệ người dân biết địa phương đang xây dựng NTM 36 Hình 4.11 Sự tham gia trong các tiêu chí của nông dân 38 Hình 4.12 Tỷ trọng nguồn vốn xây dựng NTM của địa phương, giai đoạn

Trang 12

BCĐ Ban chỉ đạo

ctxh và ptcđ Công tác xã hội và Phát triển cộng đồng

NN và PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

SWOT Strengths – Weaknesses – Opportunities – Theats

Trang 13

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu

Nước ta sau hơn 28 năm tiến hành đổi mới, nông nghiệp, nông dân và nông thôn nước ta đã đạt được nhiều thành tựu khá to lớn và toàn diện Tuy nhiên, những thành tựu đạt được vẫn chưa xứng tầm với tiềm năng, lợi thế và đồng đều giữa các vùng Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành Nghị quyết số 26/NQTW (ngày 05/08/2008)

về nông nghiệp, nông dân và nông thôn Trong đó, nêu rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm

vụ và giải pháp thực hiện để xây dựng được một vùng nông thôn phát triển toàn diện Chính phủ đã cụ thể hóa Nghị quyết trên bằng Chương trình mục tiêu quốc gia

về xây dựng NTM, đồng thời ban hành bộ tiêu chí để thực hiện Mục tiêu chính của Chương trình là xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại và bền vững; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cộng đồng dân cư nông thôn; và xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại và giàu bản sắc văn hoá dân tộc

Sau hơn ba năm thực hiện Chương trình XDNTM (2011 – 2014), cả nước đạt được nhiều thành tựu khả quan Tổng nguồn vốn huy động cho Chương trình XDNTM là 485.000 tỷ đồng, trong đó người dân đóng góp 63.050 tỷ đồng (chiếm 13% ) (Lê Hải Triều, 2014) Bộ NN và PTNT đánh giá: đến cuối năm 2013 thu nhập bình quân của người dân nông thôn tăng lên đạt gần 20 triệu đồng/người/năm (Báo Kinh tế và Đô thị, 2013) và tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 7,6% (Bộ LĐTB và XH, 2014) Đến cuối quý I/2014, cả nước có 185 xã đạt chuẩn xã NTM (Sở NN và PTNT tỉnh Sóc Trăng, 2014) Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tiêu chí có tỷ lệ xã đạt được rất thấp như: giao thông, cơ sở vật chất văn hóa, trường học.v.v… đạt dưới 10% (Sài Gòn Giải phóng, 2014)

Tại ĐBSCL đã xuất hiện nhiều mô hình mới và cách làm hay đã đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận ĐBSCL huy động được 121.340 tỷ đồng để xây dựng NTM, trong

đó, người dân đóng góp chiếm 17,2% (Sài Gòn Giải phóng, 2014) Theo ông Cao Đức Phát: Hạ tầng nông thôn đã có bước phát triển, nhất là giao thông, điện, thay thế cầu tạm…; đời sống của người dân được cải thiện hơn trước, thu nhập bình quân của người dân nông thôn đã tăng lên 10% và tỷ lệ hộ nghèo giảm 3% Toàn vùng đã có 1,5% số xã đạt chuẩn NTM và mức độ đạt tiêu chí cao hơn mức bình quân chung của

cả nước Đến cuối quý I/2014, toàn vùng có 19 xã đạt chuẩn xã NTM (Báo điện tử Cần Thơ, 2014), thu nhập bình quân của người dân nông thôn đạt gần 35 triệu đồng/người/năm và tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 7,24% (Báo Lao Động, 2014) Tuy nhiên, vẫn còn nhiều địa phương đạt được dưới năm tiêu chí và các tiêu chí như: giao thông, môi trường và cơ sở văn hóa,… đạt được rất thấp (Báo Lao Động, 2014)

Trang 14

Tỉnh Sóc Trăng có 82 xã nằm trong quy hoạch xây dựng NTM Sau hơn ba năm triển khai thực hiện đã huy động được các nguồn lực to lớn, tìm ra cách làm hay và

mô hình tốt Toàn tỉnh đã huy động được gần 2.000 tỷ đồng để phục vụ xây dựng NTM, trong đó người dân cư đóng góp trên 223 tỷ đồng (Ban Kinh tế Trung ương, 2014) Đến cuối năm 2013, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên, thu nhập bình quân của người dân nông thôn đạt gần 18,5 triệu đồng/người/năm (Ban Kinh tế Trung ương, 2014); tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 17,03% (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2014) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đã từng bước phát triển, bộ mặt của nhiều vùng nông thôn đã thay đổi Đến cuối quý II/2014, toàn tỉnh có bảy xã đạt từ 15 đến

18 tiêu chí Tại huyện Kế Sách, đến cuối năm 2013 đã huy động trên 3,6 tỷ đồng để xây dựng các mô hình phát triển sản xuất (Sở NN và PTNT tỉnh Sóc Trăng, 2014) Thu nhập bình quân của người dân nông thôn đạt gần 24 triệu đồng/người/năm (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, 2014) và tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 17,18% (giảm 10,28% so với năm 2010) (Đài Phát thanh và Truyền hình Sóc Trăng, 2014) Tuy nhiên, qua nhìn chung toàn tỉnh Sóc Trăng vẫn còn nhiều tiêu chí đạt được rất thấp như giao thông, cơ sở vật chất văn hóa,… Đến cuối quý I/2014, toàn tỉnh Sóc Trăng có 24 xã đạt từ năm đến chín tiêu chí (Ban Kinh tế Trung ương, 2014)

Tại xã Ba Trinh (huyện Kế Sách), sau ba năm triển khai thực hiện (2011 – 2014) người dân đã đóng góp hơn ba tỷ đồng để xây dựng các công trình như: giao thông, trường học, trạm y tế, thủy lợi,… Đời sống vật chất và tinh thần của người dân địa phương được cải thiện; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường và tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 11% vào năm 2014 (giảm 2,92% so với năm 2013); đồng thời thu nhập bình quân của người dân nông thôn đã tăng lên và đạt gần 21,2 triệu đồng/người/năm Đầu năm 2014, địa phương đã đạt được 13/19 tiêu chí XDNTM (UBND xã Ba Trinh 2014) Nhưng bên cạnh đó, địa phương vẫn còn nhiều vấn đề hạn chế như: công tác tuyên truyền còn nhiều yếu kém; việc huy động nguồn lực còn nhiều hạn chế gây thiếu kinh phí để thực hiện các tiêu chí như: giao thông, trường học, môi trường ; đồng thời tiến độ hoàn thành các tiêu chí còn chậm và việc giảm nghèo chưa thật sự bền vững

Từ kết quả trên cho thấy, phong trào xây dựng NTM trên cả nước nói chung và địa phương nói riêng đã đạt nhiều thành tựu khá nổi bật Từ đó, có thể khẳng định được vai trò của người dân trong quá trình xây dựng NTM là rất quan trọng Tuy nhiên, vai trò đó của người dân ở nhiều nơi vẫn chưa được thể hiện rõ trong các báo cáo địa phương cũng như các báo cáo khoa học trong những năm vừa qua, xã Ba Trinh là một trong các trường hợp của vấn đề này Vì vậy, để làm rõ được vai trò và

sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện nông thôn mới tại địa phương, việc nghiên cứu “Đánh giá vai trò và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng Nông thôn mới tại xã Ba Trinh, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng” là điều rất cần

Trang 15

thiết để góp phần xây dựng NTM tại địa phương thành công và góp phần vào phong trào xây dựng NTM trên cả nước nói chung

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu chung của đề tài là nhằm đánh giá thực trạng vai trò và sự tham gia của nông dân trong quá trình thực hiện nông thôn mới, đồng thời đề xuất các giải pháp để nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình xây dựng NTM, góp phần xây dựng thành công NTM tại địa phương

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu này bao gồm:

1) Đánh giá thực trạng thực hiện xây dựng NTM tại điểm nghiên cứu;

2) Phân tích vai trò và sự tham gia của nông dân trong quá trình thực hiện NTM; 3) Đánh giá tác động của xây dựng NTM đến thu nhập của nông hộ tại điểm nghiên cứu; và

4) Đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của nông dân trong quá trình xây dựng NTM tại địa phương

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

1) Thực trạng xây dựng NTM hiện nay như thế nào trong những năm vừa qua tại xã

1.4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu vai trò và sự tham gia của nông dân trong quá trình thực hiện NTM trên các tiêu chí: quy hoạch và thực hiện quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện nông thôn, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, nhà ở dân cư, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, hệ thống tổ chức chính trị - xã hội và an ninh trật tự Các tiêu chí còn lại sẽ không phải là nội dung nghiên cứu của đề tài này

1.4.2 Không gian nghiên cứu

Do hạn chế về thời gian về kinh phí thực hiện nên đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu tại xã Ba Trinh, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng

Trang 16

1.4.3 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu này đƣợc thực hiện trong thời gian một năm, từ tháng 09/2014 đến tháng 12/2014 Thời gian thu thập số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp từ tháng 10/2014 đến tháng 11/2014

1.4.4 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu vai trò và sự tham gia của nông dân trong quá trình thực hiện trên một số tiêu chí trong xây dựng NTM thực hiện tại xã Ba Trinh, huyện Kế Sách , tỉnh Sóc Trăng Thời gian thƣ̣c hiê ̣n nghiên cứu từ tháng

09/2014 đến tháng 12/2014 Các nội dung khác sẽ không phải là nội dung nghiên cứu của đề tài này

