Hiện tại, chất thải rắn y tế ở bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho môi trường dân cư xung quanh, gây dư luận trong cộng đồng. Việc xử lý chất thải rắn y tế đang trở thành một bài toán khó đối với các nhà quản lý tại hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế đang phát triển trong đó có Việt Nam. Bệnh viện Đa Khoa Khu Vực Triệu Hải đã được hình thành và đang phát triển mạnh mẽ trong những năm qua khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong quá trình phát triển chung của đất nước. Nhờ những nỗ lực phấn đấu không ngừng đó mà bệnh viện đã đạt được nhiều thành quả đáng kể trong công tác khám chữa bệnh, phòng bệnh và chăm lo sức khỏe cho người dân. Bên cạnh những thành quả đạt được thì, hiện nay, vấn đề nhức nhối tại bệnh viện là tình trạng CTRYT thải ra với khối lượng khá lớn, đa phần là chất thải nguy hại mà hệ thống quản lý CTRYT chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường.
Trang 1LỜI CÁM ƠN
Trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội,tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Khoa Đào tạo sau đại học, của các Nhà giáo đã tậntình trang bị cho tôi kiến thức để tự tin bước vào công tác và hoạt động nghềnghiệp
Trước hết, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trường Đại họcKiến Trúc Hà Nội, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thờigian học tập tại trường
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Tiến Sĩ: Nghiêm Vân Khanh đã dành rấtnhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn tập thể cán bộ phòng Nội Vụ của Bệnh việnĐKKV Triệu Hải, Thị xã Quảng Trị, Tỉnh Quảng Trị đã tạo điều kiện cho tôi điềutra khảo sát để có dữ liệu viết đồ án Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồngnghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện đồ án bằng tất cả sự nhiệt tình vànăng lực của mình, tuy nhiên, không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhậnđược những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Thoa
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Đồ án “Giải pháp xử lý tại chỗ chất thải rắn y tế nguy hạibằng công nghệ không đốt tại Bệnh viện Đa Khoa Khu Vực Triệu Hải - Thị xãQuảng Trị - Tỉnh Quảng Trị” là đề tài nghiên cứu của bản thân tôi với sự giúp đỡcủa giảng viên hướng dẫn Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng một số tàiliệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danhmục tài liệu tham khảo của luận văn
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Thoa
MỤC LỤC Lời cảm ơn
Trang 3Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng, biểu
Danh mục các hình vẽ
MỞ ĐẦU 8
Tính cấp thiết của đề tài 8
Mục tiêu nghiên cứu 1
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
Phương pháp nghiên cứu 2
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Cấu trúc luận văn 3
Các khái niệm, thuật ngữ liên quan đến luận văn 3
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ Ở MỘT SỐ BỆNH VIỆN CỦA VIỆT NAM VÀ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC TRIỆU HẢI 5
1.1 Tình hình xử lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện của Việt Nam 5
1.1.1 Tái chế chất thải y tế 5
1.1.2 Xử lý chất thải y tế thông thường 6
1.1.3 Xử lý chất thải y tế nguy hại 6
1.2 Giới thiệu chung về Bệnh viện Đa khoa Khu vực Triệu Hải 10
1.2.1 Thông tin chung về bệnh viện 10
1.2.2 Cơ cấu tổ chức của bệnh viện 14
1.3 Tình hình phát sinh, đặc điểm thành phần, tính chất và công tác xử lý CTR Y tế tại bệnh viện Đa khoa khu vực Triệu Hải 18
Trang 41.3.1 Phát sinh chất thải tại bệnh viện 18
1.3.2 Đặc điểm thành phần, tính chất của chất thải rắn y tế tại bệnh viện 19
1.3.3 Thu gom, lưu trữ, phân loại chất thải rắn y tế tại bệnh viện 21
1.3.4 Xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện 24
1.4 Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại BVĐK Khu vực Triệu Hải 26
1.4.1 Những mặt đã đạt được 26
1.4.2 Những điểm còn hạn chế 27
1.4.3 Những vấn đề thách thức trong thời gian tới 28
CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ NGUY HẠI BẰNG CÔNG NGHỆ KHÔNG ĐỐT CHO BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC TRIỆU HẢI 30
2.1 Cơ sở pháp lý liên quan đến công tác xử lý chất thải rắn y tế nguy hại 30
2.1.1 Các văn bản pháp lý cấp Nhà nước ban hành 30
2.1.2 Các văn bản pháp lý cấp tỉnh Quảng Trị ban hành 31
2.2 Cơ sở khoa học của phương pháp xử lý CTRYT nguy hại bằng công nghệ không đốt 31
2.2.1 Mục đích và ý nghĩa 31
2.2.2 Các loại hình công nghệ không đốt 33
2.2.3 Các tiêu chí cơ sở để lựa chọn công nghệ 52
2.3 Các bài học kinh nghiệm xử lý chất thải rắn y tế nguy hại trên thế giới và Việt Nam 61
2.3.1 Xử lý chất thải rắn y tế nguy hại tại các nước trên thế giới 61
2.3.2 Xử lý chất thải rắn y tế nguy hại tại Việt Nam 62
CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ NGUY HẠI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC TRIỆU HẢI 64
Trang 53.1 Đề xuất mô hình xử lý CTR Y tế nguy hại cho BVĐK Khu vực Triệu Hải 64
3.1.1 Những tiêu chí lựa chọn mô hình xử lý CTR y tế nguy hại 64
3.1.2 Các loại mô hình xử lý chất thải rắn y tế nguy hại 64
3.1.3 Phân tích lựa chọn mô hình xử lý CTR y tế nguy hại cho bệnh viện 68
3.2 Đề xuất loại hình công nghệ không đốt để xử lý tại chỗ chất thải rắn y tế nguy hại 71
3.2.1 Chất thải y tế nguy hại được xử lý tại chỗ bằng công nghệ vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa 75
3.2.2 Chất thải y tế nguy hại được xử lý tại chỗ bằng công nghệ nhiệt ướt 80
3.3 Xác định công nghệ xử lý cho BVĐK Khu vực Triệu Hải 85
3.3.1 So sánh các tiêu chí đánh giá lựa chọn của hai công nghệ 85
3.3.2 Lựa chọn công nghệ cho BVĐK Khu vực Triệu Hải 96
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6Chữ viết tắt Tên đầy đủ
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Tái chế và tái sử dụng găng tay khám bệnh để bán Hình 1.2 Minh họa về hạn chế của công nghệ đốt CTYT nguy hại Hình 1.3 Bệnh viện Đa khoa khu vực Triệu Hải
Trang 7Hình 1.5 Nhà lưu giữ rác
Hình 3.1 Các loại mô hình xử lý chất thải rắn y tế nguy hại
Hình 3.2 Chu trình xử lý tại chỗ chất thải y tế nguy hại
Hình 3.3 Mô hình xử lý chất thải y tế theo cụm của bệnh viện Đa Khoa
Triệu Hải
Hình 3.5 Máy cắt nghiền chất thải y tế SHREDTION
Hình 3.7 Cấu tạo nồi hấp chất thải y tế lây nhiễm
Hình 3.9 Cấu tạo hố chôn vật sắc nhọn
Hình 3.10 Cấu tạo hố chôn chất thải giải phẫu
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Số hiệu
Bảng 1.1 Sự biến động về khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại các
loại cơ sở y tế khác nhau Bảng 1.2 Phân bổ diện tích trong bệnh viện
Bảng 1.3 Kết quả khám chữa bệnh của BVĐK khu vực Triệu Hải Bảng 1.4 Thống kê cán bộ nhân viên của bệnh viện
