BỘ CÔNG THƯƠNG TỔNG CÔNG TY CP ĐIỆN TỬ VÀ TIN HỌC VIỆT NAMTRƯỜNG CAO ÐẲNG CÔNG NGHỆ VIETTRONICS KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM KHAI THÁC CÁC LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TỔNG CÔNG TY CP ĐIỆN TỬ VÀ TIN HỌC VIỆT NAM
TRƯỜNG CAO ÐẲNG CÔNG NGHỆ VIETTRONICS
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM KHAI THÁC CÁC LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở THÁI BÌNH CHO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỦA THÀNH PHỐ
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Huệ Đơn vị : Khoa quản trị kinh doanh Sinh viên : Nguyễn Thị Kim Ngân
Trang 2Hải Phòng, tháng 05 năm 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Bài kháo luận tốt nghiệp được hoàn thành, ngoài sự lỗ lực của bản thân còn
có sự động viên giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu trường Cao đẳng côngnghệ Viettronics, đặc biệt là cô giáo bộ môn chuyên ngành Nguyễn Thị Huệ đãtận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian viết bản khóa luận này Cuối cùng emxin cảm ơn các cô giáo trong khoa quản trị kinh doanh, cũng như các cô giáo bộmôn đã dạy dỗ và giúp đỡ em trong quá trình học tập
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng trong việc tìm hiểu, thu thập các thông tin,tài liệu cũng như trong việc trình bày nội dung về các vấn đề nhưng do trình độcòn hạn chế cho nên không thể tránh khỏi được những thiếu sót Do đó em rấtmong nhận được sự đóng góp chỉ bảo tận tình của các thầy cô trong bài khóaluận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hải phòng, ngày 25 tháng 05 năm 2014
Sinh viênNguyễn Thị Kim Ngân
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
LỜI MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài: 5
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 6
4 Kết cấu của khóa luận 6
CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 7
TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM 7
1.1 Những vấn đề cơ bản về làng nghề truyền thống 7
1.1.1.Định nghĩa về làng nghề truyền thống 7
1.1.2.Đặc điểm về làng nghề truyền thống ở Việt Nam 7
1.1.3.Vai trò của làng nghề truyền thống 9
1.1.4 Sự cần thiết phát triển làng nghề truyền thống trong nền kinh tế thị trường 10
1.2 Các nhân tố tác động đến sự phát triển làng nghề truyền thống 11
1.2.1 Tác động của quản lý nhà nước 11
1.2.2 Phát huy các nhân tố của bản thân các làng nghề 11
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 14
TRUYỀN THỐNG THÁI BÌNH 14
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 14
2.1.1 Điều kiện tự nhiên thiên tài nguyên thiên nhiên 14
2.1.2 Đặc điểm hình thành và phát triển các làng nghề truyền thống Thái Bình 16
2.2 Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống Thái Bình hiện nay 23
2.2.1 Lao động và chất lượng lao động 23
2.2.2 Số lượng và quy mô các làng nghề truyền thống ở Thái Bình 24
2.2.3 Tổ chức sản xuất kinh doanh 25
2.2.4 Vốn và nguồn vốn trong các làng nghề 25
2.2.5 Kỹ thuật công nghệ của các làng nghề 26
2.2.6 Sản phẩm và tình hình tiêu thụ sản phẩm 27
2.3 Những đóng góp của làng nghề trong những năm vừa qua ở Thái Bình 28
2.3.1 Làng nghề đã góp phần gia tăng giá trị sản phẩm của địa phương 28
2.3.2 Tăng thêm nhiều việc làm, thu nhập cho người lao động ở nông thôn 28
2.3.3 Một số chính sách của nhà nước và tỉnh Thái Bình đối với các làng nghề 29
2.4 Đánh giá chung về làng nghề truyền thống ở Thái Bình 30
2.4.1 Những đóng góp nổi bật 30
2.4.2 Mặt hạn chế tồn tại và nguyên nhân 31
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 34
Trang 53.1 Định hướng phát triển làng nghề truyền thống 34
3.1.1 Chiến lược phát triển làng nghề truyền thống 34
3.1.2 Phát triển làng nghề truyền thống gắn với các tour du lịch 36
3.1.3 Đa dạng hóa các sản phẩm của làng nghề 36
3.1.4 Đầu tư cơ sở vật chất 38
3.1.5 Xây dựng tour du lịch cho khách hàng tự làm sản phẩm cho mình 39
3.2 Các giải pháp phát triển làng nghề truyền thống 39
3.2.1 Giải pháp về quản lý nhà nước 39
3.3.3 Liên kết kinh tế giữa các làng nghề truyền thống 41
3.2.4 Chính sách khuyến khích phát triển các làng nghề truyền thống 43
3.2.5 Tạo lập và gắn kết các ngành du lịch văn hóa với làng nghề truyền thống 44
3.2.6.Giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường 45
3.3 Giải pháp về du lịch làng nghề truyền thống 45
3.3.1 Giới thiệu sản phẩm làng nghề truyền thống 45
3.3.2 Ổn định giá và đa dạng hóa các tổ chức sản xuất kinh doanh 46
3.3.3 Liên kết các làng nghề với nhau để phát triển du lịch làng nghề 47
KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 51
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU.
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Khu vực nông thôn Việt Nam chiếm gần 80% dân số cả nước, trong xu thếhội nhập kinh tế, khu vực nông thôn đã đạt được những kết quả tương đối khảquan như: đã giải quyết được nhu cầu về thực phẩm, vật dụng, thu nhập của dân
cư ở khu vực nông thôn tăng lên, đời sống văn hóa xã hội được cải thiện đáng
kể Đặc biệt là đối với địa phương đã hình thành và phát triển các cụm côngnghiệp – tiểu thủ công nghiệp với các làng nghề, làng nghề truyền thống, cungcấp nhiều sản phẩm cho xã hội Hiện nay, nước ta có khoảng gần 2000 làngnghề thủ công thuộc 11 nhóm nghành nghề chính như: sơn mài, thêu ren, mâytre đan, cói, bánh kẹo, gỗ đá, đúc đồng…
Cùng với sự phát triển làng nghề truyền thống cảu cả nước, làng nghề củatỉnh Thái Bình cũng được chính quyền địa phương quan tâm, tạo điều kiện đểphát triển, mở rộng quy mô và đa dạng nghành nghề Nhiều làng nghề như: làmBánh Cáy, chiếu cói, mây tre đan, trạm bạc, dệt khăn dệt vải, sản xuất gạchngói…Thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn làng nghềđược mở rộng quy mô, đã sử dụng máy móc, công nghệ thay thế cho lao độngthủ công Hiện nay, làng nghề cần được sắp xếp, quy hoạch thành những cụmlàng nghề liên kết nhau để có thể tiếp nhận đầu tư nước ngoài, đầu tư công nghệhiện đại nâng cao sản xuất lao động, bảo vệ môi trường tự nhiên, xây dưng môitrường xã hội văn minh hiện đại Có như vậy làng nghề mới có thể tăng trưởngtheo hướng bền vững và phát triển làng nghề gắn với du lịch Để giải quyết vấn
đề đó, tôi chọn đề tài: "Một số biện pháp nhằm khai thác các làng nghề truyềnthống ở Thái Bình cho hoạt động du lịch của thành phố"
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài.
