TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN LÊ THỊ MỸ HOA NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VI KHUẨN Bacillus TRONG NUÔI TẢO Spirulina platensis BẰNG NƯỚC THẢI AO NUÔI CÁ TRA LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ THỊ MỸ HOA
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VI KHUẨN Bacillus
TRONG NUÔI TẢO Spirulina platensis
BẰNG NƯỚC THẢI AO NUÔI CÁ TRA
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI VÀ BẢO TỒN SINH VẬT BIỂN
2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ THỊ MỸ HOA
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VI KHUẨN Bacillus
TRONG NUÔI TẢO Spirulina platensis
BẰNG NƯỚC THẢI AO NUÔI CÁ TRA
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI VÀ BẢO TỒN SINH VẬT BIỂN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Th.s NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN
2015
Trang 3Abstract
Experiments were carried out to evaluate effects of initial density and Bacillus subtilis
on the growth of Spirulina platensis population by using wastewater from catfish pond
In the first experiment, S platensis were inoculated with densities of 20 x 10 3 ; 30 x 10 3 and 40 x 10 3 cells/mL (Treat 20; Treat.30 and Treat.40) The highest algal density was
1760.9 x 10 3 cells/mL in treat.40 and significantly different from other treatments (p≥0.05) The second experiment included four treatments with triplicates: addition of B subtilis at density of 10 5 ; 10 6 , 10 7 CFU/mL and no supplement bacteria as control treatment The result was obtained the highest density of algae in 10 5 CFU/mL B subtilis (1401.7 x 10 3 cells/mL)
Keywords: algae density, Spirulina platensis, Bacillus subtilis, waste water
Title: Study ability addition bacterium Bacillus in the system culture Spirulina
platensis wastewater pond aquatic
Tóm tắt
Thí nghiệm được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của mật độ nuôi cấy ban đầu và vi
khuẩn Bacillus subtilis đến sinh trưởng và phát triển của tảo Spirulina platensis trong nước thải cá tra Trong thí nghiệm 1 tảo S platensis được nuôi ở các mật độ 20 x 103
tb/mL, 30 x 103 tb/mL và 40 x 103 tb/mL (NT20, NT30 và NT40) Mật độ tảo đạt cao nhất là 1760.9 x 103 tb/mL ở nghiệm thức NT40 và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p ≥
0,05)so với các nghiệm thức còn lại Thí nghiệm 2 gồm 4 nghiệm thức: bổ sung B subtilis với mật độ 105, 106, 107 CFU/mL và nghiệm thức đối chứng là không bổ sung vi khuẩn Kết quả thu được ở nghiệm thức có bổ sung vi khuẩn với mật độ 105
CFU/mL có mật độ tảo phát triển tốt nhất (1401,7 x 103 tb/mL)
Từ khóa: Mật độ tảo, Spirulina platensis, Bacillus subtilis, nước thải
1 GIỚI THIỆU
