1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ứng dụng mô hình MIKE 11 dự báo lũ trên lưu vực sông Srêpôk

79 1,4K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 1. Mục tiêu của đồ án 2 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2 3. Phương pháp nghiên cứu 2 4. Nội dung nghiên cứu 2 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU LƯU VỰC SÔNG SRÊPÔK 3 1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 3 1.1.1. Vị trí địa lý 3 1.1.2. Đặc điểm địa hình 3 1.1.3. Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng 4 1.1.4. Thảm phủ thực vật 5 1.1.5. Đặc điểm khí tượng thủy văn 6 1.1.5.1. Đặc điểm khí hậu 6 1.1.5.2. Chế độ thủy văn 12 1.1.5.3. Mạng lưới sông ngòi 16 1.1.5.4. Mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn 17 1.1.6. Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên 20 1.2. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI 20 1.2.1. Dân số và sự phân bố dân cư 20 1.2.2. Đặc điểm văn hóa xã hội 21 CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25 2.1. TỔNG QUAN VỀ DỰ BÁO THỦY VĂN 25 2.1.1. Khái niệm về dự báo thủy văn 25 2.1.1.1. Dự báo hạn ngắn 25 2.1.1.2. Dự báo hạn dài 26 2.1.2. Các khái niệm cơ bản và nguyên tắc chung về xây dựng phương án dự báo thuỷ văn 26 2.1.3. Đánh giá sai số dự báo yếu tố 28 2.1.4. Đánh giá phương án dự báo 32 2.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO THƯỜNG DÙNG Ở VIỆT NAM 33 2.2.1. Phương pháp xu thế 33 2.2.2. Phương pháp tương quan mực nước, lưu lượng tương ứng 34 2.2.3. Phương pháp lượng trữ: đoạn sông đặc trưng, Muskingum 34 2.2.4. Phương pháp phân tích thống kê 35 2.2.5. Phương pháp sử dụng mạng trí tuệ nhân tạo: BPNN, GA, Fuzzy logic 35 2.2.6. Phương pháp sử dụng mô hình thủy văn, thủy lực: TANK, NAM, SSARR 36 2.3. LỰA CHỌN MÔ HÌNH 36 2.4. TỔNG QUAN CÁC MÔ HÌNH TOÁN SỬ DỤNG 37 2.4.1. Cơ sở lý thuyết của mô hình MIKE NAM 37 2.4.2. Mô hình thủy lực MIKE 11 (MIKE 11 HD) 41 CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN DỰ BÁO LŨ TRÊN LƯU VỰC SÔNG SRÊPÔK 43 3.1. THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 43 3.2 THIẾT LẬP MÔ HÌNH THỦY VĂN MIKE NAM 44 3.2.1. Phân chia lưu vực 44 3.2.2. Chạy mô hình 47 3.2.3. Nhận xét, đánh giá 56 3.4. THIẾT LẬP MÔ HÌNH THỦY LỰC MIKE 11 56 3.4.1. Thiết lập mạng lưới sông cho mô hình MIKE 11 56 3.4.2 Thiết lập mặt cắt cho mô hình MIKE 11 57 3.4.3. Thiết lập điều kiện biên 58 3.4.4. Thiết lập modun thủy lực 59 3.4.5. Thiết lập Simulation 60 3.4.6. Chạy mô hình 60 3.4.7. Nhận xét, đánh giá 64 3.5. DỰ BÁO THỬ NGHIỆM 64 3.5.1. Quy trình dự báo lũ trên sông Srêpôk 64 3.5.2. Dự báo thử nghiệm và kết quả dự báo thử nghiệm 65 KẾT LUẬN 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC 71

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cám ơn chân thành trường Đại học Tài nguyên và Môi trường

Hà Nội, các thầy cô trong khoa Khí tượng Thủy văn đã quan tâm, tạo mọi điều kiệntốt nhất cho em trong suốt quá trình học tập và giúp em hoàn thành tốt đồ án này

Đặc biệt em xin gửi lời cám ơn chân thành nhất đến PGS.TS Huỳnh Phú,Th.s Phạm Văn Tuấn, tập thể lớp ĐH2T đã trực tiếp hướng dẫn, nhiệt tình giúp đỡ

và động viên em để em có thể hoàn thành tốt đồ án

Trong quá trình thực hiện đồ án, mặc dù em đã rất cố gắng nhưng khôngtránh khỏi gặp phải những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiếnđóng góp của thầy cô và các bạn để em có thể hoàn thiện đồ án được tốt hơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Sinh viên

Vũ Thị Thảo

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Mục tiêu của đồ án 2

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Nội dung nghiên cứu 2

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU LƯU VỰC SÔNG SRÊPÔK 3

1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 3

1.1.1 Vị trí địa lý 3

1.1.2 Đặc điểm địa hình 3

1.1.3 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng 4

1.1.4 Thảm phủ thực vật 5

1.1.5 Đặc điểm khí tượng - thủy văn 6

1.1.5.1 Đặc điểm khí hậu 6

1.1.5.2 Chế độ thủy văn 12

1.1.5.3 Mạng lưới sông ngòi 16

1.1.5.4 Mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn 17

1.1.6 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên 20

1.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI 20

1.2.1 Dân số và sự phân bố dân cư 20

1.2.2 Đặc điểm văn hóa - xã hội 21

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 TỔNG QUAN VỀ DỰ BÁO THỦY VĂN 25

2.1.1 Khái niệm về dự báo thủy văn 25

2.1.1.1 Dự báo hạn ngắn 25

2.1.1.2 Dự báo hạn dài 26

2.1.2 Các khái niệm cơ bản và nguyên tắc chung về xây dựng phương án dự báo thuỷ văn 26

2.1.3 Đánh giá sai số dự báo yếu tố 28

2.1.4 Đánh giá phương án dự báo 32

2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO THƯỜNG DÙNG Ở VIỆT NAM 33

2.2.1 Phương pháp xu thế 33

2.2.2 Phương pháp tương quan mực nước, lưu lượng tương ứng 34

2.2.3 Phương pháp lượng trữ: đoạn sông đặc trưng, Muskingum 34

Trang 3

2.2.5 Phương pháp sử dụng mạng trí tuệ nhân tạo: BPNN, GA, Fuzzy logic 35

2.2.6 Phương pháp sử dụng mô hình thủy văn, thủy lực: TANK, NAM, SSARR 36

2.3 LỰA CHỌN MÔ HÌNH 36

2.4 TỔNG QUAN CÁC MÔ HÌNH TOÁN SỬ DỤNG 37

2.4.1 Cơ sở lý thuyết của mô hình MIKE NAM 37

2.4.2 Mô hình thủy lực MIKE 11 (MIKE 11 HD) 41

CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN DỰ BÁO LŨ TRÊN LƯU VỰC SÔNG SRÊPÔK 43

3.1 THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 43

3.2 THIẾT LẬP MÔ HÌNH THỦY VĂN MIKE NAM 44

3.2.1 Phân chia lưu vực 44

3.2.2 Chạy mô hình 47

3.2.3 Nhận xét, đánh giá 56

3.4 THIẾT LẬP MÔ HÌNH THỦY LỰC MIKE 11 56

3.4.1 Thiết lập mạng lưới sông cho mô hình MIKE 11 56

3.4.2 Thiết lập mặt cắt cho mô hình MIKE 11 57

3.4.3 Thiết lập điều kiện biên 58

3.4.4 Thiết lập modun thủy lực 59

3.4.5 Thiết lập Simulation 60

3.4.6 Chạy mô hình 60

3.4.7 Nhận xét, đánh giá 64

3.5 DỰ BÁO THỬ NGHIỆM 64

3.5.1 Quy trình dự báo lũ trên sông Srêpôk 64

3.5.2 Dự báo thử nghiệm và kết quả dự báo thử nghiệm 65

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 71

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng1-1: Nhiệt độ bình quân tháng nhiều năm tại các trạm (°C) [1] 8

Bảng 1-2: Kết quả tính tần suất lượng mưa năm tại các trạm trong lưu vực [1] 9

Bảng 1-3: Tỉ lệ lượng mưa mùa mưa, mùa khô so với lượng mưa năm 10

Bảng 1-4: Tổng số giờ nắng bình quân tháng nhiều năm tại các trạm (giờ) [1] 11

Bảng 1-5: Đặc trưng dòng chảy trung bình nhiều năm tại các trạm thủy văn [1] 13

Bảng 1-6: Phân mùa lũ, mùa cạn và % lượng nước [1] 14

Bảng 1-7: Khả năng lũ lớn nhất hàng năm của các trạm (%) [1] 15

Bảng 1-8: Dòng chảy kiệt thực đo tại các trạm thủy văn trên lưu vực 16

Bảng 1-9: Đặc trưng hình thái sông ngòi lưu vực Srêpôk [1] 17

Bảng 1-10: Lưới trạm khí tượng và đo mưa trong lưu vực 18

Bảng 1-11: Lưới trạm thủy văn trên lưu vực 19

Bảng 2-1: Chỉ tiêu đánh giá chất lượng dự báo yếu tố 32

Bảng 2-2: Chỉ tiêu đánh giá phương án dự báo 33

Bảng 2-3: Thông số chính của mô hình NAM 41

Bảng 3-1: Thống kê các tiểu lưu vực tính toán 45

Bảng 3-2: Trọng số mưa các tiểu lưu vực 47

Bảng 3-3: Bộ thống số hiệu chỉnh mô hình NAM, trận lũ 6/10 – 31/10/2000, tại các trạm 49 Bảng 3-4: Thống kê kết quả đánh giá sai số hiệu chỉnh trận lũ 6/10 – 31/10/2000 tại trạm Giang Sơn 50

Bảng 3-5: Thống kê kết quả đánh giá sai số hiệu chỉnh trận lũ 6/10 – 31/10/2000 tại trạm Đức Xuyên 51

Bảng 3-6: Thống kê kết quả đánh giá sai số kiểm định trận lũ 14/08- 28/08/2002 tại trạm Giang Sơn 52

