Văn hóa và đạo đức trong quản lý từ lâu đã được nhắc đến như một yếu tố tinh thần trong hoạt động quản lý. Quản lý thiếu văn hóa và thiếu đạo đức sẽ dẫn đến những hành vi sai lầm, lệch lạc, đi ngược lại lợi ích và mục tiêu của tổ chức, nghiêm trọng hơn còn làm sụp đổ một tổ chức. Từ tầm quan trọng đó, trong khuôn khổ chương trình đào tạo ngành Khoa học quản lý của trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên, chúng tôi giới thiệu chuyên đề “Văn hóa và đạo đức quản lý” với hi vọng góp phần tạo những kiến thức nền tảng, căn bản nhất về văn hóa và đạo đức cho những sinh viên khoa học quản lý – những chủ nhân tương lai của đất nước, góp phần làm trong sạch và lành mạnh đội ngũ lãnh đạo và quản lý của tương lai. Đây cũng là vấn đề được các nhà quản lý học rất đỗi quan tâm.
Trang 1LỜI GIỚI THIỆU
Văn húa và đạo đức trong quản lý từ lõu đó được nhắc đến như một yếu tố tinh thần trong hoạt động quản lý Quản lý thiếu văn húa và thiếu đạo đức sẽ dẫn đến những hành vi sai lầm, lệch lạc, đi ngược lại lợi ớch và mục tiờu của tổ chức, nghiờm trọng hơn cũn làm sụp đổ một tổ chức.
Từ tầm quan trọng đú, trong khuụn khổ chương trỡnh đào tạo ngành Khoa học quản lý của
trường Đại học Khoa học – Đại học Thỏi Nguyờn, chỳng tụi giới thiệu chuyờn đề “Văn húa và đạo đức quản lý” với hi vọng gúp phần tạo những kiến thức nền tảng, căn bản nhất về văn húa và đạo
đức cho những sinh viờn khoa học quản lý – những chủ nhõn tương lai của đất nước, gúp phần làm
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRờng đại học khoa học Khoa văn – xã hội
-BÙI TRỌNG TÀI
Chuyên đề:
VĂN HểA VÀ ĐẠO ĐỨC QUẢN Lí
(Dành cho cử nhõn ngành Khoa học quản lý)
Thỏi Nguyờn, 2012
Trang 2trong sạch và lành mạnh đội ngũ lãnh đạo và quản lý của tương lai Đây cũng là vấn đề được các nhà quản lý học rất đỗi quan tâm.
Chuyên đề được cấu tạo gồm ba phần căn bản:
Một là, lý luận chung về văn hóa và đạo đức quản lý, giới thiệu những phạm trù căn bản
nhất của vấn đề văn hóa và đạo đức quản lý, sự phân biệt và phân tầng tương đối hai vấn đề văn hóa và đạo đức trong quản lý.
Hai là, vấn đề văn hóa doanh nghiệp và đạo đức kinh doanh Trong cơ chế kinh tế thị
trường hiện nay, văn hóa và đạo đức trong kinh doanh trở thành vấn đề bức xúc Nhất lại là đối với một ngành nghề nhạy cảm như kinh doanh thì khía cạnh đạo đức trở lên khẩn thiết Cán cân đạo đức và lợi nhuận đang đặt ra cho xã hội một bài toán nhức nhối Chuyên đề sẽ góp bàn về các khía cạnh văn hóa trong quan hệ kinh doanh và môi trường kinh doanh, đồng thời gợi mở những khía cạnh đạo đức của chủ doanh nghiệp và nhân viên.
Ba là, vấn đề văn hóa công sở và nền đạo đức công vụ Xuất phát từ thực tế hiện nay, môi
trường phức tạp của công sở và những xuống cấp về đạo đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức đã đẩy yếu tố văn hóa và đạo đức trong cơ quan nhà nước lên một mức báo động Đó có thể là tiềm ẩn của những nguy cơ từ bên trong Do vậy, chuyên đề sẽ đưa ra những nhận định ban đầu về một nền văn hóa công sở và những khía cạnh đạo đức của cán bộ, công chức.
Những vấn đề bàn bạc ở đây xuất phát từ những suy ngẫm và nghiên cứu chưa nhiều của bản thân tác giả, do vậy chắc chắn sẽ còn nhiều điều cần các bậc thức giả chỉ giáo và các bạn sinh viên góp ý thêm cho.
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 02 năm 2012
Tác giả
MỤC LỤCLỜI GIỚI THIỆU 2
MỤC LỤC 3
CHUYÊN ĐỀ 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA VÀ ĐẠO ĐỨC QUẢN LÝ 5
I NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ SỞ 5
1 Quản lý 5
2 Văn hóa 7
Trang 3II NỘI DUNG CỦA VĂN HÓA VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG QUẢN LÝ. 11
III VĂN HÓA QUẢN LÝ 12
1 Định nghĩa 12
2 Văn hóa quan hệ quản lý 13
1.2.1 Nội dung của văn hóa quan hệ quản lý 14
a) Triết lý quản lý 14
b) Hệ quan điểm quản lý 15
c) Hệ khái niệm quản lý 15
d) Hệ chuẩn mực quản lý 15
1.2.2 Biểu hiện của văn hóa quan hệ quản lý 16
a) Quan hệ thứ bậc hay là cơ cấu tổ chức 16
b) Quan hệ quyền lực 17
c) Quan hệ thông tin 17
d) Quan hệ phi tổ chức 18
3 Văn hóa môi trường quản lý 18
3.1 Văn hóa môi trường vật chất 18
3.2 Văn hóa môi trường phi vật chất 19
IV ĐẠO ĐỨC QUẢN LÝ 19
1 Định nghĩa đạo đức quản lý 19
2 Đạo đức chủ thể quản lý 20
2.2.1 Phầm chất nhà quản lý 20
2.2.2 Phong cách quản lý 22
3 Đạo đức đối tượng quản lý 22
CHUYÊN ĐỀ 2 VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VÀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH 24 I VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 24
1 Khái niệm Văn hóa doanh nghiệp 24
2 Biểu hiện của Văn hóa doanh nghiệp 26
2.1 Triết lý kinh doanh 26
2.2 Hệ quan điểm quản trị doanh nghiệp 27
2.3 Hệ chuẩn mực của doanh nghiệp 27
2.4 Những biểu hiện vật chất 28
II ĐẠO ĐỨC KINH DOANH 29
1 Khái niệm đạo đức kinh doanh 29
1.1 Khái niệm Kinh doanh 29
1.2 Khái niệm Đạo đức kinh doanh 30
2 Đạo đức kinh doanh của chủ doanh nghiệp 32
3 Đạo đức kinh doanh của nhân viên 33
Trang 4I VĂN HÓA CÔNG SỞ 35
1 Khái niệm văn hóa công sở 35
1.1 khái niệm Công sở (Service Public) 35
1.2 Khái niệm văn hóa công sở 35
2 Biểu hiện của văn hóa công sở 36
2.1 Văn hóa quan hệ công sở 36
2.2 Văn hóa môi trường công sở 38
II NỀN ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ 40
1 Khái niệm đạo đức công vụ 40
2 Sự cần thiết phải xây dựng nền đạo đức công vụ. 41 3 Những giá trị, chuẩn mực của nền đạo đức công vụ 43 3.1 Tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh 43 3.2 Nền đạo đức công vụ hiện đại 46