Những năm qua, ngành thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) luôn phát triển nhanh cả về diện tích, mức độ thâm canh hóa, đa dạng đối tượng nuôi và mô hình nuôi Trong đó, cá tra là một trong những đối tượng nuôi chủ lực của vùng ĐBSCL Tuy nhiên, sự gia tăng mức độ thâm canh dẫn đến phát sinh các nguồn chất thải gây ô nhiễm môi trường Phần lớn thức ăn dư thừa bị thối rửa phân hủy có khuynh hướng tích lũy vật chất dinh dưỡng cao với mức trung bình 0,24 triệu tấn/năm (White, 2002).Lượng thức
ăn thừa kết hợp với chất thải của cá nếu không được quản lý và xử lý tốt sẽ gây ảnh hưởng không chỉ với cá nuôi mà còn tác động rất lớn đến môi trường sinh thái Nhờ khả
năng cố định nitơ từ không khí và có giá trị dinh dưỡng cao mà tảo spirulina được sử
dụng nhằm tận dụng nguồn nước thải từ ao nuôi cá tra, từ đó tạo ra nguồn sinh khối và hạn chế ô nhiễm môi trường nước Bên cạnh đó, việc nuôi kết hợp các loài tảo cùng các
vi sinh vật (VSV) để xử lý nước thải được coi là một giải pháp khá hợp lý do trong nước thải, hàm lượng nitơ và photpho là nguồn dinh dưỡng rất tốt cho sự sinh trưởng và phát triển của tảo
Trong số các loài tảo, Spirulina là tảo có giá trị dinh dưỡng cao, với hàm lượng protein
đạt 60-70% trọng lượng khô, sự đa dạng về thành phần các acid amin thiết yếu, giàu sắc
Trang 4tố beta-caroten, phycocyanin (http://taospirulinavietnam.com) Trong bùn đáy ao các chất hữu cơ bị phân hủy bởi vi khuẩn dị dưỡng và nấm mốc Các hợp chất hữu cơ
được VSV trong đó có Bacillus biến đổi thành các chất vô cơ ban đầu Bacillus chứa
nhiều enzym ngoại bào như proteaza, amylaza chuyển hóa nitơ từ dạng khó hấp thu sang dạng muối amon dễ hấp thu và giúp làm sạch đáy ao
Từ những vấn đề trên, đề tài: “Nghiên cứu khả năng bổ sung vi khuẩn Bacillus trong hệ thống nuôi tảo Spirulina platensis bằng nước thải ao nuôi thủy sản” đã được thực hiện
với mục đích tận dụng nguồn nước thải nuôi và thu sinh khối tảo, làm giảm ô nhiễm môi trường Từ đó, góp phần cải thiện chất lượng môi trường nước trong nuôi trồng thủy sản
và các hoạt động khác
1.2 Mục tiêu của đề tài
Đánh giá sự sinh trưởng của tảo Spirulina trong nước thải ao nuôi cá tra thông qua hoạt động chuyển hóa của vi khuẩn Bacillus
1.3 Nội dung của đề tài
Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của tảo Spirulina platensis trong nước thải
ở các mật độ nuôi cấy khác nhau
Đánh giá khả năng phát triển của tảo Spirulina platensis nuôi trong nước thải thông qua hoạt động của vi khuẩn Bacillus subtilis ở các mật độ khác nhau
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng mật độ tảo cấy ban đầu lên sự phát triển của quần
thể tảo Spirulina platensis
Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần Nguồn nước dùng trong thí nghiệm là nước thải từ ao nuôi cá tra thâm canh được lọc qua lưới lọc có kích thước
50 µm Tảo S platensis được nuôi với mật độ:
- Nghiệm thức 1: Nuôi tảo Spirulina platensis với mật độ 20.000 ct/mL (NT20)
- Nghiệm thức 2: Nuôi tảo Spirulina platensis với mật độ 30.000 ct/mL (NT30)
- Nghiệm thức 3: Nuôi tảo Spirulina platensis với mật độ 40.000 ct/mL (NT40)
