Lý thuyết về THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TẠI CÔNG TY TNHH SAGAWA EXPRESS VIỆT NAM. Thực trạng về THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TẠI CÔNG TY TNHH SAGAWA EXPRESS VIỆT NAM. Kiến nghị về THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TẠI CÔNG TY TNHH SAGAWA EXPRESS VIỆT NAM
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
-BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TẠI CÔNG TY TNHH SAGAWA EXPRESS VIỆT
NAM CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em Các số liệu, kết quả trongbáo cáo tốt nghiệp này là em tự thu thập, trích dẫn Tuyệt đối không sao chép từ bất kỳmột tài liệu nào
Tác giả báo cáo tốt nghiệp
TP Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 4 năm 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến toàn thể quý thầy cô trường Đại họcCông Nghiệp TP.Hồ Chí Minh, những người đã chuyền dạy kiến thức và kinh nghiệmcho em trong suốt thời gian mà em học tập ở trường
Kế đến, em muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành đến thầy TRẦN ANH QUANG,người đã luôn nhiệt tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệpnày
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo Công ty TNHH SAGAWAEXPRESS VIỆT NAM đã tạo điều kiện cho em làm thực tập tại công ty Em xin cảm
ơn tập thể Cán bộ Công nhân viên đang làm việc tại công ty, đăc biệt là các anh chị làmviệc tại phòng Xuất nhập khẩu đã giúp cho em có cơ hội học hỏi những kinh nghiệm,giải thích cẩn thận những câu hỏi của em và giúp đỡ em cũng như tạo điều kiện cho emhoàn thành chương trình thực tập tại đây
TP HỒ CHÍ MINH – 04/2016 Sinh viên : Nguyễn Truyền Hiếu Trinh
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
Trang 4
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Trang 5NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Trang 6NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
Bước sang thế kỉ XXI nền kinh tế đang trong đà phát triển mạnh mẽ, các lĩnh vực kinh
tế đều hoạt động hết công suất của nó Thương mại là một ngành vô cùng quan trọngtrong quá trình phát triển đó Nó tạo ra một nguồn lợi nhuận khổng lồ đồng thời tạo rabước ngoặt mới cho nền kinh tế thế giới
Các nguồn tài nguyên trên trái đất là hữu hạn, nhưng ước muốn của con người là vôhạn Chính vì vậy, Logistcis ra đời để giúp con người sử dụng các nguồn lực (nhân lực,vật lực, tài lực) một cách tối ưu, để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cá nhân
và xã hội một cách tốt nhất Trong lịch sử hình thành của mình, Logistcis là từ chuyênmôn được sử dụng trong quân đội, được hiểu với nghĩa là công tác hậu cần Sau nàythuật ngữ Logistics dần được áp dụng trong lĩnh vực kinh tế, được lan truyền từ châulục này sang châu lục khác, hình thành nên Logistics toàn cầu Logistics phát triển rấtnhanh chóng và cho đến nay đã được ghi nhận như một công cụ hữu hiệu mang lạithành công cho các doanh nghiệp cả trong khu vực sản xuất lẫn trong khu vực dịch vụ
Trang 9CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, mọi người có thể tiêuthụ được những sản phẩm hàng đầu, có sự tích hợp của hàng trăm quốc gia trên toànthế giới Toàn cầu hóa đã làm thay đổi cung cầu hàng hóa trên toàn cầu, buộc các nhàsản xuất ra sản phẩm phải thực hiện phương châm "khách hàng là thượng đế", làm choviệc cạnh tranh của các nhà sản xuất trên thế giới ngày càng trở nên quyết liệt hơn,đòi hỏi quá trình chuyên môn hóa ngày càng cao Chính trong môi trường ấy, ngànhdịch vụ logistics ngày càng phát triển đi vào chiều sâu
Logistics là nghệ thuật tổ chức sự vận động của hàng hóa, nguyên vật liệu từ khi muasắm, qua các quá trình lưu kho, sản xuất, phân phối cho đến khi đưa đến tay ngườitiêu dùng Với cách hiểu như vậy thì người cung ứng dịch vụ logistics không chỉ đơngiản là người giao nhận vận tải mà còn tham gia vào quá trình sản xuất của các doanhnghiệp, tích hợp giúp họ những khâu ngoài quá trình sản xuất, tạo điều kiện cho hànghóa đến tay người tiêu dùng tốt hơn
Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trên toàn thế giới, các công ty giao nhậnvận tải đã vươn ra tầm cao mới, phân phối hàng hóa trên toàn cầu, hoàn thiện chuỗicung ứng dịch vụ logistics Trong các công ty nổi tiếng đó, không thể không kể đếncác công ty logistics của Nhật Bản Với sự thành công tại đất nước hoa anh đào, cácdoanh nghiệp Logistics Nhật Bản ngày càng mở rộng thị trường và đưa thương hiệucủa mình ra thị trường thế giới Điều đó được minh chứng bởi hàng loạt các công tylogistics Nhật Bản đã và đang hoạt động tại thị trường Việt Nam
Với mong muốn tìm hiểu chuyên sâu hơn về lĩnh vực Logistics và góp phần nâng caohiệu quả hoạt động của lĩnh vực này cũng như khắc phục những hạn chế đang tồn tại,
