1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Động từ tiếng Nhật Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki

208 676 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 3,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, có thể thấy rằng có một số lượng lớn các ĐT được sử dụng trong những tác phẩm nổi tiếng của N.Souseki qua tư duy hình tượng và tư duy lôgic tuyệt vời của ông đã được hiện di

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG THỊ MAI

§éNG Tõ TIÕNG NHËT- NH÷NG §ÆC TR¦NG NG÷ NGHÜA, NG÷ DôNG THÓ HIÖN QUA C¸C T¸C PHÈM TI£U BIÓU CñA NATSUME SOUSEKI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI-2016

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Trần Thị Chung Toàn

HÀ NỘI-2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, chính xác và chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Hà nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận án

Trương Thị Mai

Trang 4

MỤC LỤC

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng biểu

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 8

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8

1.2 Những vấn đề lí thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu 14

Chương 2: ĐỘNG TỪ XUẤT HIỆN TRONG CÁC TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CỦA NATSUME SOUSEKI 44

2.1 Kết quả thống kê chung 44

2.1 Kết quả thống kê phân loại theo một số tiêu chí của luận án 44

Chương 3: ĐẶC TRƯNG NGỮ NGHĨA CỦA ĐỘNG TỪ TIẾNG NHẬT - TRƯỜNG HỢP MỘT SỐ ĐỘNG TỪ TIÊU BIỂU 62

3.1 Đặc trưng ngữ nghĩa của động từ qua khảo sát một số động từ đa nghĩa 62

3.2 Đặc trưng ngữ nghĩa của động từ qua khảo sát một số động từ đồng nghĩa 80

Chương 4: ĐẶC TRƯNG NGỮ DỤNG CỦA ĐỘNG TỪ TIẾNG NHẬT, ĐẶC ĐIỂM NGÔN TỪ CỦA N.SOUSEKI VÀ NHỮNG ỨNG DỤNG TRONG GIẢNG DẠY 100

4.1 Hoạt động của một số động từ ngữ vi tiêu biểu 100

4.2 Vai trò tạo liên kết và mạch lạc về tiêu điểm phát ngôn từ sự đối ứng nội động - ngoại động 107

4.3 Dạng hoạt động của động từ - yếu tố góp phần chỉ xuất mối quan hệ và tính cách của các nhân vật giao tiếp 118

4.4 Đặc trưng ngôn từ của N Souseki qua cách sử dụng động từ 134

4.5 Ứng dụng các kết quả nghiên cứu trong giảng dạy tiếng Nhật 143

KẾT LUẬN 149

Trang 5

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 150 TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC 162

Trang 6

N.Souseki : Natsume Souseki

Botchan: Botchan (Cậu ấm ngây thơ)

Kokoro : Kokoro (Nỗi lòng)

Sorekara : Sorekara (Từ đó)

Waga: Wagahai wa neko de aru (Tôi là mèo)

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.6: Dạng thức biến hình theo phạm trù lịch sự của ĐT tiếng Nhật 22 Bảng 1.7: Sự tương ứng giữa vai nghĩa và hình thức biểu đạt theo đề nghị của

Bảng 2.1: Phân loại động từ theo nguồn gốc của các yếu tố tham gia tạo từ 44

Bảng 2.4: Danh sách 63 động từ có số lần xuất hiện cao nhất (trên 50 lần) 51 Bảng 2.5: Danh sách các động từ có số lần xuất hiện cao nhất theo nhóm 53 Bảng 2.6: Kết quả thống kê động từ thuần Nhật theo tiêu chí nội động - ngoại động 54

Bảng 3.5: Đặc điểm danh từ làm thành vai đối tượng cho suru, yaru, okonau khi

chúng cùng thể hiện ý nghĩa “làm, thực hiện hành hoạt động gì” 82 Bảng 3.6: Bảng đối chiếu nghĩa từ điển của iu, hanasu, shaberu, kataru 85 Bảng 3.7: Kết quả khảo sát tham tố đối tượng, tiếp thể của iu, hanasu, shaberu,

Bảng 3.9: Cấu trúc sử dụng của omou và kangaeru trong ngữ liệu 92

Biểu đồ 2.5 Các động từ thuần Nhật từ góc độ nội động – ngoại động 55

Trang 8

MỞ ĐẦU

0.1 Tính cấp thiết của đề tài

Có thể nói, trong những năm gần đây số người học tiếng Nhật ở Việt Nam tăng lên nhanh chóng Sự giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng nở rộ với hàng loạt các tác phẩm văn học Nhật Bản được dịch sang tiếng Việt và được độc giả Việt Nam đón nhận tích cực Trong bối cảnh như vậy, việc tìm hiểu tiếng Nhật ở góc độ lí luận, có gắn kết với thực tiễn thông qua các tác phẩm văn học Nhật Bản là một hướng đi thích ứng và cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả cho công tác nghiên cứu và giảng dạy tiếng Nhật cũng như trích giảng văn học Nhật Bản cho sinh viên chuyên ngành tiếng Nhật tại Việt Nam hiện nay

Ở Việt Nam, từ những năm 60 của thế kỉ XX, đã có một số công trình nghiên cứu các tác giả, tác phẩm tiêu biểu của văn học Nhật Bản Hầu hết các nghiên cứu này đều được thực hiện dưới góc độ nghiên cứu văn học và được tiến hành trên ngữ liệu là các văn bản dịch vòng từ các thứ tiếng khác như tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp… sang tiếng Việt Cho tới nay, nghiên cứu các tác phẩm văn học Nhật Bản trên cơ sở các bản gốc tiếng Nhật dưới góc độ ngôn ngữ học c n có số lượng hạn chế Đây chính là hướng tiếp cận mới của luận án

Natsume Souseki (N.Souseki), tên thật là Natsume Kinnosuke, sinh năm 1867,

là nhà văn, nhà thơ, nhà trí thức đa tài đặc biệt Cuộc đời và sự nghiệp văn học của ông có nhiều nét độc đáo mà Kenzaburo Oe1 gọi là “một hiện tượng lạ lùng hiếm

có của văn học Nhật Bản” [30] Cùng với Mori Ogai và Akutagawa Ryunosuke, N.Souseki được đánh giá là một trong ba trụ cột của văn học Nhật Bản hiện đại [31] Các tiểu thuyết của ông đã được dịch ra tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Nga, tiếng Việt và nhiều thứ tiếng khác Chúng hiện vẫn đang được người dân Nhật Bản đọc và cảm nhận với sự hứng khởi mới như “Wagahai wa nekodearu (Tôi là mèo)” (1905), “Botchan (Cậu ấm ngây thơ)” (1907), “Sanshiro (Chàng trai Sanshiro)” (1908), “Kokoro (Nỗi l ng)” (1909), “Sorekara (Từ đó)” (1909), “Michikusa (Cỏ

1

Là một trong những nhà văn lớn nhất của Nhật thế kỷ XX Ông đã đoạt giải Nobel Văn học năm 1994 và là tác giả của hơn 20 tiểu thuyết cũng như nhiều tập truyện ngắn

Trang 9

ven đường)” (1915) Cái tên N.Souseki thường được nhắc tới khi nói về văn học Nhật Bản và được đưa vào trong chương trình giảng dạy môn Ngữ văn ở các trường phổ thông của Nhật N.Souseki cũng là một trong những tác giả được giới thiệu trong chương trình trích giảng văn học Nhật Bản cho sinh viên chuyên ngành tiếng Nhật tại trường Đại học Hà Nội

Mặt khác, từ góc độ ngôn ngữ học, có thể thấy rằng động từ (ĐT) là một từ loại quan trọng trong mọi ngôn ngữ Đây là từ loại thực từ cực kì phức tạp xét trên phương diện ngữ pháp cũng như ngữ nghĩa “Tính phức tạp ấy có nguồn gốc ở bản chất nghĩa của từ loại này là nó chỉ ra đặc trưng vận động của tất cả những gì biểu đạt bằng danh từ với tất cả sự đa dạng và các mối liên hệ khách quan của nó” [14;131] Trong tiếng Nhật, ĐT được sử dụng rộng rãi trong hoạt động ngôn ngữ đến mức có thể cho rằng “các suy nghĩ, phát kiến mang đặc thù của tiếng Nhật phần lớn đều nhờ vào sự trợ giúp của động từ” [dẫn theo 39;1]

Với những nhận xét trên đây, có thể cho rằng nghiên cứu về ĐT trong tiếng Nhật sẽ cho ta thấy được nhiều đặc trưng của tiếng Nhật nói riêng và đặc trưng trong tư duy, suy nghĩ của người Nhật nói chung Bên cạnh đó, có thể thấy rằng có một số lượng lớn các ĐT được sử dụng trong những tác phẩm nổi tiếng của N.Souseki qua tư duy hình tượng và tư duy lôgic tuyệt vời của ông đã được hiện diện lên trong rất nhiều ngữ cảnh với ngữ nghĩa và ngữ dụng khác nhau Dưới góc

độ ngôn ngữ học, đây hẳn sẽ là kho tư liệu phong phú để khai thác những đặc trưng ngôn ngữ của tiếng Nhật nói chung và ĐT tiếng Nhật nói riêng Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Động từ tiếng Nhật - Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki” để tiến hành nghiên cứu với mong muốn không chỉ góp phần vào việc nghiên cứu lí luận về tiếng Nhật mà còn giúp ích cho công tác giảng dạy tiếng Nhật cũng như giảng dạy văn học Nhật Bản tại Việt Nam

0.2 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các ĐT tiếng Nhật được sử dụng trong một số tiểu thuyết nổi tiếng của N.Souseki

Trang 10

Theo Miyajima (1972), “với các tác phẩm văn học sử dụng hành văn của ngôn ngữ nói thì sự biến đổi về ý nghĩa của ĐT từ thời kì Minh Trị, Đại Chính đến thời kỳ hiện đại chỉ là rất nhỏ, ở mức không đáng kể Các tác phẩm văn học này từ khi được xuất bản đến khi tác giả qua đời vẫn được in lại hàng năm, được đọc rộng rãi, không có sự khác biệt lớn nào so với thời nay” [82; 6] Ông cũng chọn các tác phẩm văn học trong thời kì này làm nguồn dữ liệu để nghiên cứu về ĐT Do đó, có thể cho rằng việc lựa chọn các tiểu thuyết của N.Souseki để thống kê và phân tích

về ngữ nghĩa, ngữ dụng của ĐT tiếng Nhật của luận án đảm bảo được tính khoa học cần thiết cho việc nghiên cứu

Trong quá trình làm ngữ liệu, chúng tôi thống kê tất cả những ĐT là thực từ trong hành chức mà không tính đến trường hợp chúng được sử dụng như một ĐT hình thức hay ĐT bổ trợ - là những trường hợp ĐT được sử dụng trong sự kết hợp với một ĐT khác và mất đi ý nghĩa vốn có của nó, thay vào đó, chúng lại biểu đạt một ý nghĩa trừu tượng hay ý nghĩa ngữ pháp nào đó của hành động [175] Ví dụ,

iru có nghĩa cơ bản là “chỉ sự tồn tại của người, động vật” nhưng trong sự kết hợp

với một ĐT khác ở dạng te(như tabe-te), nó mất đi ý nghĩa cơ bản này mà biểu hiện ý

nghĩa thể của hành động là sự tiếp diễn (khi đó, tabete iru có nghĩa là “đang ăn”)

0.3 Mục đích nghiên cứu

Luận án được thực hiện với các mục đích chính sau đây:

1) Làm sáng tỏ thêm những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng của ĐT tiếng Nhật qua một nguồn ngữ liệu cụ thể

2) Chỉ ra một số đặc điểm về ngôn từ của N.Souseki qua cách sử dụng ĐT 3) Bổ sung những tư liệu cụ thể hữu ích cho công tác giảng dạy tiếng Nhật và trích giảng văn học Nhật Bản tại Việt Nam

0.4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Các mục đích nghiên cứu của luận án được cụ thể thành những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Khái quát và hệ thống hoá những cơ sở lí thuyết phục vụ cho nghiên cứu