Tảo được nuôi trong bình thể tích 8 L, sục khí liên tục, ánh sáng được cung cấp từ 3 ngọn đèn huỳnh quang 1,2 m, nhiệt độ phòng Thí nghiệm kết thúc khi mật độ giảm 2 ngày liên tục
2.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của việc bổ sung vi khuẩn Bacillus subtilis qua sự phát triển của tảo Spirulina platensis trong môi trường nước thải
Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức, được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần Nguồn nước dùng trong thí nghiệm là nước thải từ ao nuôi cá tra thâm canh
được lọc qua lưới lọc có kích thước 50 µm được dùng để nuôi tảo S platensis với mật
độ 40.000 ct/mL Vi khuẩn B subtilis được bổ sung 1 lần duy nhất vào đầu chu kỳ nuôi
theo các nghiệm thức sau:
- Nghiệm thức 1: Không bổ sung vi khuẩn B subtilis (ĐC)
Trang 5- Nghiệm thức 2: Bổ sung vi khuẩn B subtilis với mật độ 105 CFU/mL
- Nghiệm thức 3: Bổ sung vi khuẩn B subtilis với mật độ 106 CFU/mL
- Nghiệm thức 4: Bổ sung vi khuẩn B subtilis với mật độ 107 CFU/mL
Thí nghiệm sẽ kết thúc khi mật độ tảo ở các nghiệm thức giảm 2 ngày liên tục
2.3 Các chỉ tiêu theo dõi:
Ánh sáng, nhiệt độ và pH được đo vào 8 giờ hằng ngày Các yếu tố môi trường TAN,
PO43-, NO3- thu mẫu 3 ngày/lần và được phân tích theo phương pháp Indo-phenol blue, SnCl2 và Sulfosalicylic acid
Xác định Chlorophyll-a: Thu mẫu 3 ngày/lần mỗi lần thu 50 mL, được xác định bằng
phương pháp Standard Mthod-10200H-Chlorophyll (10-17), được tính theo công thức:
Chlorophyll-a= [11,85(E664 – E750) – 1,54(E647 - E750) – 0,08(E630 – E750)* (1/d)* (V1*1000)]/ V2(µg/L)
Trong đó:
V1: thể tích acetone (10 mL)
V2: thể tích nước mẫu được lọc
d: độ dài ánh sáng đi qua cuvet (1 cm)
Xác định mật độ tảo: Tảo được thu mỗi ngày và được đếm bằng buồng đếm
Sedgwick-Rafter (Boyd và Tucker, 1992)
Số lượng tảo (cá thể/lít) = T * (1000/A*N) *( Vmcđ / Vmt) * 1000
Trong đó:
T: tổng số cá thể đếm được
A: diện tích ô đếm
Vmcđ: thể tích mẫu cô đặc
Vmt: thể tích mẫu nước thu
Công thức tính tốc độ tăng trưởng của tế bào tảo (Valenzuela-Espinoza, 2007)
µ = ln(N1) – ln(N2)/t1 – t0
Trong đó: µ tốc độ tăng trưởng, N1 mật độ tế bào tại thời điểm T1, No là mật độ tế bào tại thời điểm To, To là thời điểm bắt đầu thí nghiệm, T1 là thời điểm cuối của thí nghiệm
Phương pháp xác định mật độ vi khuẩn Bacillus 3 ngày/lần: Môi trường chuyên biệt cho Bacillus Phương pháp xác định mật độ tổng vi khuẩn 3 ngày/lần bằng môi trường NA Được thực hiện theo phương pháp đếm khuẩn lạc (Baumann et al.,1980), được tính theo
công thức:
C
N (CFU/mL) =
V(n1d1 + n2d2 + + nidi)
Trong đó:
N: Số tế bào vi khuẩn trong 1 mL mẫu
C: Tổng số khuẩn lạc đếm được trên các đĩa petri
ni: Số đĩa petri cấy tại độ pha loãng thứ i
di: Hệ số pha loãng thứ i
V: Thể tích đem tán trên môi trường
Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý với bảng tính Excel và chương trình Statistica 5.0 với
ANOVA một nhân tố dùng phép thử DUNCAN để tìm sự sai biệt ở mức p<0,05
Trang 63 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng mật độ tảo cấy ban đầu lên sự phát triển của quần