Bảng 3-7: Thống kê kết quả đánh giá sai số kiểm định trận lũ 14/08- 28/08/2002 tại trạm Đức Xuyên 53

Bảng 3-8: Thống kê kết quả đánh giá sai số mô phỏng trận lũ 7/9 – 25/9/2005 tại trạm Giang Sơn 54

Bảng 3-9: Thống kê kết quả đánh giá sai số mô phỏng trận lũ 7/9 – 25/9/2005 tại trạm Đức Xuyên 55

Bảng 3-10: Thống kê kết quả đánh giá sai số hiệu chỉnh trận lũ 6/10 - 31/10/2000 tại trạm Cầu 14 62

Bảng 3-11: Thống kê kết quả đánh giá sai số kiểm định trận lũ 14/08- 28/08/2002 tại trạm Cầu 14 63

Trang 5

Bảng 3-12: Thống kê kết quả đánh giá sai số mô phỏng trận lũ 7/09 – 25/09/2005 tại

trạm Cầu 14 64 Bảng 3-13: Bộ thông số của mô hình MIKE NAM tại các trạm 66 Bảng 3-13: Kết quả dự báo thử nghiệm trận lũ từ ngày 22/09 – 01/10/2013 67

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1-1: Bản đồ lưu vực thượng sông Srêpôk 3

Hình 1-2: Mạng lưới sông suối trên lưu vực sông Srêpôk 16

Hình 2-1: Các modun của mô hình MIKE 11 37

Hình 2-2: Cấu trúc mô hình NAM 39

Hình 3-1 Bản đồ DEM lưu vực sông Srêpôk 44

Hình 3-2: Các tiểu lưu vực đã phân chia 45

Hình 3-3: Kết quả sử dụng phương pháp đa giác Thiessen 46

Hình 3-4: Thiết lập NAM cho các tiểu lưu vực sông Srêpôk 47

Hình 3-5: Sơ đồ quá trình hiệu chỉnh mô hình 48

Hình 3-6: Quá trình lũ thực đo và tính toán hiệu chỉnh trận lũ 6/10 – 31/10/2000 50

tại trạm Giang Sơn 50

Hình 3-7: Quá trình lũ thực đo và tính toán hiệu chỉnh trận lũ 6/10 – 31/10/2000 51

tại trạm Đức Xuyên 51

Hình 3-8: Quá trình lũ thực đo và tính toán kiểm định trận lũ 14/08- 28/08/2002 52

tại trạm Giang Sơn 52

Hình 3-9: Quá trình lũ thực đo và tính toán kiểm định trận lũ 14/08- 28/08/2002 53

tại trạm Đức Xuyên 53

Hình 3-10: Quá trình lũ thực đo và tính toán mô phỏng trận lũ 7/9 – 25/9/2005 54

tại trạm Giang Sơn 54

Hình 3-11: Quá trình lũ thực đo và tính toán mô phỏng trận lũ 7/9 – 25/9/2005 55

tại trạm Đức Xuyên 55

Hình 3-12: Modun mạng lưới sông trong MIKE 11 57

Hình 3-13: Modun mặt cắt trong MIKE 11 58

Hình 3-14: Modun biên trong MIKE 11 59

Hình 3-15: Modun thủy lực trong MIKE 11 59

Hình 3-16: Thiết lập modun liên kết các modun trên 60

Hình 3-17: Kết quả tính toán thủy lực trong MIKE 11 60

Hình 3-18: Kết quả mực nước tính toán và thực đo hiệu chỉnh trận lũ 6/10 - 31/10/2000 tại trạm Cầu 14 61

Hình 3-19: Kết quả mực nước tính toán và thực đo kiểm định trận lũ 14/08- 28/08/2002 tại trạm Cầu 14 62

Hình 3-20: Kết quả mực nước tính toán và thực đo mô phỏng trận lũ 7/09 – 25/09/2005 tại trạm Cầu 14 63

Trang 7

Hình 3-21: Quá trình mực nước thực đo và tính toán dự báo thử nghiệm tại trạm Cầu

14 từ ngày 22/09 – 01/10/2013 66

Trang 8

MỞ ĐẦU

Nước là tài nguyên quan trọng nhất của loài người và sinh vật trên Trái Đất.Viện sĩ Xiđorenko khẳng định “nước là loại khoáng sản quý hơn các loại khoángsản” Vai trò quan trọng của nước thể hiện rõ nét trong tất cả các mặt của đời sốngcon người: nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật sống trong môi trường nước và44% trọng lượng cơ thể con người, ngoài chức năng tham gia vào chu trình sốngtrên, nước còn mang năng lượng (hải triều, thủy năng, chất mang vật liệu và là tácnhân quan trọng điều hòa khí hậu, thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong

tự nhiên) Có thể nói, sự sống của con người và mọi sinh vật trên Trái Đất phụthuộc vào nước

Hiện nay do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đã gây ảnh hưởng đến cả sốlượng và chất lượng nguồn nước, đó là sự suy giảm và sự thay đổi số lượng và chấtlượng của dòng chảy năm, dòng chảy lũ, dòng chảy kiệt trên các con sông, trên hệthống các lưu vực Tài nguyên nước là đặc biệt quan trọng nhưng cũng là hiểm họahàng đầu nếu như xảy ra những thiên tai liên quan đến dòng chảy Do đó, chúng taphải biết khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên nước và tìm cách hạn chế táchại của nước gây ra Muốn hạn chế được tác hại của nước, điều cần thiết là phải biếttrước được các hiện tượng để từ đó đưa ra phương pháp xử lý phù hợp Dự báo thủyvăn – một chuyên ngành thủy văn ứng dụng đã ra đời để đáp ứng yêu cầu đó dựatrên các thông tin đã biết để dự báo các hiện tượng xảy ra trong tương lai

Lũ lụt là một trong những thiên tai liên quan đến dòng chảy, nó đã trở thànhthiên tai gây nên những thiệt hại rất nghiêm trọng về người và tài sản đồng thời gây

ra tác động xấu đến môi trường tự nhiên Bởi vậy, dự báo lũ là một vấn đề quantrọng Dự báo lũ kịp thời và chính xác sẽ mang lại hiệu quả rõ rệt tới các ngành mà

nó phục vụ cũng như giảm thiệt hại do lũ gây ra

Đồ án “Nghiên cứu ứng dụng mô hình MIKE 11 dự báo lũ trên lưu vực sông Srêpôk” sẽ là cơ sở cho bài toán dự báo lũ để từ đó biết cách phòng tránh, giảm nhẹ

thiệt hại do lũ gây ra

1 Mục tiêu của đồ án

Trang 9

- Nghiên cứu, tìm hiểu về điều kiện tự nhiên lưu vực sông Srêpôk: vị trí địa

lý, điều kiện địa hình, địa chất thổ nhưỡng, đặc điểm khí tượng thủy văn của lưuvực sông Srêpôk

- Tìm hiểu và phân tích chế độ dòng chảy, đặc trưng dòng chảy lưu vực sôngSrêpôk

- Nghiên cứu, ứng dụng mô hình MIKE 11 dự báo lũ trên lưu vực sôngSrêpôk

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Mực nước lũ lưu vực sông Srêpôk;

Mô hình MIKE 11

- Phạm vi thực hiện đề tài: lưu vực sông Srêpôk

3 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu và thực hiện được các nội dung công việc nêu trên,đồ

án đã được sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau đây:

- Phương pháp thống kê, kế thừa;

- Phân tích đánh giá, tổng hợp, áp dụng có chọn lọc các sản phẩm khoa học,các nội dung phù hợp phục vụ cho nghiên cứu của đề tài;

- Phương pháp mô hình toán

4 Nội dung nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đồ án bao gồm các chương sau:

Chương I: Giới thiệu lưu vực sông Srêpôk

Chương II: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương III: Xây dựng phương án dự báo lũ trên lưu vực sông Srêpôk

Trang 10

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU LƯU VỰC SÔNG SRÊPÔK

1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

1.1.1 Vị trí địa lý

Lưu vực Srêpôk trải rộng trên các tỉnh Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai và LâmĐồng có tổng diện tích tự nhiên 18.264km2 chia ra làm 2 lưu vực tách biệt là lưuvực thượng Srêpôk 12.320km2 và lưu vực suối EaĐrăng- EaLốp- EaHLeo 5.944km2bao gồm đất đai của 22 huyện, 1 thành phố có tọa độ địa lý từ 11053’ đến 130 55’ vĩ

độ Bắc, từ 107030’ đến 1080 45’kinh độ Đông Sông Srêpôk do hai nhánh sôngchính là Krông Ana và Krông Nô hợp thành trên lãnh thổ Việt Nam Phía Bắc giáplưu vực sông Sê san Phía Đông giáp lưu vực sông Ba, sông Cái Nha Trang PhíaTây giáp Cam Pu Chia Phía Nam giáp lưu vực sông Đồng Nai.[3]

Hình 1-1: Bản đồ lưu vực sông Srêpôk

1.1.2 Đặc điểm địa hình

Địa hình lưu vực Srêpôk có hướng thấp dần từ Đông Nam - Tây Bắc và từTây sang Đông

Trang 11

Địa hình của lưu vực khá phức tạp với những Cao nguyên xen kẽ núi cao vànúi trung bình và hướng dốc chính thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc

Địa hình núi cao tập trung ở phía nam có độ cao lớn hơn 1000m, điển hình lànúi Chư Jang Sin có độ cao 2442m, Lang Biang 2167m có đỉnh nhọn dốc đứng Địahình núi thấp nằm ở phía tây bắc của tỉnh, bao gồm một số ngọn núi với độ caotrung bình 600 – 700m

Địa hình Cao nguyên chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của lưu vực, tậptrung ở 2 Cao nguyên chính là Cao nguyên Buôn Ma Thuột và Cao nguyên bazanĐăk Nông, Đăk Mil Đặc điểm địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc từ 3 – 15o vớinhững đồi tròn bát úp rất thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp

Địa hình bán bình nguyên Ea Suop là vùng đất rộng lớn nhất trên lưu vực,khá bằng phẳng với bề mặt được bóc mòn tạo thành những đồi lượn sóng nhẹ với

