1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU Trong những năm gần đây, nhận thức được vai trò tín dụng trong đời sống và sản xuất của nông dân, nhiều tác giả đã quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ QUỲNH NHƯ
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HẠN CHẾ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NÔNG HỘ TẠI
HUYỆN GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành Tài chính - Ngân hàng
Mã số ngành: 52340201
Tháng 1 - 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ QUỲNH NHƯ
MSSV: 4114432
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HẠN CHẾ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NÔNG HỘ TẠI
HUYỆN GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành Tài chính - Ngân hàng
Mã số ngành: 52340201
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
LÊ KHƯƠNG NINH
Tháng 1 - 2015
Trang 3i
LỜI CẢM TẠ
Trong suốt thời gian ngồi trên ghế giảng đường, tôi đã nhận được rất nhiều
sự quan tâm, giúp đỡ và hỗ trợ nhiệt tình từ thầy cô, bạn bè và gia đình Đó không chỉ là những kiến thức về chuyên môn mà còn những kinh nghiệm về thực tế cuộc sống
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể giảng viên trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể giảng viên Khoa Kinh tế & Quản trị kinh doanh đã cung cấp cho tôi những kiến thức về chuyên môn để tôi có thể hoàn thành khóa học của mình
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS.TS Lê Khương Ninh, người đã nhiệt tình giúp đỡ và hỗ trợ tôi khi tôi gặp khó khăn trong quá trình nghiên cứu Thầy
đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu, thầy đã gửi đến tôi những lời nhận xét và góp ý chân thành để tôi có thể hoàn thành đề tài tốt nghiệp
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến các cô, chú, anh, chị và các gia đình trên địa bàn huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập thông tin Tôi xin cảm ơn các cô, chú, anh, chị ở UBND huyện Giá Rai và UBND các xã Phong Thạnh Đông A, Phong Thạnh Đông, Phong Tân đã hết lòng giúp đỡ và trao cho tôi những thông tin quan trọng giúp tôi hoàn thiện bài nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình mình và bạn bè, những người đã luôn đứng phía sau để khích lệ, động viên và luôn là chỗ dựa vững chắc cho tôi Gia đình luôn là nơi giúp tôi san sẻ những khó khăn và lúc nào cũng tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp Một lần nữa, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả Quý thầy, cô, các cô, chú, anh, chị, gia đình và bạn bè
Chân thành cảm ơn
Cần Thơ, Ngày 8 tháng 5 năm 2015
Người thực hiện
Nguyễn Thị Quỳnh Như
Trang 4ii
TRANG CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Cần Thơ, Ngày 8 tháng 5 năm 2015
Người thực hiện
Nguyễn Thị Quỳnh Như
Trang 5iii
MỤC LỤC
Trang
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Không gian nghiên cứu 2
1.3.2 Thời gian nghiên cứu 3
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Lược khảo tài liệu 3
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
2.1 Cơ sở lý luận 9
2.1.1 Khái niệm về nông hộ 9
2.1.2 Tín dụng nông nghiệp 9
2.1.3 Cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng 12
2.1.4 Mô hình nghiên cứu 17
2.2 Phương pháp nghiên cứu 18
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 18
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 19
Chương 3: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 20
3.1 Tổng quan về địa bàn huyện Giá Rai - Tỉnh Bạc Liêu 20
Trang 6iv
3.1.1 Khái quát về địa bàn huyện Giá Rai - tỉnh Bạc Liêu 20
3.1.2 Những thành tựu nổi bật về kinh tế - xã hội 21
3.2 Các tổ chức tín dụng trên địa bàn huyện Giá Rai - tỉnh Bạc Liêu 22
3.2.1 Tổ chức tín dụng chính thức 22
3.2.2 Tổ chức tín dụng bán chính thức 24
3.2.3 Tổ chức tín dụng phi chính thức 26
3.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp của nông hộ huyện Giá Rai 28
3.3.1 Thông tin chung về nông hộ 28
3.3.2 Thực trạng sản xuất nông nghiệp của nông hộ 38
Chương 4: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng đối với nông hộ ở huyện Giá Rai - Tỉnh Bạc Liêu 44
4.1 Thực trạng vay vốn của nông hộ huyện Giá Rai 44
4.1.1 Thực trạng vay vốn của nông hộ huyện Giá Rai 44
4.1.2 Tình hình lượng vốn vay 45
4.1.3 Những thuận lợi và khó khăn của nông hộ khi vay vốn ở các tổ chức tín dụng chính thức 47
4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng đối với nông hộ ở huyện Giá Rai - tỉnh Bạc Liêu 49
4.2.1 Kết quả ước lượng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng 49
4.2.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng đối với nông hộ huyện Giá Rai 50
Chương 5: Giải pháp khắc phục hạn chế tín dụng của nông hộ huyện Giá Rai - Tỉnh Bạc Liêu 55
5.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 55
5.2 Giải pháp 56
Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
6.1 Kết luận 59
Trang 7v
6.2 Kiến nghị 59
6.2.1 Đối với chính quyền địa phương 59
6.2.2 Đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN 64
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ CHẠY MÔ HÌNH HỒI QUY 71
Trang 82014 trong mẫu khảo sát 39 Bảng 3.9: Tình hình hỗ trợ thông tin của các tổ chức đến nông hộ huyện Giá Rai trong mẫu khảo sát 41 Bảng 3.10: Thống kê các rủi ro thường gặp của nông hộ huyện Giá Rai … … 42 Bảng 4.1: Thực trạng vay vốn của nông hộ huyện Giá Rai năm 2014 trong mẫu khảo sát 44 Bảng 4.2: Hoạt động vay tín dụng của nông hộ huyện Giá Rai năm 2014 trong mẫu khảo sát 45 Bảng 4.3: Thống kê lượng vốn vay của nông hộ huyện Giá Rai năm 2014 trong mẫu khảo sát 46 Bảng 4.4: Mục đích sử dụng vốn của nông hộ huyện Giá Rai năm 2014 trong mẫu khảo sát 47
Trang 9vii
Bảng 4.5: Kết quả hồi quy của mô hình 50
Trang 121
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Những năm gần đây, cùng với việc hội nhập với nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng gặp không ít biến động Đặc biệt là đối với cơ cấu nền kinh tế cũng dần có sự chuyển dịch mạnh mẽ Nhà nước định hướng phát triển đất nước theo phương hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cụ thể, đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ nhưng vẫn duy trì ổn định tỷ trọng nông nghiệp Vì
là một nước thuần nông nên Nhà nước ta rất coi trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là chính sách Tam nông “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn” Còn rất nhiều chính sách hỗ trợ cũng như khuyến nông nhằm tạo điều kiện cho nông hộ phát triển sản xuất Theo thống kê năm 2014, tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước tính tăng 5,98% so với năm 2013 Mức tăng trưởng năm 2014 cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012 và mức tăng 5,42% của năm 2013, cho thấy dấu hiệu tích cực của nền kinh tế Trong mức tăng 5,98% của toàn nền kinh tế thì khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,49%, cao hơn mức 2,64% của năm 2013, đóng góp 0,61 điểm phần trăm vào mức tăng chung Điều đó cho thấy lĩnh vực nông nghiệp có những bước phát triển rất tốt Vì vậy, Nhà nước rất chăm lo đến tình hình sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân mà trong đó có một thành phần quan trọng là tín dụng nông hộ
Tín dụng (hay cho vay) là một thành phần quan trọng của thị trường tín dụng ở nông thôn Việt Nam Trên thị trường vốn tín dụng chính thức, các ngân hàng chuyên thực hiện chức năng phân phối lại nguồn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn Tuy nhiên, trong thị trường tín dụng này luôn tồn tại một nhóm đối tượng muốn vay vốn ngân hàng nhưng không được ngân hàng đáp ứng đầy đủ nhu cầu vay vốn Những trường hợp này được xem là khách hàng bị hạn chế tín dụng Ở cấp vi mô, hạn chế tín dụng cho thấy những dịch vụ do ngân hàng cung cấp chưa thật sự tiện ích trong việc tăng khả năng thanh khoản cho các mục đích tiêu dùng hiện tại của hộ, làm giảm thu nhập của hộ Mặt khác, ở cấp vĩ mô, hạn chế tín dụng là kết quả của việc phân bổ nguồn lực tài chính không hiệu quả trong nền kinh tế (Phan Đình Khôi, 2014)
Là một huyện của tỉnh Bạc Liêu, Giá Rai là một địa phương có thế mạnh về điều kiện tự nhiên thuận lợi nên huyện có kinh tế phát triển chủ yếu dựa vào nông
Trang 132