Mục đích nghiên cứu đề tài.
Mục đích của luận văn khi thực hiện là góp phần phát triển các làng nghềtruyền thống tỉnh Thái Bình cũng như góp phần bảo tồn di sản văn hóa trongkinh doanh du lịch của tỉnh
Nhiệm vụ của đề tài.
Phân tích, đánh giá đúng thực trạng phát triển làng nghề truyền thống trênđịa bàn tỉnh Thái Bình
Trang 7Nêu lên quan điểm và đề xuất các giải pháp phát triển các làng nghề truyềnthống cho hoạt động du lịch của thành phố.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài.
Đối tượng nghiên cứu dề tài.
Đối tượng nghiên cứu là các làng nghề truyền thống và các nhân tố tác độngđến sự phát triển làng nghề truyền thống cho hoạt động du lịch của thành phố
Phạm vi nghiên cứu đề tài.
Phạm vi về không gian: Nghiên cứu thực tế hoạt động của các làng nghềtruyền thống của tỉnh Thái Bình
Phạm vi về thời gian: số liệu, tài liệu sẽ thu thập từ thời điểm năm 2000đến nay,các định hướng phát triển các làng nghề truyền thống của tỉnh và cácgiải pháp được đưa ra cho thời gian tới
4 Kết cấu của khóa luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Sự cần thiết phát triển làng nghề truyền thống ở Việt Nam
Chương 2: Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống Thái Bình
Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu phát triển làng nghề truyềnthống tỉnh Thái Bình
Trang 8CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM
1.1 Những vấn đề cơ bản về làng nghề truyền thống.
1.1.1.Định nghĩa về làng nghề truyền thống.
Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm chính thống về làng nghề, theo giáo sưTrần Quốc Vượng thì làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểunông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm sứ,làm tương, song đã nổi trội một số nghề cổ truyền, tinh xảo với một lớp nghệthủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp cùng một số thợ có quy trìnhcông nghệ nhất định Sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặthàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mĩ nghệ, đã trở thành những sảnphẩm hàng hóa
Kỷ yếu hội thảo quốc tế” bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống ViệtNam” tháng 8/1996 Định nghĩa này hàm ý về các làng nghề truyền thống, đó làlàng nghề nổi tiếng hàng nghìn năm
1.1.2 Đặc điểm về làng nghề truyền thống ở Việt Nam.
Làng nghề truyền thống Viêt Nam có những đặc điểm chính sau:
Hoạt động làng nghề truyền thống gắn liền với làng nghề và sản xuất nông nghiệp.
Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng của xã hội, các nghề thủ công truyền thốngdần dần xuất hiện với tư cách là nghề phụ, việc phụ trong các gia đình nông dân
và nhanh chóng phát triển ở nhiều làng nghề Năng suất lao động thấp đã khôngđảm bảo thu nhập đủ cho nông dân Vì vậy, nhu cầu tạo việc làm để có thêm thunhập ngoài sản xuất nông nghiệp là cần thiết Đồng thời, do tính thời vụ của sảnxuất nông nghiệp đã tạo ra một sự dư thừa lao động trong một thời gian nhấtđịnh, trong khi đó, ngay trên thị trường địa phương có nhu cầu về sản phẩm tiểuthủ công nghiệp để phục vụ cho tiêu dùng, sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, Tất
cả những điều đó đã tác động thúc đẩy các hoạt động tiểu thủ công nghiệp, banđầu phục vụ nhu cầu của gia đình mang tính tự sản, tự tiêu, phát triển thành hoạtđộng có quy mô nhiều gia đình cùng tham gia và như vậy làng nghề truyềnthống hình thành và phát triển
Trang 9Có truyền thống lâu đời.
Đặc trưng của làng nghề Việt Nam là có truyền thống lâu đời Theo các tưliệu lịch sử, thời Phùng Nguyên khoảng 3000 trước công nguyên, người Việt đãphát minh và sang chế ra hầu hết các kỹ thuật chế tác một số công cụ như đồ đa,
đồ gốm…Năm 258 người Việt phát minh ra công thức luyện đồng thau, và đúctrống đồng đông sơn, sản phẩm chứng minh cho nghề truyền thống thời bấy giờ.Làng nghề truyền truyền thống nước ta chịu nhiều biến động về công ghệ thịtrường, chiến tranh,cơ chế chính sách và có nhiều bước thăng trầm nhất định, cólúc phát triển mạnh mẽ về số lượng quy mô, đa dạng hóa các nghành nghề,nhưng cũng có thời kì bị tác động mạnh mẽ bởi các yếu tố và bị mai một Tớinhững năm gần đây, làng nghề truyền thống từng bước phát triển và được khôiphục Như vậy, hầu hết các làng nghề, làng nghề truyền thống, và các làng nghềmới và các làng nghề mới được phục hồi tính truyền thống thể hiện rất rõ
Có bản sắc văn hóa của Việt Nam.
Một đặc điểm khác hết sức quan trọng là làng nghề truyền thống, hàng hóacủa làng đặc biệt là hàng thủ công mĩ nghệ mang bản sắc truyền thống Có tínhkhác biệt, tính riêng mang màu sắc của mỗi nghệ nhân,và nét văn hóa đặc trưngđịa phương, tồn tại trong sự giao lưu với cộng đồng Hàng chạm trổ trên từngchất liệu khác nhau(gỗ, đá, sừng, xương…)hàng sơn( sơn quang, sơn thiếp, sơnmài…) hàng thêu dệt(tơ lụa, chiếu, thảm…) hàng mây ttre đan, kim hoàn, tròchơi…
Ở mỗi làng nghề có bản sắc riêng Những nét riêng đó được thử thách quathời gian, qua giao lưu trao đổi được chọn lọc,thừa nhận để tồn tại và phát triểncùng với sự bổ sung lẫn nhau tạo thành kiểu dáng hoàn thiện, đặc sắc thể hiệnbẳn sắc của Việt Nam
Lao động chủ yếu là thủ công.
Trước đây, khi kĩ thuật còn thô sơ còn lạc hậu thì hầu hết các công đoạntrong quy trình sản xuất đều do lao động thủ công đảm nhận Công viếc này đãthể hiện một tay nghề nhất định, một tài khéo léo riêng biệt, độc đáo kết hợp vớiđầu óc sang tạo và nghệ thuật thông qua lao động bằng tay Ngày nay,nhiều làngnghề truyền thống đã biết sử dụng máy móc cơ khí trong sản xuất Tuy nhiênnhiều dấu ấn lao đọng thủ công vẫn được gìn giữ và chính chất thủ công manglại đặc thù cho sản phẩm làng nghề truyền thống
Trang 10Làng nghề truyền thống luôn gắn với tên làng( thương hiệu) và có khả năng tồn tại và phát triển lâu dài.
Mỗi làng nghề truyền thống thường gắn liền với địa danh của làng đó để đặttên cho làng nghề truyền thống của làng mình như làng tranh Đông Hồ, lànggốm Bát Tràng, tơ lụa Tân Châu, làng mộc Kim Đồng… Đây chính là đặc điểmtiêu biếu để phân biệt các đặc điểm riêng của mỗi làng nghề truyền thống
1.1.3 Vai trò của làng nghề truyền thống.
Phát triển các làng nghề truyền thống có vai trò chủ yếu sau:
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, đa dạng hóa kinh
tế nông thôn.
