Xuất phát từ tần quan trọng của kỹ năng nói Nói là một trong bốn kỹ năng TV có tầm quan trọng đối với đời sống mỗi con người và có tác động tích cực đến các kỹ năng nghe, đọc, viết nhưng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
HÀ NỘI, 2015
LÊ THỊ NGỌC HÀ
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
ĐÊ RÈN KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 2
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
ĐÊ RÈN KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 2
Chuyên ngành: Giáo dục học (tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS ĐỖ HUY QUANG
Trang 3Trong quá trình thực hiện đề tài, nhờ sự giúp đỡ quý báu của các thầy côgiáo, các bạn đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành đúng tiến độ.
Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới Phó Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Huy Quang - người đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết để hướng tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Sau Đại học, các thầy
cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Xin gửi lòi cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu và Hội đồng sư phạm trường Tiểu học Hải Xuân, trường Tiểu học Lý Tự Trọng, trường Tiểu học ĐàoPhúc Lộc Thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh, các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Lề Thị Ngọc Hà
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Lê Thị Ngọc Hà
Trang 5Lời cảm ơn i
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Đối tuợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Giả thuyết khoa học 6
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỄN 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Một số vấn đề chung về phương pháp đóng vai 7
1.1.2 Luyện nói cho học sinh lóp 2 15
1.1.3
Sự khác biệt giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết 20
1.1.4
Các lý thuyết được vận dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài 21
1.2 Cơ sở thực tiễn 33
1.2.1 Một số vấn đề về SGK TV lớp 2 hiện hành 33
1.2.2 Hình thức tổ chức rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2 39
Trang 61.2.4 Thực trạng của việc rèn kỹ năng nói cho HS lóp 2 trong nhà trường
hiện nay 42
Kết luận chương 1 45
CHƯƠNG 2: TÔ CHỨC ĐÓNG VAI TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT ĐỂ RÈN KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 2 47
2.1 Tổ chức đóng vai trong phân môn Tập đọc 47
2.1.1 Đóng vai nhân vật để đọc lòi của nhân vật trong truyện theo giọng nói 47 2.1.2 Đóng vai người nói trong bài thơ để đọc bài thơ 48
2.1.3 Đóng vai các nhân vật trong câu chuyện để đọc truyện theo hình thức đọc phân vai 48
2.2 Tổ chức đóng vai trong phân môn Kể chuyện 50
2.2.1 Tổ chức cho HS đóng vai để kể chuyện bằng lời của tác giả 51
2.2.2 Tổ chức cho HS đóng vai để kể chuyện bằng lời của nhân vật 52
2.2.3 Đóng vai để kể chuyện bằng lời kể sáng tạo của học sinh 53
2.2.4 Ke chuyện phân vai 54
2.2.5 Các bước thực hiện khi vận dụng phương pháp đóng vai để rèn kỹ năng nói cho HS lóp 2 khi kể chuyện 59
2.2.6 Giúp học sinh đóng vai theo câu chuyện 61
2.3 Tổ chức đóng vai trong phân môn Tập làm văn 62
2.3.1 Nội dung giao tiếp ở lóp 2 63
2.3.2 Quy trình tổ chức đóng vai trong dạy học các nghi thức lời nói ở phân môn Tập làm văn lớp 2 70
2.3.3 Xây dựng nội dung đóng vai trong dạy học các nghi thức lời nói ở phân môn Tập làm văn lóp 2 75
2.3.4 Tổ chức đóng vai qua các trò chơi học tập 82
Trang 7CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 91
3.1 Mục đích thực nghiệm 91
Trang 83.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 91
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 91