Trang 17

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Khái niệm phát triển nông thôn

Thuật ngữ “phát triển nông thôn” có thể được định nghĩa là sự phát triển chung của khu vực nông thôn để cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn Nó là một quá trình tích hợp, trong đó bao gồm phát triển xã hội, kinh tế, chính trị và tinh thần của người dân nghèo trong xã hội (My agriculture Information Bank) Trong điều kiện của Việt Nam, tổng hợp các quan điểm từ những chiến lược phát kinh tế - xã hội của Chính phủ thì: Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện

có chủ ý một cách bền vũng về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn Quá trình này, trước hết là do chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác (Mai

Thanh Cúc và ctv, 2005)

Như vậy, phát triển nông thôn là một quá trình nhằm nâng cao đời sống và người dân sống trong khu vực nông thôn một cách bền vững

2.2 Khái niệm phát triển nông thôn bền vững

Khái niệm phát triển nông thôn bền vững được dựa trên nền tảng là khái niệm phát triển bền vững Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai (Jonathan M Harris, 2003)

Như vậy, khái niệm phát triển nông thôn bền vững được định nghĩa là: Cải thiện chất lượng cuộc sống cho người nghèo nông thôn bằng cách phát triển các năng lực của họ, điều này sẽ nâng cao được sự tham gia của cộng đồng, y tế, giáo dục, an ninh lương thực, bảo vệ môi trường và tăng trưởng kinh tế bền vững, qua đó cho phép các thành viên của cộng đồng thoát khỏi cảnh nghèo đói và đạt được đầy đủ tiềm năng (The Center for Sustainable Development, 2005)

2.3 Khái niệm xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân và của

cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà còn là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp

Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và vận động lớn để cộng đồng dân

cư nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, làng xã và gia đình của mình trở nên khang trang và sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ);

có nếp sống văn hoá, môi trường và trật tự xã hội nông thôn được đảm bảo; thu nhập

và đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao

2.4 Các chi ́nh sách xây dựng NTM ở Viê ̣t Nam

Ngày 05/08/2008, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân và nông thôn và nhận định: “Các vấn đề nông nghiệp, nông dân,

Trang 18

nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ” và “trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân

và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch

là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt” Đồng thời, đề

ra mục tiêu là: “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, ” và “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội hiện đại, ” Trong nghị quyết, Bộ Chính trị đánh giá: “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ” và “công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ”

Để thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chính phủ đã ban hành chương trình với 48 nội dung và phân công các bộ và cơ quan ngang bộ chủ trì thực hiện; triển khai năm chương trình mục tiêu quốc gia thực hiện là: (1) xây dựng NTM; (2) giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015; (3) việc làm và dạy nghề giai đoạn 2012-2015; (4) nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn và (5) thích ứng với biến đổi khí hậu

Căn cứ vào bảy nhiệm vụ và giải pháp của Trung ương Đảng về Nghị quyết Tam nông, ngày 16/04/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM Bộ tiêu chí thể hiện rất chi tiết các chỉ tiêu và quy định đầy đủ nội dung và tiêu chuẩn Ngày 21/08/2009, Bộ

NN và PTNT ban hành Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí nhằm định hướng xây dựng NTM trên phạm vi toàn quốc Thông tư hướng dẫn cụ thể 19 tiêu chí để chính quyền các cấp thực hiện, tùy thuộc vào tình hình thực tiễn của địa phương Ngày 04/06/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 800/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình MTQG về xây dựng NTM, giai đoạn 2010-2020 với mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế -

xã hội từng bước hiện đại, xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, ” Sau ba năm triển khai thực hiện, ngày 20/02/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 342/QĐ-TTg để sửa đổi năm tiêu chí trong Bộ tiêu chí để phù hợp với tình hình thực tế trên cả nước, đó là: chợ nông thôn, thu nhập, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên, giáo dục và y tế

Sau hơn ba năm thực hiện (2011-2014), Chương trình xây dựng NTM đã huy động được 485.000 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn do người dân đóng góp chỉ chiếm 13%, vẫn còn thấp so với nhiệm vụ đề ra Năm 2014, để thúc đẩy tiến trình xây dựng NTM trên cả nước, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 195/QĐ-TTg về

Trang 19

việc phân bổ nguồn vốn trái phiếu cho giai đoạn 2014-2016 là 15.000 tỷ đồng, trong

đó phân bổ trong năm 2014 là 4.765 tỷ đồng (Lê Hải Triều, 2014)

Tính đến cuối quý I/2014, trong tổng số 9.067 xã trên cả nước đã có 185 xã đạt chuẩn xã NTM (Sở NN và PTNT tỉnh Sóc Trăng, 2014), chiếm 2,04% trong tổng số

xã Một số tiêu chí như: giao thông, trường học, cơ sở vật chất văn hóa và môi trường

có tỷ lệ số xã đạt chuẩn NTM rất thấp (dưới 10%) Một số tiêu chí có tỷ lệ số xã đạt chuẩn NTM cao: quy hoạch, điện, bưu điện, hệ thống tổ chức chính trị và an ninh trật

do các tiêu chí này nhà nước nắm giữ vai trò chủ đạo

2.5 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới

Hàn Quốc

Hàn Quốc từ một nền nông nghiệp lạc hậu và bị chiến tranh tàn phá nặng nề đã tiến hành phát triển nông thôn trong 20 năm với một mưc đầu tư không lớn Phong trào Làng Mới của Hàn Quốc là một mô hình phát triển nên chúng ta cần phải nghiên cứu học tập

Phương hướng hành động của phong trào Làng Mới trong phát biểu của Tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hee là “nếu chúng ta có thể tạo ra hay khai thác được tinh thần chăm chỉ, tự vượt khó khăn và hợp tác tiềm ẩn trong mỗi thành viên sống trong khu vực nông thôn, tôi tin tưởng rằng tất cả làng, xã nông thôn sẽ trở thành nơi thịnh vượng để sống ” (Lê Hải Triều, 2014) Phong trào này hướng tới “phát triển tinh thần của nông dân, lấy kích thích vật chất nhỏ và chính sách để kích thích mạnh

mẽ tinh thần và qua đó phát huy nội lực tiềm tàng to lớn của nông dân.” Và mục tiêu của phong trào này là tạo ra tâm lý tin tưởng trong người dân, xây dựng kết cấu hạ tầng từ nông hộ như : xây dựng hàng rào, lắp đặt điện thoại, xây dựng các hạ tầng kỹ thuật như : đường giao thông nông thôn, thủy lợi, điện, nước sạch, để phục vụ người dân nông thôn Kết quả đến năm 1973, mức đóng góp của người dân nông thôn để xây dựng các kết cấu hạ tầng kỹ thuật như : đất đai, lao động và vật tư “cao gấp 10 lần so với mức hỗ trợ của nhà nước.” (Lê Hải Triều, 2014)

Ngoài ra, chính sách phân bố công nghiệp của Hàn Quốc là kết hợp phát triển đô thị với phát triển nông thôn, công nghiệp và nông nghiệp phát triển song song với nhau, tạo công ăn việc làm và thu nhập từ lĩnh vực phi nông nghiệp cho người dân, để người dân tham gia xây dựng và thực hiện đề án phát triển, đồng thời sử dụng có hiệu quả các nguồn hỗ trợ của nhà nước

Theo Đặng Kim Sơn và Phan Sỹ Hiếu (2011) thì: nếu chúng ta khai thác được lợi thế trên thông qua việc phát động tư tưởng trong nông dân sẽ tạo ra được công ăn việc làm cho người lao động nông thôn, kích được cầu tiêu thụ sản phẩm cho công nghiệp và xây dựng được cơ sở hạ tầng ở nông thôn trong thời gian ngắn, giá thành hạ tạo ra thế và lực mới cho ngành nông nghiệp phát triển (Lê Hải Triều, 2014)

Trang 20

Theo nghiên cứu của Đặng Kim Sơn (2008) cho rằng: phong trào Làng Mới của Hàn Quốc đã giúp cho nông dân quen dần với hợp tác làm ăn tập thể, tạo việc làm và tăng thu nhập cho đông đảo lao động nông nghiệp, nâng cao khả năng quản lý, nhất là cải thiện được ý thức và phong cách làm việc của người dân để đáp ứng yêu cầu của ngành công nghiệp (Lê Hải Triều, 2014) Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất của phong trào

là sự chuyển biến nhận thức của người dân và khuyến khích ngành công nghiệp đầu tư vào vùng nông thôn trong khi cơ sở hạ tầng vùng nông thôn vẫn chưa phát triển Vì thế, để phát triển được khu vực nông thôn nhà nước ta cần có các chính sách đặc biệt hơn cho ngành công nghiệp khi đầu tư vào vùng nông thôn

Nhật Bản

Năm 1979, Thị trưởng Morihiko Hiramatsu đề xuất và phát động phong trào Mỗi làng một sản phẩm Điểm xuất phát đầu tiên là tỉnh Oita, do đây là vùng đất thuần nông có nền nông nghiệp nhỏ lẻ và dân cư chủ yếu là người già và trẻ em Nguyên tắc

cơ bản của phong trào này là: địa phương hóa, tự tin, sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực

Theo Mai Thanh Cúc và ctv (2015) nhận định: “Trong 20 năm (1979 - 1999),

Phong trào Mỗi làng một sản phẩm đã tạo ra được 329 sản phẩm với tổng doanh thu là