Quá trình phát triển các làng nghề truyền thống đã có vai trò tích cực gópphần tăng tỉ trọng sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ,chuyển lao động từ sản xuất có thu nhập còn rất thấp sang nghành nghề phi nôngnghiệp có thu nhập cao hơn Như vậy khi nghành nghề thủ công hình thành vàphát triển thì kinh tế nông thôn không chỉ có nghành nông nghiệp thuần nhất màbên cạnh các nghành nghề thủ công tồn tại và phát triển
Giải quyết viêc làm ở nông thôn, tăng thu nhập cho người lao động.
Yêu cầu phát triển toàn diện kinh tế- xã hội ở nông thôn, tạo việc làm nângcao đời sống cho dân cư ở nông thôn là vấn đề quan trọng hiện nay ở nước ta.Các làng nghề truyền thống ra đời đã giải quyết được phần nào công ăn việc làmcho người dân, nâng cao đời sống
Cung cấp một khối lượng hàng hóa cho xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế.
Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn sẽ tạo điều kiệnhuy động một cách tối đa mọi nguồn lực sẵn có ở nông thôn như nguồn lực tựnhiên, nguồn lực cơ sở vật chất kĩ thuật, tiềm năng vốn có nguyên liệu sẵn cócủa địa phương… phục vụ vào sản xuất Do đó, sản xuất được đẩy mạnh và tạo
ra được nhiều hàng hóa có chất lượng cao, đa dạng phục vụ cho nhu cầu sảnxuất và đời sống Mặt khác, sản xuất trong các làng nghề truyền thống thườngtương đối năng động và gắn chặt kinh tế thị trường Vì vậy, sản xuất các làngnghề mang tính chuyên môn hóa và đa dạng hóa cao
Trang 11Khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa địa phương.
Khai thác được tiềm năng cũng như phát huy được lợi thế so sánh, lợi thếnhờ quy mô ở từng vùng, từng địa phương góp phần thực hiện thành công sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông thôn nói riêng
Như vậy, làng nghề truyền thống không chỉ là nơi sản xuất ra hàng hóa màcòn chứa đựng những tiềm ẩn giá trị văn hóa tinh thần, truyền thống văn hóa củadân tộc được lưu truyền bao đời nay Ngày nay, trong xu thế hội nhập kinh tế,quốc tế, thì việc phát triển các làng nghề truyền thống còn là cơ sở để tổ chức dulịch làng nghề thu lợi nhuận cao, có khả năng thu hút đông đảo du khách tìmhiểu, chiêm ngưỡng những nét văn hóa, những sản phẩm truyền thống của dântộc
1.1.4 Sự cần thiết phát triển làng nghề truyền thống trong nền kinh tế thị trường.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, cá nhân, hộ gia đình được tự do đầu tư
và sản xuất kinh doanh những sản phẩm mà pháp luật không cấm, được bìnhđẳng trước pháp luật Nhiều làng nghề truyền thống được khôi phục và pháttriển mạnh mẽ, trở thành một xu hướng phát triển tất yếu là do:
Thứ nhất, môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi, cơ chế quản lý Nhà
nước thay đổi đã cho phép mọi cá nhân, hộ gia đình tự do đầu tư sản xuất kinhdoanh Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng như đường giao thông, cầu cống, điệnnước, bưu chính viễn thông, trường học trạm y tế… tạo điều kiện thuận lợi tronggiao lưu trao đổi hàng hóa, mở rộng các loại thị trường hàng hóa, lao động tàichính…
Thứ hai, phát triển làng nghề truyền thống gắn với lợi ích, đời sống thiết
thực của nông dân Xuất phát từ lợi ích lợi nhuận mà bản thân làng nghề truyềnthống nó tự phát triển Mặt khác, trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thịtrường, Đảng và nhà nước đã quan tâm nhiều đến sự phát triển nông nghiệp,nông thôn trong đó có làng nghề truyền thống nhằm mục tiêu nhanh chóng nângcao đời sống người dân, giảm khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thànhthị
Trang 12Thứ ba, gắn liền với việc gìn giữ thương hiệu sản phẩm, gìn giữ bản sắc văn
hóa dân tộc, “ Mỗi làng nghề là một địa chỉ văn hóa nó phản ánh nét văn hóađộc đáo của từng địa phương, từng vùng” Làng nghề truyền thống thể hiệnnhững nét văn hóa độc đáo qua từng sản phẩm, qua các lễ hội và phong tục tậpquan ứng xử làng nghề Bởi làng nghề truyền thống với những sản phẩm làmbằng tay, chất liệu, hoa văn Việt Nam là biểu tượng cho di sản văn hóa ViệtNam, những chất liệu, kiểu dáng và từng chi tiết khéo léo tinh xảo trên các sảnphẩm thủ công chính là nơi truyền tải các sắc thái văn hóa địa phương và gópphần làm nên bản sắc văn hóa dân tộc
1.2 Các nhân tố tác động đến sự phát triển làng nghề truyền thống.
1.2.1 Tác động của quản lý nhà nước.
Định hướng và khuyến khích phát triển làng nghề truyền thống.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn làng nghề luôn giữmột vị trí quan trọng, luôn được đảng và nhà nước quan tâm như:
Xây dựng các cụm côg nghiệp tiểu thủ công nghiệp tập trung
Hỗ trợ quản lý môi trường, tiếp cận tín dụng
Chương trình bảo tồn phát triển làng nghề gắn với phát triển du lịch
Tổ chức các lớp, khóa đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, truyền nghề, tổ chức,
hỗ trợ cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn tham gia hội trợ, triểm lãm, thamquan, khảo sát, học tập kinh nghiệp, hợp tác quốc tế
1.2.2 Phát huy các nhân tố của bản thân các làng nghề.
Nhân tố truyền thống của từng hộ gia đình.
Làng nghề truyền thống thường gắn với những kinh nghiệm truyền thống,cha truyền con nối, do đó đã xuất hiện nhiều nghệ nhân tài hoa Tính truyềnthống của làng nghề tạo nên uy tín lan truyền qua bao thế hệ trong phạm vi rộnglớn Đây là yếu tố tác động cản trở việc di chuyển làng nghề truyền thống đếnmột địa điểm mới, một khu mới tách biệt dân cư để xây dựng mô hình cụm côngnghiệp làn nghề
Sản xuất làng nghề truyền thống có nguồn gốc từ tiểu thủ công nghiệp đượctách ra từ sản xuất nông nghiệp Vì thế sản xuất mang tính nhỏ lẻ, manh mún tựphát với kĩ thuật thô sơ, lạc hậu Tính chất này đã ăn sâu trong tâm trí ngườinông dân và trở thành yếu tố tâm lý
Trang 13Cơ sở vật chất của các làng nghề truyền thống đều do nhân dân, hộ gia đình,đầu tư xây dựng một cách tự phát tùy theo khả năng sản xuất lao động và tiềnvốn của từng gia đình Từ việc mua máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng,cung ứng nguyên vật liệu đến việc tổ chức tiêu thụ cũng đều do người nông dân
tự phát xây dựng, không theo quy hoạch, không tính đến tác hại cảu nhữngngười xung quanh, chỉ miễn sao có lợi cho gia đình của họ Như vậy tính cộngđòng trong các làng nghề thường không có, nếu có là tính gia đình, dòng họ
Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững.