4 Một số quy định về đạo đức nghề nghiệp ở các ngành công vụ cụ thể 49 4.1 Chuẩn mực đọa đức của nghề kế toán kiểm toán 50 4.2 Chuẩn mực đạo đức nhà giáo: 53
- Về Phẩm chất chính trị 53
Về đạo đức nghề nghiệp 54
Về lối sống, tác phong 54
Về việc giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo 55 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 6Chuyên đề 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA VÀ ĐẠO ĐỨC QUẢN
LÝ
I NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ SỞ
1 Quản lý
Nhắc đến khái niệm quản lý, đã có rất nhiều các định nghĩa không giống nhau được đưa
ra xuất phát từ những quan điểm và góc nhìn khác nhau Nhưng ở đây, chỉ xin đề cập đếnđịnh nghĩa bao quát nhất:
"Quản lý là sự tác động có ý thức bằng quyền lực, theo một quy trình của chủ thể quản
lý tới đối tượng quản lý thông qua các nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm đạt mục tiêu quản lý trong môi trường biến động" (1)
Phân tích định nghĩa trên, ta có thể thấy bản chất của hoạt động quản lý được biểu hiện
ở những khía cạnh sau:
Một là, quản lý bao giờ cũng là sự tác động có ý thức: Sự tác động có ý thức ở đây,nhằm nhấn mạnh đến việc phủ nhận các yếu tố tiềm thức, vô thức, chủ quan, thiếu tư duytrong quản lý Quản lý bao giờ cũng là hoạt động được tính toán và kiểm soát bằng ý thức.Hai là, quản lý luôn cần có một công cụ đặc biệt: Quyền lực quản lý, quyền lực quản lý
là sức mạnh được sử dụng trong hoạt động quản lý nhằm tạo ra các mệnh lệnh và sự thựcthi Chính quyền lực quản lý là cơ sở để phân chia các tầng bậc quản lý trong tổ chức vàthực hiện chế độ phân quyền, ủy quyền, tạo ra các mức độ quyền hạn khác nhau trong tổchức Việc sử dụng quyền lực quản lý một mặt duy trì cấu trúc của tổ chức, mặt khác cũngthúc đẩy gia tăng nguy cơ lạm quyền, tiếm quyền, bỏ rơi và tha hóa quyền lực
Ba là, quản lý với tư cách là một dạng hoạt động thực tiễn, cần tuân thủ theo một quytrình Một quy trình khép kín về quản lý thường bao gồm: Lập kế hoạch > Tổ chức > Lãnhđạo > Kiểm tra Quy trình này được vận hành cũng là biểu hiện các chức năng của quản lý.Bốn là, quản lý bao giờ cũng là sự quản lý của con người, được cụ thể hóa thành chủthể quản lý và đối tượng quản lý Chủ thể và đối tượng tương tác với nhau trong mối quan
hệ quản lý Quan hệ quản lý rất rộng và phức tạp: Bao gồm: Các nhóm quan hệ về kinh tế vàlợi ích; các nhóm quan hệ về quyền lực và cơ cấu tổ chức; các nhóm quan hệ về giao tiếp và
Trang 7ứng xử và các nhóm quan hệ phi chính thức (ê kíp, bè cánh, thân quen, thống nhất lợiích v v)
Năm là, quản lý luôn được đặt trong khuôn khổ và sự định hướng mang tính chủ đạocủa các nguyên tắc quản lý Các nguyên tắc này đóng vai trò là hệ quan điểm cốt lõi củaquản lý và là một bộ phận cấu thành của văn hóa quản lý
Sáu là, quản lý bao giờ cũng được tiến hành bởi một tập hợp các phương pháp quản lý
Đó là tổng thể các cách thức mà chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý để thực hiệnhoạt động quản lý của mình Có rất nhiều các cách thức quản lý khác nhau, nhưng điển hình
là ba phương pháp quản lý sau: Quản lý theo kiểu độc đoán, quản lý theo kiểu dân chủ vàquản lý tự do hay tùy ý
Bảy là, quản lý là một dạng hoạt động thực t,iễn nên nó bao giờ cũng nhằm để hướngtới giải quyết một mục tiêu thực tiễn cụ thể Mục tiêu của quản lý có thể được xác lập trùngkhít với mục tiêu của tổ chức, hoặc cũng có thể là hệ thống cây mục tiêu mô tả chi tiếtnhững điều cần phải đạt trong hoạt động quản lý để đạt đến một mục tiêu chung Mục tiêu
có thể định tính hoặc định lượng Nhưng dù là mục tiêu chung hay mục tiêu cụ thể nó cũngcần phải đảm bảo những tính chất theo tiêu chuẩn SMART
Tám là, quản lý bao giờ cũng phải là quản lý trong một môi trường cụ thể và đó khôngphải là một môi trường bất động mà là một môi trường không ngừng biến đổi Môi trường
có thể được khu biệt thành môi trường bên trong của tổ chức và môi trường bên ngoài tổchức Mỗi một tổ chức luôn xác lập trong lòng nó một môi trường tương tác và hành động,đồng thời không ngừng quan hệ với tổng thể môi trường kinh tế - xã hội bên ngoài để mộtmặt đảm bảo đầu vào, và mặt khác đảm bảo đầu ra của chính tổ chức đó dù cho nó thuộcloại hình tổ chức nào Không có một tổ chức nào không có môi trường hoạt động và khônghoạt động trong một môi trường nào Trong yếu tố môi trường của quản lý, có yếu tố vănhóa môi trường quản lý, sẽ được giới thiệu ở những phần sau của bài giảng
Chín là, quản lý không phải là yếu tố rời rạc của những vấn đề quyền lực, con người,nguyên tắc, phương pháp, môi trường, mục tiêu mà là sự liên kết hài hòa các yếu tố trên.Nếu không có sự liên kết hài hòa thì hoạt động quản lý đó sẽ có khuyết tật, ngược lại sẽ lànghệ thuật quản lý
Trang 82 Văn hóa
Thuật ngữ văn hóa, từ khi xuất hiện trong lịch sử loài người đã trải qua những biến đổi
về mặt nội hàm khái niệm
Truy tầm nguyên thủy của nó chúng ta có thể thấy:
Ở phương Đông, khái niệm văn hóa bắt nguồn từ Trung Quốc với ý nghĩa là một
phương thức giáo hóa con người Văn trị giáo hóa (đối ngược lại với phương thức dùng vũlực) Thuật ngữ văn hóa được sử dụng sớm nhất vào năm 776 tr.CN
Ở phương Tây, thuật ngữ Culture của người Anh, Kultur của người Đức, Kultura của
người Nga đều bắt nguồn từ một từ gốc Latinh là Cultus animi - nghĩa là trồng trọt tinh thần.