141 tỷ yên/năm…” và “chỉ tập trung sản xuất các mặt hàng mang đậm nét truyền thống gắn liền với lịch sử và văn hóa lâu đời của mỗi địa phương…”, từ đó sản phẩm được tạo ra là những đặc sản, không đòi hỏi lực lượng lao động dồi dào và mang lại hiệu quả kinh tế cao (Lê Hải Triều, 2014)

Chính sách phát triển nông thôn của Nhật Bản là phát triển khoa học kỹ thuật nông nghiệp về thủy lợi, giống và phân bón, nhất là ngành công nghiệp phải phục vụ cho nông nghiệp Khuyến khích công nghiệp chuyển từ đô thị về vùng nông thôn để phát triển các ngành nghề nông thôn, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho nông dân Xây dựng các vùng nông thôn thành thị trường lớn để tích lũy cho ngành công nghiệp Sản xuất nông nghiệp phải được cơ giới hóa để thúc đẩy ngành cơ khí chế tạo máy nông nghiệp phát triển để có thể xuất khẩu ra thị trường thế giới và xây dựng được thương hiệu giá trị cao

Ngoài ra, Nhật Bản còn có chính sách phát triển hợp tác xã đa mục tiêu Mô hình hợp tác xã nông nghiệp của Nhật Bản hoạt động rất hiệu quả Đây là kênh thị trường tiêu thụ nông sản chính với nòng cốt là nông hộ sở hữu nhỏ, tất cả đều là thành viên hợp tác xã Hợp tác xã nông nghiệp hoạt động đa mục tiêu, tập trung vào nhu cầu của nông dân bán thời gian, trở thành “hợp tác nông thôn” chứ không chỉ có tính chất đơn thuần là hợp tác xã nông nghiệp và nông dân đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hợp tác xã Đặc trưng của hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản được thể hiện ở 3 khía cạnh: toàn diện, bảo hiểm rủi ro và đặc trưng vùng

Trang 21

Tuy nhiên, do tình trạng di cư từ nông thôn ra thành thị và tình hình dân số già nên chính sách phát triển nông thôn của Nhật Bản gặp rào cản là thiếu hụt nguồn lao động ở nông thôn Song song đó là quá trình đô thị hóa cao làm cho diện tích đất nông nghiệp giảm nhanh và manh mún

Theo Lê Hải Triều (2014): bài học kinh nghiệm được rút ra là dựa theo tình hình thực tế, tiềm năng và lợi thế của từng vùng, từng địa phương để tập trung tạo ra các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng, chất lượng nhằm xây dựng giá trị thương hiệu và mang lại hiệu quả kinh tế cao Phải đảm bảo đúng nguyên tắc cơ bản của phong trào Mỗi làng một sản Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò và sự sáng tạo của người dân nông thôn trong sản xuất nông nghiệp Song song đó là sự đầu tư, định hướng của nhà nước giúp người dân nông thôn chuyển biến tích cực về nhận thức và tư duy, tự tin để xây dựng mô hình phát triển kinh tế hộ, mô hình hợp tác xã nông nghiệp một cách tự chủ, không còn ỷ lại và phụ thuộc vào các nguồn hỗ từ bên ngoài

Thái Lan

Năm 1977, Thái Lan xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp hướng về xuất khẩu, đưa các mặt hàng nông sản đã qua chế biến ra thị trường quốc tế Trong đó, ngành công nghiệp chế biến đóng vai trò quan trọng Trên cơ sở phát triển mối quan

hệ giữa doanh nghiệp và nông dân, Thái Lan đã tổ chức lại nền nông nghiệp theo hướng liên kết bốn nhà: nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà ngân hàng và nhà nông, nhằm tạo ra sản phẩm có hiệu quả cao

Cách Thái Lan tổ chức lại nền nông nghiệp là thành lập hệ thống kinh doanh mặt hàng nông sản xuất khẩu gồm bốn nhà tham gia, đi từ đầu vào đến đầu ra Lợi nhuận được chia theo cách nhà nước thu thuế, nhà doanh nghiệp thu qua lợi nhuận kinh doanh, nhà ngân hàng thu qua lãi cho vay và nhà nông thu lợi nhuận qua bán sản phẩm khi trừ dần các khoản đầu tư dài hạn

Để thúc đẩy được nền nông nghiệp phát triển, Thái Lan đã áp dụng chiến lược tăng cường vai trò của cá nhân và của các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập để nâng cao trình độ chuyên môn; tăng cường bảo hiểm trong nông nghiệp cho nông dân, đồng thời giải quyết các vấn đề nợ trong ngành nông nghiệp

Kết quả của chính sách nông nghiệp này cho thấy, các mặt hàng nông sản có tính cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế; nguồn tài nguyên được sử dụng và quản lý hợp

lý hơn; ngành công nghiệp chế biến được phát triển, thúc đẩy mạnh mẽ các mặt hàng nông sản được xuất khẩu qua các nước phát triển Tuy nhiên, chính sách phát triển nền nông nghiệp của Thái Lan có mặt hạn chế là nguồn đầu tư từ ngân sách nhà quá lớn, điển hình là trong chính sách trợ giá lúa gạo của chính phủ đã tạo ra nhiều bất ổn xã hội và kinh tế cho người dân (Lê Hải Triều, 2014)

Trang 22

Thụy Điển

Kinh nghiệm xây dựng NTM ở Thụy Điển là tổ chức thể chế nông thôn để liên kết các nông dân tạo nên sức mạnh thúc đẩy nền nông nghiệp và kinh tế - xã hội nông thôn phát triển Thụy Điển tạo lập được gần 4.000 nhóm cộng đồng địa phương theo nhiều kiểu khác nhau như hội, hợp tác xã hoặc mạng lưới hợp tác giữa các làng ở địa phương Hiện nay, đã có 100 làng trong số 288 làng có mạng lưới hợp tác giữa các làng và ở hầu hết 21 hạt đều có mạng lưới vùng Các hợp tác xã ở địa phương điều hành các cửa hàng, trạm xăng, bưu điện hay tổ chức chăm sóc sức khỏe cho người già

và trẻ em Các nhóm địa phương điều hành nhiều nhiệm vụ như các hoạt động văn hóa, phát triển du lịch hay duy tu đường sá, những người lãnh đạo trong quá trình này được gọi là “những người kiểu mẫu”, họ là những người sống tại địa phương Đáng chú ý là phụ nữ thường dẫn đầu trong các phong trào này

Phong trào “làng” ở Thụy Điển có tác dụng phát huy dân chủ, cải thiện được đời sống ở nông thôn Người dân cảm thấy họ có tiếng nói và lời nói có giá trị hơn trong việc ra quyết định Công việc do các nhóm ở địa phương làm có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển rộng khắp trên đất nước Thụy Điển Các nguồn tài nguyên ở địa phương bao gồm cả nguồn nhân lực đều được sử dụng có hiệu quả, công việc do các nhóm ở các làng tự làm có trị giá khoảng một tỷ cuaron/năm (tương đương 1,675 tỷ đồng Việt Nam) (Quách Kim Phượng, 2013)

Năm 2004, Trung Quốc đưa ra quan điểm là phát triển kinh tế - xã hội thành thị phải đi đôi với phát triển nông thôn và hành động theo phương châm “công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp, thành thị dẫn dắt nông thôn” Trung Quốc còn đề ra tám chính sách

ưu tiên để thúc đẩy việc xây dựng nông thôn, kèm theo kế hoạch thực hiện cụ thể cho từng giai đoạn Trung Quốc đã đầu tư rất lớn để thực hiện mục tiêu Trong giai đoạn khởi đầu của chính sách, theo Nguyễn Duy Cần (2011): thu nhập của nông dân tăng trưởng nhanh, từ dưới 5%/năm vào năm 1999 tăng lên 9,5% vào năm 2007 Sản xuất lương thực phục hồi nhanh chóng, đảm bảo cung cầu lương thực trong nước, năm

2007 đạt 1.003 triệu tấn lương thực Cơ sở hạ tầng được nâng cấp, hiện đại như: giao thông, thông tin, năng lượng,… góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, cải thiện được đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nông thôn Tăng cường được sự gắn bó

Trang 23

và tin tưởng của nông dân với nhà nước, đồng thời ủng hộ các chính sách nào có lợi cho nông dân (Lê Hải Triều, 2014) Theo thời gian, chính sách này bộc lộ nhiều hạn chế Sự đầu tư và hỗ trợ của nhà nước cho khu vực nông thôn trở thành một gánh nặng, nông dân ngày càng phụ thuộc nhiều vào nguồn hỗ trợ của nhà nước

2.6 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở ĐBSCL

Phong trào xây dựng NTM đã tạo nên một diện mạo mới cho các vùng nông thôn trong vùng ĐBSCL Tổng kết từ kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, để đạt được thành công thì các địa phương nên “lấy sự hài lòng của dân làm thước đo” và phải

“dựa vào sức dân” là chính Ông Lê Huy Ngọ khẳng định: “Tiêu chí nào cũng không qua lòng dân Cần phải lấy mức độ hài lòng của người dân để làm thước đo cho quá trình xây dựng NTM” và “việc khơi dậy nguồn lực trong dân là một điểm sáng của vùng ĐBSCL Chúng ta xây dựng NTM là cần tập trung vào việc cải thiện và nâng cao đời sống cho người dân Một khi đời sống người dân phát triển thì sự vận động cho các tiêu chí còn lại cũng được dễ dàng hơn” Trong ba năm thực hiện (2011 – 2013), ĐBSCL đã huy động được 121.340 tỷ đồng để xây dựng NTM, trong đó, người dân đóng góp chiếm 17,2% Bình quân các xã đạt 9,23 tiêu chí, tăng 3,19 tiêu chí so với năm 2011, cao hơn mức bình quân chung cả nước (cả nước đạt 8,36 tiêu chí, tăng

