Việc phân tích kỹ ván bài đó sẽ tạo nên sự đồng thuận quốc tế nhằm giải quyết xung đột hiện thời, được Trung Quốc tô điểm thành xung đột song phương với các nước lân bang về chủ quyền “k
Trang 1Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS),
Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn –
Đại học Quốc gia Tp.HCM, Việt Nam
Trang 2TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ (SCIS) 1
SCIS Working Papers hướng đến mục đích phổ biến các kết quả nghiên cứu trước khi công bố trên các ấn phẩm khoa học, qua đó khuyến khích sự trao đổi nghiên cứu và tranh luận học thuật Các bài viết thuộc SCIS Working Papers được xem là một bài viết khoa học đang trong quá trình hoàn thiện (work in process), các trích dẫn nội dung trong bài cần được sự đồng ý của tác giả
Quan điểm trong các bài viết hoàn toàn là của riêng tác giả và không đại diện cho quan điểm chính thức của Trung tâm Nghiên cứu quốc tế (SCIS), Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tp.HCM Mọi hình thức sao chép đối với các bài bình luận này đều phải có sự cho phép của Trung tâm SCIS cũng như xác nhận từ tác giả Các sản phẩm của SCIS Working Papers có thể được xem và download trên trang website
http://scis.hcmussh.edu.vn/
Những phản hồi cho bài bình luận xin vui lòng gửi thư về địa chỉ của ban biên tập chuyên mục: lucminhtuanscis@hcmussh.edu.vn
Trang 3TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ (SCIS) 2
Tranh chấp trên Biển Đông Phân tích từ lý thuyết trò chơi
Lê Hồng Nhật1
1 Bản chất của tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông
Chủ quyền quốc gia về vùng đặc quyền kinh tế biển và trật tự hàng hải quốc tế đã được phân định rõ theo công ước quốc tế về luật biển (UNCLOS) Tranh chấp chỉ trở nên căng thẳng, khi Trung Quốc đơn phương đòi hỏi chủ quyền, chiếm tới 80% Biển Đông Và từng bước hiện thực hóa nó bằng việc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của các nước lân bang Ví dụ như vụ đưa dàn khoan 981 vào vùng biển của Việt Nam vào năm 2014
Và tiếp đó trong năm 2015, Trung Quốc tiếp tục tôn tạo, xây đắp các đảo nhân tạo trên các bãi đá thuộc Trường Sa, đã chiếm của Việt Nam bằng vũ lực Để hiểu tại sao những tranh chấp đó có thể xảy ra, chúng ta cần phải hiểu rõ khái niệm về chủ quyền
Chủ quyền của một quốc gia (souvereignty) có thể được hiểu theo hai nghĩa
chính2: (1) Theo sự công nhận của cộng đồng quốc tế, và đi kèm theo đó là các công ước quốc tế về chủ quyền (2) Theo khả năng của nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền của
quốc gia, mà cơ bản nhất là đảm bảo an ninh quốc phòng; bảo vệ quyền của người dân
1 Lê Hồng Nhật tốt nghiệp Tiến Sĩ kinh tế học tại Đại học Stanford (Mỹ), hiện công tác tại Đại học Kinh tế
- Luật, ĐHQG HCM và là nghiên cứu viên không thường trú (Non-Resident Senior Fellow) tại Trung tâm
Nghiên cứu quốc tế (SCIS), Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tp.HCM