Phát triển làng nghề truyền thống gắn với mục tiêu sử dụng tiết kiệm, cóhiệu quả và bảo vệ tài nguyên môi trường Sản xuất trong làng nghề truyềnthống luôn là quá trình gồm hai mặt Một mặt, đó là quá trình khai thác, chế biếncác nguồn tài nguyên thiên nhiên để sản xuất ra sản phẩm Mặt khác, là sự tiêudùng các sản phẩm công nghiệp của người dân Vì vậy, mọi người dân phảinhận thức được và có năng lực tự điều chỉnh và kiểm soát môi trường Điều đó,đòi hỏi các cấp chính quyền địa phương phải tăng cương giáo dục cho người dânnông thôn nhận thức được ý thức trách nhiệm trước cộng đồng Đồng thời, phảităng cường quản lý, kiểm tra, kiểm soát môi trường
Trang 14Tiểu kết chương 1.
Hàng trăm làng nghề truyền thống ở Thái Bình tồn tại lâu đời không chỉ lànguồn kinh tế chính của cư dân nơi đây, mà còn góp phần tạo nên bản sắc vănhóa cho mỗi vùng quê Để bảo tồn và phát triển làng nghề, Tỉnh ủy Thái Bình đã
ra Nghị quyết về bảo tồn và phát triển làng nghề Từ 53 làng nghề hoạt độngcầm chừng, nay Thái Bình đã có 290 làng nghề, tạo việc làm cho hàng chụcnghìn lao động mỗi năm
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay các làng nghề có vị trí đặc biệtquan trọng chúng là một bộ phận cơ bản của công nghệp nông thôn Các làngnghề có khả năng thu hút nhiều lao động góp phần tích cực vào việc giải quyếttình trạng thất nghiệp tăng thu nhập cho người lao động nhất là ở vùng nôngthôn Thái Bình là một tỉnh thuần nông với 94% dân số sống ở nông thôn là nơi
có số lượng làng nghề tập trung đông, nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng.Các làng nghề đã có những đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển kinh tếchung của toàn tỉnh
Việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống cũng như các làngnghề mới có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ về mặt kinh tế mà về mặt ổnđịnh chính trị xã hội Để góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội thựchiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà cụ thể là phát triển các làng nghề ở TháiBình
Trang 15CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG THÁI BÌNH
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội.
2.1.1 Điều kiện tự nhiên tài nguyên thiên nhiên tỉnh Thái Bình.
Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất và tiêu thụ cácsản phẩm, do đó nó ảnh hưởng lớn đến việc phát triển các làng nghề Mỗi vùngvới điều kiện khí hậu thời tiết, đặc trưng tạo nên những nguồn nguyên liệu chocác làng nghề khác nhau, hầu hêt, các sản phẩm thủ công truyền thống đều nhằmphục vụ đời sống của người dân mà mỗi nơi người dân có những nhu cầu khácnhau cho phép phát triển các ngành nghề khác nhau Ví dụ: vùng Đồng BằngSông Hồng có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nó ảnh hưởng trực tiếp đến cácnghành may mặc, ngành dệt len, chế biến lương thực …
Vị trí địa lý là một yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự hìnhthành và phát triển và đảm bảo sự phát triển lâu dài đối với các ngành nghề đặcbiệt là các ngành nghề truyền thống
Thái Bình là một tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Hồng, miền Bắc ViệtNam Trung tâm tỉnh là thành phố Thái Bình cách thủ đô Hà Nội 110 km về phíađông nam, cách thành phố Hải Phòng 70 km về phía tây nam
Thái Bình tiếp giáp với 5 tỉnh, thành phố: Hải Dương ở phía bắc, Hưng Yên
ở phía tây bắc, Hải Phòng ở phía đông bắc, Hà Nam ở phía tây, Nam Định ởphía tây và tây nam Phía đông là biển Đông (vịnh Bắc Bộ) Theo quy hoạchphát triển kinh tế, Thái Bình thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ
Do có nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên nên nguồn nguyên liệu cho cáclàng nghề mây tre đan, chế biến lương thực thực phẩm dồi dào đây là một nghềtrước đây khá phổ biến ở Thái Bình
Tình hình phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Thái Bình.
Về tăng trưởng kinh tế.
Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp mặc dù có trình độ thâm canh lúa nướckhá cao song nề kinh tế vẫn chưa được cao, cơ cấu GDP nông nghiệp vẫn giữvai trò chủ yếu
Trang 16Công nghiệp chiếm tỉ trọng quá nhỏ bé đây là một khó khăn đối với việcphát triển nghành nghề ở nông thôn Ở các nước công nghiệp phát triển thì các
cơ sở ngành nghề nông thôn tồn tại với tư cách như là những vệ tinh cho côngnghiệp đô thị
Thu nhập bình quân của toàn tỉnh còn quá thấp công nghiệp phát triểnchậm, các dự án đầu tư nước ngoài dường như không đáng kể, nguồn thu chủyếu của tỉnh hiện nay vẫn dựa vào nông nghiệp
Trong cơ cấu tổng thu nhập của hộ gia đình toàn tỉnh nói chung thu nhập từnông lâm thủy sản chiếm tới 77,5% công nghiệp 3,5% dịch vụ 19% Tỷ lệ ngườinghèo ở Thái Bình năm 2012 là 8,2% Trong nguồn thu từ nông nghiệp thu từtrồng lúa luôn chiếm vị trí ban đầu
Điều kiện văn hóa xã hội.
Thái Bình là một tỉnh đông dân theo thống kê 2010 Thái Bình có khoảng1.787,903 người, mật độ 1.163 người/km2 trong đó lao động nông nghiệp chiếm83%, dân số sống nông thôn chiếm 94% Diện tích đất nông nghiệp bình quânđầu người thấp chỉ khoảng 0,06ha/người Tình trạng thất nhiệp khá trầm trọngnhất là vào thời gian nông nhàn, từng đoàn người kéo ra thành phố lớn để tìmviệc kéo theo sự di cư tự do đó là hàng loạt những vấn đề mà các thành phố lớnphải giải quyết
Theo số liệu điều tra của tỉnh Thái Bình thì trình độ chuyên môn nghiệp vụlà:
Với những số liệu trên cho thấy lực lượng lao động Thái Bình tuy đông đảo
về số lượng song chất lượng còn hạn chế Mặc dù trong những năm gần đâycông tác đầu tư cho giáo dục đã đặc biệt được quan tâm nhưng tỉ lệ người họchết trung học vẫn ít, đội ngũ công nhân kỹ thuật thiếu trầm trọng đây sẽ là mộtkhó khăn cơ bản trên con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa
Trang 17Trong quá trình phát triển tất yếu phải đi lên một xã hội công nghiệp để đi
từ nông nghiệp lên công nghiệp đối với nước ta có những bước chuyển dịch dầnlao động từ nông nghiệp – công nghiệp mà một trong những bước trung gianquan trọng đó là phát triển công nghiệp nông thôn
2.1.2 Đặc điểm hình thành và phát triển các làng nghề truyền thống Thái Bình.