3.2.2 Địa bàn thực nghiệm 92
3.3 Nội dung thực nghiệm 93
3.3.1 Giáo án dạy thực nghiệm 93
3.3.2 Cách thức tiến hành thực nghiệm 94
3.4
Kết luận và phân tích kết quả thực nghiệm 95
3.4.1
Kết quả thực nghiệm giờ kể chuyện 95
3.4.2 Kết quả thực nghiệm trong giờ Tập làm văn 98
3.5 Kết luận chung về thực nghiệm 102
3.5.1 về thực nghiệm thăm dò 102
3.5.2 về thực nghiệm dạy học 102
KẾT LUẬN CHUNG 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC
Trang 91 Biểu đồ 3.1 Biểu đồ kết quả rèn kỹ năng nói 97
2 Biểu đồ 3.2 Thể hiện mức độ chú ý của học 101
sinh
DANH MỤC CÁC sơ ĐÒ
ST
1 Sơ đồ 2.1 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 24
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ tần quan trọng của kỹ năng nói
Nói là một trong bốn kỹ năng TV có tầm quan trọng đối với đời sống mỗi con người và có tác động tích cực đến các kỹ năng nghe, đọc, viết nhưng còn được ít rèn luyện chủ động ở tiểu học Từ Giáo dục Mầm non, chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ đã tập trung rèn cho trẻ kỹ năng nói như: nói rõ âm, rõ tiếng, đúng chuẩn, nói thành câu, nói mạch lạc, nói đúng nghi thức, nói biểu cảm Vào lóp 1, trẻ được học đọc, viết, làm quen với chữ cái, âm vần, hoạt động nghe, nói vẫn được chú ý rèn luyện, nhưng không được quan tâm bằng đọc, viết Đen lóp 2, các phân môn TV vẫn chú ý rèn kỹ năng nghe, nói cho học sinh: nói trong
kể chuyện, nói trong tập làm văn, nói để trình bày kết quả thực hiện các bài tập, nói trong nhóm, nói trước lóp Nhưng năng lực nói của học sinh lóp 2 nhìn chung còn nhiều hạn chế, biện pháp để rèn kỹ năng nói chưa nhiều
1.2 Xuất phát từ tính tất yếu phải đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Tiếng Việt trong chương trình mới
Hiện nay chúng ta đang thực hiện đổi mới phương pháp dạy và học là lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính sáng tạo, tích cực học tập của học sinh Dạyhọc TV ở tiểu học hiện nay phải thực hiện theo quan điểm giao tiếp, quan điểm tích cực và quan điểm tích họp, với ý thức học sinh là chủ thể, học sinh làm ra conngưòi tinh thần của mình bằng hoạt động học tập tích cực của mình Dạy học theoquan điểm giao tiếp là một trong những tư tưởng chủ đạo của chiến lược dạy học
TV ở tiểu học Các nước trên thế giới rất coi trọng quan điểm này, lấy hoạt động giao tiếp là một căn cứ để hình thành và phát triển các hoạt động ngôn ngữ mà cụ thể là năng lực nghe, nói, đọc, viết cho người học Nếu như nghe và đọc là hai kỹ năng quan trọng của hoạt động tiếp nhận thông tin, thì nói và viết là hai kỹ năng quan trọng của hoạt động bộc lộ, truyền đạt thông tin cần được rèn luyện và phát triển trong nhà trường Nói là hoạt động sử dụng ngôn ngữ cùng các yếu tố kèm
Trang 11theo nhằm truyền đạt một thông tin nào đó tới người nghe.
Trong những năm qua, trên tinh thần đổi mới phương pháp dạy và học, dạy
TV không chỉ dạy cho các em kỹ năng đọc, viết, nghe mà điều quan trọng là dạy các em sử dụng lời nói tình cảm trong giao tiếp Nếu một người đọc thông, viết thạo tất cả các văn bản, có tài, có trình độ song khi nói trước tập thể thì sợ sệt, nhút nhát hoặc khi giao tiếp không gây được tình cảm, mối thân thiện với mọi người, để lại ấn tượng không tốt thì người đó khó mà thành công trong công việc
Chính vì vậy, để sau này lớn lên các em có một nhân cách tốt, biết nói năng
lễ phép, lịch sự, biết nói lòi biểu cảm trong giao tiếp và mạnh dạn khi giao tiếp với mọi người xung quanh thì ngay từ các lóp đầu cấp của tiểu học chúng ta cần rèn cho học sinh kĩ năng nói trong giờ dạy TV Đó là điều rất quan trọng mà chúng ta cần phải thực hiện Không ai có thể làm thay, làm hộ học sinh Vì thế, mọi kiến thức, kỹ năng tiếng Việt muốn chuyển vào học sinh đều thông qua hình thức bài tập Học sinh muốn có năng lực đọc, viết phải đọc nhiều, viết nhiều Học sinh muốn có năng lực nghe, nói phải nghe nhiều, nói nhiều, không có con đường nào khác, vấn đề là cách nghe, cách nói sao cho hiệu quả