2 According to Stephen D Krasner (1999), the term “souvereignty” could be understood in two main ways: (1) domestic sovereignty – actual control over a state exercised by an authority organized within this state (2) international legal sovereignty – formal recognition by other sovereign states,
Trang 4TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ (SCIS) 3
khai thác tài nguyên và sinh sống trên nơi mà cha ông họ đã sinh sống, dù là trên đất liền, hay trên biển đảo Khi hai đòi hỏi này không tương thích nhau, tức là khả năng đảm bảo
về an ninh quốc gia không cân xứng với quyền được công nhận bởi công ước quốc tế, thì
sự tranh chấp về chủ quyền dễ nổ ra
Như vậy, chủ quyền quốc gia không phải là một khái niệm tuyệt đối, có tính vĩnh hằng, mà mang tính tương đối Với sự bất cân xứng vốn có về sức mạnh kinh tế và quân
sự giữa các quốc gia, thì các quan hệ kinh tế, chính trị và quân sự giữa các quốc gia khác
nhau, chia sẻ cùng một lợi ích chiến lược, mà nó phù hợp với công ước và luật pháp quốc
tế, sẽ tạo ra khối liên minh chính thức hay phi chính thức Chẳng hạn như việc Mỹ thúc đẩy việc lập ra khối ASEAN trong thời kỳ chiến tranh lạnh Sức mạnh của khối hay liên minh, tạo ra một sự răn đe hữu hiệu đối với sự chèn ép hay xâm lấn của bất kỳ quốc gia nào mạnh hơn với một quốc gia nhỏ, thuộc liên minh Một khi liên minh bị suy yếu đi, thì
sự cân bằng về trật tự quốc tế và khu vực bị đảo lộn, do xuất hiện những vùng trống về quyền lực Tuy nhiên, sự thay đổi về trật tự khu vực đó có trở thành một xu thế hay
không, phụ thuộc rất nhiều vào tính chính nghĩa của tiến trình như vậy Tức là nó có phù
hợp với chuẩn mực về trật tự quốc tế, được hầu hết các quốc gia trên Thế giới công nhận hay không
Những năm 2008 - 2010 chứng kiến cuộc khủng hoảng toàn cầu, bắt đầu từ Mỹ, lan dần sang các nước Tây Âu Điều đó kéo theo hai hệ lụy: Thứ nhất, Nước Mỹ, do áp lực nợ chồng chất sau 2 cuộc chiến ở Iraq và Afganistan và khủng hoảng kinh tế, đã bị yếu đi rất nhiều về khả năng triển khai sức mạnh cứng để duy trì trật tự quốc tế tại các vùng biển có tính chiến lược Thứ hai, sự suy yếu đi của kinh tế Mỹ sau khủng hoảng, cộng với sự trỗi dậy của Trung Quốc, đã làm thay đổi các dòng thương mại, vốn đầu tư
quốc tế theo hướng biến các nước thuộc vùng ngoại biên (periphery) xích lại gần hơn,
phụ thuộc nhiều hơn vào sức mạnh kinh tế và quyền lực mềm của Trung Quốc Việc Trung Quốc vươn tầm ảnh hưởng về kinh tế, thương mại sang các nước thuộc Đông nam
Á, Châu Phi, và cả Mỹ Latinh, thể hiện xu thế này Nói khác đi, trật tự hiện hữu bị yếu đi Cùng với nó là khả năng bảo vệ chủ quyền của các quốc gia thành viên thuộc liên minh, như Nhật – Mỹ, hay khối hợp tác, như ASEAN, bị thách thức
Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đứng trước hai lựa chọn: Thứ nhất, phối hợp với các cường quốc trên thế giới, đứng đầu là Mỹ, nhằm duy trì trật tự khu vực; củng cố sự
Trang 5TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ (SCIS) 4
ổn định và phát triển phồn thịnh, dựa trên hợp tác và thương mại toàn cầu Thứ hai, thay thế Mỹ, hình thành trật tự thế giới mới và lập liên minh quân sự mới do Trung Quốc đứng đầu, nhằm cưỡng chế sự tuân thủ trật tự mới đó3