Lịch sử hình thành và phát triển các làng nghề truyền thống Thái Bình.
Cho tới ngày nay làng nghề ở Thái bình đã trải qua nhiều giai đoạn pháttriển một số làng nghề đã có hàng trăm năm tồn tại như chạm bạc Đông Xâm(trên 300 năm ) dệt Nam Cao, mây tre đan Thượng Hiền…
Làng nghề trạm bạc Đồng Xuân hiện thờ vị tổ nghề Nguyễn Kim Lâu, ôngvốn làm nghề vàng bạc ở Cao Bằng, khoảng năm 1689 ông tới xứ Đông Xâm vàlập ra 12 phường để truyền nghề Buổi đầu là nghề hàn đồng, gõ thùng chậu,chữa khóa… Đây là một làng nghề tiêu biểu cho nhóm nghề thủ công mỹ nghệtruyền thống không chỉ của Thái Bình mà là cả nước Bởi những giá trị độc đáocủa sản phẩm, cả những quy định chặt chẽ về truyền nghề, giữ bí mật nghề Đếnnay mỹ thuật của nghề chạm bạc không còn là độc quyền của thợ Đồng Xuânnữa nhưng một số thủ pháp nghệ thuật tinh xảo vẫn giữ bí truyền
Trải qua hàng trăm năm tồn tại các làng nghề Thái Bình đã trải qua nhiềugiai đoạn phát triển, suy thoái có giai đoạn ngành nghề thịnh vượng nhung cũng
có giai đoạn người thợ phải bỏ nghề thậm chí bỏ làng ra đi tìm con đường sống.Giai đoạn 2007 – 2012 các làng nghề cả nước nói chung và ở Thái Bình nóiriêng đã đạt đến đỉnh cao của sự phát triển, kim nhạch xuất khẩu đạt hàng triệu
đo la, thị trường lúc này chủ yếu là các nước Đông Âu, Liên Bang Nga nơi cónhu cầu rất lớn về hàng thủ công mỹ nghệ
Từ 2012 lại đây đã bắt đầu hồi phục và khởi sắc do chuyển hướng được thịtrường sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan…
Số làng nghề tăng lên từ 40 làng
Sau gần mười năm triển khai, đến nay cả tỉnh có khoảng 290 làng nghềđược cấp bằng công nhận, 100% số xã, phường không nơi nào "trắng nghề".Mỗi năm, các làng nghề giải quyết việc làm cho từ 15 nghìn đến 20 nghìn laođộng với thu nhập từ 600 nghìn đến hai triệu đồng/người/tháng Sản phẩm củalàng nghề chiếm khoảng 30% giá trị sản xuất công nghiệp của toàn tỉnh Các
Trang 18làng nghề phát triển ổn định, trở thành những thương hiệu làng nghề nổi tiếngnhư thêu Minh Lãng, dệt đũi Nam Cao, chạm bạc Đồng Xâm, đúc đồng AnLộc Nhiều nơi dần trở thành vùng nghề như dệt chiếu Quỳnh Phụ, Hưng Hà,Đông Hưng Tại những làng nghề, thu nhập từ sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
đã dần trở thành nguồn sống chính của nhiều hộ dân
Một số làng nghề tiêu biểu:
Nghề chạm bạc ở Đồng Xâm
Làng nằm ở phía Bắc của huyện Kiến Xương, thuộc xã Hồng Thái Đây làmột làng nghề chạm khắc trên mặt kim loại Theo người làng kể lại cách đâyhơn 300 năm có nghệ nhân nghề chạm bạc tên là Nguyễn Kim Lâu theo thuyềndọc sông Trà Lý về lập nghiệp ở đây Ông đã truyền nghề chạm bạc cho dânlàng Trải qua nhiều thời kỳ đến nay nghề vẫn được duy trì và ngày càng pháttriển Sau khi ông mất, để tưởng nhớ đến công lao của ông, họ đã lập đền thờông ở ngay làng gọi là đền Chạm bạc Ðồng Xâm
Chạm bạc Ðồng Xâm với những sản phẩm tuyệt mỹ, có một không hai,mang tên một trung tâm làm đồ kim hoàn nổi tiếng và lâu đời ở Việt Nam: làngÐồng Xâm
Nếu như Châu Khê (Hải Hưng) sản xuất đồ trang sức bằng vàng là chính;Ðịnh Công (Hà Nội) chủ yếu làm nữ trang bằng vàng, thì Ðồng Xâm (TháiBình) chuyên nghề chạm bạc Làng nghề chạm bạc Ðồng Xâm (tên cũ là ÐườngThâm) nằm ở bên hữu ngạn sông Ðồng Giang, thuộc xã Hồng Thái, huyện KiếnXương, Thái Bình Những ghi chép trong sách sử cho biết: làng này hình thànhvào cuối thời Trần-Hồ, cách chúng ta ngày nay trên 600 năm Nhưng nghề chạmbạc ở đây thì mãi về sau mới xuất hiện Làng hiện còn một am thờ và một tấmbia đá ở trong khu chùa Ðường (thôn Thượng Gia ngày nay) Ðó là một văn bia
Tổ nghề (dựng năm 1689) Trên văn bia có ghi:
"Hoàng triều Chính Hoà thập niên, Tổ phụ Nguyễn Kim Lâu ( ) Bảo Long
tụ lạc học nghệ, đáo Ðồng Xâm xứ kiến lập thập nhị phường kim hoàn truyền nghệ."
Tạm dịch: Năm thứ mười dưới triều vua Chính Hoà (1689), vị tổ sư NguyễnKim Lâu vốn làm nghề vàng bạc ở Châu Bảo Long, tới xứ Ðồng Xâm lập ramười hai phường để truyền nghề
Trang 19Nguyễn Kim Lâu sống vào khoảng đầu thế kỷ XVII Và như vậy nghề chạmbạc Ðồng Xâm đã tồn tại gần 400 năm nay Buổi đầu là nghề hàn đồng, gòthùng chậu, đánh dao kéo, chữa khoá, làm quai và vòi ấm tích, điếu bát về saumới làm đồ kim hoàn, chuyên sâu về chạm bạc.
Cũng như nhiều nghề thủ công cao cấp khác, như đúc đồng, luyện kim nghề kim hoàn mang lại thu nhập cao cho người thợ, kỹ thuật lại hết sức phứctạp, nên suốt mấy trăm năm người Ðồng Xâm luôn giữ bí mật nghề Ðến nay, kỹthuật này không còn là độc quyền của thợ Ðồng Xâm nữa, nhưng một số thủpháp kỹ thuật và nghệ thuật tinh xảo nhất vẫn được giữ bí truyền Phường chạm
bạc xưa đã qui định chặt chẽ trong hương ước của làng rằng: người nào đem bí quyết nghề truyền dạy cho nơi khác, cho người làng khác, hay làm đồ giả để lừa người khác, gây sự bất tín thì phải phạt thật nặng hoặc đem đánh đòn trước nhà thờ Tổ, hoặc phải xoá tên trong phường.