độ cao trung bình 200 – 300m

Vùng đồng bằng trũng Lăk, Buôn Trấp, Krông Pach bao gồm các thung lũngven sông Krông Ana, Krông Nô do các bãi phù sa mới xen lẫn đầm hồ và các bậcthềm phù sa cổ tạo thành, hàng năm thường bị ngập úng gây khó khăn cho sản xuấtnông nghiệp.[3]

1.1.3 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng

Căn cứ vào báo cáo “Bổ sung hoàn thiện bản đồ đất tỉnh Đăk Lăk tỷ lệ1/100.000 và liên hệ chuyển đổi sang hệ thống phân loại FAO-UNESCO ” của ViệnQuy hoạch và Thiết kế nông nghiệp và báo cáo “Quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh GiaLai thời kỳ 1998-2000” của Viện nghiên cứu địa chính, lưu vực Srêpôk có 8 loại đấtchính: Nhóm đất phù sa (37.605ha), nhóm đất Glêy (32.859ha), nhóm đất than bùn(183 ha), nhóm đất đen (55.130ha), nhóm đất xám (1.004.573ha), nhóm đất đỏ(666.673ha), nhóm đất mùn trên núi cao (2.556ha) và nhóm đất mùn trơ sỏi đá(25.92ha)

Toàn bộ lưu vực Srêpôk đều phân bố đất đá trầm tích lục nguyên: cát kết, bộtkết, phiến sét xen kẹp nhau của các hệ tầng Đăk Bung, Đray Linh, La Ngà, Ea Súpvới góc cắm 40-700 Phủ lên chúng là bazan hệ tầng Ở đầu nguồn các sông suối,trên núi cao có đá cổ granít biotit, đá phiến thạch anh và phân bố nhiều đá granit,dọc 2 bên bờ sông Srêpôk, Krông Ana, Krông Nô đều phân bố rộng rãi trầm tích

Trang 12

gồm các bãi bồi và bậc thềm, chiều rộng từ 5-10km ở hạ lưu (sát biên giớiCampuchia) Chúng gồm á cát, cát cuội sỏi chiều dày tới 10m Đất aluvi trên nền đácát kết , bột kết, phiến sét cũng như trên nền đá granit là đất á sét, đất sét có chiềudày 5-25m, chiều dày đất aluvi lớn nhất trên nền đá bazan hệ Tầng Tuc Trưng đạttới 30-40m.

Hoạt động đứt gãy, phá hủy, kiến tạo cũng rất phổ biến Đứt gãy ở đây gồm

5 phương chính Tây Bắc-Đông Nam, vĩ tuyến, kinh tuyến, Đông Bắc-Tây Nam và ákinh tuyến Đây là vùng hoạt động mạnh mẽ của vỏ trái đất, các hiện tượng địa chất

tự nhiên như phong hóa, xói mòn, trượt lở xâm thực và bồi lắng lòng sông phổ biếntrong vùng, phổ biến nhất là phong hóa trên bazan Hầu hết các khối bazan đều bịphong hóa mạnh mẽ và triệt để với chiều dày vỏ phong hóa lớn (30-50m) Phonghóa ở đây đạt tới giai đoạn tột cùng, sản phẩm phong hóa từ bazan có màu nâu đỏ

và có một số tính chất đặc biệt Còn trong các khối xâm nhập trầm tích nguyênphong hóa diễn ra yếu hơn thường chỉ đạt ở mức độ thấp, chiều dày vỏ phong hóathường nhỏ

Về tính chất địa chất công trình của đất đá, hiện nay có thể đánh giá sơ lượcqua khảo sát thực địa, lớp tàn tích chủ yếu là các sản phẩm phong hóa còn nằm trênmặt đá gốc Trên các trầm tích lục nguyên gồm các thành phần vỡ vụn của cát kết,bột kết chưa được vận chuyển đi xa, có thành phần gần giống với đá gốc Các sảnphẩm này làm vật liệu xây dựng tốt, nhưng bề dày không lớn Còn trên các khốibazan các sản phẩm này bị biến đổi sâu sắc về thành phần hóa học, khoáng vật cũngnhư tính chất cơ lý tạo thành một lớp phủ dày mềm xốp với thành phần chủ yếu làhạt sét.[3]

1.1.4 Thảm phủ thực vật

Thảm phủ thực vật trên lưu vực khá phong phú, mức độ che phủ củarừng khoảng 70 % trong đó bao gồm nhiều loại như: rừng lá rộng, rừng lá kim,rừng hỗn giao, rừng tre nứa, rừng trồng,… ngoài ra còn có một số lượng đáng

kể cây cà phê, chè…

Thảm phủ trên lưu vưc Srêpôk phân bố có sự khác biệt theo các vùng địahình Vùng núi cao nằm ở phía Đông và Đông Nam (thượng nguồn các sông)được thảm rừng xanh bao phủ quanh năm bao gồm rừng lá rộng thường xanh,

Trang 13

rừng lá kim, rừng hỗ giao Đi dần về phía hạ lưu là vùng đồi núi thoải dần vànhâp nhô thì rừng già được thay thế dần bằng các rừng tái sinh, rừng cà phê,cao su… thung lũng các sông với địa hình bằng phẳng có nhiều hồ tự nhiên,đầm lầy thì xuất hiện các ruộng bậc thang, vườn cây ăn trái, chè.

Hiện nay rừng ở đây có xu hướng giảm đi đáng kể, đặc biệt là rừng giàu

và rừng trung bình giảm với tốc độ nhanh, diện tích rừng nghèo và bụi cây càngtăng do quá trình khai thác quá mức, hậu quả do lối sống du canh du cư củađồng bào dân tộc và chặt phá rừng để trồng các loại cây có giá trị kinh tế nênnhiều khu vực đất bị thoái hóa, làm tăng khả năng xói mòn, rửa trôi đất

1.1.5 Đặc điểm khí tượng - thủy văn

Vào mùa Hạ khối không khí thịnh hành là gió mùa Tây nam, bắt nguồn từkhu vực Nam Thái Bình Dương và một phần từ Nam bán cầu di chuyển lên Khốikhông khí này hoạt động mạnh vào các tháng 6, 7, 8 mang hơi ẩm nên đã mang mưadông đến toàn lưu vực và cũng là thời kỳ nắng nóng bắt đầu Vào mùa này còn cókhối không khí xích đạo bắt nguồn từ biển Bắc Ấn Độ Dương, kết hợp với mộtphần yếu ớt của tín phong Nam Bán cầu di chuyển lên Bắc Bán cầu Khối không khínày tạo thành gió Tây hay Tây nam thổi qua Ấn Độ Dương và vịnh Ben gan, ảnhhưởng đến bán đảo Đông dương gây cho lưu vực thời tiết nắng nóng, vì vậy đã tạođối lưu nhiệt phát triển kết hợp với địa hình núi cao của dãy Trường sơn ngăn cảngây ra mưa đông, mưa rào vào đầu mùa hạ có khi đạt cường độ rất lớn và mưa bắt

Trang 14

đầu ổn định ở bên sườn Tây của dãy Trường Sơn, trong khi đó ở sườn Đông TrườngSơn chịu ảnh hưởng của dòng phơn gây ra thời kỳ khô nóng;

Vào giữa mùa hạ phía Bắc hình thành gió mùa Tây nam lớn dần tới cường độcực đại Sau đó gần cuối mùa hạ thì khối không khí này suy yếu dần và bị lấn át bởikhối không khí xích đạo từ Nam Thái Bình Dương lên.Vì vậy vào mùa hạ lưu vực

bị ảnh hưởng bởi sự hội tụ giữa tín phong và gió mùa Tây nam Chính sự ảnh hưởngcủa giải hội tụ nội chí tuyến đã gây ra mưa lớn trên lưu vực vào các tháng 8, 9.[1]

độ bình quân năm đạt 23.7°C ở Buôn Ma Thuật, 24.7°C ở Krông Ana, vùngthung lũng như ở Buôn Hồ: 21.8°C, ở Đăk Mil: 22.4°C Tương ứng với sự hạthấp nhiệt độ theo độ cao thì tổng nhiệt độ toàn năm đạt 8000-8500°C ở vùng

có độ cao 500-800m ở những vùng có độ cao 800-1000m tổng nhiệt độ giảmxuống còn 7000-8000°C trong năm

Chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm không lớn 5-6°C, thánglạnh nhất có nhiệt độ trung bình là tháng I đạt 21.0°C ở Buôn Ma Thuật,18.6°C ở Buôn Hồ, 20.1°C ở Đăk Mil, 20.0°C ở M’Đrăk Tháng có nhiệt độtrung bình cao nhất là tháng IV với nhiệt độ trung bình tháng đạt 26.3°C ởBuôn Ma Thuật, 27.2°C ở thung lũng Krông Ana, 26°C ở vùng Lăk, 24.2°C ởvùng Buôn Hồ, 32.3°C ở M’Đrăk

Nhiệt độ cao nhất quan trắc được là 39°C vào ngày 14/04/1937 ở Buôn

Ma Thuật, 34.6°C ngày 15/03/1984 ở Buôn Hồ, 35.8°C vào ngày 06/04/1980 ởĐăk Nông

Nhiệt độ trung bình tới thấp rơi vào tháng lạnh nhất trong năm là tháng Iđạt 15.1°C ở Buôn Hồ, 17.1°C ở Buôn Ma Thuật, 17.2°C ở M’Đrăk Nhiệt độthấp nhất tuyệt đối đo được là 7.4°C ngày 03/07/1955 tại Buôn Ma Thuật,8.9°C ngày 09/01/1984 tại Buôn Hồ