3 tiêu chí) và đã có 18 xã đạt 19 tiêu chí, bằng 1,4% (cả nước là 1,2%), đồng thời xóa được xã “trắng” về đạt tiêu chí NTM (Sài Gòn Giải phóng, 2014)

Theo ông Cao Đức Phát: “Điều quan trọng nhất là tạo được lòng tin cho nhân dân Nguyên tắc “vàng” là phải dân chủ, công khai và minh bạch trong quá trình xây dựng NTM Các địa phương phải năng động sáng tạo, có bước đi thích hợp, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo chính trong quá trình xây dựng NTM” (Sài Gòn Giải phóng, 2014) Sự tin tưởng và hài lòng của người dân là nhân tố quan trọng đưa đến

sự thành công Chỉ khi người dân tin tưởng và hài lòng thì người dân mới tích cực tham gia đóng góp về tài lực và sức lực để xây dựng NTM Để làm được điều này, chúng ta phải phát huy dân chủ, công khai và minh bạch trong các vấn đề xây dựng NTM tại địa phương Ông Phạm Văn Huỳnh khẳng định: “Dân biết, dân bàn, dân đóng góp thì các công trình xây dựng NTM sẽ hiệu quả cao hơn và thực tế là các công trình xây dựng ở các xã NTM sẽ đạt chất lượng cao hơn và tiết kiệm hơn nếu có người dân tham gia” (Sài Gòn Giải phóng, 2014)

Tại Sóc Trăng, điểm sáng trong thực hiện Chương trình xây dựng NTM của tỉnh

là phát động rộng khắp phong trào "Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới" Phát động cho người dân đăng ký thực hiện 11 nội dung xây dựng NTM được thiết kế theo 19 tiêu chí xây dựng NTM và được biên soạn rõ ràng, dễ hiểu để người dân dễ làm Bước đầu, tỉnh ủy phát động sâu rộng trong đoàn viên, hội viên và nhân dân ở 22

xã điểm Chính quyền địa phương các xã quyết liệt chỉ đạo đăng ký thực hiện các nội dung rộng rãi đến các tầng lớp nhân dân Khi thực hiện, các xã chọn ấp làm điểm chỉ

Trang 24

đạo; mặt trận, đoàn thể và Ban nhân dân ấp xây dựng kế hoạch tuyên truyền và vận động cụ thể, trong đó nêu rõ những việc làm nào thuộc về địa phương và những việc làm nào thuộc về người dân làm Chính quyền địa phương các xã họp các đoàn thể cho người dân đăng ký thực hiện những việc dân làm một cách cụ thể như: dọn dẹp, sửa sang nhà cửa; phát hoang bụi rậm; làm cột cờ; làm hàng rào; vào tổ hợp tác sản xuất Trong các cuộc họp, cán bộ xã gợi ý cho từng người dân chọn nội dung đăng

ký phù hợp với khả năng, điều kiện hiện tại của mình Từ các đợt phát động, có đến hàng trăm nghìn người đăng ký thực hiện, đạt tỷ lệ hơn 80% dân số ở các xã Nhiều cách làm hay và mô hình tốt xuất hiện như: tại xã Phú Tân (huyện Châu Thành) có khoảng 300 hộ dân hiến hàng chục nghìn mét vuông đất và 100% người dân đăng ký xóa nhà dột, nhà ở tạm; hàng trăm hộ dân tại xã Tân Thạnh (huyện Long Phú) tự vận động xây dựng bốn chiến cầu bắc qua kênh rạch làm đường giao thông nông thôn Tại huyện Kế Sách, có hơn 400 hộ dân tại xã An Lạc Tây hiến trên 7.800m2 đất để làm đường, ông Nguyễn Văn Hải cư ngụ xã An Lạc Tây hiến 6.500 m2 đất trị giá 420 triệu đồng để xây dựng trạm y tế, trường học Mô hình làm hàng rào, cổng rào, cột

cờ trước sân nhà và trồng hoa ven đường đã xuất hiện và trở thành nét đẹp văn hóa ở nhiều nơi như: ấp An Hòa (xã An Lạc Tây) có 90% hộ dân tham gia phong trào làm hàng rào, cột cờ

Như vậy, nguồn vốn do người dân đóng góp để xây dựng đã lên đến con số hàng trăm tỷ đồng Mặc dù chưa có địa phương đạt đủ 19/19 tiêu chí, nhưng tỉnh Sóc Trăng

đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ Trong 22 xã điểm, có ba xã đạt từ 15 đến 18 tiêu chí, 18 xã đạt từ 10 đến 14 tiêu chí và một xã đạt chín tiêu chí

Tóm lại, kinh nghiệm xây dựng NTM tại Sóc Trăng cho thấy, muốn huy động nguồn lực trong dân để xây dựng NTM phải tuyên truyền vận động tốt, bảo đảm công khai, dân chủ và lắng nghe ý kiến người dân để tạo nên sự đồng thuận cao (Sài Gòn Giải phóng, 2014)

2.7 Tổng quan vùng nghiên cứu

2.7.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Xã Ba Trinh nằm ở phía Tây của huyện Kế Sách, cách thị trấn Kế Sách khoảng

14 km và cách TP.Sóc Trăng 34 km về phía Đông Nam Phía Đông giáp xã Trinh Phú, phía Bắc giáp xã Xuân Hòa, phía Tây giáp huyện Châu Thành – tỉnh Hậu Giang, phía Nam giáp xã Đại Hải và phía Đông Nam giáp xã Kế An

Toàn bộ diện tích xã nằm thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm Nhiệt độ trung bình hàng năm vào khoảng 26,80C Khí hậu chia thành hai mùa

rõ rệt: mùa mưa từ tháng tư đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng tư năm sau Địa phương có hai hướng gió chính là: gió mùa Tây Nam từ tháng năm đến tháng

11 và gió mùa Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng tư năm sau Toàn xã có tổng diện tích

tự nhiên khoảng 3.195 ha (chiếm 9,05% diện tích toàn huyện Kế Sách) và dân số năm

Trang 25

2013 là 14.247 người, mật độ dân số đạt 4,46 người/km2 Địa giới hành chính của xã bao gồm bảy ấp, đó là: ấp 4, ấp 5A, ấp 5B, ấp 6, ấp 7, ấp 8 và ấp 12 (Hình 2.1)

2.7.2 Tình hình phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội

Nhìn chung, tình hình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh Sóc Trăng trong năm 2014 tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực Mức tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2013, đạt 10,04% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng

cụ thể của ba khu vực là 37,73% – 14,44% – 47,83%

Sản xuất lúa tương đối thuận lợi, sản lượng và năng suất tiếp tục tăng, tổng sản lượng lúa đạt 2.265.000 tấn, tăng 2% so với cùng kỳ Dịch bệnh trong chăn nuôi được khống chế kịp thời, tổng đàn tăng so với cùng kỳ Tình hình nuôi tôm gặp nhiều bất lợi, thiệt hại tăng khoảng 2% so với năm trước , nhưng do phát triển mạnh nuôi tôm thẻ cho năng suất cao nên sản lượng tôm tăng 13% so với năm 2013; tổng sản lượng thủy sản năm 2014 ước đạt 205.000 tấn (tăng 5% so với năm 2013), trong đó sản lượng khai thác đạt 58.000 tấn

Hoạt động sản xuất công nghiệp và xuất khẩu hàng hóa tăng trưởng khá Giá trị sản xuất công nghiệp (tính theo giá cố định 1994) đạt 9.559,8 tỷ đồng, tăng 15,8% so với năm 2013 Giá trị xuất khẩu hàng hóa đạt 650 triệu USD, tăng 21% so với năm trước Tổng giá trị nhập khẩu hàng hóa năm 2014 là 82,5 triệu USD, tăng 1,2% so với năm trước

Hình 2.1 Điểm nghiên cứu xây dựng NTM của tỉnh Sóc Trăng

(Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Sóc Trăng, 2009).