nghiệp Trong đó, tỷ trọng sản xuất nông nghiệp của huyện chiếm trên 50% trong tổng cơ cấu kinh tế Tuy nhiên, nhiều hộ dân vẫn chưa thật sự tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng chính thức hay vay không đủ theo nhu cầu nhằm sản xuất nông nghiệp Do đó việc nâng cao nguồn vốn cho hộ sản xuất ở nông thôn đã và đang thu hút rất nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học Một câu hỏi được đặt ra là: làm sao để nâng cao lượng vốn tín dụng của nông hộ, làm giảm số hộ bị giới hạn tín dụng là vấn đề rất cần được quan tâm Nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với những hộ bị hạn chế tín dụng mà còn giúp ngân hàng mở rộng hoạt động cho vay dựa trên những khách hàng hiện hữu
Chính vì những vấn đề nêu trên, tôi chọn đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến hạn chế tín dụng đối với nông hộ tại huyện Giá Rai – tỉnh Bạc Liêu” nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đối với nông
hộ, từ đó đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả tín dụng cho nông hộ tại địa bàn
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu nguyên nhân vì sao nông hộ không vay được tín dụng chính thức hay vay không đủ theo nhu cầu (số tiền xin vay) từ đó tìm ra giải pháp giúp cho nông hộ tiếp cận tín dụng dễ dàng hơn
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu chung đề tài cần thực hiện từng mục tiêu cụ thể sau: Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng tín dụng của nông hộ tại huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
Mục tiêu 2: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng đối với nông hộ tại huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
Mục tiêu 3: Đề xuất giải nhằm tạo điều kiện cho nông hộ tại địa bàn có thể tiếp cận được với nguồn tín dụng chính thức và vay đủ theo nhu cầu sản xuất nông nghiệp
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Không gian nghiên cứu
Đề tài phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng đối với nông
hộ được thực hiện trên địa bàn huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
Trang 143
1.3.2 Thời gian nghiên cứu
- Số liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ các nông hộ trên địa bàn huyện Giá Rai trong năm 2014
- Thông tin thứ cấp có liên quan trong đề tài được thu thập từ năm 2012 đến năm 2014
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nông hộ có nhu cầu vay vốn và chịu ảnh hưởng của hạn chế tín dụng hoặc không chịu ảnh hưởng của hạn chế tín dụng trên địa bàn huyện Giá Rai
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Trong những năm gần đây, nhận thức được vai trò tín dụng trong đời sống
và sản xuất của nông dân, nhiều tác giả đã quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng cũng như nhu cầu về vốn của nông hộ, có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề tiếp cận tín dụng đối với nông hộ Hầu hết các bài nghiên cứu đều có một số điểm chung như sau: về phương pháp, các mô hình đều được xây dựng dựa trên giả thuyết về thị trường tín dụng có sự xuất hiện của hiện tượng thông tin bất đối xứng (hay thị trường tín dụng không hoàn hảo)
Để ước lượng nhu cầu tín dụng của nông hộ, các mô hình Tobit và Logistic đều được các tác giả sử dụng còn mô hình Probit thường được sử dụng để phân tích khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ Về các yếu tố được đưa vào mô hình, các yếu tố về đặc điểm của chủ hộ và hộ gia đình là những yếu tố không thể thiếu trong mô hình ước lượng nhu cầu tín dụng và khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ, theo kết quả nghiên cứu các biến độc lập về trình độ học vấn, địa vị xã hội, giá trị tài sản, khoảng cách từ nhà nông hộ đến TCTD gần nhất đều ảnh hưởng đến biến phụ thuộc trong mô hình
Cùng với sự quan tâm đến những vấn đề trên mà nhiều tác giả trong cũng như ngoài nước đã có những nghiên cứu liên quan đến vấn đề tín dụng của nông
hộ Chúng ta tiến hành tìm hiểu các nghiên cứu để thấy được một số yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng
Nghiên cứu của Lê Khương ninh và Cao Văn Hơn (2013) dựa trên hệ thống
dữ liệu sơ cấp thu thập từ 513 nông hộ được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng ở An Giang Kết quả phân tích qua mô hình Tobit cho thấy những yếu
tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng đối với nông hộ ở địa bàn nghiên cứu là: số lần vay tín dụng chính thức, số lần sai hẹn, giá trị đất nông nghiệp, khoảng cách
Trang 15sẽ từ chối cho vay đối với những người hay sai hẹn hay không đảm bảo uy tín trong trả nợ Giá trị đất nông nghiệp có hệ số dương ở mức ý nghĩa 1%, nông hộ càng có nhiều đất nông nghiệp thì sẽ vay được với tỷ lệ vay càng cao Nếu nông
hộ có địa vị xã hội thì TCTD sẽ tăng tỷ lệ cho vay nên biến địa vị xã hội của nghiên cứu này có ý nghĩa ở mức 5% với hệ số dương Bên cạnh đó, khoảng cách địa lý từ nơi ở của nông hộ đến TCTD cũng có ý nghĩa thống kê ở mức 1% với hệ
số âm, điều này cho thấy nông hộ ở càng xa TCTD thì tỷ lệ cho vay càng thấp Biến trình độ học vấn cũng ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng, biến này có hệ số dương ở mức ý nghĩa 1%, ngụ ý rằng, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, chủ hộ có trình độ học vấn càng cao thì sẽ vay được càng nhiều hay ít bị hạn chế tín dụng
Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng vi mô bao gồm làm việc cho chính quyền địa phương, thành viên tổ vay vốn, sổ hộ nghèo và đường giao thông liên xã Cụ thể, làm việc cho chính quyền địa phương có mối tương quan thuận, nó cho thấy làm việc hành chính ở địa phương là một đóng góp quan trọng cho các hộ gia đình nông thôn tiếp cận với tín dụng vi mô Điều này là do các hộ gia đình có người thân làm nhân viên nhà nước ở địa phương có nhiều thông tin về các chương trình tín dụng vi mô hơn so với các hộ gia đình khác Nếu một hộ gia đình là một thành viên của một tổ vay vốn trong xã, hộ này có 11,9% khả năng được vay từ chương trình tín dụng vi mô, kết quả cho thấy rằng chiến lược cho vay thông qua các tổ vay vốn dường như phát huy thế mạnh tại Việt Nam.Sổ hộ nghèo tương quan thuận và có mức ý nghĩa 1%, điều này cho thấy rằng các hộ gia đình nghèo được chứng nhận có 20,1% khả năng tiếp cận tín dụng vi mô, kết quả này còn cho thấy sự phù hợp của Chương trình giảm nghèo Quốc gia nhằm mục tiêu đảm bảo tiếp cận cộng đồng của các chương trình tín dụng vi mô cho nông hộ Hệ số đường giao thông liên xã mang dấu dương ngụ ý rằng các xã có đường giao thông liên xã có 23,5% khả năng tiếp cận tín dụng vi
mô hơn các hộ khác, điều này khẳng định sự kém phát triển của cơ sở hạ tầng góp phần đáng kể đến hạn chế khả năng tiếp cận vốn của hộ
Nghiên cứu của Trần Ái Kết và Huỳnh Trung Thời (2013) trên địa bàn tỉnh
An Giang thông qua mẫu số liệu có 150 quan sát, mô hình hồi quy Logit và OLS được sử dụng để ước lượng ảnh hưởng của các biến độc lập đến biến phụ thuộc dựa trên các thông tin đặc trưng của hộ và các nhân tố ngoại sinh khác Kết quả
Trang 165
phân tích hồi qui mô hình Logit cho biết khả năng bị giới hạn tín dụng của hộ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: trình độ học vấn, nghề nghiệp của chủ hộ, diện tích đất thổ cư, giá trị tài sản của hộ và sử dụng tín dụng thương mại
Trình độ học vấn của chủ hộ có tác động nghịch tới khả năng bị hạn chế tín
dụng của hộ Nghề nghiệp của chủ hộ cũng ảnh hưởng tới khả năng bị hạn chế tín dụng của họ, chủ hộ có nghề nghiệp với thu nhập ổn định (kinh doanh, viên chức)
có khả năng bị hạn chế tín dụng thấp hơn hộ thuần túy sản xuất nông nghiệp Giá trị tài sản của hộ là yếu tố có tác động nghịch tới khả năng bị hạn chế tín dụng của nông hộ Sử dụng tín dụng thương mại (tín dụng không chính thức) là yếu tố
có ảnh hưởng thuận tới khả năng bị hạn chế tín dụng của hộ, kết quả nghiên cứu phù hợp với quan điểm về sự thay thế giữa tín dụng ngân hàng với tín dụng thương mại Nông hộ bị giới hạn tín dụng ngân hàng thường thay thế bằng tín dụng thương mại Diện tích đất thổ cư thuộc quyền sử dụng của hộ có tác động nghịch tới khả năng hạn chế tín dụng của hộ, vì đất thổ cư thường được các tổ chức tín dụng chấp nhận là tài sản thế chấp khi cho vay, đất thổ cư thường có giá trị lớn hơn đất sản xuất nên hộ gia đình có diện tích đất thổ cư lớn hơn sẽ có khả năng tiếp cận tín dụng chính thức cao hơn