Bảng 1.5 Ngân sách hoạt động của bệnh viện
Trang 8Bảng 2.1 Nồng độ NaOCl sử dụng trong lĩnh vực y tế
Bảng 2.2 So sánh khả năng tiêu diệt mầm bệnh của các phương pháp áp dụng Bảng 2.3 So sánh khả năng giảm thể tích CTNH sau xử lý của một số
phương pháp Bảng 3.1 Dự tính khối lượng CTYTNH phát sinh cần xử lý tại các bệnh viện
dự kiến tới năm 2025 Bảng 3.2 Thể tích CTRYT nguy hại tại BVĐK Khu vực Triệu Hải sau xử lý
áp dụng công nghệ vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa Bảng 3.3 Thể tích CTRYT nguy hại sau xử lý áp dụng công nghệ nhệt ướt Bảng 3.4 So sánh khả năng tiêu diệt mầm bệnh của hai công nghệ Bảng 3.5 So sánh khả năng giảm thể tích chất thải sau xử lý
Bảng 3.6 Tổng chi phí mua sắm thiết bị phương án 1
Bảng 3.7 Tổng chi phí mua sắm thiết bị phương án 2
Bảng 3.8 Hệ thống các tiêu chí và thang điểm đánh giá công nghệ vi sóng
kết hợp hơi nước bão hòa
Trang 9MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Hiện tại, chất thải rắn y tế ở bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và
xã hội cấp bách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho môitrường dân cư xung quanh, gây dư luận trong cộng đồng
Việc xử lý chất thải rắn y tế đang trở thành một bài toán khó đối với các nhàquản lý tại hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế đangphát triển trong đó có Việt Nam
Bệnh viện Đa Khoa Khu Vực Triệu Hải đã được hình thành và đang pháttriển mạnh mẽ trong những năm qua khẳng định được vai trò quan trọng của mìnhtrong quá trình phát triển chung của đất nước Nhờ những nỗ lực phấn đấu khôngngừng đó mà bệnh viện đã đạt được nhiều thành quả đáng kể trong công tác khámchữa bệnh, phòng bệnh và chăm lo sức khỏe cho người dân Bên cạnh những thànhquả đạt được thì, hiện nay, vấn đề nhức nhối tại bệnh viện là tình trạng CTRYT thải
ra với khối lượng khá lớn, đa phần là chất thải nguy hại mà hệ thống quản lýCTRYT chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường
Phần lớn các CTR y tế phát sinh đều là CTNH luôn tiềm ẩn những nguy cơ gây
Trang 10bệnh cao và cần được xử lý đúng theo quy định Việc xử lý CTRYT chủ yếu vẫndùng công nghệ lò đốt Tuy nhiên, bên cạnh một số ưu điểm, công nghệ này càngtrở nên không phù hợp do phát thải các chất nguy hại tiềm ẩn, giá cả lại đắt đỏ vàthiếu hiệu quả kinh tế Để giải quyết các vấn đề này, các nhà công nghệ đã nghiêncứu và phát triển những công nghệ không đốt phù hợp với khuyến cáo của tổ chứcmôi trường quốc tế như Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc(UMEP) QũyMôi trường toàn cầu(GEF), Tổ chức Y tế thế giới(WHO), Tổ chức Thực hành y tếkhông gây hại(HCWH).
Nhận thức rõ được tầm quan trọng trong việc xử lý chất thải rắn y tế và nhữngmối nguy hại trực tiếp hoặc tiềm ẩn của chất thải y tế gây ra đối với môi trường và
con người thì đề tài “Giải pháp xử lý tại chỗ chất thải rắn y tế nguy hại bằng công nghệ không đốt tại Bệnh viện Đa Khoa Khu Vực Triệu Hải – Thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị” là hết sức cần thiết, nhằm cải thiện tình trạng ô nhiễm cho môi
trường tại bệnh viện cũng như môi trường xung quanh
Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá hiện trạng công tác xử lý chất thải rắn y tế tại BVĐK
Khu Vực Triệu Hải
- Đề xuất những giải pháp xử lý chất thải rắn y tế đáp ứng quy định theo tiêu
chuẩn, quy chuẩn ban hành và phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của địa phươngnhằm:
+ Thu hồi, tái chế những chất thải có thể tái chế, tái sử dụng
+ Bảo vệ môi trường, giảm ô nhiễm tại bệnh viện cũng như môi trườngxung quanh bệnh viện
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chất thải rắn y tế nguy hại
- Phạm vi nghiên cứu: Bệnh viện Đa Khoa Khu Vực Triệu Hải, Thị xã QuảngTrị, Tỉnh Quảng Trị
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra thực địa
Trang 11+ Khảo cứu tài liệu : Tham khảo các tài liệu liên quan như Quy chế quản lýchất thải y tế số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 về việc ban hành quy chế quản
lý chất thải y tế
+ Khảo sát thực địa: Khảo sát, thu thập các hình ảnh, số liệu ở bệnh việnĐKKV Triệu Hải
- Phương pháp thống kê, kế thừa:Phương pháp thống kê nhằm thu thập và xử
lý số liệu một cách tổng quan về tình hình quản lý CTRYT tại bệnh viện ĐKKVTriệu Hải, Thị xã Quảng Trị So sánh, xác định độ tin cậy của số liệu, xử lý và tổnghợp số liệu
- Phương pháp so sánh, tổng hợp
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Cung cấp cơ sở dữ liệu từ điều tra thực tế về tình hình quản lý rác thải y tếtại bệnh viện, thực trạng về hệ thống quản lý CTRYT trong khu vực bệnh viện
- Giải pháp đề xuất góp phần:
+ Giảm thiểu ô nhiễm, nâng cao hiệu xử lý chất thải rắn y tế
+ Chất thải y tế được thu hồi, tái chế, tái sử dụng và được xử lý bằng nhữngcông nghệ tiên tiến và phù hợp nhằm cải thiện và hạn chế ô nhiễm của bệnh viện
Cấu trúc luận văn
Các khái niệm, thuật ngữ liên quan đến luận văn [8]
+ Chất thải rắn y tế là vật chất ở thể rắn, được thải ra từ các cơ sở y tế baogồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường
Trang 12+ Chất thải rắn y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sứckhỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy,
dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này khôngđược tiêu hủy an toàn
+ Chất thải y tế thông thường là chất thải không chứa các yếu tố: lây nhiễm,hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm: Chất thải sinh hoạt phát sinh từcác buồng bệnh (trừ buồng bệnh cách ly), từ các hoạt động chuyên môn y tế nhưchai lọ thủy tinh, chai huyết thanh,…mà không dính máu, dịch sinh học,… Và chấtthải phát sinh từ các công việc hành chính, chất thải từ các khu vực ngoại cảnh như
lá cây,…
+ Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thugom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y
tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện
+ Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thảichất thải y tế, bao gồm: giảm lượng chất thải y tế tại nguồn, sử dụng các sản phẩm
có thể tái chế, tái sử dụng, quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ quá trình thực hành vàphân loại chất thải chính xác
+ Tái sử dụng là việc sử dụng một sản phẩm nhiều lần cho đến hết tuổi thọ sảnphẩm hoặc sử dụng sản phẩm theo một chức năng mới, mục đích mới
+ Tái chế là việc tái sản xuất các vật liệu thải bỏ thành những sản phẩm mới + Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy
cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữhoặc tiêu hủy
+ Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làmmất khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường
Trang 13trong đó có 40,5 tấn là chất thải rắn nguy hại, mức độ gia tăng khoảng 7,6%/năm.