Trên thực tế, Trung Quốc đã lựa chọn con đường thứ hai làm mục tiêu dài hạn
của mình Tiến trình này bắt đầu bằng việc vi phạm công ước quốc tế về phân chia lãnh
hải (UNCLOS) trên Biển Đông, nhằm từng bước biến nó thành vùng biển thuộc Trung
Quốc Điểm cốt lõi ở đây là có sự khác biệt rất rõ ràng giữa tuyến hàng hải quốc tế với tuyến hàng hải thuộc địa phận Trung Quốc Khi nẩy sinh mâu thuẫn chính trị hay xung đột về lợi ích, Trung Quốc có thể dùng quyền kiểm soát để cấm quốc gia có liên quan thông thương trên vùng Biển Đông, mặc dù về nguyên tắc, Trung Quốc cam kết duy trì tự
do hàng hải Sự chèn ép ở quy mô quốc tế này không thể xảy ra, nếu Trung Quốc không
thể áp đặt được quyền kiểm soát trên thực tế (de facto control rights) về vùng biển bị bao
quang bởi đường chữ U Như vậy, xung đột chủ quyền tại Biển Đông hiện nay không phải chỉ là vấn đề song phương, mà là vấn đề về an ninh khu vực và thương mại toàn cầu Trung Quốc hiểu rất rõ điều đó, và Trung Quốc hiểu rằng, Mỹ, Nhật và các cường quốc khác trên Thế giới, cũng hiểu là Trung Quốc đang toan tính gì Cuộc chơi chèn ép
(holdup problem) trên bình diện quốc tế này thể hiện tham vọng mà Trung Quốc đang
theo đuổi trong dài hạn Việc phân tích kỹ ván bài đó sẽ tạo nên sự đồng thuận quốc tế nhằm giải quyết xung đột hiện thời, được Trung Quốc tô điểm thành xung đột song phương với các nước lân bang về chủ quyền “không thể tranh cãi”, mà Trung Quốc là bên bị xâm hại
2 Chủ quyền quốc gia và vấn đề chèn ép
Như đã nêu, mục tiêu dài hạn của Trung Quốc là nhằm kiểm soát con đường hàng hải quốc tế, đi từ Trung cận đông qua Ấn Độ Dương, và đi vào Biển Đông Theo đà tăng trưởng kinh tế, con đường biển này ngày càng trở nên có tính sống còn với Trung Quốc4
3 Theo Viện nghiên cứu của Trung Quốc, Unirule (2011)
4 Hiện tại 80% dầu của Trung Quốc vận chuyển qua con đường biển quốc tế này Khối lượng chuyên trở dầu sẽ tăng từ 10 triệu thùng (10 millions barrels) một ngày vào năm 2002 lên 20 triệu thùng một ngày vào năm 2020
Trang 6TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ (SCIS) 5
Nhưng nó cũng có tính chất sống còn với Mỹ, Nhật và các nước trong vùng Một sự hợp tác an ninh hàng hải quốc tế giữa Trung Quốc với Mỹ, Nhật và ASEAN sẽ là lý tưởng cho sự ổn định và phồn thịnh của khu vực Nhưng việc biến vùng biển quốc tế đó thành lãnh hải thuộc địa phận Trung Quốc, lại là một bảo đảm an ninh hơn cho Trung Quốc, với cái giá là chủ quyền của các nước nhỏ hơn trong khu vực bị xâm hại Nói khác đi, chúng
ta đang chứng kiến một tiến trình mà Trung Quốc đang tìm cách chèn ép các nước nhỏ để
vẽ lại bản đồ khu vực Sự chèn ép, hay tranh chấp song phương về chủ quyền biển đảo,
quyền khai thác dầu và đánh bắt cá, chỉ là bước đi ban đầu, được lồng trong một tranh chấp lớn hơn về quyền kiểm soát đường hàng hải chiến lược đi qua Biển Đông, với hơn 1/3 thương mại toàn cầu đi qua vùng biển này Để tránh một cuộc xung đột về quyền tự
