MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG 4 Mở đầu 1 CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2 1.1. Tổng quan về chất thải y tế 2 1.1.1. Khái niệm về chất thải y tế 2 1.1.2. Nguồn gốc, thành phần và khối lượng 6 1.2. Các tác hại của chất thải rắn y tế nguy hại 8 1.2.1. Ảnh hưởng đến môi trường 8 1.2.2. Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe công đồng 9 1.2.3. Nguyên tắc phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn tại các cơ sở y tế. 12 1.3. Tổng quan về quản lý chất thải y tế 15 1.3.1. Tổng quan về quản lý chất thải y tế trên thế giới 15 1.3.2. Tổng quan về quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 17 1.4. Cơ sở pháp lý liên quan tới quản lý, xử lý chất thải y tế tại Việt Nam 22 1.5. Tổng quan về cơ sở nghiên cứu 23 1.5.1. Tên cơ sở 23 1.5.2. Địa chỉ 23 1.5.3. Vị trí địa lý cơ sở 23 1.5.4. Lĩnh vực hoạt động của bệnh viện 25 1.5.5. Sơ đồ tổ chức 28 Chương 2: Đối tượng, phạm vi, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu 29 2.1. Đối tượng nghiên cứu 29 2.2. Phạm vi nghiên cứu 29 2.3. Mục tiêu nghiên cứu 29 2.4. Phương pháp nghiên cứu 29 2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu, số liệu liên quan 29 2.4.2. Thiết kế câu hỏi, tiến hành điều hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế 29 2.4.3. Phương pháp quan sát thực tế 29 2.4.4. Phương pháp điều tra khảo sát bằng phiếu điều tra 30 2.4.5. Tổng hợp, phân tích số liệu 30 2.4.6. Dự báo lượng chất thải rắn y tế tại bệnh viên đa khoa Đống Đa Hà Nội đến từ năm 2016 đến năm 2020. 30 Chương 3: Kết quả nghiên cứu 31 3.1. Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại bệnh viện 31 3.1.1. Nguồn phát sinh, thành phần và khối lượng chất thải bệnh viện 31 3.1.2. Thành phần và khối lượng rác thải y tế 32 3.2. Dự báo lượng chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa Đống Đa Hà Nội từ năm 2016 đến năm 2020. 35 3.3. Hiện trạng công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa Đống Đa Hà Nội 37 3.3.1. Mô hình tổ chức quản lý rác thải tại bệnh viện 37 3.3.2. Quy trình thu gom và vận chuyển chất thải bệnh viện 38 3.3.3. Kinh phí cho công tác xử lý chất thải, bảo vệ môi trường: 45 3.3.4. Kiểm tra, giám sát và chỉ đạo công tác quản lý chất thải rắn y tế 46 3.3.5. Đảm bảo an toàn trong công tác quản lý chất thải rắn y tế 47 3.4. Đánh giá nhận thức và hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế, bệnh nhân về chất thải rắn y tế 48 3.5. Đề xuất các giải pháp khắc phục và nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa Đống Đa Hà Nội. 50 3.5.1. Các giải pháp về nguồn nhân lực 50 3.5.2. Các giải pháp về cơ sở hạ tầng 51 3.5.3. Biện pháp nâng cao hiệu quả công tác phân loại, xử lý bao gồm thu gom, vận chuyển, lưu trữ chất thải 51 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 PHỤ LỤC
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
MAI THÙY LINH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ PHÙ HỢP
Khoa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy
Ngành Quản lý tài nguyên Môi Trường
(Chương trình đào tạo chuẩn)
Hà Nội, 2016
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG 4
Mở đầu 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1 Tổng quan về chất thải y tế 2
1.1.1 Khái niệm về chất thải y tế 2
1.1.2 Nguồn gốc, thành phần và khối lượng 6
1.2 Các tác hại của chất thải rắn y tế nguy hại 8
1.2.1 Ảnh hưởng đến môi trường 8
1.2.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe công đồng 9
1.2.3 Nguyên tắc phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn tại các cơ sở y tế 12 1.3 Tổng quan về quản lý chất thải y tế 15
1.3.1 Tổng quan về quản lý chất thải y tế trên thế giới 15
1.3.2 Tổng quan về quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 17
1.4 Cơ sở pháp lý liên quan tới quản lý, xử lý chất thải y tế tại Việt Nam 22
1.5 Tổng quan về cơ sở nghiên cứu 23
1.5.1 Tên cơ sở 23
1.5.2 Địa chỉ 23
1.5.3 Vị trí địa lý cơ sở 23
1.5.4 Lĩnh vực hoạt động của bệnh viện 25
1.5.5 Sơ đồ tổ chức 28
Chương 2: Đối tượng, phạm vi, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu 29
2.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.2 Phạm vi nghiên cứu 29
2.3 Mục tiêu nghiên cứu 29
2.4 Phương pháp nghiên cứu 29
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu, số liệu liên quan 29
2.4.2 Thiết kế câu hỏi, tiến hành điều hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế 29
2.4.3 Phương pháp quan sát thực tế 29
2.4.4 Phương pháp điều tra khảo sát bằng phiếu điều tra 30
Trang 32.4.5 Tổng hợp, phân tích số liệu 30
2.4.6 Dự báo lượng chất thải rắn y tế tại bệnh viên đa khoa Đống Đa Hà Nội đến từ năm 2016 đến năm 2020 30
Chương 3: Kết quả nghiên cứu 31
3.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại bệnh viện 31
3.1.1 Nguồn phát sinh, thành phần và khối lượng chất thải bệnh viện 31
3.1.2 Thành phần và khối lượng rác thải y tế 32
3.2 Dự báo lượng chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa Đống Đa Hà Nội từ năm 2016 đến năm 2020 35
3.3 Hiện trạng công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa Đống Đa Hà Nội 37
3.3.1 Mô hình tổ chức quản lý rác thải tại bệnh viện 37
3.3.2 Quy trình thu gom và vận chuyển chất thải bệnh viện 38
3.3.3 Kinh phí cho công tác xử lý chất thải, bảo vệ môi trường: 45
3.3.4 Kiểm tra, giám sát và chỉ đạo công tác quản lý chất thải rắn y tế 46
3.3.5 Đảm bảo an toàn trong công tác quản lý chất thải rắn y tế 47
3.4 Đánh giá nhận thức và hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế, bệnh nhân về chất thải rắn y tế 48
3.5 Đề xuất các giải pháp khắc phục và nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa Đống Đa Hà Nội 50
3.5.1 Các giải pháp về nguồn nhân lực 50
3.5.2 Các giải pháp về cơ sở hạ tầng 51
3.5.3 Biện pháp nâng cao hiệu quả công tác phân loại, xử lý bao gồm thu gom, vận chuyển, lưu trữ chất thải 51
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thành phần của chất thải rắn y tế ở Việt Nam 6
Bảng 1.2: Khối lượng chất thải y tế phát sinh theo mức thu nhập của người dân 15
Bảng 1.3 : Khối lượng chất thải y tế của một số địa phương năm 2009 18
Bảng 1.4 Sự biến động về khối lượng CTRNH phát sinh tại các cơ sở y tế 19
khác nhau 19
Bảng 1.5: Bố trí các phòng, khoa chức năng của bệnh viện đa khoa Đống Đa 25
Bảng 3.1: Danh sách chất thải nguy hại đã đăng ký phát sinh thường xuyên 32
Bảng 3.2: Danh sách chất thải thông thường đã đăng ký phát sinh thường xuyên 33
Bảng 3.3: Lượng chất thải rắn nguy hại phát sinh trong năm 2016 34
Bảng 3.4: Dự báo lượng chất thải rắn y tế tại bệnh viện 36
Bảng 3.5: Phân loại các loại chất thải rắn y tế 39
Bảng 3.6: Kinh phí cho công tác xử lý chất thải tại bệnh viện 45
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải bệnh viên đa khoa Đống Đa Hà Nội 31
Hình 3.2: Phân loại trực tiếp trên xe tiêm 39
Hình 3.3: Hộp an toàn đựng chất thải rắn nguy hại 42
Hình 3.4: thùng đựng vỏ chai huyết thanh đã qua sử dụng 42
Hình 3.5: Vận chuyển chất thải rắn nguy hại 43
Hình 3.6: Nơi lưu trữ chất thải rắn 44
Hình 3.7: Nơi lưu trữ chất thải nguy hại 44
Hình 3.8: Sử dung các loại trang thiết bị bảo hộ trong thu gom 48
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Với mỗi sinh viên đại học, khóa luận tốt nghiệp là việc mốc cuối cùng đánhdấu sự kết thúc 4 năm học tập trên giảng đường và cũng là bước khởi đầu làm quenvới công việc nghiên cứu và công tác sau này
Được sự đồng ý của nhà trường, Khoa Môi trường, dưới sự hướng dẫn củagiảng viên Dương Ngọc Bách và giảng viên Nguyễn Khánh Linh tôi đã thực hiện
khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Đánh giá hiện trạng chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa Đống Đa, thành phố Hà Nội và đề xuất giải pháp quản lý phù hợp”.
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến thầy DươngNgọc Bách và cô Nguyễn Khánh Linh đã giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành khóaluận này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong khoa Môi trường đã cung cấptài liệu, đóng góp ý kiến tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, giúp
đỡ và động viên trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Do thời gian có hạn, kinh nghiệm chuyên môn rất ít nên khóa luận khôngtránh khỏi thiếu sót Kính mong được sự góp ý, nhận xét, bổ sung của các thầy cô
và các bạn sinh viên để chuyên đề hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2016
Người thực hiện
Sinh viên
Mai Thùy Linh
Trang 8Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương, bộmặt xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội,đất nước cũng được phát triển hơn những thập niên trước đây rất nhiều Kéo theo đó
là nhu cầu của con người tăng lên về vật chất lẫn tinh thần kéo theo đó là các bệnhviện cũng tăng lên về số lượng và phức tạp về thành phần, còn việc quan tâm xử lý,quản lý chất thải của bệnh viện chưa theo kịp
Hiện nay chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấpbách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho khu dân cư xungquanh, gây bão dư luận cho cộng đồng Các chất thải y tế có chứa đựng các yếu tốtruyền nhiễm là chất độc hại có trong rác y tế, các loại hóa chất và dược phẩm nguyhiểm, các chất thải phóng xạ, các vật sắc nhọn,… những người tiếp xúc với chấtthải y tế nguy hại đều có nguy cơ nhiễm bệnh gây ô nhiễm, bệnh tật nghiêm trọngcho môi trường xung quanh bệnh viện ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dân
Tại Hà Nội cũng như các tỉnh thành khác trong cả nước, tình trạng ô nhiễmmôi trường do rác thải y tế ngày càng nghiêm trọng Việc nghiên cứu tình hình quản
lý chất thải bệnh viện, đề xuất nhằm tìm ra giải pháp đẻ cải thiện môi trường cũng
là một trong những đề tài đáp ứng được yêu cầu cấp bách hiện nay trên địa bànthành phố Hà Nội
Trang 9Xuất phát từ yêu cầu đó, dực trên cơ sở khoa học và nghiên cứu tài liệu,nghiên cứu thực địa, em xin đưa ra đề tài khóa luận : “Đánh giá hiện trạng chất thảirắn y tế tại bệnh viện đa khoa Đống Đa, thành phố Hà Nội và đề xuất giải phápquản lý phù hợp”
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về chất thải y tế
1.1.1 Khái niệm về chất thải y tế
Theo quy chế quản lý chất thải y tế (Bộ y tế), chất thải y tế là vật chất ở thểrắn, lỏng, khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chấtthải thông thường
Như vậy, chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng, khí và thường có đặc tính vàtác động xấu đối với môi trường và sức khỏe con người Người ta thường phân biệthai loại chất thải y tế: Chất thải nguy hại và không nguy hại
Theo Thông tư số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT: Chất thải y tế là chất thảiphát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguyhại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế
Theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT: Chất thải rắn y tế là vật chất ở thểrắn được thải ra từ các cơ sở y tế, bao gồm chất thải rắn y tế nguy hại và chất thảirắn thông thường
Theo Tổ chức Y tế Thế Giới-WHO: Chất thải rắn y tế còn bao gồm cả nhữngchất thải có nguồn gốc từ các nguồn khác nhau, như được tạo ra trong quá trìnhchăm sóc sức khỏe tại nhà
a Chất thải y tế nguy hại
- Chất thải nguy hại: Là chất thải có chứa các chất hoặc hóa chất có mộthoặc các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy nổ, làm ngộ độc, gây ăn mòn, dễlây nhiễm và các đặc tính nguy hại), hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hạitới môi trường và sức khỏe con người
Trang 10- Một số thuật ngữ liên quan đến chất thải rắn y tế được quy định từ Quy chếquản lý chất thải y tế của Bộ Y tế ban hành kèm theo QĐ số 43/2007/QĐ-BYT nhưsau:
+ Chất thải rắn y tế nguy hại: Là chất thải rắn y tế chứa yếu tố nguy hại chosức khỏe con người và môi trường như: Dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễcháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nhau nếu những chất thảinày không được tiêu hủy an toàn
+ Chất thải rắn y tế thông thường: Là những chất thải rắn y tế không đượcxem là chất thải rắn y tế nguy hại; không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguyhại, phóng xạ, dễ cháy nổ
+ Quản lý chất thải rắn y tế: Là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý banđầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủychất thải rắn y tế và kiểm soát việc thực hiện
+ Giảm thiểu chất thải rắn y tế: Là hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thảichất thải rắn y tế, bao gồm: giảm lượng chất thải rắn y tế tại nguồn, sử dụng các sảnphẩm có thể tái sử dụng, tái chế, quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ quá trình thực hành
và phân loại chất thải rắn y tế một cách chính xác
+ Tái sử dụng chất thải rắn y tế: Là việc tái sản xuất các vật liệu thải bỏthành những sản phẩm mới
+ Thu gom chất thải rắn y tế tại nơi phát sinh: Là quá trình phân loại, tậphợp, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải rắn trong
+ Xử lý và tiêu hủy chất thải rắn y tế: Là quá trình sử dụng công nghệ cáccông nghệ nhằm làm mất khả năng gây nguy hại của chất thải rắn y tế đối với sứckhỏe con người và môi trường
b Phân loại chất thải y tế
Trang 11- Theo WHO
Chất thải rắn y tế nguy hại được phân thành 9 nhóm 12 sau:
+ Chất thải lây nhiễm: Là chất thải có chứa các mầm bệnh như: Vi khuẩn, virút, ký sinh trùng, nấm với số lượng đủ lớn để gây bệnh cho những người dễ bị cảmnhiễm (vi dụ: Chất thải từ các phòng xét nghiệm, phòng mổ, phòng cách ly…)
+ Chất thải bệnh phẩm và chất thải giải phẫu: Là chất thải có chứa cac mô,bệnh phẩm, bộ phận cơ thể hoặc các dịch cơ thể như máu, dịch màng phổi…chấtthải bệnh phẩm và chất thải giải phẫu có thể bị nhiễm khuẩn hoặc không nhiễmkhuẩn Tuy nhiên, theo khuyến cáo những chất thải này nên được coi như là chấtthải lây nhiễm
+ Chất thải dược phẩm: Bao gồm các thuốc quá hạn, không sử dụng, đổ,vỡ…kể cả những dụng cụ, chai lọ chứa đựng chúng
+ Chất thải hóa học: Có thể dưới dạng đặc, lỏng, khí được sinh ra trong quátrình chẩn đoán, điều trị, tẩy rửa, khử trùng, thí nghiệm của bệnh viện…
+ Chất thải chứa kim loại nặng, độc hại: Là loại chất thải có chứa chất gâyđộc tiềm ẩn như Cd, Chì, Thủy ngân…có trong pin hỏng, nhiệt kế vỡ và một sốdụng cụ y tế hỏng Chất thải chứa kim loại nặng, độc hại này có thể coi là 1 phầncủa chất thải hóa học nên được xử lý riêng
+ Các bình chứa khí nén: Như bình đựng ôxy, CO2, khí mê, bình cứu hỏa.+ Chất thải vật sắc nhọn: Đây là loại chất thải có nguy cơ gây tổn thương cho
da như đứt, thủng (Ví dụ: Kim tiêm, dao mổ, tuýp thủy tinh vỡ…) Cho dù chất thảinày có bị nhiễm khuẩn hay không thì chúng vẫn được coi như loại chất thải có nguy
cơ lây nhiễm và nguy hại cao Vì vậy, chất thải vật sắc nhọn phải được quan tâmchú ý khi phân loại, thu gom, lưu giữ và vận chuyển nhằm đảm bảo an toàn chonhân viên y tế, nhân viện vệ sinh và môi trường
+ Chất thải gây độc tế bào: Chất thải này có nguồn gốc từ việc điều trị bệnhnhân ung thư bằng hóa chất và tia xạ Chất thải từ những bênh nhân này như phân,nước tiểu, chất nôn…cần được coi như là chất gây độc tế bào
+ Chất thải phóng xạ: Gồm các chất phóng xạ rắn, lỏng, khí và khí phát sinh
từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị và nghiên cứu Các tia xạ như tia X, tia gammagây ion hóa chất trong tế bào và gây độc với gen
Trang 12- Theo quyết định số 43/2007/BYT về việc ban hành Quy chế quản lý chấtthải y tế
Dựa vào đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại trong các
cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm sau:
+ Chất thải lây nhiễm:
Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọcthủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền,lưỡi dao mổ, đinh mổ, các ông tiêm, mảnh thủy inh vỡ và các vật sắc nhọn khác sửdụng trong các hoạt động y tế
Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấmdịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong cácphòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đứng dính bệnh phẩm
Chất thải giải phẫu (loại D): bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người:rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm
+ Chất thải hóa học nguy hại:
Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng
Chất thải hóa học nguy hại trong y tế
Chất gây độc tế bào: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gâyđộc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu
Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân
bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin,ắc quy), chì (từ tấm gỗbọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hìnhảnh, xạ trị)
+ Chất thải phóng xạ: Gốm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh
từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất danh mục thuốc phóng
xạ và hợp chất đánh dấu trong chẩn đoán và điều trị ban hành kèm theo quyết định
số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế (BYT)
Trang 13+ Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung.Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt.
+ Chất thải thông thường: chất thải thông thường là chất thải không chứa cácyếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy nổ, bao gồm:
Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ buồng cách ly)
Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ, thủytinh, huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương Những chấtthải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại
Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: Giấy, báo, tài liệu, vật liệuđóng gói, thùng chứa các tông, túi nilon, túi đựng phim
Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
1.1.2 Nguồn gốc, thành phần và khối lượng
Thành phần và khối lượng của từng loại chất thải y tế có đặc trưng theo chứcnăng, nhiệm vụ chuyên môn của từng bệnh viện Chúng có nguồn gốc chủ yếu từcác phòng khám, khoa chức năng, phòng hành chính-tổng hợp, và khu dịch vụ trongbệnh viện
Theo Nguyễn Tất Hà (1997), chất thải rắn y tế bao gồm các thành phần sau:
- Thành phần vật lý:
+ Đồ bông, vải sợi:bào gồm bông gạc, băng, quần áo cũ, khan lau…
+ Đồ giấy:hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh,…
+ Đồ thủy tinh, nhựa, kim loại,…
+ Bệnh phẩm, máu mủ dính ở gạc băng,…
+ Lá cây, đất đá,…
- Thành phần hóa học:
+ Chất vô cơ: kim loại, bột bó, chai lọ thủy tinh, hóa chất, thuốc thử,…
+ Chất hữu cơ: đồ vải sợi, giấy, phần cơ thể, đồ nhựa,…
- Thành phần sinh hoc:
Bao gồm máu, các loại dịch tiết, những động vật làm thí nghiệm, bệnh phẩm
và đặc biệt là các loại vi trùng gây bệnh
Trang 14Về cơ bản chất thải rắn y tế được chia thành 2 dạng chính: thành phần khôngđộc hại chiếm 85-90% và thành phần độc hại chiếm 10-15%.
Bảng 1.1 Thành phần của chất thải rắn y tế ở Việt Nam
(Nguồn: Nguyễn Đức Khiển, 2003)
Một cách đánh giá thuyết phục để có thể dự báo và ước lượng chất thải y tếnói chung và số lượng hay tỷ lệ chất thải nguy hại nói riêng phải dựa vào các yếu tốsau:
+ Số lượng, đặc điểm, phạm vi cứu chữa, quy mô khám bệnh, điều trị của tất
cả các cơ sở y tế
+ Số lượng giường bệnh tại bệnh viện và các cơ sở y tế có giường bệnh từtuyến huyện và tương đương trở lên (do ngành y tế quản lý và do các ngành khácquản lý)
+ Lượng chất thải y tế phát thải mỗi ngày (kg/rác/giường bệnh.ngày đêm)
Trang 15+ Tỷ lệ chất thải y tế nguy hại trên tổng chất thải y tế chung của giường bệnh(giường bệnh cấp bệnh viện) mỗi ngày.
+ Trên cơ sở này, có thể áp dụng ước lượng khối lượng chất thải của bệnhviện cụ thể của khu vực, thậm chí có thể ước lượng khối lượng chất thải rắn chophạm vi toàn quốc
+ Khối lượng chất thải y tế không chỉ thay đổi từng khu vực địa lý, mà cònphụ thuộc vào các yếu tố khách quan như:
+ Cơ cấu bệnh tật bình thường, dịch bệnh, thảm họa đột xuất
+ Loại và quy mô bệnh viện, phạm vi cứu chữa
+ Số lượng bệnh nhân, khám chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân điều trị nội trú vàngoại trú
+ Điều kiện kinh tế xã hội của khu vực
+ Phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị vàchăm sóc
+ Số lượng người nhà được pháp đến thăm bệnh nhân
1.2 Các tác hại của chất thải rắn y tế nguy hại
1.2.1 Ảnh hưởng đến môi trường
Theo quy định của luật, các chất thải y tế phải được xử lý đạt tiêu chuẩn môitường xung quanh, nhưng thực tế hiện nay lại khác Chất thải y tế đặc biệt là chấtthải nguy hại phần lớn chưa được xử lý hay xử lý không đạt tiêu chuẩn quy định đã
và đang là vấn đề đáng lo ngại cho môi trường Hiện tại ở không ít bệnh viện rácthải y tế được nhập chung vào rác thải thành phố để xử lý hoặc xử lý theo phươngpháp đốt thủ công tại bệnh viện thường hiệu quả xử lý kém và gây ô nhiễm môitrường không khí, thậm chí chất thải y tế tại một số bệnh viện được chôn lấp ngaytrong bệnh viện và thường tại các bãi chôn lấp này đều không đạt tiêu chuẩn vệ sinhcũng là nguồn đóng góp không nhỏ trong nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nướcngầm, ô nhiễm mùi và là nguồn truyền bệnh rất nguy hiểm Theo thống kê tỷ lệ vàoviện do các bệnh truyền nhiễm qua chất thải và nước thải chiếm 15% trong tổng số
Trang 16ca bệnh, đặc biệt vào mùa hè bệnh truyền nhiễm qua chất thải còn nghiêm trọng hơnnhiều.
- Tác động đến môi trường nước:
Nguồn nước có thể bị nhiễm bẩn do câc chất độc hại có trong chất thải bệnhviện Chúng có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh Chúng có thể chứa kim loại nặngnhư thủy ngân từ nhiệt kế Một sô dược phẩm nhất định, nếu xả thải mà không xử lý
có thể gây nhiễm độc nguồn nước bên cạnh đó, việc xả thải bừa bãi chất thải lâmsàng, ví dụ xả chung chất thải lây nhiễm vào chất thải thông thường, có thể tiềm ẩnnguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước do làm tăng BOD (Bộ Y tế, 2010)
- Tác động đến môi trường không khí:
Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn chất thải nguy hại đượcthiêu đốt trong điều kiện không lý tưởng Việc thiêu đốt không đủ nhiệt độ trong khírác thải đưa vào quá nhiều gây ra nhiều khói đen Việc đốt chất thải y tế đựng trongtúi nilon PVC, cùng với các loại dược phẩm nhất định, có thể tạo ra khí axit, thường
là HCl và SO2 Trong quá trình đốt các dẫn xuất halogen (F,Cl,Br,I…) ở nhiệt độthấp thường tạo ra axit như: hydrochloride (HCl) Điều đó dẫn đến nguy cơ tạothành dioxin, một lọa hóa chất vô cùng độc hại, ngay cả ở nồng độ thấp Các kimloại nặng như thủy ngân có thể phát thải theo khí lò đốt (Bộ Y tế, 2010)
Những nguy cơ môi trường này có thể tác động tới hệ sinh thái và sức khỏecon người trong dài hạn (Bộ Y tế,2010)
Tác động tiềm ẩn khác đối với môi trường là khi chất thải gây độc gen đượcthải vào môi trường có thể gây ra hậu quả suy thoái về sinh thái Ngoài ra, các bãitập kết chất thải rắn y tế không hợp lý sẽ gât mất mỹ quan, là điểm bùng phát cácdịch bệnh
1.2.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe công đồng
Tất cả những người phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại đều là đối tượng
có nguy cơ Họ có thể là nhân viên và người bệnh trong các cơ sở y tế làm phát sinh
ra chất thải, những người trực tiếp tham gia xử lý, tiêu hủy chất thải và những ngườidân trong cộng cồng dân cư trong trường hợp chất thải chưa được xử lý chính đáng.Nhóm người nguy cơ chính bao gồm: Bác sĩ, y tá, nhân viên, người bệnh, nhân viênthu gom, cộng đồng dân cư
Trang 17Đối với sức khỏe: việc tiếp xúc với các chất y tế có thể gây nên bệnh tật hoặctổn thương cho cơ thể do các vật sắc nhọn (như kim tiêm) Các vật sắc nhọn nàykhông chỉ gây nên những vết cắt, đâm mà còn gây nhiễm trùng các vết thương nếuvật sắc nhọn đó bị nhiễm tác nhân gây bệnh Như vậy, những vật sắc nhọn ở đâyđược coi là chất thải rất nguy hiểm bởi nó gây tổn thương kép (vừa gây tổn thươngvừa gây bệnh truyền nhiễm như viêm gan B, HIV…) Hơn nữa, trong chất thải y tếlại chứa đựng các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, viêm gan B, HIV…Các tác nhân này có thể xâm nhập vào cơ thể qua vết trầy xước, vết đâm xuyên, quaniêm mạc, qua đường hô hấp do hít phải), qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ănphải).
Như vậy, việc thu gom, phân loại và xử lý các chất thải y tế không đảm bảo
đó sẽ gây ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng và nhất là của người trực tiếp tiếp xúcvới chất thải
- Ảnh hưởng của các loại chất thải truyền và các vật sắc nhọn
Bệnh nhân truyền nhiễm có nguy cơ lây nhiễm rất lớn qua nước thải và nướcthải bệnh viện Rác thải bệnh viện có chứa các mầm bệnh như: Các vi khuẩn, vi rút,
ký sinh trùng và nấm với một lượng đủ để gây bệnh Những người dễ bị ảnh hưởngnhất là y tá, bác sĩ, và những người thu gom rác, bới rác Các tác hại của rác thảibệnh viện là làm tăng nhiễm khuẩn và kháng thuốc tại bệnh viện, tổn thương trựctiếp cho người thu gom rác, lây nhiễm bệnh cho nhân dân sống trong vùng lân cận,ảnh hưởng tới tâm lý và thẩm mỹ đô thị
Nước thải bệnh viện có chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh, các hóa chất độc hóahọc, chất phóng xạ Nhưng điều nguy hiểm hơn là nước thải bệnh viện thường thảivào các nguồn nước mặt, thấm xuống đất làm ô nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nướcngầm gần hu vực sinh sống của dân cư mà đây là nguồn nước sinh hoạt chính Nhưnăm 1990, WHO đã cho biết có tới 80% bệnh tật của người liên quan đến nước với
sô giường bệnh chiếm 50% số giường bệnh của bệnh viện Trong các nguồn nướcthải của bệnh viện, nước thải từ khoa lây là nguy hiểm nhất Nếu trong nước thảisinh hoạt ở các khu vực dân cư tỉ lệ vi khuẩn gây bệnh/tổng số trực khuẩn đườngruột là 1/104-106 thì trong nước thải của khoa lây tỉ lệ này là 1/102-103, gấp từ 100-
1000 lần Người ta còn nhận thấy, trung bình trong một lít nước thải bệnh viện có từ
Trang 185.000-10.000 vi rút gây bệnh, 10-15 trứng giun đũa Trong một lít nước thải bệnhviện lao có thể từ 106-109 trực khuẩn lao có sức đề kháng cao ở ngoại cảnh, thậmchí còn tìm được trực khuẩn lao ở cách nới thải nước cống bệnh viện xa tới 500m.
Ở trong nước vi khuẩn thương hàn có khả năng sống từ 2-93 ngày, vi khuẩn lỵ sống
từ 12-15 ngày, vi khuẩn tả sống từ 4-28 ngày
Đối với những bệnh nguy hiểm cho virut gây ra như HIV/AIDS; viêm gan Bhoặc C, những nhân viên y tế, đặc biệt là các y tá là những người có nguy cơ nhiễmcao nhất qua những vết thương do các vật sắc nhọn bị nhiễm máu bệnh nhân gâynên, những người vận hành quản lý chất thải xung quanh bệnh viện cũng có nguy
cơ lây nhiễm đáng kể, như những nhân viên quét dọn, những người bới rác tại cácbãi đổ rác
- Ảnh hưởng của loại chất thải hóa học và dược phẩm
Đã có nhiều vụ tổn thương hoặc nhiễm đôc do vận chuyển hóa chất và dượcphẩm trong bệnh viện không đảm bảo Các dược sĩ, bác sĩ gây mê, y tá, kỹ thuậtviên, cán bộ hành chính có thể có nguy cơ mắc bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da
do tiếp xúc với các loại hóa chất lỏng bay hơi, dạng phun sương và các dung dịchkhác Để hạn chế tới mức thấp nhất là nguy cơ nghề nghiệp này nên thay thế giảmlượng hóa chất độc hại xuống bất cứ lúc nào có thể và cung cấp các phương tiện bảo
hộ cho những người tiếp xúc với hóa chất Những nơi sử dụng và bảo quản loại hóachất nguy hiểm cũng nên được thiết kế hệ thống thông gió phù hợp, huấn luyện cácbiện pháp phòng hộ và các trường hợp cấp cứu cho những người có liên quan
- Ảnh hưởng các loại chất gây độc gen
Cần phải có một thời gian thu thập những dữ liệu và ảnh hưởng lâu dài đốivới sức khỏe của các chất thải gây độc gen trong y tế, bởi vì rất khó đánh giá ảnhhưởng của các loại độc hại chất phức tạp này lên mối nguy cơ đối với con người.Một nghiên cứu được tiến hành ở Phần Lan đã tìm ra một dấu hiệu liên quan giữaxảy thai trong 3 tháng đầu của thai kỳ và tiếp xúc nghề nghiệp với các thuốc chốngung thư, nhưng các nghiên cứu trương tự tại Pháp và Mỹ lại không xác nhận kết quảnày
Có rất nhiều nghiên cứu được xuất bản đã điều tra khả năng kết hợp giữanguy cơ đối với sức khỏe và việc tiếp xúc với chất chống ung thư, biểu hiện bằng sự
Trang 19tăng đột biến các thành phần trong nước tiểu ở những người đã tiếp xúc và tăngnguy cơ xảy thai Một nghiên cứu gần đây đã chứng minh, những nhân viên quétdọn trong bệnh viện phải tiếp xúc với yếu tố nguy cơ thì có lượng nước tiểu tăngvượt trội so với những y tá và dược sĩ trong bệnh viện đó Thêm nữa, những ngườinày thường ít ý thức được mối nguy hiểm và do vậy ít áp dụng các biện pháp phòng
hộ hơn Mức độ tập trung các thuốc gây độc gen trong bầu không khí bên trongbệnh viện cũng đã được xem xét trong một số nghiên cứu thiết kế đánh giá các ảnhhưởng về sức khỏe liên quan với việc tiếp xúc với các yêu tố nguy cơ Hiện vẫnchưa có một ấn phẩm khoa học nào ghi nhận những hậu qủa bất lợi đối với sức khỏe
do công tác quản lý yếu kém đối với các chất thải gây độc gen
- Sự tồn lưu tác nhân gây bệnh trong môi trường
Các vi khuẩn có trong chất thải y tế, được phát thải ra trong môi trường, cóthời gian tồn lưu ngoài môi trường trong điều kiện tự nhiên Thời gian tồn lưu ngoàimôi trường có giới hạn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ yếu là yếu tố lý học, hóahọc môi trường như nhiệt độ môi trường, hoạt độ nước, tia cực tím, pH của môitrường, oxy tự do,…
Virus viêm gan B khá bền vững trong điều kiện không khí khô và có thể tồnlưu trong nhiều tuần lễ trên một số các bề mặt vật ô nhiễm Loại tác nhân này có thểtồn lưu trong dung dịch sát khuẩn 70% cồn ethanol hay tồn tại tới 10 giờ trong nhiệt
độ 60oC Hiệp hội Nhật bản nghiên cứu về chất thải cho biết, tác nhân virus viêmgan B và C có thể tồn tại cả tuần lễ trong các giọt máu còn lưu lại trong kim tiêm
Virus HIV có thời gian tồn lưu ngắn hơn, chúng có thể tồn tại không quá 15phút khi bị tác động của cồn ethanol 70% hoặc là chỉ có thể tồn lưu từ 3-7 ngàytrong điều kiện nhiệt độ ngoại cảnh và chúng bị bất hoạt nhanh chóng tại nhiệt độ
56oC
Trên thực tế các tác nhân gây bệnh có trong bệnh phẩm, trong chất bài tiếtcủa bệnh nhân không phải lúc nào cũng quá nhiều do tác dụng điều trị của các loạithuốc tác dụng của các hóa chất khử trùng…Tuy nhiên, trong khía cạnh này, nênquan tâm cao tới sự lan truyền tác nhân gây bệnh như loài gián, loài ăn chất thốirữa, chuột, các loại côn trùng như ruồi, nhất à ở những nơi việc cô lập chất thải chưađược thực hiện đúng quy cách
Trang 201.2.3 Nguyên tắc phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn tại các
cơ sở y tế.
Theo quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ y tế ban hành kèm theo Quyếtđịnh số 43/2007/QĐ-BYT thì nguyên tắc về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưugiữ chất thải rắn tại các cơ sở y tế như sau:
- Phân loại chất thải rắn trong cơ sở y tế
+ Người làm phát sinh chất thải phải thực hiện phân loại ngay tại nơi phátsinh chất thải
+ Từng loại chất thải phải đựng trong các túi và thùng có mã mầu kèm biểutượng theo đúng quy định
- Thu gom chất thải rắn trong các cơ sở y tế
+ Nơi đăt thùng đựng chất thải:
Mỗi khoa, phòng phải xác định rõ vị trí đặt thùng đựng chất thải y tế chotừng loại chất thải, nơi phát sinh chất thải có loại thùng thu gom tương ứng
Nơi đặt thùng đựng chất thải phải có hướng dẫn cách phân loại và thu gom
Sử dụng thùng đựng chất thải theo đúng tiêu chuẩn quy định và phải vệ sinhhàng ngày
Túi sạch thu gom chất thải phải luôn có sẵn tại nơi chất thải phát sinh để thaythế cho túi cùng loại đã được chuyển về nơi lưu trữ tạm thời chất thải cơ sở y tế
Mỗi loại chất thải được thu gom vào các dụng cụ thu gom theo mã mầu quyđịnh và phải có dán nhãn hoặc ghi bên ngoài túi nơi phát sinh chất thải
Các chất thải y tế nguy hại không được để lẫn trong chất thải thông thường.Nếu vô tình để lẫn chất thải y tế nguy hại vào chất thải thông thường thì hỗn hợpchất thải đó phải được xử lý và tiêu hủy như chất thải y tế nguy hại
Lượng chất thải chứa trong mỗi túi chỉ đầy tới ¾ túi, sau đó buộc cổ túi lại.Tần suất thu gom: Hộ lý hoặc nhân viên được phân công hàng ngày chịutrách nhiệm thu gom các chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường từ nơichất thải phát sinh về nơi tập trung chất thải của khoa ít nhất 1 lần trong ngày và khicần
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao trước khi thu gom về nơi tập trung chấtthải của cơ sở y tế phải được xử lý ban đầu tại nơi phát sinh
Trang 21- Lưu trữ chất thải rắn tại các cơ sở y tế
+ Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phải lưu trữ trong cácbuồng riêng biệt
+ Chất thải để tái sử dụng, tái chế được lưu giữ riêng
+ Nơi lưu trữ chất thải tại các cơ sở y tế phải có đủ các điều kiện sau:
Cách xa nhà ăn, buồng bệnh, lối đi công cộng và khu vực tập trung đôngngười tối thiếu là 10m Có đường xe chuyển chở chất thải từ bên ngoài đến
Diện tích phù hợp với lượng chất thải phát sinh của cơ sở y tế
Nhà lưu trữ phải có mái che, có hàng rào bảo vệ, có cửa và có khóa Không
để súc vật, các loài gặm nhấm và người không có nhiệm vụ tự do xâm nhập
Có phương tiện rửa tay, phương tiện bảo hộ cho nhân viên, có dụng cụ hóachất làm vệ sinh
Có hệ thống rửa tay, phương tiện bảo hộ cho nhân viên, có dụng cụ hóa chấtlàm vệ sinh
Có hệ thống cống thoát nước, tường và nền chống thấm, thông khí tốt
Khuyến khích các cơ sở y tế lưu giữ chất thải trong nhà có bảo quản lạnh.+ Thời gian lưu giữ chất thải rắn tại các cơ sở y tế không quá 48 giờ
+ Lưu trữ chất thải trong nhà bảo quản lạnh hoặc thùng lạnh: thời gian lưutrữ có thể đến 72 giờ
+ Chất thải giải phẫu phải chuyển đi chôn hoặc tiêu hủy hàng ngày
+ Đối với các cở sở y tế có lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh dưới 5 kg/ngày, thời gian thu gom tối thiểu hai lần trong một tuần (Bộ y tế, 2007)
- Vận chuyển chất thải rắn trong các cơ sở y tế
+ Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phát sinh tại cáckhoa/phòng phải được vận chuyển riêng về nơi lưu trữ chất thải của cơ sở y tế ítnhất một lần một ngày và khi cần
+ Cơ sở y tế phải quy định đường vận chuyển và giờ vận chuyển chất thải.Tránh vận chuyển chất thải qua các khu vực chăm sóc người bệnh và các khu vựcsạch khác
+ Túi chất thải phải buộc kín miệng và được vận chuyển bằng xe chuyêndụng, không được làm rơi vãi, chất thải, nước thải và phát tán mùi hôi trong quátrình vận chuyển (Bộ Y tế, 2007)
Trang 22- Tiêu chuẩn các dụng cụ bao bì đựng và vận chuyển chất thải rắn y tế
+ Mã màu sắc:
Màu vàng đựng chất thải lây nhiễm
Màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình áp suất nhỏ
Màu đen đựngc hất thải hóa học nguy hại và chất thải phóng xạ
Màu trắng đựng chất thải táu chế
+ Tiêu chuẩn túi đựng chất thải:
Túi màu vàng và màu đen phải làm bằng nhựa PR hoặc PP, không dùng nhựaPVC
Thành túi dày tối thiếu 0,1mm, kích thước túi phù hợp với lượng chất thảiphát sinh, thể tích tối đa của túi là 0,1 m3
Bên ngoài túi phải có đường kẻ ngang ở mức ¾ túi và có dòng chữ:
“KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”
Các túi đựng chất thải phải tuân tuân theo hệ thống màu quy định
+ Tiêu chuẩn hộp đựng chất thải sắc nhọn:
Hộp màu vàng, thành và đáy cứng không bị xuyên thủng, có khả năng chốngthấm, kích thước phù hợp, có nắp đóng mở dễ dành, miệng hộp đủ lớn, có quai hoặckèm hệ thống cố định
Khi di chuyển vật sắc nhọn bên trong không bị đổ ra ngoài
Có dòng chữ “CHỈ ĐỰNG CHẤT THẢI SẮC NHỌN” và có vạch báo hiệu
ở mức ¾ hộp và có dòng chữ “KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”
Với cơ sở y tế dung máy tiêu hủy vật sắc nhọn thì hộp đựng chất thải nàyphải được làm bằng kim loại hoặc nhựa cứng
+ Tiêu chuẩn thùng đựng chất thải:
Phải làm bằng nhựa có tỷ trọng cao, thành dày và cứng hoặc bằng kim loại
có nắp đậy mở bằng đạp chân Những thùng thu gom có dung tích từ 50 lít trở lêncần có bánh xe đẩy
Thùng màu nào thì thu gom túi màu đó
Bên ngoài thùng có vạch báo hiệu ở mức ¾ thùng và ghi dòng chữ “KHÔNGĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”
Xe vận chuyển chất thải phải đảm bảo có thành, có nắp, có đáy kín, dễ chochất thải vào, dễ lấy chất thải ra, dễ làm sạch,dễ tẩy uế,dễ làm khô (Bộ Y tế, 2007)
1.3 Tổng quan về quản lý chất thải y tế
Trang 231.3.1 Tổng quan về quản lý chất thải y tế trên thế giới
Tất cả các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến việc quản lý chất thải đặcbiệt là chất thải y tế bới những đặc tính nguy hại của chúng có thể gây ra cho cộngđồng và môi trường Sự quan tâm của các quốc gia phát triển, nước có tiềm lực vàkinh tế về chất thải y tế cao hơn nhiều so với các quốc gia đang phát triển Một điều
dễ nhận thấy trên thực tế những nước có thu nhập cao thường tạo ra nhiều chất thảihơn nước có thu nhập trung bình và nước có thu nhập thấp, lượng chất thải được tạo
ra từ bệnh viện cấp trên cao hơn so với bệnh viện cấp dưới
Bảng 1.2: Khối lượng chất thải y tế phát sinh theo mức thu nhập của người dân
Chất thải y tế chung (kg/đầu người)
Chất thải y tế nguy hại (kg/đầu người)
Nước có thu nhập trung bình
Nước có thu nhập thấp
0,5 -3
(Nguồn: Ủy ban liên minh Châu Âu)
Trên thế giới, tùy từng điều kiện kinh tế xã hội và mức độ phát triển khoahọc kỹ thuật cũng với nhận thức về quản lý chất thải rắn y tế mà mỗi quốc gia cócách xử lý chất thải riêng của mình Các nước phát triển trên thế giới thường ápdụng đồng thời nhiều phương pháp để xử lý chat thải rắn y tế như thiêu đốt, hơinhiệt, vi sóng…trong khi đó tại các nước đang phát triển và các nước nghèo côngtác quản lý chất thải rắn y tế chưa thực sự quan tâm, chú trọng và đầu tư thích đáng
Về quản lý, một loạt những chính sách quy định, đã được ban hành nhằmkiểm soát chặt chẽ loại chất thải này Các hiệp ước ước quốc tế, các nguyên tắc,
Trang 24pháp luật và quy định về chất thải nguy hại, trong đó có cả chất thải bệnh viện cũngđược công nhân và thực hiện hầu hết các quốc gia trên thế giới
Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vậnchuyển các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng, cả với chất thải y tế.Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ cácquốc gia không có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc gia có điều kiệnvật chất kỹ thuật để xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt
Nguyên tắc proximiry: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần đượctiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt Tránh tình trạng chất thải bị lưugiữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường
Nguyên tắc polluter pay: Nếu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát sinh chấtthải phải chịu trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc đảm bảo an toàn vàgiữ cho môi trường trong sạch
Xử lý chất thải bệnh viện, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa học côngnghệ, nhiều nước trên thế giới đã có những biện pháp khác nhau để xử lý loại rácthải nguy hại này
Các nước phát triển:
Hiện tại trên thế giới ở hầu hết các quốc gia phát triển, trong bệnh viện cơ sởchăm sóc sức khỏe, hay những công ty đặc biệt xử lý loại phế thải y tế Đó là cácloại lò đốt ở nhiệt độ cao tùy theo loại phế thải từ 1000oC đến trên 4000oC Tuynhiên phương pháp này hiện nay vẫn còn đang tranh cãi về việc xử lý khi bụi saukhi đốt được thải hồi vào không khí Các phế thải y tế trong khí đốt, thải hồi vàokhông khí có nhiều hạt bụi li ti và các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trìnhthiêu đốt như axit clohidric, điôxin/furan, và một số kim loại độc hại như thủy ngân,chì hoặc asen, cadmi Do đó, tại Hoa Kỳ vào năm 1996, đã bắt đầu điều luật về khí
Trang 25thải của lò đốt và yêu cầu khí phải được giảm thiểu bằng hệ thống lọc hóa học và cơtùy theo loại phế thải
1.3.2 Tổng quan về quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
a Tình hình phát sinh chất thải rắn y tế tại Việt Nam
Hệ thống các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn toàn quốc đượcphân cấp quản lý theo tính chất chuyên khoa Cụ thể, Bộ Y tế quản lý 11 bệnh viện
đa khoa tuyến trung ương, 25 bệnh viện chuyên khoa tuyến trung ương, địa phươngquản lý 743 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh/thành phố, 239 bệnh viện chuyên khoatuyến tỉnh/thành phố, 595 bệnh viện đa khoa quận/huyện/thị xã và 11,810 trung tâm
y tế các cấp, các đơn vị khác quản lý 88 trung tâm/nhà điều dưỡng/bệnh viện tưnhân (Cục khám chữa bệnh-Bộ Y tế, 2009)
Mức độ đáp ứng nhu cầu chữa trị tính chung trong cả nước tăng lên rõ rệttrong những năm gần đây, năm 2005 là 17,7 giường bệnh/1 vạn dân, đến năm 2009
là 22 giường bệnh/1 vạn dân.Việc tăng số lượng giường bệnh thực tế do tăng nhucầu về khám chữa bệnh đồng nghĩa với việc tăng khối lượng chất thải y tế cần phải
xử lý
Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là bệnh viện, các cơ sở y tế khác như:trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khámngoại trú, trung tâm lọc máu…hầu hết các chất thải rắn y tế đều có tính chất độc hại
và tính đặc thù khác với các loại chất thải rắn khác
Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của Cục khám chữa bệnh-Bộ y tế Việnkiến trúc, Quy hoạch đô thị và Nông thôn-Bộ xây dựng, năm 2009-2010, tổnglượng chất thải rắn y tế trong toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày, trong đó có 16-
30 tấn/ngày là chất thải rắn y tế nguy hại Lượng chất thải rắn trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó chất thải rắn y tế nguy hại tính trung bình là 0,14-0,2kg/giường/ngày
Chất thải rắn y tế phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương,xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và tăng sốgiường bệnh; tăng cường sử dụng các sản phẩm dung một lần trong y tế; dân số giatăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế
Trang 26Bảng 1.3 : Khối lượng chất thải y tế của một số địa phương năm 2009
Loạ
i đô thị
Tỉnh/
Tp
Lượng CTR y tế (tấn/năm )
Loạ
i đô thị Tỉnh/ Tp
Lượng CTR y tế (tấn/năm )
Bạc
Tỉn
h có đô thị loại III
Ghi chú : (*) số liệu năm 2006; (**) số liệu
2007(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường địa phương 2006-2010, sở TNMT, các
địa phương 2010)
Trang 28Bảng 1.4 Sự biến động về khối lượng CTRNH phát sinh tại các cơ sở y tế
khác nhau
(kg/giường bệnh/ngày)
Năm 2010 (kg/giường bệnh/ngày)
MT, 2011)
+ Tính riêng cho 36 bênh viện thuộc Bộ y tế quản lý, theo khảo sát năm 2009tổng lượng rác thải y tế phát sinh trong 1 ngày là 31,68 tấn, trung bình là 1,53kg/giường/ngày Lượng chất thải phát sinh tính theo giường bệnh cao nhất là bệnhviện Chợ Rẫy 3,72 kg/giường/ngày, thấp nhất là bệnh viện Điều Dưỡng- Phục hồichức năng Trung ương và bệnh viện tâm thần Trung ương 2 với 0,01kg/giường/ngày
Trang 29+ Lượng chất thải rắn y tế phát sinh trong ngày khác nhau giữa các bệnh việntùy thuộc vào số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuậtchuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật tư tiêu hao được sử dụng
Theo kết quả khảo sát 834 bệnh viện của Viện Y học Lao Động và Vệ sinh Môi trường năm 2006 và báo cáo của các Sở Y tế từ các địa phương từ 2007-2009:
có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải trong đó 91,1% đã sử dụng cụtách riêng vật sắc nhọn Theo báo cáo kiểm tra của các tính và nhận xét của đoànkiểm tra liên Bộ, còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thảithông thường được đưa vào chất thải y tế nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý
Chất thải y tế đã được chứa trọng các thùng đựng chất thải Tuy nhiên, cácbệnh viện có các mức độ đáp ứng yêu cầu khác nhau, chỉ có một số ít bệnh viện cóthùng đựng chất thải theo đúng quy chế (bệnh viện trung ương và bệnh viện tỉnh)
Hầu hết ở các bệnh viện (90,9%) chất thải rắn được thu gom hàng ngày, một
số bệnh viện có diện tích chật hẹp nên gặp khó khăn trong việc thiết kế lối đi riêng
để vận chuyển chất thải Chỉ có 53% số bệnh viện chất thải được vận chuyển trong
xe có nắp đâỵ Có 53,4% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải có mái che, trong đó45,3% đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế
Công tác thu gom, lưu trữ chất thải rắn y tế nói chung đã được quan tâm bởicác cấp từ Trung ương đến địa phương, thể hiện ở mức độ thực hiện quy định ở cácbệnh viện khá cao
Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh thuộc sự quản lý của
Bộ Y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ sau đó xử
lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử lýchất thải đã được cấp phép tại các địa bàn cơ sở khám chữa bệnh
Trang 30Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở Y tế quản lý,công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển chất thải rắn chưa được chú trọng, đặc biệt
là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn (chất thải y tế thông thường, chấtthải y tế nguy hại…)
Phương tiện thu gom chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạttiêu chuẩn Nguyên nhân do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt này, do vậymua sắm phương tiện thu gom chất thải rắn đúng tiêu chuẩn của các bệnh viện gặpkhó khăn Theo bái cáo của JICA (2011), các cơ sở y tế của 5 thành phố điển hình làHải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các bệnhviện sử dụng thùng nhựa có xe, xe tay, các dụng cụ vận chuyển bằng tay khác Một
số khu vực lưu trữ chất thải rắn trước khi xử lý tại chỗ hoặc tại các khu vực xử lýbên ngoài được trang bị điều hòa và hệ thống thông gió theo quy định
Nhìn chung các phương tiện vận chuyển chất thải y tế còn thiếu, đặc biệt làcác xe chuyện dụng Hoạt động vận chuyển chất thải y tế nguy hại từ bệnh viện, cơ
sở y tế đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết do Công ty Môi trường đô thị đảm nhiệm,không có các trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn
b Tình hình quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
- Quản lý về mặt pháp luật:
Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của việc quản lý CTRYT và cónhững quy chế quản lý loại chất thải này trong khuôn khổ chung của các loại vănbản pháp lý Cụ thể nhất là Quyết định sô 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 vềviệc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế Đây có thể coi là văn bản pháp lý kháchi tiết và đầy đủ về cách thức quản lý chất thải y tế phù hợp nhất từ trước đến nay,ngoài ra còn nhiều văn bản khác như: Thông tư 12/2011/TT-BTNMT ngày14/4/2011 quy định về quản lý chất thải rắn; Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMTngày 26/12/2006 về việc ban hành danh mục quản lý chất thải nguy hại, QCVN02:2008/BTNMT- Quy cuẩn kỹ thuật quốc gia về khí khí thải lò đốt chất thải rắn ytế; QCVN 28:2010/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế…
Trang 31- Quản lý về mặt kỹ thuật:
+ Phân loại chất thải rắn y tế
Đa số bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải nguy hại tại nơi phát sinhnhưng việc phân loại còn sơ sài không theo quy chế Hệ thống ký hiệu, màu sắc củatúi và thùng đựng chất thải khi ban hành quy chế quản lý chất thải chưa thống nhất.Còn nhiều bệnh viện chưa tách các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế làm tăngnguy cơ rủi ro cho những người trực tiếp vận chuyển và tiêu hủy chất thải Trong sốcác bệnh viện đã tách riêng vật sắc nhọn nhưng chưa thu gom vật sắc nhọn theođúng tiêu chuẩn quy định, đa số các bệnh viện thường đựng vào các vật tự tạo nhưchai truyền dịch, chai nhựa đựng nước khoáng…(Nguyễn Huy Nga, 2004)
+ Thu gom chất thải rắn y tế:
90,9 % các bệnh viện tiến hành thu gom chất thải rắn hàng ngày Tuy nhiên,phương tiện thu gom chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêuchuẩn Có 63,3% sử dụng túi nhựa làm bằng PE,PP Chi có 29,3% sử dụng túi cóthành dày theo đúng quy định Chất thải y tế được chưa trong các thùng đựng chấtthải Tuy nhiên chỉ có một số ít bệnh viện có thùng đựng chất thải theo đúng quychế (bệnh viện TW và bệnh viện tỉnh)
Trang 321.4 Cơ sở pháp lý liên quan tới quản lý, xử lý chất thải y tế tại Việt Nam
Trong những năm qua Quốc hội, Chính phủ và Bộ Y tế đã ban hành nhiềuvăn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường cũng như quản lý chất thải y tếnói chung và chất thải y tế nguy hại nói riêng Tính đến cuối năm 1999 đã có hơn 50văn bản liên quan đến việc quản lý chất thải sau đây là các văn bản pháp quy quantrọng cần lưu ý:
- Luật bảo vệ môi trường do Quốc hội ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005
đã quy định rõ trong điều 39 là bệnh viện và các cơ sở y tế phải:
+ Có hệ thống hoặc biện phá thu gom, xử lý nước thải y tế và vận hànhthường xuyên, đạt tiêu chuẩn môi trường
+ Bố trí thiết bị chuyện dụng để phân loại bệnh phẩm, rác thải y tế tại nguồn.+ Có biện pháp xử lý, tiêu hủy bệnh phẩm, rác thải y tế, thuốc hết hạn sửdụng bảo đảm vệ sinh, tiêu chuẩn môi trường
+ Có kế hoạch, trang thiết bị phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường do chấtthải y tế gây ra
+ Chất thải rắn, nước thải sinh hoạt của bệnh nhân phải được xử lý sơ bộ loại
bỏ các mầm bệnh có nguy cơ lây nhiễm trước khi chuyển về cơ sở xử lý, tiêu hủytập trung
- Nghị quyết 41/NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị vềbảo vệ môi môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước:
Một trong những nhiệm vụ cần thiết là tăng cường kiểm soát ô nhiễm tạinguồn, chú trọng quản lý chất thải, nhất là chất thải nguy hại dịch vụ y tế
- Quyết định 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y tế vềQuy chế Quản lý chất thải Y tế: quy định chi tiết về phân loại, thu gom, vận chuyển
và xử lý chất thải rắn cũng như các quy định liên quan tới việc thu gom, xử lý vàyêu cầu của hệ thống xử lý nước thải bệnh viện
Quyết đinh này đã được coi là nền tảng cơ bản cho việc quản lý chất thải y tế
và đầu tư cơ sở hạ tầng để xử lý chất thải rắn, lỏng và khí có nguồn gốc từ các cơ sở
y tế
Trang 33- Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 9 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ vềquản lý chất thải rắn: Quy định chất thải rắn (thông thường và nguy hại) phải đượckiểm soát và phân loại tại nguồn.
- Thông tư 12/2006/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng
Bộ Tài nguyên và Môi trường về “Hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ
sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại”: hướng dẫn điềukiện hành nghề vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải nguy hại; thủ tục lập hồ sơ,đăng ký chủ nguồn thải nguy hại, cấp mã số quản lý chất thải nguy hại
- Thông tư 18/2009/TT-BYT ngày 14 tháng 10 năm 2009 của Bộ Y tế về
“Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sởkhám, chữa bệnh”: trang bị đầy đủ phương tiện vệ sinh môi trường thích hợp vàchuyên dụng, tổ chức thực hiện việc quản lý chất thải y tế theo đúng quy định, cơ sở
hạ tầng đảm bảo xử lý an toàn chất thải lỏng, chất thải rắn và chất thải khí theo quyđịnh về quản lý chất thải y tế
- Quyết định số 798/QĐ-TTg, ngày 25/5/2011 của Thủ tướng chính phủ đãban hành về việc phê duyệt chương trình đầu tư xử lý chất thải rắn cho giai đọan
2011 đến 2020 Theo quyết định này, mục tiêu của Chính phủ là trong giai đoạn đầu(2011-2015) 85% tổng lượng chất thải y tế không độc hại sẽ được thu gom và xử lýđạt tiêu chuẩn môi trường quốc gia hiện có và 85% tổng lượng chất thai y tế vàcông nghiệp độc hại sẽ được thu gom và xử lý Trong giai đoạn hai (2016-2020),phấn đấu thu gom và xử lý theo các tiêu chuẩn hiện hành 100% tổng lượng chất thải
y tế nguy hại và không nguy hại từ các cơ sở y tế và bệnh viện
1.5 Tổng quan về cơ sở nghiên cứu
Trang 34- Phía Bắc: giáp vườn hoa công viên 1-6
- Phía Đông: giáp ngõ 192 Nguyễn Lương Bằng
- Phía Tây: giáp nhà dân
- Phía Nam: nhà thờ Thái Hà
Giấy chứng nhận quyền quản lý, sử dụng Nhà đất thuộc trụ sở làm việc thuộc
sở hữu nhà nước sô 058891 do Sở Tài chính Hà Nội cấp ngày 23/12/2004
Vị trí bệnh viện đa khoa Đống Đa Hà Nội (bản đồ vệ tinh)
Trang 35
Vị trí bệnh viện đa khoa Đống Đa Hà Nội (bản dồ vệ tinh tiếp)
Trang 361.5.4 Lĩnh vực hoạt động của bệnh viện
Số giường bệnh hiện nay là 283 giường chia làm 20 khoa phòng trong đó 10khoa lâm sàng (bao gồm khoa khám bệnh), 5 khoa cận lâm sàng, 5 phòng chứcnăng
Tổng cán bộ nhân viên hiện nay khoảng 396 người (bao gồm cả lao độnghợp đồng biên chế) Bệnh viện được giao phục vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
Hà Nội, đặc biệt là 2 quận Đống Đa và Thanh Xuân, cùng các huyện ngoại thànhlân cận Hàng năm, bệnh viện đa khoa Đống Đa khám và điều trị cho hàng chục vạnlượt bệnh nhân, chữa khỏi hàng ngàn ca bệnh hiểm nghèo (sốc nhiễm khuẩn, nhồimáu cơ tim, hen phế quản ác tính, điện giật, xuất huyết tiêu hóa nặng, đột quỵ,…)trả lại sinh mạng cho người bệnh Đi đầu là khoa hồi sức cấp cứu (được coi là cơ sởhai của khoa Hồi sức cấp cứu bệnh viện Bạch Mai) và khoa Nội Đồng thời, bệnhviện đã từng bước đầu tư kỹ thuật và đạt được những tiến bộ rõ rệt về trình độchuyên môn của tập thể y-bác sĩ và hộ lý Trong quy hoạch phát triển hệ thống y tếcủa Việt Nam, Hà Nội được xác định là trung tâm y tế chuyên sau của phía Bắc,bệnh viện đa khoa Đống Đa cũng đã và đang đảm nhiệm những chuyên khoa sâucủa Y tế Hà Nội như Mắt, Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới,…và đặc biệt là cơ sởchính quản lý, khám, điều trị bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS trên toàn thành phố Quyhoạch mạng lưới các công trình y tế trên địa bàn Hà Nội đã khẳng định, trong thờigian tới, bệnh viện Đa khoa Đống Đa sẽ vẫn tồn tại trên địa bàn hiện tại, được hiệnđại hóa và là một mắt xích quan trọng trong mạng lưới này
Bố trí các phòng chức năng của bệnh viện đa khoa Đống Đa như bảng 1.1
Bảng 1.5: Bố trí các phòng, khoa chức năng của bệnh viện đa khoa Đống Đa
Trang 37Tầng 1 Khám nội, khám nhi, cấp cứu, khám ngoại
Trang 40Khu vực sạch 1 Phòng tiền mê mổ hữu khuẩn 20
2 Phòng tiền mê mổ vô khuẩn kết hợp với hành lang sạch
2 Phòng hậu phẫu vô khuẩn 2 phòng x 22m 2
3 Phòng hậu phẫu hữu khuẩn 20