Ngoài ra, phân tích hồi quy đa biến (OLS) cho biết lượng vốn tín dụng chính thức bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: quan hệ xã hội của chủ hộ, mục đích vay vốn, giá trị tài sản và thu nhập của hộ Cụ thể, thu nhập của hộ có tác động thuận tới lượng vốn vay của hộ, hộ có thu nhập càng cao thì lượng vốn vay càng cao do
hộ có thể đảm bảo được khả năng trả nợ bằng nguồn thu nhập này Quan hệ xã hội của chủ hộ cũng có tác động thuận tới lượng vốn vay chính thức của hộ, chủ
hộ có mối quan hệ sẽ nhận được lượng vốn lớn hơn Mục đích vay của chủ hộ có tác động thuận tới lượng vốn vay, vì nếu hộ sử dụng vốn vay cho mục đích đầu tư sản xuất thì có khả năng sinh lợi và hoàn vốn vay cho tổ chức tín dụng sẽ cao hơn
so với hộ sử dụng tiền vay vào mục đích tiêu dùng hay trả nợ, nhờ đó thường được tổ chức tín dụng cho vay nhiều hơn Giá trị tài sản của hộ cũng có ảnh hưởng thuận tới lượng vốn vay, hộ có giá trị tài sản lớn sẽ vay được nhiều hơn những hộ có ít tài sản
Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Oánh và Phạm Thị Mỹ Dung (2010) về “Khả
năng tiếp cận tín dụng chính thức của hộ nông dân: Trường hợp nghiên cứu ở vùng cận ngoại thành Hà Nội” Mô hình hồi quy hai bước của Heckman được sử
dụng để ước lượng ảnh hưởng của các biến độc lập đến biến phụ thuộc dựa trên các thông tin đặc trưng của hộ và các nhân tố ngoại sinh khác Kết quả phân tích chỉ ra rằng khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của các hộ nông dân chịu ảnh hưởng bởi độ tuổi và địa vị xã hội của chủ hộ, tín dụng không chính thức
và thủ tục vay vốn rườm rà Trong khi đó trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích
Trang 176
đất, thu nhập của hộ, tài sản thế chấp và mục đích vay vốn là các nhân tố ảnh hưởng đến lượng vốn tín dụng mà hộ nông dân vùng nông thôn cận ngoại vi thành phố Hà Nội vay được từ các tổ chức tín dụng chính thức
Một nghiên cứu khác về tiếp cận tín dụng của nông hộ của Trần Thọ Đạt (1998), bằng việc áp dụng mô hình Logit và phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất, tác giả đã khẳng định rằng các biến độc lập: quy mô đất, diện tích đất, tổng số thành viên trong hộ, tỷ lệ phụ thuộc, quan hệ họ hàng và địa vị xã hội có tác động mạnh mẽ đến khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ
Cuộc khảo sát của Nathan Okurut (2006) về những nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng đối với người nghèo và người da màu ở Nam phi trong thị trường tín dụng chính thức và tín dụng phi chính thức Bằng việc sử dụng mô hình đa thức Logit và mô hình Heckman Probit, tác giả cho rằng người nghèo và người da màu ở Nam phi có hạn chế trong việc tiếp cận các nguồn tín dụng này
Ở phạm vi quốc gia, việc tiếp cận thị trường chính thức chịu tác động tích cực và mạnh mẽ bởi tuổi tác, giới tính, số thành viên trong hộ, trình độ học vấn, chi tiêu trên đầu người và chủng tộc Việc nghèo khó có tác động tiêu cực và mạnh mẽ đến việc tiếp cận nguồn tín dụng chính thức
Nghiên cứu của Phạm Bảo Dương và Yoichi Izumida (2002), nghiên cứu này nổ lực xem xét về phương diện kinh tế sự tham gia của nông hộ trong thị trường tín dụng nông thôn Việt Nam, hành vi cho vay của người cho vay chính thức để đáp ứng nhu cầu tín dụng của hộ gia đình và tác động của tín dụng đối với sản xuất hộ gia đình dựa trên số liệu điều tra hộ gia đình cắt chéo Thị trường tín dụng nông thôn ở Việt Nam là khá phân đoạn, các khu vực chính thức chuyên cho vay để phục vụ sản xuất, trong khi mục đích cho vay của khu vực phi chính thức là khá đa dạng, nghiên cứu cho thấy rằng các hộ gia đình nông thôn là hợp lý trong việc quyết định các nguồn vốn vay, từ đó, họ nên yêu cầu đối với các khoản vay cụ thể
Từ mô hình Tobit, nghiên cứu này cho thấy tổng diện tích canh tác và tổng giá trị chăn nuôi là những yếu tố quyết định đến việc cho vay đối với hộ gia đình
từ các tổ chức tài chính chính thức Ngoài ra, tỷ lệ phụ thuộc của các hộ gia đình
và tổng diện tích canh tác có thể sẽ là những yếu tố dẫn đến quyết định vay từ các nguồn phi chính thức, những phát hiện này khẳng định các giả thuyết về sự phân đoạn của thị trường tín dụng nông thôn Hơn nữa, thống nhất với thực tế này, việc vay vốn từ các nguồn phi chính thức, trong một số trường hợp cũng là để sản
Trang 18Các kết quả của mô hình Probit đối với hạn chế tín dụng của Agribank cho thấy uy tín (một dấu hiệu của các hộ gia đình có khả năng chi trả - tiêu cực) và tỷ
lệ phụ thuộc (các dấu hiệu của sự nghèo - tích cực) có liên quan với các quyết định hạn chế tín dụng của ngân hàng Phát hiện này là không đáng ngạc nhiên, kể
từ khi các ngân hàng cư xử hợp lý trong việc lựa chọn để cho vay đối với khách hàng đáng tin cậy, nếu đúng như vậy, người nghèo có được tín dụng từ đâu ? Kết quả từ mô hình Tobit đối với việc vay vốn của các hộ gia đình chỉ ra rằng bên cạnh các nguồn chính thức, họ buộc phải vay từ các nguồn phi chính thức là tốt hơn
Nghiên cứu cũng phát hiện rằng tổng diện tích canh tác, số người phụ thuộc, số tiền đặt cọc và tính thanh khoản là các yếu tố quyết định tình trạng tín dụng của hộ gia đình Hơn nữa đối với các hộ gia đình bị hạn chế tín dụng, tổng diện tích canh tác (tích cực), số người phụ thuộc (tiêu cực), và tín dụng (tích cực)
là những yếu tố quyết định kết quả đầu ra sản xuất Ngược lại, tổng diện tích canh tác, giáo dục và số người trưởng thành có chung vốn (yếu) tất cả tích cực quyết định mức độ cung cấp tín dụng không bị giới hạn cho sản xuất của hộ gia đình Các phát hiện trên cho thấy rằng có đến 30% số hộ trong mẫu là bị hạn chế tín dụng vì các khoản vay bị giới hạn bởi người cho vay chính thức Phần còn lại được, hoặc bị giới hạn nội bộ (trách nhiệm) hoặc bị giới hạn do nguyên nhân khác như thị trường không hoàn hảo
Trang 198
Nghiên cứu cũng đã phát hiện rằng các hộ gia đình có nhiều người phụ thuộc yêu cầu các khoản vốn để tài trợ cho sản xuất cũng như làm đồng nhất với tiêu dùng của họ Do đó, nguồn cung cấp mở rộng tín dụng chính thức có thể được chuyển một phần để tiêu dùng, do đó có khả năng kết quả đầu ra sẽ ảnh hưởng thấp hơn khi tất cả các quỹ được giả định là sử dụng hiệu quả
Kết quả trong ước lượng bình phương bé nhất có trọng số (WLS) cho các chức năng cung ứng đầu ra cho thấy độ co giãn của sản lượng đối với thanh khoản (tín dụng) là rất cao Phát hiện này tự đặt ra một nhiệm vụ rất quan trọng đối với chính phủ, là hỗ trợ hệ thống tài chính nông thôn và khuyến khích chính sách cho vay năng động để đáp ứng nhu cầu của nông dân, khả năng nắm bắt những cơ hội đó sẽ góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế nông thôn Các phát hiện thú vị khác là sự tương quan tích cực giữa giáo dục và cung cấp đầu ra đối với trường hợp của các hộ gia đình không bị giới hạn
Nghiên cứu đề nghị cần thiết phải cải thiện giáo dục, đặc biệt là đào tạo chuyên môn cho nông dân, mạng lưới khuyến nông cần được tăng cường và phát triển hơn trong việc phổ biến các công nghệ sản xuất mới cho nông dân
Trang 209
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Khái niệm về nông hộ
Về hộ nông dân, theo tác giả Frank Ellis (1988) cho rằng hộ nông dân là các
hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình,
sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao Theo như một khái niệm khác của Đào Thế Tuấn (1997), hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn
Vậy nông hộ là hộ nông dân sản xuất kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, ngoài
ra, hộ còn có thể tiến hành thêm các hoạt động khác tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ
2.1.2 Tín dụng nông nghiệp
2.1.2.1 Cấu trúc thị trường tín dụng ở nông thôn
Thị trường tín dụng ở nông thôn bao gồm 3 bộ phận Một là khu vực tín dụng chính thức là hình thức tín dụng hợp pháp được sự quản lý của Nhà nước với một số tổ chức như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng thương mại, và chịu sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước Hai là khu vực tín dụng bán chính thức với sự tham gia của các tổ chức quần chúng như các chương trình tín dụng vi mô, các tổ chức hùn vốn tại địa phương Ba là khu vực phi chính thức là loại hình không chịu sự quản lý của TCTD chính thức nào cũng như không chịu sự ràng buộc nào về yếu tố pháp luật Đăc trưng của loại hình này là các giao dịch vay mượn từ gia đình, người thân, bạn bè và hình thức chơi hụi,
Khu vực tín dụng chính thức