- Tiến hành thống kê, phân tích để làm sáng tỏ thực tế của ĐT về mặt số lượng, chủng loại, tần suất theo các tiêu chí phân loại được áp dụng trong luận án,

Trang 11

- Chỉ ra những nét độc đáo trong cách sử dụng ĐT của nhà văn cũng như một

số ứng dụng trong giảng dạy tiếng Nhật và trích giảng văn học Nhật Bản cho sinh viên tiếng Nhật

0.5 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng những phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp miêu tả: Phương pháp miêu tả được sử dụng chủ yếu để mô tả những kết quả thu được trong thống kê ngữ liệu Đặc biệt, bằng thủ pháp phân tích

vị từ - tham tố, luận án mô tả những đặc điểm của các vai nghĩa với vị từ là các ĐT

tiếng Nhật trong ngữ cảnh sử dụng từ đó phân tích, tổng hợp nhằm chỉ ra đặc trưng ngữ nghĩa của ĐT

- Phương pháp đối chiếu: Phương pháp đối chiếu được sử dụng trong đối chiếu ý

nghĩa của ĐT được giải thích trong các từ điển với thực tế hoạt động của chúng trong ngữ liệu để chỉ ra đặc điểm riêng đáng lưu ý về ngữ nghĩa và đối chiếu ý nghĩa của các ĐT đồng nghĩa với nhau để tìm ra điểm chung, điểm riêng giữa chúng, từ đó tiếp tục đối chiếu giữa các tổng kết trong từ điển với thực tế hành chức của ĐT trong ngữ liệu

- Thủ pháp thống kê: Thủ pháp này được sử dụng để thống kê các ĐT trong ngữ

liệu theo từng tiểu loại, chỉ ra mức độ sử dụng của chúng nhằm có được cái nhìn bao quát và tổng thể về mặt định lượng Kết quả thống kê sẽ là cơ sở giúp tìm ra khuynh hướng chung của những ĐT được sử dụng trong ngữ liệu ở chương 2, tìm

ra những ĐT có “tính vấn đề” để đi sâu phân tích trong chương 3 và chương 4

- Đồng thời, luận án cũng áp dụng các thủ pháp của phân tích diễn ngôn như phân

tích hội thoại, phân tích ngữ cảnh qua các ngữ cảnh để thấy được vai trò của ĐT

trong việc góp phần chỉ xuất đặc điểm nhân vật giao tiếp, vai trò của ĐT trong việc tạo nên sự mạch lạc cho phát ngôn cũng như những tác dụng biểu đạt cụ thể của

Trang 12

ĐT để chỉ ra đặc trưng ngôn từ của nhà văn và hướng tới việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tế giảng dạy tiếng Nhật

0.6 Tƣ liệu nghiên cứu

Theo thống kê, N.Souseki đã viết khoảng 14 tiểu thuyết gồm truyện vừa (khoảng 100 trang) và truyện dài (khoảng 450 trang), 10 truyện ngắn Ngoài ra, ông còn để lại các tác phẩm lí luận và bình luận văn học, tùy bút, nhật kí, kí sự, thơ haiku2, thơ mới Trong luận án này, chúng tôi lựa chọn thống kê ĐT trong một số tiểu thuyết tiêu biểu cho hai thời kì sáng tác của ông: thời kì đầu mang tính hài hước và triết lí cao sang, thời kì sau mang tính triết lí phê phán cái tôi cá nhân trong xã hội Âu hoá thời cận đại ở Nhật Bản Cụ thể là bốn tiểu thuyết “Wagahai

wa nekode aru” (Tôi là mèo, 1905), “Botchan” (Cậu ấm ngây thơ, 1907),

“Sorekara” (Từ đó, 1909), và “Kokoro” (Nỗi lòng, 1914) Phụ lục 1 của luận án là phần nội dung tóm tắt các tiểu thuyết này Trong đó, “Tôi là mèo” và “Botchan”

là hai tác phẩm được đánh giá là tiêu biểu nhất cho phong cách hài hước với triết lí cao sang, “Từ đó” và “Nỗi l ng” là hai tác phẩm tiêu biểu cho các sáng tác sau này với chủ đề phê phán chủ nghĩa cá nhân Bản điện tử các tác phẩm trên được lấy từ trang web hỗ trợ việc tìm đọc các tác phẩm văn học cổ điển của Nhật: htttp://www.Aozora.gr.jp Sau khi lưu dữ liệu bằng phần mềm Microsoft Word, chúng tôi chọn khảo sát văn bản theo cách: khảo sát ít nhất 100 trang cho mỗi tác phẩm, các trang khảo sát được phân bố đều theo các chương để tạo mạch liên kết cho việc phân tích

Trong quá trình phân tích ngữ liệu, chúng tôi chủ yếu sử dụng phần dịch tiếng Việt trích từ các bản dịch đã được công bố của các tác phẩm Đó là bản dịch “Cậu

ấm ngây thơ” (Botchan) của Nguyễn Thị Loan, “Nỗi l ng” (Kokoro) của Đỗ Khánh Hoan và Nguyễn Tường Minh Tuy nhiên, hai tác phẩm “Wagahai wa neko

de aru” và “Sorekara” hiện chưa có các bản dịch sang tiếng Việt nên phần dịch tiếng Việt cho các ví dụ trích từ hai tác phẩm này là do chúng tôi thực hiện

2

Một thể loại thơ của Nhật, quy định về số âm tiết mỗi câu là 5, 7, 7; trong nội dung thể hiện phải có phần

mô tả về thời tiết theo các mùa

Trang 13

0.7 Đóng góp của luận án

Với cách tiếp cận nghiên cứu về đặc trưng của tiếng Nhật thông qua các tác phẩm văn học của Nhật Bản, luận án có những đóng góp cho lĩnh vực nghiên cứu liên ngành giữa ngôn ngữ học và nghiên cứu văn học về mặt lí luận cũng như thực tiễn như sau:

1) Đóng góp về mặt lí luận

- Bổ sung tư liệu về từ loại ĐT trong bức tranh về ĐT của các ngôn ngữ nói chung, đặc biệt là ĐT trong tiếng Nhật, một ngôn ngữ chắp dính khác loại hình với tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập

- Xác định và bổ sung thêm tư liệu về mặt lí luận của ĐT tiếng Nhật từ góc độ lí thuyết đến thực tế hành chức trong các ngữ cảnh văn học

- Bổ sung cứ liệu nghiên cứu cho các kết quả phân tích diễn ngôn, phân tích văn bản học, phân tích ngữ dụng, phân tích ngôn ngữ tác giả khi xem xét hoạt động của ĐT trong những tác phẩm văn học có sức sống bền lâu và có sức ảnh hưởng

- Gợi mở những phương án giảng dạy, giải thích ngữ nghĩa ngữ dụng của ĐT trong giảng dạy thực hành và lí thuyết tiếng Nhật Gợi mở những phương án phân tích hoạt động của ĐT từ bình diện ngữ dụng phục vụ cho việc đọc và lí giải tác phẩm văn học Nhật Bản

0.8 Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề lí thuyết liên quan

đến nội dung nghiên cứu

Trang 14

- Điểm lại các nghiên cứu về ngôn ngữ của N.Souseki, các nghiên cứu về ĐT tiếng Nhật, chỉ ra việc nghiên cứu về ĐT trong các tác phẩm của N.Souseki là hoàn toàn mới, chưa từng được đề cập tới trước đây

- Tổng hợp những nội dung lí thuyết cơ bản về ĐT tiếng Nhật, những cơ sở lí luận cơ bản cần thiết về ngữ nghĩa, ngữ dụng phục vụ cho quá trình thống kê và phân tích ngữ liệu

Chương 2: Động từ xuất hiện trong các tác phẩm tiêu biểu của N.Souseki

Qua thống kê và phân loại, mô tả bức tranh tổng quan về ĐT trong các tác phẩm tiêu biểu của N.Souseki, đưa ra nhận xét về khuynh hướng hoạt động của ĐT làm cơ sở việc lựa chọn ĐT tiểu biểu và hướng triển khai phân tích đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của ĐT trong các chương sau

Chương 3: Đặc trưng ngữ nghĩa của động từ tiếng Nhật - Trường hợp một số động

từ tiêu biểu

Khảo sát, phân tích để làm rõ đặc trưng ngữ nghĩa của các ĐT tiêu biểu từ hai góc độ tiếp cận là đa nghĩa và đồng nghĩa

Chương 4: Đặc trưng ngữ dụng của động từ tiếng Nhật, đặc điểm ngôn từ của N

Souseki và những ứng dụng trong giảng dạy

Phân tích để làm rõ đặc trưng ngữ dụng của ĐT qua việc khảo sát hoạt động một số động từ ngữ vi tiêu biểu, tập trung phân tích hành chức của các cặp đối ứng nội động - ngoại động, khảo sát dạng hoạt động của ĐT liên quan đến việc chỉ xuất nhân vật, đến phạm trù lịch sự trong tiếng Nhật Từ những kết quả nghiên cứu về ngữ nghĩa, ngữ dụng của ĐT, chỉ ra một số đặc trưng ngôn từ của N.Souseki qua cách sử dụng ĐT và những ứng dụng trong giảng dạy

Trang 15

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu ngôn ngữ trong các tác phẩm của N.Souseki

Ở Nhật Bản, bên cạnh rất nhiều nghiên cứu mang tính đặc thù văn học, đã có một số công trình nghiên cứu các tác phẩm văn học của N.Souseki dưới góc độ ngôn ngữ học Tuy nhiên, có thể nói rằng những vấn đề ngôn ngữ mà các nghiên cứu này đề cập tới còn lẻ tẻ, chưa thực sự thành hệ thống Đó là:

- Nghiên cứu về các đơn vị ngôn ngữ cũng như các phương tiện biểu hiện ngữ pháp trong tiếng Nhật như nghiên cứu của Rinkiun hay các nghiên cứu của Terada Tomomi Trong đó, Rikiun (1995) tập trung khảo sát các cách diễn đạt có chứa reru, rareru được sử dụng trong “Botchan” Theo tác giả, các phụ tố reru, rareru trong tác phẩm này được sử dụng theo nguyên tắc chung với các ý nghĩa ngữ pháp

là biểu hiện khả năng, sự tình mang tính tự phát, sự tôn kính và dạng bị động Tác giả đi sâu khảo sát dạng bị động, đặc biệt là dạng bị động với nghĩa “bị làm phiền” (meiwakuukemi 迷惑受身) và đưa ra một số đề xuất trong giảng dạy [149] Còn Terada Tomomi (2000, 2001, 2002) công bố một số nghiên cứu về ngôn ngữ giới cuối thời Minh Trị thông qua thống kê, phân tích những biểu hiện cuối câu của các lời thoại trong tác phẩm “Wagahai wa neko de aru” (Tôi là mèo) Theo đó, các tiểu

từ tình thái cuối câu như “koto”, “wa” là những cách nói riêng của nữ giới, “zo” là cách nói riêng của nam giới Tác giả cũng khảo sát các cách nói được cả hai giới

sử dụng trong tác phẩm, từ đó đưa ra một số nhận định về mối tương quan giữa việc sử dụng các tiểu từ tình thái cuối câu với việc sử dụng kính ngữ [112]

- Nghiên cứu về phong cách ngôn ngữ nhà văn như các nghiên cứu của Otani (2007), Rishunran (2010) Trong đó, Otani (2007) đã phân tích một số ví dụ trích dẫn từ 11 cuốn tiểu thuyết của N.Souseki và cho rằng: điểm thú vị về ngôn ngữ tạo nên tiếng cười cho tiểu thuyết của N.Souseki là những lối chơi chữ, các cách nói tỉ

dụ, thậm xưng, cách diễn đạt dài dòng cụ thể quá mức cũng như cách bố cục tạo ra

độ lệch giữa các câu từ trong diễn đạt [49] Rishunran (2010) nghiên cứu về cách biểu hiện thái độ lịch sự trong tiểu thuyết “Botchan” thông qua việc thống kê và

