1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

thu hút đầu tư nước ngoài FDI và thực trạng ở Việt Nam

34 452 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 275,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức truyền thống và phổ biến của FDI. Với hình thức này, các nhà đầu tư, cùng với việc chú trọng khai thác những lợi thế của địa điểm đầu tư mới, đã nỗ lực tìm cách áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý trong hoạt động kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất. Hình thức này phổ biến ở quy mô đầu tư nhỏ nhưng cũng rất được các nhà đầu tư ưa thích đối với các dự án quy mô lớn. Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia thường đầu tư theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và họ thường thành lập một công ty con của công ty mẹ xuyên quốc gia. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài nhưng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại (nước nhận đầu tư). Là một pháp nhân kinh tế của nước sở tại, doanh nghiệp phải được đầu tư, thành lập và chịu sự quản lý nhà nước của nước sở tại. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, nhà đầu tư phải tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Về hình thức pháp lý, dưới hình thức này, theo Luật Doanh nghiệp 2005, có các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần…

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng

Biểu đồ

Trang 2

I - Tổng quan về FDI

I.1Khái niệm và bản chất

Khái niệm

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ

sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia, chủ yếu do các pháp nhân hoặc thể nhân thực hiện theo những hình thức nhất định trong đó chủ đầu tư tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tư

Xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, FDI nhanh chóng khẳng định được vị trí của mình trong hệ thống các quan hệ kinh tế quốc tế Đến nay khi FDI đã trở thành xu hướng của thời đại thì cũng là một nhân tố quan trọng góp phần đẩy mạnh lợi thế so sánh của các nước và mang lại quyền lợi cho cả đôi bên

• Có kèm theo quyền chuyên giao công nghệ và kỹ năng quản lí

• Có liên quan đến việc mở rộng thị trường của các công ty đa quốc gia

• Gắn liên với sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế và thương mại quốc tế

1.2 Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài

Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức truyền thống và phổ biến của FDI Với hình thức này, các nhà đầu tư, cùng với việc chú trọng khai thác những lợi thế của địa điểm đầu tư mới, đã nỗ lực tìm cách áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý trong hoạt động kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất Hình thức này phổ biến ở quy mô đầu tư nhỏ nhưng cũng rất được các nhà đầu tư ưa thích đối với các dự án quy mô lớn Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia thường đầu tư theo hình

Trang 3

thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và họ thường thành lập một công ty con của công ty mẹ xuyên quốc gia.

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài nhưng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại (nước nhận đầu tư) Là một pháp nhân kinh tế của nước sở tại, doanh nghiệp phải được đầu tư, thành lập và chịu sự quản lý nhà nước của nước sở tại Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, nhà đầu tư phải tự quản

lý, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Về hình thức pháp lý, dưới hình thức này, theo Luật Doanh nghiệp 2005, có các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần…

Hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài có ưu điểm là nước chủ nhà không cần bỏ vốn, tránh được những rủi ro trong kinh doanh, thu ngay được tiền thuê đất, thuế, giải quyết việc làm cho người lao động Mặt khác, do độc lập về quyền sở hữu nên các nhà đầu tư nước ngoài chủ động đầu tư và để cạnh tranh, họ thường đầu tư công nghệ mới, phương tiện kỹ thuật tiên tiến nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao, góp phần nâng cao trình

độ tay nghề người lao động Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước chủ nhà khó tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý và công nghệ, khó kiểm soát được đối tác đầu tư nước ngoài và không có lợi nhuận

Thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài

Đây là hình thức được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ trước tới nay Hình thức này cũng rất phát triển ở Việt Nam, nhất là giai đoạn đầu thu hút FDI DNLD là doanh nghiệp được thành lập tại nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa Bên hoặc các Bên nước chủ nhà với Bên hoặc các Bên nước ngoài để đầu tư kinh doanh tại nước sở tại

Như vậy, hình thức DNLD tạo nên pháp nhân đồng sở hữu nhưng địa điểm đầu tư phải ở nước sở tại Hiệu quả hoạt động của DNLD phụ thuộc rất lớn vào môi trường kinh doanh của nước sở tại, bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, mức độ hoàn thiện pháp luật, trình độ của các đối tác liên doanh của nước sở tại Hình thức DNLD có những ưu điểm

là góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn, nước sở tại tranh thủ được nguồn vốn lớn để