Hàng chạm bạc Ðồng Xâm khác hẳn và nổi trội so với hàng bạc của các nơikhác ở các kiểu thức lạ về hình khối, dáng vẻ sản phẩm, ở các đồ án trang trítinh vi mà cân đối, lộng lẫy mà nổi rõ chủ đề chính, ở thủ pháp xử lý sáng-tốinhờ tận dụng đặc tính phản quang của chất liệu bạc Ðặc trưng của sản phẩmÐồng Xâm là sự điêu luyện tế nhị và hoàn hảo tới mức tối đa Có thể nói rằng tàinăng và tính cẩn trọng của nghệ nhân bạc Ðồng Xâm đã và đang có thể đáp ứngđược mọi yêu cầu sử dụng đồ chạm bạc của những khách hàng khó tính và amtường nghệ thuật nhất
Suốt những năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), nghề chạmbạc đình đốn Mãi đến sau ngày hoà bình lập lại, từ năm 1955 trở lại đây, sảnxuất đồ vàng bạc được phục hồi và phát triển Nhưng các sản phẩm của nhữngnăm làm ăn tập thể nhìn chung ít sáng tạo, nhỏ lẻ và khá đơn điệu Phải đợi đếnthời kỳ đổi mới, mấy năm nay, người thợ chạm bạc mới thực sự "vẫy vùng mặcsức" trong cơ chế thị trường, được tự làm, tự bán theo kiểu các doanh nghiệpnhỏ, qui mô gia đình, được trực tiếp xuất khẩu Vận hội mới đang quay trở lạivới người Ðồng Xâm và nghề chạm bạc
Nghề làm hương.
Thôn Lai Triều, xã Thụy Dương huyện Thái Thụy từ lâu đã được biết đếnvới nghề làm hương truyền thống Là một xã thuần nông nhưng nghề hương đãtrở thành một nghề chính, tồn tại song song với sản xuất nông nghiệp
Trang 20Khi được hỏi về xuất xứ của nghề, ông Bùi Văn Kháng- một chủ hộ sảnxuất cho biết: Nghề hương có cách đây khoảng 300 năm Ông tổ nghề là cụ BùiNhân Toàn Cụ là người ngoại tỉnh, khi đi qua đất Lai Triều, thấy đất đai màu
mỡ, cây hương bài lại có thể phát triển tốt nên cụ đã dừng chân nơi đây vàtruyền dạy nghề cho mọi người Để tưởng nhớ tới công đức cụ, dân làng đã lậpbia thờ cụ và tôn cụ là Thành Hoàng của làng
Hương thường được làm quanh năm nhưng làm nhiều nhất là vào khoảngtháng 9 âm lịch tới tháng 3 năm sau Trong khoảng thời gian này, hương LaiTriều xuất ra thị trường khối lượng lớn để phục vụ nhu cầu Tết Nguyên Đán vàphục vụ lễ hội Hương Lai Triều luôn có một hương vị đặc trưng riêng, rất thơmnhưng không quá ngào ngạt, một hương vị thanh khiết của thiên nhiên Sở dĩnhư vậy bởi nguyên liệu làm hương được người dân chắt lọc từ thiên nhiên,không hề pha thêm bất cứ hoá chất nào Đó là rễ cây hương bài, mía, bột thantồn tính và nhựa trám Để làm ra một nén hương, trước hết, người sản xuất phảitrộn nhựa trám với bột than tồn tính Mía và rễ hương bài cũng được băm phơikhô, nghiền nhỏ và trộn đều, tạo nên hỗn hợp khô Tăm tre sau khi được vuốtvới hỗn hợp than và nhựa trám được lăn đều qua hỗn hợp mía và rễ hương.Hương làm ra được bó thành từng bó và phơi khô dưới nắng, thường là 100 -
200 nén/ bó Do công đoạn sản xuất và phơi khô một cách tự nhiên nên hươngLai Triều luôn có một vị ngọt ngào thanh khiết, rất được người tiêu dùng ưachuộng
Đến quê hương Lai Triều, ta sẽ dễ dàng bắt gặp những hình ảnh cả gia đìnhcùng làm hương, đủ mọi độ tuổi: từ người già, trung niên tới trẻ nhỏ Nhưngcông việc không vì thế mà trở nên dễ dàng Chỉ khi tham gia, ta mới thấy đượcnhững khó khăn, vất vả của nghề Bởi người làm hương luôn ở trong một khônggian đầy những bụi hương, rất dễ làm đầu óc căng thẳng, đòi hỏi người làm phảithật chuyên tâm Riêng công đoạn pha chế nguyên liệu thì chỉ những người cókinh nghiệm mới có thể làm được Đây là một công đoạn vô cùng quan trọngbởi nó cách pha chế nguyên liệu tạo nên hương vị của nén hương Tuỳ vào mỗigia đình mà có những tỉ lệ pha trộn khác nhau Trong nghề luôn có những bíquyết pha trộn riêng và chỉ truyền lại cho con trai và con dâu chứ không truyềnnghề cho con gái bởi con gái khi đi lấy chồng sẽ có thể mang nghề truyền thống
Trang 21Hương sào cao khoảng 50- 60 phân, đường kính khoảng 1cm với giá thành từ20- 30 nghìn/nén Hương nén thì nhỏ và rẻ hơn Có loại 30 phân, có loại 40- 50phân, đường kính khoảng 0.4mm Hương nén được bó và bán theo từng trăm.Giá thành khoảng 15- 30 nghìn/ trăm hương
Cho đến nay, nghề làm hương đã trở thành một nghề chính, tồn tại cùng vớisản xuất nông nghiệp Trước đây, làng có 120 hộ thì có tới gần 100 hộ làmhương Ngày nay, số hộ làm hương tuy đã giảm nhưng nhiều gia đình đã chuyển
từ sản xuất nhỏ sang sản xuất theo quy mô lớn hơn, thu hút được nhiều lao động
Có những gia đình thu nhập hàng tháng lên tới 15- 20 triệu đồng Sản phẩm củanghề không chỉ được người trong tỉnh ưa chuộng mà còn tiêu thụ và đặt thươnghiệu vững chắc trên cả nước
Mỗi làng mỗi nghề Đối với người dân Lai Triều, làm hương không chỉ làmột nghề làm lúc nông nhàn mà còn tăng thêm thu nhập, tạo công ăn việc làmcho mọi người Tháng 8/ 2004, người dân Lai Triều vui mừng đón nhận bằnglàng nghề truyền thống do UBNN tỉnh Thái Bình trao tặng
Làng dệt chiếu Hới.