em đã chọn đề tài báo cáo của mình là : Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả củahoạt động logisics tại công ty TNHH SAGAWA EXPRESS VIỆT NAM” – một trongnhững công ty Logistics Nhật Bản đầu tiên đầu tư vào thị trường Việt
Trang 102 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu thực tế hoạt động logistics tại công ty TNHH SAGAWA EXPRESS VIỆTNAM Phân tích nguyên nhân của thành công và những hạn chế còn tồn tại trong hoạtđộng logistics
Nêu một số giải pháp để hoàn thiện hoạt động logistics của công ty TNHH SAGAWAEXPRESS VIỆT NAM
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động logistics của công ty TNHH SAGAWA EXPRESSVIỆT NAM
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian thực tập tại Công ty, trong khoảngthời gian này em được trực tiếp tiếp xúc với môi trường thực tế tại Công ty nên có thểnắm bắt, tìm hiểu, tham khảo và nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực logistisc
1.4.2 Không gian nghiên cứu:
Nghiên cứu tập trung vào quy trình vận tải hàng hóa bằng đường hàng không củaCông ty nên mọi hoạt động và tài liệu thu thập cho nghiên cứu chủ yếu diễn ra tại Công
ty Bên cạnh đó phạm vi cũng được mở rộng một phần với việc nghiên cứu một số yêu
tố môi trường hoạt động bên ngoài của công ty
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đưa ra những nhận xét, đánh giá, phân tích cũng như những giải pháp phù hợp vớithực tế, bài báo cáo được nghiên cứu sơ bộ sử dụng phương pháp định tính và nghiêncứu chính thức sử dụng phương pháp định lượng
- Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính với kỹthuật thảo luận nhóm và phỏng vấn thử Mục đích nghiên cứu này dùng để điềuchỉnh và bổ sung thang đo hiệu quả cho hoạt động logistics của Công ty
- Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu địnhlượng Kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp và gián tiếp khách hàng của công ty Thôngtin thu thập được sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS Thang đo sau khi đượcđánh giá bằng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach Alpha, phân tích Anova và
Trang 11phân tích nhân tố EFA, phân tích hồi quy được sử dụng để kiểm định mô hìnhnghiên cứu.
1.6 BỐ CỤC ĐỀ TÀI
Bố cục bài báo cáo thực tập gồm:
- Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài
- Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động logistics của Nhật Bản và Việt Nam
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Phân tích thực trạng hoạt động logistics của Công ty TNHH
SAGAWA EXPRESS VIỆT NAM
- Chương 5: Kết luận và giải pháp
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, do có sự hạn chế về thời gian và khả năng thuthập thông tin nên bài báo cáo còn những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý củathầy để bài báo cáo này được hoàn thiện hơn
Trang 12CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS
2.1 Khái quát chung về hoạt động logistics:
2.1.1 Khái niệm dịch vụ Logistics:
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự hỗ trợ đắc lực của cuộc cách mạngkhoa học kỹ thuật trên thế giới, khối lượng hàng hóa và sản phẩm vật chất được sảnxuất ra ngày càng nhiều Do khoảng cách trong các lĩnh vực cạnh tranh truyền thốngnhư chất lượng hàng hóa hay giá cả ngày càng thu hẹp, các nhà sản xuất đã chuyểnsang cạnh tranh về quản lý hàng tồn kho, tốc độ giao hàng, hợp lý hóa quá trình lưuchuyển nguyên nhiên vật liệu và bán thành phẩm, … trong cả hệ thống quản lý phânphối vật chất của doanh nghiệp Trong quá trình đó, logistics có cơ hội phát triển ngàycàng mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực kinh doanh Trong thời gian đầu, logistics chỉ đơnthuần được coi là một phương thức kinh doanh mới, mang lại hiệu quả cao cho cácdoanh nghiệp Cùng với quá trình phát triển, logistics đã được chuyên môn hóa và pháttriển trở thành một ngành dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng quan trọng trong giaothương quốc tế
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về logistics trên thế giới và được xây dựng căn cứtrên ngành nghề và mục đích nghiên cứu về dịch vụ logistics, tuy nhiên, có thể nêu một
số khái niệm chủ yếu sau:
1.Liên Hợp Quốc: Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật
liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theoyêu cầu của khách hàng
2.Ủy ban Quản lý logistics của Hoa Kỳ: Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn
phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản cóhiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm
và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đếnkhi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng
Trang 133.Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ-1988: Logistics là quá trình lên kế hoạch, thực
hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu trữ nguyên vậtliệu, hàng tồn kho, thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểmtiêu thụ, nhằm mục đích thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng
4.Trong lĩnh vực quân sự: Logistics được định nghĩa là khoa học của việc lập kế
hoạch và tiến hành di chuyển và tập trung các lực lượng, … các mặt trong chiến dịchquân sự liên quan tới việc thiết kế và phát triển, mua lại, lưu kho, di chuyển, phân phối,tập trung, sắp đặt và di chuyển khí tài, trang thiết bị
5.Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233): Trong Luật Thương mại 2005,
lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics được pháp điển hóa Luật quy định “Dịch vụlogistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặcnhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hảiquan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu,giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với kháchhàng để hưởng thù lao”
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng các khái niệm về dịch vụ logistics có thểchia làm hai nhóm:
Nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa của Luật Thương mại 2005 coilogistics tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa Tuy nhiên cũng cần chú ý là địnhnghĩa trong Luật Thương mại có tính mở, thể hiện trong đoạn in nghiêng “hoặc cácdịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa” Khái niệm logistics trong một số lĩnh vựcchuyên ngành cũng được coi là có nghĩa hẹp, tức là chỉ bó hẹp trong phạm vi, đốitượng của ngành đó (như ví dụ ở trên là trong lĩnh vực quân sự) Theo trường phái này,bản chất của dịch vụ logistics là việc tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vậnchuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ Theo họ, dịch vụ logistics mangnhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics theo khái niệm này không cónhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức (MTO)
Nhóm định nghĩa thứ hai về dịch vụ logistics có phạm vi rộng, có tác động từ giai đoạntiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng Theo nhómđịnh nghĩa này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên nhiên vật liệu làmđầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông,
Trang 14Nhà máyKho
có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng để cung cấp dịch vụ mang tính “trọn gói” chocác nhà sản xuất Đây là một công việc mang tính chuyên môn hóa cao
Khái niệm logistics theo nghĩa rộng luôn gắn liền với khái niệm chuỗi logistics - kháiniệm logistics xây dựng trên cơ sở chu trình thực hiện, và được biểu hiện theo chuỗilưu đồ sau:
Logistics nội biên (Inbound Logistics) Logistics ngoại biên (Outbound
Sản xuất (Manufacturring)
Kho dự trữ sản phẩm (Finishedgoods Storage)
Thị trườngtiêu dùng (Markets)
Kho
Trang 152.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Logistics :
* Các giai đoạn phát triển
Trên thế giới có rất nhiều cách phân chia khác nhau về các giai đoạn phát triển củaLogistics Theo ESCAP - Ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á - Thái Bình Dương thì quátrình phát triển của logistics trải qua 3 giai đoạn từ chỗ chỉ thực hiện các hoạt độnglogistics một cách đơn lẻ rồi kết hợp logistics đầu vào và logistics đầu ra đến phối hợphoàn toàn thành dây chuyền cung ứng mang lại hiệu quả kinh tế cao
Theo phạm vi áp dụng, tác giả Eward Frezelle (2003) đã chia quá trình phát triển củaLogistics thành 5 giai đoạn: Logistics tại nơi tác nghiệp (Workplace Logistics),logistics trong xưởng sản xuất (Facility logistics), logistics doanh nghiệp (Corporatelogistics), logistics dây chuyền cung ứng (Supply Chain logistics) và toàn cầu hóalogistics (Global logistics)
Giai đoạn 1: Logistics tại nơi tác nghiệp (Workplace Logistics)
Đây là giai đoạn những năm 50 của thế kỷ XX, khi logistics được áp dụng trong lĩnhvực kinh tế, được sử dụng để tối ưu hóa quá trình sản xuất tại nơi tác nghiệp của ngườilao động Các hoạt động logistics thời kỳ này chủ yếu là chuyển hàng hóa, vật tư vàcác yếu tố sản xuất tại nơi tác nghiệp trực tiếp
Giai đoạn 2: Logistics trong cơ sở sản xuất (Facility logistics)
Vẫn là các hoạt động trong dòng lưu chuyển hàng hóa và vật tư sản xuất nhưnglogistics thập niên 60 này đã mở rộng từ các băng chuyền sản xuất ra phạm vi cơ sởsản xuất, từ một vị trí tác nghiệp đến nhiều vị trí tác nghiệp
Logistics trong thời kỳ này được biết đến như là quản trị nguyên vật liệu (materialhandling) - một mảng nhỏ gộp với khâu lưu kho bãi, vận chuyển vật tư tạo thành bộphận phân phối vật chất; còn các khâu thu mua, tiếp thị và dịch vụ khách hàng hợpthành bộ phận hậu cần kinh doanh (business logistics)
Giai đoạn 3: Đây là giai đoạn mà phạm vi logistics được mở rộng hơn nữa, khi đó các
doanh nghiệp ngành có quy mô sản xuất lớn, với một hệ thống các cơ sở sản xuất rộngkhắp Lúc này, song song với việc duy trì chính sách dịch vụ khách hàng đem lại lợinhuận, logistics đóng vai trò phối hợp các cơ sở sản xuất để lưu chuyển hàng hóa vật