Trang 16

phân tích cách nói thông thường (sử dụng “da”) và cách nói lịch sự (sử dụng

“desu”) Từ sự tương ứng giữa việc sử dụng hay không sử dụng kính ngữ trong các lời thoại và lời dẫn miêu tả suy nghĩ của Botchan về các nhân vật khác, tác giả phân tích thái độ, tình cảm của Botchan đối với họ, góp phần làm sáng tỏ dụng ý sử dụng ngôn từ của nhà văn [156]

- Bên cạnh đó, còn có nghiên cứu về cách sử dụng các loại chữ viết, cụ thể là

sự sử dụng chữ Kana3 trong bản thảo của N.Souseki của Narita Tetsuo (2008) Tác giả đã chỉ ra rằng: ngoài các trường hợp từ ngoại lai được ghi bằng chữ Kana như

“paipu” (tẩu)… như quy định chung, còn có những từ tuy là thuần Nhật nhưng vẫn được ghi bằng chữ Kana như các từ chỉ sinh vật như “inago” (cào cào) ), các từ

tượng thanh như “ohoho” (ohôhô)…; có những từ tuy là từ ngoại lai nhưng lại

được ghi bằng chữ Hán như “tabako” (thuốc lá) , lại có những từ khi được ghi bằng chữ Hán, khi được ghi bằng chữ Kana như hankachi (khăn tay), shatsu (áo sơ

mi) ; và đưa ra những kiến giải riêng cho từng trường hợp [120]

Như vậy, qua sự tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng hiện chưa có nhiều nghiên cứu về tiếng Nhật thông qua các tác phẩm văn học của N.Souseki và chúng cũng chỉ dừng lại ở những khảo sát nhỏ lẻ Trong số các nghiên cứu này, đáng kể nhất là công trình của Terada Bà đã phần nào đưa ra được một số nhận định về đặc trưng ngôn ngữ của N.Souseki và đặc trưng của tiếng Nhật thời kì đầu Minh Trị Tuy nhiên, những vấn đề liên quan tới ĐT vẫn c n chưa được đề cập đến một cách thỏa đáng Đây cũng chính là mảng vấn đề mà luận án đặt ra cho nghiên cứu của mình

1.1.2 Nghiên cứu về động từ tiếng Nhật nói chung

Với vai trò to lớn trong việc tạo ra các phát ngôn, cùng với sự phát triển của ngành nghiên cứu ngôn ngữ Nhật tại Nhật Bản, ĐT tiếng Nhật luôn thu hút sự quan tâm của rất nhiều học giả cũng như các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Có thể phân loại các nghiên cứu về ĐT tiếng Nhật thành các khuynh hướng lớn như sau: a) Đặt ĐT trong quan hệ tổng thể của các vấn đề ngữ pháp tiếng Nhật:

Những nghiên cứu về ĐT theo hướng này gắn liền với những nghiên cứu về các phạm trù ngữ pháp trong tiếng Nhật Tiêu biểu trong số đó là các công trình

3

Là hệ thống văn tự được người Nhật sáng tạo ra bằng cách giản hoá thảo thư của chữ Hán nhằm ghi lại mọi

âm vận trong tiếng Nhật

Trang 17

“Một cách phân loại động từ tiếng Nhật” của Kindaichi Haruhiko (1950), "Thể của

động từ Tiếng Nhật" của Kindaichi (1976), công trình “Bàn về việc nghiên cứu thể - một bước mới theo Kindaichi” của Okuta (1977) hay công trình “Thời và thể trong tiếng Nhật hiện đại” của Shibatani (1979), “Phạm trù dạng” của Nita Yoshio (1981),

“Ý nghĩa và sự tạo câu của động từ tiếng Nhật- xung quanh vấn đề thời và thể” của Nita Yoshio (1982), “Thời và thể trong tiếng Nhật hiện đại” của Takahashi Taro (1985), “Phương diện sự tình và tình thái của thời và thể” của Teramura (1982), “Cú

pháp và ý nghĩa tiếng Nhật” của Teramura (1984), “Động từ và phạm trù dạng” của

Kageyama Taro (1989), “Dạng và tính ngoại động trong tiếng Nhật” của Nita Yoshio (1991), “Ngữ pháp hình tròn đồng tâm của tiếng Nhật” của Minami Fuji (1993), “Nghiên cứu ngữ pháp ngữ nghĩa của động từ” của Morita (1994), “Động từ

tiếng Nhật” của Kayano Naoko (2001), “Hệ thống thời, thể và văn bản - các cách biểu hiện thời trong tiếng Nhật” của Kudou Mayumi (1995), “Hệ thống thời, thể, tình thái trong tiếng Nhật - Vượt qua những nghiên cứu về tiếng Nhật chuẩn” của

Kudou Mayumi (2004) [65], [66], [70], [71], [113], [123], [124], [135]

b) Chỉ tập trung nghiên cứu về ĐT hoặc một số nhóm nhỏ trong ĐT:

Trước tiên, có thể thấy rằng trong các công trình lớn tổng hợp nhiều vấn đề

về ĐT như các công trình của Morita (1981), Nita (1984) , các tác giả đều có những phần riêng đi sâu bàn luận về ĐT theo các tiểu loại, các nhóm có chung đặc trưng nào đó như ĐT chỉ sự biến đổi, sự chuyển động, sự cho nhận

- Từ những năm 50 của thế kỉ XX cho đến nay, đã có hàng loạt công trình nghiên cứu về các ĐT phức4 trong tiếng Nhật, từ những nghiên cứu về ĐT phức nói chung cho tới từng trường hợp các yếu tố đứng sau trong câu trúc như các nghiên cứu của Takebe (1953), Okuda (1984), Himeno (1999) [107], [57], [151]

- Các nghiên cứu về nội động từ và ngoại động từ trong tiếng Nhật của Okutsu (1967), Hayatsu (1989) Trong đó, tiêu biểu là nghiên cứu của Sato Takuzo (2005) khi bàn về ý nghĩa của câu được tạo thành từ các NĐT và NGĐT [59], [96], [148]

- Các nghiên cứu về nhóm các ĐT thể hiện sự cho - nhận như nghiên cứu của các tác giả Okutsu (1986), Kubo Miori (1998), Sou Eisen (2002), Machita (1999) [60], [77], [101], [132]

4 Các nhà Nhật ngữ học thường gọi ĐT ghép từ hai ĐT là các ĐT phức

Trang 18

Bên cạnh đó c n có các nghiên cứu về nhóm ĐT chỉ giá trị, nhóm ĐT chỉ quan hệ, nhóm ĐT chỉ sự biến đổi tình cảm của Yamaoka Masaki (2000), nghiên cứu về các ĐT phản thân của Sachiekure (2012) [97], [157], [160], [159], [161], [162] c) Xem xét hoạt động của các ĐT trong các cách dùng cụ thể:

“Nghiên cứu mô tả ý nghĩa, cách dùng của ĐT tiếng Nhật” của Miyajima

Tatsuo (1972) là một công trình lớn của Viện nghiên cứu ngôn ngữ quốc gia Nhật Bản Với quan điểm cho rằng “trong việc giải nghĩa của từ một cách chính xác thì không có việc gì quan trọng bằng việc sưu tập càng nhiều càng tốt các trường hợp

sử dụng cụ thể Từ rất nhiều trường hợp cụ thể đó, chúng ta sẽ tự lí giải cả trăm thắc mắc và làm dịu đi cả ngàn ý kiến tranh cãi.” [82;8], Miyajima đã công bố một công trình đồ sộ mô tả nghĩa của ĐT tiếng Nhật Trước tiên, ông mô tả cụ thể những đặc trưng ngữ nghĩa mà ông cho rằng chúng giúp phân biệt một cặp ĐT Cụ thể là, với một cặp đối lập A - B, tác giả phân biệt những trường hợp A và B được sử dụng thay thế cho nhau gọi là “cách sử dụng AB”, và những trường hợp chỉ riêng A hoặc B mới được sử dụng gọi là “cách sử dụng A” và “cách sử dụng B”, từ đó khu biệt đặc trưng

về nghĩa cho A và B Ví dụ, với cặp ĐT hoeru(A) (sủa) và naku (B) (kêu, khóc), cả

hoeru và naku đều dùng được trong trường hợp {inu ga hoeru / naku} (chó sủa), đây

là cách sử dụng AB Nhưng hoeru lại không thể sử dụng như naku trong trường hợp

{neko ga hoeru} (mèo sủa), đây là cách sử dụng B Sự khác biệt này cho thấy phạm vi

chủ thể của naku rộng hơn hoeru Đồng thời, ông cũng đưa ra một loạt kết quả mô tả

cụ thể một số ĐT đa nghĩa như các từ agaru (dâng lên, tăng lên), noboru (leo lên)

Đây là một nghiên cứu mô tả trên diện rộng, với nguồn ngữ liệu khổng lồ không chỉ dừng lại ở các tiểu thuyết mà còn bao gồm cả các văn bản chính luận, khoa học trong các giai đoạn từ cận đại tới hiện đại Tác giả đã xây dựng một hệ thống phong phú sinh động về nghĩa và cách sử dụng của các ĐT tiếng Nhật trong các mối tương quan lẫn nhau

Tiếp theo nghiên cứu của Miyajima, Kobayashi Hideki tiến hành khảo sát ý nghĩa của các ĐT có cấu trúc {~suru} trong tiếng Nhật, tập trung chủ yếu vào các

ĐT gốc Hán Tác giả đã sưu tập trên báo chí hai nhóm ĐT gốc Hán là các ĐT thể hiện nghĩa quá trình biến mất, loại bỏ, như jyokyo-suru (xóa bỏ, loại bỏ)… cùng các ĐT thể hiện ý nghĩa dịch chuyển, như unpan-suru (vận chuyển)… và mô tả chi

tiết về ý nghĩa cũng như cách sử dụng của các ĐT này qua một số bài báo chuyên

Trang 19

ngành [86], [87] Ngoài ra, cũng phải kể đến công trình “Tiếng Nhật - từ điển về

cách dùng các ĐT cơ bản” do nhóm các tác giả Koizumi biên soạn, đã cung cấp

cho người đọc, đặc biệt là người học tiếng Nhật những thông tin về ý nghĩa và cách dùng của hơn 700 ĐT được coi là các ĐT cơ bản nhất trong tiếng Nhật [176] d) Xem xét hoạt động của ĐT trong cấu trúc động ngữ và vị ngữ ĐT:

Cho tới nay, có thể nói cuốn “Ngữ pháp tiếng Nhật - Đoản ngữ” do Hội ngôn

ngữ học Nhật Bản biên soạn năm 1983 là công trình mô tả đồ sộ nhất về đoản ngữ, trong đó có một phần đáng kể là các đoản ngữ ĐT Đây là tập hợp một số bài viết

về đoản ngữ của học giả Okuta Tasuo, trong đó, đoản ngữ ĐT được khảo sát với trong sự kết hợp của ĐT chính với các danh từ (DT) bằng các giới từ cách5 là wo,

ni, made [79]

Chức năng quan trọng nhất của ĐT tiếng Nhật là làm vị ngữ, câu có ĐT làm

vị ngữ được gọi là câu vị ngữ ĐT (doushijyutsugobun動詞述語文) Trong nghiên cứu ngữ pháp ngữ nghĩa hiện đại, mối quan hệ giữa ĐT vị ngữ và các DT trong câu được mô tả chi tiết và hệ thống trong các công trình nghiên cứu của Morita, Teramura Khi đề cập tới sự liên hệ giữa các vai nghĩa và sự hình thành cấu trúc câu, Morita (1973) cho rằng, một cơ sở rất hữu hiệu để nắm bắt được đặc trưng về nghĩa của ĐT trong ngữ cảnh là xem ĐT đó được sử dụng trong sự kết hợp với DT theo trình tự các vai nghĩa ra sao Theo ông, số lượng, kiểu loại và thứ tự kết hợp các vai nghĩa cùng với mối quan hệ giữa các DT ở các vai nghĩa đó là những yếu

tố cho ta biết ý nghĩa của ĐT khi hoạt động trong câu [139]