Như vậy, buổi đầu "văn hóa có nghĩa là trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tựnhiên và giáo dục, đào tạo cá thể, cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên và họ cónhững phẩm chất tốt đẹp" (2)
Trải qua sự phát triển của lịch sử nhân loại, văn hóa có lúc được người ta sử dụng đểphân loại trình độ cao thấp Các học giả phương Tây thế kỷ XIX cho rằng, có thể phân chiavăn hóa thế giới từ trình độ thấp, đến trình độ cao và nền văn hóa của họ chiếm vị trí caonhất Bởi vì họ cho rằng, bản chất văn hóa của họ là hướng về trí lực và sự vươn lên Trongtình huống này, họ đã đồng nhất văn hóa với văn minh (civiliztion)
Đến thế kỷ XX, người ta quan niệm văn hóa không phải là sự cao thấp Vì xét chocùng, nếu chi so sánh trí lực của các dân tộc mà nói tới văn hóa cao thấp là không chính xác,văn hóa còn tiềm ẩn các giá trị phi trí lực, các giá trị vật chất, tinh thần khác rất có giá trị Vìvậy, văn hóa lúc này chỉ là sự khác biệt giữa các dân tộc chứ không phải là sự cao thấp.Ngày nay, bàn về văn hóa, có tới cả trăm ngàn các định nghĩa về văn hóa
Theo Unesco: "Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần
và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân.Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình
Trang 9là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân" (3)
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa"(4)
Một cách chung nhất "Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngườisáng tạo ra hoặc tác động vào nhằm phục vụ mục đích cuộc sống con người"
Trong tập bài giảng này, nói đến khía cạnh văn hóa là nói đến những giá trị tinh thần vàvật chất của một nhóm người trong xã hội, bao gồm tập hợp hệ các giá trị, chuẩn mực có tácdụng định hướng, điều chỉnh, kiểm soát hành vi của nhóm người đó và những giá trị vật chấtlàm cơ sở cho hành động thực tiễn của họ Những nhóm người như vậy hoạt động với cùngmột mục tiêu và họ tập hợp trong một tổ chức nhất định
3 Đạo đức
Đạo đức là một phạm trù nhân sinh - xã hội được con người đề cập đến từ rất lâu tronglịch sử Trong xã hội nguyên thủy chưa có phạm trù đạo đức Chỉ từ khi con người thiết lậpcác quan hệ kinh tế, gia đình, chính trị với nhau thì đạo đức mới xuất hiện
Chữ Đạo có ba nghĩa: Một là, Đạo là con đường, là lối đi Ví dụ, gọi là "đạo lộ, độcđạo, hướng đạo"; Hai là, Đạo là vai trò, trách nhiệm Ví dụ, "đạo vợ chồng, đạo hiếu, đạochích"; Ba là, Đạo là để chỉ một tôn giáo Ví dụ, đạo Phật, đạo Thờ cúng tổ tiên
Chữ Đức có hai nghĩa: Một, Đức là sống đúng luân thường; Hai, Đức là sống thuậntheo lẽ của Đạo
Như vậy đạo đức, hiểu một cách đầy đủ nhất là cách sống, lối sống của con người phùhợp với trách nhiệm của mình, phù hợp với luân thường đạo lý và hợp với lẽ tự nhiên củađất trời
Đạo đức có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đời sống con người Vì người thiếu đạođức sẽ làm những việc xấu, ác và có ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội, làm đổ vỡ các
3 () Trích theo: GS Trần Quốc Vượng, Sđd- tr 24
Trang 10quan hệ xã hội và xói mòn tính nhân văn, nhân đạo của đời sống con người Con người khi
đó sẽ trở nên những kẻ tầm thường, ác ôn, thậm chí không khác nào ác thú
Khi định nghĩa về Đạo đức, đã có không ít quan niệm khác nhau:
Ở phương Tây, các học giả định nghĩa "đạo đức là biết phân biệt đúng hay sai và làm
điều đúng"
Ở phương Đông, các nhà hiền triết đã khắc họa rất nhiều cách hiểu khác nhau về đạođức và cố gắng xây dựng các khái niệm liên quan đến phạm trù này Chẳng hạn, Khổng tửcho rằng "sống đúng luân thường đạo lý" thì là đạo đức Lão tử lại cho rằng "bản thể của vạnvật là đạo, thuận theo đó mà sinh ra muôn loài là đức"
Trong Phật giáo, Đạo đức được định nghĩa: "là những khuynh hướng tốt trong tâm ta,
mà những khuynh hướng đó tạo nên những lời nói và hành vi bên ngoài khiến cho mọi người chung quanh ta được chuyển hóa, an vui, lợi ích" (5)
Ngày nay, người ta hiểu rằng "Đạo đức là toàn bộ những qui tắc, chuẩn mực của xă qui tắc, chuẩn mực của xă hội nhờ đó con người tự giác điều chỉnh và đánh giá hành vi của mình trong quan hệ với bản thân với xã hội tự nhiên"
Đạo đức có những đặc điểm sau đây:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội: Đạo đức sản sinh từ Cơ sở hạ tầng kiến trúc củamột xã hội tương ứng và do các Quan hệ sản xuất cơ bản trong Cơ sở hạ tầng đó chi phối
Do đó, đạo đức bao giờ cũng có tính giai cấp Mặt khác, Đạo đức là những quy tắc - chuẩnmực nên nó tác động ngược trở lại Quan hệ sản xuất, điều chỉnh và phân biệt các cách ứng
xử đúng đắn trong Quan hệ sản xuất đó
Các phạm trù cơ bản của Đạo đức gồm:
a) Nghĩa vụ:
Nghĩa vụ đạo đức được thực hiện khi con người ý thức được trách nhiệm của mình khitham gia vào các quan hệ xã hội Nghĩa vụ đạo đức trước hết được xét ở nghĩa vụ đối vớibản thân, nghĩa vụ đối với gia đình, với xã hội Mỗi một mối quan hệ xã hội mà con ngườitham gia đều xác định quyền và trách nhiệm của họ trong đó Do vậy, người có đạo đức làngười làm tròn nghĩa vụ
Trang 11Người có lương tâm là người ý thức được những khía cạnh như sau:
- Ý thức về cái cần phải làm do sự sợ hãi bị trừng phạt bởi thiết chế xã hội hoặc ý niệmtâm linh
- Ý thức về cái cần phải làm, cần phải tránh vì xấu hổ trước người khác và trước dưluận xã hội
- Ý thức về cái cần phải làm vì xấu hổ với bản thân Khi cá nhân xấu hổ với bản thân,với những hành vi của mình là bước đầu của cảm giác lương tâm Từ cảm giác đó đến sựphán xét các suy nghĩ, hành vi của mình thì đó chính là lương tâm Vì thế lương tâm có quan
hệ chặt chẽ với ý thức nghĩa vụ của con người
Khi con người làm những điều xấu, độc ác thì lương tâm cắn rứt Trái lại khi cá nhânlàm những điều tốt, cao thượng thì lương tâm thanh thản Do vậy, trong cấu trúc của lươngtâm tồn tại khái niệm xấu hổ, hối hận Giữ cho lương tâm trong sạch là một tiêu chí hạnhphúc và tiêu chí sống của con người
Ác là những suy nghĩ và hành vi xấu xa, tội lỗi, trái ngược với thuần phong mỹ tụchoặc đi ngược lại lợi ích của loài người và xã hội Cái ác làm cho con người mất đi sự caoquý, mất đi lương tri và làm hoen ố đạo đức con người
Trang 12Sự phán xét giữa thiện và ác phụ thuộc vào lịch sử và quan điểm của mỗi thời đại Cáicốt lõi của sự phân biệt thiện ác là có đem lại hay đi ngược lại lợi ích của nhân loại nóichung.