Vì vậy, tính đến năm 2015 lượng chất thải này khoảng 600 tấn/ngày và đến năm
2020 sẽ vào khoảng 800 tấn/ngày
Đến nay, khoảng 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại và 90,9% bệnh viện
đã thu gom hàng ngày Tuy vậy, việc phân loại và thu gom vẫn chưa được thực hiệnđúng quy định, còn hiện tượng phân loại nhầm chất thải gây nguy hiểm cho môitrường cũng như tốn kém trong việc xử lý
Việc xử lý và tiêu hủy chất thải rắn y tế nguy hại hiện nay cũng chưa đáp ứngđược yêu cầu Hiện mới có 73,3% bệnh viện xử lý chất thải rắn y tế nguy hại bằngcác lò đốt, nhưng công nghệ đốt hiện đại mới chỉ được áp dụng tại một số bệnh viện
Trang 14lớn, còn lại 26,7% bệnh viện thiêu đốt chất thải y tế nguy hại ngoài trời hoặc chôn
lấp trong khuôn viên bệnh viện hoặc bãi chôn lấp chung của địa phương [14]
Dưới đây là tình hình cụ thể về việc xử lý chất thải rắn y tế ở một số bệnh viện tạiViệt Nam:
1.1.1 Tái chế chất thải y tế
Hoạt động thu hồi và tái chế CTR y tế tại một số bệnh viện Việt Nam hiệnđang thực hiện không theo đúng quy chế quản lý CTR y tế đã ban hành Chưa cócác cơ sở chính thống thực hiện các hoạt động thu mua và tái chế các loại chất thải
từ hoạt động y tế ở Việt Nam Quy chế Quản lý chất thải y tế (2007) đã bổ sung nộidung tái chế CTR y tế không nguy hại làm căn cứ để các cơ sở y tế thực hiện Tuynhiên, nhiều địa phương chưa có cơ sở tái chế, do vậy việc quản lý tái chế các CTR
y tế không nguy hại còn gặp nhiều khó khăn Một số vật liệu từ chất thải bệnh việnnhư: chai dịch truyền chứa dung dịch huyết thanh ngọt (đường glucose 5%, 20%),huyết thanh mặn (NaCl 0,9%), các dung dịch acide amine, các loại muối khác; cácloại bao gói nilon và một số chất nhựa khác; một số vật liệu giấy, thuỷ tinh hoàntoàn không có yếu tố nguy hại, có thể tái chế để hạn chế việc thiêu đốt chất thải gây
ô nhiễm
Năm 2010, đã phát hiện nhiều hiện tượng đưa CTR y tế ra ngoài bán, tái chế tráiphép thành các vật dụng thường ngày Việc tái sử dụng các găng tay cao su, các vậtliệu nhựa đã và đang tạo ra nhiều rủi ro cho những người trực tiếp tham gia như cácnhân viên thu gom, những người thu mua và những người tái chế phế liệu
Hình 1.1 Tái chế và tái sử dụng găng tay khám bệnh để bán[1]
1.1.2 Xử lý chất thải y tế thông thường[15]
Trang 15Ước tính đến năm 2015 lượng chất thải phát sinh khoảng 600 tấn Có đến 100% bệnh viện tuyến trung ương, 88% bệnh viện tuyến tỉnh, 54% bệnh viện tuyến huyện
xử lý chất thải rắn y tế thông thường bằng lò đốt tại chỗ hoặc thuê Công ty môi trường đô thị đốt tập trung Số bệnh viện còn lại xử lý chất thải rắn y tế bằng
phương pháp thủ công, chôn lấp tại chỗ
1.1.3 Xử lý chất thải y tế nguy hại[1]
a Phát sinh chất thải y tế nguy hại
Lượng CTNH y tế phát sinh khác nhau giữa các loại cơ sở y tế khác nhau.Các nghiên cứu cho thấy các bệnh viện tuyến trung ương và tại các thành phố lớn
có tỷ lệ phát sinh CTNH y tế cao nhất Tính trong 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế, tổnglượng CTNH y tế cần được xử lý trong 1 ngày là 5.122 kg, chiếm 16,2% tổng lượngCTR y tế Trong đó, lượng CTNH y tế tính trung bình theo giường bệnh là 0,25 kg/giường/ngày Chỉ có 4 bệnh viện có chất thải phóng xạ là bệnh viện Bạch Mai, bệnhviện Đa khoa Trung ương Huế, bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên vàBệnh viện K Các phương pháp xử lý đặc biệt đối với CTNH y tế đắt hơn rất nhiều
so với các CTR sinh hoạt, do vậy đòi hỏi việc phân loại chất thải phải đạt hiệu quả
và chính xác
Bảng 1.1 Sự biến động về khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại các loại
cơ sở y tế khác nhau[1]
ĐVT: Kg/giường bệnh/ngày
Bệnh viện chuyên khoa TW 0,23-0,29 0,28-0,35
Bệnh viện chuyên khoa tỉnh 0,17-0,29 0,21-0,35
Bệnh viện huyện, ngành 0,17-0,22 0,21-0,28
b Xử lý chất thải y tế nguy hại
Trang 16Khối lượng CTR y tế nguy hại được xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổnglượng phát sinh CTR y tế nguy hại trên toàn quốc CTR y tế xử lý không đạt chuẩn(32%) là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộngđồng Các thành phố lớn như Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội đã có xí nghiệp xử lýCTR y tế nguy hại vận hành tốt, tổ chức thu gom và xử lý, tiêu huỷ CTR y tế nguyhại cho toàn bộ cơ sở y tế trên địa bàn CTR y tế nguy hại của các tỉnh, thành phốkhác hiện được xử lý và tiêu huỷ với các mức độ khác nhau: một số địa phương nhưThái Nguyên, Hải Phòng, Cần Thơ đã tận dụng tốt lò đốt trang bị cho cụm bệnhviện, chủ động chuyển giao lò đốt cho công ty môi trường đô thị tổ chức vận hành
và thu gom xử lý CTR y tế nguy hại cho toàn tỉnh, thành phố; Nghệ An có lò đốt đặttại bệnh viện tỉnh xử lý CTR y tế nguy hại cho các bệnh viện khác thuộc địa bànthành phố, thị xã
Một số thành phố lớn đã bố trí lò đốt CTR y tế nguy hại tập trung tại khu xử lýchung của thành phố Tỷ lệ lò đốt CTR y tế phân tán được vận hành tốt chỉ chiếmkhoảng xấp xỉ 50% số lò được trang bị, có vùng chỉ đạt 20% Nếu xét mức độ xử lýcủa các cơ sở y tế theo tuyến trung ương và địa phương, các sở sở trực thuộc Bộ Y
tế có mức độ đầu tư xử lý CTR y tế nguy hại cao hơn hẳn các cơ sở tuyến địaphương Bên cạnh lí do về công nghệ và trình độ quản lý, thì thiếu kinh phí vậnhành là yếu tố quan trọng dẫn đến các lò đốt hoạt động phân tán không đạt hiệu quả Tại Hà Nội sử dụng lò đốt chất thải y tế DEL- MONEGO công suất 200 kg/h ởCầu Diễn do Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên Môi trường đô thị(URENCO) quản lý để xử lý chất thải y tế trong địa bàn Hà Nội
Tại Đà Nẵng, sử dụng lò đốt HOVAL công suất 200 kg/h ở khu xử lý chất thảirắn Khánh Sơn do Công ty Môi trường đô thị quản lý để xử lý chất thải y tế trongđịa bàn thành phố (CITENCO)
Tại Tp Hồ Chí Minh, sử dụng hai lò đốt HO- VAL công suất 150 kg/h và 300kg/h đặt tại Nhà máy xử lý chất thải rắn y tế và công nghiệp do Công ty Môi trườngthành phố quản lý để xử lý chất thải y tế nguy hại cho các cơ sở y tế trong và ngoàithành phố
Trang 17Đến năm 2006, hơn 500 lò đốt đã được lắp đặt tại các cơ sở y tế tại Việt Nam,tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn Tuy nhiên, trong số đó có tới hơn 33% số lòkhông được hoạt động do nhiều lý do khác nhau.