1.1.3 Nghiên cứu đối chiếu động từ tiếng Nhật với động từ trong các ngôn ngữ khác

Một vấn đề được các nhà ngôn ngữ học Nhật tập trung khai thác về ĐT tiếng Nhật là đối chiếu chúng với ĐT trong các ngôn ngữ khác Điều này trước tiên được

5

Hiện nay, các nhà ngôn ngữ Nhật đều thống nhất sử dụng thuật ngữ jyoshi (助詞 ) để chỉ các hư từ như ga, ni,

wa, kara, made, node, yo, ne, wa Các hư từ này được chia làm 3 loại dựa theo ý nghĩa ngữ pháp là

kakujyoshi (格助詞 ): biểu hiện mối quan hệ giữa vị từ với các DT khác trong câu như ga, ni, wo, to tương

ứng với chức năng của các giới từ (preposition); keijyoshi (係助詞): biểu hiện mối quan hệ giữa các mệnh đề,

các thành phần của câu với nhau như kara, node, wa, mo, sae ; shuujyoshi (終助詞 ): đứng cuối câu, biểu hiện

sắc thái tình cảm, thái độ Trong hầu hết các nghiên cứu về tiếng Nhật ở Việt Nam hiện nay, kakujyoshi (格助

) được các nhà nghiên cứu gọi là “trợ từ cách” Theo chúng tôi, cách gọi này chưa phản ánh được hết những bản chất ngữ pháp mà nó biểu hiện Vì vậy, trong luận án này, chúng tôi thống nhất gọi kakujyoshi là các “giới từ cách” , keijyoshi là các “kết từ”, các shuujyoshi là các “tiểu từ tình thái”

Trang 20

thể hiện qua một loạt các bài viết đăng trong số đặc biệt “Mọi vấn đề về ĐT tiếng

Nhật” của tạp chí “Giải nghĩa và suy ngẫm về tiếng Nhật” số 51- tháng 1 năm

1986 [78] Ngoài những vấn đề cơ bản về hình thái, các phạm trù ngữ pháp như thời, thể, dạng của ĐT, tập san đăng tải 21 bài viết đối chiếu ĐT tiếng Nhật với ĐT trong các thứ tiếng khác như Đức, Hungari, Ả Rập, Hàn Quốc, Philippin, Eskimo Tuy nhiên, không có bài viết nào đối chiếu ĐT tiếng Nhật với ĐT tiếng Việt

Ngoài ra, các công trình “Ngữ pháp của động từ - cấu trúc tiếng Nhật và

tiếng Anh nhìn từ sự khác biệt về ý đồ phát ngôn” của Yoshikawa Chikako (1994),

“Luận về ý nghĩa của động từ - tiếp điểm giữa ngôn ngữ và tri nhận” của

Kageyama Taro (1996) là những công trình tiêu biểu đối chiếu ĐT tiếng Nhật và

ĐT tiếng Anh, được giới nghiên cứu đánh giá cao [62], [165]

1.1.4 Nghiên cứu về động từ tiếng Nhật tại Việt Nam

Ở Việt Nam, các nghiên cứu liên quan tới ĐT tiếng Nhật còn có số lượng rất hạn chế Đáng kể nhất là luận án tiến sĩ nghiên cứu về ĐT phức tiếng Nhật và sau

đó là công trình “Sổ tay động từ phức tiếng Nhật” của Trần Thị Chung Toàn

Trong các công trình này, theo khảo sát của tác giả, ĐT phức tiếng Nhật là một hệ thống mở, về nguyên tắc, chúng có thể tạo ra đến 16 kiểu loại kết hợp, nhưng trên thực tế chỉ có 9 trong số đó được sử dụng phổ biến và thường xuyên trong lời nói Giữa các kiểu loại của ĐT phức có một sự chuyển tiếp về nghĩa, sự nối tiếp và phát triển nghĩa từ kiểu loại trước đến kiểu loại sau tạo thành một sự phát triển liên tục trong hệ thống cấu tạo từ Hơn nữa, tuy phần lớn các ĐT phức là ĐT đa nghĩa nhưng hiện tượng đa nghĩa của ĐT phức bị hạn chế nhiều hơn so với ĐT đơn vì có hai yếu tố trong từ và chúng bị ràng buộc vào với nhau [39], [42]

Trong luận văn thạc sĩ của mình, Nguyễn Phương Thảo (2013) đã tiến hành khảo sát các cấu trúc ĐT {từ ngoại lai + suru} trong tiếng Nhật Theo tác giả, các

từ ngoại lai hoạt động với tư cách vừa là ĐT vừa là DT trong ngôn ngữ được vay mượn có tỉ lệ được ĐT hoá (“suru hoá”) cao hơn so với các từ chỉ được dùng với

tư cách ĐT trong ngôn ngữ gốc Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc thống

kê ĐT trong các từ điển, chưa phân tích về hoạt động của ĐT trong hành chức Gần đây nhất, trong giáo trình "Ngữ pháp tiếng Nhật dành cho sinh viên Việt Nam" [116], Trần Thị Chung Toàn có giới thiệu về ĐT tiếng Nhật với những nội dung cơ bản như sự nhận diện và phân loại ĐT thành các tiểu nhóm, các phạm trù

Trang 21

ngữ pháp của ĐT khi hành chức với vai trò là vị ngữ Tuy nhiên, đây là một giáo trình cung cấp các nội dung cơ bản chung về ngữ pháp nên một số vấn đề cụ thể của ĐT tiếng Nhật c n chưa được đề cập một cách chi tiết

Ngoài ra, có thể kể tới một vài nghiên cứu ít nhiều liên quan tới ĐT tiếng Nhật trong sự liên hệ với tiếng Việt như bài viết của Lê Văn Cừ (1997) về cách nói

bị động trong tiếng Nhật và tiếng Việt, của Nguyễn Thanh Vân (2005) phân tích những lỗi sai về câu bị động của sinh viên Việt Nam học tiếng Nhật nhằm đưa ra những kiến giải và phương pháp giảng dạy phù hợp hơn [155], [80]

Trên đây là những khái lược về các nghiên cứu ĐT tiếng Nhật theo một số cách tiếp cận khác nhau Có thể thấy ĐT tiếng Nhật được nghiên cứu từ nhiều góc

độ song hiện vẫn chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng của chúng gắn với các tác phẩm văn học Công trình của Miyajima (1972) tuy đã tập hợp một số lượng lớn các trường hợp cụ thể về cách sử dụng của

ĐT trong nhiều tác phẩm văn học khác nhau song chỉ đơn thuần là làm dữ liệu để phân tích nghĩa, không có sự kết nối với ngữ cảnh văn học, với thực tế giảng dạy tiếng Nhật Trong luận án này, chúng tôi không kì vọng vào việc chỉ ra đầy đủ hết những đặc trưng ngữ nghĩa của kho ĐT tiếng Nhật rộng lớn mà chỉ mong muốn làm sáng tỏ thêm những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng gắn liền với hiệu quả biểu đạt văn học của một số ĐT trong hành chức, góp phần bổ sung thêm bức tranh miêu tả về ĐT tiếng Nhật cùng những tư liệu cụ thể cho công tác giảng dạy

1.2 Những vấn đề lí thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu

1.2.1 Những nội dung lí thuyết cơ bản về động từ tiếng Nhật

1.2.1.1 Nhận diện động từ trong tiếng Nhật

Trong lịch sử nghiên cứu tiếng Nhật, ĐT chính thức được tách ra thành một trong các từ loại bắt đầu từ thời đầu Minh Trị, trong một số cuốn sách ngữ pháp tiếng Nhật biên soạn theo kiểu ngôn ngữ học phương Tây như “Ngữ pháp tiếng Nhật tiểu học” (Shogakunihonbunten 小学日本文典) của Tanaka Yoshikato (1874),

“Ngữ pháp tiếng Nhật” (Nihonbunten 日本文典) của Nakane Kiyoshi (1876) Đây chính là những bước đi tiên phong của nghiên cứu tiếng Nhật thời hiện đại Trước

đó, trong hệ thống nghiên cứu ngữ pháp tiếng Nhật, ĐT chưa được phân định là một từ loại độc lập mà được xếp trong nhóm các vị từ gọi là “yogen” (用言) theo cách gọi của Motoori Norinaga, hay “yososhi” (ヨソ詞) theo cách gọi của Fujitani

Trang 22

Nariakira c n sự biến hình của vị từ trong tiếng Nhật được gọi là “katsuyo” (活用) Tuy nhiên sự phân định từ loại trong các tài liệu này còn nhiều điểm không hợp lí như coi “yoshi” (善し6 ) là ĐT Sau đó, Ootsuki Fumihiko, trong phần phụ lục “Chỉ

nam ngữ pháp” (Gohoushinan 語法指南) kèm trong cuốn từ điển Genkai (言海) (1889), đã bước đầu chỉ ra những cơ sở lí luận về phân định từ loại, và theo đó ĐT

là một trong tám từ loại được phân định cùng với DT, tính từ, phó từ, đại từ, trợ

ĐT, trợ từ (tác giả gọi là nhóm từ teniwawo) và cảm thán từ [69], [154] Tiếp sau

đó, Hashimoto Shinkichi đã đề xuất cách phân định từ loại theo tiêu chí về hình thái (tức là về sự biến hình) và về hành chức (tức là sự kết hợp với các từ khác) Theo đó, “Ngữ pháp phổ thông” định nghĩa ĐT là những vị từ có đuôi thuộc hàng

“u” trong hình thái kết thúc câu [82;675]

Hiện nay, giới nghiên cứu tiếng Nhật hiện đại thống nhất cho rằng: ĐT tự mình có thể làm thành vị ngữ của câu, có thể kết hợp với các thành phần khác như chủ ngữ, bổ ngữ để làm thành câu Về mặt hình thái, ĐT được chia thành 3 nhóm: nhóm I bao gồm các ĐT có đuôi “u”; nhóm II là các ĐT có đuôi “ru”; nhóm

III gồm kuru (tới, đến) và suru (làm)7 Ý nghĩa từ vựng cơ bản của ĐT là mô tả sự vận động, nhưng cũng có một số ít là mô tả trạng thái

1.2.1.2 Phân loại động từ tiếng Nhật

ĐT tiếng Nhật được phân loại theo nhiều cách khác nhau với những hướng tiếp cận khác nhau như phân loại theo dạng thức biến hình, theo chức năng, theo ý nghĩa Dưới đây là một số cách phân loại ĐT tiêu biểu làm cơ sở cho việc tiến hành thống kê và phân loại ĐT trong chương 2 nhằm đưa ra định hướng nghiên cứu đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng của ĐT trong chương 3, chương 4 của luận án a) Phân loại động từ tiếng Nhật nói chung

- Về mặt hình thái, ĐT tiếng Nhật được chia thành 3 nhóm: nhóm I bao gồm các ĐT có đuôi “u”; nhóm II là các ĐT có đuôi “ru”; nhóm III gồm kuru, suru Teramura (1982) mô tả đặc điểm hình thái của 3 nhóm này như sau:

Nhóm I: bao gồm những ĐT có thân từ kết thúc là phụ âm (k, s, t, r, b, g, m,

n) và bán nguyên âm w, c n đuôi từ là “u” Ví dụ: kak-u (viết), kas-u (cho mượn), tat-u (đứng), ur-u (bán), oyog-u (bơi), nom-u (uống), ka-w (mua)…

6

Dạng biến hình của tính từ 良い (tốt) , có thể dùng như DT

7 Sẽ được trình bày cụ thể hơn trong phần phân loại ĐT theo hình thái

Trang 23

Nhóm II: bao gồm những ĐT có thân từ kết thúc là nguyên âm “e” hoặc

nguyên âm “i” c n đuôi từ là “ru” Ví dụ: ne-ru (ngủ), oki-ru (thức dậy)…

Nhóm III: gồm “suru” (làm), “kuru” (tới) và các ĐT dạng “~ suru” (như giron-suru (bàn luận), chekku-suru (kiểm tra)…)