Trang 15

Biên độ dao động của nhiệt độ ngày đêm khá lớn, tháng I có biên độnhiệt độ ngày đêm đạt 13.6°C ở Buôn Ma Thuật, 12.2°C ở Buôn Hồ, 15.4°C ởĐăk Nông Tuy có sự hạ thấp nhiệt độ theo độ cao, xong nhìn chung biến trìnhnăm của nhiệt độ trong vùng nghiên cứu thuộc dạng biến trình nhiệt độ củavùng nhiệt đới gió mùa Đó là dạng biến trình đơn gồn một cực đại về mùa hèvào tháng IV và một cực tiều về mùa đông vào tháng I Tháng II sang tháng IIInhiệt độ tăng rất nhanh, tháng X, XI có nơi tháng XII nhiệt độ bắt đầu giảmmạnh.[1]

Bảng1-1: Nhiệt độ bình quân tháng nhiều năm tại các trạm (°C) [1]

Chế độ nhiệt trong vùng khá phong phú với tổng số giờ nắng trong nămkhá cao đạt 2400-2500giờ/năm, tổng lượng bức xạ đạt cao, bức xạ tổng cộngđạt 233-240Kcalo/cm² khi trời không mây, độ cao mặt trời lớn ít thay đổi trongnăm

Đây là điều kiện thuân lợi cho việc phát triển cây công nghiệp và hoamàu khác cũng như việc phát triển mùa vụ trong năm

Chế độ mưa

Do đặc điểm địa hình và vị trí địa lý của lưu vực nằm ở phía Tây của dãyTrường sơn nên lưu vực chịu tác động chủ yếu của khí hậu Tây Trường Sơn Theochỉ tiêu phân mùa thì mùa mưa trong lưu vực kéo dài từ tháng V-X, có nơi tới tháng

XI như vùng M'Đrak, thượng nguồn sông Krông Ana, Krông Nô Mùa khô từ tháng

XI đến tháng IV năm sau Lượng mưa năm trung bình nhiều năm toàn lưu vực đạt

từ 1817mm

Biến động của mưa theo thời gian: Theo thời gian lượng mưa năm biến đổi

giữa các năm trong vùng không lớn biểu hiện ở hệ số Cv tại các vị trí đo tương đối

Trang 16

nhỏ, phần lớn các trạm đều có hệ số Cv mưa năm biến đổi từ 0.1-0.2, nhưng giữamùa khô và mùa mưa, giữa các tháng trong các mùa lượng mưa có sự chênh nhaurất lớn Lượng mưa trong sáu tháng mùa mưa chiếm 86% lượng mưa năm, mùa khôchiếm 16% ở phía Tây và Tây Bắc của lưu vực, lượng mưa mùa khô chiếm 12-16%lượng mưa năm Các vùng phía Tây, Tây Bắc và trung tâm lưu vực lượng mưa lớnnhất trong ba tháng mùa mưa (tháng 7, 8, 9) chiếm 45-50% lượng mưa năm Tháng

8 có lượng mưa lớn nhất trung bình chiếm 17-20% lượng mưa năm Mùa mưa củalưu vực này đến sớm hơn do chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam Càng về phíaĐông và Đông Nam của lưu vực do ảnh hưởng của bão, áp thấp mùa mưa ở đâythường kéo dài Lượng mưa 3 tháng lớn nhất xẩy ra vào các tháng 8, 9, 10 lớn nhấtvào tháng 9, có nơi kéo dài đến tháng 11 và lớn nhất vào tháng 10 như vùng KrôngBuk.[1]

Bảng 1-2: Kết quả tính tần suất lượng mưa năm tại các trạm trong lưu vực [1]

Trang 17

Bảng 1-3: Tỉ lệ lượng mưa mùa mưa, mùa khô so với lượng mưa năm

Biến động của mưa theo không gian: Nhìn chung biến động lượng mưa năm

giữa các trạm trong lưu vực là không lớn Nơi mưa có lượng mưa lớn cũng chỉ gấpđến 1,5 lần nơi có lượng mưa nhỏ Lượng mưa tăng dần từ vùng thấp lên vùng cao,

ở sườn đón gió lượng mưa lớn hơn vùng thung lũng khuất gió, dọc theo thung lũngsông Vùng phía Đông bắc vùng nghiên cứu (vùng lưu vực Krông Buk), lượng mưa

từ 1400-1600 mm/năm.[1]

Độ ẩm tương đối trung bình năm trong vùng nghiên cứu dao động 82-85%.Quy luật biến đổi của độ ẩm tương đối trong vùng tăng theo độ cao Tại Buôn MaThuật có độ cao 490m độ ẩm tương đối đạt 82%, tại Buôn Hồ có độ cao 700m độ

ẩm tương đối đạt 85%, tại Đăk Nông cao độ vùng này là 660m độ ẩm tương đối đạt83% [1]

Độ ẩm tương đối thay đổi trong năm khá rõ rệt Biến trình độ ẩm trùng vớibiến trình mưa và ngược lại với biến trình của nhiệt độ Độ ẩm tương đối trung bìnhtháng thấp nhất xảy ra vào các tháng II, IV và cao nhất vào các tháng IX, X, XI,trong năm từ tháng IV sang tháng V độ ẩm tăng rất nhanh đạt từ 4-6% và giảm

Trang 18

nhanh từ tháng X sang tháng XI nhất là những vùng có độ cao thấp như Buôn MaThuật, Đăk Nông giảm 2-5%.

Độ ẩm thấp nhất xảy ra vào các tháng III, IV Trị số thấp nhất tuyệt đối đạt11% tháng 03/1930 ở Buôn Ma Thuật, 14% ngày 16/02/1985 ở Buôn Hồ Độ ẩmthấp nhất ở các tháng mùa mưa, dao động từ 40-60%.[1]

Số giờ nắng

Số giờ nắng trên lưu vực hàng năm khoảng 2200-2600giờ/năm Tháng có sốgiờ nắng nhiều nhất thường rơi vào tháng III (cuối mùa khô) và đạt tới260-300giờ/tháng, 9.8giờ/ngày Tháng có số giờ nắng ít nhất thường rơi vào thánggiữa mùa mưa và chỉ đạt khoảng 105giờ/tháng, 3.5giờ/ngày.[1]

Một số vị trí có quan trắc giờ nắng đã quan trắc được số giờ nắng trongtháng, năm như sau

Bảng 1-4: Tổng số giờ nắng bình quân tháng nhiều năm tại các trạm (giờ) [1]

Bốc hơi

Lượng bốc hơi đo bằng ống Piche trong vùng ở các địa điểm khác nhau cókhác nhau Khả năng bốc hơi này đạt cao nhất ở Buôn Ma Thuật đạt 1429mm trungbình nhiều năm, đạt 1073mm ở Buôn Hồ, đạt 941mm ở Đăk Nông và đạt 1224mm

ở M’Đrăk

Thời kì khô nóng vào tháng III, khả năng bốc hơi đạt cao nhất 214mm ởBuôn Ma Thuật, 154mm ở Buôn Hồ, 246mm ở Đăk Mil (tháng VII) Bốc hơi nhỏnhất xảy ra vào các tháng IX, X, XI là các tháng có lượng mưa lớn nhất Lượng bốchơi đo bằng ống Piche chỉ đạt 53mm vào tháng IX ở Buôn Ma Thuật, 56mm vàotháng XI ở Buôn Hồ, 56mm vào tháng X ở Đăk Mil, 51mm vào tháng XI ởM’Đrăk

Trang 19

Bốc hơi khả năng trong vùng lớn hơn các vùng thấp lân cận, mặc dù nhiệt độkhông khí trên vùng không cao bằng các vùng khác có cũng vĩ độ Nguyên nhânchính do: Cường độ bức xạ mặt trời trên cao nguyên lớn hơn, nhất là vào thời kỳkhô nóng, và độ ẩm tương đối của không khí thấp và tốc độ gió trên cao nguyêncũng mạnh hơn Lượng bốc hơi khả năng vào các tháng mùa khô rất lớn điều này làmột phần bất lợi đối với phát triền nông nghiệp trong lưu vực, do bốc hơi lớn đã gây

ra hạn hán khắc nghiệt trên cao nguyên như đợt hạn hán đầu năm 1998 đã làm chohàng nghìn ha cây công nghiệp của lưc vực bị chết.[1]

Gió, bão

Hướng gió thịnh hành trong vùng thay đổi rõ rệt theo mùa Từ tháng V tớitháng IX gió có hướng Tây, Tây nam là chủ yếu Từ tháng XI-IV hướng gió Đông,Đông nam là chủ yếu Hướng gió Tây thịnh hành ở Buôn Ma Thuột chiếm tần suất50-55% trong các tháng mùa hạ tháng VI, VII, VIII Trong các tháng mùa Đông XI,XII, I gió Đông thịnh hành tần suất xuất hiện 60-70%

Tốc độ gió trung bình trong các tháng mùa đông lớn hơn các tháng trongmùa hạ Tại Buôn Ma Thuột, tốc độ gió bình quân tháng XII đạt tới 5,4m/s, tháng I,

II đạt 5,6m/s Trong khi đó các tháng mùa hè tốc độ gió chỉ đạt dưới 3m/s Tốc độgió lớn hơn 10m/s thường xảy ra vào các tháng mùa đông, trung bình mỗi tháng xảy

ra từ 7-9 ngày ở Buôn Ma Thuột Tốc độ gió lớn trên 15m/s thường xảy ra vào cáctháng đầu hoặc cuối mùa hè Tốc độ gió lớn nhất ghi được là 20m/s ngày 7/IX/1982

ở Buôn Hồ, 34m/s ngày 20/III/1978 ở Buôn Ma Thuột, 20m/s ngày 11/I/1981 ởM'Drak.[1]

1.1.5.2. Chế độ thủy văn

Lưu vực sông Srêpôk chịu sự ảnh hưởng của chế độ gió mùa phức tạp lạichịu thêm ảnh hưởng tích cực của yếu tố địa hình nên chế độ khí hậu rất khác nhauvới hai kiểu khí hậu Đông và Tây Trường Sơn Điều này làm cho diễn biến lượngmưa các tháng trong năm trở nên không ổn định, dẫn đến phân phối dòng chảy sôngSrêpôk diễn ra rất phức tạp về mùa cũng như thành phần lượng nước giữa các thángtrong năm.[1]

Dòng chảy năm

Biến động dỏng chảy năm theo hàng năm:

Trang 20

Dòng chảy trên sông không chỉ thay đổi hàng năm mà còn thay đổi theo cácthời kì trong năm, thể hiện tính tuần hoàn của các yếu tố khí hậu Sự thay đổi cótính chu kì này được gọi là phân phối dòng chảy năm Do chịu ảnh hưởng của chế

độ gió mùa cùng với điều kiện địa hình nên chế độ mưa trên lưu vực tương đối phứctạp, làm ảnh hưởng trực tiếp tới dòng chảy, làm dòng chảy có sự phân bố theo mùatrong năm rất phức tạp Năm nước lớn có lượng dòng chảy gấp 1,5-2 lần trị số bìnhquân nhiều năm Năm nhiều nước gấp 1,5-5 lần năm ít nước nhất

Bảng 1-5: Đặc trưng dòng chảy trung bình nhiều năm tại các trạm thủy văn [1]

Mùa dòng chảy:

Lưu vực sông Srêpôk có chế độ khí hậu khác nhau: Diễn biến lượng mưa cáctháng trong năm cùng với các yếu tố tự nhiên khác làm cho sự phân phối dòng chảysông Srêpôk diễn ra rất phức tạp về mùa cũng như thành phần lượng nước giữa cáctháng trong năm Căn cứ vào tài liệu thực đo ở các trạm thủy văn trên lưu vực và lâncận có thể đánh giá được những nét cơ bản về phân phối dòng chảy trong nămtương đối phù hợp với các vùng địa lý khí hậu.[1]

Từ những tài liệu thủy văn thu thập được ở các trạm thủy văn trong tỉnhthuộc khu vực Tây Trường Sơn cho thấy sự biến động về mùa ở đây rất phức tạp.Ngay tại vị trí một trạm đo có năm mùa lũ đến sớm hơn hoặc muộn hơn đến 2-3tháng tạo nên mùa lũ hàng năm kéo dài ngắn khác nhau Có năm có 2-3 tháng mùa

lũ, song cũng có năm có tới 5-6 tháng mùa lũ, điều đó thể hiện tính chất mùa không

ổn định trên lưu vực Với những năm gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh ngay từđầu mùa mưa (tháng V hàng năm) mùa lũ trên lưu vực đến sớm Đến cuối mùa mưanếu gặp mưa bão, áp thấp nhiệt đới từ biển Đông vào thì mùa lũ kéo dài thêm

Trang 21

Bảng 1-6: Phân mùa lũ, mùa cạn và % lượng nước [1]

+ Mưa do bão từ biển Đông đổ bộ vào đất liền gặp dải Trường Sơn ngăn cản

bị suy yếu, sau khi vượt qua dải Trường Sơn thì hình thành một vùng ấp thấp nhiệtđới gây nên mưa lớn trên diện rộng;

+ Mưa lớn hình thành do cả hai loại hình thế thế thời tiết trên gặp gỡ nhau.Thường xảy ra vào cuối mùa mưa của Tây Trường Sơn vào cuối tháng X hoặctháng XI

Trong cùng một đợt mưa sinh lũ, trên sông Krông Ana lũ thường chậm hơntrên sông Krông Nô 2-5 ngày (do độ dốc lòng sông của sông Krông Ana nhỏ hơnsông Krông Nô, và lưu vực có tác dụng điều tiết tốt hơn) Lũ lớn nhất trên sông

Trang 22

Krông Ana thường chậm hơn trên sông Krông Nô xấp xỉ 1 tháng (do lưu vực sôngKrông Ana còn chịu tác động của khí hậu Đông Trường Sơn).[1]

Bảng 1-7: Khả năng lũ lớn nhất hàng năm của các trạm (%) [1]

Dòng chảy kiệt

Mùa kiệt trên lưu vực từ tháng XI, XII đến tháng VII, VIII năm sau Tháng

XI vùng thượng nguồn sông Krông Ana (sông Krông Pach) do chịu ảnh hưởng yếucủa khí hậu Đông Trường Sơn nên có nơi còn có lượng mưa đạt tới trên300mm/tháng (theo số liệu quan trắc của trạm M’Đrăk) Trong khi đó các nơi kháclượng mưa tháng chỉ còn xấp xỉ 100mm/tháng Tháng XII lượng mưa ở vùngthượng nguồn sông Krông Pach vẫn còn đạt trên 100mm/tháng Lúc đó lượng mưacác nơi khác giảm xuống dưới mức 10-20mm/tháng Tháng I, II trên toàn lưu vựclượng mưa rất ít, chỉ một số nơi có mưa, nhưng lượng mưa chỉ đạt từ5-10mm/tháng Sang đến tháng III toàn lưu vực hầu như không có mưa Từ tháng

IV gió mùa Tây Nam đã thổi xen kẽ và bắt đầu xất hiện lác đác các trận mưa đôngsớm với lượng mưa tháng xấp xỉ 100mm/tháng Tháng V, VI, VII lượng mưa cókhá hơn và hình thành dòng chảy nhưng lượng dòng chảy này chưa đủ lớn để đượcxếp vào dòng chảy của mùa lũ.[1]

Tại Bản Đôn dòng chảy bình quân tháng nhỏ nhất rơi vào tháng IV đạt 62m³/

s, dòng chảy tháng IV với tần suất 75% chỉ đạt 46,1m³/s tương ứng với môđun dòngchảy 4,31/s/km²

Trang 23

Bảng 1-8: Dòng chảy kiệt thực đo tại các trạm thủy văn trên lưu vực

1.1.5.3. Mạng lưới sông ngòi

Sông Srêpôk là chi lưu cấp 1 của sông Mê Kông Trong địa phận tỉnh ĐăkLăk, Đăk Nông diện tích lưu vực của dòng chính là 4.200km2 với chiều dài sông125km Đoạn này lòng sông tương đối dốc, chảy từ độ cao 400m nhập lưu xuốngcao độ 150m ở biên giới CamPuChia Sông Srêpôk do 2 nhánh sông Krông Nô vàKrông Ana hợp thành

Hình 1-2: Mạng lưới sông suối trên lưu vực sông Srêpôk

Trang 24

Sông Krông Nô bắt nguồn từ dãy Chư Yang Sin có đỉnh cao trên 2000m códiện tích lưu vực 3.823km2 và chiều dài dòng chính 156km Sông Krông Nô do 2nhánh suối chính là Krông Nô Đa và Đăk Mang hợp thành.

Sông Krông Ana là hợp lưu của 3 suối lớn Krông Buk, Krông Pach, KrôngBông Sông có tổng diện tích lưu vực 3.872km2, chiều dài dòng chính 215km Dọctheo chiều dài dòng chính ở trung và hạ lưu sông là vùng đất khá bằng phẳng nhưngthấp trũng thường xuyên bị ngập nước về mùa lũ

Sông Krông Nô và Krông Ana nhập lưu với nhau ở sau thác Buôn Dray tạothành dòng chính Srêpôk

Nhìn chung, trên các tiểu lưu vực thuộc lưu vực sông Srêpôk có mạng lướicác nhánh sông suối khá dày đặc và phân bố đều Đây là điểm thuận lợi cho việccấp nước cho các ngành sản xuất và sinh hoạt của nhân dân cũng như việc phát triểnnăng lượng của khu vực Mặt khác nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến các vùng hạ durộng lớn Do đó, việc khai thác, sử dụng nguồn nước trên lưu vực cần được xem xéttrên quan điểm chung vì lợi ích toàn vùng.[1]

Bảng 1-9: Đặc trưng hình thái sông ngòi lưu vực Srêpôk [1]

(km 2 )

Chiều dài sông L (km)

Chiều dài lưu vực (km)

Cao độ bq lưu vực

Độ dốc lòng (%o)

Mật độ lưới sông

Hiện nay, trong lưu vực có 17 trạm đo mưa trong đó có 5 trạm khí tượng đo các yếu

tố nhiệt độ đó là Buôn Ma Thuật, Buôn Hồ, Đăk Nông, M’Đrăk và trạm Đà Lạt làtrạm vùng lân cận.[1]

Bảng 1-10: Lưới trạm khí tượng và đo mưa trong lưu vực

Trang 25

Kinh

1 Buôn Ma Thuật 108003’ 12040’ 1933-1944; 1954-1974;1977 đến nay

b Lưới trạm thủy văn

Trên lưu vực có 16 trạm đo mưa thủy văn trong đó có 12 trạm đo mực nước, lưulượng, còn lại là đo mực nước Hiện nay, trên lưu vực chỉ còn lại 5 trạm thủy văncấp I, đó là: Cầu 42, Giang Sơn, Đức Xuyên, Cầu 14, Bản Đôn

Hệ thống trạm mực nước thiết lập phục vụ cho việc dự báo lũ, kiệt cho tới naykhông còn hoạt động nữa Các trạm đo lưu lượng, mực nước cho các lưu vực nhỏnhư trạm Đoàn Kết, Quyết Thắng cũng không còn hoạt động nữa

Trang 26

Bảng 1-11: Lưới trạm thủy văn trên lưu vực

ST

T

Tên trạm Tên sông Số liệu Thời gian quan trắc

7 Giang Sơn Kroông Ana H,Q,S 1966 – 1974, 1977 - đến nay

Sự phân bố của các trạm đo mưa nhìn chung chưa hợp lý, vị trí các trạm đomưa đều nằm ở gần các thị trấn, thị tứ, thung lũng sông, nơi có dân cư đông đúc,hầu như không có trạm đo mưa nào ở thượng nguồn các sông lớn Còn những nơi

có địa hình thay đổi như vùng núi cao gần đầu nguồn các sông, suối thì chưa bố tríđược trạm quan trắc Nhiều trạm có thời gian quan trắc ngắn và bị gián đoạn Cónhững trạm có thời gian quan trắc dài năm nhưng qua các thời kỳ biến đổi của lịch

sử, địa điểm đo bị thay đổi không xác định lại được vị trí nên khi sử dụng gặp nhiềukhó khăn, không phân tích, đánh giá được tính hợp lý của tài liệu như trạm An Khê,M’Đrak, Kon Plong…làm giảm độ tin cậy của tài liệu Những trạm đo mưa chuyêndùng cho các nông trường hoặc các trạm thuỷ văn dùng riêng có số liệu ngắn chỉ từ5-10 năm, chất lượng tài liệu không cao có thể dùng để tham khảo Những trạm đomưa trước giải phóng (1975) thường bị gián đoạn do chiến tranh, một số trạm chỉ có

số liệu đo từ 7-10 năm như trạm Krông Pach, Buôn Triết, Buôn Dray, Đoàn 715 Những trạm này có số liệu ngắn không liên tục, mức độ tin cậy chưa cao chỉ dùng