tư, thông tin giữa các cơ sở sản xuất kinh doanh, nhằm làm giảm tổng chi phí
Trang 16logistics của doanh nghiệp Như vậy, logistics đã mở rộng tầm bao quát, từ quản lý các
cơ sở sản xuất riêng lẻ đến phạm vi toàn bộ doanh nghiệp Đây chính là giai đoạn đượcgọi là logistics trong doanh nghiệp (Coporation Logistics) phát triển khá phổ biếntrong thập niên 70 của thế kỷ trước
Giai đoạn 4: Giai đoạn thập kỷ 80- Logistics trong dây chuyền cung ứng (Supply
Chain logistics)
Logistics ở giai đoạn này chính là dòng lưu chuyển của vật tư, hàng hóa, thông tin vàtiền tệ giữa các doanh nghiệp Như vậy, logistics chính là một chuỗi các hoạt độngphối hợp giữa các doanh nghiệp, nối kết từ nhà cung ứng đến người tiêu dùng cuốicùng
Giai đoạn 5: Logistics toàn cầu được hiểu là dòng luân chuyển của nguyên vật liệu,
hàng hóa, thông tin và tiền tệ giữa các doanh nghiệp thuộc nhiều quốc gia khác nhautrên thế giới Nó đóng vai trò là nhân tố liên kết các nhà cung cấp với giới tiêu dùngtrên toàn cầu Nhờ vào sự phát triển của toàn cầu hóa nền kinh tế, sự mở rộng của cáckhối liên minh thương mại và sự gia tăng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử, dònglưu chuyển logistics đã tăng đáng kể và dường như ngày càng trở lên phức tạp bởi cácyếu tố như ngôn ngữ, tiền tệ, múi giờ, văn hóa, Vì các công ty, tập đoàn lớn luôn có
xu hướng vươn ra ngoài biên giới quốc gia, đặt trụ sở và phục vụ cho nhiều thị trườngkhu vực khác nhau, nên phải thiết lập một hệ thống logistics toàn cầu để cung cấp sảnphẩm và dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng Các hệ thống logistics ở các nước khácnhau, các khu vực khác nhau có thể không hoàn toàn giống nhau nhưng tất cả các hệthống logistics đều có điểm chung là sự kết hợp khéo léo, khoa học, chuyên nghiệpchuỗi các hoạt động như: marketing, sản xuất, tài chính, vận tải, thu mua, dự trữ, phânphối, để đạt được mục đích phục vụ khách hàng tối đa với chi phí tối thiểu
* Xu hướng phát triển của logistics
Có rất học thuyết khác nhau được đưa ra, bàn về vấn đề phát triển tiếp theo củalogistics Có giả thuyết cho rằng, bước tiến mới sẽ là logistics hợp tác (collborativelogistics) được xây dựng dựa trên sự liên lạc với nhau một cách liên tục giữa các đốitác trong chuỗi cung ứng Nhiều quan điểm khác trong cộng đồng logistics lại chorằng logistics ảo (virtual logistics) hay còn gọi là logistics 4 bên (Four PartnerLogistics - 4PL) - loại hình mà về bản chất là người cung cấp dịch vụ này là người xâu
Trang 17chuỗi cung ứng bằng việc tập hợp và quản lý các nguồn lực, năng lực và công nghệ củamình với các nguồn lực, năng lực, công nghệ của các nhà cung cấp khác để đưa ra mộtgiải pháp toàn diện cho chuỗi cung ứng - sẽ là bước phát triển tiếp theo của logistics.
Và tiến tới sẽ là E-logistics hay còn gọi là 5PL (Five Partner Logistics)
2.1.3 Đặc điểm của Logistics :
*Logistics có thể coi là tổng hợp của các hoạt động của doanh nghiệp trên các khía cạnh chính, đó là logistics sinh tồn, logistics hoạt động và logistics hệ thống.
Logistics sinh tồn có liên quan tới các nhu cầu cơ bản của cuộc sống Tại bất kì thờiđiểm nào, trong bất cứ môi trường nào, logistics sinh tồn cũng tương đối ổn định và cóthể dự đoán được Con người có thể nhận định được về nhu cầu như: cần gì, cần baonhiêu, khi nào cần và cần ở đâu Logistics sinh tồn là hoạt động cơ bản của các xã hội
sơ khai và là thành phần thiết yếu trong một xã hội công nghiệp hóa Logistics sinh tồncung cấp nền tảng cho logistics hoạt động
Logistics hoạt động mở rộng các nhu cầu cơ bản bằng cách liên kết các hệ thống sảnxuất các sản phẩm Logistics liên kết các nguyên liệu thô doanh nghiệp cần trong quátrình sản xuất, các dụng cụ sử dụng nguyên liệu đó trong quá trình sản xuất và phânphối sản phẩm Khía cạnh này của logistics cũng tương đối ổn định và có thể dự đoánđược Nhưng logistics hoạt động lại không thể dự đoán được khi nào máy móc có sự
cố, để sửa chữa thì cần cái gì và thời gian sửa chữa Như vậy, logistics hoạt động chỉliên quan tới sự vận động và lưu kho của nguyên liệu vào trong, qua và đi ra khỏidoanh nghiệp và là nền tảng cho logistics hệ thống
Logistics hệ thống liên kết các nguồn lực cần có trong việc giữ cho hệ thống hoạt động.Những nguồn lực này bao gồm thiết bị, phụ tùng thay thế, nhân sự và đào tạo, tài liệu
kỹ thuật, các thiết bị kiểm tra, hỗ trợ nhà xưởng Các yếu tố này không thể thiếu vàphải được kết hợp chặt chẽ nếu muốn duy trì sự hoạt động của một hệ thống sản xuấthay lưu thông
2.1.3 Đặc điểm của Logistics :
*Logistics có thể coi là tổng hợp của các hoạt động của doanh nghiệp trên các khía cạnh chính, đó là logistics sinh tồn, logistics hoạt động và logistics hệ thống.