- Xét từ nguồn gốc của các yếu tố tham gia cấu tạo từ, có thể phân chia ĐT thành ĐT thuần Nhật, ĐT gốc Hán và ĐT ngoại lai (ĐT có nguồn gốc từ các yếu tố

Ấn - Âu) Ví dụ:

+ ĐT thuần Nhật: iku (đi), ataisuru (đáng giá), amanzuru (nuông chiều) + ĐT gốc Hán: unpansuru (vận động), kaisuru (hiểu), hinikuru (than phiền) + ĐT ngoại lai: pasusuru (qua), hittosuru (gây sốt), daburu (nhân đôi)…

- Xét về cấu trúc nội tại, có thể phân chia các ĐT trong tiếng Nhật thành ĐT đơn, ĐT ghép và ĐT phái sinh Tuy nhiên, trong số các ĐT ghép, cũng có một số nhà nghiên cứu tiếp tục phân nhỏ chúng thành ĐT phức (gồm 2 căn tố ĐT đơn ghép lại với nhau) và ĐT phái sinh (chỉ gồm một căn tố ghép với các yếu tố tạo từ

phái sinh) Ví dụ: ĐT đơn: taberu (ăn), nomu (uống) ; ĐT ghép: nomi-komu (uống vào), tobi-agaru (nhảy lên), ura-tsukeru (tạo căn cứ) ; ĐT phái sinh: tabe- rareru (có thể ăn / bị ăn), tabe-saseru (bắt ăn, để cho ăn), bun-nageru (đấm mạnh)

- Khi phân loại ĐT, phần lớn các nhà ngữ pháp đều đề xuất cách thức và nội dung phân chia ĐT tiếng Nhật thành 2 loại lớn là nội động từ (NĐT) và ngoại động

từ (NGĐT) "NGĐT là những động từ chỉ ra những quá trình vận động gây tác động đến đối tượng khác Lúc này, đối tượng nhận tác động sẽ được biểu thị bằng danh từ kết hợp với giới từ cách wo Những không có đặc tính này là NĐT." [99;270] Các nhà Nhật ngữ cũng chỉ ra rằng, có một số ĐT vừa có khả năng hoạt động như NGĐT vừa như NĐT và gọi chúng là các động từ lưỡng dụng (ĐTLD) Morita (1994) cho rằng có thể chia các ĐTLD thành hai loại chính là:

Loại 1 (LV1): có những nét nghĩa chung khi là NĐT và khi là NGĐT Ví dụ:

tsuku trong te wo tsuku (gập tay) và te ga tsuku (tay gập)

Loại 2 (LV2): có ý nghĩa khác nhau khi là NĐT và khi là NGĐT Ví dụ,

makeru là NĐT với nghĩa là “thua”, là NGĐT với nghĩa là “giảm, hạ giá”

b) Phân loại động từ theo khả năng kết hợp vai nghĩa

Có thể cho rằng, các cách phân loại ĐT trong tiếng Nhật trên đây là những cách phân chia theo phương pháp truyền thống, đã tạo ra những thành quả cơ bản

Trang 24

trong việc xác lập các tiêu chí để nhận diện và phân chia ĐT tiếng Nhật trong thời hiện đại Cùng với sự phát triển của ngành ngữ nghĩa học, ĐT trong tiếng Nhật lại được nhìn nhận theo một góc độ mới Đó là việc xem xét chúng trong sự kết hợp với các yếu tố là danh ngữ theo góc nhìn của sự chi phối các vai nghĩa

Trong tiếng Nhật, các giới từ cách là phương tiện hình thức điển hình thể hiện mối quan hệ giữa DT và ĐT vị ngữ Theo Nita (2005), chúng gồmga, wo, ni, e, kara, to, de, yori, made [125;97] Tùy theo số lượng các tham tố tối thiểu cần có để một ĐT có thể làm thành vị ngữ của câu (được gọi là ngữ trị), ĐT tiếng Nhật cũng được chia thành ĐT có ngữ trị là 1, ĐT có ngữ trị là 2, ĐT có ngữ trị là 3 Ví dụ,

umareru (sinh ra), shinu (chết), kieru (tắt), naru (trở thành) là các ĐT có ngữ trị là

1, chỉ cần tối thiểu một tham tố bao gồm {DT + ga} làm chủ thể, các ĐT nomu

(uống), taberu (ăn), yomu (đọc) là các ĐT có ngữ trị là 2, chúng cần tối thiểu hai

tham tố là {DT + ga} làm chủ thể và {DT + wo} làm đối tượng…

1.2.1.3 Các phạm trù ngữ pháp tiêu biểu của động từ tiếng Nhật

1) Phạm trù thời (Tense)

Trong tiếng Nhật hiện đại, ĐT tuân thủ theo quy tắc của phạm trù thời với hai

loại là “thời quá khứ” qua hình thức biểu hiện là dạng “ta” (“ta” keiタ形) làm đuôi

từvà đối lập với nó là “thời phi quá khứ”, bao gồm cả “hiện tại” và “tương lai”

qua hình thức biểu hiện là dạng “ru” (“ru”kei ル形) làm đuôi từ [175] Tuy nhiên, trong thực tế, dạng “ru” và dạng “ta” của ĐT tiếng Nhật lại biểu những ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào việc nó được sử dụng làm vị ngữ cho câu hay làm thành phần định ngữ trong các mệnh đề của câu Xét từ góc độ này, thời của ĐT tiếng

Nhật được chia cụ thể hơn thành “thời tuyệt đối” và “thời tương đối” Trong đó,

“thời tuyệt đối” được hiểu là thời so với mốc chuẩn thời gian là thời điểm phát ngôn, “thời tương đối” được hiểu là thời so với mốc chuẩn thời gian là một sự kiện

mà người phát ngôn lựa chọn [116] Bảng 1.1 cho biết ý nghĩa thời của ĐT tiếng Nhật

Bảng 1.1: Thời của động từ tiếng Nhật

Trang 25

いい匂いがする(suru)ね。

(Có mùi thơm quá)

(Tôi nghĩ anh ta không phải là thủ phạm)

(4) Thói quen, tập quán ở hiện tại

最近よく小説を読みます( yomimasu) 。

(Dạo này tôi hay đọc tiểu thuyết)

(5) Hành động có thể xảy ra trong tương lai

昨日、彼に会った(atta)

(Hôm qua tôi đã gặp anh ấy)

(2) Thói quen trong quá khứ 彼女は当時、日曜日にパーティを開いた(hiraita)

( Hồi đó, cứ chủ nhật là cô ấy lại mở tiệc)

(3) Sự việc, hành động diễn

ra cho tới một thời điểm nào đó trong quá khứ

2000 年までは東京に住んだが、その後京都に引っ 越ししてきた(hikkoshitekita)。(Tôi đã sống ở

Tokyo cho tới năm 2000 và sau đó thì chuyển về

Kyoto (ở cho tới nay)

tìm ra châu Mĩ năm 1492)

(2) Nhận định của người nói

về sự việc trong quá khứ

人をだましてお金を取ったのは酷すぎる

(hidosugiru)(Lừa người ta lấy tiền đúng là quá

tệ!)

(3) Trạng thái trong các mệnh đề phụ

さあ、どいた、どいた(doita,doita)

(Tránh ra, tránh ra nào!)

(4) Nêu nhận định, cảm xúc đối với sự kiện nào đó trong quá khứ

一時停車していれば、あの事故は防げた

(fusegeta)(Nếu dừng tàu lại một chút thì đã có thể

tránh được tai nạn đó rồi.)

(5) Thể hiện sự lắng nghe, đồng tình với những điều

đã qua, những điều đối phương đưa ra

Trang 26

2) Phạm trù thể (aspect)

Nếu như Kindaichi (1950, 1955) là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu thể trong tiếng Nhật với dạng “te-iru” và cho rằng thể trong tiếng Nhật biểu hiện

qua hai thể đối lập là “biểu thị vận động” và “biểu thị trạng thái” thì cho tới nay,

theo quan niệm chung của các nhà ngôn ngữ Nhật, việc nghiên cứu thể không thể tách rời hẳn với việc nghiên cứu thời, thể và thời được đặt trong một thể đối lập hoàn chỉnh trong hệ thống của nó [39;12] ĐT trong tiếng Nhật hiện đại có phạm

trù thể với sự đối lập của “thể hoàn thành” và “thể tiếp diễn” Cả hai hình thức này

lại chuyển thành dạng quá khứ hay phi quá khứ theo phạm trù thời [83;3] Điều

này được mô tả như trong bảng sau, với “suru” (làm) làm ĐT đại diện

Bảng 1.2: Thời và thể trong tiếng Nhật

Thời

Thể tiếp diễn shi-te-iru shi-te-ita

Cụ thể hơn, trong sự đối lập về các giai đoạn diễn ra của hành động do ĐT thể hiện, phạm trù thể c n được Teramura (1982) chia thành 3 bậc và sự phân chia này được Trần Thị Chung Toàn (2014) tổng hợp lại như sau:

Bảng 1.3: Các cấp độ biểu hiện thể trong tiếng Nhật

Bậc 1 dạng “ru (ル形)” của ĐT; dạng “ta (タ形)” của ĐT

Bậc 2 dạng “te (テ形)” + ĐT bổ trợ (như aru, iru, shimau, kuru, iku )

Bậc 3 một số yếu tố đứng sau trong các ĐT phức (như hajimeru, owaru )

[116;279] 3) Phạm trù dạng (voice)

Hầu hết các nhà ngôn ngữ Nhật đều thống nhất quan điểm tương tự Teramura (1982), cho rằng phạm trù dạng của ĐT tiếng Nhật được biểu thị bằng cả phương tiện ngữ pháp và từ vựng Trong đó, bằng ngữ pháp có các biểu hiện là dạng bị động, dạng khả năng, dạng tự phát, dạng sai khiến, dạng kính ngữ; bằng phương tiện từ vựng, dạng được biểu hiện qua sự đối lập NĐT - NGĐT phát sinh từ cùng một gốc từ [115;211] Về mặt hình thái, ĐT tiếng Nhật có các dạng cùng hình thức biểu hiện như sau:

Trang 27

3.Các cách nói kiểu giải thích (các trợ ĐT kiểu như

“hazu”), kêu gọi, hỏi, bày tỏ ý chí, chủ trương, giải thích v.v

Bảng 1.4: Dạng và hình thức biểu hiện dạng trong tiếng Nhật

tabe-ru (ăn)

Khả năng Gốc ĐT + eru / areru Kak-eru (có thể viết),

tabe-rareru (ăn được)

Bị động Gốc ĐT + aeru / areru Kak-areru (bị viết)

Tự phát Gốc ĐT + eru / rareru / wareru

) + ni naru Các ĐT đặc biệt

4) Phạm trù tình thái (modality)

Cũng như mọi ngôn ngữ khác, tình thái là phạm trù ngữ pháp không thể thiếu trong hoạt động ngôn ngữ tiếng Nhật Thông qua phạm trù tính thái, người nói sẽ quyết định cách phát ngôn để thể hiện thái độ của mình tại thời điểm phát ngôn đối với sự tình cũng như đối với người nghe [129;2] Teramura (1982) đã phân biệt tình

thái trong tiếng Nhật thành 2 loại cơ bản là: “tình thái đối với sự tình” và “tình thái

đối với người đối thoại” và cụ thể sự phân biệt này theo sơ đồ dưới đây

[113;60]

8 Một dạng biến hình của ĐT theo quy tắc:

Nhóm I: đuôi “u” chuyển thành “i” Ví dụ: kak-u (viết)kaki

Nhóm II: Bỏ đuổi ru Ví dụ: ne-ru (ngủ) ne

Nhóm II: suru (làm) shi; kuru (đến) ki

Tình thái đối với người đối thoại

Tình

thái

Tình thái đối với sự tình

Trang 28

Cụ thể hơn, dựa theo quan điểm của Teramura, Trần Thị Chung Toàn (2014) đã

phân loại tình thái trong tiếng Nhật theo phương thức biểu hiện thành 3 cấp độ như sau:

Bảng 1.5: Tình thái và hình thức biểu hiện trong tiếng Nhật

hồ, chưa có sự xác định chắc chắn

今晩、パティ―に行こう (ikou)

(Tối nay đi dự tiệc đi!)