Thống kê về tình hình quản lý và xử lý chất thải y tế của Cục Quản lý Môi trường
Y tế (năm 2009) cho thấy, đối với các cơ sở y tế nằm trong danh sách Quyết định64/2003/ QĐ-TTg thì công tác thu gom, xử lý chất thải y tế đã được quan tâm, đầu
tư kinh phí vận hành với các lò đốt chất thải hiện đại, được kiểm soát chất lượng Với tuyến y tế cấp tỉnh, CTR y tế phần lớn được thuê xử lý (rủi ro, nguy cơ gây ônhiễm môi trường cao, khó kiểm soát chất lượng), công tác tự xử lý bằng lò đốt chỉchiếm số lượng không nhiều Còn với tuyến y tế cấp huyện, công tác xử lý chất thải
y tế hết sức đa dạng, phong phú với nhiều loại hình khác nhau và khó có thể kiểmsoát
Biểu đồ 1.1 Tình hình xử lý chất thải y tế của hệ
thống cơ sở y tế các cấp[1]
Cơ sở tuyến tỉnh Cơ sở tuyến huyện
Trang 18
\ Nhìn chung các lò đốt CTR y tế nguy hại còn nhiều hạn chế, tập trung vào cácvấn đề sau: Chi phí đầu tư, hiệu suất vận hành, chi phí xử lý khí thải lớn
Hình 1.2: Minh họa về hạn chế của công nghệ đốt chất thải y tế nguy hại[1]
Hiện nay có hai loại công nghệ thân thiện với môi trường chủ yếu được lựachọn thay thế các lò đốt chất thải y tế là công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ẩm(autoclave) và công nghệ có sử dụng vi sóng Trong đó, công nghệ sử dụng vi sóngkết hợp hơi nước bão hòa là loại công nghệ tiên tiến nhất hiện nay bởi có hiệu quảkhử tiệt khuẩn cao và thời gian xử lý nhanh, hiện đang được áp dụng tại Trung tâm
y tế Viesovpetro Vũng Tàu Định hướng trong tương lai sẽ hạn chế việc sử dụng các
lò đốt để xử lý chất thải y tế nguy hại, từng bước thay thế chúng bằng các thiết bị sửdụng công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ướt, vi sóng hoặc các phương pháp tiên tiếnkhác
1.2 Giới thiệu chung về Bệnh viện Đa khoa Khu vực Triệu Hải
1.2.1 Thông tin chung về bệnh viện
Trang 19a Vị trí, diện tích và khu vực xung quanh
- Vị trí :
Địa chỉ : 67 Phan Đình Phùng – Thị xã Quảng Trị – Quảng Trị
Hình 1.3: Bệnh viện Đa khoa khu vực Triệu Hải
- Khu vực xung quanh : Ranh giới khu vực xung quanh được trình bày ở Phụ lục 1
Ranh giới khu đất bệnh viện được xác định như sau:
+ Phía Tây giáp với đường Phan Đình Phùng
+ Phía Đông giáp với khu dân cư
+ Phía Nam giáp với đường giao thông từ thị xã Quảng Trị đi Triệu Tài
+ Phía Bắc giáp với khu dân cư
Trang 20Sơ đồ mặt bằng của bệnh viện hiện tại được trình bày ở Phụ lục 2
b Quy mô bệnh viện
- Loại hình hoạt động: Cấp cứu – Khám bệnh- Chữa bệnh
Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài vào hoặc các bệnh việnkhác chuyển đến để cấp cứu, khám chữa bệnh, chữa bệnh nội trú hoặc ngoại trú
Tổ chức khám sức khỏe và chứng nhận sức khỏe theo quy định của nhà nước
Có trách nhiệm giải quyết toàn bộ các bệnh tật thông thường về nội khoa vàcác trường hợp cấp cứu về ngoại khoa
Tổ chức giám định sức khỏe, giám định pháp y khi hội động giám định y khoatỉnh, hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu
- Đào tạo cán bộ
Là cơ sở thực hành cho các trường, lớp trung học y tế
Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong bệnh viện và cơ sở y tế tuyếndưới để nâng cấp trình độ chuyên môn và kỹ năng quản lý chăm sóc sức khỏe banđầu
- Nghiên cứu khoa học về y học
- Tổ chức tổng kết đánh giá các đề tài và chương trình về chăm sóc sức khỏeban đầu
Tham gia các công trình nghiên cứu về y tế cộng đồng và dịch tễ học trongcông tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cấp Bộ và cấp Cơ sở
- Phòng bệnh
Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng tuyến thường xuyên thực hiện nhiệm vụphòng bệnh, phòng dịch
Tuyên truyền, giáo dục sức khỏe cộng đồng
- Quy mô bệnh viện
Được thành lập năm 1990 theo quyết định Số 629/QĐ – UB ngày 05/05/1990của Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị
Trang 21Năm 2015, bệnh viện đa khoa khu vực Triệu Hải là bệnh viện đa khoa cấptỉnh (Bệnh viện loại III) với số giường bệnh kế hoạch là: 200 GB, số giường bệnhthực kê: 200 GB.
c Vị trí của bệnh viện trong hệ thống chuyến tuyến
Bệnh viện Đa khoa khu vực Triệu Hải là đơn vị sự nghiệp có nhiệm vụ giúpgiám đốc Sở Y tế tổ chức quản lý khám và điều trị các bệnh nhân trong khu vực Cụthể như sau:
Tiếp nhận bệnh nhân tuyến dưới là các TTYT trên địa bàn thị xã Quảng Trị như:Trung tâm y tế dự phòng Thị xã Quảng Trị, Phòng y tế thị xã Quảng Trị, các trạm tếtrên địa bàn thị xã Quảng Trị và chuyển bệnh nhân lên tuyến trên có trình độ chuyênmôn cao hơn như: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị hay các bệnh viện TuyếnTrung ương
Kết hợp với bệnh viện tuyến dưới như: Các TTYT trên địa bàn thị xã QuảngTrị, Trung tâm y tế Dự phòng thị xã Quảng Trị, Phòng y tế thị xã Quảng Trị thựchiện các chương trình về chăm sóc sức khỏe ban đầu trong địa bàn tỉnh Cử cán bộchuyên môn luân phiên từ bệnh viện về hỗ trợ khám chữa bệnh tại các trạm y tế.Như dự án: Phòng chống Sốt rét, dự án tiêm chủng mở rộng, dự án sức khỏe tâmthần cộng đồng, dự án Tăng Huyết áp
Phòng bệnh: Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thường xuyên thực hiệnnhiệm vụ phòng bệnh, phòng dịch, tham gia các Dự án phòng chống Phong, Dự án,
dự án phòng chống Lao, dự án phòng sống sốt rét theo cá dự án thuộc chươngtrình mục tiêu Quốc gia về y tế
d Các dịch vụ chính
Dịch vụ Cấp cứu – Khám bệnh – chữa bệnh:
Bệnh viện đa khoa Triệu Hải có nhiệm vụ khám, cấp cứu và điều trị bệnh chonhân dân trên địa bàn Thị xã Quảng Trị và nhân dân của các vùng lân cận khi cónhu cầu như: Huyện Triệu Phong, Huyện Hải Lăng với các chuyên khoa như: Nộikhoa, ngoại khoa, Nhi Khoa, Sản phụ khoa, chuẩn đoán hình ảnh, xét
Trang 22nghiệm theo hình thức khám chữa bệnh tự nguyện hoặc theo chế độ BHXH, hìnhthức điều trị nội trú và ngoại trú.