thể tảo Spirulina platensis
3.1.1 Các yếu tố môi trường
Nhiệt độ không có sự biến động lớn giữa các nghiệm thức, nhiệt độ dao động từ 29,6- 34,2 oC Nhiệt độ thí nghiệm trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của tảo Theo
Dejsungkranont et al (2012) nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của Arthrospira sp (Spirulina) là 30-38 oC phụ thuộc vào dòng tảo và điều kiện nuôi pH giữa các nghiệm thức biến động không nhiều, nằm trong khoảng 7,8-10,4 Theo Zarouk (1966) tảo
S.platensis phát triển tốt ở pH 8,3-11, tuy pH đo được ở các nghiệm thức có thấp hơn
nhưng nhìn chung vẫn thích hợp cho tảo phát triển Trong quá trình thí nghiệm ánh sáng được duy trì liên tục 24 giờ do đó cường độ ánh sáng giữa các nghiệm thức ít có sự biến động và dao động trong khoảng 1738-2835 lux Theo Vonshak (1997) Cường độ ánh sáng thích hợp cho tảo phát triển là khoảng 1500-2500 lux
Bảng 1 Giá trị trung bình của nhiệt độ, pH và ánh sáng
Chỉ tiêu
Nghiệm thức
Nhiệt độ (o
Hàm lượng TAN (mg/L)
TAN là thành phần quan trọng đối với đời sống của tảo Hàm lượng TAN ở các nghiệm thức đều giảm qua các đợt thu mẫu Nồng độ TAN ở các nghiệm thức biến động trong khoảng 0,050-1,43 mg/L Trong đó, NT20 và NT30 hàm lượng TAN tăng vào đợt thu mẫu cuối do lúc này tảo có hiện tượng tàn nên tảo không còn hấp thu TAN đồng thời các
tế bào tảo chết phân hủy làm tăng hàm lượng ammonium trong môi trường
Bảng 2 Hàm lượng TAN (mg/L) ở các nghiệm thức trong thí nghiệm 1
Ngày
Nghiệm thức
1 1,4300,132a 1,2640,157a 1,3260,166a
4 0,4460,002a 0,4780,047a 0,5440,121a
7 0,1740,152a 0,2430,181a 0,4160,366a
10 0,0680,004a 0,0600,007a 0,0500,022a
13 0,1420,060a 0,0930,050a 0,0870,016a
16 0,1250,050a 0,0980,067a 0,0520,018a
19 0,1380,010a 0,1510,023b 0,0510,010a
Ghi chú: Các trị số trong cùng một hàng có ký tự giống nhau là khác biệt không có ý
nghĩa thống kê ( p < 0,05)
Trang 7Hàm lượng NO 3 - (mg/L)
Theo Richmond (1986) tảo S platensis hấp thu chủ yếu đạm nitrate nên hàm lượng NO3
-có khuynh hướng giảm qua các đợt thu mẫu Hàm lượng NO3- có sự khác biệt giữa các nghiệm thức và dao động trong khoảng 0,119-3,112 mg/L Hàm lượng NO3- đều giảm qua các đợt thu mẫu ở tất cả các nghiệm thức NT20, NT30 và NT40 Theo Dương Thị
Hoàng Oanh và ctv (2011) nghiên cứu khả năng xử lý nước thải của tảo Spirulina platensis, mật độ 20 x 103 tb/mL cho thấy hàm lượng NO3- giảm 66,6% Ở thí nghiệm này NO3- ở nghiệm thức NT20 giảm 45%, như vậy tảo ở thí nghiệm này hấp thu NO3 -chậm hơn
Ngày
Nghiệm thức
1 3,0170,077a 3,0750,174a 3,1120,815a
4 2,6600,191a 1,7180,231b 1,1750,223c
7 2,0590,253a 1,7380,270b 0,6340,073c
10 1,9470,514a 0,9880,334b 0,4590,384b
13 1,6690,116a 0,8130,341b 0,4170,395b
16 1,5370,373a 0,3870,313b 0,3800,219b
19 1,0530,039a 0,3200,061b 0,1190,016b
Ghi chú: Các trị số trong cùng một hàng có ký tự giống nhau là khác biệt không có ý
nghĩa thống kê ( p < 0,05)