Làng Hới (Thái Bình) có nghề dệt chiếu lâu đời và nổi tiếng ở nước ta.Chiếu Hới còn gọi là chiếu Hưng Nhân theo tên huyện cũ, là chiếu Hưng Hàtheo tên huyện mới, và chiếu Thái Bình (tên tỉnh)
Như thế, sản phẩm chiếu dệt thủ công của làng Hới từ lâu đã trở thành mộtsản phẩm tiêu biểu không chỉ của một địa phương nhỏ, mà của cả một tỉnh nôngnghiệp Chưa có ai biết nghề chiếu xuất hiện ở Hới từ bao giờ, cũng như Tổnghề thật sự là ai Theo truyền thuyết, vào thời Tiền Lê - Lý (thế kỷ X-XI), làngHới đã bắt đầu dệt chiếu, rồi phát triển mạnh vào thời Hậu Lê (thế kỷ XV).Nghề dệt chiếu Hới thịnh đạt lúc bấy giờ là nhờ công lao của Trạng nguyênPhạm Đôn Lễ (1457 - ?)- Ông người làng Hải Triều, huyện Ngự Thiêm, phủ TânHưng Ông thi đỗ Trạng nguyên khoa thi Tân Sửu, niêu hiệu Hồng Đức năm thứ
12 (1481) làm quan tới chức Thượng thư Khi ông lớn lên, làng Hới đã có nghềdệt chiếu từ lâu Nhưng chiếu dệt khung đứng, không có ngựa đỡ sợi nên chiếukhông đẹp Đi sứ sang Trung Quốc, khi qua vùng Ngọc Hà, Châu Quế Lâm, tỉnhQuảng Tây, Phạm Đôn Lễ đã tìm hiểu và học được bí quyết kỹ thuật dệt chiếucủa người Trung Quốc Đó là kỹ thuật dệt khung nằm, có ngựa đỡ sợi dọc, làmcho sợi đay căng, chao cói nhanh hơn và chiếu đẹp hơn Ông đã phổ biến kinh
Trang 22nghiệm và kỹ thuật dệt mới cho nhân dân Ông cho cải tiến khung dệt Nhờ vậy,chiếu Hới đẹp hơn và nổi tiếng từ đó
Dân làng tôn ông là ông Tổ nghề dệt chiếu, gọi ông là "Trạng Chiếu" và lậpđền thờ sau khi ông mất; đền thờ Phạm Trạng Nguyên
Chiếu Hới có nhiều loại: chiếu cài hoa, chiếu đậu, chiếu trơn, chiếu cạpđiều, chiếu đót, chiếu sợi xe với nhiều kích cỡ khác nhau Trước đây, ở Hới cóloại chiếu gon bền, đẹp nổi tiếng rất được ưa chuộng Lịch Sử Văn học ViệtNam còn ghi lại giai thoại cô gái bán chiếu gon bên Hồ Tây ở kinh đô hồi thế kỷ
XV Đó là cuộc gặp gỡ tài tử, giai nhân giữa Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ,với những câu thơ đối đáp trữ tình giữa nhà thơ lớn với cô bán chiếu tài sắc:
Nàng ở đâu đi bán chiếu gon Phải chăng chiếu bán hết hay còn Xuân canh chừng độ bao nhiêu tuổi
Đã có chồng chưa, được mấy con?
Thiếp ở Tây Hồ bán chiếu gon Hỏi chi chiếu bán hết hay còn ? Xuân canh chừng độ trăng tròn lẻ Chồng còn chưa có, hỏi chi con?
Mãi đến thời nhà Nguyễn, chiếu Hới vẫn là loại chiếu tốt nhất, chưa cóloại chiếu nào khác trong vùng cạnh tranh nổi Nhân dân quanh vùng có câuphương ngôn: "Ăn cơm hom, nằm giường hòm, đắp chiếu Hới" Bởi chiếu Hớikhông chỉ đẹp, bền mà còn có thể dùng đắp thay chăn, cũng rất ấm Làng Hớidệt chiếu nhưng chỉ trồng đay mà không trồng cói Đó là nét đặc biệt của làngchiếu này, khác hẳn các làng và trung tâm nghề dệt chiếu khác ở miền Bắc nước
ta - dệt chiếu gắn liền với trồng cói là nguyên liệu Làng Hới xưa nay trồng khánhiều đay, đủ đáp ứng nhu cầu se sợi dệt chiếu, ít mua đay sợi của các nơi khác
Kỹ thuật vê đay (se sợi đay), cải tiến khung dệt, kỹ thuật chế biến cói và dệt cácloại chiếu của thợ thủ công làng Hới vừa cao vừa độc đáo, đã tạo ra những sảnphẩm đặc sắc
Khác với nhiều làng nghề Việt Nam, ở Hới chưa có gia đình nào thoát ly hẳnsản xuất nông nghiệp Người ta chỉ dệt chiếu trong 8 tháng mỗi năm, còn 4
Trang 23phương đã cố gắng tìm thị trường quốc tế, tìm đối tác kinh doanh, đang xuấtsang Trung Quốc những lô hàng lớn Những người thợ tài hoa làng Hới còn cảitiến công nghệ, tìm cách dệt loại sản phẩm mới để xuất sang một số nước tư bảnphát triển Đó là loại chiếu dệt sợi dọc bằng sợi vải, viền mép (biên) bằng vải.
Không cần những biển báo địa giới, không cần những lời hỏi thăm đường
xá vòng vèo, qua đất Nam Định, có một đặc điểm người ta biết đã đặt chân tớiđất Thái Bình, ấy là bạt ngàn những cửa hàng bán bánh Cáy Như bánh đậu xanhcủa Hải Dương, bánh phu thê của Bắc Ninh, bánh Cáy từ bao đời nay đã trởthành niềm tự hào của miền đất lúa
Bánh Cáy là quà ngon được làm từ bàn tay khéo léo của những người dânlàng Nguyễn, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Từ thành phố Thái Bình, xuôitheo quốc lộ 10, rồi rẽ vào quốc lộ 39, gặp xã Nguyên Xá, ngửi thấy từ đầu làngmùi thơm ngọt ngào của gạo nếp, của nha, của mứt, ấy là khứu giác tự mách bảovới ta, đến đất làng Nguyễn- quê tổ món bánh Cáy làm nức lòng thực khách.Bánh Cáy Thái Bình, ban đầu có tên bánh Cay, được làm ra bởi một bà lãoquanh năm với nghề nông, mang tiến vua được ngợi khen, làng Nguyễn từ đónức tiếng với món bánh Cay độc đáo Một giấc mơ của bà lão kì lạ có con cáyđến khóc, lúc bà qua đời, xác bà khi mang xuống biển lại có sóng rẽ, đón bà vàolòng đại dương, từ đó tên bánh Cáy được đặt cho món bánh ngọt ngon.Bánh Cáy trước đây được làm hoàn toàn thủ công, nhưng nay, đáp ứng nhu cầulớn của thị trường, máy móc hỗ trợ người làng Nguyễn rất lớn trong việc làm ranhững vuông bánh ngọt thơm
Bánh Cáy làng Nguyễn hôm nay được sản xuất hiện đại hơn, với nhữngngười thợ làm bánh lành nghề, chuyên nghiệp
Tận mắt chứng kiến một dây chuyền sản xuất bánh Cáy của một gia đình cótruyền thống lâu năm với món bánh độc đáo này, mới thấy hết được cái tâmngười ta dành cho món ăn quê hương Bánh Cáy làng Nguyễn được làm hoàn
Trang 24toàn bằng nông sản quê hương: nếp cái hoa vàng tròn mẩy, gấc chín đỏ, lạc,vừng rang vàng giòn rụm, mỡ phần, cơm dừa xắt lát ướp đường, mứt bí dẻothơm, mạch nha, hương bưởi dịu thơm cho món bánh thêm hấp dẫn.Bánh Cáy làng Nguyễn chính hiệu phải làm cầu kì chứ không đơn giản Nếp cáihoa vàng ngâm nước, trộn gấc đỏ đồ xôi, rồi ép dẻo, xắt hạt lựu lại đem phơikhô (người làng Nguyễn gọi đây là “con cáy”) Thóc tẻ bung trong nồi gang, choxòe cánh thành một thức gọi là “nẻ” Mỡ phần loại ngon, cơm dừa bào sợi, choướp đường nửa tháng Chiên vàng nẻ, “con cáy”, trong dầu ăn Mạch nha được ủcông phu từ mầm lúa gạo đem nấu già trên bếp than đỏ hồng, đảo thật khéo, thậtđều tay cáy con, nẻ, mỡ phần, cơm dừa, mứt bí, gừng sợi, thêm hương hoa bưởiđến độ kết dính thích hợp Xong xuôi, bánh cáy cho vào khay ép phẳng, tranhthủ lúc bánh còn nóng rắc một lớp vừng lạc cho thơm Một anh thợ lành nghềtay thước, tay dao cắt bánh nhanh thoăn thoắt Từng vuông bánh khi ấy đemđóng hộp, dãn nhãn, sẵn sàng mang đến những thực khách đang nóng lòngthưởng thức.