Theo báo cáo hoạt động khám chữa bệnh năm 2015 của sở y tế Quảng Trị thìnăm 2015 bệnh viện Đa khoa khu vực Triệu Hải đã thực hiện được: 70.546 lượtkhám bệnh trong đó số lượt điều trị nội trú là: 11.852 lượt và ngoại trú là 563 lượt.Thực hiện số lần xét nghiệm là: 466.844 lượt, số lần chụp Xquang là: 19.007 lần, sốlần siêu âm: 18.860 lần và số lần phẫu thuật là: 7.394 lượt
Ngoài ra bệnh viện còn tham gia thực hiện các dự án thuộc chương trình mục tiêuQuốc gia như:
Dự án phòng chống Sốt rét, dự án tiêm chủng mở rộng, dự án sốt xuất huyết, dự
án phòng chống Lao, dự án phòng chống Phong, dự án sức khỏe tâm thần Cộngđồng, dự án tăng huyết áp
e Kết quả hoạt động của bệnh viện
Bảng dưới đây mô tả các hoạt động khám chữa của bệnh viện qua các năm
Bảng 1.3: Kết quả khám chữa bệnh của Bệnh viện đa khoa khu vực Triệu Hải [2]
4 Tổng số bệnh nhân điều trị ngoại trú 349 563
5 Tổng số bệnh nhân điều trị nội trú 9.498 11.852
6 Tổng số ngày điều trị nội trú 69.304 81.289
8 Tổng số lần xét nghiệm chung 396.327 466.844
1.2.2 Cơ cấu tổ chức của bệnh viện
a Cơ cấu tổ chức bệnh viện
Ban giám đốc gồm: Giám đốc và 2 phó giám đốc
Các phòng ban gồm: 4 phòng chức năng:
- Phòng kế hoạch tổng hợp
Trang 23- Khoa phẫu thuật – gây mê
- Khoa liên chuyên khoa
- Khoa y học cổ truyền
- Khoa dược
- Khoa chống nhiễm khuẩn
- Khoa chuẩn đoán hình ảnh
- Khoa xét nghiệm
- Khoa dinh dưỡng
Sơ đồ tổ chức của bệnh viện được trình bày ở Phụ lục 3
b Quản lý điều hành và trách nhiệm giải trình
Trách nhiệm và nghĩa vụ của giám đốc bệnh viện và các khoa phòng liên quantrong bệnh viện về xử lý chất thải được mô tả như sau:
- Giám Đốc bệnh viện: Có nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ nguồn thải chất thảinguy hại theo quy định tại Hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ,đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại (theo Thông tư số12/2011/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên môi trường); Quy chế quản lý chất thải y
tế (Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ– BYT ngày 03/12/2007 của Bộ
Trang 24trưởng Bộ Y tế); Hướng dẫn công tác kiểm soát nhiễm khuẩn (Ban hành kèm theoThông tư số 18/2009/TT– BYT ngày 14/10/2009 cuả Bộ trưởng Bộ Y tế).
- Ban chỉ đạo Kiểm soát nhiễm khuẩn: Ban chỉ đạo KSNK được bổ nhiệm đúngtheo thông tư 18 BYT kể từ 01/01/2012 theo quyết định số 139/QĐ– BV ngày01/01/2012 của Giám đốc bệnh viện
+ Ban chỉ đạo bao gồm: 01 Đồng chí phó giám đốc làm chủ tịch hội đồng, 01
Trưởng khoa chống nhiễm khuẩn làm Phó chủ tịch hội đồng và 06 đồng chí thuộc
06 khoa làm ủy viên
kỹ thuật về vô khuẩn; kiếm soát nhiễm khuẩn toàn bệnh viện
Lập kế hoạch đào tạo cho nhân viên y tế về KSNK, XLCT hàng năm
Theo dõi môi trường bệnh viện bao gồm: Cấy vi sinh trong không khí các khoaphòng trọng điểm, cấy vi sinh nguồn nước các khoa cần an toàn, cấy vi sinh cácdụng cụ y tế tiệt khuẩn, cấy vi sinh bàn tay nhân viên y tế sau rửa tay…Theo dõichất lượng nước thải của bệnh viện sau khi qua xử lý
- Tổ Kiểm soát nhiễm khuẩn: được thành lập từ năm 2012 với 8 thành viên từ
các khoa phòng trong đó: Bác sĩ: Lưu Văn Hiển – Giám đốc làm chủ tịch hội đồng.Bác sĩ: Nguyễn Việt Cường – Trưởng khoa CNK làm phó chủ tịch hội đồng, vớinhiệm vụ:
+ Quản lý, giám sát các hoạt động khử khuẩn, tiệt khuẩn, giặt là, cung cấpdụng cụ vô khuẩn, hóa chất sát khuẩn, khử khuẩn đồ vải và vật tư tiêu hao phục vụcông tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong toàn đơn vị
Trang 25+ Tham gia nghiên cứu khoa học.
+ Tham gia tư vấn cho ban giám đốc, Ban chỉ đạo viết những quy định, quytrình hướng dẫn KSNK, XLCT trong bệnh viện
- Hội đồng bảo hộ lao động: Bệnh viện chưa thành lập Hội đồng bảo hộ laođộng
- Phòng Hành chính quản trị vàTổ chức cán bộ: có nhiệm vụ:
+ Tổ chức và ký hợp đồng với công ty Công trình đô thị xử lý chất thải sinh
hoạt của bệnh viện, với Sở Tài nguyên & Môi trường giám sát chất lượng hệ thống
xử lý nước thải
+ Quản lý, vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị và công trình y tế bao gồm: hệ thống cấp thoát nước, hệ thống nước nước sử dụng cho sinh hoạt trong
bệnh viện, vận hành hồ xử lý nước thải, quản lý các nhà chứa chất thải
- Phòng Điều dưỡng: có nhiệm vụ
+ Dự trù, giám sát việc sử dụng vật tư tiêu hao, giám sát hoạt động kiểm soátnhiễm khuẩn tại đơn vị
c Số lượng nhân viên
Bệnh viện có 152 cán bộ nhân viên, trong đó gồm có 3 thạc sĩ, 1 bác sĩ, 16bác sĩ chuyên khoa I, 51 điều dưỡng, 27 kỹ thuật viên, 13 nữ hộ sinh, 15 hộ lý
Bảng 1.4: Thống kê cán bộ nhân viên của bệnh viện [2]
Trang 26d Ngân sách hoạt động của bệnh viện năm 2015
Bảng 1.5: Ngân sách hoạt động của bệnh viện [2]
- Khám chữa bệnh, điều dưỡng, phục hồi chức năng
- Các buồng bệnh nhân, buồng bệnh nhân cách ly
Trang 27- Các phòng xét nghiệm như bệnh phẩm và dụng cụ đựng dính bệnh phẩm.