1.3 Phương pháp đóng vai là phương pháp dạy học có nhiều ưu thế để rèn kỹ năng nói cho học sinh và phù hợp vói lứa tuổi tiếu học
Đóng vai, học sinh được hóa thân thành người khác, trong những tình huống giả định để các em được trải nghiệm và nói hộ các nhân vật các em đang đóng vai Các em sẽ biết mình phải nói gì, nói bằng giọng điệu nào, phải có vẻ mặt, động tác tay chân như thế nào là phù hợp Đóng vai là tạo cơ hội cho các em
có môi trường, tình huống, nhu cầu, cảm hứng để luyện kỹ năng nói tự nhiên Thông qua các “vai diễn” HS được bộc lộ khả năng tự nhận thức, khả năng giao tiếp, khả năng tự giải quyết vấn đề trong các tình huống cuộc sống
Trong thực tiễn giáo viên chưa nhận thức đúng đắn vai trò,vị trí của pp đóng vai trong dạy học các phân môn TV đề rèn kỹ năng nói cho học sinh Vì vậy giờ học trở nên buồn tẻ, nặng nề, kém hiệu quả Khi đóng vai HS được bày tỏ
Trang 12quan điểm, ý kiến, thái độ của mình cùng lắng nghe ý kiến, quan điểm của người khác về các vấn đề liên quan đến nội dung bài học Đặc biệt đối vói HS lóp 2 việc đóng vai không chỉ giúp các em học tập hứng thú, sôi nổi hơn mà còn rèn kỹ năngnói, kỹ năng giao tiếp cho các em một cách hiệu quả nhất Việc vận dụng phương pháp đóng vai trong các phân môn TV thực sự tạo môi trường học tập tích cực, chủ động cho các em học sinh, đồng thời phát triển khả năng sáng tạo trong các vai diễn Nếu ngay từ lóp 2 các em đã có kỹ năng nói tốt, các em sẽ chủ động, tự tin trong học tập, trong cuộc sống riêng và trong giao tiếp xã hội khi học các lóp hên.
Với mong muốn các em học sinh lóp 2 đã có khả năng nói tốt, chúng tôi
chọn đề tài “Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học Tiếng Việt đế rèn kỹ
năng nói cho học sinh lớp 2”.
2 Lịch sử vấn đề
Hiện nay có rất nhiều tài liệu viết về nhiệm vụ phát triển năng lực nói cho học sinh tiểu học như bài viết trên Tạp chí Giáo dục số 10 của tác giả Nguyễn Trí
với tiêu đề “Dạy các kỹ năng nghe nói cho học sinh tiểu học” Tác giả đã đánh giá
cao bản chất, vai trò của hoạt động nghe - nói để từ đó phát triển kỹ năng nghe - nói cho HSTH
Với đề tài: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn kỹ năng nói cho học sinh tiểu học ở môn Tiếng Việt”, tác giả Trần Thị Hiền Lương đã xác định được
biện pháp dạy học rèn kỹ năng nói cho HS xuất phát từ đặc điểm lứa tuổi HSTH,
từ lý luận dạy học hiện đại, theo hướng tăng cường thực hành, luyện tập Trong đềtài này, tác giả đã đưa ra các biện pháp rèn kỹ năng nói như rèn kỹ năng phát âm,rèn kỹ năng nói độc thoại, nói hội thoại trong đó có kỹ năng sử dụng ngôn ngữcho HSTH
Tác giả Đặng Thị Lệ Tâm vói cuốn “Dạy học nghi thức lời nói cho học sinh tiểu học môn Tiếng Việf’ đã cung cấp những hiểu biết cơ bản về nghi thức lời
nói, giói thiệu các kiểu bài tập dạy học theo nghi thức lời nói ở tiểu học
Trang 13Ngoài ra còn khá nhiều công trình nghiên cứu khác đề cập một cách trực
tiếp hoặc gián tiếp đễn việc rèn kỹ năng nói ở mức độ nông sâu khác nhau: “Việc rèn luyện kỹ năng nghe và nói cho học sinh tiếu học ở California - Mỹ” của Phạm Thị Thu Hiền in hên Tạp chí Khoa học giáo dục số 52 bài viết “Rèn luyện và phát triển kỹ năng nói cho học sinh THCS của Nguyễn Thúy Hồng, Tạp chí Giáo
dục số 131 Trong các công trình này, có tác giả dựa vào mục đích giao tiếp để phân xuất thành các kỹ năng lắng nghe, kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng thuyết phục,