Trang 18Logistics sinh tồn có liên quan tới các nhu cầu cơ bản của cuộc sống Tại bất kì thờiđiểm nào, trong bất cứ môi trường nào, logistics sinh tồn cũng tương đối ổn định và cóthể dự đoán được Con người có thể nhận định được về nhu cầu như: cần gì, cần baonhiêu, khi nào cần và cần ở đâu Logistics sinh tồn là hoạt động cơ bản của các xã hội
sơ khai và là thành phần thiết yếu trong một xã hội công nghiệp hóa Logistics sinh tồncung cấp nền tảng cho logistics hoạt động
Logistics hoạt động mở rộng các nhu cầu cơ bản bằng cách liên kết các hệ thống sảnxuất các sản phẩm Logistics liên kết các nguyên liệu thô doanh nghiệp cần trong quátrình sản xuất, các dụng cụ sử dụng nguyên liệu đó trong quá trình sản xuất và phânphối sản phẩm Khía cạnh này của logistics cũng tương đối ổn định và có thể dự đoánđược Nhưng logistics hoạt động lại không thể dự đoán được khi nào máy móc có sự
cố, để sửa chữa thì cần cái gì và thời gian sửa chữa Như vậy, logistics hoạt động chỉliên quan tới sự vận động và lưu kho của nguyên liệu vào trong, qua và đi ra khỏidoanh nghiệp và là nền tảng cho logistics hệ thống
Logistics hệ thống liên kết các nguồn lực cần có trong việc giữ cho hệ thống hoạt động.Những nguồn lực này bao gồm thiết bị, phụ tùng thay thế, nhân sự và đào tạo, tài liệu
kỹ thuật, các thiết bị kiểm tra, hỗ trợ nhà xưởng Các yếu tố này không thể thiếu vàphải được kết hợp chặt chẽ nếu muốn duy trì sự hoạt động của một hệ thống sản xuấthay lưu thông
Logistics sinh tồn, logistics hoạt động và logistics hệ thống không tách rời nhau, quan
hệ chặt chẽ với nhau, làm nền tảng cho nhau tạo thành một chuỗi dây chuyền logistics
*Logistics là một dịch vụ.
Logistics tồn tại để cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp hoặc cho khách hàng củadoanh nghiệp Dịch vụ đối với cả doanh nghiệp hay khách hàng đều được cung cấpthông qua việc tập trung các yếu tố khác nhau, các yếu tố này là bộ phận tạo thànhchuỗi logistics
Dịch vụ logistics trong doanh nghiệp chú trọng đến các yếu tố về quản trị nguyên vậtliệu, lưu kho trong nhà máy và phân phối vật chất Tuy nhiên trong hoạt động củadoanh nghiệp không phải chỉ dừng lại ở yêu cầu các yếu tố cơ bản mà dịch vụlogistics cung cấp trên đây mà có thể cần cung cấp thêm các dịch vụ khác của logistics
*Logistics hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp.
Trang 19Logistics hỗ trợ toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp, ngay cả khi sản phẩm
đã ra khỏi dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp và đến tay người tiêu dùng Mộtdoanh nghiệp có thể kết hợp bất cứ yếu tố nào của logistics với nhau hay tất cả các yếu
tố logistics tùy theo yêu cầu của doanh nghiệp mình Logistics còn hỗ trợ hoạt độngcủa doanh nghiệp thông qua quản lý di chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu đi vào doanhnghiệp và bán thành phẩm di chuyển trong doanh nghiệp Marketing được logistics hỗtrợ thông qua quản lý việc di chuyển và lưu trữ hàng thành phẩm Logistics hỗ trợ sảnxuất và marketing có thể sẽ dẫn đến yêu cầu phải đào tạo nhân lực, dự trữ phụ tùngthay thế hay bất kỳ một yếu tố nào khác của logistics
*Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận, vận tải giao nhận gắn liền và nằm trong logistics.
Cùng với quá trình phát triển của mình, logistics đã làm đa dạng hóa khái niệm vận tảigiao nhận truyền thống Từ chỗ chỉ thay mặt khách hàng để thực hiện các khâu rời rạcnhư thuê tàu, lưu cước, chuẩn bị hàng, đóng gói hàng, tái chế, làm thủ tục thông quan,
… cho tới cung cấp dịch vụ trọn gói từ kho đến kho (Door to Door) Từ chỗ đóng vaitrò đại lý, người được ủy thác trở thành một chủ thể chính trong các hoạt động vận tảigiao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trước các nguồn luật điều chỉnh Ngàynay, để có thể thực hiện nghiệp vụ của mình, người giao nhận phải quản lý một hệthống đồng bộ từ giao nhận tới vận tải, cung ứng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất kinhdoanh, bảo quản hàng hóa trong kho, phân phối hàng hóa đúng nơi, đúng lúc, sử dụngthông tin điện tử để theo dõi, kiểm tra,
… Như vậy, người giao nhận vận tải trở thành người cung cấp dịch vụ logistics
* Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức Trước đây,
hàng hóa đi theo hình thức hàng lẻ từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu và trải quanhiều phương tiện vận tải khác nhau, vì vậy xác suất rủi ro mất mát đối với hàng hóa làrất cao, và người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng với nhiều người vận tải khác nhau
mà trách nhiệm của họ chỉ giới hạn trong chặng đường hay dịch vụ mà họ đảm nhiệm.Tới những năm 60-70 của thế kỷ XX, cách mạng container trong ngành vận tải đã đảmbảo an toàn và độ tin cậy trong vận chuyển hàng hóa, là tiền đề và cơ sở cho sự ra đời