Thể hiện một lời mời, sự tình chưa xác định rõ 3) Các biểu hiện khác: lịch

sự, phủ định, mệnh lệnh

近いので、行け ( ike )。(Gần mà, đi đi!)

Thể hiện một lời ra lệnh, sự tình chưa được

xác định rõ

Bậc 2 Vị ngữ (dạng “ru” / “ta” +

trợ ĐT

夕べ、雤が降っただろう(futtadarou)

(Chắc là đêm qua trời mưa)

Thể hiện sự dự đoán thông qua trợ ĐT だろう

là bậc 3 Là vị từ quan trọng của tiếng Nhật, ĐT cũng tuân thủ theo đúng những nguyên tắc này trong hoạt động để biểu hiện tình thái

5) Phạm trù lịch sự (politeness)

Lịch sự là một phạm trù đặc biệt của tiếng Nhật Khi hành chức trong các phát

ngôn, hoạt động của ĐT tiếng Nhật có thể qui về 2 dạng lớn là dạng lịch sự 9

(teineitai丁寧体) biểu đạt "cách nói lịch sự" và dạng thường (futsuutai普通体) biểu đạt "cách nói thân mật" Suzuki cho rằng: "Khi biểu đạt những sự việc, sự tình một

9

Dạng là một cách nói tắt của dạng thức biến đổi hình thái của từ, không đồng nhất ý nghĩa với Phạm trù

Dạng (voice)

Trang 29

cách trang trọng, chúng ta dùng các ĐT với cách nói lịch sự Khi trò chuyện với bạn bè, chúng ta dùng các ĐT với cách nói thân mật Trong văn viết, hầu hết các

trường hợp, chúng ta luôn dùng các ĐT với dạng thường" [99;293] Để biểu đạt

cách nói lịch sự, ở thời hiện tại người Nhật dùng trợ ĐT masu (quá khứ là mashita)

chắp vào sau các thân từ; Để biểu thị cách nói thân mật ĐT được dùng ở dạng

thường (futsuukei普通形, bao gồm các dạng thức như: dạng từ điển (jishokei辞書

形, còn gọi là dạng ruル形), dạng ta (takeiタ形), dạng nai (naikeiナイ形)

Có thể lấy ĐT biểu thị hành động "ăn" ở dạng từ điển của tiếng Nhật là taberu

để minh hoạ cách biểu đạt có liên quan đến phạm trù lịch sự gắn với các phạm trù

thời, thể, dạng đã được miêu tả trên đây như sau:

Bảng 1.6: Dạng thức biến hình theo phạm trù lịch sự của ĐT tiếng Nhật

tabe-ru: dạng thường; chủ động; thời phi

quá khứ: (ăn)

tabe-masu: dạng lịch sự; chủ động; thời phi

quá khứ (không ăn)

tabe-ta: dạng thường; chủ động; thời quá

động; phủ định; quá khứ ((đã) không ăn))

tabe-rare-ru: dạng thường; bị động; phi quá

định; phi quá khứ ((không bị ăn (mất))

tabe- sase-ru: dạng thường; sai khiến; phi

quá khứ (bắt ăn)

tabe-sase-masu: dạng lịch sự; sai khiến; phi

quá khứ (bắt ăn)

tabe-sase-nai: dạng thường; sai khiến; phủ

định; phi quá khứ (không bắt ăn)

tabe-sase-masen: dạng lịch sự; sai khiến,

phủ định; phi quá khứ (không bắt ăn)

tabe-sase-rare-ru: dạng thường; bị động sai

khiến; phi quá khứ (bị bắt ăn)

ĐT tiếng Nhật, góp phần tạo ra đặc trưng lịch sự trong tiếng Nhật nói chung

Trang 30

hệ logic tất yếu, mà là những liên hệ phản ánh, mang tính quy ước, được xây dựng bởi những cộng đồng người bản ngữ” [10;167] Dưới nhiều góc độ, chúng ta không thể phủ nhận được sự tồn tại về nghĩa của từ, về vai trò của nó trong hoạt động ngôn ngữ Thông qua hoạt động ngôn ngữ mà nghĩa của từ được biểu hiện

Từ được tập hợp lại thành "kho từ vựng", quy tụ lại trong các từ điển quốc ngữ

của từng ngôn ngữ Vì vậy, có thể nhận định "khi nói đến nghĩa của từ là nói đến

nghĩa từ điển của từ đó." [9;193-194] Tuy nhiên, nghĩa từ điển của từ là tổng hợp các cách hiểu khác nhau về nghĩa của từ nói chung Còn với từng cá nhân, nghĩa của

từ cũng có những sự khác biệt nhất định Nguyễn Thiện Giáp cho rằng:“Trong nhận thức của con người không xuất hiện và tồn tại bản thân nghĩa của các từ và các đơn

vị ngôn ngữ khác mà trong nhận thức chỉ có sự hiểu biết về các nghĩa của chúng

mà thôi” [20] Nguyễn Đức Tồn (2010) cho rằng: “Nghĩa của từ là một hiện tượng tâm lí, tinh thần, nghĩa của từ là cái xuất hiện (hay được gợi lên trong trí óc mọi người khi nghe thấy (hoặc đọc) từ ấy” [44;186]

Khi nghiên cứu nghĩa của từ trong phát ngôn, việc phân biệt "ý, ý nghĩa và ngữ

nghĩa" cũng là một vấn đề cần phải lưu tâm Về điều này, Từ điển Tiếng Việt của

Viện Ngôn ngữ học đã đưa ra các định nghĩa như sau:

- ý: 1 Điều suy nghĩ, ý nghĩ (nói khái quát) 2 Nội dung những gì được nói

ra bằng lời 3 [ ] 4 Ý muốn hoặc ý định thường không nói ra - nghĩa: nội dung diễn đạt của một kí hiệu, đặc biệt của kí hiệu ngôn ngữ

Trang 31

- ý nghĩa: Nội dung chứa đựng trong một hình thức biểu hiện bằng ngôn ngữ, văn tự hoặc bằng một kí hiệu nào đó

Hoàng Phê cho rằng: "Nghĩa là nội dung ngữ nghĩa của từ, ngữ, câu, chỉ làm

chức năng định danh, còn ý là hiện tượng ngữ nghĩa khi từ và câu trở thành lời,

dùng trong lời nói, thực hiện chức năng thông báo - giao tiếp " [31;29] Mai Ngọc

Chừ và tập thể tác giả trong "Nhập môn ngôn ngữ học" cho rằng: "ý nghĩa có nghĩa

bao trùm cả nghĩa và ý Song trong thực tế sử dụng, từ ý nghĩa khi đồng nghĩa với

nghĩa, khi đồng nghĩa với ý Với sự phân biệt ý, nghĩa và ý nghĩa như trên, giáo

trình này quan niệm nghĩa của từ là một thực thể tình thần có quan hệ ổn định với hình thức của từ C n ý cũng là một thực thể tinh thần nhưng xuất hiện lâm thời trong một hoàn cảnh sử dụng [9;195] Như vậy, có thể hiểu rằng nghĩa của từ tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ, khi nghĩa từ được sử dụng trong ngữ cảnh là ý, sự kết hợp giữa ý và nghĩa tạo nên ý nghĩa

Theo Hoàng Phê, “ngữ nghĩa quan hệ trực tiếp với tư tưởng, tình cảm và với hiện thực, nhờ đó ngôn ngữ thực hiện chức năng chủ yếu là công cụ tư duy và công

cụ thông báo - giao tiếp [31] “Nghĩa từ cần được nghiên cứu trong mối quan hệ nhiều mặt, không những trong quan hệ với nhận thức và với hiện thực mà còn trong quan hệ cấu trúc nội tại, cũng như trong quan hệ hệ thống và quan hệ tổ hợp

với những nghĩa từ khác, trong ngữ, trong câu, trong lời” [31;6 ] “có xuất phát từ

nghĩa của lời thì mới có được cái nhìn tổng quát về các mặt quan trọng nhất của ngữ nghĩa, cái nhìn tổng quát đó giúp tìm hiểu ngữ nghĩa của từ và ngữ được sâu sắc hơn, toàn diện hơn” [31;90]

1.2.2.2 Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp

Khi bàn về nghĩa của từ, xuất phát từ ngữ nghĩa học truyền thống và vẫn luôn

là những khái niệm quan trọng mà nhà nghiên cứu cần đề cập đến là ý nghĩa từ vựng

và ý nghĩa ngữ pháp

1) Ý nghĩa từ vựng

Ý nghĩa từ vựng là ý nghĩa riêng của từng từ Trong ý nghĩa từ vựng của từ

có các thành phần nghĩa: ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái

Trang 32

Ý nghĩa biểu vật: "Ý nghĩa biểu vật là phần nghĩa của từ liên quan đến sự vật hoặc

phạm vi sự vật trong thế giới mà từ gợi ra Nghĩa sự vật cụ thể của từ trong hoạt động cụ thể là nghĩa chiếu vật"

Ý nghĩa biểu niệm: "Ý nghĩa biểu niệm là phần nghĩa của từ liên quan đến hiểu biết

về ý nghĩa biểu vật của từ" [9;199- 200]

Trong cấu trúc nghĩa biểu niệm, "nét nghĩa" là một khái niệm quan trọng Nét

nghĩa được phân xuất trên cơ sở phân tích thành tố nghĩa Để xây dựng được ý nghĩa biểu niệm của từ phải xác định được nét nghĩa và sắp xếp chúng theo những trình tự nhất định Theo đó, trong cấu trúc nghĩa của từ, mỗi nét nghĩa có hai đặc trưng: đặc trưng bản chất - tương ứng với thuộc tính của sự vật hiện tượng khách quan và đặc trưng vị trí - chiếm một vị trí nhất định trong cấu trúc nghĩa biểu niệm của từ Nét nghĩa được phân xuất một cách gián tiếp trên cơ sở đối chiếu nghĩa của các từ khác nhau Theo Đỗ Hữu Châu, "Chỉ những thuộc tính nào tạo nên sự đồng nhất và sự đối lập về mặt ngữ nghĩa giữa các từ thì thuộc tính đó mới trở thành nét nghĩa của ý nghĩa biểu niệm Do đó, để phát hiện ra các nét nghĩa, cần phải tìm ra những nét nghĩa chung, đồng nhất trong nhiều từ rồi lại đối lập những từ có nét nghĩa chung đó với nhau để tìm ra những nét nghĩa cụ thể hơn, cứ như vậy chúng ta gặp những nét nghĩa chỉ có riêng trong một từ " [6;117]

Ý nghĩa từ vựng của từ với các nét nghĩa của chúng thường được các nhà từ điển tập hợp lại thành các nội dung của các mục từ trong từ điển Đây là những cơ

sở chung của ngôn ngữ toàn dân để người dùng nói chung và các nhà nghiên cứu bản ngữ và ngoại ngữ thường xuyên tham khảo chúng cho các mục đích sử dụng của mình Điều này có nghĩa là có thể tra cứu được ý nghĩa từ vựng của các ĐT trong tiếng Nhật trong các từ điển tường giải của Nhật Đây là căn cứ cơ bản để luận

án xác lập nghĩa của các ĐT và từ đó tìm kiếm các đặc thù của từng ĐT xuất hiện trong các ngữ cảnh văn học trong các tác phẩm của N Souseki

Ý nghĩa biểu thái: là phần nghĩa của từ liên quan đến thái độ, cảm xúc, cách đánh

giá của người nói về sự vật, hiện tượng khách quan

2) Ý nghĩa ngữ pháp

Ý nghĩa ngữ pháp trước hết là ý nghĩa chung cho cả một tập hợp từ tạo thành các từ loại nói chung, có thể là các thực từ mà cũng có thể là các hư từ, các từ chức