Công nghệ có hiện đại, máy móc giúp cho người làm bánh đỡ cực trongviệc nhào trộn nguyên liệu, chiên, ép bánh, nhưng người làm bánh làng Nguyễn
có tâm vẫn ngày đêm trăn trở tìm ra một công thức trộn nha thế nào để bánhkhông quá ngọt, không quá nhạt, nấu sao cho bánh vừa chín dẻo, mà khôngcháy, không khô cứng
Miếng bánh Cáy ngon phải có độ dẻo, ngọt vừa phải, gạo nếp, lạc vừng dậymùi Cắn miếng bánh thấy cái lạ miệng khi trong đó có mứt bí, cơm dừa sần sật,cay cay nồng nồng của mùi vị gừng tươi, nhấp chén nước trà đăng đắng thấyhương vị hòa quyện
2.2 Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống Thái Bình hiện nay.
2.2.1 Lao động và chất lượng lao động
Có thể nói các làng nghề đã có những đóng góp tích cực trong việc nângcao đời sống, văn hóa, tinh thần của người dân mà trực tiếp là những người laođộng nghề Đối với lược lựng lao động trực tiếp làm nghề có khoảng 60% tốtnghiệp phổ thông cơ sở, 30% tôt nghiệp trung học phổ thông Như vậy rõ rang
số người tốt nghiệp trung học phổ thông ở làng nghề đã cao hơn nhiều so vớimặt bằng chung của tỉnh Về trình độ chuyên môn kĩ thuật do hầu hết các nghề
Trang 25những lớp bồi dưỡng ngắn hạn Các làng nghề truyền thống chủ yếu đào tạobằng hình thức truyền nghề
Tính đến năm 2000 hầu hết các xã trong tỉnh đều có ngành nghề tiểu thủcông nghiệp và dịch vụ chủ trương của tỉnh ủy, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh đã tạođiều kiện thúc đẩy sự phát triển của các làng nghề đã có, tích cực học hỏi dunhập nghề mới từ nơi khác với mục tiêu mỗi năm thành lập 10-15 làng nghề.Đây là một chủ trương lớn phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nông dân.Theo số liệu ước tính tổng số lao động tham gia sản xuất công nghiệp- tiểu thủcông nghiệp toàn tỉnh hiện nay khoảng 16 vạn người chiếm 20% lao động Khảnăng tận dụng lao động trong các làng nghề là tương đối lớn bởi nó không chỉ sửdụng lao động trong độ tuổi mà còn tận dụng được những người ngoài độ tuổitham gia
2.2.2 Số lượng và quy mô các làng nghề truyền thống ở Thái Bình.
Số lượng làng nghề truyền thống Thái Bình.
Hiện nay, Thái Bình có 82 làng nghề theo tiêu chuẩn quy định Trong đóhuyện Kiến Xương có 15, Đông Hưng 8, Vũ Thư 11, Quỳnh Phụ 10, Thái Thụy
7, Hưng Hà 16, Tiền hải 14, Thị Xã 1
Chia theo nhóm nghề ta có như sau:
Nghề dệt may ươm tơ 11 làng
Một số nghề trong thời gian gần đây phát triển mạnh như: thêu, dệt, ươm tơ
Bảng 1: Số hộ, cơ sở chuyên ngành nghề chia theo nhóm ngành toàn tỉnh
Tổngsố
Trang 26Theo số lượng thống kê ở Thái Bình hộ chuyên ngành nghề chiếm khoảng10% hộ kiêm trong những năm gần qua có bước phát triển khá đạt 28%, vẫn còntới 62% số hộ thuần nông Phần lớn số hộ nghèo đều nằm trong số hộ thuầnnông này.
2.2.3 Tổ chức sản xuất kinh doanh.
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, các làng nghề truyền thống tồn tạidưới hình thức hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, lúc đó sản xuất nông nghiệp làchính còn nghề thủ công có phát triển nhưng chỉ được côi là nghề phụ, bổ trợcho nông nghiệp Khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vậnhành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng chủnghĩa xã hội Đảng và nhà nước có chủ trương chính sách phát triển kinh tếnhiều thành phần, các làng nghề truyền thống dần dần được khôi phục Đồngthời, các làng nghề mới được xây dựng và phát triển, tổ chức sản xuất theo hìnhthức cá thể, hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạntham gia hoạt động theo pháp luật, tạo ra sản phẩm phục vụ thị trường trongnước và xuất khẩu
Bên cạnh loại hình sản xuất theo hộ gia đình, trong làng nghề truyền thốngcòn có loại hình sản xuất hợp tác xã được tổ chức theo hình thức tập trung đảmbảo việc cung cấp nguyên liệu và tiêu throng làng thụ sản phẩm trong làng nghềtruyền thống Tuy nhiên, loại hình sản xuất hợp tác xã hiện nay trong các làngnghề truyền thống có phát triển song chưa nhiều chiếm tỉ trọng rất nhỏ
2.2.4 Vốn và nguồn vốn trong các làng nghề.
So với các làng nghề trong cả nước ở Thái Bình mức vốn đầu tư bình quânkhông lớn lắm Ngoài một số nghề vốn có đầu tư lớn như nghề gốm sứ, chạmbạc, cơ khí còn lại chủ yếu là các nghề có mức đầu tư không lớn như: Nghề mâytre đan, dệt chiếu, đan nón, thêu dệt…
Tỷ lệ hộ/cở sở phải đi vay vốn chiếm từ 50 – 70% trong đó đối với cơ sởchuyên nghề tỷ lệ vay vốn chiếm tỷ lệ cao 76,9% so với 20,5% hộ chuyên và16,7% hộ kiêm Như vậy tỷ lệ vay vốn từ ngân hàng còn rất thấp đối với hộ giađình có hoạt động nghành nghề nguồn vốn từ các chương trình Nhà Nước khôngđáng kể, mặc dù phát triển làng nghề là một trong năm chương trình kinh tế lớncủa tỉnh Thái Bình song xem ra còn thiếu những biện pháp cụ thể nhằm hộ trợ