- Ngân hàng NN&PTNT là Ngân hàng thương mại với vốn của Nhà nước, nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng này là hỗ trợ vốn cho người dân sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao
- Ngân hàng chính sách xã hội không huy động tiết kiệm mà chủ yếu dựa
Trang 2110
vào Chính phủ và các Ngân hàng quốc doanh để có nguồn vốn cho vay
- Quỹ tín dụng nhân dân (Quỹ TDND) là hình thức hợp tác xã tiết kiệm và tín dụng cấp xã, quỹ TDND vừa cho vay, vừa nhận tiền gửi của cả xã viên lẫn những người không phải xã viên Các khoản vay nhỏ không cần thế chấp bằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay tài sản khác Kỳ hạn cho vay thường dưới
12 tháng, lãi suất cho vay là 8%/năm đối với một số lĩnh vực ưu tiên và lãi suất tiền gửi tối đa là 6%/năm do Ngân hàng Nhà nước ấn định là thường có lãi cao hơn NHNN&PTNT và NHCSXH Hệ thống quỹ tín dụng có 3 cấp: Quỹ tín dụng địa phương, quỹ tín dụng vùng và quỹ tín dụng Trung ương
- Ngân hàng thương mại: Các ngân hàng này tập trung cho vay đối với những nông hộ có điều kiện kinh tế ổn định, có khả năng trả nợ cao và người buôn bán hay tiểu thương ở địa phương
Khu vực tín dụng bán chính thức
- Khu vực bán chính thức góp phần quan trọng đưa nguồn vốn của nhà nước đến với người nông dân, mạng lưới trải rộng cả 4 cấp hành chính (Trung ương, Tỉnh thành, Quận huyện và Phường xã), các tổ chức quần chúng đóng vai trò đặc biệt trong việc đem tín dụng đến tận người dân cơ sở
- Các tổ chức này hỗ trợ Chính phủ trong việc cho vay theo những chương trình nhà nước, ví dụ như chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo, chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc, chương trình giải quyết việc làm, chương trình xây dựng nông thôn mới Ngoài ra các tổ chức này được xem như là người môi giới giữa NHNN&PTNT, NHCSXH và người đi vay Họ cũng hỗ trợ UBND địa phương thành lập những nhóm cùng chịu trách nhiệm để bảo lãnh cho các khoản vay ở cấp xã
Khu vực tín dụng phi chính thức
- Khu vực tài chính phi chính thức chiếm một mảng lớn trong tín dụng nông thôn ở Việt Nam, tín dụng nông thôn của khu vực phi chính thức xuất phát từ những nguồn như vay mượn từ gia đình, bà con, bạn bè và láng giềng Thông thường tiền mượn từ gia đình và thân nhân không phải trả lãi, nhờ tập quán xã hội Việt Nam khuyến khích việc giúp đỡ nhau Các khoản vay từ bạn bè hay láng giềng sẽ có lãi suất thỏa thuận tùy theo quan hệ xã hội, uy tín của người vay, kỳ hạn vay, lãi suất hàng năm có thể xê dịch rất lớn từ không tính lãi đến lãi hơn 100%
Trang 2211
- Có vài lý do giải thích tại sao khu vực phi chính thức vẫn còn là nguồn tín dụng quan trọng đối với nông hộ Thứ nhất cầu vượt cung tín dụng chính thức: Các ngân hàng thương mại cũng như các chương trình tín dụng chính thức chưa đủ khả năng đáp ứng hết nhu cầu vay vốn rất cụ thể của các nông hộ Thứ hai, các cơ chế cho vay của các tổ chức chính thức vẫn còn nhiều ràng buộc khiến cho những đối tượng nghèo nhất không tiếp cận được với nguồn tín dụng chính thức Do vậy,
có thể một phần của tín dụng chính thức đến người đi vay cuối cùng lại qua con đường phi chính thức; những người có thể vay được từ các tổ chức chính thức sẽ đem số tiền đó cho những người không vay được tiền ở các TCTD chính thức vay lại với lãi suất cao hơn Thứ ba (đây là lý do thường thấy qua kinh nghiệm các nước khác), trình độ dân trí ở nông thôn còn thấp, nhất là ở vùng sâu vùng xa nên người dân còn tâm lý e ngại giao dịch với ngân hàng, trong khi đó một số TCTD chính thức vẫn chưa tìm ra cách thích hợp để đem vốn đến với nông hộ
2.1.2.2 Vai trò của tín dụng trong việc phát triển kinh tế nông thôn
Trong điều kiện nền kinh tế nông nghiệp nước ta hiện nay, tín dụng nông nghiệp có các vai trò sau:
Tín dụng nông nghiệp đáp ứng nhu cầu về vốn để duy trì sản xuất, góp phần khai thác triệt để những tiềm năng sẵn có (lao động, đất đai, tiền vốn, …) thúc đẩy kinh tế nông hộ phát triển
Thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất Từ việc sản xuất thủ công manh mún do thiếu vốn, chính sách tín dụng đã giúp cho người dân mạnh dạn đi vào sản xuất kinh doanh, cải tạo và nâng cao trang thiết bị, mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các vùng Góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất nông nghiệp
Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành kinh tế mũi nhọn Trong điều kiện nước ta hiện nay, nông nghiệp là ngành sản xuất đáp ứng nhu cầu cần thiết cho xã hội đang trong quá trình công nghiệp hóa
và ngành chịu tác động nhiều nhất của điều kiện tự nhiên Vì vậy, Nhà nước luôn tập trung đầu tư phát triển nông nghiệp để giải quyết những nhu cầu tối thiểu của
xã hội, đồng thời tạo điều kiện để phát triển các ngành kinh tế khác
Tín dụng nông nghiệp có ý nghĩa trong việc phát triển kinh tế vì thông qua hợp đồng tín dụng, với giá trị pháp lý trên hợp đồng, nông hộ là người nhận tín dụng sẽ phải chỉ ra cụ thể kế hoạch sản xuất kinh doanh của bản thân, tăng cường hạch toán kinh doanh, nỗ lực sản xuất, tìm tòi, chủ động tiếp cận khoa học kỹ
Trang 2312
thuật sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao nhất và nâng cao thu nhập
Tín dụng ngân hàng đầu tư cho hộ nông dân ngoài việc góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế còn góp phần nâng cao hiệu quả xã hội Tín dụng góp phần chống nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn và thành thị, thu hẹp sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị, giữa người giàu và người nghèo, xây dựng cuộc sống văn minh giàu mạnh
Ngoài ra, đối với các nước đang phát triển như nước ta tín dụng đã trở thành một trong những phương tiện góp phần nối liền các nền kinh tế các nước với nhau, mở rộng xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt là các hàng hóa thuộc lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp đang là thế mạnh của nước ta
2.1.2.3 Khái niệm hạn chế tín dụng
Theo Petrick (2004), hạn chế tín dụng là tình trạng trong đó người muốn vay nhưng không vay được hay số tiền được vay ít hơn số tiền xin vay (trong điều kiện không có sự ràng buộc về mức được vay tối đa), những người đi vay này được gọi là bị hạn chế tín dụng
2.1.3 Cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng Hạn chế tín dụng là việc các TCTD chỉ giải ngân một phần nhu cầu hoặc từ chối hoàn toàn nhu cầu vay vốn của khách hàng (mà ở đây được hiểu là nông hộ), hạn chế tín dụng luôn chịu sự ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố khác nhau, từ các yếu tố khách quan đến chủ quan, từ các yếu tố phía người đi vay đến người cho vay, từ các đặc điểm về nhân khẩu học đến các chính sách phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước, Vì vậy, khi các yếu tố này có sự thay đổi thì tỷ lệ vay vốn của nông hộ ở các TCTD cũng có sự thay đổi, chúng ta tiến hành phân tích một
số đặc điểm, để biết được vì sao lại có hạn chế tín dụng
Để kiểm soát tốt rủi ro các TCTD thường áp dụng những thủ tục cho vay phức tạp, cơ chế cho vay phức tạp như yêu cầu thế chấp tài sản, đồng thời có xu hướng gia tăng lãi suất để bù đắp rủi ro Lãi suất gia tăng một mặt sẽ giúp cho lợi nhuận gia tăng nếu các yếu tố khác không đổi Mặt khác, lãi suất tăng sẽ làm
giảm lợi nhuận của các TCTD do ảnh hưởng của hai hệ quả từ hiện tượng thông
tin bất đối xứng là sự lựa chọn sai lầm của các TCTD và động cơ lệch lạc của
người đi vay
Hiện tượng thông tin bất đối xứng giữa các TCTD với người đi vay được
hiểu là các TCTD không biết rõ người vay bằng chính bản thân họ nên khó kiểm
Trang 2413
soát việc sử dụng tiền vay và sẽ gặp rủi ro khi cho vay Khi lãi suất gia tăng, những dự án có mức sinh lời thấp (rủi ro thấp) sẽ không có nhu cầu vay vốn, vì mức sinh lời của dự án thấp nhưng phải trả lãi cao, điều này sẽ gây ra tâm lý cho người vay là không đảm bảo khả năng hoàn trả nợ đúng hẹn nên chỉ còn lại những dự án có mức sinh lời cao (rủi ro cao) chấp nhận vay vốn Điều này sẽ làm cho tỷ lệ rủi ro của các TCTD gia tăng vì chỉ chọn được những khách hàng có rủi
ro cao Hiện tượng này được gọi là sự lựa chọn sai lầm của các tổ chức tín dụng,
nghĩa là nếu tăng lãi suất thì các TCTD chỉ chọn được những người vay rủi ro hơn, chọn lựa sai lầm sẽ làm giảm lợi nhuận của các TCTD vì rủi ro cao hơn đồng nghĩa với xác suất trả nợ của khách hàng thấp đi
Khi đứng trên góc độ của người đi vay thì lãi suất tăng cao cũng ảnh hưởng
đến xu hướng đầu tư của người đi vay Đây được xem là động cơ lệch lạc của