Xã Ba Trinh

Trang 26

Thương mại dịch vụ tiếp tục phát triển, cung cầu hàng hóa đảm bảo tốt, chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội năm 2014 ước đạt 43.500 tỷ đồng, tăng 16% so với năm trước; trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa 33.067 tỷ đồng, tăng 17,3% Trong năm 2014, giá hầu hết các mặt hàng thiết yếu đều ổn định, mức tăng, giảm không nhiều Chỉ số giá tiêu dùng tính chung tháng 11/2014 tăng 1,83%

Mặt bằng lãi suất và nợ xấu giảm, tăng trưởng tín dụng trên 12% Mức lãi suất cho vay tối đa ở lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu là 8%/năm (giảm 3,93%), lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác là 12,3%/năm (giảm 3,5%), lĩnh vực phi sản xuất là 13,19% (giảm 3,8%) Ước tính đến cuối tháng 12/2014, tổng dư nợ tín dụng 22.739 tỷ đồng, tương đương mức tăng trưởng tín dụng 12%; trong đó, vốn tín dụng đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu chiếm 61% tổng dư nợ;

nợ xấu chiếm khoảng 3,51% tổng dư nợ (giảm 0,36% so với đầu năm)

Thu ngân sách nhà nước vượt dự toán Tiến độ giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản đảm bảo Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2014 ước đạt 1.989,3 tỷ đồng, vượt 10,5% dự toán; tổng chi ngân sách địa phương ước là 5.425 tỷ đồng (đạt 98,9% dự toán) Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong năm 2014 là 1.888,8 tỷ đồng và vốn ODA là 104 tỷ đồng Ước tính giá trị giải ngân các nguồn vốn (trái phiếu Chính phủ

và ODA) sẽ đạt 100% kế hoạch

Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm và có nhiều tiến bộ Tỉnh đã tổ chức thành công Đại hội thể dục thể thao tỉnh Sóc Trăng lần thứ VII năm 2014, Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Sóc Trăng lần II năm 2014 và Diễn đàn hợp tác kinh tế ĐBSCL – Sóc Trăng 2014 với nhiều hoạt động thiết thực Năm 2014, toàn tỉnh đón 1.022.792 lượt khách đến tham quan, tăng 6,5% so với năm trước Tính đến cuối năm

2014, toàn tỉnh có 175 trường học đạt chuẩn, chiếm 31% so với tổng số trường; tỷ lệ tốt nghiệp hệ giáo dục phổ thông là 99,59% (năm trước là 99,03%), hệ giáo dục thường xuyên là 87,59% (năm trước là 62,63%) Toàn tỉnh hiện có 73,39% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đến cuối năm 2014 đạt 77,32%; dịch bệnh ở người cơ bản được kiểm soát tốt, không có trường hợp tử vong

do sốt xuất huyết, tay chân miệng, sởi

Các chính sách an sinh xã hội tiếp tục được thực hiện tích cực, tỷ lệ giảm nghèo vượt chỉ tiêu đề ra Theo kết quả điều tra hộ nghèo, toàn tỉnh còn 12,49% hộ nghèo (giảm 4,5% so với năm 2013) và 13,13% hộ cận nghèo (giảm 0,81% so với năm 2013) Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm tiếp tục được quan tâm Trong năm, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm mới 23.500 lao động, tăng 2% so với năm trước Đào tạo nghề cho 27.455 người, tỷ lệ lao động nông thôn có việc làm sau khi học nghề đạt trên 70%

Trang 27

An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản giữ vững, ổn định, tai nạn giao thông giảm trên cả ba tiêu chí Tuy nhiên, phạm pháp hình sự tăng so với cùng kỳ, cụ thể đã phát hiện 507 vụ phạm pháp hình sự (tăng 63 vụ so với cùng kỳ)

Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo được tăng cường Trong năm, tỉnh

đã giải quyết 166 vụ khiếu nại (đạt tỷ lệ 90,21%) và 10 vụ tố cáo (đạt tỷ lệ 90,9%) Cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng được quan tâm thực hiện Trong năm, UBND tỉnh đã ban hành 24 văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh trên các lĩnh vực Công tác cải cách hành chính tiếp tục được đẩy mạnh Theo kết quả công bố Chỉ số cải cách hành chính năm 2013 của Bộ Nội vụ, tỉnh Sóc Trăng đứng thứ 29/63 tỉnh, thành phố (tăng 4 bậc so với năm trước)

Thực hiện Chương trình MTQG về xây dựng NTM đạt kết quả bước đầu Trong năm 2014, toàn tỉnh đã huy động được trên 2.468 tỷ đồng đầu tư cho Chương trình, trong đó, vốn ngân sách nhà nước chiếm 33,4%, vốn tín dụng 59,5%, vốn doanh nghiệp 0,3%, vốn trong dân 6,7% và nguồn vốn khác chiếm 0,1% Trong 22 xã điểm,

có ba xã đạt 19 tiêu chí xã NTM, gồm An Thạnh 1 (huyện Cù Lao Dung), Ngọc Tố (huyện Mỹ Xuyên) và Long Hưng (huyện Mỹ Tú)

Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số hạn chế, khó khăn: giá nông sản không ổn định; diện tích nuôi tôm thiệt hại còn khá cao Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phục hồi chậm Ô nhiễm môi trường gây bức xúc cho người dân Công tác đào tạo nghề còn hạn chế, giảm nghèo chưa bền vững và tái nghèo vẫn còn Phạm pháp hình sự tăng cao so với cùng kỳ (UBND tỉnh Sóc Trăng, 2014)

Tại huyện Kế Sách, đến hai tháng đầu năm 2015, tình hình kinh tế - xã hội của huyện có nhiều chuyển biến tích cực Vụ lúa Xuân Hè xuống giống được 11.380ha; diện tích trồng màu đạt hơn 21% kế hoạch năm; diện tích trồng cây ăn trái tiếp tục được duy trì Chăn nuôi gia súc gia cầm có bước phát triển và dịch cúm gia cầm được khống chế kịp thời Diện tích nuôi cá các loại đạt 392ha mặt nước Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tăng, tổng mức hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt hơn 29% kế hoạch

Thu ngân sách nhà nước đạt hơn 22% dự toán năm Tiến độ xây dựng cơ bản đang được đẩy nhanh nhất là các công trình chào mừng Đại hội Đảng các cấp

Lĩnh vực văn hóa xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện Các chính sách an sinh xã hội được triển khai kịp thời Quốc phòng - an ninh được giữ vững và ổn định Trong tháng 03/2015, các đơn vị và địa phương tập trung theo dõi và hướng dẫn nông dân đối phó với tình hình xâm nhập mặn bảo vệ lúa Tăng cường cải cách thủ tục hành chính kêu gọi đầu tư phát triển sản xuất Tăng cường phòng chống dịch bệnh trên người và cây trồng vật nuôi Nhân rộng các mô hình vườn cây ăn trái kiểu mẫu tại

ba xã xây dựng NTM Các ngành liên quan sẽ hỗ trợ xã An Lạc Tây hoàn thành 19/19 tiêu chí xây dựng NTM trong quí II/2015 và triển khai các hoạt động tuyên truyền về Đại hội Đảng các cấp,… (Cổng Thông tin điện tử huyện Kế Sách, 2014)

Trang 28

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung và tiến trình nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu chính của từng mục tiêu cụ thể như sau:

Đối với mục tiêu 1:

- Quá trình và kết quả thực hiện NTM tại điểm nghiên cứu

- Nông dân tham gia trong quá trình thực hiện NTM

- Những khó khăn và hạn chế còn tồn tại thực hiện NTM tại địa phương

- Các giải pháp khắc phục những khó khăn và hạn chế của các địa phương

Đối với mục tiêu 2:

- Thông tin nông hộ và nguồn lực của nông dân, bao gồm: đất đai và nhiều tài sản khác

- Vai trò và mức độ tham gia của nông dân vào quá trình thực hiện NTM

- Những khó khăn, thuận lợi, cơ hội và thách thức của nông dân khi tham gia vào quá trình xây dựng NTM

Đối với mục tiêu 3:

- Thu nhập của nông hộ thay đổi như thế nào trước và sau khi thực hiện một số tiêu chí NTM tại địa phương

Đối với mục tiêu 4:

- Các ý kiến của chính quyền địa phương và người dân để tìm giải pháp nâng cao vai trò của nông dân trong quá trình thực hiện NTM tại địa phương

Trang 29

Tiến trình nghiên cứu:

Đánh giá vai trò và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại

xã Ba Trinh, huyện Kế Sác, tỉnh Sóc Trăng

Nghiên cứu tài liệu

Tình hình xây dựng NTM Thu thập số liệu

Phỏng vấn cá nhân chuyên viên,

Tổng hợp và viết báo cáo

Thu thập thông tin về tiến độ thực hiện

và kế hoạch xây dựng NTM

Thu thập thông tin tình hình cộng đồng

tham gia xây dựng NTM

Hoàn chỉnh báo cáo và trình bày

Hình 3.1 Tiến tri ̀nh và cách tiếp cận nghiên cứu

Trang 30

3.2 Phương pháp luận

3.2.1 Lý thuyết “sự tham gia”

Khái niệm về “sự tham gia”

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa hoặc khái niệm khác nhau về “sự tham gia” Tuy nhiên, thuật ngữ “sự tham gia” có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào ngữ cảnh nhất định

Thuật ngữ “sự tham gia” có thể được hiểu theo hai khía cạnh: một là, sự tham gia mang tính chất công bằng và dân chủ, nghĩa là ở đâu có được sự tham gia là ở đó

có được công bằng và dân chủ Hai là, sự tham gia được giải thích dựa trên nền tảng: rằng các chương trình phát triển nông thôn nếu không có sự hưởng ứng của người dân

sẽ không thể triển khai được, hoặc nếu có thể triển khai thì cũng hoạt động không hiệu

quả (Đặng Kim Vui và ctv, 2007)

Theo Trần Thị Thanh Hà, 2013: sự tham gia có nghĩa là cùng thực hiện một hoạt động nào đó Theo nghĩa chung nhất, sự tham gia là một gắn kết lâu dài, chủ động và

có vai trò ngày càng cao của cộng đồng vào quá trình phát triển, từ việc xác định vấn

đề đến việc lập kế hoạch, thực hiện, giám sát, đánh giá các hoạt động nhằm nhâng cao đời sống cộng đồng và đảm bảo sự phân chia công bằng các lợi ích của sự phát triển Như vậy, sự tham gia là tiến trình tham gia, bao gồm: Ra quyết định  Thực hiện  Chia sẻ thành quả, quyền lợi  Đánh giá (Trung tâm Nghiên cứu Tư vấn ctxh

& ptcđ, 2012)