Hàm lượng PO43- giữa các nghiệm thức dao động trong khoảng 0,277-2,659 mg/L, giảm dần qua các đợt thu mẫu Theo Ngô Thụy Thùy Tâm (2009), nghiên cứu nuôi sinh khối
tảo S platensis trong phòng thí nghiệm, nuôi trong môi trường zarouk ở mật độ nuôi 30
x 103 tb/mL hàm lượng PO43- trung bình là 12,4±0,75 mg/L cao hơn thí nghiệm này ở cùng mật độ nuôi NT30 hàm lượng PO43- trung bình là 1,0110,114 mg/L có thể do dinh dưỡng trong môi trường zarouk cao hơn trong nước thải ao cá tra
Ngày
Nghiệm thức
1 2,4490,040a 2,5630,049b 2,6590,005c
4 1,3840,055a 1,4740,089a 1,9010,628a
7 0,9150,011a 0,9550,030a 1,5370,034b
10 0,4940,121a 0,6240,074a 1,2971,089a
13 0,4100,094a 0,5560,258a 1,2390,932a
16 0,3200,070a 0,3960,048a 1,1070,043b
19 0,2770,024a 0,5120,249b 0,8670,082b
Ghi chú: Các trị số trong cùng một hàng có ký tự giống nhau là khác biệt không có ý
nghĩa thống kê ( p < 0,05)
Trang 83.1.2 Sự phát triển của tảo Spirulina platensis trong quá trình thí nghiệm
Tảo S.platensis được bố trí với các mật độ khác nhau do đó tỷ lệ sinh trưởng cũng khác
nhau Mật độ tảo cao nhất ở các nghiệm thức lần lượt là 1421,4 x103 tb/mL, 1512,0 x103 tb/mL, 1760,9 x103 tb/mL tương ứng với NT20, NT30 và NT40 Trong 3 nghiệm thức thì NT40 có mật độ tảo phát triển tốt nhất và khác biệt có ý nghĩa so với 2 nghiệm thức còn lại tính từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 14, ngày 17 đến hết thí nghiệm (Bảng 3.1)
Ở NT20 thí nghiệm kéo dài 19 ngày với mật độ bố trí ban đầu 20 x 103
tb/mL, tảo phát triển và đạt mật độ cao nhất ngày 17 và bắt đầu tàn Theo nghiên cứu của Dương Thị
Hoàng Oanh và ctv (2011) khi nuôi S.platensis trong nước thải cá tra với mật độ nuôi
cấy 20 x 103
tb/mL, tảo đạt mật độ cao nhất 48.443 tb/mL và kéo dài đến ngày 10 thì kết thúc thí nghiệm tuy nhiên trong nghiên cứu này với cùng nghiệm thức (20 x 103
tb/mL) đạt kết quả cao hơn (142±1,4 x 103
tb/mL) vào ngày thứ 17 nguyên nhân có thể do dinh dưỡng ở trong nước thải của thí nghiệm này cao hơn nên tảo phát triển cao hơn và thời gian thí nghiệm kéo dài hơn
tb/mL)
Ghi chú: Các trị số trong cùng một hàng có ký tự giống nhau là khác biệt không có ý
nghĩa thống kê ( p < 0,05)
Trang 93.1.3 Tốc độ tăng trưởng của tảo
Tốc độ tăng trưởng của tảo là một trong những chỉ tiêu quan trọng thể hiện sự phát triển tốt của quần thể trong việc thích nghi với môi trường Tốc độ tăng trưởng của tảo đạt cao nhất ở ngày 2 đối với NT40 (0,326), và vào ngày 3 ở NT20 (0,372), NT30 (0,309) do ban đầu mật độ tảo ở NT20 và NT30 còn thấp nên thích nghi chậm hơn so với NT40 Những ngày sau tốc độ tăng trưởng của tảo giảm dần cho đến hết thí nghiệm do các yếu
tố môi trường giới hạn sự phát triển của tảo đều được giải phóng
3.1.4 Chlorophyll-a
Hàm lượng chlorophyll-a dao động trong khoảng 6,66-39,6 mg/L Nhìn chung, chlorophyll-a đều tăng qua các đợt thu mẫu Riêng NT20 và NT30 vào đợt thu mẫu cuối hàm lượng chlorophyll-a giảm do tảo tàn Theo Nguyễn Thị Mộng Thu (2010) nghiên