và phát triển vận tải đa phương thức Khi vận tải đa phương thức ra đời, chủ hàng chỉphải ký một hợp đồng duy nhất với người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO-
Trang 20Multimodal Transport Operator) MTO sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện toàn bộviệc vận chuyển hàng hóa từ khi nhận hàng cho tới khi giao hàng bằng một chứng từvận tải duy nhất cho dù anh ta không phải là người chuyên chở thực tế Như vậy, MTO
ở đây chính là người cung cấp dịch vụ logistics
2.1.4 Phân loại Logistics :
Theo các hình thức logistics
Logistics bên thứ nhất (First Party Logistics): người chủ sở hữu hàng hoá tự mình tổ
chức thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân Theo hìnhthức này, chủ hàng phải đầu tư các phương tiện vận tải, kho chứa hàng, hệ thống thôngtin, nhân công để quản lý và vận hành hoạt động logistics Logistics bên thứ nhất làmphình to quy mô của doanh nghiệp và làm giảm hiệu quả kinh doanh, vì doanh nghiệpkhông có đủ quy mô cần thiết, kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn để vận hành hoạtđộng logistics
Logistics bên thứ hai (Second Party Logistics): người cung cấp dịch vụ logistics bên
thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt độnglogistics (vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan, thanh toán ) để đáp ứng nhu cầu của chủhàng, chưa tích hợp hoạt động logistics Loại hình này bao gồm: các hãng vận tảiđường biển, đường bộ, đường sông, đường hàng không, các doanh nghiệp kinh doanhdịch vụ kho bãi, kê khai hải quan, trung gian thanh toán
Logistics bên thứ ba (Third Party Logistics): là người thay mặt cho chủ hàng quản lý
và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng, ví dụ như thay mặt chongười gửi hàng thực hiện các thủ tục xuất nhập và vận chuyển nội địa hoặc thay mặtcho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan và vận chuyển tới địa điểm quy định Do
đó logistics bên thứ ba bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luânchuyển, lưu trữ hàng hóa, xử lý thông tin và có tích hợp vào dây chuyền cung ứngcủa khách hàng
Logistics bên thứ tư (Forth Party Logistics): là người tích hợp, gắn kết các nguồn lực
tiềm năng và cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết
kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics Logistics bên thứ tư chịu tráchnhiệm quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp các giải pháp dây chuyền cung ứng,
Trang 21hoạch định, tư vấn logistics, quản trị vận tải Logistics bên thứ tư hướng đến quản trị
cả quá trình logistics, như nhận hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục xuất nhập khẩu, đưahàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng
Logistics bên thứ năm (Fifth Party Logistics): đã được nhắc đến trong những năm
gần đây Đây là hình thức phát triển hơn của logistics bên thứ tư đi cùng với sự pháttriển của thương mại điện tử
Theo lĩnh vực hoạt động của logistics
Từ xa xưa, hệ thống logistics đã được ứng dụng vào hoạt động sản xuất và đời sống,đặc biệt là trong lĩnh vực phức tạp bao gồm nhiều quá trình, nhiều công đoạn khácnhau mà cần phải thực hiện bởi nhiều tổ chức, nhiều chủ thể có liên quan
Ngày nay, hệ thống logistics ngày càng có vị trí quan trọng đối với hoạt động sản xuất
và đời sống, được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau và phát triểnthành 3 nhóm riêng biệt:
Hệ thống logistics trong quân sự;
Hệ thống logistics trong sản xuất, kinh doanh và thương mại;
Hệ thống logistics trong quản lý xã hội
Bảng 1: Chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống logistics
Trang 22Loại hình
HTLG
Mụctiêu
Chủthể
Lĩnh vực hoạt động
Chức năngđánh giáHTLG
quân sự
Bảo vệđất nước
Quânđội
Nhiệm vụ quốc gia
Lợi íchquốc gia
HTLG trong
SXKD
Hiệ
u quả SXKD
Nhàkinh doanh, chủ hãng
Sản xuất, kinh doanh Lợi nhuận
Kinh doanh = Tối thiểu chi phí vận chuyển hàng +
Hoạt động
xã hội
Lợi ích xãhội
Cơ sở hạ tầng
chủ yếu
CSHT = CSHT phương tiện + CSHT thông tin + CSHT
thể chếHoạt động môi
trường Môi trường xanh = Giảm thiểu ô nhiễm
Nguồn: Phát triển dịch vụ logistics khi Việt Nam hội nhập WTO-diễn đàn phát triển
Phân loại theo quá trình
Logistics đầu vào (inbound logistics) là các hoạt động đảm bảo cung ứng tài nguyên
đầu vào (nguyên liệu, thông tin, vốn ) một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chiphí cho quá trình sản xuất
Logistics đầu ra (outbound logistics) là các hoạt động đảm bảo cung cấp thành phẩm
đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đem lại lợinhuận tối đa cho doanh nghiệp
Trang 23Logistics ngược (reserve logistics) là quá trình thu hồi các phụ phẩm, phế liệu, phế
phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối
và tiêu dùng trở về để tái chế hoặc xử lý
2.2 Các yếu tố cơ bản của Logistics :