Trang 33

năng Ý nghĩa ngữ pháp được thể hiện qua nhiều hình thức như khả năng kết hợp của từ loại đó với các từ loại khác; vị trí và chức năng của từ trong phát ngôn của từng lớp từ loại Hơn nữa, ý nghĩa ngữ pháp phải được diễn đạt bằng những hình thức chung, có tính đồng loạt, được thể hiện bằng các phương thức ngữ pháp khác nhau và có thể khái quát thành các phạm trù được gọi là các phạm trù ngữ pháp cho từng loại từ loại khác nhau

1.2.2.3 Đa nghĩa và đồng nghĩa

1) Đa nghĩa

Hiện tượng một đơn vị ngôn ngữ mang nhiều ý nghĩa khi ở cùng một hình

thái được gọi là đa nghĩa Theo đó, đa nghĩa nằm trong thế đối lập với đơn nghĩa

và đồng âm khác nghĩa [184;268] Trong ngôn ngữ đời thường, hầu hết các từ đều mang một số nghĩa, từ càng cơ bản thì càng đa nghĩa Do đó, có quan điểm cho rằng tần suất sử dụng của từ và số nghĩa của từ có mối quan hệ tương quan với nhau [175;274] Những từ có từ hai nghĩa trở lên được gọi là từ đa nghĩa Các ý nghĩa của từ đa nghĩa dù ít hay nhiều vẫn mang đặc điểm chung nào đó [175;274] Đây chính là đặc điểm để phân biệt từ đa nghĩa với các từ đồng âm khác nghĩa Hiện tượng đa nghĩa được xem là một trong những quy luật có tính phổ quát của các ngôn ngữ Tiếng Nhật cũng không nằm ngoài quy luật này với rất nhiều đơn vị đa nghĩa, trong đó có một số lượng lớn là các ĐT Các ĐT đa nghĩa tiếng Nhật được nhiều nhà Nhật ngữ quan tâm nghiên cứu, trong đó nổi bật hơn cả là

Kunihiro Tetsuya với hai cuốn từ điển về các ĐT đa nghĩa tiếng Nhật là “Từ điển

tiếng Nhật lí tưởng” (『理想の国語辞典』risou no kokugojiten (1996)) và “Động từ

đa nghĩa trong tiếng Nhật: Từ điển tiếng Nhật lí tưởng II” (日本語の多義動詞: 理想 の国語辞典 II nihongo no tagidoushi: risou no kokugojiten(2006))

“Đa nghĩa là kết quả của quá trình chuyển nghĩa”, và “chuyển nghĩa lại là

“quá trình biểu trưng hóa của tín hiệu một quá trình vốn có nguồn gốc tâm lí của

nó trong đời sống xã hội và được ghi lại một cách tế nhị độc đáo trong ngôn ngữ” [20;118] Vì vậy, xem xét nghĩa của từ từ góc độ đa nghĩa là một cách tiếp cận cần thiết Tìm hiểu về ngữ nghĩa của từ đa nghĩa trong mỗi ngôn ngữ sẽ thấy được những đặc trưng riêng về tập quán ngôn ngữ gắn với văn hóa, tư duy của con người sử dụng ngôn ngữ đó Tìm hiểu các nghĩa của ĐT đa nghĩa, phân tích và chỉ

Trang 34

ra những đặc điểm về cách biểu hiện của từng nghĩa, hiệu quả biểu đạt của chúng trong ngữ cảnh để làm nổi bật đặc trưng ngữ nghĩa của ĐT chính là một trong những hướng tiếp cận nghiên cứu của luận án

2) Đồng nghĩa

Cùng với hiện tượng đa nghĩa, đồng nghĩa cũng là một hiện tượng phổ biến trong mọi ngôn ngữ Từ đồng nghĩa là những từ tương đồng với nhau về nghĩa, khác nhau về âm thanh và phân biệt với nhau về một vài sắc thái ngữ nghĩa hoặc sắc thái phong cách nào đó, hoặc đồng thời cả hai Ví dụ: start, commence, begin (trong tiếng Anh), cố, gắng, cố gắng (trong tiếng Việt) là những nhóm từ đồng

nghĩa [15;232] Hiện tượng đồng nghĩa không thể tách rời hiện tượng đa nghĩa, đồng nghĩa thường không xảy ra với toàn bộ các nét nghĩa của từ mà chỉ xảy ra ở một nghĩa nào đó của nó Thực chất của hiện tượng đồng nghĩa là so sánh các ý nghĩa, so sánh các ngữ cảnh sử dụng tiêu biểu [20]

Trong nghiên cứu tiếng Nhật, khái niệm từ đồng nghĩa cũng là một vấn đề được bàn luận không ít Trước hết, liên quan tới hiện tượng đồng nghĩa, tồn tại hai thuật ngữ là “ruigigo” (類義語: từ gần nghĩa) và “dougigo” (同義語: từ đồng nghĩa)

với một số kiến giải khác nhau

Theo Tamamura (1992), “những từ có hình thái khác nhau nhưng nghĩa gần như đồng nhất nhưkyonen(năm ngoái) và sakunen (năm trước) là các ruigigo (từ gần nghĩa) Cũng có quan niệm cho rằng, trong số các ruigigo (từ gần nghĩa), có

những từ mà sự khác biệt về nghĩa giữa chúng là rất nhỏ thì đó được gọi là các

“dougigo” (từ đồng nghĩa) Tuy nhiên trong giới nghiên cứu ngôn ngữ, người ta thừa

nhận một định lí là không có tín hiệu ngôn ngữ nào là hoàn toàn giống nhau” [111] Theo Tanihikari (1995), “ruigigo” (từ gần nghĩa) là những từ có nghĩa gần

như đồng nhất hoặc giống nhau Chúng còn gọi là “douigo” (同意語: từ cùng ý) hay

“dougigo” (同義語: từ đồng nghĩa) Về ý nghĩa, chúng được gọi là giống nhau

nhưng một cách nghiêm ngặt thì hoàn toàn không có hai từ giống hệt nhau về nghĩa [110]

Kunihiro (2002) cho rằng, “hai từ có ý nghĩa hoàn toàn giống nhau được gọi

là các “dougigo”(từ đồng nghĩa), c n trường hợp nghĩa của hai từ có sự khác nhau

chút ít thì được gọi là “ruigigo”(từ gần nghĩa)” [75]

Trang 35

Như vậy, dưới quan điểm của các nhà ngôn ngữ Nhật, những từ có nghĩa gần

như giống nhau, chỉ khác nhau chút ít được gọi là các ruigigo (từ gần nghĩa) Các

từ gần nghĩa này bao gồm cả các “dougigo” (từ đồng nghĩa) Mối quan hệ về nghĩa

giữa các “ruigigo” (từ gần nghĩa) có sự đa dạng và phức tạp Tuy nhiên trong công

trình nghiên cứu về các từ gần nghĩa của Viện nghiên cứu ngôn ngữ Nhật Bản, nhóm tác giả thực hiện cho rằng có thể khái quát mối quan hệ đó thành 3 loại là:

(1) Nghĩa của các từ gần như trùng khít với nhau Ví dụ: kusaru/fuhaisuru (thối

rữa), kyonen/sakunen(năm ngoái), nagete/pitchaa (cầu thủ ném bóng)

(2) Nghĩa của từ này bao hàm cả nghĩa của từ kia Ví dụ: umai / oshii(ngon),

jikann(thời gian) / jikoku (thời khắc), ki(gỗ, cây) /mokuzai(gỗ)

(3) Nghĩa của các từ trùng nhau ở một phần nào đó: kireii/ utsukushii (xinh/ đẹp)… [81;19]

Cũng theo nhóm tác giả này, khi xét tới quan hệ về nghĩa giữa hai từ, còn có một loại quan hệ nữa là: hai từ có nghĩa rất gần gũi với nhau nhưng lại không có phần nghĩa trùng nhau, họ tạm gọi đây là quan hệ lân cận (隣 接 的 な 関 係

rinsetukannkei) xếp thành loại quan hệ về nghĩa thứ (4) và cho rằng những từ như vậy cũng là những từ gần nghĩa Ví dụ: keishin / jyakushin(rung khẽ / rung nhẹ),

resshin / gekishin (rung mạnh / rung khủng khiếp)

Từ những quan điểm nêu trên về từ đồng nghĩa, gần nghĩa trong tiếng Nhật, luận án quan niệm “đồng nghĩa” sẽ bao hàm cả các nhóm từ thuộc về “ruigigo”

(gần nghĩa) và “dougigo” (đồng nghĩa) trong tiếng Nhật Và để làm rõ đặc trưng ngữ nghĩa ngữ dụng của ĐT tiếng Nhật, luận án sẽ đi vào phân tích so sánh ý nghĩa, cách sử dụng cũng như hiệu quả biểu đạt của một số nhóm ĐT đồng nghĩa theo quan điểm này

1.2.2.4 Cấu trúc vị từ - tham tố và vai nghĩa

Trong ngữ nghĩa học hiện đại, khi xem xét nghĩa của từ, các nhà ngữ pháp học đã luôn quan tâm đến vấn đề vai nghĩa và sự chi phối cùng cách thức chi phối các yếu tố của ĐT vị ngữ trong câu

Tesnière (1959) cho rằng vị từ là đỉnh, là trung tâm duy nhất của câu Với cách xác định vị từ thông qua khái niệm vị tố, tác giả này cho rằng vị từ có thể là

Trang 36

các ĐT, tính từ Trong lí thuyết của mình, Tesnière đã dùng bộ khái niệm vị từ - tham tố để miêu tả cấu trúc ngữ pháp của câu Theo đó, ĐT vị ngữ trong câu sẽ là trung tâm của một sàn diễn tập hợp những vai nghĩa khác nhau, tức là các tham tố,

kể cả chủ ngữ truyền thống Theo cách phân tích của Tesnière, các tham tố này

được chia thành 2 loại là diễn tố và chu tố Trong đó, diễn tố là những tham tố trực

tiếp tham gia vào trong quá trình diễn ra của hành động, trạng thái mà ĐT vị ngữ

biểu hiện, chu tố là những thành phần tương đối tự do, bổ sung thêm những thông tin như thời gian, địa điểm của quá trình đó Như vậy, diễn tố chính là các tham tố

bắt buộc còn chu tố là các tham tố tùy nghi [26] , [85]

Sau này, trong những năm cuối thập kỉ 60 của thế kỉ XX, quan điểm coi vị ngữ là trung tâm của Tesnière đã được C.J Fillmore tiếp tục phát triển thành lí thuyết ngữ pháp cách, cho rằng câu được cấu thành bởi hai yếu tố là mệnh đề và tình thái, trong đó mệnh đề là thành phần cốt lõi của câu được tạo thành từ ĐT và một hay nhiều các cụm DT Hơn nữa, số lượng cũng như chủng loại các cụm DT là

do ĐT quyết định

Về mối quan hệ ngữ nghĩa giữa vị từ và các tham tố, trong các công trình của mình, Fillmore (1968, 1975) đã đề xuất một số vai nghĩa như Tác thể (Agentive), Công cụ (Intrument), Tặng cách (Dative), Tạo cách (Factitive), Cách địa điểm (Location), Đối thể (Ojective) Danh sách các vai nghĩa này đã được nhiều nhà ngôn ngữ học như Chafe, Dik, Parson bổ sung và tới nay hầu hết các nhà nghiên cứu đều thừa nhận một số vai nghĩa cơ bản như: Vai tác thể (Agent) biểu thị người gây ra hành động; Vai nghiệm thể (Experience) biểu thị chủ thể một trải nghiệm nào đó; Vai tiếp thể (Recipent) biểu thị kẻ tiếp nhận trong hành động trao tặng; Vai kẻ hưởng lợi (Benefetive) biểu thị kẻ được hưởng thành quả từ một hành động

do ai đó thể hiện; Vai lực tự nhiên (Force) chỉ tác nhân tự nhiên gây ra một biến cố, thay đổi nào đó; Vai công cụ (Intrument) chỉ công cụ được dùng để thực hiện hành động; Vai vật thực hiện tác động (Efector) chỉ vật trực tiếp tác động đến đối tượng nào đó; Vai địa điểm, vị trí (location) chỉ nơi chốn của sự tình, vị trí tồn tại của sự vật; v.v… Theo Pason (1994;68) có thể quy các cách đánh dấu vai nghĩa về ba phương thức là: Dùng trật tự từ, dùng biến tố, dùng giới từ [26; 42-45]