- Xác các động vật thí nghiệm
- Các dược phẩm quá hạn không còn khả năng sử dụng
Qua sơ đồ mặt bằng tổng thể có thể thấy :
- Chất thải rắn thông thường phát sinh từ các phòng như: Khối khám bệnh đakhoa (3), khoa nội soi (4), khoa sản(6), khoa dược(8), nhà giặt là(10), nhà để máyđo(14), nhà để xe(16), quầy thuốc(22)
- Chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh từ các phòng như: Khoa phẫu thuật + điềutrị(1), khoa chuẩn đoán hình ảnh + xét nghiệm(2), khối khám bệnh đa khoa(3),khoa truyền nhiễm(9), khoa chống nhiễm khuẩn(11)
- Chất thải rắn tái chế có thể phát sinh các phòng như: Khoa dược(8), khoa nộisoi(4)
- Chất thải hóa học phát sinh các phòng như : Hóa chất nổ(13), Nhà máy nổ(12) Căn cứ vào số liệu thống kê năm 2015 của bệnh viện, khối lượng chất thải rắn
y tế phát sinh cụ thể như sau:
- Tổng lượng rác thải thông thường: 255 kg/ngày
- Tổng lượng rác y tế lây nhiễm: 45 kg/ngày
- Lượng chất thải tái chế: 40 kg/ ngày
- Lượng chất thải hóa học: 4 kg/ngày
1.3.2 Đặc điểm thành phần, tính chất của chất thải rắn y tế tại bệnh viện
Trang 28a Thành phần chất thải rắn y tế tại bệnh viện
Các công trình nghiên cứu đặc điểm chất thải rắn y tế được tiến hành trước đâycũng đề cập việc miêu tả kỹ đặc điểm CTRYT, xác định các thành phần trong toàn
bộ CTRYT Chất thải rắn y tế tại bệnh viện cũng có thành phần như sau :
b Tính chất của CTRYT thông thường
Chất thải y tế thông thường là chất thải có chứa thành phần và tính chất tương
tự như chất thải sinh hoạt CTYT thông thường không chứa các chất độc hại, các tácnhân gây bệnh đối với con người và môi trường CTYT thông thường có thể baogồm các vật liệu, bao gói: giấy, thùng carton; chai nhựa, chai thủy tinh không ônhiễm, có nguồn gốc phát sinh từ khu vực hành chính, từ các khoa, phòng khôngcách ly trong cơ sở y tế, Một phần CTYT thông thường có thể tái sử dụng hoặc táichế và đem lại nguồn thu cho các cơ sở y tế Thực hiện triệt để đúng quy định trongcông tác phân loại CTYT sẽ góp phần giảm tải tác động của CTYT nói chung tớicon người và môi trường
c Tính chất của CTRYT nguy hại
CTYT nguy hại là các chất thải phát sinh từ hoạt động y tế có chứa các thànhphần gây hại trực tiếp hoặc gián tiếp tới sức khỏe con người và môi trường CTYTnguy hại có một trong các đặc tính sau:
- Gây độc
Trang 29- Chứa các tác nhân gây bệnh
Có hai loại rủi ro liên quan trực tiếp đến CTYT nguy hại bao gồm:Nguy cơ gặp phải chấn thương hoặc bị nhiễm trùng Hai đối tượng được xếp vàonhóm có nguy cơ cao là nhân viên y tế và những người trực tiếp tham gia vào quátrình phân loại, thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải y tế
Nguy cơ ảnh hưởng chính đến môi trường là nguy cơ lây nhiễm bệnh tật đối vớicộng đồng
d Tính chất của CTRYT nguy hại
Tiếp xúc với CTRYT nguy hại có thể có nguy cơ bị chấn thương hoặc nhiễm
mầm bệnh Đặc tính của CTRYT nguy lại có thể bao gồm một hoặc một số tính chấtnguy hại sau đây: Chất thải y tế nguy hại có một số đặc tính như sau:
Có khả năng lây nhiễm
- Gây độc gen, gây độc tế bào
- Có chứa độc chất, hóa chất độc hại
- Có tính ăn mòn
- Có tính phóng xạ (đối với các cơ sở có xạ trị)
- Sắc nhọn
1.3.3 Thu gom, lưu trữ, phân loại chất thải rắn y tế tại bệnh viện
a Thu gom CTRYT tại bệnh viện
Chất thải y tế phát sinh được thu gom, phân loại sơ bộ vào các túi, thùng rác ,
cụ thể như sau:
- Có hộp đựng chất thải sắc nhọn (kim tiêm, đầu dây truyền ) tuy nhiên hộpnày đều là tự chế nên không đảm bảo được về mã màu, các chỉ dẫn, biểu tượng phùhợp như quy định
Trang 30- Có túi nilon đựng chất thải: gồm có 4 loại là túi màu xanh đựng chất thải sinhhoạt và túi màu vàng đựng chất thải lây nhiễm, túi màu đen đựng chất thải hóa học,túi màu trắng đựng chất thải tái chế nhưng tất cả các túi đựng đều không có nhãn,vạch báo, và các biểu tượng theo quy định.
Bảng 1.7: Số lượng túi chất thải/ngày
CTR/ngày(kg) Hệ số
Số lượng túi
Túi mầu trắng (chất thải có thể tái chế) 40 1 40
Bảng 1.8: Số lượng thùng chất thải/ngày
Loại thùng
Khối lượng chất thải /ngày(kg)
Hệ số Số lượng
thùng
Thùng mầu xanh (chất thải thông thường) 255 4 64Thùng mầu vàng (chất thải lây nhiễm) 45 1.5 30
Thùng mầu trắng (chất thải có thể tái chế) 40 1.5 27
- Hộ lý, nhân viên vệ sinh của bệnh viện chịu trách nhiệm thu gom chất thải trongkhoa, phòng Hiện nay, tại bệnh viện không có buồng bẩn tập trung chất thải trongkhoa Hàng ngày rác được thu gom ít nhất 1 lần và đột xuất khi cần thiết
Trang 31Hình 1.4: Thùng đựng chất thải
b Lưu trữ CTRYT tại bệnh viện
Bệnh viện có nhà lưu giữ rác, có các thùng đựng chất thải lây nhiễm, chất thảisinh hoạt, có cân để cân chất thải Nhưng các thùng chưa có biểu tượng và chỉ dẫntheo quy định Nhân viên thu gom chất thải chưa có trang phục bảo hộ lao động.Nhà lưu chứa chưa có đủ thiết bị và phương tiện làm sạch như bồn rửa tay, hóa chấtrửa tay, vòi xịt nước, dụng cụ lau dọn sàn, hóa chất làm sạch khử trùng Bộ phậnthông hơi không khí – quạt hút khí độc không đảm yêu cầu Bên cạnh đó vẫn chưa
có hệ thống thu nước rỉ rác Các chí tuyến đều không đảm bảo
Hình 1.5: Nhà lưu giữ rác
c Phân loại CTRYT tại bệnh viện
Chất thải rắn y tế phát sinh tại bệnh viện được phân loại như sau:
Chất thải lây nhiễm:
- Nhóm A - chất thải sắc nhọn: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền,các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong bệnh viện
Trang 32- Nhóm B - chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: bông gạc dính máu, thấmdịch sinh học của bệnh nhân, các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly
- Nhóm C – chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: chất thải phát sinh trong cácphòng xét nghiệm như bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm
- Nhóm D – chất thải giải phẫu: xác động vật thí nghiệm
Chất thải hóa học nguy hại:
Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng Chất hóa
học nguy hại sử dụng trong y tế.Chất thải chứa kim loại nặng như thủy ngân (từnhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), chì (từ vậtliệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị) Chất thải thông thường:
Chất thải thông thường của Bệnh viện phát sinh chủ yếu là rác thải từ các hoạtđộng sinh hoạt của cán bộ công nhân viên, thân nhân bệnh nhân và bệnh nhân.Ngoài ra còn kể đến các loại bao bì y tế (không chứa chất độc hại), giấy, báo, tàiliệu từ hoạt động văn phòng
1.3.4 Xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện
a Xử lý chất thải rắn tái chế
Chất thải được phép thu gom phục vụ mục đích tái chế, bao gồm nhựa: chainhựa đựng các dung dịch không có hóa học nguy hại, các vật liệu nhựa không dínhcác thành phần nguy hại, giấy, báo, bìa, thùng các tông, vỏ hộp đựng thuốc và cácvật liệu giấy tại bệnh viện
Ước tính khối lượng chất thải tái chế này năm 2015 vào khoảng: 40 kg/ngày Các bình oxy được trả lại nơi cơ sở cấp bình, chai dịch chuyền không dính máu