2.2.1 Yếu tố vận tải :
Trong các yếu tố cấu thành chuối logistics thì vận tải giao nhận là khâu quan trọngnhất Chi phí vận tải giao nhận thường chiếm tới 1/3 tổng chi phí của logisctics Muốngiảm chi phí của logistics phải giảm chi phí khâu giao nhận vận tải từ nơi sản xuất tớinơi tiêu thụ trên thị trường Việc vận tải giao nhận phải đảm bảo thời gian giao hàng,phải đảm bảo cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất kịp thời, đúng lúc Từ đó giảmđến mức thấp nhất chi phí, thiệt hại do lưu kho, tồn đọng sản phẩm để làm giảm chiphí logistics nói chung
Vận tải và giao nhận là yếu tố rất cần và không thể thiếu được trong logistics, yêu cầunày xuất phát từ xu hướng chuyên môn hóa trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
xã hội Khi một doanh nghiệp thu hẹp phạm vi hoạt động của mình vào một hay mộtnhóm sản phẩm có liên quan thì doanh nghiệp đó ngày càng phụ thuộc vào môi trườngbên ngoài Mỗi thành viên của hệ thống công nghiệp, từ doanh nghiệp nhỏ nhất tớinhững tập đoàn hùng mạnh nhất, đều phải dựa vào các doanh nghiệp khác cung cấpnguyên vật liệu cần thiết cho hoạt động của mình Vận tải là người cung cấp cácphương tiện, dịch vụ nhằm di chuyển nguồn nguyên liệu đó từ nơi cung cấp tới nơidoanh nghiệp cần Tại đó, nguyên liệu được sản xuất, chế biến thành sản phẩm và vậntải giao nhận lại một lần nữa làm công việc cung cấp hệ thống vật chất cho sản phẩm.Như vậy, vận tải giao nhận đảm nhận việc di chuyển nguyên liệu vào trong doanhnghiệp sau đó phân phối sản phẩm từ doanh nghiệp ra thị trường và tạo thành mộtvòng tuần hoàn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Vị trí vai trò quan trọng của vận tải giao nhận với tư cách là một yếu tố của logisticsđược biết đến vào những năm 70 của thế kỷ XX, khi thế giới lâm vào cuộc khủnghoảng nhiên liệu trầm trọng Cuộc khủng hoảng này đã khiến các doanh nghiệp phảimua nhiên liệu với giá cao hơn rất nhiều, điều này làm cho chi phí sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp tăng lên đáng kể Giá nhiên liệu tăng cũng đe dọa nghiêm trọng tớihoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh vận tải giao nhận vì giá nhiên liệu tăng sẽ
Trang 24dẫn tới phí vận tải tăng điều này hiển nhiên sẽ tác động mạnh tới giá cả hàng hóa trênthị trường Trong sản xuất kinh doanh, một doanh nghiệp khó có thể tự mình thỏa mãnnhu cầu về giao nhận, trên thực tế, nhu cầu này phổ biến do người vận tải giao nhậnđáp ứng Người cung cấp dịch vụ vận tải giao nhận hoạt động hoàn toàn độc lập đápứng nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu vào doanh nghiệp hay thành phẩm ra khỏidoanh nghiệp Người kinh doanh vận tải giao nhận hoạt động hoàn toàn độc lập chonên cũng độc lập trong việc thu lợi nhuận từ việc cung cấp các dịch vụ theo yêu cầucủa khách hàng Người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận chuyên cung cấp các dịch
vụ cho các doanh nghiệp được gọi là nhà trung gian chuyên nghiệp Một kênh logistics
có thể tạo bởi một số nhà trung gian chuyên nghiệp như người giao nhận; người kinhdoanh vận tải công cộng không có tàu; các công ty quản lý xuất nhập khẩu; các công tythương mại xuất khẩu hay người đóng gói hàng xuất khẩu hoặc môi giới hải quan và
sự thành bại của mỗi nhà trung gian chuyên nghiệp được quyết định bởi sự thành bạicủa toàn bộ kênh logistics
Vận tải giao nhận có thể ảnh hưởng lớn đến vị trí của doanh nghiệp trong phương ánsản xuất kinh doanh Ví dụ, sự thuận tiện trong vận chuyển đường sắt, đường bộ có thểcho phép doanh nghiệp lựa chọn xây dựng nhà máy ở nơi xa nguồn nguyên liệu hoặc
hệ thống phân phối sản phẩm cũng có tác động tới việc lựa chọn vị trí của doanhnghiệp Nếu doanh nghiệp có một kênh phân phối với chi phí thấp và các kênhlogistics hiệu quả thì lựa chọn vị trí của doanh nghiệp sẽ không bị ảnh hưởng nhiều bởithị trường mà doanh nghiệp đang phục vụ
Qua phân tích trên đây, chúng ta có thể nói vận tải giao nhận là yếu tố cơ bản củalogistics và là bộ phận có vai trò quan trọng trong hoạt động của chuỗi logistics
2.2.2 Yếu tố Marketing :
Marketing cũng là một yếu tố cơ bản của logistics Như đã đề cập ở khái niệm logistics
ở trên, thì tất cả các hoạt động của hoạt động logistics đều tập trung vào khách hàng ''khách hàng là thượng đế" Vì vậy, trong logistics điểm được nhấn mạnh nằm ở dịch
-vụ hiệu quả dành cho khách hàng Việc chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường, nơikhách hàng là "thượng đế" là một cuộc cách mạng lớn trong sản xuất kinh doanh.Trước những năm 50 thế kỷ XX, người ta áp dụng triết lý hướng về sản xuất, tức là tậptrung chủ yếu vào khả năng sản xuất và bán sản phẩm của doanh nghiệp, khách hàng