Nita (1973,1980) coi các tham tố mà Tesnière gọi là các diễn tố là “thành

phần cách” và chia các chu tố thành 2 loại là “thành phần trạng tố” và “thành

Trang 37

phần bổ tố” Trong đó, thành phần trạng tố chỉ những đặc điểm về thời gian, nơi

chốn diễn ra của ĐT vị ngữ, thành phần bổ tố10 chỉ các đặc điểm khác như trạng

thái, tần suất, mục đích, nguyên nhân Có thể coi rằng các “thành phần cách” mà

Nita đề cập là những tham tố bắt buộc còn các thành phần trạng tố hay thành phần

bổ tố là các tham tố tùy nghi, tùy theo thực tế diễn ra của ĐT vị ngữ

Theo cách mô tả của Nita, mối quan hệ giữa các tham tố với ĐT được thể hiện như sơ đồ sau (phần nét đứt chỉ thành phần trạng tố, thành phần bổ tố)

Cũng theo Nita (1973), “vai nghĩa” biểu hiện mối quan hệ về nghĩa giữa ĐT

và các cụm DT, tồn tại độc lập tách biệt với các giới từ cách trong tiếng Nhật, giữa chúng không có sự tương ứng 1:1 về nghĩa Chẳng hạn, trong các ví dụ dưới đây :

1) Sukinamono kara taberu(ăn từ những thứ ưa thích (đến những thứ không thích lắm))

2) Sukunamono wo taberu (ăn thứ ưa thích)

Cụm DT sukina mono (thứ ưa thích), được kết hợp với hai giới từ cách khác

nhau là kara và wo, làm thành hai tham tố chỉ “đối tượng chịu tác động” của hành động taberu(ăn) Tuy nhiên, giới từ karatrong trường hợp 1) cho thấy đây là đối tượng chịu tác động đầu tiên của hành động ăn, c n wo trong trường hợp 2) chỉ

đơn thuần thề hiện đây là “đối tượng chịu tác động” của hành động “ăn” mà thôi

Như thế nghĩa là những biểu hiện của mối quan hệ về nghĩa luôn có sự khác biệt

dù là rất nhỏ tùy vào những đặc điểm ngữ nghĩa của ĐT và các cụm DT cùng

phương thức biểu hiện của nó là các giới từ Do đó, “vai nghĩa” nên được coi là sự

phân nhóm các biểu hiện của mối quan hệ đó [122]

Trên quan điểm ngữ pháp cách, tập trung vào mối quan hệ giữa các tham tố với

ĐT vị ngữ, Nita (1973) đã tổng hợp 7 loại quan hệ này trong tiếng Nhật như sau: 1. Chủ thể hành động (動作主dousashu).

10 Khái niệm “bổ tố” ở đây khác khái niệm “bổ ngữ” trong tiếng Việt

Oshiete iru (giảng)

Trang 38

2. Đối tượng của hành động (動作の対象dousa no taishou)

3. Đối tượng tiếp nhận hành động (動作の受け手 dousano ukete)

4. Điểm đến của hành động (動作の着点 dousa no chakuten)

5. Điểm khởi nguồn của hành động (動作の起点 dousa no kiten)

6. Nguyên nhân của hành động (動作の原因 dousa no genin)

7. Phương tiện, cách thức thực hiện hành động (動 作 の 手 段 dousa no

shudan) [122]

Đã có nhiều nghiên cứu về các vai nghĩa và sự tương ứng của chúng với hình thức biểu đạt trong tiếng Nhật Những nghiên cứu này chủ yếu là những bàn luận, thêm bớt xoay quanh các hình thức biểu hiện của các vai nghĩa như Nita nêu ra trên đây Trong đó, có những quan điểm cho rằng cần bổ sung một số khái niệm về hình thức biểu đạt như “trống cách” (không dùng giới từ cách), các dạng kết hợp tương đương với giới từ cách như “ni tsuite”, “ni taishite” v.v và hiện vẫn còn những điểm chưa thống nhất về số lượng, về hình thức biểu hiện của các vai nghĩa

và cách giải thích giữa các nhà nghiên cứu Tuy nhiên, luận án không lấy vai nghĩa làm vấn đề để bàn luận sâu thêm mà chỉ mà lựa chọn phương án đề nghị các vai nghĩa mới nhất là của Ooduka (2011) làm cơ sở trong quá trình phân tích ngữ liệu, đồng thời chủ trương bổ sung các nội dung cần thiết dựa theo quan điểm của các tác giả khác trong những trường hợp cụ thể

Bảng 1.7: Sự tương ứng giữa vai nghĩa và hình thức biểu đạt theo đề nghị của

Ooduka(2011)

Hình thức biểu đạt

4 Vai nguồn Điểm khởi đầu của sự dịch chuyển do những hành 二 (ni)

Trang 39

Đích hướng tới của hành vi, động tác hoạt động mà

vị ngữ biểu đạt Điểm cuối của sự chuyển động

Trạng thái, kết quả cuối cùng của sự biến đổi trạng thái hay sự nhận định về tình hình nào đó

二 (ni) ヘ(e)

マデ ( made) ト(to)

ĐT vị ngữ [141]

Trang 40

nhau về lĩnh vực này [9] Goerge Yule (1997) cho rằng ngữ dụng học là sự nghiên

cứu về những mối liên hệ giữa các hình thái ngôn ngữ và người sử dụng các hình thái đó [46;22] Theo đó, ngữ dụng học liên quan đến việc nghiên cứu về ý nghĩa với

tư cách là cái được thông báo bởi người nói (hay người viết) và được hiểu bởi người nghe (hay người đọc) Kết quả là ngữ dụng học làm việc nhiều với sự phân tích cái

mà người ta muốn nói qua các phát ngôn, hơn là với cái mà bản thân các từ hay các cụm từ trong các phát ngôn đó có thể nói lên [46;20] Trên cơ sở đó, trong luận án này, đặc trưng ngữ dụng được hiểu là những đặc điểm về nội dung được truyền đạt qua các phát ngôn trong ý đồ của người nói (người viết) và trong sự tiếp nhận của người nghe (người đọc)

Trong khoảng nửa đầu của thế kỉ XX, một số học giả như Ch.H.Morris (1938), J.L.Austin (1962), J R.Searle (1969), S.C.Levinson (1983) và các hậu bối sau đó đã xây dựng cho ngữ dụng học những hệ thống lí thuyết với nhiều khái niệm, cách thức nghiên cứu riêng, đưa việc nghiên cứu ngôn ngữ về gần với mục đích tự thân của chúng là phục vụ đắc lực cho việc giao tiếp và diễn đạt tư duy, tư tưởng của con người ngay từ những hành động phát ngôn cụ thể Ngày nay, khi nói

về ngữ dụng học, các nhà ngôn ngữ thường bàn đến một số lý thuyết tiêu biểu như

lý thuyết hành vi ngôn ngữ, lí thuyết hội thoại, lý thuyết lập luận… Hơn nữa, gắn với các lí thuyết này là những định đề, luận điểm về lịch sự và giao tiếp, phân tích diễn ngôn, hiển ngôn và hàm ngôn, tiền giả định, từ chỉ xuất, ngữ cảnh v.v

Việc có thể vận dụng hết được tất cả những lí thuyết và nội dung nghiên cứu của ngữ dụng học vào trong một luận án là một điều khó khả thi, hơn nữa, cũng không hẳn là điều cần thiết và hợp lí Dưới đây, chúng tôi chỉ trình bày những khái niệm cũng như nội dung lí thuyết chính liên quan tới hướng tiếp cận ĐT ở bình diện ngữ dụng của luận án

Ngày đăng: 20/06/2016, 12:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.4: Dạng và hình thức biểu hiện dạng trong tiếng Nhật - Động từ tiếng Nhật  Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki
Bảng 1.4 Dạng và hình thức biểu hiện dạng trong tiếng Nhật (Trang 27)
Bảng 1.5: Tình thái và hình thức biểu hiện trong tiếng Nhật - Động từ tiếng Nhật  Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki
Bảng 1.5 Tình thái và hình thức biểu hiện trong tiếng Nhật (Trang 28)
Bảng 1.6: Dạng thức biến hình theo phạm trù lịch sự của ĐT tiếng Nhật - Động từ tiếng Nhật  Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki
Bảng 1.6 Dạng thức biến hình theo phạm trù lịch sự của ĐT tiếng Nhật (Trang 29)
Bảng 1.7: Sự tương ứng giữa vai nghĩa và hình thức biểu đạt theo đề nghị của - Động từ tiếng Nhật  Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki
Bảng 1.7 Sự tương ứng giữa vai nghĩa và hình thức biểu đạt theo đề nghị của (Trang 38)
Bảng 2.3: Tần suất sử dụng của các động từ - Động từ tiếng Nhật  Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki
Bảng 2.3 Tần suất sử dụng của các động từ (Trang 55)
Bảng 2.4: Danh sách 63 động từ có số lần xuất hiện cao nhất (trên 50 lần) - Động từ tiếng Nhật  Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki
Bảng 2.4 Danh sách 63 động từ có số lần xuất hiện cao nhất (trên 50 lần) (Trang 58)
Bảng 2.5: Danh sách các động từ có số lần xuất hiện cao nhất theo nhóm - Động từ tiếng Nhật  Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki
Bảng 2.5 Danh sách các động từ có số lần xuất hiện cao nhất theo nhóm (Trang 60)
Bảng 2.6: Kết quả thống kê động từ thuần Nhật - Động từ tiếng Nhật  Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki
Bảng 2.6 Kết quả thống kê động từ thuần Nhật (Trang 61)
Bảng 2.7: Các cặp động từ đối ứng tiêu biểu - Động từ tiếng Nhật  Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki
Bảng 2.7 Các cặp động từ đối ứng tiêu biểu (Trang 65)
Bảng 3.1   Đặc điểm cấu trúc tham tố của động từ suru ( する ) - Động từ tiếng Nhật  Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki
Bảng 3.1 Đặc điểm cấu trúc tham tố của động từ suru ( する ) (Trang 71)
Bảng 3.3: Đặc điểm cấu trúc tham tố của động từ iu ( いう/言う/云う ) - Động từ tiếng Nhật  Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki
Bảng 3.3 Đặc điểm cấu trúc tham tố của động từ iu ( いう/言う/云う ) (Trang 85)
Bảng 3.4: Bảng đối chiếu nghĩa từ điển của suru, okonau, yaru - Động từ tiếng Nhật  Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki
Bảng 3.4 Bảng đối chiếu nghĩa từ điển của suru, okonau, yaru (Trang 88)
Bảng 3.6: Bảng đối chiếu nghĩa từ điển của iu, hanasu, shaberu, kataru - Động từ tiếng Nhật  Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki
Bảng 3.6 Bảng đối chiếu nghĩa từ điển của iu, hanasu, shaberu, kataru (Trang 92)
Bảng 3.7: Kết quả khảo sát tham tố đối tƣợng, tiếp thể - Động từ tiếng Nhật  Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki
Bảng 3.7 Kết quả khảo sát tham tố đối tƣợng, tiếp thể (Trang 94)
Bảng 3.8: Bảng đối chiếu nghĩa từ điển của omou và kangaeru - Động từ tiếng Nhật  Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki
Bảng 3.8 Bảng đối chiếu nghĩa từ điển của omou và kangaeru (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w