II NỘI DUNG CỦA VĂN HÓA VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG QUẢN LÝ
Bàn đến nội dung của văn hóa và đạo đức trong quản lý là xét những khía cạnh, nhữngtầng bậc của hoạt động quản lý mà ở đó, các vấn đề văn hóa và đạo đức được bộ lộ
Xét quản lý với ý nghĩa là hoạt động tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lýbằng cách thiết lập một mối quan hệ quản lý nhằm đạt mục tiêu quản lý trong môi trườngbiến động, ta có thể hình dung, hoạt động quản lý sẽ bao gồm các thành tố chính:
Trang 13- Văn hóa môi trường quản lý
Khía cạnh đạo đức quản lý sẽ liên quan đến từng chủ thể khác nhau của quan hệ quản
lý, do đó, sẽ được bộc lộ ở từng chủ thể Ta có các yếu tố hợp thành của đạo đức quản lý baogồm:
- Đạo đức chủ thể quản lý
- Đạo đức đối tượng quản lý
Sự phân biệt như vậy cho phép xác định một cách rõ ràng nội dung của văn hóa quản lý
và đạo đức quản lý Như vậy, nhắc đến văn hóa quản lý là chỉ nhắc đến văn hóa được bộc lộtrong các quan hệ quản lý và biểu hiện ở môi trường quản lý; còn nhắc tới đạo đức quản lý
là nhắc tới đạo đức của từng chủ thể khu biệt tham gia vào hoạt động quản lý như đạo đứccủa chủ thể quản lý hoặc đạo đức của đối tượng quản lý
Tuy nhiên, sự phân biệt như trên cũng chỉ có ý nghĩa tương đối, vì trong một chừngmực nào đó, các giá trị đạo đức cũng là những biểu hiện rất đắc lực của các giá trị văn hóa.Các chuẩn mực đạo đức cố nhiên là những giá trị văn hóa tốt đẹp, và ngược lại những giá trịvăn hóa truyền thống tốt đẹp góp phần vun bồi nền tảng đạo đức
Dưới đây sẽ làm rõ nội hàm hai khái niệm văn hóa quản lý và đạo đức quản lý dựa trênnền tảng của sự phân biệt này
III VĂN HÓA QUẢN LÝ
1 Định nghĩa
Khái niệm văn hóa quản lý là khái niệm trung tâm của khoa học về văn hóa và đạo đứcquản lý, bàn đến khái niệm này cũng đã có rất nhiều ý kiến được đưa ra:
PGS.TS Phạm Ngọc Thanh, Khoa Khoa học quản lý, trường Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn: "Văn hóa quản lý là hệ thống những ý nghĩa, giá trị, những niềm tin chủ đạo
được nhận thức và được các chủ thể quản lý và các đối tượng tham gia vào quá trình quản
lý cùng đồng thuận và thừa nhận, có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của họ Văn hóa quản lý bao gồm hệ giá trị có liên quan đến chủ thể và đối tượng quản lý trong quá trình thực hiện mục tiêu quản lý và phần cốt lõi của nó là triết lý quản lý, từ đó hình thành bộ tiêu chuẩn chung để điều chỉnh hành vi của tổ chức, định hướng cho công tác
tổ chức và các chức năng khác trong quản lý"
Trang 14Định nghĩa đã đề cập được văn hóa quản lý với ý nghĩa là các giá trị, chuẩn mực nằmtrong mối quan hệ quản lý, và đã chỉ ra phần cốt lõi của văn hóa quản lý là triết lý quản
lý Tuy nhiên, định nghĩa chưa chỉ ra được văn hóa quản lý còn là yếu tố ẩn chứa trongmôi trường quản lý
Từ những nhận định nêu trên, có thể khái quát: " Văn hóa quản lý là hệ thống những
triết lý, những hệ quan điểm và hệ chuẩn mực về quản lý được xây dựng trên nền tảng quan hệ quản lý và được biểu hiện trong môi trường quản lý như là những giá trị vật chất và tinh thần chung của tổ chức, có tác dụng định hướng, kiểm soát, điều chỉnh và động viên các chủ thể tham gia vào quá trình quản lý đạt được mục tiêu chung một cách hiệu quả nhất"
Phân tích định nghĩa nêu trên, cần chú ý một số nội dung sau:
Một là, văn hóa quản lý luôn được biểu hiện thông qua hai khía cạnh là: Văn hóa quan
hệ quản lý và văn hóa môi trường quản lý;
Hai là, văn hóa quản lý biểu hiện ở cả những giá trị vật chất và những giá trị tinh thần;trong đó, giá trị vật chất là cơ sở nền tảng để xây dựng các giá trị tinh thần trong văn hóaquản lý; điều đó cũng có nghĩa là giá trị vật chất trong văn hóa môi trường quản lý là yếu tốquyết định triết lý, hệ quan điểm, hệ chuẩn mực của văn hóa quan hệ quản lý và các giá trịtinh thần khác của văn hóa môi trường quản lý
Ba là, văn hóa quản lý bao giờ cũng biểu hiện bốn chức năng cơ bản của nó đó là địnhhướng, kiểm soát, điều chỉnh và động viên các chủ thể tham gia vào quá trình quản lý
Dưới đây sẽ tìm hiểu cụ thể những đặc điểm này
2 Văn hóa quan hệ quản lý
Văn hóa quan hệ quản lý là văn hóa quản lý được bộ lộ trong mối quan hệ quản lý,trong đó bao gồm triết lý quản lý, hệ quan điểm quản lý, hệ chuẩn mực quản lý, hệ kháiniệm về quản lý và được biểu hiện trong những quan hệ nhất định giữa chủ thể quản lý vàđối tượng quản lý như trong quan hệ về thứ bậc, quan hệ quyền lực, quan hệ thông tin và cácmối quan hệ ngoài tổ chức
Trang 151.2.1 Nội dung của văn hóa quan hệ quản lý
Nội dung của văn hóa quan hệ quản lý được thể hiện thông qua: triết lý quản lý, hệquan điểm quản lý, hệ chuẩn mực quản lý, hệ khái niệm quản lý; các yếu tố này quan hệ vớinhau theo sơ đồ dưới đây:
Triết lý quản lý là tầng bậc đầu tiên, chi phối tất cả các hệ dưới nó
a) Triết lý quản lý
Triết lý quản lý là một quan điểm được phát biểu dưới dạng cô đọng nhất, đúc kết nhất có tác dụng định hướng và điều chỉnh toàn bộ tư duy và hành động của các chủ thể trong hoạt động quản lý Triết lý quản lý được xem như kim chỉ nam cho mọi hành động
bố về sứ mệnh (mission) hoặc tầm nhìn(vission).
Ví dụ: Triết lý quản lý của Đặng Tiểu Bình "mèo đen hay mèo trắng không quan trọng,miễn là bắt được chuột"
Triết lý quản lý của Bill Gates "Thời gian tôi cúi xuống nhặt một đồng xu đánh rơi, tôi
có thể làm được số tiền gấp trăm lần đồng xu đó"
Trang 16Triết lý quản lý của Nhà nước Việt Nam" Dân làm chủ, Đảng lãnh đạo, Nhà nước quảnlý" hay "Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật"
b) Hệ quan điểm quản lý
Hệ quan điểm quản lý là tổng thể những quan điểm, quan niệm của chủ thể quản lý xuất phát từ triết lý quản lý có tác dụng định hướng, chiến lược, sách lược, kế hoạch, mục tiêu, nội dung, phương thức tiến hành hoạt động quản lý Tóm lại nó là sự triển khai
chi tiết và hiện thực hóa của triết lý quản lý
Hệ quan điểm quản lý ẩn chứa trong các chương trình, kế hoạch, chiến lược phát triển,các tuyên bố về hành động và các chính sách
Ví dụ, từ triết lý “mèo đen hay mèo trắng không quan trọng, miễn là bắt được chuột”
mà Đặng Tiểu Bình đã không phân vân giữa việc chuyển đổi mô hình kinh tế Chỉ huy củaNhà nước sang mô hình kinh tế thị trường kiểu Trung Quốc; miễn điều đó mang lại đổi thay
về kinh tế cho đất nước Trung Quốc và củng cố quyền lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc
Hệ quan điểm của Bill Gates và của NN Việt Nam?
c) Hệ khái niệm quản lý
Hệ khái niệm quản lý là toàn bộ những phạm trù, khái niệm được đưa ra để lý giải cho triết lý và quan điểm quản lý.