người đi vay do thông tin bất đối xứng Hoạt động sản xuất nông nghiệp nói
chung là hoạt động có tỷ lệ sinh lời thấp Đối với những hộ có dự định vay vốn để đầu tư cho nông nghiệp thì khi lãi suất gia tăng sẽ làm cho động cơ vay vốn đầu
tư vào nông nghiệp có xu hướng chuyển sang đầu tư sang các lĩnh vực khác Nguyên nhân của vấn đề này vì họ nhận thấy rằng việc đầu tư cho nông nghiệp sẽ không tạo ra đủ lợi nhuận để bù đắp cho chi phí mà họ bỏ ra cho việc vay vốn, điều này khiến họ sẽ chọn các lĩnh vực có khả năng sinh lời cao (tương đương với mức rủi ro cao) để đầu tư thay vì chọn nông nghiệp Nhưng khi chọn các lĩnh vực khác để đầu tư thì việc thiếu hiểu biết và thiếu kinh nghiệm trong lĩnh vực mới này khiến cho thất bại của họ có thể lớn hơn khi họ đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp
Để có thể hạn chế những tác động của hiện tượng thông tin bất đối xứng, các TCTD thường áp dụng quy trình cho vay phức tạp hơn để có nhiều thời gian
để thẩm định tín dụng, điều này đồng nghĩa với việc các hộ vay vốn phải mất khá nhiều thời gian để có thể tiếp cận được nguồn vốn từ các TCTD chưa kể đến việc
tốn nhiều chi phí giao dịch hơn Mặt khác, hoạt động sản xuất nông nghiệp là
hoạt động mang tính thời vụ và đồng loạt, việc chậm trễ trong quá trình vay vốn
sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động sản xuất như xuống giống trễ lịch khuyến cáo và thiếu phân bón sẽ dễ bị sâu bệnh, để đáp ứng cho nhu cầu cấp thiết này, nhiều hộ phải nhờ đến sự trợ giúp vốn từ thị trường phi chính thức để có thể kịp thời sử dụng vốn này vào hoạt động sản xuất Các hộ xin vay vốn thường có tâm
lý lo sợ khi phải vay vốn ở các TCTD, điều này làm cho các TCTD sẽ mất đi một lượng lớn khách hàng đồng nghĩa với việc lợi nhuận của TCTD sẽ sụt giảm, vì
Trang 2514
vậy, các TCTD nên có nhiều biện pháp khác nhau để hạn chế sự ảnh hưởng từ hiện tượng thông tin bất đối xứng
Ngoài những ảnh hưởng của hiện tượng thông tin bất đối xứng và chi phí
giao dịch thì những rủi ro trong sản xuất cũng là nguyên nhân dẫn đến việc hạn
chế tín dụng đối với nông hộ, trong giai đoạn hiện nay, thời tiết diễn biến ngày càng thất thường và có tính chất khắc nghiệt hơn, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất nông nghiệp Mặt khác, thị trường hàng hóa diễn biến ngày càng khó kiểm soát đã tác động đến giá cả nông sản, giá cả yếu tố đầu vào, hiện tượng mất mùa được giá hoặc trúng mùa mất giá là chuyện xảy ra thường xuyên, điều này ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân cũng như là khả năng trả
nợ của họ
Hạn chế tín dụng là một chính sách để giảm bớt lượng vốn vay của nông hộ nhằm làm giảm mức độ rủi ro cho bản thân TCTD vì một số lý do kể trên và những lý do khác nữa Việc hạn chế này được hiểu là các TCTD sẽ từ chối một phần hoặc toàn bộ lượng vốn mà các nông hộ xin vay, “Nguyên nhân của hiện tượng này là do các TCTD không hiểu rõ mức độ rủi ro của người đi vay bằng chính bản thân của họ, cho nên không thể phân biệt giữa người vay rủi ro và người vay an toàn” (Lê Khương Ninh và Cao Văn Hơn, 2013) Vì để hạn chế rủi
ro về tín dụng nên các ngân hàng đã kiểm soát chặt chẽ dư nợ tín dụng mà biểu hiện là ở số tiền mà ngân hàng giải ngân ra so với số tiền mà nông hộ xin vay, vì thế làm xuất hiện tỷ lệ vay Tỷ lệ vay là tỷ lệ giữa số tiền mà các TCTD giải ngân
ra trên số tiền xin vay của nông hộ (TYLEVAY) Cụ thể, TYLEVAY = 0 nếu nông
hộ không vay được vốn hay nông hộ bị hạn chế tín dụng hoàn toàn, TYLEVAY = 1
nếu nông hộ vay được toàn bộ số tiền xin vay hay nông hộ không bị hạn chế tín
dụng, 0 < TYLEVAY < 1 nếu nông hộ bị hạn chế tín dụng một phần Trong phạm
vi bài viết này, tác giả sử dụng biến TYLEVAY là biến phụ thuộc nhằm đánh giá
sự tác động của các yếu tố đến hạn chế tín dụng
Như đã đề cập ở phần trên, hạn chế tín dụng chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố từ khách quan đến chủ quan, từ phía người đi vay đến người cho vay và từ đặc điểm nhân khẩu học đến chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước
Từ đây, tác giả xin đề xuất một số yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng như sau:
Thu nhập là tổng số tiền mà tất cả các thành viên trong gia đình kiếm được trong năm từ các nguồn khác nhau, nguyên nhân mà tác giả chọn biến này là do một trong những tiêu chí mà TCTD quyết định cho khách hàng vay là khách hàng
Trang 2615
có thể trả nợ bằng gì ? Những khách hàng có thu nhập cao thì khả năng trả nợ của
họ được đánh giá cao và TCTD sẽ ít gặp rủi ro hơn, vì vậy khi họ có nhu cầu vay vốn thì các TCTD chấp nhận cho họ vay với số tiền lớn và ngược lại Cũng có ý kiến cho rằng, những hộ có thu nhập cao thì họ có khả năng tự trang trải được tất
cả mọi thứ từ chi phí sinh hoạt hằng ngày cho đến chi phí cho sản xuất, nếu họ có cần đến sự hỗ trợ của các TCTD thì cũng là một lượng vốn nhỏ nên các TCTD dễ dàng chấp nhận cho vay hơn
Diện tích đất thể hiện tổng diện tích đất thuộc quyền sở hữu của hộ bao gồm đất ở và đất canh tác nông nghiệp (hay đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) Diện tích đất ảnh hưởng rất lớn đến hạn chế tín dụng của nông hộ, những hộ
có diện tích đất lớn thì họ có thể tiếp cận được lượng vốn vay cao hơn những hộ
có ít đất và không có đất (hay ít bị hạn chế tín dụng hơn) Mặt khác, đất còn là loại tài sản phổ biến trong thị trường tín dụng nông thôn dùng để thế chấp cho các TCTD để đảm bảo cho số tiền vay, những hộ có đất nhiều thì họ sẽ tạo được lòng tin nhiều hơn đối với TCTD và đất là một tài sản hữu hình nên chỉ cần đi khảo sát
là có thể nắm bắt đầy đủ thông tin về nó nên có thể hạn chế được việc bất đối xứng thông tin
Số lần vay vốn là tổng số lần mà hộ vay vốn tại các TCTD, như đã phân tích thông tin bất đối xứng sẽ ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng, vì vậy những hộ mà TCTD am hiểu thì họ sẽ dễ dàng tiếp cận với lượng tiền vay hơn Mà sự am hiểu này được thể hiện qua mối quan hệ lâu dài hay là số lần mà hộ vay tiền tại các TCTD Thật vậy, khi nông hộ vay tiền nhiều lần tại các TCTD sẽ tạo điều kiện cho các TCTD nắm được các thông tin của khách hàng và dễ dàng thu thập thêm các thông tin khác Mặt khác, các hộ vay vốn nhiều lần thì họ có kinh nghiệm nhiều hơn trong việc hoàn thành hồ sơ, thủ tục vay vốn nên thuận tiện hơn trong việc vay vốn
Số lần sai hẹn thể hiện số lần mà hộ không trả nợ và/hoặc lãi đúng với thời hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng, đây là biến khá quan trọng Đối với hộ vay nhiều lần thì TCTD sẽ am hiểu nhiều hơn, nhưng với những hộ vay nhiều lần
mà mà số lần sai hẹn nhiều cũng ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng, những hộ sai hẹn nhiều sẽ bị hạn chế tín dụng nhiều hơn những hộ ít sai hẹn (có thể bị hạn chế tín dụng hoàn toàn) Đối với nông hộ thì nguyên nhân của việc sai hẹn chủ yếu là
do họ gặp phải rủi ro trong sản xuất nông nghiệp như dịch bệnh, thiên tai hoặc sự biến động của thị trường, điều này khiến cho họ không có đủ khả năng trả nợ nên phải sai hẹn với các TCTD
Trang 2716
Sự quen biết với những người làm việc trong khu vực nhà nước và các TCTD thể hiện mối quan hệ của các thành viên trong hộ với những cá nhân làm việc trong khu vực nhà nước và TCTD, đối với những hộ có thành viên hay bạn
bè làm việc ở cơ quan nhà nước, đoàn thể hay các TCTD thì họ sẽ nâng cao uy tín của mình hơn trong việc trả nợ Các TCTD có thể lấy thông tin của nông hộ xin vay vốn dễ dàng hơn từ những người thân làm việc trong khu vực nhà nước và các TCTD của họ, đồng thời mối quan hệ quen biết này sẽ giúp cho các nông hộ cảm thấy dễ dàng hơn trong các thủ tục xin vay và có thể nhờ những người này đứng ra làm người bảo lãnh vay vốn cho mình Do đó, hộ sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay, cũng như tỷ lệ vay vốn sẽ càng cao hơn
Những hộ gia đình ở gần chi nhánh của các TCTD thì khả năng hiểu biết về các TCTD và các cán bộ tín dụng của nông hộ sẽ cao, cũng như là các TCTD có thể hiểu rõ được nông hộ và chất lượng của việc thẩm định sẽ đạt hiệu quả cao Mặt khác, khi ở gần các TCTD, nông hộ có khả năng biết được các chương trình cho vay ưu đãi, chính sách giải ngân của ngân hàng, … rõ và sớm hơn nên có khả năng vay được vốn nhiều hơn Khi ở gần nhau, các TCTD sẽ am hiểu về khách hàng của mình hơn, cũng như là tốn ít chi phí về công tác kiểm soát vốn sau giải ngân và nắm bắt kịp thời hơn về việc sử dụng vốn của người vay có đúng mục đích hay không để hạn chế những rủi ro cho TCTD Khoảng cách từ nhà nông hộ đến TCTD gần nhất sẽ làm cho nông hộ giảm được chi phí đi lại trong quá trình làm hồ sơ, thủ tục vay vốn và giảm các chi phí khác trong quá trình chờ vốn được giải ngân, vì vậy khi nông hộ ở gần các TCTD thì hiện tượng hạn chế tín dụng sẽ thấp hơn những hộ ở xa