và một số đồ khác được mang đi bán phế liệu
b Xử lý chất thải rắn y tế nguy hại
Hiện bệnh viện xử lý rác thải nguy hại bằng phương pháp đốt trong lò đốt Tên thiết bị : Lò xử lý rác y tế KW20
Công suất : 20-30 kg/giờ
Nước sản xuất : Hàn Quốc
Trang 33Năm đưa vào sử dụng: 2009
Đốt bằng lò đốt Incinerator của Hàn Quốc, trung bình 2 ngày đốt 1 lần, mộtlần đốt 40kg ( gồm cả chai lọ thủy tinh) Rác đốt nhiều khói và mùi, ảnh hưởng đếndân cư xung quanh, nên thường đốt lúc 12h-2h sáng
Hình 1.6: Lò đốt rác Incinerator
Theo kết quả phân tích mẫu khí thải từ lò đốt do Trung tâm quan trắc và kỹthuật môi trường Quảng Trị thực hiện lấy mẫu ngày 09/04/2015 Kết quả phân tíchmẫu khí thải lò đốt:
Bảng 1.9: Kết quả phân tích chất lượng khí thải [2]
STT Chỉ tiêu Phương pháp thử Đơn vị
tính
Kết quả thử nghiệm
QCVN 02:2008/ BTNMT
Qua bảng số liệu ta thấy:
- Các nồng độ Bụi, NO2, SO2 đều nằm dưới tiêu chuẩn cho phép
- Nồng độ CO vượt quá tiêu chuẩn cho phép 16 lần
Kết luận: Từ kết quả trên có thể nhận thấy hệ thống lò đốt bệnh viện đang hoạt
động không hiệu quả và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Bệnh viện phân công 01 nhân viên đã được tập huấn về vận hành thiết bị, theodõi vận hành và bão dưỡng thiết bị vận hành lò đốt
Trang 34Sau 3 năm đưa vào hoạt động hiện nay lò đốt đang dần xuống cấp xuất hiện tìnhtrạng thải khói đen Bệnh viện vẫn chưa có thiết bị xử lý tro xỉ sau quá trình đốt, do vậy, hiện nay lượng tro xỉ này được chôn lấp không an toàn trong khuôn viên bệnhviện
c Xử lý chất thải y tế thông thường
Rác thải sinh hoạt được Công ty Cổ phần môi trường đô thị Quảng Trị vậnchuyển đến nơi xử lý
Hàng ngày, rác thải sinh hoạt được công ty cổ phần môi trường đô thị QuảngTrị thu gom vận chuyển với tần suất 01 lần/ ngày với khối lượng 225kg/ngày vàthường thực hiện vào cuối buổi chiều
1.4 Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại BVĐK Khu vực Triệu Hải
Bệnh viện đa khoa khu vực Triệu Hải là 1 trong 15 đơn vị tuyến tỉnh, trực thuộc
sở y tế tỉnh Quảng trị Qua nghiên cứu thực trạng tình hình phát sinh và công tácphân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý CTRYT hiện nay của bệnh việncho thấy công tác quản lý CTRYT của bệnh viện mặc dù đã đạt được những kết quảnhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được các yêu cầubảo vệ môi trường, gây ô nhiễm cho các lĩnh vực môi trường nước, đất và khôngkhí xung quanh Cụ thể:
1.4.1 Những mặt đã đạt được
- Quy trình quản lý CTRYT theo đúng trình tự các khâu như sau: phân loại chấtthải tại nguồn, lưu giữ tại khoa phòng, thu gom vận chuyển về nhà lưu giữ chungcủa bệnh viện và giai đoạn xử lý cuối cùng
- Công tác quét dọn rác tại các phòng bệnh luôn làm tốt, nhìn chung luôn sạchsẽ
- Toàn khuôn viên bệnh viện không hề phát sinh mùi hôi hay xuất hiện ruồinhặng làm ảnh hưởng sức khỏe của toàn thể mọi người trong bệnh viện
- Hệ thống quản lý hành chính trong công tác quản lý chất thải rắn y tế tại baogồm sự phối hợp của ban lãnh đạo, các phòng ban, tổ Kiểm soát nhiễm khuẩn và tất
Trang 35cả các khoa tại bệnh viện, trong đó tổ Kiểm soát nhiễm khuẩn chịu trách nhiệmchính Việc quản lý chất thải rắn y tế về mặt hành chính tốt là đảm bảo hai vấn đề :
Kiểm tra, giám sát và chỉđạo toàn thể nhân viên thực hiện đúng các quy trình
kỹ thuật về quản lý chất thải rắn theo quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ y tế banhành
Đảm bảo sự an toàn trong công tác quản lý chất thải, khắc phục sự cố vàtránh ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên và bệnh nhân cũng như người thămnuôi, hạn chế bệnh nghề nghiệp
- Khi quy chế quản lý chất thải y tế được Bộ Y tế ban hành, vấn đề đào tạo, giámsát và chỉ đạo công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện đã thực hiện và đạt được một
- Bệnh viện đã trang bị đầy đủ găng tay cao su, khẩu trang cho nhân viên khi cónhu cầu sử dụng Tất cả nhân viên khi làm việc đều phải chấp hành quy định, trang
bị đầy đủ bảo hộ cá nhân, nếu phát hiện bệnh viện sẽ kiểm điểm làm gương, xử phạtnghiêm khắc tránh việc tái phạm lần sau
1.4.2 Những điểm còn hạn chế
- Về vấn đề số lượng thải tại mỗi khoa cũng như quá trình thu gom vận chuyển
về nhà lưu giữ thì chưa có sự quan tâm chặt chẽ
- Các thùng đựng các loại chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học, thùng đựngbình áp suất chưa đáp ứng được về biểu tượng cảnh báo tương ứng cho từng loạithùng đựng chất thải nguy hại
- Nhà lưu giữ chưa có đủ thiết bị phương tiện làm sạch như bồn rửa tay, hóa chấtrửa tay, vòi xịt nước, dụng cụ lau dọn sàn, hóa chất làm sạch khử trùng
Trang 36- Vấn đề vận chuyển chất thải trong bệnh viện còn nhiều hạn chế, vẫn chưa đúngtheo quy định Chưa có phương tiện vận chuyển chất thải lây nhiễm, mới có 1 xevận chuyển chất thải sinh hoạt và phương tiện bảo hộ lao động cho nhân viện vậnchuyển chưa có.
- Việc xử lý chất thải nguy hại :
+ Sử dụng lò đốt bệnh viện không hiệu quả và gây ô nhiễm cho môi trường,sau 3 năm hoạt động lòđốt đang dần xuống cấp xuất hiện tình trạng khói đen
+ Bệnh viện chưa có thiết bị xử lý tro xỉ sau quá trình đốt, do vậy, lượng tronày được chôn lấp không an toàn trong bệnh viện
Vấn đề ô nhiễm không đảm bảo
- Bệnh viện còn thiếu nhiều giấy phép đăng ký, xin phép như: chưa có đăng kýCam kết bảo vệ môi trường, chưa đăng ký mã số chủ nguồn thải chất thải nguy hạicũng như chưa đăng ký chủ xử lý chất thải y tế nguy hại
1.4.3 Những vấn đề thách thức trong thời gian tới
Trong thời gian tới, để cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường, Bệnh viện đakhoa khu vực Triệu Hải sẽ phải đối mặt với 5 thách thức cần giải quyết gồm :
- Về mặt pháp lý : bệnh viện cần cụ thể hóa các văn bản hướng dẫn của cấp trênliên quan đến việc quản lý CTRYT của bệnh viện mình
- Về mặt tổ chức quản lý (nhân sự) : bệnh viện cần tăng cường thêm đội ngũ cán
bộ, công nhân Cần hoàn thiện hơn công tác kiểm tra, giám sát tất cả các quá trìnhquản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện
- Về mặt kỹ thuật : đầu tư máy móc, trang thiết bị, cải tiến, thay đổi công nghệ,giải pháp xử lý Cần có giải pháp xử lý chất thải rắn y tế nguy hại thích hợp hơn đểtránh gây ô nhiễm môi trường tại bệnh viện cũng như môi trường xung quanh Đểđảm bảo tính an toàn cho nhân viên y tế, bệnh viện phải trang bị đầy đủ găng taycao su, khẩu trang, xà phòng rửa sát trùng cho nhân viên khi có nhu cầu sử dụng
Cụ thể như sau:
Khi ra vào các khoa phải thay trang phục y tế, cởi bỏ các trang thiết bịđã sửdụng trước khi rời khỏi khu vực làm việc và sau khi chúng đã nhiễm bẩn
Trang 37 Để các trang thiết bị bảo hộ cá nhân đã qua sử dụng vào đúng vị trí thải bỏquy định như thùng rác, các vật dụng lưu giữ để giặt, khử trùng và tái sử dụng hoặchủy bỏ.