Trang 25thời gian này chỉ được coi là nơi chứa hàng Song tới giai đoạn thị trường có nhiềuhàng hóa và cạnh tranh gay gắt giữa những loại hàng hóa có thể thay thế cho nhau đãlàm thay đổi tư duy về marketing Việc chuyển sang tư duy về marketing là một triết
lý mới trong kinh doanh, nó đòi hỏi doanh nghiệp phải điều tra thị trường, nhu cầu thịtrường cần gì? bao nhiêu? để có kế hoạch sản xuất và cung cấp sản phẩm đáp ứngnhu cầu thị trường "Bán cho khách hàng cái mà họ cần" đã trở thành phương châmkinh doanh mới
Phương thức kinh doanh tới thị trường đã tạo nên những thử thách mới đối với các nhàquản lý Phương thức này đòi hỏi các nhà quản lý phải biết đâu là thị trường của doanhnghiệp; tạo ra tư duy về dịch vụ khách hàng hiệu quả; giúp cho việc đưa đúng sảnphẩm về nơi cần vào thời điểm thích hợp với giá cả phải chăng; thiết lập nhu cầu phải
có kênh phân phối để tối đa lượng hàng bán ra với mức giá hợp lý cũng như sự hỗ trợđối với sản phẩm sau khi chuyển giao quyền sở hữu Từ đây ta có thể thấy vai trò củamarketing trong chuỗi dây chuyền logistics Doanh nghiệp hướng vào thị trường sẽ
sử dụng các nghiên cứu về thị trường để đảm bảo sản phẩm nào có tiềm năng đượckhách hàng ưa thích Logistics là một chức năng cơ bản trong doanh nghiệp, có vaitrò quan trọng trong quá trình khách hàng tiếp cận, chấp nhận và tin tưởng sảnphẩm của doanh nghiệp Logistics lúc đầu được coi là 4 chữ P của marketing mix -
để đảm bảo rằng hàng hóa đến đúng địa điểm kịp thời và trong điều kiện tốt Nhưngthực tế hiện nay logistics còn có liên hệ mật thiết với 3 P còn lại
2.2.3 Yếu tố phân phối:
Phân phối là một yếu tố cơ bản không thể thiếu được trong chuỗi dây chuyền logistics
"Phân phối" là một khái niệm phản ánh sự di chuyển hàng hóa của một doanh nghiệp
Nó bao gồm sự di chuyển của hàng hóa giữa các phương tiện khác nhau, qua biên giớicủa một hay nhiều nước, qua nhiều địa điểm khác nhau, trong đó sự phối hợp các hoạtđộng và các chức năng khác nhau được nhấn mạnh nhằm mục đích loại bỏ các giánđoạn trong hành trình liên tục của hàng hóa từ giai đoạn sản xuất đến khi hàng hóa đếntay người tiêu dùng cuối cùng Logistics sẽ phối hợp toàn bộ quá trình cung ứng, sảnxuất, phân phối thành một dòng chảy nhịp nhàng
Nhận thức ngày càng hoàn thiện hơn về logistics là một hoạt động liên kết đã kéo theonhận thức ngày càng tăng về vai trò ý nghĩa của các cách bố trí kênh phân phối trong
Trang 26hệ thống logistics Nếu không bố trí kênh phân phối hợp lý và khoa học thì những chiphí logistics không cần thiết hay dịch vụ khách hàng yếu kém có thể xảy ra cho mộtdoanh nghiệp Trước đây các kênh phân phối thường đề cao vai trò của vị trí nhàxưởng, nơi sản xuất hay kho hàng Một doanh nghiệp nên chọn lựa nơi gần nguồnnguyên liệu hoặc nơi có đường giao thông thuận lợi xuyên suốt Ngược lại khả năngsẵn sàng vận chuyển nguyên liệu tới doanh nghiệp cho phép doanh nghiệp có thể lựachọn thay thế và xây dựng nhà xưởng, kho tàng gần nơi thị trường tiêu thụ Việc quánhấn mạnh vào tầm quan trọng của địa điểm này đã làm xao nhãng vấn đề thời giantrong hệ thống logistics Vì vậy cần có cách nhìn mới và toàn diện hơn về kênh phânphối trong hệ thống logistics nhằm tối ưu hóa dòng lưu chuyển của hàng hóa Khôngthể phiến diện ở vị trí hay địa điểm, mà kênh phân phối phải biết liên kết chặt chẽ giữađịa điểm và thời gian Đây chính là thành tựu mới nhất trong hoạt động nghiên cứu vềkênh phân phối, với cách tiếp cận này đã đưa ra một cái nhìn tổng quát hơn về logisticstrong sự kết hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận, các yếu tố trong toàn bộ quá trình trungchuyển nguyên vật liệu, hàng hóa qua các kênh.
2.2.4 Yếu tố quản trị
Quản trị là yếu tố cơ bản thứ tư của logistics Trong hệ thống logistics, quản trị có vaitrò hết sức quan trọng Hoạt động logistics nếu không có yếu tố kiểm tra, giám sát sẽkhông đạt được mục đích đặt ra Vấn đề quản trị trong logistics được thể hiện qua hoạtđộng của những nhà quản trị logistics Nhà quản trị logistics có vai trò và trách nhiệmrất lớn Họ là những người vừa có chuyên môn sâu, đồng thời phải có sự hiểu biếtrộng Ở khía cạnh thứ nhất, nhà quản trị logistics phải hiểu biết về các loại hình vậntải, cước phí vận tải, tình hình cung ứng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, quá trình,tiến độ sản xuất sản phẩm đưa vào lưu thông, phân phối, các kênh phân phối và thịtrường Ở khía cạnh thứ hai, nhà quản trị logistics phải hiểu biết về mối quan hệ giữatất cả các chức năng của logistics, đồng thời phải liên kết, phối hợp hài hòa hoạt độngcủa logistics với các hoạt động khác trong doanh nghiệp cũng như với các doanhnghiệp khác và khách hàng
Điều quan trọng hơn là nhà quản trị logistics phải biết nghĩ tới toàn bộ hệ thống kinhdoanh của doanh nghiệp từ khi nhận nguyên liệu từ nhà cung cấp cho tới khi sản phẩmđược giao cho khách hàng kể cả những dịch vụ sau bán hàng Tư duy đó phải bao gồm