Đối với các hộ ở vùng nông thôn thì thu nhập chính của họ là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp nên ngân hàng sẽ an tâm hơn khi cấp tín dụng cho các hộ phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp so với các hộ vay vì mục đích khác Nguyên nhân là do khi sử dụng tiền vay đầu tư vào sản xuất thì hộ sẽ tạo ra thu nhập trong tương lai và đảm bảo tốt nghĩa vụ trả nợ của mình Còn đối với những
hộ vay tiền nhằm mục đích tiêu dùng, trả nợ, trị bệnh, thì số tiền vay sẽ không được đầu tư sinh lời, do đó sẽ làm gia tăng rủi ro nên các TCTD thường hạn chế tín dụng đối với những đối tượng này
Đối với những chủ hộ có trình độ học vấn cao thì khả năng hiểu biết của họ
về các chương trình và chính sách tín dụng của Nhà nước sẽ cao, đồng thời họ cũng nắm bắt được nhiều thông tin hơn về các TCTD nên khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng của họ sẽ cao hơn Mặt khác, chủ hộ có trình độ học vấn cao
Trang 2817
thì khả năng tiếp cận với những tiến bộ khoa học kỹ thuật nhanh hơn nên có thể
áp dụng vào thực tế sản xuất từ đó mang lại hiệu quả cao trong sản xuất và hạn chế được những rủi ro từ đó đảm bảo được khả năng trả nợ Vì vậy, những chủ hộ
có trình độ học vấn cao thì tỷ lệ vay của hộ sẽ cao hơn những hộ có trình độ học vấn thấp hơn
Những chủ hộ cao tuổi thì uy tín trong xã hội sẽ cao, họ cũng đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm sản xuất cũng như là một số tài sản nhất định và luôn có
ý thức trách nhiệm đối với gia đình Những chủ hộ có tuổi thường hay chọn những lĩnh vực đầu tư mà họ am hiểu nhiều hơn như là sản xuất nông nghiệp và ít đầu tư vào những lĩnh vực mạo hiểm nên họ thường ít có động cơ lệch lạc trong việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư Vì vậy, những chủ hộ có tuổi cao thường dễ dàng được các TCTD chấp nhận cho vay với tỷ lệ cao hơn những chủ hộ còn trẻ tuổi
Sự khác biệt về giới tính cũng ảnh hưởng đến giới hạn tín dụng, theo kết quả của một số nghiên cứu cho thấy, các chủ hộ là nam giới có thể tiếp cận với tín dụng chính thức nhiều hơn các chủ hộ là nữ giới Nguyên nhân là do các chủ hộ nam thường mạnh dạn hơn trong việc đầu tư sản xuất kinh doanh nên họ quyết đoán hơn trong việc vay vốn và điều này cũng sẽ giúp họ vay với tỷ lệ cao hơn Bên cạnh đó, nam giới thường có mối quan hệ rộng rãi hơn nữ giới nên khả năng nắm bắt thông tin của họ thường cao hơn nữ giới nên việc tiếp cận tín dụng đối với họ thường dễ dàng hơn với tỷ lệ cao hơn Do đó, những hộ có chủ hộ là nam
sẽ vay được vốn với tỷ lệ vay cao hơn những hộ có chủ hộ là nữ
Số thành viên trong gia đình nằm ngoài độ tuổi lao động hay không có khả năng lao động cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ vay vốn của hộ Số người phụ thuộc càng nhiều thì gánh nặng đối với gia đình càng lớn vì những người này chưa hoặc không có khả năng tạo thu nhập cho gia đình nhưng gia đình phải tốn chi phí cho
họ Vì vậy, số lượng người phụ thuộc càng cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả nợ của gia đình nên việc tiếp cận tín dụng chính thức của họ thường bị hạn chế hơn
2.1.4 Mô hình nghiên cứu
Từ những cơ sở lý luận trên, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng chính thức đối với nông hộ dựa trên mô hình hồi quy tuyến tính Mô hình hồi quy được sử dụng nghiên cứu thực nghiệm trong bài là:
Trang 2918
Trong đó: TYLEVAY là biến phụ thuộc, đó là tỷ lệ giữa số tiền được giải ngân trên số tiền xin vay của nông hộ TYLEVAY có các trị số từ 0 đến 1 Cụ thể,
TYLEVAY = 0 nếu nông hộ không vay được vốn hay nông hộ bị hạn chế tín dụng
hoàn toàn TYLEVAY = 1 nếu nông hộ vay được toàn bộ số tiền xin vay hay nông
hộ không bị hạn chế tín dụng 0 < TYLEVAY < 1 nếu nông hộ bị hạn chế tín dụng
một phần Các biến còn lại là biến độc lập, ý nghĩa và dấu kỳ vọng của các biến này được thể hiện qua bảng 2.1
Bảng 2.1: Tổng hợp các biến độc lập và dấu kỳ vọng trong mô hình Tobit
5 QUENBIET Có trị số là 1 nếu hộ có quen biết với người làm việc
trong khu vực nhà nước và TCTD và là 0 nếu ngược lại +
11 NGUOIPT Số người phụ thuộc trong gia đình (người) -
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả) Ghi chú: Dấu “+” thể hiện mối quan hệ tỷ lệ thuận với biến phụ thuộc
Dấu “-” thể hiện mối quan hệ tỷ lệ nghịch với biến phụ thuộc (*) Nếu đã tốt nghiệp trung học phổ thông thì ghi 13 – trung cấp chuyên nghiệp;
14 – cao đẳng; 15 – đại học; 16 – sau đại học
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.1.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Trang 308 xã và 2 thị trấn Tác giả chọn ra 3 xã có diện tích trồng lúa lúa lớn nhất huyện
để xác định địa bàn nghiên cứu Sau đó, tác giả tiến hành thu thập thông tin một cách ngẫu nhiên các nông hộ trên địa bàn với tổng số lượng quan sát là 85 nông
hộ Theo đó, số lượng quan sát ở mỗi xã khác nhau khoảng 15 đến 25 quan sát tùy thuộc vào diện tích mỗi xã
2.2.1.3 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu sơ cấp: Số liệu chính sử dụng trong nghiên cứu là số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp từ các nông hộ trên địa bàn huyện
Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
Số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu thập, xử lý và phân tích tổng hợp
từ các văn kiện báo cáo tổng kết của địa phương, số liệu của sở, cơ quan ban ngành, các thông tin từ báo, tạp chí, trang thông tin điện tử và sử dụng số liệu các
đề tài có liên quan
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp phân tích
số liệu như sau:
- Mục tiêu 1: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tìm hiểu khái quát về thị trường tín dụng trên địa bàn huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
- Mục tiêu 2: Sử dụng mô hình Tobit để ước lượng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng đối với nông hộ ở huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
- Mục tiêu 3: Căn cứ vào thực trạng sử dụng vốn và kết quả phân tích, tác giả sử dụng phương pháp suy luận và những hiểu biết của bản thân để đề xuất giải pháp nhằm giúp cho nông hộ huyện Giá Rai tiếp cận tín dụng dễ dàng
Trang 3120
CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN HUYỆN GIÁ RAI - TỈNH BẠC LIÊU 3.1.1 Khái quát về địa bàn huyện Giá Rai - Tỉnh Bạc Liêu
3.1.1.1 Lịch sử hình thành
Nghị quyết ngày 06 tháng 11 năm 1996 của Quốc hội, chia tỉnh Minh Hải thành hai tỉnh là tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau, khi đó huyện Giá Rai trở thành huyện của tỉnh Bạc Liêu
Trước khi chia tách, huyện Giá Rai có 3 thị trấn: Gành Hào, Giá Rai, Hộ Phòng và 15 xã: An Trạch A, An Trạch, Điền Hải, Định Thành, Long Điền, Long Điền Đông, Long Điền Đông A, Long Điền Tây, Phong Tân, Phong Thạnh, Phong Thạnh Đông, Phong Thạnh Đông A, Phong Thạnh Tây, Tân Phong và Tân Thạnh
Ngày 24 tháng 12 năm 2001, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 98/2001/NĐ-CP, chia huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu thành hai huyện Đông Hải và Giá Rai ngày 27/12/2013 Nghị quyết số: 86/NQ-HĐND công nhận thị trấn Giá Rai - Hộ Phòng huyện Giá Rai là đô thị loại IV, trở thành thị xã vào năm 2015 Qua các lần điều chỉnh địa giới hành chính, huyện Giá Rai có 35.466,81 ha diện tích tự nhiên và 140.516 nhân khẩu, có 10 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm
2 thị trấn: thị trấn Giá Rai, thị trấn Hộ Phòng và 8 xã: Phong Thạnh Đông A, Phong Thạnh Đông, Phong Tân, Phong Thạnh A, Tân Phong, Tân Thạnh, Phong Thạnh và Phong Thạnh Tây
3.1.1.2 Vị trí địa lý
Giá Rai là một huyện nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Bạc Liêu, cách thị xã Bạc Liêu 34 km Phía Đông giáp với huyện Vĩnh Lợi, phía Tây giáp với Thành phố Cà Mau, phía Nam giáp với biển đông và phía Bắc giáp với huyện Phước
như: Thị trấn Giá Rai - Phó Sinh; Cạnh Ðền - Chủ Chí và tuyến quốc lộ Quản Lộ
