Quyền miễn trừ của quốc gia là đặc quyền của riêng chủ thể quốc gia. Quyền miễn trừ của quốc gia bao gồm: miễn trừ tư pháp và miễn trừ đối với tài sản thuộc sở hữu của quốc gia. Quyền miễn trừ của quốc gia đã được ghi nhận trong các điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia như: Công ước Basel 1972, Công ước của Liên hợp quốc về miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia (Công ước UNJISP 2004)... Các quốc gia có thể sử dụng quyền này như một lá giáp để tránh những bất lợi cho mình khi tham gia quan hệ quốc tế.
Trang 1MỞ ĐẦU
Quan hệ thương mại quốc tế ngày càng phát triển theo xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế Các giao dịch kinh doanh quốc tế diễn ra ngày càng sôi động, với sự đa dạng về đối tượng hàng hoá, dịch vụ; với sự tham gia của nhiều thành phần chủ thể: thương nhân, pháp nhân, thậm chí cả các quốc gia Quốc gia được coi là một chủ thể đặc biệt của quan hệ hợp đồng thương mại quốc tế, bởi những đặc thù riêng của nó mà chỉ chủ thể quốc gia mới có, mà tiêu biểu đó là quyền miễn trừ Quyền miễn trừ của quốc gia có ý nghĩa rất quan trọng đối với quốc gia trong quan hệ quốc tế
Trong bài tiểu luận dưới đây, em xin tìm hiểu, làm rõ vấn đề: “Trình bày hiểu
biết về quyền miễn trừ của quốc gia trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế.”.
NỘI DUNG
1 Quyền miễn trừ của quốc gia
Quyền miễn trừ của quốc gia bao gồm quyền miễn trừ tư pháp và quyền miễn trừ đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của quốc gia
Quyền miễn trừ của quốc gia đã được ghi nhận trong các điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia như: Công ước Basel 1972, Công ước của Liên hợp quốc về miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia (Công ước UNJISP 2004) Các quốc gia có thể sử dụng quyền này như một lá giáp để tránh những bất lợi cho mình khi tham gia quan hệ quốc tế
2 Quyền miễn trừ của quốc gia trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
Trong việc giải quyết tranh chấp thương mại, quyền miễn trừ của quốc gia thể hiện chủ yếu trong việc áp dụng quyền miễn trừ tư pháp Quyền miễn trừ tư pháp bao gồm: 1) quyền miễn trừ xét xử tại bất cứ toà án nào; 2) miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo đơn kiện, nếu quốc gia đồng ý cho tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện mình, tức là đồng ý cho Tòa án nước ngoài xét xử vụ kiện mà quốc gia là bị đơn; 3) miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo thi hành quyết định của Tòa án trong trường hợp quốc gia không đồng ý cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện, đồng ý cho Tòa án xét xử 1
1 Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, năm 2011
Trang 2Xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia, thẩm phán của toà án thuộc quốc gia này không thể ra phán quyết chống lại quốc gia khác nếu không có sự
chấp thuận của quốc gia đó Điều này bắt nguồn từ quy tắc “par in paren non habet
juridictionem” (những người ngang nhau không thể phán xét lẫn nhau), nguyên tắc này
đã được áp dụng trong lịch sử của luật quốc tế Tuy nhiên, quyền miễn trừ tư pháp mang lại những ưu tiên đặc biệt đối với chủ thể quốc gia và các chủ thể khác trong quan hệ hợp đồng luôn là bên có ít quyền lợi hơn và thậm chí phải chịu thiệt khi xảy ra tranh chấp, điều đó thật khó chấp nhận vì nó không đảm bảo sự công bằng Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa hai bên khi tham gia giao kết đa không bị hạn chế nhiều, chính vì vậy nó cản trở việc hợp tác giữa quốc gia và một chủ thể khác Về mặt thực tiễn, rất nhiều quốc gia đã chấp nhận từ bỏ quyền miễn trừ khi tham gia giao kết hợp đồng, thể hiện thiện chí hợp tác, đảm bảo sự công bằng và tạo điều kiện để thúc đẩy các giao dịch thương mại phát triển, đa dạng hoá hơn
Hiện nay, có hai quan điểm về việc sử dụng quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia
và sự ảnh hưởng khi áp dụng những hình thức miễn trừ tư pháp này tới việc giao dịch thương mại của các quốc gia Một là học thuyết về quyền miễn trừ tuyệt đối, và hai là học thuyết về quyền miễn trừ tương đối ( miễn trừ hạn chế) Miễn trừ tuyệt đối có thể được hiểu là việc quốc gia áp dụng quyền miễn trừ tư pháp một cách triệt để trên các khía cạnh, còn miễn trừ hạn chế, được hiểu là quốc gia chỉ thực hiện đặc quyền đó trong một số lĩnh vực, ví dụ như quốc gia từ bỏ quyền chọn luật áp dụng khi xảy ra tranh chấp, hoặc từ bỏ quyền miễn trừ xét xử…
Trong trường hợp quốc gia tham gia giao dịch thương mại, có một ngoại lệ được hầu hết các quốc gia thừa nhận và áp dụng Đây là trường hợp ngoại lệ mang tính chất