kỹ năng thuyết trình, về phương pháp phát triển kỹ năng nói cho học sinh, các tác
giả đều thống nhất quan điểm phải thông qua thực hành, luyện tập
về pp đóng vai trong dạy học có thể kể đến công trình “Dạy học và
phương pháp dạy học trong nhà trường” (2005) của Phan Trọng Ngọ, Nhà xuất
bản Đại học Sư phạm Hà Nội
Nhằm phục vụ cho nhu cầu đổi mới pp dạy học môn TV, cuốn sách “Trò chơi đóng vai ” (1999) của Muchielli Alex, Dự án Việt Bỉ “Hỗ trợ học từ xa” (tài liệu dịch) và “Phương pháp sân khấu Becton Brech” (1983) của Đình Quang cung
cấp những kiến thức về đóng vai, nghệ thuật diễn kịch rất bổ ích, lý thú
Trên đây là những công trình viết về dạy học TV nói chung và pp đóng vainói riêng Các công trình đó tuy không viết riêng về vấn đề rèn kỹ năng nói cho
HS như đề tài luận văn này quan tâm, nhưng người nghiên cứu vẫn có thể tiếp thunhững điều bổ ích Đó là các vấn đề có tính lý luận về nguyên tắc, hình thức, pp dạy học môn TV nói chung Bởi vậy Sử dụng pp đóng vai trong dạy học TV để rèn kỹ năng nói cho HS lóp 2 là một vấn đề mới mẻ, thú vị Chúng tôi sẽ tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước để làm sáng tỏ các vấn
đề mà đề tài chúng tôi quan tâm
Trang 14rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2.
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Chương trình TV và hoạt động dạy học các phân môn Tập đọc, Kể chuyện,Tập làm văn
Các tài liệu phương pháp dạy học TV, Tâm lý học, Ngôn ngữ học, Lý luận văn học, Thi pháp học V.V CÓ liên quan tới đề tài
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
1- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của pp đóng vai, luyện nói và sử dụng pp đóng vai trong một số phân môn TV để luyện nói hiệu quả cho học sinh
2- Xây dựng các HTTC dạy học có sử dụng pp đóng vai trong dạy học Tập đọc, Ke chuyện, Tập làm văn để rèn kỹ năng nói cho học sinh lóp 2 ở
một số trường tiểu học thuộc địa bàn Thành phố Móng Cái
3- Tiến hành dạy thực nghiệm một số bài để đánh giá tính khả thi và hiệu quả thực tiễn của đề xuất trong luận văn
6 Giả thuyết khoa học
Nếu luận văn sử dụng pp đóng vai trong dạy học các phân môn TV để rèn
kỹ năng nói cho học sinh lóp 2 được nghiên cứu trọn vẹn và đầy đủ, thì nhận thức của giáo viên về kỹ năng nói được chính xác hơn, chất lượng dạy học các phân môn Tập đọc, Tập làm văn, Kể chuyện được nâng cao hơn, tạo tiền đề cho các emhọc sinh chủ động, tự tin trong học tập, trong cuộc sống và trong giao tiếp xã hội khi học các lóp trên
Trang 157 Phương pháp nghiên cứu
Khi tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng một số pp sau:
1- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu có liên quanđến pp đóng vai, kỹ năng nói và sử dụng pp đóng vai để rèn kỹ năng nói cho học sinh tiểu học
2- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, khảo sát chương trình sáchgiáo khoa, phương pháp chuyên gia, thống kê, so sánh
3- Phương pháp quan sát: Được cụ thể bằng các hình thức dự giờ đối với giáo viên đang trực tiếp giảng dạy lớp 2, khảo sát hứng thú và khả năng nói của học sinh trên lóp, ngoài lóp, nội khóa, ngoại khóa
4- Phương pháp thực nghiệm: Để đánh giá và rút ra kết luận cụ thể
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Tổ chức đóng vai trong dạy học Tiếng Việt để rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 2
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Như vậy pp đóng vai liên quan đến các khái niệm mô phỏng và trò chơi Ở các mô phỏng, người học đảm nhận các vai - thường có tính trò chơi - và/hoặc
Trang 16làm việc trong những môi trường được mô phỏng, nhằm trước tiên là phát triển năng lực hành động, năng lực quyết định trong những tình huống gắn với cuộc sống nhưng đã được đơn giản hóa.
Các đặc điểm của các trò chơi mô phỏng:
- Vừa chơi vừa học
- Môi trường học tập có tính mô phỏng không phải những tình huống thật Thông qua các mô phỏng, người học sẽ được học trước tiên là nhữngkiến thức hành động và những kiến thức ra quyết định, và qua đó mà xây dựng năng lực thực hành cho mình Điều này được thực hiện thông qua những cách đặt vấn đề mà khiến cho ngưòi học cần phải tham khảo các nguồn thông tin từ bên ngoài để có thể đưa ra quyết định
Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (2000), đóng vai là thể hiện nhân vật trong kịch bản lên sân khấu hay màn ảnh bằng cách hành động, nói năng như thật W.Shakespcare đã từng nói đại ý: Toàn thế giới là nhà hát Trong nhà hát có đàn ông, đàn bà Tất cả đều là diễn viên Ở họ, đều có lối ra sân khấu và lối rời sân khấu của mình
Đóng vai xuất phát từ nghệ thuật kịch, từ lĩnh vực kịch tâm lí (paycho- drama) Sau đó đến khoảng thế kỉ XIX nó được vận dụng vào quá trình dạy học, trở thành một pp tương đối phổ biến và mang lại hiệu quả cao Đầu thế kỉ XX, cácnhà xã hội học người Mĩ (Merton, Parsons) sử dụng đóng vai trong việc thành lập các lí thuyết xã hội học Ngày nay trò chơi đóng vai được sử dụng như một pp dạyhọc trong nhiều môn học, trước hết là các môn khoa học xã hội Theo Hilbert Meyes (1987): “Đóng vai là một pp dạy học phức họp nhằm nhận thức hiện thực
xã hội Với sự giúp đỡ của đóng vai, HS có thể hiểu được hành động của mình tốt hơn và tác động lên tư duy, tình cảm và hành động của bạn học, giáo viên và những người quan sát Đóng vai là một pp dạy học trong đó người học thực hiện những tình huống hành động được mô phỏng (theo các vai) về một chủ đề gắn vớithực tiễn, thường mang tính chất trò chơi, trong các tình huống cuộc sống các vấn
Trang 17đề hoặc xung đột được thể hiện Đóng vai nhằm phát triển năng lực hành động thông qua sự trải nghiệm của chính bản thân người học và thông qua thông tin phản hồi từ những người quan sát Điểm khác biệt của đóng vai với tư cách là một
pp dạy học ở chỗ nó là một hoạt động học tập có kế hoạch được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu giáo dục cụ thể”
Chúng tôi quan niệm đóng vai là phương pháp giáo viên tổ chức cho học sinh hóa thân thành người khác để học sinh luyện nói, nhằm thực hành những cách ứng xử ở một tình huống giả định Từ đó, giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào sự kiện cụ thể mà các em phải trải nghiệm và quan sát được Sau việc “trình diễn”, học sinh cần thảo luận để rút ra kiến thức và
kỹ năng của bài học
pp đóng vai là cách thức tổ chức cho HS tham gia giải quyết một tình huống của nội dung học tập gắn liền với thực tế cuộc sống bằng cách diễn xuất một cách ngẫu hứng mà không cần kịch bản hoặc luyện tập trước nhằm giải quyết tình huống này trên cơ sở óc tưởng tượng và ý nghĩ sáng tạo của các em pp này được thực hiện theo chủ đề của một tình huống cụ thể Xây dựng kịch bản phải phù họp, đơn giản và dễ hiểu Việc giải quyết tình huống đó không cần xây dựng thành kịch bản, các “diễn viên” phải nhập vai nhanh chóng, phải phát huy óc tưởng tượng và tư duy sáng tạo, linh hoạt để giải quyết tình huống ngay trong khi biểu diễn mà không được luyện tập trước Như vậy, mục đích của pp đóng vai là
cụ thể hóa bài học bằng sự diễn xuất để GV có cơ sở phân tích nội dung bài giảng chi tiết và sâu sắc hơn
1.1.1.2 Đặc điếm của phương pháp đóng vai
Đóng vai là một pp dạy hội thoại, tuy mang tính chất kịch nhưng không hoàn toàn là một vở kịch Đây chỉ là một cách thức một phương pháp để học sinh học tập Nó diễn ra ngay trong lớp học, không đòi hỏi sự trang trí, phông màn phức tạp Các đoạn thoại kể tiếp nhau được tạo ra để phát triển bài hội thoại, thúc đẩy cuộc giao tiếp mà không tuân theo một kịch bản có sẵn như khi diễn một vở
Trang 18kịch Từ nhiệm vụ và tình huống, mỗi học sinh tự hình thành và hoàn thiện lời nóingay trong thực tiễn đóng vai, do cả thầy và trò cùng tham gia sáng tạo.
Người tham gia đóng vai là học sinh trong tổ, nhóm, lóp Các em đóng vai nhằm tập dượt theo đề bài hội thoại Sản phẩm của các lần đóng vai là các màn hội thoại hoặc giao tiếp, các sản phẩm này sẽ được các bạn trong lóp phân tích, nhận xét, rút kinh nghiệm để các lần tập dượt hội thoại tiếp theo đạt hiệu quả cao hơn, tốt hơn Mục đích của việc đóng vai là hoàn thành một bài tập hội thoại, thông qua đó hình thành kỹ năng hội thoại, tích lũy các kinh nghiệm ứng xử trong hội thoại để chuẩn bị cho các cuộc hội thoại đích thực các em trải qua trong cuộc đời
Khi đóng vai, học sinh cần chú ý tới lời nói và các động tác hình thể (chân, tay, thân thể) cách biểu cảm trên nét mặt, trong giọng nói tức là tất
cả các yếu tố khác ngoài ngôn ngữ có tác động đến hiệu quả hội thoại
Khi đóng vai và thực hiện một tình huống giả định, các nhân vật khi hội thoại có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau để phát triển đề tài, thực hiện cuộc thoại như biện pháp hỏi, đáp, phiếu bài tập, đưa ra lời giải trên giấy, dùng các đồ dùng dạy học
Không ai có thể phủ nhận đóng vai là một phương pháp mang lại rất nhiều hiệu quả trong việc dạy học pp đóng vai có những ưu điểm nổi bật sau:
- Cuốn hút và gây ấn tượng với học sinh, pp đóng vai sẽ thực sự tạo ra không khí vui nhộn cho lóp học và tạo động lực học tập cho các em
- Đưa học sinh thâm nhập vào thế giới nội tâm con người, các quan hệ xã hội phức tạp và cũng là cách tốt nhất để HS thu nhận kiến thức, thái độ và kĩ năng ứng xử bằng chính sự trải nghiệm của bản thân
- Gắn kết giữa lí luận vói thực tiễn dạy học
- Giúp phát triển tư duy cho người học đặc biệt là tư duy sáng tạo, phản biện - một phẩm chất hết sức quan trọng với con người hiện đại
- Tạo cơ hội thuận lợi để HS thể hiện hiểu biết, kỹ năng và cách ứng xử
Trang 19pp đóng vai bao gồm 3 khía cạnh cơ bản đó là: người tham gia đóng vai, cách tổ chức đóng vai và nội dung của hoạt động đóng vai.
- Người tham gia đóng vai:
Người tham gia đóng vai là HS trong tổ, trong lóp Các em đóng vai khôngnhằm luyện tập các kỹ năng biểu diễn để đạt được mục đích sau này trở thành diễn viên kịch Các em đóng vai chủ yếu nhằm mục đích tập dượt theo đề tài hội thoại, sản phẩm của các lần đóng vai là các màn hội thoại hoặc giao tiếp để sau đó
cả lóp cùng phân tích, nhận xét, rút kinh nghiệm Mục đích gần, hẹp của việc đóng vai là hoàn thành một BT hội thoại, còn mục đích xa, rộng là hình thành kỹ năng hội thoại, tích lũy kinh nghiệm ứng xử trong hội thoại để chuẩn bị cho các cuộc hội thoại đích thực các em sẽ trải qua trong cuộc đời
Sở dĩ có thể huy động HS tham gia đóng vai trong các tình huống giao tiếp giả định vì các tình huống đó chỉ khai thác kỹ năng, kinh nghiệm hội thoại và giaotiếp đã được HS tiếp nhận một cách tự phát trong cuộc sống Sau đó sẽ nâng cao
và phát triển các kỹ năng, kinh nghiệm hội thoại của các em Điều kiện tiên quyết
là tình huống giao tiếp giả định đưa ra dạy ở Tiểu học không được xa lạ với vốn sống, vốn hiểu biết của HSTH
Khi đóng vai, HS cần chú ý tới lời nói và các động tác hình thể (tay, chân, thân thể), cách biểu cảm trên nét mặt, trong giọng nói tức là tất cả yếu tố khác ngoài ngôn ngữ có tác động đến hiệu quả của hội thoại
- Cách tổ chức đóng vai:
Khi đóng vai thực hiện một tình huống giả định, các nhân vật tham gia hội thoại có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau để phát triển đề tài, thực hiện cuộc