- Phụng Hiệp đi qua gần 20 km Theo dự kiến, trong giai đoạn 1 sẽ phát triển khu trung tâm đô thị huyện có diện tích hơn 1.700 ha Trong giai đoạn 2 (đến năm 2030), sẽ phát triển khu trung tâm đô thị của huyện lên diện tích gần 2.350 ha, … Ðây là điều kiện rất thuận lợi cho việc giao thương hàng hóa giữa các vùng, góp
Trang 32Thu nhập bình quân đầu người năm 2014: 2.000.000 đồng/người/năm, tăng đều qua các năm, tăng 232.000 đồng/người/năm (Năm 2013: 1.768.000 đồng/người/năm) tương đương tăng 13,12% so với năm 2013 Cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và thương mại đều tăng, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp Cụ thể, năm 2014 cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch khá so với năm 2013, tỷ trọng khu vực I chiếm 50,03% đạt 108,11% KH; khu vực II chiếm 24,77% đạt 115,10% KH; khu vực III chiếm 25,20% đạt 115,35% KH
3.1.2.2 Về sản xuất nông nghiệp
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi đạt hiệu quả, đặc biệt là cây lúa: đạt được cả 3 yêu cầu: năng suất, chất lượng và hiệu quả Đảng bộ xác định nhiệm vụ hàng đầu của huyện là đẩy mạnh phát triển nông nghiệp mà chủ yếu là cây lúa để tăng thu nhập cho người dân, tạo tiền đề cho phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ
Diện tích trồng lúa trong năm 2014 là 21.402 ha, tăng 3,22% so với năm
2013, đạt 108,17% KH Năng suất bình quân 5,65 tấn/ha (giảm 0,98% so với năm 2013) Vụ lúa Đông Xuân: năng suất lúa là 6,55 tấn/ha, giảm 0,01% so với năm
2013, đạt 99,98% so với KH; năng suất vụ Hè Thu là 5,46 tấn/ha, tăng 0,24% so với năm 2013, đạt 100.44% KH Ngoài lúa ra thì không trồng thêm loại cây ngắn hạn nào khác
Đàn heo hiện có 19.058 con, giảm 21,02% so với cùng kỳ, đàn bò 156 con
và đàn trâu 148 con giảm 13,45% và 45,26% so với cùng kỳ, gia cầm 174.920 con, giảm 7,92% so với năm 2013 Do thường xuyên nắm bắt tình hình, chủ động trong tiêm phòng, phát hiện và phòng trị kịp thời nên tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm tương đối ổn định Diện tích nuôi thủy sản 20.300 ha,
Trang 33Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chương trình mục tiêu việc làm, chương trình giảm nghèo Thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng các chế độ chính sách cho gia đình chính sách, người có công, các đối tượng bảo trợ
Hầu hết chi nhánh ngân hàng và các phòng giao dịch được đặt ở 2 thị trấn của huyện là thị trấn Giá Rai và thị trấn Hộ Phòng
Trong số các chi nhánh và phòng giao dịch trên địa bàn huyện Giá Rai thì NHNN&PTNT và NHCSXH là hai ngân hàng mà nông hộ có thể tiếp cận nguồn vốn dễ dàng nhất Do đây là hai ngân hàng được thành lập với mục đích chủ yếu
là cho vay để phục vụ sản xuất nông nghiệp và hỗ trợ vốn cho hộ nghèo Các ngân hàng còn lại vẫn có các chương trình cho vay để khuyến khích đầu tư và sản xuất nông nghiệp nhưng chủ yếu tập trung vào đối tượng khách hàng là doanh nghiệp, vì vậy khả năng tiếp cận nguồn vốn từ các ngân hàng này của nông hộ thường khó khăn hay thường bị hạn chế Để có cái nhìn cụ thể hơn về thị trường
Trang 3423
tín dụng chính thức trên địa bàn huyện Giá Rai, chúng ta tiến hành tìm hiểu sơ lược về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Ngân hàng Chính sách xã hội:
3.2.1.1 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh huyện Giá Rai
là chi nhánh cấp 2 chịu sự quản lý của NHNN&PTNT chi nhánh Bạc Liêu Trụ sở đặt tại ấp 1 thị trấn Hộ Phòng, huyện Giá Rai NHNN&PTNT huyện Giá Rai ra đời cùng với sự ra đời của NHNN&PTNT Việt Nam vào ngày 01/10/1988 Ba phòng giao dịch khác của ngân hàng đặt tại thị trấn Giá Rai, xã Tân Phong và xã Phong Thạnh Đông A chịu sự quản lý trực tiếp của chi nhánh ngân hàng cấp 2
Nhiệm vụ của chi nhánh trên địa bàn huyện Giá Rai là cho vay các thành phần kinh tế, huy động vốn trên địa bàn và cung cấp các dịch vụ ngân hàng, nhưng hoạt động chủ yếu trên địa bàn huyện Giá Rai của chi nhánh là cho vay các thành phần kinh tế trong đó cho vay sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Cụ thể, đến cuối năm 2014 NHNN&PTNT huyện đã huy động được 137 tỷ đồng, giảm 24,11% so với năm 2013; tổng dư nợ là 348 tỷ, tăng 1,58% so với cùng kỳ
Qua hình 3.1, ta thấy hoạt động chủ yếu của ngân hàng là cho vay, lượng vốn cho vay của ngân hàng luôn cao hơn lượng vốn huy động được (dư nợ cao hơn khoảng 3 lần so với vốn huy động) Điều này cho thấy nguồn vốn để cho vay không phải chỉ có nguồn vốn huy động tại chổ mà cần phải bổ sung thêm bằng nguồn vốn điều chuyển từ chi nhánh ngân hàng cấp trên
Trang 3524
Hình 3.1: Lượng vốn huy động và cho vay của NHNN&PTNT chi nhánh huyện Giá Rai giai đoạn 2012-2014
(Nguồn: Các báo cáo về KT-XH và AN-QP huyện Giá Rai giai đoạn 2012-2014)
Từ hình trên, ta thấy lượng vốn huy động của ngân hàng không ổn định, có
sự tăng giảm qua các năm, nhưng nhìn chung thì lượng vốn huy động đã có sự tăng trưởng khá cao trong giai đoạn 2012-2014, từ 123 tỷ đồng năm 2012 tăng lên
137 tỷ đồng vào năm 2014 Từ đây, chúng ta có thể thấy được thu nhập của người dân đã được cải thiện thông qua việc họ đã dư những khoản tiền để gửi vào ngân hàng sau khi đã trang trải cho các chi phí trong sinh hoạt và sản xuất Lượng vốn cho vay của ngân hàng qua các năm cũng liên tục tăng từ con số 279 tỷ đồng năm
2012 tăng lên 348 tỷ đồng năm 2014 và cao nhất vào năm 2014 với con số 348 tỷ đồng Tốc độ tăng của lượng vốn cho vay nhanh hơn lượng vốn huy động Từ đây, ta thấy người dân đã phần nào mạnh dạn hơn khi tiếp cận với các ngân hàng
và trình độ của họ đã được cải thiện hơn, vì vậy họ sẵn sàng tiếp cận với các ngân hàng để vay vốn phục vụ cho việc mở rộng sản xuất của mình
3.2.1.2 Ngân hàng Chính sách xã hội
Hoạt động chủ yếu của ngân hàng là cung cấp tín dụng với lãi suất thấp thông qua hình thức các chương trình tín dụng vi mô cho người nghèo nông thôn không đủ điều kiện trong các khoản vay cá nhân vì tài sản thế chấp hạn chế Hoạt động của NHCSXH tập trung vào cho vay hộ nghèo, thông qua hợp tác chặt chẽ với các tổ chức địa phương trong thủ tục cho vay
Cụ thể, UBND xã giúp NHCSXH xác minh nhóm người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn, các tổ chức đoàn thể xã hội khác giúp NHCSXH thành lập
và giám sát các khoản vay, các khoản vay này không cần tài sản thế chấp nhưng các tổ chức đoàn thể phải cung cấp một quỹ bảo lãnh Có thể thấy rằng đời sống của hộ nghèo và hộ khó khăn đã dần được cải thiện và họ có quyết tâm cao trong việc thoát nghèo để không còn nằm trong diện được NHCSXH cho vay Lượng vốn cho vay tăng là do nhu cầu của những hộ khó khăn tăng lên nhằm phát triển sản xuất, tăng thu nhập và cải thiện đời sống, mặt khác là do sự diễn biến thất thường của nền kinh tế làm cho giá cả của các yếu tố đầu vào tăng làm tăng chi phí sản xuất và sự mất giá của đồng tiền cũng ảnh hưởng khá lớn đến lượng vốn cho vay của ngân hàng
3.2.2 Tổ chức tín dụng bán chính thức
Trang 3625
Bên cạnh sự hoạt động của tín dụng chính thức thì hoạt động của tín dụng bán chính thức cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ vốn cho nông hộ để tiến hành hoạt động sản xuất Tín dụng bán chính thức gần đây cũng được hình thành và phát triển thông qua các chương trình tín dụng vi mô, được cấp vốn bởi các chương trình hỗ trợ từ các quỹ quốc tế và các tổ chức phi chính phủ Loại hình tín dụng này cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô cho những hộ bị loại khỏi khu vực tín dụng chính thức
Tiêu biểu cho loại hình tín dụng này là sự hoạt động của các tổ chức đoàn thể như hội phụ nữ, hội nông dân, hội chữ thập đỏ và các tổ chức liên kết hùn vốn, Tuy nhiên, khu vực tín dụng bán chính thức có một vai trò nhỏ trong việc cung cấp tín dụng vi mô do hoạt động này mới được đưa vào thực tiễn không lâu tại Việt Nam và hệ thống tài chính thiếu một khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động tài chính này (trước Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi, được ban hành tháng
6 năm 2012) Vì vậy, hầu hết các hoạt động tài chính vi mô phát triển theo dự án thực hiện ở cấp địa phương
Mặt khác, tổ chức tín dụng bán chính thức do mới đưa vào hoạt động nên số lượng hộ tiếp cận được vốn từ chương trình này không cao Những hộ vay được vốn từ các chương trình này chủ yếu là thành viên hay hội viên của các tổ chức này nên chưa bao hàm hết tất cả các nhu cầu sử dụng vốn Một vấn đề phát sinh