Mang các loại găng tay thích hợp khi tiếp xúc với các chất thải có khả nănglây nhiễm khác nhau Nếu găng bị rách, bong, thủng hay nghiễm bẩn phải lập tứcthay thế bằng một cái khác hoàn toàn nguyên vẹn
Đối với các loại găng tay có thể sử dụng nhiều lần thì có thế khử trùng trướckhi tái sử dụng, còn về găng tay chỉ được sử dụng một lần nghiêm cấm các hành viđem đi tái sử dụng lại, nếu vi phạm sẽ bị xử phạt nghiêm khắc
- Về mặt quản lý vận hành: bệnh viện cần bổ sung các hướng dẫn thực hiện theoquy trình, chương trình bảo dưỡng, quan trắc, giám sát chất lượng môi trường
- Về mặt kinh tế, xã hội : cần tổ chức tốt công tác thu hút đầu tư, xã hội hóa,tuyên truyền cho người dân ý thức vệ sinh tốt
Trang 38CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ NGUY HẠI BẰNG CÔNG NGHỆ KHÔNG ĐỐT CHO BỆNH
VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC TRIỆU HẢI 2.1 Cơ sở pháp lý liên quan đến công tác xử lý chất thải rắn y tế nguy hại
2.1.1 Các văn bản pháp lý cấp Nhà nước ban hành
- Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 23/06/2014 và được chủ tịch quốc hội kýlệnh ban hành ngày 23/06/2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015
- Nghị định số 59/2007/NĐ–CP ngày 09/04/2007 của chính phủ về quản lý chất
thải rắn, trong đó quy định “Nhà nước khuyến khích việc xã hội hóa công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải rắn”.
- Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14/1/2009 của chính phủ về ưu đãi, hỗ trợhoạt động bảo vệ môi trường
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP Về quản lý chất thải và phế liệu
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ y tế số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 vềviệc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế
- Thông tư 121/2008/TT-BTC ngày 12/12/2008 của Bộ Tài Chính v/v hướngdẫn cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đầu tư cho quản lý chất thảirắn
- Thông tư 12/2011/TT-BTNMT của Bộ tài nguyên và môi trường ban hànhngày 14/04/2011 quy định về quản lý chất thải nguy hại
- Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải đến năm 2025, tầm nhìn đếnnăm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2149/QĐ-TTgngày 17/12/2009
- Căn cứ Công văn số 6178/BYT-TB-CT của BộY tế ngày 8/9/2014 về việc đầu
tư xử lý chất thải rắn y tế nguy hại thuộc “ Dự án hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện”.
- Thông tư số 22/2014/TT-BKHCN ngày 25/8/2014 của Bộ Khoa học và Côngnghệ quy định về quản lý chất thải phóng xạ và nguồn phóng xạ đã qua sử dụng
- Thông tư số 24/2010/TT-BKH CN ngày 29/12/2010 của Bộ Khoa học và
Trang 39Công nghệ, Ban hành QCVN 06:2010/BKHCN – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
An toàn bức xạ - Phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ.
- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên và Môitrường, Quy định về quản lý chất thải nguy hại
- Thông tư số 27/2012/TT-BTNMT ngày 19/12/2012 của Bộ Tài nguyên vàMôi trường – Ban hành QCVN 02:2012/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
lò đốt chất thải rắn y tế
- Quyết định số 27/2004/QĐ-BXD ngày 09/11/2004 của Bộ Xây dựng – Ban
hành TCVNVN 320-2004 “ Bãi chôn lấp chất thải nguy hại – tiêu chuẩn thiết kế”.
- QCVN 55:2013/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thiết bị hấp chấtthải y tế lây nhiễm
- QCVN 07:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thảinguy hại
2.1.2 Các văn bản pháp lý cấp tỉnh Quảng Trị ban hành
- Căn cứ Quyết định số 46/BYT-QĐ của Bộ Y tế ban hành ngày 06/4/2014 về
việc Phê duyệt danh mục đầu tư tỉnh Quảng Trị thuộc Dự án “ Hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện” do Ngân hàng Thế giới tài trợ.
- Căn cứ Công văn số 3594/UBND-NN ngày 13/10/2014 của UBND tỉnh
Quảng Trị về việc đầu tư xử lý chất thải rắn y tế nguy hại thuộc “ Dự án hỗ trợ xử
lý chất thải bệnh viện”.
- Căn cứ Công văn số 60/UBND-TN ngày 08/01/2015 của UBND tỉnh QuảngTrị về việc Thống nhất chủ trương giao đất Xây dựng khu xử lý rác thải y tế
- Căn cứ theo quyết định 1826/QĐ-UBND của ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị
về “Phê duyệt kế hoạch quản lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh QuảngTrị đến năm 2015”
2.2 Cơ sở khoa học của phương pháp xử lý CTRYT nguy hại bằng công nghệ không đốt
2.2.1 Mục đích và ý nghĩa
a Mục đích
Trang 40Nếu so sánh chi tiết những ưu, nhược điểm của công nghệ đốt với công nghệkhông đốt có thể thấy ở quy mô xử lý nhỏ, phân tán như hiện nay tại các bệnh viện thìcông nghệ không đốt có những ưu điểm vượt trội so với công nghệ đốt quy mô nhỏ,phân tán Cụ thể lợi ích về kinh tế và môi trường từ áp dụng công nghệ không đốt nhưsau:
- Chi phí đầu tư và vận hành rẻ hơn công nghệ đốt (trừ trường hợp sử dụngcông nghệ vi sóng)
- Không phát sinh khí thải dioxin và furan, loại khí rất độc hại cho môi trường
- Không phát sinh tro xỉ độc hại
- CTLN sau khi khử khuẩn được chôn lấp như chất thải thông thường
- Không tạo ra sự khiếu kiện của cộng đồng đối với các cơ sở y tế từ việc ônhiễm môi trường không khí, đặc biệt là mùi từ các lò đốt cho khu dân cư xungquanh
- Một số loại chất thải lây nhiễm bằng vật liệu nhựa sau khi khử khuẩn an toàn
có thể tái chế đem lại các lợi ích kinh tế cho xã hội
- Cơ sở y tế có thể thực hiện tốt giám sát chất lượng khử khuẩn của thiết bị Các cơ sở y tế trong những năm qua đã có bước tiếp cận với công nghệ khôngđốt và mang lại kết quả ban đầu đáng khích lệ Vì vậy trong tương lai Việt namđang từng bước làm chủ công nghệ này, tiếp cận chuyển giao công nghệ đáp ứngnhu cầu và theo kịp xu hướng chung của thế giới trong công nghệ xử lý chất thải y
tế thân thiện với môi trường
b Ý nghĩa
Áp dụng các công nghệ không đốt trong xử lý CTLN thay thế cho công nghệđốt ở nước ta hiện nay là rất cần thiết, phù hợp với xu hướng chung hiện nay củathế giới, góp phần thực hiện các cam kết của Việt Nam khi tham gia Công ướcStockholm về giảm phát thải không chủ định các chất ô nhiễm hữu cơ khó phânhủy từ công nghệ đốt
Áp dụng công nghệ không đốt tại các CSYT chứng minh được hiệu quả củacông nghệ này trong việc khử trùng các CTLN, góp phần vào việc bảo vệ môi