Những vấn đề hạn chế của sự tham gia và biện pháp khắc phục

- Người dân chưa thật sự quen với cách làm mới nên cảm thấy e ngại

- Đòi hỏi nhiều thời gian để các bên có liên quan tham gia và xây dựng năng lực cho các nhóm tham gia vào các hoạt động

- Tăng thêm chi phí trong lập kế hoạch, điều phối thực hiện hoạt động

- Khuôn mẫu, tôn ti, trật tự trong quan hệ xã hội bị thay đổi

Biện pháp khắc phục:

- Tạo cơ hội cho người dân tham gia:

- Thay đổi cách tiếp cận của lãnh đạo

- Tạo cơ hội và tiến trình để người dân có thể tham gia (thời gian, hình thức tham gia.v.v )

- Động viên khi cần thiết:

- Động viên bằng vật chất

- Động viên bằng tinh thần

Phạm vi tham gia

- Nhận ra vấn đề (Trong nghiên cứu);

- Quyết định (Trong lập kế hoạch);

- Huy động nguồn lực và thực hiện (Trong hành động);

Trang 31

- Đánh giá toàn bộ (Trong kiểm soát)

Nói cách khác, người dân trong cộng đồng tham gia từ khi bắt đầu quá trình thực hiện cho đến kết thúc quá trình thực hiện và sự tham gia của người dân phải theo cơ chế: dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra (Hình 3.2) Sự tham gia của người dân

là nhân tố chủ yếu để dẫn đến thành công của các dự án tại địa phương Tuy nhiên, sự tham gia của người ngoài tại địa phương là cơ sở và là động lực thúc đẩy cho sự thành

công đó (Đặng Kim Vui và ctv 2007)

Đối tượng tham gia

Theo Đặng Kim Vui và ctv (2007): đối tượng tham gia có thể được chia thành

hai nhóm: nhóm “Người trong cuộc” và nhóm “Người ngoài cuộc” Nhóm “Người trong cuộc” có thể bao gồm những cá nhân và nhóm có quyền lợi khác nhau và có thái

độ khác nhau đối với các loại tài nguyên và các tác động khác của các hoạt động khác nhau trong phát triển nông thôn Họ là chủ thể trong quá trình phát triển Nhóm

“Người ngoài cuộc” có thể là tập hợp những cơ quan, tổ chức và cá nhân có động cơ

và kỳ vọng khác nhau đối với cộng đồng và đối với các hoạt động trong phát triển nông thôn Họ là xúc tác cho các hoạt động phát triển tại địa phương

Mối quan hệ giữa Người trong cuộc và Người ngoài cuộc là mối quan hệ họp tác Cả Người trong cuộc và Người ngoài cuộc điều đóng góp vào sự phát triển của

Hình 3.2 Cơ chế: Dân biết, dân bàn, dân làm, dâm kiểm tra

(Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu – Tư vấn ctxh & ptcđ, 2012)

Trang 32

cộng đồng Người ngoài cuộc chỉ hỗ trợ xúc tác và khuyến khích Người trong cuộc

mà không ra chỉ thị

Hình thức tham gia của cộng đồng

Dựa vào cái mà người dân đóng góp vào (Đặng Kim Vui và ctv, 2007), đóng góp

lao động: người quản lý chương trình, dự án bên ngoài cộng đồng chú ý đến việc vận động người dân tham gia vào các chương trình, dự án và kết quả được cho là thành công khi người dân tham gia bằng cách đóng góp lao động đơn giản như đắp đường, đào mương không lấy tiền công, với ý nghĩa là phát huy tinh thần “tự lực” Các công việc thuộc về “phần mềm” của chương trình, dự án như thiết kế và lập kế hoạch là công việc của các cơ quan chuyên môn và các nhà lãnh đạo Một số người tin rằng khi

có sự đóng góp nhân lực, người dân sẽ bảo quản tốt các công trình ấy Tuy nhiên trong thực tế, vì không được tham vấn đầy đủ, người ta không thể lấy gì để đoán chắc rằng công trình đáp ứng được nhu cầu ưu tiên cao của cộng đồng Nếu chương trình, dự án không đáp ứng được nhu cầu ưu tiên cao của số đông người trong cộng đồng, họ sẽ tham gia đóng góp dưới dạng ràng buộc mà không phải là tự nguyện và các công trình

sẽ bị thất bại

Chia sẻ chi phí: đối với một số người quản lý chương trình, dự án, họ quan tâm đến việc làm giảm chi phí và việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để thu hồi các khoản chi phí đã đầu tư Tuy nhiên, nếu công trình không xuất phát từ lợi ích của cộng đồng, người dân sẽ quay về với cách giải quyết trước đây của họ

Chia sẻ trách nhiệm: một số quan điểm đặt trọng tâm đến trách nhiệm của cộng đồng trong việc duy từ chương trình, dự án Một số cơ chế được xác lập như giao trách nhiệm cho người lãnh đạo địa phương hay thành lập một ban quản lý Để duy trì một công trình, thông thường, một thỏa thuận được ký kết và nêu rõ trách nhiệm của các bên trong chương trình, dự án Trong thực tế, người dân không có điều kiện suy nghĩ về các điều khoản của thỏa thuận, việc thỏa thuận thường bị chi phối bởi các nhà lãnh đạo địa phương Ngay cả khi một ban điều hành được cử ra, cũng không chắc rằng những người tốt nhất trong cộng đồng sẽ được bầu

Chia sẻ quyền quyết định của cộng đồng: sự tham gia chỉ đạt được kết quả khi các hoạt động được thực hiện trên cơ sở quyết định của cộng đồng Trong điều kiện lý tưởng, các cộng đồng dân cư địa phương thuộc nhóm mục tiêu sẽ tích cực tham gia trong các giai đoạn khác nhau của chương trình, dự án, với tư cách là chủ thể của chương trình, dự án Các nhà nghiên cứu phát triển, cán bộ đóng vai trò xúc tác cho quá trình

Điều kiện và động lực để khuyến khích sự tham gia của cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng chỉ có khi họ có nguồn lực tham gia, kiến thức phải làm và làm thế nào, sự kết hợp thích đáng các động lực thúc đẩy, thể chế ủng hộ và giữ vững các hoạt động của họ Sự tham gia tự nguyện của cộng đồng là nhân tố chủ

Trang 33

thúc đẩy sự tham gia là: những loại động lực liên kết với thị trường và những động lực liên kết với những nhân tố phi thị trường Khi không biết điều gì thúc đẩy cộng đồng nông thôn thì những biện pháp dù có hiệu lực khuyến khích sự tham gia của người dân trong hoạt động chương trình, dự án cũng sẽ trở nên may rủi Liệu có phải động lực nào cũng thích hợp với cộng đồng mà chương trình, dự án đang có quan hệ (ở một số

xã hội, tín dụng được cấp sẽ không có hiệu quả, như là một động lực cho hành động

bởi lẽ người dân có ác cảm với nợ do nguyên nhân văn hóa) (Đặng Kim Vui và ctv,

2007)

Sự khác biệt về văn hóa đang tồn tại ở các cộng đồng đã ảnh hưởng đến hệ thống động lực thúc đẩy và có hiệu quả của các cơ chế động lực khác nhau Tuy nhiên, vẫn

có trường hợp nhiều cộng đồng đã phản ứng tương tự đối với các tác nhân kích thích

và động lực nào đó Người lập dự án cần xác định và ghi nhớ các hệ thống động lực khác nhau Cần nhận thức đúng động lực thúc đẩy đối với cộng đồng nông thôn Cơ bản nông dân xem xét lợi nhuận ròng thấy được và sự an toàn tương đối hay rủi ro có liên quan

Những can thiệp từ bên ngoài có thể là bắt buộc khi hệ thống động lực cộng đồng địa phương không có hiệu quả trong hoạt động mong muốn về mặt xã hội là phổ biến Trong cả hai hoàn cảnh thị trường và phi thị trương, Chính phủ cung cấp những ủng hộ khác nhau để thúc đẩy những mông muốn về mặt xã hội Mục đích của tất cả các chương trình như thế là ảnh hưởng đến hệ thống động lực địa phương dẫn tới sự phát triển bền vũng và cải thiện phúc lợi

Thể chế hóa sự tham gia

Thể chế hóa sự tham gia bằng các chính sách và pháp luật để tăng sự tham gia của cộng đồng vào các chương trình phát triển hay các dự án tại địa phương Chính sách của Chính phủ đúng đắn về sự phát triển nông thôn, nhất là nông dân nghèo là một điều cơ bản bảo đảm cho sự thành công của các cương trình phát triển nông thôn Song song với việc cộng đồng nhận rõ lợi ích do phát triển nông thôn mang lại và tự nguyện tham gia tích cực thực hiện chương trình Pháp luật là công cụ thực thi chính sách nhưng cũng có lúc có phần bất cập, không thích hợp với các mục tiêu trước mắt Ngoài nguyên tắc người dân phải tham gia tích cực vào chương trình, dự án thì trách nhiệm của chính phủ là giúp đỡ, làm mạnh thêm các nổ lực của cộng đồng trong quản

lý hiệu quả các hỗ trợ hoặc cung cấp phương tiện và xây dựng cơ sở hạ tầng (Đặng

Kim Vui và ctv, 2007)

Mức độ tham gia của người dân

Tùy thuộc vào trình độ nhận thức, văn hóa, điều kiện địa lý từng vùng miền khác nhau, mức độ tham gia của người dân cũng thể hiện ở các cấp độ khác nhau Các mức