Hệ khái niệm quản lý thực chất là tập hợp các ngôn từ mà dựa vào đó, triết lý quản lý,hay hệ quan điểm quản lý được phát biểu được xây dựng và được kiến giải
Ví dụ: Mô hình quản lý Kinh tế chỉ huy thì cần các khái niệm: Nhà nước, Hoạch định,
Kế hoạch hóa, Chỉ tiêu, Xin – Cho v v Trong khi mô hình Kinh tế thị trường thì cần cáckhái niệm, phạm trù như: Thị trường, Cơ chế thị trường, Quy luật cung cầu, giá cả, giá trị,Bàn tay vô hình, Bàn tay hữu hình v v Những khái niệm, phạm trù như vậy trở thànhcông cụ lý giải cho triết lý và quan điểm quản lý
Hệ khái niệm của triết lý của Bill Gates và của Nhà nước Việt Nam?
Trang 17d) Hệ chuẩn mực quản lý
Hệ chuẩn mực quản lý là tổng thể những nguyên tắc, quy định, những quy tắc xử sự
có tác dụng điều chỉnh và kiểm soát hành vi trong quá trình quản lý Hệ chuẩn mực quản
lý giống như hệ quy chiếu của một đồ thị, khiến chúng thường xuyên phải soi chiếu về đó đểlấy những chuẩn mực ở đó làm tiêu chuẩn cho hành động của mình
Hệ chuẩn mực quản lý thường được phát biểu trong các tuyên bố về những hành viđược làm hoặc những hành vi bị cấm Nó ẩn chứa trong các tuyên bố công khai như: nộiquy, quy định của cơ quan và cả trong các tuyên bố ngầm định
Ví dụ: Khi tuyên bố nền kinh tế chúng ta đang vận hành là nền kinh tế thị trường,định hướng xã hội chủ nghĩa thì buộc chúng ta phải loại bỏ độc quyền, mặt khác cần tôntrọng các “quy tắc xử sự” của nền kinh tế thị trường như có cung thì có cầu (có cung chắcchắn có cầu???), giá cả do thị trường điều tiết (thị trường điều tiết hay thị trường quyếtđịnh?) v v Những can thiệp hữu hình của Nhà nước chỉ thực sự khi nào cần thiết khi phảikhắc phục những khuyết tật của thị trường
1.2.2 Biểu hiện của văn hóa quan hệ quản lý
Biểu hiện của Văn hóa quan hệ quản lý được bộc lộ thông qua bốn mối quan hệ quản lý
sau: quan hệ về thứ bậc, quan hệ quyền lực, quan hệ thông tin và các mối quan hệ ngoài tổ
chức
a) Quan hệ thứ bậc hay là cơ cấu tổ chức
Quan hệ thứ bậc có sự phân cấp quản lý và thiết lập thành cơ cấu tổ chức của một tổchức nhất định Tuy nhiên, trong toàn bộ cơ cấu tổ chức đó, mọi hành động đều được nhấtquán theo triết lý quản lý, được cụ thể hóa từ trên xuống bằng các chiến lược, mục tiêu hànhđộng lâu dài và các hoạt động cụ thể trong hệ quan điểm quản lý Đồng thời, mọi cá nhântrong cơ cấu tổ chức phải thấm nhuần hệ khái niệm quản lý để diễn giải, lý giải về mục tiêuhành động, đồng thời phải nắm rõ quy tắc xử sự trong toàn hệ thống
Ví dụ:
Xét cơ cấu tổ chức của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm ba phân hệ
là Cơ quan quyền lực Nhà nước, Cơ quan hành chính Nhà nước và Cơ quan Kiểm sát và xét
xử
Trang 18Triết lý quản lý ở đây là xây dựng chế độ Xã hội chủ nghĩa với Nhà nước pháp quyền
của dân do dân và vì dân
Hệ quan điểm quản lý: Biểu hiện ở các chiến lược phát triển, các chương trình mục tiêu
quốc gia, các chính sách (VD cụ thể?)
Hệ khái niệm quản lý: biểu hiện ở hàng loạt các khái niệm: Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; xã hội chủ nghĩa; Nhà nước Pháp quyền v v
Hệ chuẩn mực quản lý: biểu hiện thông qua Pháp luật, những quy tắc tổ chức và hoạt
động của Nhà nước (VD cụ thể, biểu hiện thông qua pháp luật là như thế nào? Những quytắc tổ chức và hoạt động của nhà nước ntn? Vì sao lại biểu hiện thông qua những nguyên tắcnày?)
Như vậy buộc toàn bộ hệ thống thứ bậc đó đều phải vận hành theo những nội dung nêutrên của văn hóa quan hệ quản lý, nó có sự ràng buộc không thể phá vỡ trong toàn bộ cấutrúc tổ chức
Ví dụ: Xét quyền lực của nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
Triết lý quản lý: Quyền lực là thống nhất, thuộc về nhân dân
Hệ quan điểm quản lý: Có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong
việc thực thi quyền lực Cụ thể, cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao thực thi quyền lậppháp Cơ quan quyền lực tại địa phương và cơ quan hành chính nhà nước thực thi quyềnhành pháp; Cơ quan kiểm sát – xét xử thực thi quyền tư pháp
Hệ khái niệm quản lý: Các khái niệm: Nhân dân, của dân, do dân, vì dân, quyền lực
thuộc về nhân dân, lập pháp, hành pháp, tư pháp v v
Hệ chuẩn mực quản lý: Phải thông qua bầu cử để nhân dân ủy quyền, tiến hành các
hoạt động có lợi ích cho nhân dân v v
Trang 19c) Quan hệ thông tin
Quan hệ thông tin cũng là một dạng quan hệ phổ biến trong quản lý Thiếu thông tin tổchức sẽ không thể vận hành được Do vậy, trong hoạt động quản lý thông tin có được thôngsuốt, có được chính xác, xác thực, có được kịp thời hay không cũng cần có văn hóa điềuchỉnh Ví dụ cụ thể?