do hàng hải trong tương lai, chúng ta phải hiểu rõ sự được mất của mỗi bên trong cuộc chơi chèn ép về chủ quyền song phương, mà Trung Quốc đang tiến hành Trung Quốc kỳ vọng gì? Và tại sao việc chèn ép các nước nhỏ lại là các bước đệm ngắn hạn cho việc đạt mục tiêu dài hạn của Trung Quốc là kiểm soát con đường hàng hải chiến lược qua Biển Đông? Việc trả lời các câu hỏi như vậy sẽ cho phép tìm ra cơ chế thúc đẩy an ninh khu vực, thông qua các giải pháp thương lượng hòa bình
Để cụ thể, hãy nhìn lại vụ Trung Quốc cắt cáp tham dò dầu khí của Tàu Bình minh 02 của Việt Nam vào các năm 2011, 2012, hay là việc đưa dàn khoan 981 vào lãnh hải Việt Nam vào năm 2014 Hoặc việc Trung Quốc cho xây dựng cột sắt và thả phao ở bãi Amy Douglas vào 2011 và chiếm bãi cạn Scarborough vào 2012 Trước các hành động gây hấn như vậy của Trung Quốc, phía Việt Nam và Philippines có thể có năm lựa chọn chính: Thứ nhất, không có phản ứng gì Thứ hai, ra công hàm phản đối hành động gây hấn của Trung Quốc trên các diễn đàn song phương hoặc đa phương, như tại Liên hiệp quốc Thứ ba, đem vụ việc ra kiện ở Tòa án Quốc tế Thứ tư, có hành động tự vệ một cách kiềm chế, nhưng thực chất, vẫn sẵn lòng nhân nhượng để tránh xung đột leo thang Chẳng hạn như việc Philippines cho nhổ các cột sắt, hoặc cho bắt giữ tàu đánh cá Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và đòi xử họ theo luật Hay Việt Nam cho lực lượng cảnh sát biển ra yêu cầu phía Trung Quốc di rời dàn khoan 981 Thứ năm, kiên quyết bảo vệ sự toàn vẹn chủ quyền, mà không có bất cứ một sự nhân nhượng nào Ví dụ như việc Nhật quốc hữu hóa Senkaku; và Mỹ tuyên bố đưa Senkaku vào trong phạm vi của hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ
Trang 7TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ (SCIS) 6
Cần phải nói rằng, nếu vụ việc chỉ gói gọn trong xung đột có tính song phương,
thì việc ra công hàm phản đối cũng gần giống như không làm gì cả Mặt khác, việc đem
ra kiện tại tòa án quốc tế về tranh chấp đánh bắt cá hay khai thác dầu, thường hết sức tốn kém, mất thời gian và dễ bị làm cho rắm rối, do luật quốc tế không thể đủ chi tiết để áp dụng ngay cho việc xử các vụ kiện như vậy Cuối cùng, khi xảy ra một chuỗi các vụ tranh chấp liên tiếp, thì tính phức tạp của vụ việc chỉ có tăng Và nguy cơ xung đột có thể nổ
ra Điều đó dĩ nhiên chỉ có lợi cho bên lớn hơn, dùng sức mạnh để chèn ép, hơn là bên nhỏ hơn, bị xâm hại, nhưng buộc phải phản ứng có kiềm chế và thỏa hiệp Về lâu dài, điều đó cũng giống như không làm gì để tránh nổ ra xung đột
Như vậy, xét trên quan điểm của Trung Quốc, việc gây hấn về quyền đánh bắt cá hay khai thác dầu trong vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia nhỏ hơn trên Biển Đông
sẽ có lợi ở chỗ: (i) Trung Quốc có thể giữ cho mức độ xung đột đủ nhỏ, để mâu thuẫn
mang tính song phương, mà phía bị xâm hại ít làm được gì để thay đổi cục diện tình hình;
và (ii) Chuỗi xung đột phải đủ liên tục và đều khắp ở các điểm chiến lược trên Biển