độ tham gia của người dân có thể được coi như một tiến trình liên tục và chia thành sáu cấp độ khác nhau Tham gia thụ động (Passive participation): người dân được người ngoài cho biết những gì đã hoặc sẽ xảy ra Đây là thông báo đơn phương từ các

Trang 34

cơ quan hành chính, phản hồi của người dân sẽ không được ghi nhận Thông tin chỉ được chia sẻ trong phạm vi những nhà chuyên môn từ bên ngoài cộng đồng (Phạm Huỳnh Thanh Vân, 2007)

Tham gia bằng cách cung cấp thông tin (Participation as contributors): thông qua việc trả lời các câu hỏi điều tra của các nhà nghiên cứu bằng bộ câu hỏi hay bằng các phương pháp điều tra khác Người dân không tham dự vào quá trình phân tích và sử dụng thông tin cũng như không được giám sát các hoạt động

Tham gia như nhà tư vấn (Participation as consultants): người dân được hỏi và cho ý kiến về những khó khăn và cơ hội tại vùng Các ý kiến này chỉ có tính chất tham khảo Người ngoài tự quyết định cả về vấn đề lẫn giải pháp Người dân không tham gia vào quá trình đề ra các quyết định này

Tham gia trong việc thực hiện (Participation in implementation): người dân tham gia vào việc thành lập nhóm, để tiến hành những hoạt động của các chương trình phát triển tại địa phương, nhưng họ không tham dự vào quá trình ra quyết định Sự tham gia thành lập nhóm chủ yếu xuất hiện sau khi đã có các quyết định và có xu hướng phụ thuộc vào sự thúc đẩy từ bên ngoài nhưng cũng có thể tự lập

Tham gia trong quá trình ra quyết định (Participation in decisionmaking): người dân chủ động tham gia và các quá trình phân tích và lập kế hoạch, họ tham gia trực tiếp vào quá trình ra quyết định tại địa phương

Tham gia tự nguyện (Self – mobilization): người dân tự mình xác định được vấn

đề, tự tìm tòi và sáng tạo các giải pháp để giải quyết các vấn đề Người ngoài chỉ đóng vai trò xúc tác và tăng cường khả năng của người dân trong các hoạt động này

Các tiêu chí đánh giá mức độ tham gia

Theo Trần Thị Thanh Hà, 2013: chúng ta dựa vào các tiêu chí sau để đánh giá mức

độ tham gia của người dân:

 Thời gian tham gia?

 Ai tham gia?

 Quy mô của sự tham gia?

 Mức độ kiểm soát việc ra quyết định liên quan đến hoạt động của cộng đồng.?

 Ai là người khởi xướng các hoạt động? Nhu cầu của ai được thõa mãn? Ai là người giám sát các nguồn lực?

3.2.2 Vai trò và ý nghĩa sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM

Vai trò

Đóng góp ý kiến vào đề án xây dựng NTM và bản đồ án quy hoạch NTM cấp xã Thảo luận và lựa chọn những công việc cần làm trước và việc gì làm sau để thiết thực với yêu cầu của người dân trong xã phù hợp với khả năng điều kiện của địa phương Quyết định mức đóng góp trong xây dựng các chương trình công cộng của xã Cử đại

Trang 35

diện (Ban giám sát) để tham gia quản lý và giám sát công trình xây dựng của xã và tổ chức quản lý, vận hành và bảo quản các công trình sau khi hoàn thành

Ý nghĩa của của sự tham gia

Để người dân không chỉ được coi là đối tượng mà còn là người chủ thực sự của các hoạt động phát triển, phát huy dân chủ cơ sở, hạn chế sự thất bại, tăng cường tính bền vững của các hoạt động, khai thác hiệu quả các nguồn lực của cộng đồng và tạo

cơ hội cho người dân có thể tự nâng cao năng lực của mình

3.3 Phương pháp thu thập số liệu

3.3.1 Chọn điểm nghiên cứu

Trong 22 xã điểm chỉ đạo xây dựng NTM của tỉnh sóc trăng, chỉ có một xã điểm của huyện Kế Sách là đạt đươc 13 tiêu chí vào năm 2013, đó là xã Ba Trinh Đây là một xã thuần nông, canh tác chủ yếu là nông nghiệp và phần lớn dân số ở đây đều là nông dân Trong năm 2014, xã Ba Trinh đang phấn đấu thêm ba tiêu chí nữa để đến năm 2015 về cơ bản đạt được 19/19 tiêu chí Vì vậy, để mang được tính đại diện và thuận tiện trong nghiên cứu nên xã Ba Trinh được chọn làm vùng nghiên cứu

3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Thu thập tài liệu của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các công trình đã công bố, các báo cáo của các cơ quan chức năng về xây dựng NTM Tình hình về hộ nông dân như, nguồn vốn, việc làm, nhà ở, trình độ học vấn, nghề nghiệp, sức khoẻ, môi trường.v…

Ngoài ra, còn thu thập các thông tin có liên quan trên các website điện tử

3.3.3 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

(1) Phương pháp phỏng vấn cá nhân

Trong phương pháp phỏng vấn cá nhân, một bản câu hỏi bán cấu trúc đã được soạn sẵn để thu thập số liệu từ các cán bộ địa phương và các đoàn thể tham gia thực hiện NTM tại địa phương để tìm hiểu vai trò, sự tham gia của nông dân trong quá trình thực hiện NTM, sự ảnh hưởng xây dựng NTM đến thu nhập của nông hộ và các giải pháp cần thiết để nâng cao vai trò và sự tham gia của nông dân trong quá trình thực hiện xây dựng NTM tại địa phương (xem phụ lục 5)

(2) Phương pháp thảo luận nhóm tập trung

Một nhóm đại diện cho nông dân để tìm hiểu mạnh, yếu, cơ hội và thách thức của nông dân và chính quyền địa phương về thực hiện NTM Từ đó cùng với nông dân và chính quyền tìm ra giải pháp cải thiện vai trò và sự tham gia của nông dân trong xây dựng NTM tại cấp độ địa phương (xem phụ lục 6)

(3) Phương pháp chọn mẫu điều tra

Nghiên cứu sẽ phỏng vấn 60 hộ nông dân tại địa phương bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện để tìm hiểu chi tiết hơn về ý kiến của của nông dân về vai trò và

Trang 36

sự tham gia của nông dân trong quá trình thực hiện NTM và sự ảnh hưởng xây dựng NTM đến thu nhập của nông hộ (xem phụ lục 7)

3.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Những số liệu sau khi điều tra và phỏng vấn sẽ được mã hóa, thống kê, quản lý

và xử lý bằng phần mềm Excel cho từng mục tiêu

Đối với mục tiêu 1 và 2: sử dụng phương pháp phân tích đi ̣nh tính và thống kê mô tả Đối với mục tiêu 3: sử dụng phương pháp phân tích chi phí lợi ích

Đối với mục tiêu 4: sử dụng phương pháp phân tích ma trận SWOT và các kết quả phân tích ở trên

Trang 37

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN

4.1 Thông tin kinh tế – xã hội của nông hộ tại địa phương

4.1.1 Giới tính, học vấn và nhân khẩu của hộ

Qua kết quả (Hình 4) điều tra cho thấy, 100% người dân địa phương đều là người Kinh Trong đó, nam giới chiếm 49,63% và nữ giới 50,37%; tỷ lệ giới tính nam/nữ là 1/1.01, tương đối đồng đều

Kết quả (Hình 4.1) cho thấy phần lớn người dân có độ tuổi trung bình là 33,41 tuổi, thấp nhất là 0,33 tuổi và cao nhất là 102 tuổi Dân số của địa phương đang trong giai đoạn dồi giàu lực lượng lao động Tỷ lệ dân số trẻ trong độ tuổi lao động (từ 15 đến 60 tuổi) chiếm mức cao là 74,26%, trong đó nhiều nhất là độ tuổi từ 20 đến 24 tuổi chiếm trên 12%, tiếp theo là từ 25 đến 29 tuổi và từ 35 đến 44 tuổi đều chiếm trên 10% Tỷ lệ dân số già ngoài độ tuổi lao động (trên 60 tuổi) chiếm rất ít với 8,09%, đây

là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng NTM tại địa phương vì không phải mất nhiều chi phí hỗ trợ cho người già Tỷ lệ dân số trẻ dưới độ tuổi lao động (dưới 15 tuổi) chiếm tương đối ít với 17,65%, điều này sẽ ảnh hưởng đến việc xây dựng NTM của địa phương trong tương lai do dân số sẽ bị già đi Ngoài ra trình độ học vấn của hộ được trình bài trong hình 5 như sau:

4.443.708.15

9.6312.59

10.37

3.706.67

10.37

7.416.677.41

2.695.93

4.375.84

8.765.84

12.4110.226.57

10.226.57

6.577.305.113.653.650.73

1.460.73

Hình 4.1 Tháp tuổi của người dân địa phương năm 2014

(Nguồn: Kết quả phỏng vấn nông hộ, 2014)

Trang 38

Kết quả (Hình 4.2) cho thấy, tỷ lệ dân số không biết chữ ở địa phương chiếm 6,99%, bao gồm người già và trẻ em dưới độ tuổi đi học Tỷ lệ biết chữ chiếm 93,01%, trong đó cấp một chiếm 31,25%; cấp hai chiếm tỷ lệ cao nhất với 38,60%; cấp ba chiếm 15,81% và sau cấp ba chiếm thấp nhất là 7,36%, trong đó trình độ trung cấp/cao đẳng là 2,21% và trình độ đại học/sau đại học là 5,51% Như vậy cho thấy, có

sự khác biệt về trình độ học vấn của người dân, sự khác biệt này sẽ ảnh hưởng đến sự nhận thức của người dân về chương trình xây dựng NTM tại địa phương