điển hình của học thuyết miễn trừ tương đối, thể hiện rõ nhất pacta jure gestionist, và
phần lớn các án lệ về quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia đều liên quan đến ngoại lệ này Vì vậy, ngoại lệ liên quan đến các hoạt động thương mại được ghi nhận trong tất cả các văn bản pháp luật cũng như thực tiễn xét xử của các quốc gia thừa nhận học thuyết miễn trừ tương đối Trên cơ sở tổng hợp thực tiễn pháp luật và thực tiễn xét xử của các
quốc gia, Điều 10 Công ước UNJISP 2004 quy định: “nếu một quốc gia tham gia vào
một giao dịch thương mại với một cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài, theo các quy
Trang 3định của tư pháp quốc tế các tranh chấp liên quan đến giao dịch thương mại này thuộc thẩm quyền của toà án quốc gia khác thì quốc gia không được viện dẫn quyền miễn trừ xét xử đối với vụ kiện phát sinh từ giao dịch thương mại đó” Ở đây đặt ra vấn đề, cần
phải xác định tính thương mại của giao dịch đó, hay nói cách khác, cần xác định liệu đây có phải là một giao dịch thương mại hay không
Ngoại lệ liên quan đến hoạt động thương mại của quốc gia nước ngoài không chỉ dừng lại ở các giao dịch thương mại mà quốc gia là một bên chủ thể mà đã được mở rộng ra đối với các hoạt động có tính chất tư hoặc tính chất thương mại khác như các trường hợp liên quan đến việc xác định quyền sở hữu trí tuệ hay trong trường hợp quốc gia là thành viên của pháp nhân thương mại cụ thể, quốc gia sẽ không được hưởng quyền miễn trừ xét xử tại toà án của quốc gia khác đối với các vụ kiện có liên quan đến:
- Về xác định quyền của quốc gia đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, quyền tác giả, hoặc các tài sản thuộc sở hữu trí tuệ khác được bảo hộ tài quốc gia có toà án
- Về việc hành vi của quốc gia đã xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người thứ ba được bảo hộ tại quốc gia có toà án
- Các vụ kiện giữa một quốc gia khác với các thành viên khác của một doanh nghiệp hoặc
tổ chức mà quốc gia đó tham gia nếu thoả mãn các điều kiện theo quy định của quốc gia
có toà án
Quyền miễn trừ của quốc gia trong trường hợp giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài
Trọng tài là một trong những phương thức được sử dụng ngày càng phổ biến nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực mà đặc biệt là trong thương mại quốc tế Vì vậy, một số nước đã thừa nhận việc quốc gia thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài của quốc gia khác Pháp luật của các nước cũng như các điều ước quốc tế đều ghi nhận quốc gia sẽ không thể viện dẫn quyền miễn trừ xét xử trước toà án quốc gia khác khi có đủ ba điều kiện2:
+ Thứ nhất, tranh chấp có liên quan đến hợp đồng, giao dịch thương mại, theo bản phụ lục
của công ước UNJISP 2004, thuật ngữ “giao dịch thương mại” bao gồm cả những vấn
đề về đầu tư
2 Điều 12 Công ước Basel 1972 Điều 1605(6) US FSIA 1976, Điều 10 UK SIA 1978, Điều 16 Luật về thẩm quyền dân sự của toà án Nhật Bản đối với quốc gia nước ngoài 2009.
Trang 4+ Thứ hai, các bên có thoả thuận giải quyết tranh chấp đó bằng trọng tài được ghi nhận trong một thoả thuận trọng tài;
+ Thứ ba, vụ kiện có liên quan đến hiệu lực của thoả thuận trọng tài, tố tụng trọng tài, huỷ phán quyết trọng tài, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài có quy định khác
Khi tham gia vào các quan hệ dân sự, thương mại lao động, quốc gia được hưởng quyền miễn trừ xét xử tại toà án của quốc gia khác trên cơ sở một nguyên tắc của
luật quốc tế là “ Par in parem non habet imperrium” Tuy nhiên, với việc ngày càng
nhiều quốc gia đã thừa nhận học thuyết miễn trừ tương đối mà đặc biệt là việc Liên hợp quốc ban hành Công ước UNJISP 2004, các trường hợp mà quốc gia không được hưởng quyền miễn trừ xét xử tại toà án nước ngoài đã dần được thừa nhận trên phạm vi quốc
tế
KẾT LUẬN
Quốc gia là một chủ thể đặc biệt trong thương mại quốc tế Quyền miễn trừ của quốc gia được áp dụng với mục đích là đảm bảo lợi ích của quốc gia khi tham gia các quan hệ quốc tế Tuy nhiên, nó cũng tạo ra những hạn chế, cản trở đối với việc giao kết hợp đồng, giải quyết tranh chấp khi mà một bên là quốc gia, còn một bên là thương nhân Quyền miễn trừ của quốc gia đi ngược lại một số nguyên tắc không chỉ trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp ( nguyên tắc công bằng, nguyên tắc tự do thoả thuận, chọn luật
áp dụng…), và còn phá vỡ những nguyên tắc khác, như trong lĩnh vực giao kết hợp đồng: nguyên tắc bình đẳng… Chính vì vậy, trong thời kỳ thương mại hoá toàn cầu như ngày nay, các quốc gia cần có những ứng xử linh hoạt hơn, mềm mỏng hơn, để tạo điều kiện hợp tác, đa dạng hoá các quan hệ thương mại quốc tế