Đông, để biến các sự việc đã rồi thành quyền kiểm soát trên thực tế của Trung Quốc về việc khai thác các nguồn lợi, mà chỉ quốc gia có chủ quyền được phép làm Nói rõ hơn, việc Philippines xua đuổi tàu cá Trung Quốc hay nhổ cọc ở bãi đá mà Trung Quốc vừa dựng lên chỉ làm tăng rủi ro bị Bắc kinh tuyên bố rằng, Philippines sẽ phải hứng chịu các hành động “chấp pháp” của Trung Quốc Sức mạnh quân sự vượt trội và ngày càng mạnh của Trung Quốc khiến cho nước nhỏ trong vùng phải đối mặt với rủi ro là sẽ chịu tổn thất rất lớn, nếu một mình dám cưỡng lại hành động “chấp pháp” của Trung Quốc Nhìn trước kết cục như vậy, nước nhỏ đó có thể phải ngồi yên không làm gì, ngoài việc ra công hàm phản đối, mà về thực chất cũng là không làm gì Chính vì logic của sự chèn ép đó, mà Việt Nam ngồi yên, khi Trung Quốc ra lệnh cấm bắt cá trong thời gian dài, trên một vùng biển rộng lớn, bao gồm cả thềm lục địa của Việt Nam Cam chịu sẽ dần biến thành sự buộc phải chấp thuận quyền kiểm soát trên thực tế của Trung Quốc đối với Biển Đông Khi đó, việc có hay không các công ước về luật Biển, bao hàm cả UNCLOS, thì cũng chẳng thể làm được gì nhiều để thay đổi một thực tế: Đường chữ U đã được xác lập dần trên thực tế Điều đó bao hàm rằng, đường hàng hải chiến lược đi qua Biển Đông, dần sẽ thuộc về Trung Quốc Các nước khác sẽ buộc phải tuân thủ trật tự mới, được cưỡng chế
Trang 8TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ (SCIS) 7
bởi sức mạnh quân sự của Trung Quốc, theo dự đoán là có thể thách thức Mỹ ở Tây Thái bình Dương vào năm 2030
Chiến lược chèn ép của Trung Quốc nhằm thôn tính Biển Đông có thể được tóm tắt như sau:
Ngay sau vụ việc Trung Quốc xâm hại quyền khai thác tài nguyên thuộc chủ quyền nước khác, như đánh bắt cá hoặc khai thác dầu của Việt Nam / Philippines Cụ thể
là vụ dàn khoan 981 Nếu không gặp phải phản ứng gì, thì Trung Quốc sẽ ghi được 1 điểm trong chuỗi các bước chèn ép nhằm thôn tính Biển Đông Trong hoàn cảnh đó, Việt Nam / Philippines bị mất 1 điểm trong việc bảo vệ chủ quyền
Một lựa chọn khác là thay vì ngồi yên, Việt Nam / Philippines có thể có phản ứng
tự vệ một cách cương quyết, phù hợp với thỏa thuận khu vực và công ước quốc tế Nhưng ngay sau khi vấp phải sự phản ứng tự vệ đó của Việt Nam / Philippines, Trung Quốc có thể đáp lại bằng hai cách: Thứ nhất, tôn trọng cam kết của mình về nguyên tắc ứng xử Biển Đông (DOC) và Luật Biển quốc tế (UNCLOS) Khi đó, các bên đạt được sự hòa giải sau xung đột vừa xảy ra Trung Quốc không ghi thêm được điểm nào trong chuỗi các bước thôn tính Biển Đông (ghi điểm 0) Và Việt Nam / Philippines cũng không bị mất điểm về chủ quyền (tức là “mất” 0 điểm)
Ngược lại, Trung Quốc có thể nuốt lời hứa tôn trọng thỏa thuận khu vực và Luật quốc tế Cụ thể là Trung Quốc tô vẽ lại vụ việc xung đột vừa xảy ra như mình là bên bị xâm hại và vì vậy, buộc phải có hành động “chấp pháp” Với sự bất cân xứng về sức mạnh kinh tế và quân sự, phần thắng trong xung đột song phương sẽ thuộc về kẻ nào mạnh hơn, bất kể công lý Cụ thể là, Trung Quốc ghi được 2 điểm liên tiếp trong chuỗi các bước “xác định lại” trật tự khu vực Việt Nam / Philippines bị mất 2 điểm Các tình huống trên được biểu diễn bởi lược đồ sau:
Trang 9TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ (SCIS) 8
Sơ đồ 1: Cuộc chơi chèn ép chủ quyền song phương do Trung Quốc tiến hành
Ta có thể thấy là, nếu Việt Nam / Philippines “phản ứng tự vệ” một cách đơn
phương, thì việc “xác định lại” trật tự khu vực sẽ diễn ra nhanh hơn Nhìn trước kết cục
như vậy, thì ngay từ đầu, khi vừa xảy ra việc Trung Quốc gây hấn (vụ giàn khoan 981, hay vụ chiếm bãi cạn Scarborough), Việt Nam / Philippines sẽ chọn việc gửi công hàm phản đối, hoặc kiên trì thuyết phục, tuyên truyền, mà không có hành động tự vệ trên thực
tế Kết cục là Trung Quốc chỉ ghi được 1 điểm Việt Nam / Philippines chỉ bị mất có 1 điểm về bảo vệ chủ quyền Dù sao đi nữa, chủ quyền của Việt Nam / Philippines vẫn bị xâm hại
3 Đa phương hóa việc xử lý chèn ép lãnh thổ
Trong cuộc chơi chèn ép song phương đã mô tả ở trên, điểm mạnh của Việt Nam / Philippines là công luận quốc tế đứng về phía mình Tính phiêu lưu trong chiến lược chèn
ép của Trung Quốc là nó ngày một đẩy Mỹ và các đồng minh của Mỹ là Nhật Bản, Tây
Âu, bao gồm cả Úc, và cả Ấn Độ, vào thế phải đối đầu với Trung Quốc trong một cuộc cạnh tranh về tự do hàng hải Cụ thể là xung đột trong tương lai về quyền tự do lưu thông
và an ninh hàng hải ở Tây Thái bình dương, mà nó có thể lan sang Ấn Độ dương, một
Trung Quốc
Tôn trọng thỏa ước
Xác định lại
Trang 10TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ (SCIS) 9
khi Việt Nam / Philippines và các nước trong khu vực bị mất dần chủ quyền và rơi vào quỹ đạo của Trung Quốc Như vậy, song song với cuộc chơi chèn ép các nước nhỏ, Trung Quốc tiến hành một cuộc chơi khác, giành thế và lực trong cuộc cạnh tranh hay đối đầu trong tương lai về trật tự khu vực với Mỹ, Nhật, Úc và cả Ấn Độ Xét ở thời điểm hiện tại, hai cuộc chơi này không phải là không liên đới nhau
Cụ thể là, trước sự chèn ép của Trung Quốc, việc gia nhập vào khối các quốc gia, liên kết với nhau ngày càng mạnh hơn về thể chế tổ chức, trao đổi thương mại, và gìn giữ
an ninh khu vực, tự nó sẽ cho phép Việt Nam / Philippines bảo vệ chủ quyền của mình hữu hiệu hơn Một khi khả năng tự chủ của Việt Nam / Philippines về thể chế tổ chức,
kinh tế, và an ninh, tăng lên, thì sẽ làm tăng khả năng “tái cân bằng” (rebalance) ảnh
hưởng địa chính trị giữa các cường quốc tại khu vực Đông Nam Á Tức là làm tăng khả năng đối thoại và hợp tác trong cuộc chơi thứ hai, nhằm bảo vệ trật tự hiện hữu tại khu vực
Phân tích trên đây cho thấy, cuộc chơi chèn ép chủ quyền song phương mà Trung Quốc tiến hành với nước nhỏ hơn trong vùng đã thay đổi về bản chất Bây giờ, nó bị kết nối với cuộc chơi khác, nhằm xác định trật tự hàng hải giữa Trung Quốc và Mỹ Cuộc