cứu xác định tỷ lệ thu sinh khối tảo S platensis, với mật độ tảo 37 x 103
tb/mL ở đợt thu mẫu đầu tiên các nghiệm thức đều có hàm lượng chlorophyll-a cao, cao nhất là 27,1 mg/L cao hơn nghiệm thức NT40 (10,2 mg/L) có thể do chiều dài của tế bào tảo ở 2 thí nghiệm khác nhau nên hàm lượng chlorophyll khác nhau
Ngày
Nghiệm thức
Ghi chú: Các trị số trong cùng một hàng có ký tự giống nhau là khác biệt không có ý
nghĩa thống kê ( p < 0,05)
3.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của việc bổ sung vi khuẩn Bacillus subtilis qua sự phát triển của tảo Spirulina platensis trong môi trường nước thải
3.2.1 Các yếu tố môi trường
Nhiệt độ là một trong những nhân tố chủ yếu kiểm soát quá trình nhân đôi của các loài
tảo Spirulina (Tomaselli et al., 1993) Nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm dao động từ
28,5-31,4 oC pH của các nghiệm thức trong quá trình thí nghiệm ít biến động, nằm trong khoảng 10,3-10,8 Ánh sáng là điều không thể thiếu giúp cho tảo quang hợp và phát triển Ánh sáng thí nghiệm được duy trì 24/24, nằm trong khoảng 2107-3286 lux Nhìn chung nhiệt độ, pH và ánh sáng thích hợp cho tảo phát triển
Trang 10Bảng 7 Giá trị trung bình của nhiệt độ, pH và ánh sáng
Chỉ tiêu
Nghiệm thức
ĐC 10 5 10 6 10 7
Nhiệt độ (o
C) 30,10,6 30,30,6 30,00,6 29,90,7
pH 10,70,1 10,70,1 10,60,1 10,70,1 Ánh sáng (Lux) 293392,7 2630233 226199,3 2552136
Hàm lượng TAN dao động trong khoảng 0,042-3,415 mg/L Hàm lượng TAN đều giảm qua các đợt thu mẫu do tảo hấp thu, vào đợt thu mẫu cuối tảo tàn nên hàm lượng TAN không tiếp tục giảm Nghiệm thức đối chứng (ĐC) có hàm lượng TAN thấp hơn các
nghiệm thức có bổ sung vi khuẩn Bacillus (Bảng 8) Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Lê Đông Cung và ctv (2010), khi bổ sung vi khuẩn Bacillus với mật độ
105 và 106 CFU/mL thì hàm lượng TAN lớn hơn đối chứng Do việc bổ sung vi khuẩn
có tác dụng phân giải vật chất hữu cơ tạo ra NH3/NH4+ từ đó làm TAN tăng (Huỳnh Hữu
Điền, 2010)
Ngày
Nghiệm thức
1 3,4150,043a 3,3230,211a 3,3550,531a 3,1330,173a
4 2,0340,387a 2,3330,037a 2,3570,089a 2,3560,042a
7 0,2050,091b 1,2050,075a 1,2170,120a 1,0830,028a
10 0,0420,009a 0,7240,013a 0,5260,015a 0,4360,013a
13 0,0660,027c 0,6290,052a 0,4790,005b 0,0570,012c
16 0,0620,020a 0,6030,022b 0,1340,008a 0,2230,019a
Ghi chú: Các trị số trong cùng một hàng có ký tự giống nhau là khác biệt không có ý
nghĩa thống kê ( p < 0,05)
NO3- là một trong những loại đạm được tảo hấp thu trực tiếp, khi hàm lượng quá cao sẽ làm cho tảo nở hoa từ đó sẽ làm thay đổi chất lượng nước, còn khi hàm lượng quá thấp thì sẽ không đủ cho tảo hấp thu (Trương Quốc Phú, 2006) Hàm lượng NO3
trong thời gian thí nghiệm dao động từ 0,041-7,483 mg/L NO3- ở nghiệm thức (ĐC) cao hơn có ý
nghĩa (p<0,05) so với các nghiệm thức bổ sung vi khuẩn có thể do Bacillus phân hủy
chất hữu cơ thành vô cơ nên tảo ở nghiệm thức có bổ sung hấp thu nhiều hơn đối chứng