để tham khảo

Trang 27

Còn lại đa số các trạm có số liệu khoảng trên 30 năm kể từ 1977 tới nay do

Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý Chuỗi số liệu quan trắc liên tục, chất lượngtài liệu đảm bảo, tin cậy được sử dụng trong tính toán phục vụ cho công tác quyhoạch thủy lợi

Mạng lưới trạm khí tượng thủy văn hiện có trên vùng Tây Nguyên nói chung

là còn ít và thưa thớt, so với nhiều năm về trước trạm khí tượng thủy văn trong vùngkhông những không tăng lên mà còn bớt đi, nhiều trạm bỏ không tiếp tục quan trắcnữa như trạm Trung Nghĩa, Krông Bông…

1.1.6 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên

a Tiềm năng và lợi thế so sánh của vùng

Tây Nguyên có vị trí chiến lược về chính trị, an ninh - quốc phòng

Trên lưu vực sông Srêpôk có quỹ đất bazan rất lớn và khí hậu thuận lợi chophát triển các cây công nghiệp quan trọng và chăn nuôi gia súc, gia cầm

Lưu vực sông Srêpôk có tiềm năng lớn về phát triển công nghiệp thủy điện

và công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản

Trên lưu vực sông Srêpôk có nhiều tiềm năng, điều kiện phát triển du lịch trởthành ngành kinh tế mũi nhọn

Có vị trí quan trọng về môi trường sinh thái

b Hạn chế, khó khăn chủ yếu của vùng

Trên lưu vực sông Srêpôk có một số hạn chế về điều kiện tự nhiên như diệntích vùng núi nhiều, phân bố mưa không đều theo mùa…

1.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI

1.2.1 Dân số và sự phân bố dân cư

Dân cư phân bố không đều trên toàn vùng, nơi đông dân cư chủ yếu tập trung

ở các thành phố, thị xã, thị trấn, trung tâm xã, ven các trục đường quốc lộ, tỉnh lộ,những vùng sâu vùng xa dân cư thưa thớt [3]

Trên lưu vực sông Srêpôk có khoảng gần 45 dân tộc cùng chung sống Trong

đó, người kinh chiếm trên 70%; các dân tộc thiểu số bản địa như Ê Đê, Mơ Nông,Thái, Tày, Nùng, Gia Rai, Ba Na chiếm gần 30% dân số toàn tỉnh Dân tộc di cư

từ vùng núi phía Bắc gồm Mông, Tày, Nùng, Thái, Dao,

1.2.2 Đặc điểm văn hóa - xã hội

Trang 28

Trên lưu vực Srêpôk có nhiều dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc cónhững nét đẹp văn hóa riêng Đặc biệt là văn hóa truyền thống của các dân tộc Ê

Đê, M'Nông, Gia Rai, v.v… với những lễ hội cồng chiêng, đâm trâu, đua voi mùaxuân; kiến trúc nhà sàn, nhà rông; các nhạc cụ lâu đời nổi tiếng như các bộ cồngchiêng, đàn đá, đàn T'rưng; các bản trường ca Tây Nguyên là những sản phẩm vănhóa vật thể và phi vật thể quý giá, trong đó Không gian văn hóa cồng chiêng TâyNguyên đã được tổ chức UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản vănhóa phi vật thể của nhân loại Tất cả các truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dântộc tạo nên sự đa dạng, phong phú về văn hóa của Đăk Lăk.[3]

CHƯƠNG 2 Tình hình kinh tế chung

a Tình hình chi tiết của các ngành kinh tế

 Nông nghiệp

Theo số liệu thống kê đất đai năm 2013, tổng diện tích tự nhiên toàn vùng là54.641.070 ha, diện tích đất nông nghiệp chiếm 88,45%, đất phi nông nghiệp chiếm6,56% và đất chưa sử dụng còn 4,99% Diện tích đất sản xuất nông nghiệp1.968.244 ha (chiếm 36% tổng diện tích) Diện tích đất trồng cây hàng năm 841.675

ha, trong đó diện tích đất trồng lúa chỉ có 169.661 ha, còn lại là cây hàng năm nhưmía, sắn Diện tích đất trồng cây lâu năm 1.126.569 ha chiếm 57,2% diện tích đấtsản xuất nông nghiệp, cho thấy cây công nghiệp lâu năm là thế mạnh của vùng TâyNguyên.[3]

 Trồng trọt

Sản xuất nông nghiệp đã có chuyển biến mạnh, đã hình thành những vùngsản xuất tập trung cây công nghiệp như đối với cây cà phê, cao su, mía, chè, dâutằm, điều, bông tạo tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế hàng hóa quy mô lớngắn với công nghiệp chế biến cải thiện đời sống cho bộ phận đông đảo dân cư lànông dân Ngành trồng trọt trong những năm qua luôn có mức tăng trưởng khá.[3]

Trang 29

 Lâm nghiệp

Theo kết quả kiểm kê năm 2014 tỉnh Đăk Lăk có tổng diện tích rừng 528.145

ha Trong vòng 6 năm (2008-2014), tổng diện tích rừng của Đăk Lăk trong đó toàn

bộ là rừng tự nhiên giảm 86.239 ha, diện tích rừng trồng mới tăng 33.982 ha

Diện tích rừng của Đăk Lăk suy giảm là do chuyển rừng tự nhiên nghèo kiệtthuộc rừng sản xuất sang trồng cao su, cây công nghiệp, cây ăn quả do xây dựngcông trình thủy điện, hạ tầng giao thông, công trình công cộng; do phá rừng, lấnchiếm đất rừng [3]

 Thủy sản

Ngành thuỷ sản không phải là thế mạnh của vùng, toàn vùng tỉnh Đăk Lăk

2010 có 7,77 nghìn ha mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, tăng gấp 1,56 lần năm 2005.Các sản phẩm của ngành thuỷ sản trong vùng chủ yếu là các loại cá nước ngọt Nuôitrồng thủy sản chủ yếu lợi dụng mặt nước ao hồ, sông suối, mặt nước các công trìnhthủy lợi, thủy điện, nuôi cá lồng bè diện tích nhỏ, manh mún

 Công nghiệp

Tại tỉnh Đăk Lăk các ngành công nghiệp chủ yếu của tỉnh là công nghiệp chếbiến, công nghiệp khai khóang, công nghiệp năng lượng (sản xuất và phân phốiđiện, nước, khí đốt ) Tốc độ tăng trưởng bình quân 19,64% năm, chiếm tỷ trọngbình quân 70,7% trong khu vực công nghiệp, xây dựng Tổng số cơ sở công nghiệptrên toàn tỉnh năm hiện nay là 9.129 cở sở Trên địa bàn tỉnh hiện có 92 nhà máyđang hoạt động, trong đó có 32 nhà máy chế biến cà phê công suất trên 100 tấn, 10nhà máy chế biến bột cà phê và hàng trăm cơ sở nhỏ lẻ, 3 nhà máy chế biến cao suvới tổng công suất 17 nghìn tấn Trong phát triển công nghiệp cũng đã chú trọng

Trang 30

gắn xây dựng nhà máy với phát triển vùng nguyên liệu, một số mặt hàng chủ lực cóthị trường tiêu thụ tương đối lớn như cà phê, hạt điều, mủ cao su chế biến… Cáckhu cụm công nghiệp đã được xây dựng trên địa bàn gồm: KCN Hoà Phú (TP Buôn

Ma Thuột), CCN Tân An, CCN Buôn Hồ, Ea Đar

 Giao thông

Mạng lưới giao thông của tỉnh Đăk Lăk bao gồm giao thông đường bộ vàgiao thông hàng không Hệ thống giao thông đường bộ phân bố khá đều và hợp lýtrên địa bàn, hiện toàn tỉnh có 4.578,5 km đường giao thông có 4 tuyến quốc lộ chạyqua QL.14, QL.26, QL.27, QL.14C và 15 tuyến tỉnh lộ

Tổng chiều dài quốc lộ chạy qua Đăk Lăk : 534 km, trong đó đường nhựa

432 km, còn lại đường cấp phối và rải đá Đường nhựa có 40% cấp I và 60% nềnđường bị hư hỏng nặng và đang xuống cấp nghiêm trọng

Nhìn chung mạng lưới giao thông trên lưu vực khá phát triển đã góp phầnkhông nhỏ vào sự phát triển kinh tế trên lưu vực

 Thủy lợi

Phần lớn công trình hồ đập đã xuống cấp nghiêm trọng không đảm bảo tíchnước theo thiết kế hoặc không tích được nước nên nhiều diện tích bị bỏ hoang dokhông được tưới, khó áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, thâm canh tăng năngsuất cây trồng Đặc biệt, một số hồ đập đang có nguy cơ bị vỡ, đe dọa đến tínhmạng và tài sản của nhân dân vùng hạ lưu, thủy điện Srêpôk 4A xây dựng khôngđúng quy trình theo đánh giá tác động môi trường đã cam kết gây thiếu nướcnghiêm trọng các vùng hạ lưu vào mùa khô

CHƯƠNG 3 Nhận xét về đặc điểm kinh tế - xã hội

a Nguồn lực xã hội

Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện chủ yếu qua trình độ học vấn vàtrình độ đào tạo chuyên môn kỹ thuật, tuy nhiên nguồn nhân lực này phân bổ khôngđều giữa các vùng, tập trung chủ yếu ở thành phố Buôn Ma Thuột, các thị trấn Thunhập giữa các vùng có sự chênh lệch lớn, khu vực đô thị cao hơn khu vực nôngthôn, vùng trồng cây công nghiệp dài ngày cao hơn vùng trồng lúa, vùng sâu vùng

xa đời sống dân cư còn gặp nhiều khó khăn, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số