chơi thứ hai không đơn thuần là sự đối đầu trực diện giữa hai siêu cường Nó được lồng trong việc hình thành khối các quốc gia liên kết về nhiều mặt trong quan hệ quốc tế, chẳng hạn như việc ký kết TPP, nhằm đối trọng lại với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á, mà tranh chấp Biển Đông là tâm điểm Để hiểu những kết cục gì có thể xảy ra trong tương lai, chúng ta hãy hiện thực hóa hơn nữa cuộc chơi chèn ép song phương, mô tả ở Sơ đồ 1, bằng việc đưa thêm vào sự lựa chọn của Việt Nam (hoặc Philippines) tham gia vào khối hợp tác giữa các quốc gia, như hợp tác TPP
Cuộc chơi trong Sơ đồ 2 khác với cuộc chơi chèn ép song phương, mô tả ở Sơ đồ
1, ở chỗ Việt Nam có thêm sự lựa chọn tham dự vào quan hệ đối tác trên nhiều lĩnh vực với một khối các quốc gia Để cho cụ thể, ta hãy lấy triển vọng ký kết TPP làm ví dụ
Chúng ta đơn giản hóa những chi tiết không cần thiết và giả sử rằng, TPP chỉ bao gồm Việt Nam và Mỹ Sau khi Việt Nam xin gia nhập TPP, thì Mỹ và Việt Nam sẽ cùng tham dự một cuộc chơi phối hợp, xác định tương lai của TPP Một triển vọng lạc quan là,
Mỹ và Việt Nam sẽ cam kết thúc đẩy các thay đổi về thể chế kinh tế Chẳng hạn như việc chấm dứt trợ cấp các doanh nghiệp Nhà nước Quan trọng hơn, đó là việc du nhập dần
Trang 11TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ (SCIS) 10
các thể chế quản trị tiến bộ từ các nền kinh tế thị trường hiện đại vào xã hội truyền thống
ở Việt Nam Nhờ vậy, năng suất lao động và suất sinh lời của vốn tăng lên Tức là làm tăng khả năng thu hút vốn FDI; cũng như tạo ra dòng lao động có chất lượng cao chẩy vào Việt Nam5 Hệ quả là có sự gia tăng giao dịch thương mại hai chiều và tăng trưởng kinh tế bền vững của cả hai quốc gia Điều này đã diễn ra trong quan hệ song phương giữa Mỹ với Singapore; Hong Kong, Đài loan, hoặc Hàn Quốc, trong thập niên 1960-70
Và quan hệ hợp tác đó tiếp tục phát triển cho tới ngày nay
Trong triển vọng trung và dài hạn, sự gia tăng sức mạnh kinh tế - thương mại của
toàn khối sẽ cho phép tái cân bằng lại ảnh hưởng của các cường quốc tại Châu Á – Thái
bình Dương, trước một Trung Quốc đang lên Trong bối cảnh như vậy, Mỹ sẽ có lợi ích lớn hơn (và tổn phí ít hơn) trong việc “cam kết” bảo vệ trật tự khu vực và tự do hàng hải tại Biển Đông, mà nó là điều kiện cần thiết cho tự do thương mại trong toàn khối TPP
5 Điều này ngược với suy nghĩ của nhiều chính sách gia tại Việt Nam cho rằng lợi thế lao động rẻ và suất thuế thấp đánh vào việc sử dụng tài nguyên, như đất đai, là cái thu hút FDI Nếu không có sự tiến bộ về tổ chức và công nghệ, thì khả năng thu hút FDI ngày càng có xu hướng chậm lại, khi tỷ lệ FDI/GDP ngày càng cao
Trang 12TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ (SCIS) 11
Sơ đồ 2: Cuộc chơi chèn ép chủ quyền khi kết nối với cuộc chơi xác định trật tự hàng
hải6
Để cho cụ thể, ta xem rằng, nếu Trung Quốc “tôn trọng thỏa ước”, bao gồm cả
UNCLOS, thì Mỹ sẽ được lợi 4 điểm Ngược lại, nếu Trung Quốc muốn “xác định lại”
bản đồ khu vực, nhưng Mỹ giữ “cam kết” bảo vệ trật tự hiện hữu, thì Mỹ vẫn được lợi
ròng là 1 điểm Với điều kiện là TPP được làm cho có hiệu lực Về phía mình, Trung
Quốc cũng sẽ thấy có lợi hơn trong việc “tôn trọng thỏa ước”, vì nó thúc đẩy giao thương
quốc tế và có lợi cho tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc (được 1 điểm) Lựa chọn đó rõ