d) Quan hệ phi tổ chức
Quan hệ phi tổ chức hay là những quan hệ ngoài cơ cấu, là những dạng quan hệ ẩn chứađằng sau các quan hệ chính thức Những quan hệ này có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đếncác quan hệ chính thức Nó cho phép thiết lập những nhóm phi chính thức, những bè, nhữngcánh, những dây ở trong tổ chức chính thức
Văn hóa quan hệ quản lý được bộc lộ ở đây nhằm làm giảm thiểu tình trạng tiêu cực
nẩy sinh trong các quan hệ phi chính thức đồng thời khuyến khích những ê kíp làm việchoàn hảo phục vụ cho tổ chức chính thức
3 Văn hóa môi trường quản lý
Văn hóa quản lý còn được biểu hiện ở mặt thứ hai là văn hóa môi trường quản lý Môi
trường quản lý được hiểu là toàn bộ những không gian mà ở đó, hoạt động quản lý được diễn ra Môi trường quản lý lại được chia thành hai dạng là môi trường vật chất và môi
trường phi vật chất Do vậy, khía cạnh văn hóa quản lý cũng được biểu hiện ở hai dạng môitrường này:
3.1 Văn hóa môi trường vật chất
Môi trường vật chất bao gồm cơ sở vật chất hạ tầng của xã hội và cơ sở vật chất của
tổ chức – nơi mà hoạt động quản lý diễn ra Ở đây chúng ta không xét các giá trị vật chấtngoài tổ chức, vì chúng quá rộng và không thuộc phạm vi xem xét của môn học này Chúng
ta chỉ xét môi trường vật chất của tổ chức nơi mà hoạt động quản lý diễn ra
Những giá trị văn hóa quản lý được biểu hiện trong môi trường của tổ chức bao gồm:
- Kiến trúc nội, ngoại thất
- Công nghệ, sản phẩm (nếu có)
- Cơ cấu tổ chức, các phòng ban của tổ chức
- Các biểu tượng, logo, nhãn hiệu, khẩu hiệu, tài liệu của tổ chức
Trang 20- Trang phục, phương tiện đi lại
- Hình thức, mẫu mã của sản phẩm, ấn phẩm(nếu có);
3.2 Văn hóa môi trường phi vật chất
Môi trường phi vật chất nơi hoạt động quản lý diễn ra là toàn bộ những giá trị tinh thầncủa văn hóa tồn tại bên ngoài và bên trong tổ chức Những giá trị bên ngoài được hiểu là cácgiá trị văn hóa tinh thần của xã hội Những giá trị văn hóa bên trong tổ chức thì được biểuhiện trong văn hóa quan hệ quản lý
IV ĐẠO ĐỨC QUẢN LÝ
1 Định nghĩa đạo đức quản lý
Nhắc đến khái niệm đạo đức quản lý, dường như còn có rất ít các ý kiến(6) Mặc dù đạođức và quản lý từ lâu đã được xem xét và bàn luận Nhưng dường như, những khía cạnh bànluận mới chỉ ở chuyên ngành hẹp Chẳng hạn người ta thường bàn đến đạo đức trong quảntrị doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp này nghềnghiệp kia Mà chưa ai mấy quan tâm đến vấn đề đạo đức quản lý – với tư cách là một mônkhoa học tìm ra những quy luật chung nhất, những nét căn bản nhất về đạo đức của quản lý.Trên phương diện quan điểm nghiên cứu của mình, chúng tôi đã phân chia những thành
tố cơ bản của quản lý thành bốn thành tố chính là: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, quan
hệ quản lý và môi trường quản lý(7) Các khía cạnh văn hóa quản lý được thể hiện trong quan
hệ quản lý và môi trường quản lý đã được trình bày ở trên Về khía cạnh đạo đức quản lý, sẽxuất hiện gắn với từng cá nhân hoặc là chủ thể, hoặc là đối tượng quản lý
Trên cơ sở như vậy, chúng tôi xin đưa ra một định nghĩa về đạo đức quản lý như sau:
Đạo đức quản lý là tập hợp những giá trị, chuẩn mực về đạo đức gắn liền với từng chủ thể hoặc đối tượng quản lý, có tác dụng định hướng, dẫn dắt và tự kiểm soát hành vi của
họ trong khi họ quản lý hoặc tiến hành hoạt động phục vụ tổ chức.
Dưới đây sẽ nghiên cứu cụ thể đạo đức của từng loại chủ thể trong hoạt động quản lý:
2 Đạo đức chủ thể quản lý
Đạo đức của chủ thể quản lý là những giá trị đạo đức thuộc về phẩm chất và phong
cách của Nhà quản lý biểu hiện khi anh ta tiến hành hoạt động quản lý:
Trang 212.2.1 Phẩm chất nhà quản lý
Phẩm chất của nhà quản lý là tổng hoà các đặc điểm tâm lý thể hiện khía cạnh đạo đứcchính trị, đạo đức tư cách, ý chí và cung cách ứng xử của nhà quản lý diễn ra trong hoạtđộng quản lý
Theo các lý thuyết về tâm lý học, phẩm chất của Nhà quản lý thể hiện ở bốn khía cạnhsau:
Thứ nhất, phẩm chất xã hội: hay đạo đức chính trị như quan niệm về thế giới quan,niềm tin, lý tưởng, lập trường, thái độ chính trị, thái độ lao động biểu hiện trong quá trìnhquản lý
Thứ hai, phẩm chất cá nhân hay đạo đức tư cách, bao gồm các nết, các thói quen, cácthú ham muốn bộc lộ trong hành vi quản lý
Thứ ba, phẩm chất ý chí: cụ thể như tính quyết đoán, tính kỷ luật, tính tự chủ, tính phêphán
Thứ tư, cung cách ứng xử như tác phong, thái độ, tính khí
Việc quan niệm như trên, còn có quá chung chung và chưa chỉ ra được những đức tínhcần thiết, nhất định phải có của một nhà quản lý Cần thiết phải liệt kê được một cách rõràng hơn về những mong đợi về phẩm chất đạo đức của một nhà quản lý
Nghiên cứu của Ordray Tead đã tiến bộ hơn rất nhiều khi chỉ ra những tố chất cần cócủa một nhà quản lý Theo ông, một nhà quản lý phải hội đủ 10 tố chất sau đây:
1 Sức khoẻ về cả thể chất cũng như tinh thần
2 Tường minh mục tiêu của tổ chức
Trang 22Ở một nghiên cứu khác, PGS.TS Vũ Dũng, Viện trưởng viện Tâm lý học Việt Nam chorằng Nhà quản lý cần có đủ 13 đức tính để có thể điều hành tốt một tổ chức (Vũ Dũng, giáotrình Tâm lý học quản lý, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm):
1 Thể lực khoẻ mạnh và tinh thần minh mẫn
2 Năng lực xác định mục tiêu và định hướng hoạt động của tổ chức
3 Trí tuệ năng động
4 Lòng nhiệt tình
5 Năng lực quan sát
6 Tính quyết đoán
7 Thành thạo về chuyên môn
8 Lòng nhân ái với mọi người
9 Tính trung thực
10 Biết lắng nghe những người dưới quyền
11 Kiên nhẫn và biết thuyết phục
12 Đánh giá khách quan và công bằng giữa những người dưới quyền
13 Nghệ thuật sử dụng lời khen đối với cấp dưới
Các nghiên cứu trên đã rất nỗ lực khi chỉ ra một cách tường minh những gì nhà quản lýcần tích luỹ Tuy nhiên, ở các nghiên cứu này còn đan xen, lẫn lộn giữa phẩm chất và nănglực của nhà quản lý Cần chú ý rằng, sự tách bạch giữa năng lực và phẩm chất quyết địnhnhững khía cạnh quan trọng trong phong cách đạo đức của một nhà quản lý Sự tách bạchnày còn cho phép nhà quản lý xác định chính xác mình đang thiếu, yếu ở phẩm chất haynăng lực Do vậy, những nghiên cứu còn chưa tách bạch được các giá trị về phẩm chất vànăng lực được xem là chưa triệt để hoàn toàn
Theo quan điểm nghiên cứu của chúng tôi, nhà quản lý cần có những phẩm chất đạođức gồm hai nhóm như sau:
1 Phẩm chất đạo đức cá nhân:
1 Trung thành
2 Tận tụy
3 Có ý thức tổ chức kỷ luật
Trang 232 Tư duy phản biện
3 Xử lý tình huống trong điều kiện khó khăn
4 Làm việc nhóm
5 Thích nghi với những biến đổi
6 Tự quản đối với bản thân
7 Ý thức cầu thị, biết lắng nghe, chia sẻ tâm tư, tôn trọng đồng nghiệp
8 Bình tĩnh, hòa nhã với cấp trên và nhân viên trong xử lý tình huống
9 Trung thực
10 Trách nhiệm, đáng tin cậy
2.2.2 Phong cách quản lý
Phong cách quản lý là một kiểu quản lý, hay một cách thức quản lý mà nhà quản lý
sử dụng một cách tương đối ổn định, tạo thành bản sắc riêng của chính anh ta trong hoạt động quản lý.