là nếu nhu cầu vay vốn được đáp ứng thì lượng vốn nhận được thường là nhỏ hơn
so với số vốn thực tế cần vay
Hình thức của loại hình tổ chức tín dụng này khá đơn giản, trong đó các thành viên tham gia vào các tổ chức đoàn thể sẽ thống nhất với nhau về việc hùn vốn theo kỳ hạn nhất định có thể là tháng, quý hoặc năm Mỗi kỳ hạn các thành viên sẽ đóng vào quỹ một số tiền nhất định như nhau giữa các thành viên và số vốn này sẽ luân phiên nhau cho các thành viên sử dụng, đến khi xoay vòng hết thì bắt đầu lại một chu kỳ mới Việc quyết định thứ tự người sử dụng vốn sẽ do các thành viên trong tổ chức biểu quyết và tùy theo mức độ cần vốn của từng thành viên Việc sử dụng quỹ này không cần phải trả một khoản chi phí nào do đó các thành viên hùn vốn cũng không nhận được lãi từ việc hùn vốn này
Ngoài ra, các tổ chức đoàn thể còn thiết kế các chương trình khác để hỗ trợ vốn giữa các hội viên như chương trình bỏ heo đất hay vận động vốn các mạnh thường quân hay chính các thành viên trong hộ để thành lập quỹ Quỹ này sẽ được các tổ chức đoàn thể quản lý và tìm kiếm những gia đình có hoàn cảnh khó
Trang 3726
khăn để cho vay hay cho vay đối với những người có nhu cầu Lãi suất đối với khoản tiền vay này thường được định thấp hơn hoặc bằng với lãi suất ngân hàng
3.2.3 Tổ chức tín dụng phi chính thức
Khu vực tín dụng phi chính thức truyền thống bao gồm người thân, bạn bè
và hàng xóm, tín dụng xoay vòng “hụi” và người cho vay Một hình thức tín dụng phi chính thức được hình thành gần đây trong đó tín dụng được cấp bởi thương nhân địa phương hoặc các nhà cung cấp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp Hình thức tín dụng này dần trở thành một bộ phận quan trọng của tín dụng không chính thức
Trên địa bàn huyện Giá Rai, hoạt động của người dân chủ yếu là hoạt động sản xuất nông nghiệp và hoạt động sản xuất chính là trồng lúa Vì vậy, tín dụng phi chính thức ở đây được hình thành chủ yếu từ việc mua bán chịu vật tư nông nghiệp và cung cấp các sản phẩm đầu vào được cung cấp từ các chủ cửa hàng vật
tư nông nghiệp, đại lý thức ăn gia súc và thuốc thú y, …
Hình thức của hoạt động này cũng khá đơn giản, do hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính mùa vụ hay chu kỳ nên việc bán chịu vật tư nông nghiệp
sẽ được áp dụng vào đầu mùa vụ và khi kết thúc mùa vụ thì nông hộ tiến hành thu hoạch và dùng số tiền này để chi trả cho các cửa hàng vật tư nông nghiệp và tiếp tục mua chịu để tiến hành cho việc sản xuất ở mùa vụ kế tiếp Đây được gọi là hình thức mua gói đầu sản phẩm, nghĩa là các cửa hàng vật tư nông nghiệp sẽ tài trợ cho nông hộ nguồn vốn sản xuất vào mùa vụ đầu tiên và các mùa vụ sau thì nông hộ phải thanh toán số tiền của mùa vụ trước liền kề Với hình thức này trên danh nghĩa là các cửa hàng vật tư sẽ không áp dụng lãi suất trên khoảng tiền tài trợ nhưng thực tế là việc tài trợ này đã được áp dụng một mức lãi suất nhất định thông qua việc nâng giá của sản phẩm lên cao hơn so với giá của chính sản phẩm này bán cho những người chi trả bằng tiền mặt
Trang 3827
Bảng 3.1: Tình hình mua chịu vật tư nông nghiệp của nông hộ huyện Giá
Rai năm 2014 trong mẫu khảo sát
ĐVT Trung
bình
Độ lệch chuẩn
Thấp nhất
Cao nhất
Chênh lệch giá giữa mua
tiền mặt và mua chịu
Chênh lệch giá giữa mua
tiền mặt và mua chịu
Thời gian quen biết với người bán Tháng 108,000 62,608 24 252
(Nguồn: Xử lý từ kết quả tự phỏng vấn nông hộ, 2015)
Qua bảng 3.1 ta thấy, loại vật tư nông nghiệp mà nông hộ huyện Giá Rai mua chịu chủ yếu là phân bón và nông dược, trong mẫu khảo sát, số tiền mua chịu phân bón trung bình của mỗi hộ 24,404 triệu đồng, trong đó hộ mua chịu phân bón thấp nhất là 3 triệu đồng và cao nhất là 200 triệu đồng
Số tiền mua chịu nông dược trung bình của mỗi hộ trong mẫu khảo sát là 25,090 triệu đồng, trong đó hộ mua chịu thấp nhất là 3 triệu đồng và cao nhất là
250 triệu đồng Độ lệch chuẩn của số tiền mua chịu phân bón và nông dược lần lượt là 28,741 triệu đồng và 33,726 triệu đồng, độ lệch chuẩn này đều khá gần với giá trị trung bình, từ đây cho thấy có sự chênh lệch lớn giữa số tiền mua chịu vật
tư giữa các nông hộ mà nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự chênh lệch này là sự chênh lệch về diện tích đất sản xuất nông nghiệp (cụ thể là đất trồng lúa)
Do việc bán chịu được xem là một loại hình của tín dụng phi chính thức nên người mua chịu phải chịu sự chênh lệch giá giữa việc mua chịu và mua trả tiền mặt Cụ thể, giá phân bón khi mua chịu thường cao hơn giá phân bón khi mua
Trang 3928
tiền mặt trung bình 10,436 % (độ lệch chuẩn 4,791%), trong đó chênh lệch thấp nhất là không có chênh lệch và cao nhất là 30%; giá nông dược khi mua chịu cũng thường cao hơn giá nông dược khi mua tiền mặt trung bình 8,513 % (độ lệch chuẩn 3,202 %) Do nông hộ thường mua phân bón và nông dược tại cùng một đại lý hoặc cửa hàng nên thời gian mua chịu và thời gian quen biết với người bán chịu là giống nhau Cụ thể, thời gian mua chịu trung bình là 3,987 tháng (tương đương với 1 mùa vụ), trong đó thời gian bán chịu thấp nhất là 3 tháng và cao nhất là 6 tháng; thời gian quen biết với người bán trung bình là 108 tháng, trong đó thời gian quen biết thấp nhất là 24 tháng và cao nhất là 252 tháng
Ngoài hoạt động mua chịu vật tư thì hoạt động vay mượn tiền từ người thân, bạn bè cũng khá phổ biến Bởi, hoạt động này đã hình thành và phát triển từ rất lâu trong đời sống của người dân, chủ yếu hoạt động này là nông hộ vay mượn từ cha mẹ, anh chị em, bạn bè thân thiết hay hàng xóm nên sẽ không phải trả lãi Tuy nhiên, ngoài hoạt động vay mượn này thì hình thức đi vay từ những người cho vay phi chính thức cũng đang phát triển khá mạnh, khi hộ có nhu cầu vay vốn
để đáp ứng cho những tình huống cấp thiết mà không biết vay mượn ở đâu Trong trường hợp này, người đi vay sẽ chấp nhận vay tiền với mức lãi suất cao, người cho vay cũng thường đưa ra mức lãi suất cao đối với các khoản vay này và đây là nguồn gốc hình thành nên tín dụng nặng lãi, hình thức điển hình của loại vay mượn này là vay trả góp và vay nặng lãi Một hình thức tín dụng phi chính thức khác là hụi vẫn tồn tại trong đời sống nông hộ ở huyện Giá Rai, nhưng hoạt động này vẫn còn khá nhỏ lẻ và chỉ diễn ra đối với những hộ có dòng tiền ra vào thường xuyên và có thu nhập ổn định
3.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NÔNG HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIÁ RAI XÉT TRÊN MẪU KHẢO SÁT
3.3.1 Thông tin chung về nông hộ
Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Giá Rai thông qua việc thu thập số liệu trực tiệp từ 85 nông hộ trên địa bàn chủ yếu là các hộ có trồng lúa trên địa bàn Do tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng nên các thông tin của mỗi hộ có sự khác nhau về đặc điểm nhân khẩu học, tình hình đất đai, tài sản, các mối quan hệ cũng như là về hoạt động sản xuất Để tìm hiểu rõ hơn, tác giả tiến hành phân tích chi tiết từng thông tin trên
3.3.1.1 Thông tin về nhân khẩu học
Trang 4029
Nguồn lực con người luôn đóng vai trò quyết định trong hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung Ở đây, tác giả phân tích nguồn lực này dựa trên các tiêu chí về nhân khẩu học như: giới tính, tuổi, trình độ học vấn cũng như một số đặc điểm khác của chủ hộ Từ kết quả phỏng vấn nông hộ, đặc điểm về nhân khẩu học của nông hộ được tổng hợp và trình bày trong bảng 3.2
Bảng 3.2: Thống kê về nhân khẩu học của nông hộ huyện Giá Rai trong
(Nguồn: Từ kết quả tự phỏng vấn nông hộ, 2015)
Qua bảng 3.2 ta thấy, ở khu vực nông thôn đa phần chủ hộ là nam giới, cụ thể ở huyện Giá Rai, trong 85 hộ gia đình được khảo sát thì đã có đến 83 hộ có chủ hộ là nam chiếm tỷ lệ 97,65% Điều này cho thấy, ở nông thôn, nam giới luôn được coi trọng trong việc quản lý gia đình và là người gánh vác gia đình, bởi ở nông thôn nam giới luôn phải gánh vác các công việc đồng áng và những việc nặng trong gia đình Số lượng chủ hộ là nữ chỉ chiếm 2,35% trong mẫu, tức chỉ
có 2 hộ có chủ hộ là nữ Nhưng đa phần những hộ có chủ hộ là nữ là do chồng họ
đã qua đời nên họ phải tiếp nhận quyền quản lý gia đình hoặc chồng họ là người
từ địa phương khác chuyển đến sinh sống tại địa phương (sống bên nhà vợ) nên người chồng không thể làm chủ hộ
Cũng từ bảng số liệu trên, ta thấy đa số hộ gia đình sinh sống trên địa bàn huyện Giá Rai đều thuộc dân tộc Kinh, cụ thể có đến 85 chủ hộ trong mẫu khảo