Trang 4

hóa sản phẩm; tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm quản lý của nước ngoài; Nhà nước của nước sở tại dễ dàng hơn trong việc kiểm soát được đối tác nước ngoài Về phía nhà đầu tư, hình thức này là công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả, tạo thị trường mới, góp phần tạo điều kiện cho nước sở tại tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là thường dễ xuất hiện mâu thuẫn trong điều hành, quản lý doanh nghiệp do các bên có thể có sự khác nhau về chế độ chính trị, phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, luật pháp Nước sở tại thường rơi vào thế bất lợi do tỷ lệ góp vốn thấp, năng lực, trình độ quản lý của cán bộ tham gia trong DNLD yếu.

Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân

Hình thức đầu tư này có ưu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, công nghệ; tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự án của nước sở tại, thu lợi nhuận tương đối ổn định Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước sở tại không tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý; công nghệ thường lạc hậu; chỉ thực hiện được đối với một số

ít lĩnh vực dễ sinh lời như thăm dò dầu khí

Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân riêng và mọi hoạt động BCC phải dựa vào pháp nhân của nước sở tại Do đó, về phía nhà đầu tư, họ rất khó kiểm soát hiệu quả các hoạt động BCC Tuy nhiên, đây là hình thức đơn giản nhất, không đòi hỏi thủ tục pháp lý rườm rà nên thường được lựa chọn trong giai đoạn đầu khi các nước đang phát triển bắt đầu có chính sách thu hút FDI Khi các hình thức 100% vốn hoặc liên doanh phát triển, hình thức BCC có xu hướng giảm mạnh

Trang 5

Hình thức BOT, BTO, BT có các đặc điểm cơ bản: một bên ký kết phải là Nhà nước; lĩnh vực đầu tư là các công trình kết cấu hạ tầng như đường sá, cầu, cảng, sân bay, bệnh viện, nhà máy sản xuất, điện, nước ; bắt buộc đến thời hạn phải chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước.

Ưu điểm của hình thức này là thu hút vốn đầu tư vào những dự án kết cấu hạ tầng, đòi hỏi lượng vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian dài, làm giảm áp lực vốn cho ngân sách nhà nước Đồng thời, nước sở tại sau khi chuyển giao có được những công trình hoàn chỉnh, tạo điều kiện phát huy các nguồn lực khác để phát triển kinh tế Tuy nhiên, hình thức BOT có nhược điểm là độ rủi ro cao, đặc biệt là rủi ro chính sách; nước chủ nhà khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lý, công nghệ

Đầu tư mua cổ phần hoặc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp

Đây là hình thức thể hiện kênh đầu tư Cross - border M & As đã nêu ở trên Khi thị trường chứng khoán phát triển, các kênh đầu tư gián tiếp (FPI) được khai thông, nhà đầu

tư nước ngoài được phép mua cổ phần, mua lại các doanh nghiệp ở nước sở tại, nhiều nhà đầu tư rất ưa thích hình thức đầu tư này

Ở đây, về mặt khái niệm, có vấn đề ranh giới tỷ lệ cổ phần mà nhà đầu tư nước ngoài mua - ranh giới giúp phân định FDI với FPI Khi nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán nước sở tại, họ tạo nên kênh đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) Tuy nhiên, khi tỷ lệ sở hữu cổ phiếu vượt quá giới hạn nào đó cho phép họ có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp thì họ trở thành nhà đầu tư FDI Luật pháp Hoa Kỳ và nhiều nước phát triển quy định tỷ lệ ranh giới này là 10% Đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, tỷ lệ này được quy định là 30%

Hình thức mua cổ phần hoặc mua lại toàn bộ doanh nghiệp có ưu điểm cơ bản là

để thu hút vốn và có thể thu hút vốn nhanh, giúp phục hồi hoạt động của những doanh nghiệp bên bờ vực phá sản Nhược điểm cơ bản là dễ gây tác động đến sự ổn định của thị trường tài chính Về phía nhà đầu tư, đây là hình thức giúp họ đa dạng hoá hoạt động đầu

tư tài chính, san sẻ rủi ro nhưng cũng là hình thức đòi hỏi thủ tục pháp lý rắc rối hơn và thường bị ràng buộc, hạn chế từ phía nước chủ nhà

1.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm chủ yếu sau:

Trang 6

Thứ nhất, gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư, tức là tiền và các loại tài sản

khác giữa các quốc gia, hệ quả là làm tăng lượng tiền và tài sản của nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư và làm giảm lượng tiền và tài sản nước đi đầu tư

Thứ hai, được tiến hành thông qua việc bỏ vốn thành lập các doanh nghiệp mới

(liên doanh hoặc sở hữu 100% vốn), hợp đồng hợp tác kinh doanh, mua lại các chi nhánh hoặc doanh nghiệp hiện có, mua cổ phiếu ở mức khống chế hoặc tiến hành các hoạt động hợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp

Thứ ba, nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoàn toàn vốn đầu tư hoặc cùng sở

hữu vốn đầu tư với một tỷ lệ nhất định đủ mức tham gia quản lý trực tiếp hoạt động của doanh nghiệp

Thứ tư, là hoạt động đầu tư của tư nhân, chịu sự điều tiết của các quan hệ thị

trường trên quy mô toàn cầu, ít bị ảnh hưởng của các mối quan hệ chính trị giữa các nước, các chính phủ và mục tiêu cơ bản luôn là đạt lợi nhuận cao

Thứ năm, nhà đầu tư trực tiếp kiểm soát và điều hành quá trình vận động của dòng

vốn đầu tư

Thứ sáu, FDI bao gồm hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào trong nước và đầu tư

từ trong nước ra nước ngoài, do vậy bao gồm cả vốn di chuyển vào một nước và dòng vốn

di chuyển ra khỏi nền kinh tế của nước đó

Thứ bảy, FDI chủ yếu là do các công ty xuyên quốc gia thực hiện.

Các đặc điểm nêu trên mang tính chất chung cho tất cả các hoạt động FDI trên toàn thế giới Đối với Việt Nam, quá trình tiếp nhận FDI diễn ra đã được 20 năm và những đặc điểm nêu trên cũng đã thể hiện rõ nét Chính những đặc điểm này đòi hỏi thể chế pháp lý, môi trường và chính sách thu hút FDI phải chú ý để vừa thực hiện mục tiêu thu hút đầu

tư, vừa bảo đảm mối quan hệ cân đối giữa kênh đầu tư FDI với các kênh đầu tư khác của nền kinh tế

1.4 Sự tác động của đầu tư trực tiếp

Hoạt động FDI có tình hai mặt với nước đầu tư cũng như nước tiếp nhận đầu tư đều có tác động tiêu cực và tác động tích cực

1.4.1 Sự tác động của nước đi đầu tư

1.4.1.1 Tác động tích cực

Trang 7

Do đầu tư là người nước ngoài là người trực tiếp điều hành và quản lí vốn nên họ

có trách nhiệm cao, thường đưa ra những quyết định có lợi cho họ Vì thế họ có đảm bảo hiệu quả của vốn FDI đầu tư nước ngoài mở rộng được thị trường tiêu thị sản phẩm nguyên liệu, cả công nghệ và thiết bị trong khu vực mà họ đâù tư cũng như trên thế giới

Do khai thác được nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động rẻ, thị trường tiêu thụ rộng lớn nên có thể mở rộng quy mô, khai thác được lợi thế kinh tế của quy mô từ đó có thể nâng cao năng suất, giảm giá thành sản phẩm Tránh được các hàng rào bảo hộ mâu dịch

và phí mậu dịch của nước tiếp nhận đầu tư với thông qua FDI chủ đầu tư hay doanh nghiệp nước ngoài xây dựng được các doanh nghiệp của mình nằm trong lòng nước thì hành chính sách bảo hộ

1.4.1.2 Tác động tiêu cực

Khi các doanh nghiệp thực hiện việc đầu tư ra nước ngoài thì trong nứơc sẽ mất đi khoản vốn đầu tư, khó khăn hơn trong việc tìm nguồn vốn phát triển cũng như giải quyết việc làm do đó trong nước có thể dẫn tới nguy cơ suy thoái, vì thế mà nước chủ nhà không đưa ra những chính sách khuyên khích cho việc đầu tư ra nước ngoài đâù tư ra nước ngoài thì doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn trong môi trường mới

về chính trị, sự xung đột vũ trang của các tổ chức trong các quốc gia hay những tranh chấp nội bộ của quốc gia hay đơn thuần chỉ là sự thay đổi trong chính sách và pháp luật của quốc gia tiếp nhận… tất cả những điều đó đều khiến cho các doanh nghiệp có thể rời vào tình trạng mất tài sản cơ sở hạ tầng Do vậy mà họ thường phải đầu tư vào các nước

ổn định về chính trị cũng như trong chính sách và môi trường kinh tế

1.4.2 Sự tác động đối với nước tiếp nhận đầu tư 1.4.2.1 Tác động tích cực

Nhờ nguồn vốn FDI đầu tư mà có thể có điều khiến tốt để khai thác tốt nhất các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lí Bởi các nước tiếp nhận thì thường là nước đang phát triển có tài nguyên song không biệt cách khai thác

Trang 8

Tạo điều kiện để khai thác được nguồn vốn từ bên ngoài do không quy định mức vốn góp tối đa mà chỉ quyết định mức vốn góp tối thiểu cho nhà đầu tư.

Thông qua việc hợp tác với doanh nghiệp nước ngoài hay cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài và tiếp thu được kỹ thuật công nghệ hiện đại hay tiếp thu được kính nghiệm quản lí kinh doanh của họ

Tạo điều kiện để tạo việc làm, tăng tốc độ tăng trưởng của đối tượng bỏ vốn cũng như tăng kim ngạch xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, qua đó nâng cao đời sống nhân dân

Khuyến khích doanh nghiêp trong nước tăng năng lực kinh doanh, cải tiến công nghệ mới nâng cao năng suất chất lượng giảm giá thành sản phẩm do phải cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài, một mặt khác thông qua hợp tác với nước ngoài có thể mở rộng thị trường thông qua tiếp cận với bạn hàng của đối tác đầu tư

1.4.2.2 Tác động tiêu cực

Nếu không có quy hoạch cụ thể và khoa học, có thể đầu tư tràn lan kém hiệu qua, tài nguyên thiên nhiên có thể bị khai táhc bừa bại về sẽ gây ra ô nhiễm môi trường nghiệm trọng

Môi trường chính trị trong nước có thể bị ảnh hưởng, các chính sách trong nước có thể bị thay đổi do khi đầu tư vào thì các nhà đầu tư thường có các biện pháp vận động quan chức địa phường theo hướng có lợi cho mình

Hiệu quả của đầu tư phụ thuộc vào nước tiếp nhận có thể tiếp nhận từ các nước đi đầu tư những công nghệ thiết bị lạc hậu không phù hợp với nền kinh tế gây ô nhiễm môi trường

Các lĩnh vực và địa ban đầu tư phục thuộc vào sự lựa chọn của nhà đầu tư nước ngoài mà không theo ý muốn của nước tiếp nhận Do vậy việc bổ trí cơ cấu đầu tư sẽ gặp khó khắn sẽ tạo ra sự phát triển mất cân đối giữa các vùng

Trang 9

Giảm số lượng doanh nghiệp trong nước do quá trình cạnh tranh nên nhiều doanh nghiệp trong nước bị phá sản hay ảnh hưởng tới can cần thành toán quốc tế do sự di chuyển của các luồng vốn cũng như luồng hàng hoá ra vào trong nước.

Ngày này hầu hết việc đàu tư là của các công ty đa quốc gia vì thế các nước tiếp nhận thường bị thua thiệt, thất thu thuế hay các liên doanh sẽ phải chuyển thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài do các vấn đề chuyển nhượng giá nội bộ của các công ty này

1.5 Xu hướng đầu tư trên thế giới

Các quốc gia trên thế giới đang có xu hướng đầu tư vào Việt Nam

Việt Nam có tiềm năng rất lớn để tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên vấn đề quan trọng

và cấp bách hiện nay là làm sao để cân đối giữa kiềm chế lạm phát và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững

Đó là nhận xét của cựu Thượng Nghị sĩ Mỹ Paul Sarbanes, đồng tác giả của Đạo luật Sarbanes-Oxley về bảo hiểm cho các nhà đầu tư, tại Hội nghị Thượng đỉnh Ngân hàng Châu Á (Asian Banker Summit 2008) tổ chức lần đầu tiên tại Hà Nội từ 17-18/3

Ông Paul Sarbanes cho rằng để kiềm chế lạm phát ngoài việc thắt chặt chính sách tiền tệ cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, đặc biệt chú trọng đến yếu tố con người, chất lượng quản lý và xây dựng hệ thống tài chính tổng thể

Chia sẻ quan điểm này, ông David Eldon - Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Hội nghị thượng đỉnh Asian Banker, cựu Chủ tịch Ngân hàng HSBC cho biết, cần phải có thời gian

để nền kinh tế thích nghi với các thay đổi trong thời kỳ hội nhập quốc tế và áp dụng các biện pháp của các nước đã trải qua thời kỳ phát triển giống như Việt Nam hiện nay

Hiện nay nhiều doanh nghiệp từ các quốc gia trên thế giới đang có xu hướng đầu

tư vào Việt Nam, đặc biệt là thị trường tài chính ngân hàng - một lĩnh vực còn mới mẻ và đầy hứa hẹn, ông David nói

Đề cập đến việc áp dụng các giải pháp công nghệ trong hiện đại hoá ngân hàng, ông cho rằng hiện có hai xu hướng, một là với quy mô lớn, ngân hàng sẽ tự đầu tư công nghệ Hai là với quy mô nhỏ hơn, họ sẽ hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ thông tin

và nhà cung cấp giải pháp, như vậy sẽ dễ dàng cập nhật thường xuyên và đổi mới công nghệ

Trang 10

Asian Banker Summit đã tạo ra một cơ hội tốt để cộng đồng quốc tế hiểu thêm về

hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính Việt Nam, đồng thời giúp các ngân hàng Việt Nam tiếp cận và hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế

Phát biểu bên lề Hội nghị, Ông Emmual Daniel, Chủ tịch và Tổng Biên tập Tạp chí The Asian Banker, cho rằng với lợi thế về nguồn nhân lực và nền kinh tế đang trên đà phát triển cùng với các cam kết WTO, Việt Nam sẽ trở thành nước có nhiều tiềm năng và

sẽ đạt được tốc độ kinh tế phát triển cao trong những năm tới Việt Nam cũng đang phải đối mặt với một số thách thức, trong đó lớn nhất là các thông điệp gửi tới các nhà đầu tư nước ngoài chưa rõ ràng và các hoạt động an ninh và bảo mật dữ liệu chưa hiệu qủa

Tuy nhiên, ông cũng bày tỏ tin tưởng rằng Việt Nam sẽ vượt qua được các thách thức này vì con người Việt Nam rất chăm chỉ, năng động và thông minh và Chính phủ Việt Nam luôn sẵn sàng hỗ trợ các doanh nghiệp trong và ngoài nước

II – Phân tích thực trạng đầu tư FDI tại Việt Nam trong những năm qua

2.1 Tình hình chung về FDI của Việt Nam

Trong vòng 28 năm kể từ khi Luật đầu tư nước ngoài có hiệu lực (1988-2016), Việt Nam đã thu hút được khối lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào Việt Nam là hơn 260,9 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện là hơn 124,2 Tỷ USD, chiếm 47,6 %, với khoảng 19.277 số dự án đầu tư vào Việt Nam

Vào ngày 11/1/2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO.Sự kiện này mở ra cơ hội mới cho sự phát triển đất nước và cả những thách thức cần phải vượt qua khi VN được tham gia vào tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu Vì vậy tổng số vốn đăng ký, tổng vốn thực hiện, số dự án đầu tư vào Việt Nam cũng có xu hướng tăng lên mạnh mẽ Từ năm 2006-2009, tổng vốn đăng ký tăng lên khoảng 128 tỷ USD ( gấp khoảng 6 lần giai đoạn 2001-2005), tổng vốn thực hiện là khoảng 33.7 tỷ USD, trong đó

có 4910 số dự án đầu tư mới vào Việt Nam

Trang 11

Biều đồ 2.: Đầu tư của khu vực FDI giai đoạn 2010 – 2014

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm ngày 15/12/2015 thu hút 2013 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 15,58 tỷ USD, tăng 26,8% về

số dự án và giảm 0,4% về số vốn so với cùng kỳ năm 2014 Tổng vốn đăng ký của các dự

án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 22,76 tỷ USD, tăng 12,5% so với năm 2014 Vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2015 ước tính đạt 14,5 tỷ USD, tăng 17,4% so với năm trước Nhìn chung, môi trường đầu tư trong năm qua có chuyển biến tốt, các nhà đầu

tư nước ngoài cũng lạc quan hơn về tình hình kinh tế Việt Nam Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, cộng đồng AEC, Hiệp định xuyên Thái Bình Dương ( TPP), EVFTA, các AFTA gần đây với Hàn Quốc được thành lập, Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội hơn nữa trong việc tiếp cận với các nguồn vốn

Bảng 2.: Bảng số liệu đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam quý I/2016

Vốn đăng ký

(triệu USD)

Vốn thực hiện

Trang 12

2.1.1 Quy mô vốn trên một dự án.

Nhìn chung các dự án FDI vào Việt Nam đều có quy mô vừa và nhỏ, trung bình cho cả giai đoạn 1988-2014 là ở mức 14,22 triệu USD/dự án Quy mô bình quân

dự án chiếm lớn nhất là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (nếu không tính tới khu vực dầu khí) mà chủ yếu tập trung ở năm 2008, với các dự án lớn nhất nước đều tập trung ở vùng này

FDI tính bình quân tỉnh (thành phố) cho thấy vùng đồng bằng sông Hồng đứng đầu với bình quân mỗi tỉnh thành thu hút được 16,5 tỷ USD và thấp nhất là vùng Tây Nguyên với FDI bình quân chỉ đạt 163,35 triệu USD Với những số liệu trên cho thấy sự chênh lệch FDI giữa các vùng ở Việt Nam khá lớn, địa phương cao nhất có sự chênh lệch gấp hơn 100 lần so với địa phương thấp nhất Điều đó thể hiện sự chênh lệch của dòng chảy FDI vào Việt Nam theo đặc tính

2.1.2 Hình thức đầu tư

Cục Đầu tư nước ngoài cho biết, tính đến tháng 10/2014, các nhà đầu tư nước ngoài đến từ 101 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam dưới 6 hình thức Trong đó, hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài chiếm ưu thế cả về số lượng dự án lẫn tổng vốn đầu tư đăng ký, vượt trội hơn hẳn các hình thức đầu tư còn lại do đây là hình thức mang lại quyền quản lý cũng như tỷ lệ phân chia lợi nhuận tối đa cho nhà đầu tư FDI Thêm vào

đó, khi các MNEs đã có những hiểu biết nhất định về thị trường Việt Nam thì lợi thế của hình thức DN liên doanh, hình thức đầu tư FDI của đạo vào Việt Nam trong giai đoạn

1988 – 1996 bị mất đi Và với sự mở rộng về hành lang pháp lý của Việt Nam với mọi loại hình đầu tư FDI, sự đi lên về tỷ trọng của hình thức DN 100% vốn nước ngoài là tất yếu Cùng với đó hình thức đầu tư qua DN liên doanh dần trở nên kém hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài Hai hình thức đầu tư FDI còn lại là hợp đồng hợp tác kinh doanh,

và cổ phần có sự đóng gốp nhỏ hơn Đặc biệt, cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam kể từ khi nước ta gia nhập WTO, hình thức vốn cổ phần ngày càng được

ưa chuộng

Cụ thể, lũy kế đến nay, cả nước đã thu hút được 17.219 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký lên tới trên 244 tỷ USD Dẫn

Trang 13

đầu là các dự án FDI đầu tư dưới hình thức 100% vốn nước ngoài với 13.886 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 166,35 tỷ USD (chiếm 81% tổng số dự án và 68% tổng vốn đầu tư đăng ký của cả nước).

Hình thức liên doanh đứng thứ hai với 2.912 dự án và 59,8 tỷ USD vốn đăng ký (chiếm 17% tổng số dư án và 25% tổng vốn đầu tư đăng ký) Tiếp theo là 4 hình thức đầu

tư còn lại, lần lượt theo thứ tự là: Hình thức Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), xây dựng - chuyển giao (BT) có 12 dự án với 8,17 tỷ USD vốn đầu tư đăng

ký Hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 215 dự án với 5,13 tỷ USD

Biều đồ 2.: Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 2014

Nguồn : cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

2.1.3 Theo ngành, lĩnh vực

Theo báo cáo của cục đầu tư nước ngoài, bộ kế hoạch và đầu tư, hơn 25 năm thu hút đầu tư FDI tính đến năm 2015, cơ cấu vốn đầu tư được chia làm 3 nhóm ngành: Công nghiệp – xây dựng, dịch vụ và nông – lâm – ngư nghiệp Trong đó, nhóm ngành công nghiệp – xây dựng chiếm ưu thế trong việc thu hút đầu tư FDI

Trang 14

Biểu 2.3: FDI theo lĩnh vực đầu tư 1988 – 2007

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Có thể nhận thấy, dòng vốn FDI chảy vào các ngành kinh tế có sự chênh lệch khá lớn giữa công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và nông lâm ngư nghiệp Các dự án FDI chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, trong đó có một loại hình dịch vụ được rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đó là bất động sản Điều này đã tạo nên tình trạng

“bong bóng” trên thị trường bất động sản, phần nào ảnh hưởng xấu đến tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam Mặt khác, ngành nông – lâm – ngư nghiệp thu hút vốn đầu tư khá hạn chế, ít hơn rất nhiều so với những ngành còn lại Mặt khác, cũng có sự chuyển dịch mạnh về nguồn vốn đầu tư FDI vào ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ

Bảng 2.: Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép phân theo ngành kinh tế

(Luỹ kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2014)

Vốn đăng ký (Triệu đô la Mỹ)

Tỉ trọng (%)

Trang 15

1 Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 3.721,8 1,47

4

Sản xuất và phân phối điện, khí đốt,

nước nóng, hơi nước và điều hoà

không khí

Trang 16

Một điều dễ nhận thấy nữa là dòng vốn FDI vào Việt Nam trong vài năm trở lại đây không chỉ thay đổi về lượng (vốn đầu tư) mà cả về chất (chiều sâu đầu tư) thông qua

sự có mặt của các tập đoàn nổi tiếng trong lĩnh vực điện tử, như: Intel, Compal, Foxconn, Samsung Đặc biệt trong năm 2008 còn xuất hiện dự án của các tập đoàn lớn, như Good Choi (Hoa Kỳ), Berjaya (Ma-lai-xi-a) v.v Điều này cho thấy, sau một thời gian nghiên cứu thị trường Việt Nam các tập đoàn nước ngoài đã quyết định đầu tư quy mô lớn, xem Việt Nam như một mắt xích trong chuỗi sản xuất toàn cầu Các dự án lớn nói trên sẽ kéo theo nhiều nhà sản xuất và cung cấp sản phẩm phụ trợ phục vụ sản xuất

Bảng 2.: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 11 tháng năm 2015 theo ngành

Số lượt

dự án tăng vốn

Vốn đăng

ký tăng thêm (triệu USD)

Vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm (triệu USD)

Ngày đăng: 19/06/2016, 20:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.: Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép phân theo ngành kinh tế - thu hút đầu tư nước ngoài FDI và thực trạng ở Việt Nam
Bảng 2. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép phân theo ngành kinh tế (Trang 14)
Bảng 2.: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 11 tháng năm 2015 theo ngành - thu hút đầu tư nước ngoài FDI và thực trạng ở Việt Nam
Bảng 2. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 11 tháng năm 2015 theo ngành (Trang 16)
Bảng 2.: 10 đối tác nước ngoài có lũy kế đầu tư thị trường nước ngoài lớn nhất. - thu hút đầu tư nước ngoài FDI và thực trạng ở Việt Nam
Bảng 2. 10 đối tác nước ngoài có lũy kế đầu tư thị trường nước ngoài lớn nhất (Trang 18)
Bảng 1 : FDI đăng ký vào các địa phương, tích lũy đến 2012. - thu hút đầu tư nước ngoài FDI và thực trạng ở Việt Nam
Bảng 1 FDI đăng ký vào các địa phương, tích lũy đến 2012 (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w