Bàn đến phong cách quản lý cùng sự phân chia các phong cách đã được rất nhiều cáchọc giả tiến hành, và cũng có rất nhiều căn cứ để phân chia Có những phân chia phong cáchtheo ô bàn cờ quản lý, lại có những phân chia dựa trên mức độ sử dụng quyền lực của nhàquản lý
Tuy nhiên, suy cho cùng, căn cứ vào mọi tình huống, chúng tôi cho rằng, phong cáchquản lý thường được chia về ba dạng cơ bản là: Phong cách quản lý chuyên quyền, phongcách quản lý dân chủ, phong cách quản lý tự do – hay tùy ý (căn cứ phân chia?)
Khía cạnh đạo đức của nhà quản lý trong phong cách quản lý hàm chỉ rằng, mỗi phongcách quản lý đều thể hiện bản sắc riêng của Nhà quản lý, và do đó nó chứa đựng những giátrị đạo đức (nhiều hay ít) dẫn dắt một cách tương đối ổn định hành vi của chủ thể quản lý.Phong cách quản lý thể hiện không nhỏ cá tính cùng những phẩm chất cá nhân của nhà quảnlý
Trang 243 Đạo đức đối tượng quản lý
Đối tượng quản lý, hay nói cách khác là nhân viên, chuyên viên hoặc những người cấpdưới, phục vụ cho hoạt động của tổ chức Đối tượng quản lý luôn luôn đứng trước sự cânnhắc giữa hai mối lợi ích căn bản là: Lợi ích của cá nhân anh ta và lợi ích của tổ chức Dophải suy xét giữa những mối lợi ích như vậy, nên khía cạnh đạo đức của đối tượng quản lýcần được bàn đến
Đạo đức của đối tượng quản lý là tập hợp các giá trị đạo đức có tác dụng định hướng, điều chỉnh và tự kiểm soát hành vi của đối tượng quản lý khi anh ta thực hiện công việc phục vụ tổ chức
Vậy, đối tượng quản lý cần có những giá trị đạo đức như thế nào? Chúng tôi xin đưa ranhững khía cạnh đạo đức cơ bản như sau:
6 Tuân thủ những quy tắc xử sự chung
7 Sống hoà mình vào môi trường tập thể
Chuyên đề 2 VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VÀ ĐẠO ĐỨC KINH
DOANH
I VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
1 Khái niệm Văn hóa doanh nghiệp
Thuật ngữ Văn hóa doanh nghiệp xuất hiện vào đầu những năm 70 của thế kỷ XX khithế giới chứng kiến sự vươn lên "thần kỳ" của kinh tế Nhật Bản Các chuyên gia đã sử dụngcác thuật ngữ như Corporate culture/ Emprise culture) để chỉ cho một trong những nguyênnhân thành công của các công ty Nhật Bản trên khắp thế giới
Tiếp đến, các nghiên cứu cũng đã đi sâu tìm hiểu và vạch ra nội hàm ý nghĩa của cụm
Trang 25doanh nghiệp vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất Ngược lại, có rất nhiều các hiểu vềđịnh nghĩa này:
Tổ chức Lao động Quốc tế ILO định nghĩa "Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc
biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và nghi lễ
mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết" (8)
Nhà nghiên cứu tổ chức Edgas Schien định nghĩa "Văn hóa công ty là tổng hợp nhữngquan niệm chung mà các thành viên trong công ty được học trong quá trình giải quyết cácvấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh"
Trong nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân và của TS Đỗ Thị Phi Hoài về
"đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp", đều cho rằng "Văn hoá doanh nghiệp được
định nghĩa là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm
vi rộng đến cách thức hành động từng thành viên" (9) Như vậy, với định nghĩa trên, văn hóadoanh nghiệp đều chỉ là các giá trị "tinh thần", còn các giá trị vật chất không được đề cậpđến
Tuy nhiên, PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân cũng đồng nhất văn hoá doanh nghiệp với văn
hoá tổ chức, văn hoá kinh doanh Theo tác giả: "văn hoá doanh nghiệp hay văn hoá công ty
là một khái niệm được biết đến với các tên khác như văn hoá tổ chức hay văn hoá kinh doanh" (đ10) Điều này không hẳn đúng vì:
Thứ nhất, Văn hoá doanh nghiệp và văn hoá công ty: Theo luật doanh nghiệp của ViệtNam, không phải tất cả các công ty đều là doanh nghiệp Khái niệm công ty có nội hàm hẹphơn khái niệm doanh nghiệp, hay nói cách khác:
Doanh nghiệp = Công ty + Doanh nghiệp tư nhân
Công ty bao gồm: Công ty TNHH, Công ty hợp danh, Công ty Cổ phần
Thứ hai, văn hóa doanh nghiệp và văn hóa tổ chức: Không phải tất cả các tổ chức đều
là các doanh nghiệp và đều có mục đích kinh doanh, lợi nhuận như doanh nghiệp Các tổchức trong xã hội rất phong phú, đa dạng như tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổchức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp Do vậy, không thể đồng nhất văn hóa tổ chức là
8 () Dẫn theo TS.Đỗ Thị Phi Hoài, Văn hóa doanh nghiệp, Nxb Tài chính, Hà Nội năm 2009, tr18
9 () Sđd tr 21.
Trang 26văn hóa doanh nghiệp, mặc dù bất cứ văn hóa doanh nghiệp nào cũng là một loại hình củavăn hóa tổ chức.
Thứ ba: Văn hóa doanh nghiệp và văn hóa kinh doanh: Văn hóa doanh nghiệp đượchiểu bao hàm cả những giá trị vất chất và phi vật chất của một doanh nghiệp Văn hóa doanhnghiệp bao hàm những giá trị vật chất như logo, biểu tượng, trang trí nội thất, ngoại thất củamột doanh nghiệp Trong khi văn hóa kinh doanh chủ yếu thiên về các chuẩn mực, quy tắcđược sử dụng trong hoạt động kinh doanh Do vậy, nó thiên nhiều về yếu tố phi vật chất.Như vậy, có thể nói văn hóa kinh doanh là một bộ phận của văn hóa doanh nghiệp
Từ sự phân biệt rạch ròi như vậy, có thể đi đến một định nghĩa về văn hóa doanh
nghiệp như sau: “Văn hóa doanh nghiệp là hệ thống các giá trị tinh thần của một doanh
nghiệp, bao gồm triết lý kinh doanh, hệ quan điểm quản lý, hệ chuẩn mực kinh doanh và những biểu hiện mang tính vật chất khác, có tác dụng vừa để phân biệt doanh nghiệp này, với doanh nghiệp khác, vừa định hướng, điều chỉnh và kiểm soát hành vi của toàn
bộ doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh, nhằm mục tiêu đạt lợi nhuận một cách trong sáng và tích cực nhất”.