Trang 31

Nguồn lao động chiếm tỷ lệ cao trong dân số, song trình độ học vấn, dân trícủa vùng vẫn còn thấp so với bình quân chung của cả nước và các vùng khác…Nguồn dân số trong độ tuổi lao động ngày càng tăng tuy nhiên tỷ lệ tăng cơ học lớn

và chủ yếu là nguồn lao động nông nghiệp chưa qua đào tạo

b Hiện trạng phát triển kinh tế

Thuận lợi

Diện tích tự nhiên rộng, tài nguyên đa dạng, trong đó một số loại có tiềmnăng lớn như tài nguyên rừng, tài nguyên đất, tiềm năng thủy điện, tài nguyên cảnhquan du lịch… là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế bền vững

Cơ chế chính sách đầu tư cũng có nhiều thay đổi theo hướng thông thoáng vàcởi mở hơn, chính quyền địa phương, các Bộ, ngành Trung ương đã thực hiện cáccông trình đầu tư trên địa bàn, đặc biệt là trong các lĩnh vực giao thông, thủy lợi

Trong những năm gần đây nông nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng sảnxuất hàng hóa, bước đầu đã chú ý áp dụng những công nghệ tiên tiến vào sản xuất,chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáp ứng yêu cầu của thị trường

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là giao thông, lưới điện, trường học, hệthống bệnh viện, trạm y tế được nâng lên rõ rệt, làm cơ sở cho phát triển nhiềungành kinh tế

Các lĩnh vực văn hóa - xã hội đạt nhiều tiến bộ, an ninh chính trị, trật tự antoàn xã hội được đảm bảo, chủ quyền biên giới quốc gia được bảo vệ vững chắc

Khó khăn

Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế củavùng, chuyển dịch kinh tế còn chậm, tỷ trọng dịch vụ thương mại còn thấp Tăngtrưởng kinh tế không đều giữa các vùng, các ngành và giữa các bộ phận dân cư, sảnxuất nông

Vốn đầu tư ngân sách tỉnh quản lý không nhiều

Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nhìn chung vẫn còn thiếu thốn chưa đáp ứngyêu cầu của nhân dân và phát triển kinh tế xã hội

Hiện trạng di dân tự do, các vấn đề dân tộc, các yếu tố không ổn định vềchính trị vẫn còn tiềm ẩn, gây tác động xấu đến phát triển kinh tế - xã hội

Thời tiết ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường ảnh hưởng đến phát triểnkinh tế xã hội

Trang 32

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 TỔNG QUAN VỀ DỰ BÁO THỦY VĂN

2.1.1 Khái niệm về dự báo thủy văn

Dự báo thủy văn là tính trước một cách khoa học tình hình biến đổi các đặctrưng thủy văn trên các sông, suối, ao, hồ, kho nước,… để phục vụ cho việc phòngchống thiên tai và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước trong các ngành kinh tếquốc dân Dự báo thủy văn là công việc rất khó, nó đòi hỏi người làm công việc nàykhông chỉ thành thạo nghiệp vụ mà phải có kiến thức về các nghành liên quan như:địa lý, khí tượng, thủy lực, toán, máy tính,… và vận dụng một cách linh hoạt sángtạo trong việc suy đoán, lựa chọn giá trị dự báo [7]

Dự báo dòng chảy thường được chia theo thời gian dự kiến:

 Dự báo hạn ngắn: thời gian dự kiến kéo dài trong khoảng thời gian vài giờhoặc vài ngày;

 Dự báo hạn vừa: thời gian dự kiến từ 3-5 ngày;

 Dự báo hạn dài: thời gian dự kiến có thể kéo dài tới vài tháng, năm

Thông thường, dự báo hạn ngắn được sử dụng cho công việc quản lý lũ, tuynhiên trong một số trường hợp dự báo hạn ngắn có ích đối với giao thông thủy khicác thuyền bè đi lại phụ thuộc nhiều vào độ sâu dòng chảy và đối với tưới và cấpnước, lợi dụng tổng hợp tài nguyên nước như phòng lũ và phát điện

Dự báo hạn dài thường được sử dụng để dự báo dòng chảy trong hệ thốngmùa Dự báo hạn dài chính xác có thể làm giảm thiểu độ bất định trong đánh giákinh tế trong một số vấn đề liên quan tới tài nguyên nước như: giá điện ở nhữngvùng sử dụng năng lượng thủy điện là chính, các sản phẩm nông nghiệp và quản lýcác mâu thuẩn sử dụng nước

2.1.1.1 Dự báo hạn ngắn

Dự báo hạn ngắn (hay dự báo thời gian thực) có thể được thực hiện một cáchliên tục hay chỉ dựa trên một số cảnh báo nhất định Dự báo hạn ngắn được thựchiện trong mùa lũ khi có một số điều kiện cảnh báo trong lưu vực như mực nước,mưa hay khí hậu đạt đến mức nào đó Dự báo ngắn hạn có thể được phân loại dựa

Trang 33

trên thời gian dự kiến hoặc sự phản ứng thủy văn đối với mưa của lưu vực Các loại

dự báo ngắn hạn đó là: dự báo lưu vực nhỏ, lưu vực trung bình và lưu vực lớn

Đối với lưu vực nhỏ, lũ xảy ra chủ yếu là do sự kết hợp của các trận mưa vớicác điều kiện thủy văn cụ thể của lưu vực như diện tích nhỏ, độ dốc lớn và khả năngthấm thấp Việc dự báo lũ cho lưu vực kiểu này thường phụ thuộc chính vào việc dựbáo định lượng lượng mưa do thời gian giữa mưa và đỉnh lũ thường nhỏ (chỉkhoảng vài giờ) gây khó khăn cho việc cảnh báo và các biện pháp giảm thiểu

2.1.1.2 Dự báo hạn dài

Phương pháp chủ yếu trong dự báo hạn dài là sử dụng các công cụ thống kêdựa trên sự thay đổi các đặc điểm khí tượng thủy văn theo mùa và mối quan hệtương quan của chúng đối với các biến khác như nhiệt độ đại đương, mưa hay dòngchảy Dự báo thủy văn hạn dài thường được dung trong các trường hợp sau:

 Tính toán thống kê cục bộ theo mùa: luôn cùng giá trị dự báo theo các nămkhi không sử dụng hệ số ngẫu nhiên;

 Sử dụng mô hình ngẫu nhiên có xét đến tương quan theo mùa khi lưu vực có

ít thông tin hơn;

 Các mô hình kinh nghiệm khi quan hệ giữa các biến khí tượng và đại dươngvới dòng chảy trong một số thời gian dự kiến dự báo;

 Các mô hình thủy văn và mô hình khí tượng tất định: các loại mô hình nàydựa chủ yếu vào khả năng của mô hình khí tượng dự báo mưa

2.1.2 Các khái niệm cơ bản và nguyên tắc chung về xây dựng phương án dự báo thuỷ văn

Các yếu tố thuỷ văn là kết quả tác động của nhiều yếu tố như địa lý tự nhiên,khí tượng, con người khiến cho chúng thay đổi hết sức phức tạp theo không gian

và thời gian Tuy nhiên, xét trong phạm vi nào đó nó cũng thể hiện một quy luậtkhách quan không giữa nguyên về lượng cũng như về chu kỳ xuất hiện Do vậy,việc dự báo các yếu tố thuỷ văn trở nên khó khăn hơn và có một sai số nhất định

Dự báo thuỷ văn cho một đối tượng nào đó đều được dựa vào các phương án

đã được xây dựng sẵn Phương án dự báo thuỷ văn là các cách tính toán kể cả môhình hay biểu đồ để dự báo các yếu tố thuỷ văn.[7]

Trang 34

Phương pháp dự báo thuỷ văn bao hàm nội dung giải quyết vấn đề dự báo yếu

tố thuỷ văn với thời gian dự kiến nào đó dựa vào tài liệu nhất định Như vậy, mộtphương pháp dự báo có thể lập được một hay nhiều phương án dự báo với độ chínhxác khác nhau và một phương án có thể sử dụng nhiều phương pháp kết hợp Đểxây dựng được một phương án dự báo thuỷ văn cho một lưu vực cụ thể cần tiếnhành các bước sau:

- Tìm hiểu và nghiên cứu tài liệu cơ bản: Tìm hiểu về điều kiện địa lý tự nhiên,tình hình khí tượng, thuỷ văn cũng như tài liệu đo đạc về chúng; tìm hiểu ảnh hưởngcủa các hoạt động con người tới dòng chảy;

- Thiết lập phương án và xây dựng các biểu đồ dự báo: Căn cứ đặc điểm lưuvực hay đoạn sông và yêu cầu thực tế của dự báo phục vụ để quyết định phương án

dự báo cho thích hợp Cu thể:

Các sông ở miền núi, lưu vực thường nhỏ, độ dốc lớn, lũ thường lên nhanh,xuống nhanh vì vậy ta nên chọn phương pháp dự báo Mưa rào – dòng chảy để tăngthời gian dự kiến Với những lưu vực này chỉ nên dự báo mực nước hay lưu lượngđỉnh lũ;

Các lưu vực sông lớn thường dự báo cả quá trình lũ và đỉnh lũ Đối với nhữngđoạn sông lớn có quan hệ mực nước và lưu lượng ổn định người ta thường chọn dựbáo theo quan hệ lưu lượng hoặc mực nước tương ứng Sau khi chọn phương án,dựa vào tài liệu thực đo tiến hành xây dựng phương án dự báo

Trong việc đánh giá sai số dự báo thuỷ văn cần phân biệt một số khái niệmsau:

Yếu tố dự báo: Là các đặc trưng thuỷ văn cần được dự báo Ví dụ như mực

nước (H), lưu lượng nước (Q),

Nhân tố dự báo: Là các nguyên nhân gây ra hoặc ảnh hưởng đến các yếu tố dự

báo mà ta sử dụng để tính ra yếu tố dự báo Ví dụ: Sử dụng mưa (X) để dự báo dòngchảy (Q), thì trong đó X sẽ là nhân tố còn Q sẽ là yếu tố dự báo Hay trong phươngpháp lưu lượng/mực nước tương ứng, thường sử dụng lưu lượng hay mực nướctrạm trên (Qtr) để dự báo lưu lượng hay mực nước trạm dưới (Qd), khi đó Qtr sẽ lànhân tố dự báo còn Qd là yếu tố dự báo,

Trang 35

Thời gian dự kiến: Là khoảng thời gian tính từ thời điểm quan trắc cuối cùng

về nhân tố dùng để dự báo đến thời điểm xuất hiện yếu tố dự báo

Sai số dự báo yếu tố: Là hiệu số giữa trị số dự báo và trị số thực đo tại cùng

một thời điểm

Sai số cho phép: Là một trị số cho trước, nếu sai số dự báo yếu tố nhỏ hơn hoặc

bằng trị số này thì được đánh giá là đúng

Mức đảm bảo của phương án dự báo: Là tỷ số giữa số lần dự báo đúng trên

tổng số lần dự báo

Chất lượng của phương án được đánh giá dựa trên mức bảo đảm của phương

án Để thực hiện được điều này, khi xây dựng phương án phải tiến hành theo cácbước sau:

1 Đánh giá phương án dự báo trong giai đoạn hiệu chỉnh phương án;

2 Đánh giá phương án dự báo trong giai đoạn kiểm định phương án.Nếu chất lượng kiểm định của phương án đạt mức yêu cầu thì có thể cho phép

sử dụng phương án này trong dự báo tác nghiệp ở giải đoạn thử nghiệm Kết quả dựbáo của phương án ở giai đoạn thử nghiệm tốt sẽ được đưa vào dự báo tác nghiệpchính thức, nếu không đạt yêu cầu thì có thể sử dụng ở dạng tham khảo hoặc phảinghiên cứu hoàn thiện

Tuy nhiên, cho dù khi phương án đã được đưa vào dự báo tác nghiệp thì saumột thời gian dự báo vẫn cần đánh giá lại phương án để cập nhật bổ sung và hoànthiện

2.1.3 Đánh giá sai số dự báo yếu tố

Đánh giá sai số dự báo cần đảm bảo tính khách quan ngay cả khi dự báo cùngyếu tố nhưng theo các phương pháp khác nhau hay một phương pháp sử dụng dựbáo các yếu tố thuỷ văn khác nhau Để đảm bảo yêu cầu trên người ta dùng phươngpháp thống kê toán học.[6]

2.1.3.1 Sai số cho phép dự báo yếu tố

Ý nghĩa thống kê của sai số cho phép

Trong lý thuyết thống kê, độ lệch quân phương () của một chuỗi đặc trưngcho độ biến động của chuỗi đó Một đại lượng có phân phối chuẩn thì trị số 0,674

Trang 36

sẽ có phân xác suất là 50%, có nghĩa là, trong một chuỗi y1, y2, ,yn, thì sẽ có 50%các giá trị của chuỗi ≤ 0,674

Trong dự báo thủy văn, người ta cũng coi chuỗi biến đổi của yêu tố dự báotrong thời gian dự kiến là ngẫu nhiên và lấy giới hạn 0,674 làm sai số cho phép.Như vậy, về thống kê, sai số cho phép của dự báo yếu tố sẽ được tính theo côngthức (2-1):

Scf = ∆cf = 0,674 (2-1)

Ý nghĩa thủy văn của sai số cho phép dự báo yếu tố

Trong dự báo thủy văn, sai số cho phép được xác định phụ thuộc và nhiều điềukiện khác nhau, cụ thể là:

1 Phụ thuộc vào yếu tố dự báo, dự báo yếu tố nào thì có sai sô cho phép củayếu tố đó

2 Phụ thuộc và vị trí dự báo;

3 Phụ thuộc vào thời gian dự kiến;

4 Phụ thuộc vào pha lũ lên, lũ xuống;

5 Phụ thuộc vào mùa lũ mùa cạn;

Có nghĩa là Scp = f(Yếu tố, Vị trí, Thời gian dự kiến, Pha lũ, Mùa lũ, )

Như vậy, sai số cho phép là một đại lượng phức tạp, phụ thuộc vào nhiều nhân

tố tác động khác nhau, để đơn, trong dự báo thủy văn thường tính sai số cho phéptheo hạn dự báo theo các nguyên tắc sau:

1 Dự báo cho yếu tố nào thì sử dụng sai số dự báo cho yếu tố đó;

2 Dự báo tại vị trí nào thì sử dụng sai số cho phép tại vị trí đó;

3 Dự báo cho thời hạn dự kiến nào thì sử dụng sai số cho phép dự báo tính chothời hạn đó;

4 Sai số cho phép tính riêng cho pha lũ lên và pha lũ xuống;

5 Tương tự, sai số cho phép cũng tính riêng cho mùa lũ, mùa cạn hoặc vùngtriều,

2.1.3.2 Sai số cho phép dự báo thủy văn hạn ngắn và hạn vừa

a Dự báo mực nước

Theo phân hạn dự báo ở phần trên, dự báo hạn ngắn trên các sông của ViệtNam được quy định là hạn dự báo có thời gian dự kiến từ 6 giờ đến 3 ngày, riêng tại

Trang 37

Đồng bằng sông Cửu Long thì đến 5 ngày; Dự báo hạn vừa có thời gian dự kiếndưới 1 tháng

Xuất phát từ công thức (2.1) sai số cho phép dự báo yếu tố của dự báo thủyvăn hạn ngắn và hạn vừa được tính theo công thức sau:

Scf =∆cf = 0,674 ∆ (2-2)Trong đó:

: Biến đổi của đại lượng dự báo trong thời gian dự kiến được tính từ sốliệu thực đo như sau:

Δyyi = (yt+τ – yt)Với: yt+τ là giá trị thực đo của yếu tố dự báo tại thời điểm t+τ, τ là thời gian dựkiến của dự báo yếu tố

: Trung bình của các giá trị biến đổi của đại lượng dự báo trong thời gian

dự kiến:

(2.4)Thực tế, khi xây dựng các phương án dự báo thuỷ văn hạn ngắn thường phụthuộc vào loại sông, đối với các sông nhỏ miền núi, do độ dốc lòng sông lớn nên cóthể xây dựng một phương án chung cho cả pha lũ lên và pha lũ xuống, nhưng đốivới sông lớn vùng đồng băng, thường phải xây dựng phương án riêng cho pha lũ lên

và pha lũ xuống Khi đó, cần phải tính Scp cho từng phương án dự báo cho pha lũ lên

và pha lũ xuống riêng

Trang 38

b Dự báo lưu lượng

Khi dự báo lưu lượng hạn ngắn, hiện nay thường tính theo công thức sau:

Scf, Q = KQtđVới hệ số K biến dổi từ 0,1 đến 0,18 tuy thuộc vào điều kiện và yếu cầu củađối tượng phục vụ

2.1.3.3 Sai số cho phép dự báo thủy văn hạn dài và hạn siêu dài

Dự báo thủy văn hạn dài là dự báo có thời gian dự kiến từ 1 tháng đến mộtnăm, còn dự báo siêu dài có thời gian dự kiến trên 1 năm

Sai số cho phép dự báo thủy văn hạn dài và hạn siêu dài được tính theo côngthức sau:

a Khi dự báo mực nước: Scf, H = Δycp = 0,674 σ H (2-5)

b Khi dự báo lưu lượng: Scf, Q = 0.2 Qtđ (2-6)Trong đó, H và Qtđ là độ lệch quân phương của chuỗi yếu tố dự báo mực nước

và lưu lượng thực đo

2.1.3.4 Sai số cho phép của dự báo thời gian xuất hiện đỉnh lũ

Sai số cho phép của dự báo thời gian xuất hiện đỉnh lũ tính bằng 25% thời gian

dự kiến (τ):

Scf,T = 0,25 τ (2-7)2.1.3.5 Đánh giá chất lượng dự báo yếu tố

Nếu gọi là sai số dự báo yếu tố thì:

Δy = ydb - ytđ (2-8)Trong đó:

Trang 39

Bảng 2-1: Chỉ tiêu đánh giá chất lượng dự báo yếu tố

> 150% sai số cho phép Quá kém

2.1.4 Đánh giá phương án dự báo

Có nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá chất lượng của phương án dự báo Độchính xác và thời gian dự kiến của dự báo thuỷ văn có mối liên hệ với mức độnghiên cứu của hiện tượng thuỷ văn cần dự báo, với mức độ ảnh hưởng của cácnhân tố dự báo, ngoài ra nó còn phụ thuộc vào độ chính xác của tài liệu dùng để xâydựng phương án dự báo Mặt khác khi thời gian dự kiến của dự báo tăng lên thì độchính xác của phương án dự báo sẽ giảm đi

2.1.4.1.Tỷ số S/σσ

Trong đó  là độ lệch quân phương của chuỗi yếu tố dự báo, còn S là độ lệchquân phương của chuỗi sai số dự báo, được tính theo công thức:

(2-10) 2.1.4.2 Hệ số tương quan η

Hệ số ŋ được xác định theo công thức:

ŋ=1-(σ'σ)2 (2-11)Khi quan hệ dự báo ở dạng hàm thì σ' = 0 và ŋ = 1 điều đó cho thấy sự thay đổicủa yếu tố dự báo được xác định hoàn toàn bởi các nhân tố dự báo Khi σ' =  và ŋ

= 0 thì nhân tố dự báo không ảnh hưởng đến yếu tố dự báo

2.1.4.3 Mức đảm bảo của phương án dự báo

Chất lượng của phương án dự báo bao giờ cũng phải được đánh giá bằng mứcđảm bảo dự báo Mức đảm bảo dự báo là tỷ số giữa số lần dự báo đúng trên tổng sốlần dự báo:

Ngày đăng: 19/06/2016, 23:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w