Số nhân khẩu của nông hộ trung bình từ bốn đến năm nhân khẩu, chiếm tỷ lệ khá cao là 61,67% Thấp nhất là hai nhân khẩu và nhiều nhất 11 nhân khẩu Tỷ lệ nông hộ

có dưới bốn nhân khẩu chiếm 20%, đa số những hộ này là những cặp vợ chồng trẻ có

từ một đến hai con (Hình 4.3) Tỷ lệ nông hộ có trên năm nhân khẩu chiếm 18,33%, phần lớn là từ sáu đến bảy nhân khẩu (chiếm 13,33%) Số lao động chính trung bình

Cấp 2 Cấp 3 Trung cấp/cao đẳng Đại học/sau đại học

Hình 4.2 Cơ cấu trình độ của người dân địa phương

(Nguồn: Kết quả phỏng vấn nông hộ, 2014)

20

61.67

18.33

Dưới bốn nhân khẩu

Từ bốn đến năm nhân khẩuTrên năm nhân khẩu

Hình 4.3 Cơ cấu nhân khẩu của nông hộ tại địa phương

(Nguồn: Kết quả phỏng vấn nông hộ, 2014)

Trang 39

của nông hộ là ba người và nhiều nhất là 10 người, đây là những người trong độ tuổi lao động từ 15 đến 60 tuổi và số người sống phụ thuộc trung bình trong nông hộ là hai người và nhiều nhất là năm người, chủ yếu là những người già và trẻ em ngoài độ tuổi lao động

4.1.2 Nghề nghiệp và sự tham gia xã hội của hộ

Kết quả điều tra (Hình 4.4) cho thấy Tỷ lệ thất nghiệp của địa phương là 6,99%, bao gồm trẻ em dưới độ tuổi đi học và người già ngoài độ tuổi lao động Tỷ lệ dân số

có việc làm ở địa phương chiếm 93,01%, trong đó, lao động trong lĩnh nông nghiệp chiếm 55,15%, bao gồm làm thuê chiếm 3,31% và canh tác tại nông hộ chiếm 51,84%; lao động phi nông nghiệp chiếm 37,86%, bao gồm tham gia công tác, buôn bán, nội trợ, công nhân và trẻ em đi học

Kinh nghiệm làm việc của người dân địa phương trung bình là 15,79 năm, thấp nhất là 0,5 năm và cao nhất là 54 năm Tỷ lệ có kinh nghiệm làm việc dưới năm năm chiếm 30,51% dân số, tỷ lệ có kinh nghiệm làm việc từ năm năm đến 20 năm chiếm cao nhất với 40,07% và tỷ lệ có kinh nghiệm làm việc trên 20 năm chiếm 29,41% dân

số Tổng dân số có kinh nghiệm làm việc trên năm năm chiếm 69,49% trong tổng số dân, đây là điều kiện thuận lợi cho địa phương xây dựng NTM (Hình 4.5)

6.99

55.15

37.86 Thành phần không nghề nghiệp

Thành phần nông nghiệp Thành phần phi nông nghiệp

Hình 4.4 Cơ cấu nghề nghiệp của người dân địa phương năm 2014

(Nguồn: Kết quả phỏng vấn nông hộ, 2014)

Hình 4.5 Kinh nghiệm làm việc của người dân địa phương

(Nguồn: Kết quả phỏng vấn nông hộ, 2014)

Trang 40

Ngoài ra khi xem xét sự tham gia của nông hộ trong các hoạt động xã hội, kết quả cho thấy: đa số người dân đều tham gia làm việc và học tập tại địa phương với 80,52% dân số; còn lại 19,48% là tham gia làm việc, học tập và công tác ngoài địa phương, trong đó làm việc chiếm 10,03%

Tỷ lệ người dân tham gia vào các tổ chức chính trị-xã hội tại địa phương còn rất

ít, chiếm 38,60%, thấp nhất là Hội Nông dân với 1,10% lượt dân tham gia (Hình 4.6) Các tổ chức chính mà người dân tham gia là Hội Nông dân, Hội cựu Chiến binh, Hội Phụ nữ, Hội Người cao tuổi, và tổ chức Đoàn thanh niên Còn lại 61,40% dân số không tham gia vào các tổ chức đoàn thể tại địa phương, điều này gây khó khăn trong việc tuyên truyền phổ biến các chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và nhà nước và các vấn đề liên quan đến trương trình xây dựng NTM của địa phương đến với người dân

4.1.3 Thu nhâ ̣p của hộ

Tỷ lệ nông hộ có mức thu nhập dưới 50 triệu đồng/năm chiếm mức tương đối cao với 56.67%; tỷ lệ nông hộ có mức thu nhập trên 50 triệu đồng/năm chiếm 43,33%, trong đó số nông hộ có mức thu nhập từ 50 triệu đồng/năm đến 100 triệu đồng/năm chiếm 20% và số nông hộ có mức thu nhập trên 100 triệu đồng/năm chiếm 23,33% Những hộ có mức thu nhập cao (trên 50 triệu đông/năm) đóng vai trò quan trọng trong việc đóng góp nguồn tài lực cho chương trình xây dựng NTM tại địa phương

61.40

Có tham gia

Hình 4.6 Tỷ lệ người dân tham gia các tổ chức tại địa phương

(Nguồn: Kết quả phỏng vấn nông hộ, 2014)

Hình 4.7 Tỷ lệ nông hộ theo mức thu nhập tại địa phương (triệu đồng/năm)

Ngày đăng: 20/06/2016, 19:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Điểm nghiên cứu xây dựng NTM của tỉnh Sóc Trăng. - đánh giá vai trõ và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã ba trinh, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
Hình 2.1. Điểm nghiên cứu xây dựng NTM của tỉnh Sóc Trăng (Trang 25)
Hình 3.1. Tiến tri ̀nh và cách tiếp cận nghiên cứu - đánh giá vai trõ và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã ba trinh, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
Hình 3.1. Tiến tri ̀nh và cách tiếp cận nghiên cứu (Trang 29)
Hình 3.2. Cơ chế: Dân biết, dân bàn, dân làm, dâm kiểm tra. - đánh giá vai trõ và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã ba trinh, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
Hình 3.2. Cơ chế: Dân biết, dân bàn, dân làm, dâm kiểm tra (Trang 31)
Hình 4.1. Tháp tuổi của người dân địa phương năm 2014. - đánh giá vai trõ và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã ba trinh, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
Hình 4.1. Tháp tuổi của người dân địa phương năm 2014 (Trang 37)
Hình 4.2. Cơ cấu trình độ của người dân địa phương. - đánh giá vai trõ và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã ba trinh, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
Hình 4.2. Cơ cấu trình độ của người dân địa phương (Trang 38)
Hình 4.8. Cơ cấu tổ chức lập kế hoạch và thực hiện lập kế hoạch xây dựng NTM của địa phương - đánh giá vai trõ và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã ba trinh, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
Hình 4.8. Cơ cấu tổ chức lập kế hoạch và thực hiện lập kế hoạch xây dựng NTM của địa phương (Trang 42)
Hình 4.11. sự tham gia trong các tiêu chí của nông dân. - đánh giá vai trõ và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã ba trinh, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
Hình 4.11. sự tham gia trong các tiêu chí của nông dân (Trang 50)
Hình 4.13. Tỷ lệ người dân đóng góp theo các hình thức - đánh giá vai trõ và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã ba trinh, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
Hình 4.13. Tỷ lệ người dân đóng góp theo các hình thức (Trang 52)
Hình 4.14. Sự hài lòng của người dân trong các tiêu chí đạt được tại địa phương. - đánh giá vai trõ và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã ba trinh, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
Hình 4.14. Sự hài lòng của người dân trong các tiêu chí đạt được tại địa phương (Trang 55)
Bảng 4.1. Nguồn thu nhập trung bình của nông hộ (triệu đồng/năm) - đánh giá vai trõ và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã ba trinh, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
Bảng 4.1. Nguồn thu nhập trung bình của nông hộ (triệu đồng/năm) (Trang 56)
Hình 4.15. Nguồn thu nhập trung bình của người dân thay đổi khi xây XDNTM - đánh giá vai trõ và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã ba trinh, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
Hình 4.15. Nguồn thu nhập trung bình của người dân thay đổi khi xây XDNTM (Trang 56)
Phụ lục 3. Bảng mức độ ƣu tiên các tiêu chí trong xây dựng NTM - đánh giá vai trõ và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã ba trinh, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
h ụ lục 3. Bảng mức độ ƣu tiên các tiêu chí trong xây dựng NTM (Trang 78)
10  Hình thức tổ chức sản xuất - đánh giá vai trõ và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã ba trinh, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
10 Hình thức tổ chức sản xuất (Trang 86)
Hình thức đóng góp  Mục đích  Số lƣợng  Tổng giá trị (1000đ) hay (%) - đánh giá vai trõ và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã ba trinh, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
Hình th ức đóng góp Mục đích Số lƣợng Tổng giá trị (1000đ) hay (%) (Trang 89)
Hình thức đóng góp  Mục đích  Số lƣợng  Tổng giá trị (1000đ) hay (%) - đánh giá vai trõ và sự tham gia của nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã ba trinh, huyện kế sách, tỉnh sóc trăng
Hình th ức đóng góp Mục đích Số lƣợng Tổng giá trị (1000đ) hay (%) (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm