Trong suốt qúa trình thực hiện đề tài “Một số giải pháp nhằm khai thác và bảo tồn các di tích cổ ở Hải Phòng phục vụ cho hoạt động du lịch” bản thân em cũng đã cố gắng nỗ lực hoàn thành
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TỔNG CÔNG TY CP ĐIỆN TỬ VÀ TIN HỌC VIỆT NAM
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VIETTRONICS
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KHAI THÁC VÀ BẢO TỒN CÁC DI TÍCH CỔ Ở HẢI PHÒNG
PHỤC VỤ CHO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
Người hướng dẫn : TS Lê Thanh Tùng.
Đơn vị : Trường Đại học Dân lập Hải Phòng.
Sinh viên thực hiện: Đồng Thị Nga.
Lớp : 2VH10.
Ngành : Việt Nam Học.
Hải Phòng, tháng 6 năm 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với một sinh viên năm cuối, việc hoàn thành khóa luận tốt nghiệp là bướccuối cùng để em hoàn thành chương trình học của mình tại trường cao đẳng Đốivới em đó còn là cơ hội để thể hiện những kiến thức mà mình đã tiếp thu đượctrong suốt quá trình học tập
Trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận, em đã nhận được sự giúp đỡ,chỉ bảo, hướng dẫn rất nhiệt tình từ các thầy cô, bạn bè Lời cảm ơn sâu sắc nhất
em xin gửi tới Tiến sĩ Lê Thanh Tùng, người đã hướng dẫn và giúp đỡ em rấtnhiều trong suốt quá trình làm thực hiện bài khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn, nhà trường, cảm ơn các thầy cô trong trongkhoa quản trị kinh doanh, chuyên ngành văn hóa du lịch đã truyền đạt cho emnhiều kiến thức quý báu trong 3 năm học qua
Trong suốt qúa trình thực hiện đề tài “Một số giải pháp nhằm khai thác
và bảo tồn các di tích cổ ở Hải Phòng phục vụ cho hoạt động du lịch” bản
thân em cũng đã cố gắng nỗ lực hoàn thành tốt nhất bài khóa luận của mình, tuynhiên do khả năng nghiên cứu và thời gian còn hạn chế nên bài khóa luận chắcchắn không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ýkiến và thông cảm từ các thầy cô
Em xin trân trọng cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN 2
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 NHỮNG DI TÍCH CỔ Ở HẢI PHÒNG 8
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Thành phố Hải Phòng 8
1.2 Di tích cổ ở Hải Phòng 10
1.2.1 Di tích lịch sử văn hóa 10
1.2.2 Di tích lịch sử cách mạng 12
1.2.3 Di tích kiến trúc nghệ thuật 16
CHƯƠNG 2 CÁC CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC PHÁP Ở HẢI PHÒNG 19
2.1 Vài nét về kiến trúc Châu Âu và kiến trúc Pháp 19
2.1.1 Kiến trúc Châu Âu 19
2.1.2 Vài nét về kiến trúc Pháp 22
2.2 Quá trình du nhập, hình thành và phát triển của kiến trúc Pháp ở Hải Phòng 23
2.3 Kiến trúc Pháp ở Hải Phòng 25
2.3.1 Một số khu phố Tây ở Hải Phòng 25
2.3.2 Các công trình kiến trúc- văn hóa- nghệ thuật 30
2.3.3 Kiến trúc giao thông 35
2.3.4 Các công trình kiến trúc khác 40
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC CÁC CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC PHÁP PHỤC VỤ CHO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 45
3.1 Giải pháp bảo tồn các kiến trúc Pháp 45
3.1.1 Giải pháp bảo tồn nguyên trạng 45
3.1.2 Giải pháp cải tạo, khôi phục lại so với thực trang ban đầu 46
3.1.3 Giải pháp tái sử dụng, phối hợp, thay thế tính năng sử dụng 46
3.2 Giải pháp khai thác các kiến trúc Pháp trong hoạt động du lịch 47
Trang 43.2.1 Giới thiệu, quảng bá về các công trình kiến trúc Pháp tại Hải Phòng 47 3.2.2 Xây dựng tour du lịch lấy việc thăm quan các công trình kiến trúc Pháp làm
trọng tâm 47 3.2.3 Tăng cường liên kết, hợp tác 48 3.2.4 Xây dựng đội ngũ hướng dẫn viên chuyên về các kiến trúc Pháp 49 3.2.5 Ứng dụng kiến trúc Pháp trong các công trình đô thị, trong hệ thống nhà
hang, khách sạn 49
…………
KẾT LUẬN 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO 51 PHỤ LỤC 52
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Những năm gần đây Hải Phòng luôn là điểm đến lý tưởng của khách dulịch trong và ngoài nước Không chỉ có nhiều tiềm năng về cảnh quan thiênnhiên, Hải Phòng còn có hệ thống các di tích cổ Đó là những di tích lịch sử vănhóa như đình, đền, chùa, miếu…các di tích lịch sử cách mạng, các di chỉ khảo
cổ hay các công trình kiến trúc nghệ thuật Với những giá trị lịch sử, tâm linh,văn hóa, giá trị kiến trúc nghệ thuật… những di tích này cần được bảo tồn vàđược khai thác sử dụng một cách có hiệu quả Đặc biệt trong số các di tích cổ đó
có các công trình kiến trúc Pháp- một trong những vẻ đẹp làm nên sự khác biệtcủa đô thị Hải Phòng đó là pha trộn giữa 2 nền văn hóa Á- Âu, cổ kính với hiệnđại tạo cho thành phố một nét đẹp riêng biệt, vừa thanh lịch, vừa mạnh mẽ Đâycũng là yếu tố thu hút du khách, nhất là người nước ngoài muốn tìm hiểu, chiêmngưỡng
Trong khi đã có nhiều nghiên cứu về kiến trúc thời Pháp tại Hà Nội và TP
Hồ Chí Minh, thì kiến trúc Pháp tại Hải Phòng vẫn chưa được quan tâm tươngxứng với ý nghĩa và giá trị đặc sắc của nó Đến nay, Hải Phòng vẫn chưa xâydựng được quy hoạch bảo tồn một cách bài bản và đầy đủ, chưa có quy chế quản
lý cũng như giải pháp căn cơ để bảo tồn và phát huy giá trị của những công trìnhkiến trúc này
Chính vì những lý do trên, người viết đã quyết định lựa chọn đề tài “Một
số giải pháp nhằm khai thác và bảo tồn các di tích cổ ở Hải Phòng phục vụ
cho hoạt động du lịch” mà trọng tâm là “Một số giải pháp khai thác và bảo tồn
các công trình kiến trúc Pháp tại Hải Phòng trong phục vụ cho hoạt động du lịch” làm hướng nghiên cứu chính cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
Trang 6- Phân tích đặc điểm, giá trị của các công trình kiến trúc Pháp tại HảiPhòng để xác định chính xác hơn tiềm năng, giá trị của các kiến trúc, cảnh quan
và hoạt động của những công trình này
- Quản lý và phát huy giá trị di sản kiến trúc Pháp trong sự phát triển kinh
tế - xã hội, du lịch, phát triển đô thị liên tục của thành phố Hải Phòng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng: các công trình kiến trúc Pháp tại Hải Phòng trong hệ thốngcác di tích cổ ở Hải Phòng gồm các công trình kiến trúcvà cảnh quan đô thị
- Phạm vi nghiên cứu cũng được xác định rõ về không gian và thời gian:kiến trúc Pháp tại Hải Phòng được hình thành trong giai đoạn 1874-1954, trongkhu vực thành phố Hải Phòng
5 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp sưu tầm, thu thập, xử lý tài liệu
- Phương pháp khảo sát, điều tra quan sát thực tế
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
6 Những đóng góp thực tiễn.
Trước hết, đề tài đưa ra những thông tin tổng quan về hệ thống các kiếntrúc Pháp ở Hải Phòng, những kiến trúc tiêu biểu trên một số phương diện như:lịch sử ra đời, vị trí, ý nghĩa sự hiện diện của những kiến trúc này trong đời sống
và tâm thức của người Hải Phòng, những nét khác biệt và độc đáo về mặt kiếntrúc, nghệ thuật
Ngoài ra, đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, cung cấp thông tinhữu ích đối với du khách trong việc lựa chọn những điểm đến du lịch hấp dẫntrên địa bàn thành phố Hải Phòng
Đóng góp lớn nhất mà đề tài muốn hướng tới một số giải pháp bảo tồn vàkhai thác những công trình kiền trúc Pháp trở thành là một sản phẩm du lịch cụthể, tạo nên các tour du lịch hấp dẫn cho du khách, đóng góp vào sự phát triểncủa du lịch Hải Phòng trong thời gian tới
Trang 77 Kết cấu đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận tài liệu tham khảo, nội dung chình của khóaluận gồm 3 chương:
Chương 1 Những di tích cổ ở Hải Phòng
Chương 2 Kiến trúc Pháp ở Hải Phòng
Chương 3 Giải pháp bảo tồn và khai thác kiến trúc Pháp ở Hải Phòngtrong phát triển du lịch
Trang 8CHƯƠNG 1 NHỮNG DI TÍCH CỔ Ở HẢI PHÒNG
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Thành phố Hải Phòng.
Hải Phòng là một thành phố ven biển, phía Bắc giáp Quảng Ninh, phíaTây giáp Hải Dương, phía Nam giáp Thái Bình, phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ
Sự hình thành và phát triển của Hải Phòng gắn liền với các chứng tích củangười tiền sử ở di chỉ khảo cổ học Cái Bèo (Cát Bà) thuộc Văn hóa Hạ Longcách ngày nay khoảng từ 4000- 6000 năm; di chỉ khảo cổ học Tràng Kênh (ThuỷNguyên), Núi Voi (An Lão) cách ngày nay từ 2000- 3000 năm; với truyềnthuyết về nữ tướng Lê Chân - người lập Trang An Biên - cái nôi hình thành nênHải Phòng ngày nay
Thời kỳ phong kiến Việt Nam, nơi đây nổi tiếng với 3 lần chiến thắng trênsông Bạch Đằng: lần 1 năm 938 của Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, lần 2năm 981: Hoàng đế Lê Đại Hành phá tan quân Tống xâm lược, lần 3 năm 1288:Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đại thắng quân Mông Nguyên lần thứ 3
Tới nhà Mạc đây được xây dựng thành kinh đô thứ hai gọi là DươngKinh Từ nhà Lê trung hưng đến nhà Nguyễn vùng này thuộc trấn Hải Dương(sau này là tỉnh Hải Dương (1831) Năm 1870- 1873 Bùi Viện đã xây dựng bếncảng Ninh Hải bên cửa sông Cấm và nha Hải phòng sứ- một căn cứ phòng ngự
bờ biển kế bên
Khi Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần 1 năm 1873-1874, nhà Nguyễn phải kýhòa ước Giáp Tuất, trong đó quy định nhà Nguyễn phải mở cửa thông thươngcác cảng Ninh Hải (Hải Phòng) thuộc tỉnh Hải Dương và Thị Nại tỉnh BìnhĐịnh, để đổi lấy việc Pháp rút quân khỏi Bắc Kỳ
Năm 1887, người Pháp cho thành lập tỉnh Hải Phòng tách vùng lân cậncảng Ninh Hải ra từ tỉnh Hải Dương Đến tháng 7/1888- có tên thành phố HảiPhòng, lại lập thành tỉnh Kiến An và thành phố Hải Phòng Đến năm 1962 thìtỉnh Kiến An được nhập về thành phố Hải Phòng
Cuối thế kỷ XI- đầu thế kỷ XX, Hải Phòng là một trong những cái nôiđánh dấu sự ra đời của giai cấp công nhân và phong trào công nhân, nơi tiếpnhận Chủ nghĩa Mác-Lê nin do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tryền bá trong nước, là
Trang 9một trong những trung tâm của phong trào cách mạng cả nước giai đoạn
1930-1931, 1936-1939, 1939-1945 Trong cao trào kháng Nhật cứu nước, ở HảiPhòng- Kiến An phong trào Việt Minh phát triển mạnh
Ngày 20-11-1946, cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ ở Hải Phòng.Đảng bộ, quân và dân Hải Phòng- Kiến An đã tiến hành thành cuộc chiến tranhnhân dân toàn dân, toàn diện ngay trong vùng địch tạm chiếm sâu, lập nhiềuchiến công xuất sắc, làm nên truyền thống “đường 5 anh dũng”, “đường 10 Quậtkhởi”
Ngày 13/5/1955, bộ đội ta tiến vào tiếp quản thành phố Ngày 15/5/1955,những tên lính Pháp cuối cùng xuống tàu tại bến Nghiêng (Đồ Sơn ngày nay) rútkhỏi Hải Phòng Hải Phòng được giải phóng khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp
Tên gọi Hải Phòng xuất phát từ:
- Tên gọi rút ngắn từ cụm từ Hải tần phòng thủ, thời nữ tướng Lê Chânthế kỉ I
- Tên gọi rút ngắn từ tên một cơ quan đời Tự Đức trên đất Hải Dương:Hải Dương thương chính quan phòng
- Tên Hải Phòng có thể bắt nguồn từ ty sở nha Hải Phòng sứ hoặc đồn HảiPhòng do Bùi Viện lập từ năm 1870 đời Tự Đức
Hải Phòng còn được gọi là “thành phố cảng” vì trước 1975 càng HảiPhòng là cảng lớn nhất miền Bắc, hay “thành phố hoa phượng đỏ” bắt nguồn từcuối thế kỷ 19, khi người Pháp đem cây phượng vỹ đến Việt Nam, trong đó cóHải Phòng Năm 1970, nhạc sỹ Lương Vĩnh sáng tác bài hát “ thành phố hoaphượng đỏ”, phổ thơ Hải Như, được dân yêu thích và hay gọi Hải Phòng làthành phố hoa phượng đỏ Hải Phòng còn có nhiều danh xưng khác như Thành
Tô, phố biển
Ngày nay, Hải Phòng có vị trí quan trọng về kinh tế, xã hội, công nghệthông tin và an ninh, quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước, trên hai hànhlang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc, là đầu mối giaothông đường biển phía Bắc Với lợi thế cảng nước sâu nên vận tải biển rất pháttriển, là một trong những động lực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Trang 10bộ Hải Phòng là một cực tăng trưởng của tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắcgồm Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh, nằm ngoài Quy hoạch vùng thủ đô HàNội.
1.2 Di tích cổ ở Hải Phòng
Theo con số thống kê chưa đầy đủ, thành phố Hải Phòng hiện còn lưu giữhơn 1.000 di tích, bao gồm 537 ngôi chùa, 107 nhà thờ, số còn lại là các đìnhđền, miếu phủ…Trong đó, có 103 di tích được Bộ Văn hóa thể thao và Du lịchxếp hạng di tích quốc gia; 165 di tích được Uỷ ban nhân dân thành phố xếp hạng
di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố
1.2.1 Di tích lịch sử văn hóa
Theo pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lamthắng cảnh, công bố ngày 4/4/1984: Di tích lịch sử văn hoá là những công trìnhxây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, nghệ thuậtcũng như có giá trị văn hoá khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử,quá trình phát triển văn hoá, xã hội
Các di tích lịch sử văn hoá là các công trình kiến trúc có giá trị lịch sử vănhóa như: đình, chùa, chùa, miếu, phủ, điện… Đó là những di sản văn hóa chứađựng cả một thời kỳ lịch sử anh hùng của dân tộc, chứa đựng những giá trị tôngiáo, tâm linh của từng vùng miền, từng giai đoạn lịch sử, là nơi tưởng nhớ, tạ
ơn các bậc Thần linh, các vị Thành Hoàng, các Anh hùng dân tộc…Sau đây là 1
số di tích lịch sử văn hóa cổ tiêu biểu ở Hải Phòng:
Chùa Dư Hàng
Chùa Dư Hàng (tên chữ là Phúc Lâm tự), thuộc xã Dư Hàng Kênh (huyện
An Dương), nay thuộc đại bàn phường Hồ Nam, quận Lê Chân
Nếu căn cứ vào bản ghi chép bia ký của chùa thì chùa có từ thời Tiền Lê(980 - 1009), chùa được xây mới năm 1672, khi quan Đô úy Nguyễn Đình Sách
từ quan xuất gia, pháp hiệu Chân Huyền đảm nhiệm Đến đời Thành Thái năm
1899, Hòa thượng Thông Hạnh trùng tu ngôi chùa và cho xây gác chuông
Chùa có kiến trúc bề thế, khuôn viên hoàn chỉnh với kiến trúc theo kiểuchữ “Đinh”, hai bên là nhà tổ, đằng trước có tam quan Qua tam quan sẽ tới tòa
Trang 11Phật điện 7 gian với những hàng cột lim lớn, gác chuông 3 tầng, mái đao congvút, quả chuông đồng cỡ lớn, chữ đề: "Phúc Lâm tự chung", nghĩa là chuôngchùa Phúc Lâm Tại tòa Phật điện, còn lưu giữ được nhiều tượng phật cổ có giátrị, như bộ Tam thế, tòa Cửu long - Thích ca sơ sinh, hộ thiện, trừ ác, bộ tượng
"Thập điện minh vương"
Nội thất toà phật diện được trang trí nhiều bức hoàng phi, câu đối, cửavõng với đường nét mềm mại, tinh xảo, mang phong cách nghệ thuật triềuNguyễn Gian tiền đường của toà phật điện được trang trí bằng nhiều mảngchạm khắc nổi trên cửa võng, nhiều mảng đề tài quen thuộc: mai điểu, ngũ phúc,rồng mây
Bên phải tam quan là vườn tượng với 12 pho tượng được chạm khắc tinhxảo, bố trí quanh hồ nước Nổi bật nhất là tượng Phật Tổ màu vàng ngồi trên tòasen dưới cây bồ đề và tượng Phật Di Lặc trong tư thế đứng được đặt đối diệnnhau ở hai bên hồ Cả hai pho tượng đều được đúc bằng đồng Quanh hồ đặttượng 10 vị Tôn giả được tạc bằng đá trắng trong các tư thế và hình dáng khácnhau
Khu vườn tháp của chùa bao gồm 11 tháp được xây bằng đá và gạch, lànơi đặt di thể của các vị sư tổ đã viên tịch tại chùa, các vị tổ thiền phái Trúc LâmYên Tử và nhiều vị hòa thượng đã từng trụ trì tại chùa Hiện nay, chùa Hàng cònbảo lưu nhiều di vật qúy giá như chuông, khánh, đỉnh đồng, đồ trang trí mỹ thuậtbằng gốm sứ, đá xanh, bộ kinh sách “A hàm” cổ được lưu truyền từ nhiều đời sưtrụ trì
Những giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc trường tồn cùng thời gian đã làmnên sức hấp dẫn của một điểm du lịch văn hóa tâm linh ở thành phố Cảng Chùa
Dư Hàng được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1986
Đền Nghè
Đền Nghè nằm ở trung tâm thành phố, thuộc phường An Biên, quận LêChân Đền Nghè là di tích lịch sử văn hóa thờ nữ tướng Lê Chân– vị tướng giỏicủa Hai Bà Trưng, bà đã đến vùng đất ngã ba sông Tam Bạc – sông Cấm, lập ấpVẻn, sau đổi là An Biên Trang, tiền thân của Hải Phòng ngày nay
Trang 12Tương truyền, khi nữ tướng Lê Chân gieo mình xuống sông tự vẫn thì hoá
đá trôi trên mặt sông Từ đoạn sông vùng Đông Triều (Quảng Ninh) - quê cũ của
Bà - đến bến Đá (nay là bến Bính) thì bập bồng xoay tròn trên mặt nước Nhândân làng An Biên biết Bà đã hiển thánh, liền khiêng đá thiêng về thờ, đến khuvực đền Nghè hiện nay thì trời bỗng nổi cơn giông gió làm đá rơi Dân làng bènchọn khu đá rơi ấy để dựng đền thờ Bà Lúc đầu, đền chỉ là gian miếu nhỏ, máilợp tranh Từ năm 1919- 1926, đền được xây dựng khang trang hơn, bổ sungmột số hạng mục kiến trúc Trải qua quá trình tu bổ, tôn tạo, hiện nay đền Nghè
là một quần thể di tích mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn thế kỷ 20 gồm:tam quan, tòa hậu cung, bái đường, thiêu hương, giải vũ, nhà bia - nơi đặt tượngvoi đá, ngựa đá, sập đá, bia đá; phía sau làm thêm tòa tứ phủ
Toà bái đường gồm 5 gian được nâng đỡ bởi 16 cột lim, kê trên 16 viên
đá tảng đục đẽo công phu, tỉ mỉ Chính giữa nóc nhà bái đường đắp nổi hàngchữ Hán lớn “An Biên cổ miếu”
Hậu cung gồm 3 gian, xây cao hơn nhà bái đường với thiết kế kiểu 2 tầngmái, làm tăng thêm sự bề thế, uy nghi của công trình.Tại đây có tượng Nữ tướngngồi trên ngai thờ, đặt trong một khám lớn với dáng vẻ uy nghi, đôn hậu, xinhđẹp, hai bên thờ song thân của Bà Giữa hậu cung và bái đường là nhà thiêuhương 2 tầng với mái tâm đầu đao
Ngoài quần thể kiến trúc độc đáo, nơi đây còn có các tác phẩm điêu khắc
đá có giá trị, điển hình là khánh đá và sập đá Khánh làm từ tấm đá nguyên khốidày 5cm, cao 1m, rộng 1,6m Mặt trước khắc nổi 2 con rồng chầu nguyệt vàmây bay xung quanh; mặt sau khắc hình mây bay và sóng nước Sập đá tạo bằngkhối đá liền, chạm nổi hình chim, thú, hoa với kỹ thuật chạm khắc vô cùng tinhxảo Đền còn lưu giữ tấm bia đá có được tạc vào thời Nguyễn, ghi tiểu sử của nữtướng Lê Chân
Cách đền Nghè khoảng hơn 100m về phía tây bắc là tượng đài nữ tướng
Lê Chân được đúc bằng đồng, cao 7,5m, nặng 19 tấn, đặt tại vườn hoa trung tâmthành phố, được khánh thành vào ngày 31/12/2000 Hội đền Nghè được tổ chức
từ ngày 8- 10 tháng 2 Âm lịch, đây là 1 trong những lễ hội lớn của Hải Phòng
Từ Lương Xâm
Trang 13Từ Lương Xâm là một trong “Tứ linh từ” linh thiêng của huyện cổ AnDương và nay là một trong 3 “linh từ” linh thiêng của quận Hải An (Từ LươngXâm, Phủ Thượng Đoạn, Đền Phú Xá) Từ thờ Đức Vương Ngô Quyền- người
có công đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938
Từ được xây dựng thời Hậu Lê và được trùng tu vào thời Nguyễn vì vậytoàn bộ kiến trúc trong Từ hiện nay mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn,chỉ một số cấu kiện kiến trúc mang nét phong cách nghệ thuật thời Lê
Ngôi Từ được bố cục theo kiểu “nội công, ngoại quốc”, liên hoàn khépkín Tại đây hiện lưu giữ 152 hiện vật, cổ vật có giá trị và 25 bản sắc phong cóniên hiệu từ năm 1522 đến năm 1924 Trong đó có nhiều sắc phong đã ban choNgô Quyền là "Ngô Vương thiên tử" và "Thượng Đẳng tối linh Đại vương" Đặcbiệt năm 1880 vua Tự Đức đã ban cho 6 tổng và 17 xã ở phía Đông, Đông Namthành phố thờ Ngô Quyền Trong các di tích thờ Ngô Quyền thì Từ Lương Xâmđược suy tôn là "Từ Cả" và là Đệ nhất linh từ của huyện cổ An Dương
Ngày 12/12/1986 Từ Lương Xâm đã đươc xếp hạng di tích lịch sử vănhoá cấp quốc gia Lễ hội truyền thống được tổ chức từ 16- 18 tháng giêng Từnăm 2008 UBND quận Hải An đứng ra tổ chức lễ hội Từ Lương Xâm với quy
mô cấp quận thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương gần xa đếntham dự
Ngoài những di tích trên Hải Phòng còn có rất nhiêu di tích lịch sử vănhóa khác như:
Đình: Đình Nhu Thượng ( dựng năm Tự Đức 14 (1861); Đình Hà ( thời
Triều Nguyễn, năm Tự Đức 1873) Đình Nhân Mục ở Vĩnh Bảo ( xây dựng ở thế
kỉ 17); Đình Hạ Lũng- hải An ( thế kỉ 18); đình Cam Lộ; đình Tân Dương (đượckhởi dựng từ thời hậu Lê đời vua Lê Nhân Tông (1441-1459); đình ĐồngLý( thế kỉ 17), đìnhTuy Lạc, Đình Tây- Thủy Nguyên; Đình An Trì- HồngBàng; đình Phụng Pháp- Ngô Quyền; đình An Biên, đình Niệm Nghĩa- Lê Chân,đình Dụ Nghĩa, đình Hà Đậu An Dương; đình Ngọc Xuyên- Đồ Sơn…
Đền: Đền Phú Xá (được xây dựng vào thời Tự Đức (1848 – 1883) đền
Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm- Vĩnh Bảo ( được dựng lên năm 1765) , đền
Trang 14thờ Trần Quốc Bảo- Thủy Nguyên ( xây dựng thời Trần), đền Gắm- Tiên Lãng,đền Mõ-Kiến Thụy, đền Tam Kì- Lê Chân…
Chùa: Chùa Trà Phương (thế kỉ 16); chùa Linh Sơn (xây dựng thời hậu
Lê), chùa Dãng Trung (thế kỉ 17), chùa Mai Động- Thủy Nguyên; đền, chùaBách Phương- An Lão; chùa Vân Tra, chùa Đỏ- An Dương; chùa Lạng Côn (thế
kỉ 13), chùa Hòa Liễu- Kiến Thụy; chùa Hang, chùa Thiên Phúc- Đồ Sơn (thờiLý-Trần)
Miếu: miếu Xâm Bồ- Hải An; miếu Thủy Tú- Thủy Nguyên; miếu Ba
Vua,miếu Lác, miếu Bảo Hà- Vĩnh Bảo; miếu An Đà- Lê Chân; lăng miếu ĐônNghĩa- Lê Chân…
1.2.2 Di tích lịch sử cách mạng
Di tích lịch sử cách mạng: Là những di tích ghi lại một sự kiện quan trọngcủa lịch sử cách mạng địa phương, có ảnh hưởng tới sự phát triển của phong tràođịa phương, khu vực hay cả quốc gia
Di tích lịch sử cách mạng là một bộ phận cấu thành hệ thống di tích lịch
sử - văn hoá, tuy nhiên, khác với các di tích tôn giáo tín ngưỡng ở chỗ: đó lànhững địa điểm cụ thể, công trình kiến trúc có sẵn, công trình được con ngườitạo nên phù hợp với mục đích sử dụng gắn liền với những sự kiện, nhân vật lịch
sử cụ thể mà trở thành di tích Dưới đây là một số di tích lịch sử cách mạng tiêubiểu ở Hải Phòng:
Chùa Phương Mỹ
Chùa Phương Mỹ có tên chữ là Ngọc Hoa tự, thuộc làng Phương Mỹ, xã
Mỹ Đồng,Thủy Nguyên, Hải Phòng Trong giai đoạn tiền khởi nghĩa và 9 nămkháng chiến chống Pháp, Chùa là địa điểm hoạt động bí mật của lực lượng ViệtMinh
Cuối năm 1939, đồng chí Hoàn Thiếu Minh (tức Hoàng Ngọc Lương),nguyên Chủ tịch Ủy ban Dân tộc Giải phóng liên huyện Thủy Nguyên – KinhMôn, đóng vai một nhà sư về gây dựng cơ sở cách mạng tại chùa Phương Mỹ
Từ đầu năm 1945, chùa đã trở thành địa điểm liên lạc, hội họp thườngxuyên, là nơi cất giữ tài liệu quan trọng của lực lượng Việt Minh Sau khi, Nhật
Trang 15đảo chính Pháp, chùa Phương Mỹ vẫn là một trong những đầu não lãnh đạophong trào cách mạng của huyện, đồng thời tham gia các hoạt động quyên gópthóc gạo, cứu trợ đồng bào trong nạn đói đầu năm 1945.
Tháng 4/1945, tại chùa đồng chí Nguyễn Phương Thảo (tức Trung tướngNguyễn Bình) và đồng chí Nguyễn Kiên Tranh (tức sư Tuệ) đã gặp nhau để bànbạc việc thống nhất lực lượng và kế hoạch xây dựng chiến khu Đông Triều.Chùa Phương Mỹ đã trở thành địa điểm lưu giữ tài liệu, tập kết vũ khí, lực lượng
vũ trang của Chiến khu Đông Triều và tự vệ vùng Thượng, huyện Thủy Nguyên
Đến ngày 25/12/1945 tại chùa Phương Mỹ, 4 đồng chí Hoàng NgọcLương, Phạm Văn Duyệt, Bùi Bá Ngôn, Phạm Văn Ngự đã được kết nạp vàoĐảng Cộng sản; tiếp đó chi bộ Đảng huyện do đồng chí Hoàng Long làm Bí thưchính thức được thành lập Đến đầu năm 1946, tại chùa đã diễn ra Hội nghịthành lập Hội “Lão bà cứu quốc Thủy Nguyên”
Những sự kiện lịch sử được ghi dấu tại chùa Phương Mỹ đã khẳng địnhbước đồng hành của di tích trong kháng chiến chống Pháp của dân tộc, là nhânchứng cho quá trình trưởng thành, phát triển của phong trào cách mạng huyệnThủy Nguyên nói riêng và của Hải Phòng và Quảng Ninh nói chung
Nhà số 1 ngõ 42 Mê Linh
Ngôi nhà số 1 ngõ 42 Mê Linh, phường An Biên, quận Lê Chân, HảiPhòng là cơ quan bí mật của Tỉnh bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chíhội Hải Phòng năm 1927- 1929, của Đông Dương Cộng sản Đảng Tỉnh Uỷ HảiPhòng thời kỳ 1929- 1930, là cơ sở hoạt động của đồng chí Nguyễn Đức Cảnh,người chiến sĩ ưu tú của Đảng, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động HảiPhòng
Sau khi dự lớp huấn luyện chính trị do đồng chí Nguyễn ái Quốc tổ chức
ở Quảng Châu, tháng 9/1927, đồng chí Nguyễn Đức Cảnh về nước hoạt động vàđược Kỳ bộ Việt Nam Thanh niên Cách Mạng đồng chí hội chỉ định là Bí thưTỉnh bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội Hải Phòng
Đầu năm 1928, đồng chí thực hiện Vô sản hoá, mở lớp huấn luyện, viếtbáo giác ngộ quần chúng, đấu tranh chống áp bức bóc lột của thực dân Pháp.Lúc ấy cơ sở của Hội là số 1 ngõ 42, phố Mê Linh (tên cũ là Ngõ Đông Môn,
Trang 16phố Mets (Rus de Mets).Tháng 9/1929 tại đây, hội nghị của những thanh niêncộng sản tiêu biểu quyết thành lập tổ chức Đông Dương Cộng sản Đảng HảiPhòng.
Năm 1929, tên Đốc lý Hải Phòng Khơ rô tec me (Krautheimri) đã tuyêntruyền, bôi nhọ lý tưởng của những người cộng sản, đồng chí Nguyễn Đức Cảnh
đã viết bài bóc trần luận điệu xuyên tạc đó, đồng thời giác ngộ quần chúng vàkêu gọi ủng hộ những người cộng sản vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giảiphóng giai cấp
Tại ngôi nhà này, còn lưu giữ một số di vật (phục chế) mà đồng chíNguyễn Đức Cảnh đã từng dùng như: bàn làm việc, tủ, giường gỗ Hàng năm,ngôi nhà 1/42 Mê Linh được Đảng bộ và nhân dân Hải Phòng chăm lo tu bổ.Ngày nay, tại số 124 Nguyễn Đức Cảnh còn đặt một tấm bia tưởng nệm Đồngchí
Ngoài ra tại Hải Phòng còn rất nhiều di tích lịch sử cách mang khác như:Trên đất Thủy Nguyên nhiều đình, chùa và công trình thờ tự trở thành những địa
cứ kiên trung của Đảng, của cách mạng như Chùa Phi Liệt, Chùa Doãn Lại,Chùa Dương Xuân, Đình Pháp Cổ; đền Mẫu- bến Kiền, chùa Hoàng Pha…
Trên địa bàn Quận Ngô Quyền: Nhà 20 Trần Phú- nơi đặt cơ quan ấn loátcủa Đảng; Nhà 253 Lê Lợi: cơ quan tuyên truyền hành động của Xứ Uỷ Bắc Kỳ;Các đồng chí Nguyễn Tường Loan, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Quốc Việt,Nguyễn Đức Cảnh, Lê Duẩn, Tô Hiệu, Nguyễn Văn Linh khi hoạt động ở HảiPhòng thường sống ở các xóm thợ Lạc Viên, Cấm…
Trên phố Cầu Đất có nhiều cơ sở cách mạng: Hiệu Trân Mĩ Lâu (trướccủa rạp Công nhân hiện nay) là nơi liên lạc của Đảng và quốc tế những năm
1929 – 1931 Số nhà 8 ngõ Quảng Lạc là nơi ban Tài chính Trung ương đóng,
do đồng chí Trần Văn Lan phụ trách Ngõ Đá có trụ sở của Ban tuyên huấn cơquan xứ ủy Bắc Kỳ (1930); Nhà 21 ngõ 99 Cầu Đất: trụ sở cơ quan Thanh niênCách mạng đồng chí Hội; Nhà 38 Cầu Đất: cơ quan Xứ Uỷ Bắc Kỳ…
Cơ quan bí mật của Thành ủy Hải Phòng (thời kỳ 1936-1939), đặt tại nhà
cụ Đặng Thị Sáu ở xóm Nam, xã Dư Hàng Kênh (nay là ngõ Than, phường DưHàng Kênh, Lê Chân); Nhà số 14 ngõ Gạo (nay là ngõ 61) phố Lý Thường Kiệt,
Trang 17quận Hồng Bàng là trạm giao thông liên lạc quốc tế của Đảng trong những nămđầu thế kỷ 20; Đình Kim Sơn- Kiến Thụy…
1.2.3 Di tích kiến trúc nghệ thuật
Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thểkiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệthuật kiến trúc Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn
lẻ có giá trị về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử
Các di tích kiến trúc nghệ thuât như đình, đền, chùa, nhà thờ, lăng tẩm,cung điện, thành….chiếm số lượng lớn, lưu trữ nhiều giá trị lịch sử, kiến trúcnghệ thuật, văn hóa có giá trị, là những điểm nghiên cứu, thăm quan hấp dẫn, dukhách
Dưới thời phong kiến, ở Hải Phòng bên cạnh những công trình thànhquách, cung điện, lăng tẩm còn có các kiến trúc tôn giáo lớn như chùa, tháp,đình, đền, miếu…trừ một số do triều đình hưng công xây dựng, còn phần lớnđều do nhân dân quyên cúng, đóng góp dựng lên
Thời Lý – Trần, tình hình chính trị trong nước ổn định, kinh tế phồn vinh
cơ sở cho nghệ thuật kiến trúc nẩy nở trên vùng đất Hải Phòng Vua Lý ThánhTông đã cho xây dựng chùa tháp Tường Long ở Đồ Sơn nhằm mục đích ghi lạichiến thắng “Bình Chiêm” và phát dương Quốc giáo (đạo Phật) Thời kỳ này, ởHải Phòng nhiều chùa chiền được xây dựng tiêu biểu là chùa Long Hoa (An Lão), Bà Đanh (Kiến Thụy ), Thiểm Khê ( Thủy Nguyên), Đông Khê ( Ngô Quyền),
Dư Hàng (Lê Chân), Do Nha (, An Dương)
Thời Mạc, thế kỷ 16, tại Hải Phòng nổi tiếng có kiến trúc Dương Kinh.Triều đình nhà Mạc đã xây dựng nhiều cung điện, lầu các, thành quách chủ yếu
ở vùng xã Ngũ Đoan, Kiến Thụy Thời đó Hải Phòng còn xuất hiện một số đồthị giang cảng sầm uất như Minh Thị, Hoàng Lô, phố Rỗ, phố Đường Thung,phố Mè (Tiên Lãng), Hạ Hôm (Vĩnh Bảo), Dầu Hỗ (An Hải), làng cũ Xuân Đám(Cát Bà)…với kiến trúc quán chợ, đình trạm, cầu quán phát triển Kiến trúcthành quách thời Mạc khá phong phú, đa dạng, có thành mang phong cách làmột thủ phủ chính trị - hành chính như Ngũ Đoan (Kiến Thụy), có thành mang
là phòng thủ quân sự như thành Dền ( Liên Khê, Thủy Nguyên) Thành nhà Mạc
Trang 18ở Xuân Đám, Cát Bà lại có nhiệm vụ là một đồn binh cành phòng bờ biển, mộttrạm hải quan cửa khẩu Tiếc rằng các công trình kiến trúc này đều bị nhà LêTrung Hưng tàn phá, vết tích còn lại hết sức mờ nhạt.
Những ngôi đình giá trị ở Hải Phòng còn lại đến nay đều có niên đại từcuối thế kỷ 17- đầu thế kỷ 20 Cổ kính nhất là đình Kiền Bái (Thủy Nguyên),Quỳnh Cư (Hồng Bàng), Hàng Kênh (Lê Chân); Trung Hành, Hạ Đoạn (AnHải ) To lớn, bề thế nhất là đình Hàng Kênh, Đông Khê, An Biên, Nhân Hòa,Quán Khái, Đồng Lý, Từ Lâm, An Quý Chạm khắc trang trí cầu kỳ nhất là đìnhHàng Kênh, Quán Khái, đình Kiền Bái được trạm khắc 500 con rồng rất sốngđộng và những hoạt cảnh dân gian vui nhộn Đình An Quý có hệ thống cột hoàntoàn bằng đá Đình Cung Chúc chỉ có 36 lỗ mộng nhưng vẫn đầy đủ các bộ kiếntrúc, đao cong
Hải Phòng có kiến trúc đô thị pha trộn hài hòa nhất hai văn hóa Á - Âu,vừa thanh lịch vừa mạnh mẽ Bên cạnh những phố Tàu ở Tam Bạc, Kỳ Đồng,Tam kỳ… còn có nhiều khu phố có kiến trúc nguyên vẹn thời Pháp như phố Tâybiệt thự giờ là các cơ quan ở khu Hồng Bàng Phố Tây có Điện Biên Phủ, TrầnPhú, Lương Khánh Thiện, Minh Khai…đặc biệt phải nói đến các công trình kiếntrúc Pháp đã tạo cho Hải Phòng một bản sắc kiến trúc với phong cách độc đáo
Chính vì vậy trong đề tài “Một số giải pháp nhằm khai thác và bảo tồn các di
tích cổ ở Hải Phòng phục vụ cho hoạt động du lịch” người viết sẽ tập trung,
nghiên cứu và khai thác sâu về kiến trúc Pháp tại Hải Phòng (Chương 2), đồngthời đề xuất giải pháp bảo tồn và khai thác các kiến trúc Pháp tại Hải Phòngphục vụ hoạt động du lịch (Chương 3)
Trang 19CHƯƠNG 2 CÁC CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC PHÁP Ở HẢI PHÒNG
2.1 Vài nét về kiến trúc Châu Âu và kiến trúc Pháp
2.1.1 Kiến trúc Châu Âu
Châu Âu là cái nôi của kiến trúc thế giới Nói đến kiến trúc Pháp khôngthể không nói đến cái nôi đã sản sinh và nuôi dưỡng nó, đó là kiến trúc châu Âu
Có thể chia quá trình phát triển kiến trúc Châu Âu thành các giai đoạn: cổ đại,trung đại, Phục Hưng và giai đoạn hiện đại Trải qua những nốt thăng trầm,thành tựu kiến trúc Châu Âu như một bức khảm mosaics đa màu, đa diện, làmgiàu văn minh nhân loại
2.1.1.1 Kiến trúc Châu Âu thời cổ đại
Trọng tâm của kiến trúc châu Âu là kiến trúc Hy Lạp và La Mã xoayquanh những đền đài mang nhiều sắc màu đặc trưng, gắn liền với việc thờ phụngcác vị thần Người Hy Lạp đã phát minh ra kiến trúc post-and-beam construction(cột chống và xà ngang) Người La Mã tiếp thu tinh hoa đó, đặt nền móng chokiến trúc arched construction (vòm cong)
Nếu như Kiến trúc Hy Lạp để lại rất nhiều công trình bằng đá làm mẫumực cho kiến trúc thế giới với vẻ đẹp thanh nhã, hài hòa giữa các thành phầnkiến trúc, gắn liền với sự ra đời và phát triển của các loại thức cột: Doric , Ionic,Corinth, thì Kiến trúc La Mã cổ đại lại gây ấn tượng với quy mô kiến trúc đồ sộ,hoành tráng bề thế, gây ấn tượng về sức mạnh, quyền lực, tạo cảm giác về một
sự bền vững lâu dài, nhiều công trình đã chịu đựng được thử thách của thời gian
2.1.1.2 Kiến trúc Châu Âu thời trung đại
Trang 20Thời kỳ Trung Cổ, kiến trúc Ki-tô giáo thống trị Châu Âu Nhà thờ củaByzantine Đông La Mã xây theo kiểu trung tâm Đối lập, các quốc gia Tây La
Mã phổ biến kiểu chữ thập, đột phá về chiều cao và nhiều trang hoàng phứctạp.”
Kiến trúc Byzantine (Đông La Mã) duy trì những giá trị cổ điển basilica
giai đoạn đầu– đơn giản bên ngoài nhưng cầu kỳ bên trong Nội thất nhà thờtrang hoàng bởi đá khảm mosaics và những bức bích hoạ khổng lồ Thiết kế đầucột chống chịu ảnh hưởng từ kiểu dáng La Mã, phức tạp và trừu tượng
Ở các quốc gia Tây La Mã nổi bật với 2 phong cách kiến trúcRomanesque (Đầu thế kỷ XI – XIII) và Gothic (thế kỷ XIII – XV) Pháp là cáinôi của cả hai trường phái này
Kiến trúc Roman có thể bắt đầu ở vùng Normandie, Italia thế kỷ thứ 9,
nhưng kiến trúc Roman thật sự ra đời cùng với sự xuất hiện của dòng tuBenecdictine ở Pháp năm 910 Đặc điểm chung của Kiến trúc Roman là chịuảnh hưởng của kiến trúc La Mã cổ đại và kiến trúc Byzantyne (Đông La Mã).Thiết kế đặc trưng là sử dụng nhiều điêu khắc trang trí, đặc biệt là sáng tạo racác tympanum: hình bán nguyệt trên các ô cửa chính, cửa sổ, thường được điêukhắc công phu Các tu viện, nhà thờ, thánh đường ở châu Âu phần lớn đều mangphong cách kiến trúc Roman tuyệt đẹp
Kiến trúc Gothic: Cuối thế kỷ 12- đầu thế kỉ 13 kiến trúc Gothic
(Gothique) xuất hiện ở miền Tây bắc nước Pháp, sau đó được truyền đi khắpchâu Âu, phát triển rực rỡ đến thế kỷ XV Ba trọng tâm của Gothic là mái vòmnhọn, khung sườn mái vòm và trụ chống Kiến trúc Gothic là một bước tiến bộlớn so với kiến trúc Roman Kiến trúc Gothic không chắc chắn bằng kiến trúcRoman nhưng nhẹ nhàng đẹp đẽ hơn, nhà có cửa sổ lớn lắp kính màu, cột chạmtrổ đẹp, kiểu cửa mái vòm được thay bằng hình lăng nhọn, những bức điêu khắcnhiều hơn, sinh động và tự nhiên hơn
2.1.1.3 Kiến trúc thời Phục hưng
Bước sang giai đoạn Cận đại, kiến trúc Châu Âu chứng kiến sự trở lại củacác giá trị cổ điển Kiến trúc Phục Hưng chối từ tháp cao Gothic, tìm về nhữngtinh hoa La Mã cổ đại, tiếp nối và quay trở lại của phong cách kiến trúc Roman,
Trang 21nhưng đã biến cải ít nhiều những chi tiết nghệ thuật Thời kì văn hóa Phục hưngxuất hiện ở Italia từ cuối thế kỉ XIV, sau đó lan sang các nước Anh, Pháp, Đức,
Hà Lan…
Kiến trúc thời Phục Hưng mang đậm nét tôn giáo, đặc biệt là Thiên chúagiáo Đặc biệt nhấn mạnh vào tính đối xứng, tỷ lệ, hình học và tính hợp lệ củacác bộ Sắp xếp có trật tự của cột, pilasters và các rầm đỡ, cũng như việc sửdụng các mái vòm hình bán nguyệt, mái vòm hình bán cầu, hốc và aediculesthay thế các hệ thống phức tạp hơn và tỷ lệ hồ sơ bất thường của các tòa nhà thờitrung cổ
Về sau, kiến trúc Phục Hưng suy thoái do theo đuổi những giá trị quái lạ,
hà khắc Phong cách Baroque và Rococo kịp thời ra đời để đáp ứng cơn thiếuhụt các trang trí điệu đà, đậm chất kịch nghệ Kỷ nguyên Baroque kéo dài từ
1600 – 1725 và chủ yếu diễn ra tại Italia qua các công trình tôn giáo Rococovỏn vẹn diễn ra từ 1725 – 1800 bằng những cung điện nguy nga
Kiến trúc Baroque: Baroque lan rộng từ Ý đến Pháp, hiện diện qua các
cung điện, lâu đài nguy nga Khác với người Ý, người Pháp kết hợp các hoạ tiếtBaroque trên nền kiến trúc mạnh, uy quyền hơn Họ cũng sáng tạo ra cácmansard roof – Mái nhà có cửa sổ, điểm xuyến những trang trí kim loại tinh xảo.Baroque thường được áp dụng trong kiến trúc xây dựng nhà thờ để thể hiện sứcmạnh và tính chuyên quyền
Kiến trúc Rococo giảm nhẹ mức độ cường điều và kịch tích của Baroque,
biến thể Rococo tinh tế, hài hoà hơn ra đời từ nước Pháp trong những năm cuốicủa triều đại vua Louis XIV (1643-1714) và nở rộ dưới thời vua Louis XV(1715 - 1774) Trong giai đoạn này, Pháp trở thành trung tâm văn hóa châu Âu.Đặc điểm nổi bật của Rococo là vẫn ưu ái các bích hoạ, hoa văn cầu kỳ nhưng
sử dụng phông nền pastel nhẹ nhàng và mềm mại hơn Những tác phẩm thànhcông nhất thường là các lâu đài cung điện và các công viên, hay những côngtrình trang trí đồ gỗ, tường nhà của những biệt thự, nhà riêng của cư dân Paris
Kiến trúc Rococo dần mất chỗ đứng vào những năm 1760 nhường chỗcho trường phái Tân cổ điển và biến mất hoàn toàn kể từ cuộc cách mạng Pháp
Trang 221789 Tuy nhiên nó đã để lại những công trình tuyệt đẹp như nhà thờ pilgrimage(Đức), quảng trường Stanislas….
2.1.1.4 Kiến trúc hiện đại
Kiến trúc Tân cổ điển: là một phong cách kiến trúc được tạo ra bởi phong
trào tân cổ điển bắt đầu vào giữa thế kỷ 18 Nó có xu hướng nhấn mạnh phẩmchất phẳng, chứ không phải là khối lượng tác phẩm điêu khắc Chiếu và suythoái kinh tế và các hiệu ứng của họ ánh sáng và bóng tối bằng phẳng hơn và có
xu hướng enframed trong những trụ gạch, dạng viên hoặc các tấm
Kiến trúc hiện đại: Kiến trúc hiện đại thể hiện một lối tư duy mới với sự
phát triển bùng nổ của xã hội châu Âu cuối thế kỉ 19- đầu thế kỉ 20 và trở thànhmột trường phái chủ đạo lan rộng trên toàn thế giới đến năm1970 Khung sắtthép công nghiệp thịnh hành, đánh dấu chương mới cho kiến trúc thời hiện đại.Các kiến trúc sư ứng dụng khung sắt vào nhà máy, cầu đường rồi đến nhữngcông trình cao cấp
2.1.2 Vài nét về Kiến trúc Pháp
Khảo sát qua lịch sử các phong cách kiến trúc ở phương Tây từ cổ đại đếnhiện đại, có thể thấy rằng, Pháp là một trong những cái nôi vừa góp phần bảolưu, gìn giữ các phong cách kiến trúc cổ điển, lại vừa góp phần sáng tạo ranhững phong cách kiến trúc mới hết sức độc đáo và ấn tượng
Cũng giống như nhiều quốc gia châu Âu khác, phong cách kiến trúc Phápmang hơi hướng vẻ đẹp thần thoại của phong cách Hy Lạp - La Mã, với nhữngkiểu “thức” căn bản: thức Doric, thức Ionic và thức Corinth, hay thậm chí cảnhững kiểu thức tiến bộ của người La Mã như Toscan và Compozit Chính vìthế mà có thể nói rằng kiến trúc Pháp được thừa hưởng những tinh hoa của kiếntrúc nhân loại
Từ nước Pháp, nhiều phong cách kiến trúc tiêu biểu đã được hình thànhnhư: kiến trúc Gothic xuất hiện ở miền Tây bắc nước Pháp hay kiến trúc Rococobắt nguồn từ nước Pháp trong những năm cuối của triều đại vua Louis XIV(1643-1714) Trong giai đoạn này, Pháp trở thành trung tâm văn hóa châu Âu
Trang 23Ngoài ra Pháp còn là nơi phát triển, sáng tạo khiến cho các phong cáchkiến trúc lan rộng ra các nước khác cũng như khắp Châu Âu như: Kiến trúcRoman bắt đầu ở vùng Normandie, Italia vào thế kỷ thứ 9, nhưng kiến trúcRoman thật sự ra đời cùng với sự xuất hiện của dòng tu Benecdictine ở Pháp vàonăm 910 Từ Ý, Baroque lan rộng đến Pháp, người Pháp kết hợp các hoạ tiếtBaroque trên nền kiến trúc mạnh mẽ hơn, uy quyền hơn Họ cũng sáng tạo racác mansard roof – Mái nhà có cửa sổ, điểm xuyến những trang trí kim loại tinhxảo.
Kiến trúc Pháp không chỉ ảnh hưởng sâu sắc tới các phong cách kiến trúccủa châu Âu, mà theo bước chân của các đoàn quân viễn chinh Pháp, nền nghệthuật này đã có mặt ở nhiều vùng đất xa xôi trên thế giới, tại cả những vùng đất
có những điều kiện hoàn toàn khác biệt về tự nhiên, khí hậu và bản sắc văn hóa như Việt Nam
-2.2 Quá trình du nhập, hình thành và phát triển của kiến trúc Pháp ở Hải phòng.
Thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta năm 1858, nhưng phải đến năm
1884, sau hòa ước Giáp Thân, Pháp mới xác lập được chủ quyền trên lãnh thổViệt Nam Song song với khoảng thời gian người Pháp có mặt trên lãnh thổ ViệtNam
Cùng với quá trình khai thác thuộc địa, thực dân Pháp cũng tiến hành quyhoạch và xây dựng một mạng lưới hệ thống đô thị ở nước ta Người Pháp đã choxây dựng ở nước ta rất nhiều mô hình đô thị khác nhau, tùy theo điều kiện từngđịa phương và Hải Phòng được chọn để xây dựng "đô thị cảng"
Thời Pháp thuộc, Hải Phòng được Toàn quyền Đông Dương xếp loạithành phố cấp I ngang với Hà Nội và Sài Gòn Hình thái cảng thị Hải Phòng banđầu tương đương như các đô thị cổ châu Âu với tổ chức mạng lưới đường phốtheo kiểu ô cờ, bám chặt, chạy dài theo dòng sông Nhìn chung, các tòa nhàđược người Pháp thiết kế và xây dựng khá kỹ lưỡng, kiến trúc phong phú, đếnnay vẫn là những công trình có dấu ấn quan trọng trong bộ mặt kiến trúc đô thịcủa thành phố Hải Phòng Khu trung tâm Hải Phòng mang đậm dấu ấn kiến trúcPháp, tuy tương đối giống với Hà Nội về tổng thể, nhưng khiêm tốn hơn về quy
Trang 24mô và số lượng các công trình Hải Phòng những năm 70 của thế kỷ XIX đượccấu thành bởi hai bộ phận chính:
Phía Tây Nam giáp sông Tam Bạc là khu người Việt và Hoa kiều màtrước đây người Pháp thường gọi một cách miệt thị là "khu bản xứ", gồm một số
cơ quan quân sự, kinh tế của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, một số phố
sá và nhà dân
Phía Bắc giáp sông Cấm là khu tô giới (thường gọi là khu nhượng địa) doPháp cai quản mà hạt nhân là Sở Thuế đoan, Toà lãnh sự và đồn binh (nay chủyếu thuộc phường Minh Khai, Hoàng Văn Thụ); đồng thời tại đó cũng dần dầnxây lên những kiến trúc đô thị hiện đại đầu tiên của Hải Phòng Sự phát triển cấutrúc tổng thể khu phố Pháp tại Hải Phòng qua các giai đoạn lịch sử:
Năm 1872, Pháp chiếm vùng đất Ninh Hải - Hải Phòng ngày nay Sauhiệp ước Giáp Tuất, những năm 1874 - 1888 là thời kỳ hình thành khu phố Pháp
- cũng có thể coi như đặt nền móng cho thành phố Hải Phòng
Giai đoạn 1897 - 1914 là thời kỳ xây dựng Hải Phòng thành một thànhphố cảng biển và công nghiệp quan trọng của miền Bắc
Năm 1874: Sau khi Pháp chiếm vùng đất Ninh Hải (1872), ở thời điểm đóvẫn là làng cổ Gia Viên, An Biên Khu nhượng địa cho Pháp được khoanh vùng
ở sát ngã 3 sông Cấm và sông Tam Bạc
- Năm 1876, chính quyền bảo hộ mở Bưu cục Hải Phòng, đến năm 1904,mạng lưới điện thoại nội thành Hà Nội - Hải Phòng được đưa vào khai thác, lúc
ấy bưu điện Hải Phòng là một trong bốn bưu cục hiện đại của cả nước
- Năm 1885: Năm 1884 Pháp xây dựng Tòa lãnh sự, từ năm 1885 bắt đầuxây dựng nhà cửa lớn theo kiểu châu Âu Dần hình thành khu phố bản xứ ở phíaTây - Nam ven sông Tam Bạc và khu của người Pháp ở phía Bắc ven sông Cấm
- Trước năm 1900: Năm 1885, công sứ Bonnal đã cho đào kênh vành đai(kênh Bonnal) rộng 74m, nối sông Tam Bạc với sông Cấm, tách khu của ngườiPháp cùng khu phố bản xứ (chủ yếu của người Hoa) khỏi các làng của ngườiViệt ở phía Nam Trên kênh này có 3 cây cầu lớn là cầu Carông (gần chợ Sắt),
Trang 25cầu Doumer (khu Nhà hát lớn), cầu Laniel (gần sân Cảng và Vườn hoa KimĐồng)
- Trước năm 1902: Người Pháp đã phát triển đô thị Hải Phòng sang bờNam kênh vành đai với việc kéo dài trục đường Paul Bert (nay là đường ĐiệnBiên Phủ) và Amiral Courbet (nay là đường Hoàng Văn Thụ), có trường đuangựa (nay là khu vực SVĐ Lạch Tray) Trong quy hoạch nhấn mạnh 3 trụcchính: Felix Faure (Nguyễn Tri Phương ngày nay - ranh giới khu nhượng địatrước đây) và 2 trục vừa kể trên
- Năm 1905: Đường sắt Hà Nội - Hải Phòng đã được xây dựng Ga HảiPhòng được bố trí ở phía Nam kênh vành đai, tức là ở ngoại vi của khu phốPháp lúc đó Điều này thể hiện sự khoa học trong việc bố trí giao thông đườngsắt không cắt ngang đô thị, và sau đó còn được kéo dài tới cảng (bến 6 kho)
- Năm 1915: Có thêm nhiều trục đường xương cá được mở ra vuông gócvới kênh vành đai ở bờ Nam
- Năm 1926: Trước đó, năm 1925, người Pháp đã cho lấp phần lớn kênhvành đai và cải tạo thành dải vườn hoa Lớp ô phố thứ 3 được quy hoạch để đưađường sắt lọt vào trong lòng đô thị Trong những năm 1925- 1926, người Phápxây thêm nhiều nhà máy, xí nghiệp trên Cửa Cấm, Thượng Lí, mở rộng cảngHải Phòng
Những biến đổi mạnh mẽ về xây dựng ở Hải Phòng trong nửa đầu thế kỷ
XX đã làm thay bộ mặt kiến trúc ở khu vực bờ nam kênh đào Bonnan (dải vườnhoa, cây xanh trung tâm bây giờ) - trước kia là lạch Liêm Khê chảy qua làng cổ
Trang 26công trình phục vụ cho mục đích giải trí của chính quyền thực dân và tầng lớpthượng lưu như nhà hát, rạp chiếu bóng, khách sạn Hải Phòng khi đó giống nhưmột góc thu nhỏ của nước Pháp vậy.
2.3 Kiến trúc Pháp ở Hải Phòng
2.3.1 Một số khu phố Tây ở Hải Phòng
Đô thị Hải Phòng đã tồn tại và phát triển hơn 100 năm, với các di sản kiếntrúc tiêu biểu là các khu phố cũ quy hoạch theo ô bàn cờ được xây dựng từ thờiPháp thuộc Diện mạo kiến trúc đô thị Hải Phòng được phân chia khu vực khá rõràng về phong cách kiến trúc
Nó được chia làm hai phong cách: Miền Bắc và miền Tây nước Pháp,miền Trung và Tây Nam nước Pháp Đặc biệt là khu phố Pháp, các công trìnhcông cộng tập trung tại các khu phố nằm hầu hết trên địa bàn quận Hồng Bàng,các tuyến phố Đinh Tiên Hoàng, Minh Khai, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, HồXuân Hương, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương… một phần nhỏ khác ở quậnNgô Quyền và Lê Chân Dưới đây là một số phố tiêu biểu:
2.3.1.1 Phố Điện Biên Phủ
Phố Điện Biên Phủ trước đây bao gồm Đại lộ Paul Bert (Boulevard PaulBert) và phố Thống chế Joffre (Maréchal Joffre) Đại lộ Paul Bert từ cầu LạcLong đến ngã tư giao với phố Trần Phú hiện nay, phố Thống chế Joffre là phầncòn lại của phố Điện Biên Phủ
Sau cách mạng, đổi là đại lộ Lê Hồng Phong, phố Giốp đổi gọi là phốPhạm Ngũ Lão Năm 1954 đại lộ Paul Bert đổi là đại lộ Hồng Bàng, phố Giốpđổi là phố Pháp quốc, sau giải phóng gọi là phố Điện Biên Phủ Năm 1963 nhậpđại lộ Hồng Bàng với phố Điện Biên Phủ, gọi là phố Điện Biên Phủ như hiệnnay
Đây là phố đẹp và lớn nhất thành phố đồng thời cũng ra đời sớm ThờiPháp thuộc trên phố có nhiều cơ sở kinh tế quan trọng, nhiều ngân hàng, kháchsạn lớn Phố là trung tâm thương mại chủ yếu của Hải Phòng hồi đó
* Về cơ sở kinh tế và thương mại có:
Trang 27- Công ty vận tải đường biển (Messageries Maritimes), dịch vụ bưu điện,thương mại, Công ty vận tải liên hiệp (Chargeurs Réunis), thường gọi là hãngNăm sao cơ sở của hãng này nay là trụ sở của Ngân hàng thương mại cổ phầnhàng hải Đây là hai hãng vận tải biển lớn nhất Hải Phòng lúc đó, ngoài ra một
số hãng khác cũng có tàu ra vào Hải Phòng nhưng nhỏ hơn
* Các cơ sở thương mại khác ở phố này thời Pháp thuộc còn có:
- Hoa Kiều có hãng Yuen Tai Ling (Nguyễn Thế Lâm) Ling là ngườiTrung Quốc đến kinh doanh thương mại sớm nhất ở Hải phòng (1875)
- Hãng bảo hiểm Phôven (Fauvel), nhà in Viễn Đông IDEO; Hãng Opto(Optorg), hãng Đềcua Cabo (Descours Cabaud), nay là Siêu thị Intimex MinhKhai; Hiệu thuốc Brutsmit (Pharmacie Brusmith), nay là hiệu thuốc Hồng Bàng
- Phòng thương mại Hải Phòng (nay là Sở văn hóa thông tin và thư việnHải Phòng) thành lập ngày 23-11-1884 với địa bàn hoạt động là các tỉnh, thànhphố miền duyên hải Bắc – Trung Kỳ Sau đó, năm 1909 ba tỉnh Thanh Hóa,Nghệ An, Hà Tĩnh tách ra đưa vào địa bàn hoạt động của Phòng thương mại HàNội
* Các khách sạn có:
- Ôten Pari (Paris) nay là khách sạn Điện Biên
- Ôten Commec (Commerce)- Khách sạn Thương Mại, tồn tại tròn 100năm (1909- 2009) sau đó bị phá bỏ, nay là bãi đỗ xe cạnh khách sạn Hữu Nghị
- Khách sạn Mácxâye (Marseillaise) là Phòng văn hóa và thư viện quậnNgô Quyền hiện nay
- Ôten Palat (Palace), Ôten La Pe (la Paix) Khách sạn Bạch Đằng hiệnnay trước là nhà in Tôpanh (Topin), khách sạn Hồng Bàng nguyên là hiệu in vảilụa, quần áo của một phụ nữ Pháp tên là Girodon (Girodolle)…
* Các cơ sở văn hóa:
Trang 28- Trường dạy đánh máy, kế toán anh ngữ ODACS, nay là cửa hàngFoserco; Câu lạc bộ hội âm nhạc Philamonic (Filamonique) đặt ở Đình Cấm cũ,nay là Nhà văn hóa lao động.
- Rạp chiếu bóng Omnia, sau giải phóng gọi là rạp Cộng Hòa rồi thànhthư viện thiếu nhi thành phố, nay đã dỡ bỏ để xây mới Rạp Colibry sau giảiphóng thành hiệu cắt tóc; rạp Club sau giải phóng không còn Cơ sở quân sự cótrại Buê (Camp Bouet) nay là trụ sở Bộ tư lệnh Hải Quân
Do nằm trong khu phố người Âu nên thời kỳ Pháp thuộc, nên thực dânPháp rất chú ý lo giữ an ninh, chính trị toàn xã hội, dân lao động ít khi đến phốnày
Ngày nay, phố Điện Biên Phủ có tầm quan trọng rất lớn đối với sự pháttriển kinh tế của thành phố, là trục đường xuyên suốt khu vực trung tâm, nơi tậptrung rất nhiều cơ sở kinh doanh thương mại, các cửa hàng lớn và rất nhiều trụ
sở quan trọng của thành phố
2.3.1.2 Phố Đinh Tiên Hoàng
Phố thuộc đất xã Gia Viên cũ, trong khu nhượng địa, là phố lớn của khuTrung ương thời Pháp thuộc Lúc mới mở gọi là đại lộ Sơn Tây Sau đổi gọi làđại lộ Amiran đờ Bomong (Amiran de Beaumont) Sau cách mạng đổi tên là phốNguyễn Thị Minh Khai Từ năm 1954 mang tên Đinh Tiên Hoàng
Thời Pháp thuộc có một số cơ sở kinh tế như Sở Thú y; Sở Hiến binh;hãng bảo hiểm Foven (Fauvel); Hãng hàng không Pháp – Việt; trụ sở Công tyThan của Bạch Thái Bưởi; hãng của Cao Bá Cam, của nhà tư sản Hoa Kiều LaiAn; Rạp chiếu bóng Êden (Eden) được xây dựng trước năm 1945, nay là rạpHòa Bình Rạp Lido xây trong những năm 1947 – 1951, nay là Nhà hát thángTám
Trường Henri Riveri dành cho con trai Sau đó, trong thời kỳ tạm chiến,con trai, con gái học chung Học ở nơi này là con em người Pháp, sau đó nhậnthêm học sinh Việt Nam, con cái những nhà giàu sang