Phân tích định nghĩa nêu trên, chúng ta có thể thấy một số điểm đáng chú ý như sau:Một là, văn hóa doanh nghiệp bao giờ cũng được chia thành hai bộ phận là văn hóa tinhthần và văn hóa vật chất của doanh nghiệp đó
Hai là, văn hóa tinh thần của doanh nghiệp biểu hiện ở : Triết lý kinh doanh, hệ quanđiểm quản lý, hệ chuẩn mực hay là những quy tắc xử sự của doanh nghiệp;
Ba là, văn hóa vật chất của doanh nghiệp vô cùng đa dạng và phong phú từ nội thất,kiến trúc, công nghệ, sản phẩm, cơ cấu tổ chức, đến logo, biểu tượng, nhãn hiệu, thậm chí làhình thức và mẫu mã của sản phẩm v v
Bốn là, tác dụng của văn hóa doanh nghiệp gồm hai tác dụng chủ yếu đó là: Một là đểphân biệt các doanh nghiệp với nhau Cũng giống như con người, cái tên thương mại thìphân biệt về phần “danh” còn văn hóa phân biệt về phần “tính” của doanh nghiệp; Hai là,văn hóa doanh nghiệp có tác dụng định hướng, điều chỉnh và kiểm soát hành vi của toàn bộdoanh nghiệp, từ các mối quan hệ quyền lực, các mối quan hệ giao tiếp, ứng xử đến cáchthức hành động của doanh nghiệp;
Trang 27Năm là, một doanh nghiệp có văn hóa là một doanh nghiệp biết đặt mục tiêu tìm kiếmlợi nhuận lên mức trong sáng và tích cực nhất, nghĩa là không gian tham, chộp giật, không
vì cái lợi trước mắt mà hủy hoại đời sống con người Bởi khi con người đang bị hủy hoại bởihành vi kinh doanh thiếu văn hóa, thiếu đạo đức thì chính nhân tính trong những người kinhdoanh cũng đang bị hủy hoại
Chúng ta cùng xét những biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp:
2 Biểu hiện của Văn hóa doanh nghiệp
2.1 Triết lý kinh doanh
Triết lý kinh doanh là một quan điểm kinh doanh được phát biểu hoặc tuyên bố dưới dạng cô đọng và hàm súc nhất, có tác dụng hướng dẫn toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh.
Triết lý kinh doanh là tư tưởng kinh doanh bao trùm nhất, có tác dụng chi phối toàn bộ
hệ quan điểm quản trị và hệ chuẩn mực của doanh nghiệp
Triết lý kinh doanh có thể tìm thấy trong các tuyên bố về tầm nhìn hoặc sứ mệnh củadoanh nghiệp
Ví dụ, một ví dụ kiểu chung cho mọi doanh nghiệp: Mỗi nhân viên là khách hàng củangười trước đó và lại là nhà cung cấp của người tiếp theo (Theo quản lý chất lượng toàndiện TQM)
Ví dụ: Triết lý kinh doanh của Honda là “Đương đầu với những thử thách gay go nhấttrước tiên”
Ví dụ: Sứ mệnh của Trung Nguyên: Tạo dựng thương hiệu hàng đầu qua việc mangđến cho người thưởng thức cà phê là nguồn cảm hứng sáng tạo và niềm tự hào trong phongcách Trung nguyên đậm đà văn hóa Việt
Ví dụ: Tầm nhìn của FPT “FPT mong muốn trở thành một tổ chức kiểu mới, giầu mạnhbằng nỗ lực lao động sáng tạo trong Khoa học kỹ thuật và công nghệ làm khách hàng hàilòng, góp phần hưng thịnh quốc gia Mục tiêu của công ty là đem lại cho mỗi thành viên củamình điều kiện phát triển tốt nhất về tài năng, một cuộc sống đầy đủ về vật chất, phong phú
về tinh thần
Trang 282.2 Hệ quan điểm quản trị doanh nghiệp
Hệ quan điểm quản trị của doanh nghiệp là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của chủ doanh nghiệp xuất phát từ triết lý kinh doanh, có tác dụng định hướng chiến lược, sách lược, kế hoạch, mục tiêu, nội dung và phương thức tiến hành hoạt động quản trị của doanh nghiệp.
Hệ quan điểm về quản trị của doanh nghiệp được chủ doanh nghiệp xây dựng trên cơ sởtriển khai cụ thể hóa triết lý kinh doanh, biến nó thành những mục tiêu (cây mục tiêu),những chương trình hành động, những chiến lược hoặc kế hoạch dài hạn, những sách lượchoặc kế hoạch ngắn hạn, những biện pháp thực hiện v v
Hệ quan điểm quản trị có tác dụng chi phối toàn bộ cách hành vi quản trị trong doanhnghiệp, giúp doanh nghiệp hướng vào mục tiêu thực hiện sứ mệnh, tầm nhìn của mình
2.3 Hệ chuẩn mực của doanh nghiệp
Hệ chuẩn mực của doanh nghiệp là tổng thể những nguyên tắc, quy định, quy tắc
xử sự có tác dụng điều chỉnh và kiểm soát hành vi của toàn bộ doanh nghiệp trong quá trình quản lý.
Hệ chuẩn mực trong doanh nghiệp chính là tập hợp các hành vi được làm, các hành vinên làm và các hành vi bị cấm trong doanh nghiệp Nó được xây dựng xuất phát từ nền tảngcủa việc làm thế nào để thực hiện tốt triết lý kinh doanh và triển khai tốt hệ quan điểm quảntrị
Hệ chuẩn mực kinh doanh có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh và kiểm soáthành vi của cách chủ thể kinh doanh, không đi ngược lại với lợi ích của doanh nghiệp và xãhội
Ví dụ: Bảy quan niệm kinh doanh của IBM tại Nhật:
1 Tôn trọng cá nhân
2 Dịch vụ thường xuyên tốt nhất
3 Bảo đảm độ an toàn
4 Điều hành công việc một cách tốt nhất
5 Trách nhiệm đối với cổ đông
6 Mua bán trao đổi sòng phẳng
Trang 29Ví dụ: Công thức Q + S + C của Macdonald:
- Kiến trúc nội, ngoại thất: Kiến trúc ngoại thất thiên về hình dáng, màu sắc, kết cấu
của trụ sở doanh nghiệp Nhất là khía cạnh màu sắc dễ dàng giúp chúng ta nhận ra đó làdoanh nghiệp nào: Ví dụ: Viền nhà Xanh lá cây, tổng thể trắng – Big C Xanh toàn bộ nhà –Haprromart V v Kiến trúc nội thất thì thường phản ánh môi trường làm việc bên trong củadoanh nghiệp, thứ tự phòng ban và tính trật tự, khoa học trong cách sắp xếp phòng ban đểgiải quyết công việc một cách có quy trình
- Công nghệ, sản phẩm: Công nghệ, hay sản phẩm cũng làm nên một nét đặc trưng
riêng biệt rõ nét của từng doanh nghiệp Cùng là một sản phẩm nhưng công nghệ khác nhau,hoặc cùng một sản phẩm nhưng chất lượng, quy trình khác nhau cũng đủ đem lại cho doanhnghiệp bản sắc và sự khác biệt
- Các văn bản quy định nguyên tắc tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp: Các văn
bản này được bố trí tại những nơi trang trọng hoặc dễ thấy của doanh nghiệp, cốt là để mọingười thường xuyên nhìn thấy và nhắc nhở mình tuân thủ các giá trị văn hóa phi vật chất đãđược tuyên bố
- Các biểu tượng, logo, nhãn hiệu, khẩu hiệu, tài liệu quảng cáo của doanh nghiệp:
Đây là những yếu tố tạo ra sự khác biệt rất lớn giữa các doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệpđều biểu hiện sự tồn tại và khác biệt của mình thông qua các logo, nhãn hiệu và thậm chí làslogan – hay khẩu hiệu kinh doanh Ngoài ra, quảng cáo cũng là một phương thức tạo nêndấu ấn
- Ngôn ngữ, cách ăn, mặc, phương tiện đi lại, chức danh: Đây là những nét giá trị văn
hóa liên quan đến phong cách phục vụ của từng doanh nghiệp Khách hàng sẽ được tiếp xúcvới những con người có hình thức gắn với doanh nghiệp như thế nào đều được bộc lộ tại nétvăn hóa này