ràng là tốt hơn việc “xác định lại” bản đồ khu vực, vì Trung Quốc sẽ vấp phải cam kết
của Mỹ và các quốc gia khác trong việc duy trì công ước quốc tế về biển, UNCLOS
Trong đó có quy định về vùng đặc quyền kinh tế của từng quốc gia, và quyền tự do hàng
hải quốc tế (mất 1 điểm)
6 Trong Sơ đồ 2, cuộc chơi chèn ép song phương được viết gọn lại là kết cục Việt Nam “không phản ứng”
Và bên cạnh đó, Việt Nam có lựa chọn là gia nhập TPP
Trang 13TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ (SCIS) 12
Như vậy, khả năng cam kết duy trì trật tự khu vực được làm cho có hiệu lực Điều
đó bao hàm rằng, thay vì bị chèn ép song phương, Việt Nam sẽ hưởng lợi nhờ hợp tác đa phương TPP (được 1 điểm) Nhìn thấy triển vọng đó, Việt Nam sẽ tham gia TPP và cam kết cải cách thể chế kinh tế Chuyến thăm lịch sử của Tổng bí Thư Nguyễn Phú Trọng
sang Mỹ đã đánh dấu sự khởi đầu của một tiến trình như vậy
Nhưng một cách thực tế, chúng ta phải nhìn nhận một khả năng khác, là sau khi Việt Nam gia nhập TPP, cuộc chơi phối hợp giữa Việt Nam và Mỹ đem lại kết cục tồi: sự khác biệt về thể chế tổ chức, khoảng cách về năng suất lao động và năng lực cạnh tranh giữa hai nền kinh tế ngày càng mở rộng TPP vẫn chỉ là sân chơi của các quốc gia đã phát triển nhất Và sự thay đổi về thể chế, theo hướng thúc đẩy tiến bộ về kinh tế và xã hội ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, bị dậm chân tại chỗ hoặc bị đảo lộn
Trước một Trung Quốc đang lên, và sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất trong vòng một thập kỷ tới, thì các nước nhỏ ở vùng ngoại vi, bao gồm cả Việt Nam, sẽ rơi vào quỹ đạo của Trung Quốc Và chiến lược “tái cân bằng” của Mỹ sẽ bị suy yếu nghiêm trọng; hoặc có nguy cơ bị phá sản Mỹ sẽ đứng trước một triển vọng là có lợi ích ít hơn nhiều (và tổn phí cao hơn nhiều) trong việc “cam kết” bảo vệ trật tự khu vực, bao hàm cả việc duy trì công ước quốc tế về luật Biển (UNCLOS) tại khu vực có tranh chấp là Biển Đông Trong khi đó, hiệp định tự do thương mại giữa Trung Quốc với ASEAN, hoặc với Hàn Quốc và Nhật Bản, có thể phát huy ảnh hưởng, làm yếu liên kết TPP Trung Quốc khi đó
sẽ trở nên quyết đoán hơn trong tranh chấp trên Biển Đông
Như vậy, có sự thay đổi về kỳ vọng được / mất trong chiến lược của cả Mỹ và Trung Quốc Cụ thể là, nếu Mỹ tiếp tục giữ “cam kết”, thì tổn thất có thể sẽ lớn hơn, so với việc Mỹ “thỏa hiệp” với Trung Quốc, một khi Trung Quốc quả quyết hơn trong việc khẳng định chủ quyền đơn phương tại Biển Đông Ngược lại, Trung Quốc sẽ chịu tổn thất nhiều hơn, nếu không nắm quyền kiểm soát tuyến đường hàng hải huyết mạch Vì nó đảm bảo cho thương mại của Trung Quốc với Châu Á và phần còn lại của Thế giới không
bị làm chao đảo bởi tranh chấp, dẫn đến xung đột trên biển
Nói khác đi, Trung Quốc có chiến lược trội (dominant strategy) là “xác định lại”
trật tự khu vực Trong khi Mỹ sẽ phải chịu tổn phí cao hơn nếu giữ “cam kết”, hơn là
“thỏa hiệp” Vì vậy, Mỹ sẽ nghiêng về phía “thỏa hiệp” (Xem sơ đồ 3, phần phụ lục)