1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thiệt hại ô nhiễm môi trường do hoạt động du lịch ở cát bà và đề xuất các giải pháp khắc phục

55 614 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự đồng ý của nhà trường, Viện Môi Trường, bộ môn Kỹ thuậtMôi trường, được sự hướng dẫn của Thầy Bùi Đình Hoàn em đã thực hiện khóaluận tốt nghiệp với đề tài: “Đánh giá thiệt hại ô

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Với mỗi sinh viên đại học, khóa luận tốt nghiệp là một mốc cuối cùngđánh dấu việc kết thúc 4,5 năm học tập trên giảng đường và cũng là bước khởiđầu làm quen với công việc nghiên cứu và công tác sau này

Được sự đồng ý của nhà trường, Viện Môi Trường, bộ môn Kỹ thuậtMôi trường, được sự hướng dẫn của Thầy Bùi Đình Hoàn em đã thực hiện khóaluận tốt nghiệp với đề tài: “Đánh giá thiệt hại ô nhiễm môi trường do hoạt động

du lịch ở Cát bà và đề xuất các giải pháp khắc phục"

Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Thầy Bùi Đình Hoàn đã dành rấtnhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Mặc dù em đã có nhiều cố gắng hoàn thiện khóa luận bằng tất cả sựnhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên, không thể tránh khỏi những thiếusót, rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hải phòng, ngày tháng năm 2016

Người thực hiện

Bùi Thanh Huyền

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC ii

DANH MỤC BẢNG iv

DANH MỤC HÌNH v

CHUƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHUƠNG 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 2

1 Phương pháp chi phí phòng ngừa : 2

2 Phương pháp chi phí sức khỏe: 2

CHUƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ CÁT BÀ 5

1 Vị trí địa lý 5

1.2 Điều kiện khí tượng: 6

1.3 Đặc điểm thủy văn: 8

2 Hiện trạng hệ sinh thái Cát Bà 10

3 Điều kiện kinh tế- xã hội 19

CHUƠNG 4 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG KHU DU LỊCH CÁT BÀ 21

1 Hiện trạng môi trường không khí 21

2 Hiện trạng môi trường nước 23

3 Hiện trạng môi trường đất 29

4 Hiện trạng quản lý chất thải rắn 30

CHUƠNG 5 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ Ô NHIỂM Ở CÁT BÀ VÀ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ SỨC KHỎE ĐÁNH GIÁ 31

1 Ô nhiễm do nuôi cá lồng bè tự phát thiếu quản lý 32

2 Ô nhiễm do khai thác và chế biến thủy hải sản thiếu khoa học 33

3 Các hoạt động du lịch tại đảo 33

4 Môi trường biển còn chịu tác động của các hoạt động công nghiệp, dân sinh dọc theo các tuyến sông, ven biển, đảo 34

CHUƠNG 6 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG Ở CÁT BÀ 35

Trang 3

CHUƠNG 7 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ NHỮNG TÁC

ĐỘNG TIÊU CỰC ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG Ở CÁT BÀ 39

1 Giải pháp 39

1.3 Giảm thiểu ô nhiễm chất thải rắn 42

1.4 Giải pháp khắc phục vấn đề ô nhiễm: 42

CHUƠNG 8 KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 46

1 KIẾN NGHỊ 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Cơ cấu nuôi trồng thủy sản của thị trấn Cát BàBảng 20

Bảng 2.1 Kết quả phân tích chất lượng không khí khu du lịch Cát

Bảng 2.3 Kết quả phân tích mẫu nước mặt 23

Bảng 2.4 Kết quả phân tích mẫu nước ngầm 24

Bảng 2.5 Kết quả phân tích chất lượng nước biển 26

Trang 6

CHUƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong thời đại nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nóiriêng đang phát triển như hiện nay, du lịch đang được ưu tiên phát triển hàngđầu, bởi đây là ngành “ công nghiệp không khói” mang lại hiệu quả kinh tế tolớn đồng thời tận dụng được ưu thế thiên nhiên giải quyết được việc làm chongười dân địa phương Cát Bà với tiềm năng du lịch tự nhiên phong phú đa dạngđược tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa liên hợp quốc công nhận là khu dựtrữ sinh quyển thế giới vào năm 2004 đã và đang trở thành điểm đến lý tưởngđối với du khách trong và ngoài nước Ngành du lịch Cát Bà những năm gần đây

đã có nhiều bước phát triển đột phá, từng bước khẳng định là ngành kinh tế mũinhọn trong cơ cấu kinh tế huyện đảo

Theo đề án phát triển thành phố Hải Phòng giai đoạn 2008 – 2015 đã đượcChính phủ phê duyệt thì dự án đường ôtô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng và dự ánCảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyền, cầu Đình Vũ – Cát Hải sẽ được hoàn thiệnvào năm 2012 Khi đó, thời gian từ Hà Nội đến Hải Phòng và từ Đình Vũ - HảiPhòng sang Cát Bà được rút xuống còn một nửa Khách du lịch sẽ đi đường bộthông suốt sang đến Cát Hải và chỉ phải đi phà từ Cát Hải sang Cát Bà trongvòng 45 phút

Tuy nhiên phát triển ngành du lịch một cách ồ ạt và quá mức đang nhanhchóng làm hủy hoại môi trường , ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của cácloài động vật, làm cạt kiệt nguồn tài nguyên sẵn có trong khu vực phá hủy dần

vẻ đẹp tự nhiên của đảo Cát Bà Do vậy đánh giá thiệt hại do hoạt động du lịch ởCát Bà là một đề án quan trọng nhằm đánh giá đúng đắn những tác hại do hoạtđộng này gây ra từ đó có những giải pháp và kiến nghị cần thiết nhằm cải thiệntình trạng ô nhiễm đồng thời vẫn đảm bảo phát triển được hoạt động du lịch mộtcách lành mạnh và bền vững

Trang 7

CHUƠNG 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

Đánh giá thiệt hại các yếu tố môi trường rất phức tạp và đòi hỏi phải có sự

kết hợp của nhều phương pháp bởi lẽ các yếu tố môi trường không chỉ đơn giản

để định giá như mua bán trao đổi tính thành đơn vị tiền tệ trên thị trường mộtcách dễ dàng Suy yếu môi trường tất yếu gây ra thiệt hại và môi trường bị suythoái nghiêm trọng gây ra nhiều chi phí khắc phục, cải thiện và làm hạn chế cả

về vật chất cà tinh thần của xã hội, các phương pháp xác định thiệt hại do ônhiễm môi trường gây ra

1 Phương pháp chi phí phòng ngừa :

Trọng tâm của loại chi phí này là các khoản cần thanh toán cho hoạt độngphòng ngừa, hạn chế nước thải, khí thải và rác thải, gồm những phí lao độngtrong công ty và các dụng cụ thuê ngoài như chi phí xử lý, vất bỏ phế thải và thudọn để thực hiện những biện pháp phòng ngừa, hạn chế chẩt thải Đồng thời baogồm những chi phí nghiên cứu và phát triển các dự án môi trường, chi phí sửdụng công nghệ kỹ thuật làm sạch, sản xuất sạch và những nguyên vật liệu thânthiệt với môi trường

2 Phương pháp chi phí sức khỏe:

Tất cả các hoạt động ô nhiễm đều có ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe và

đo lường thiệt hại sức khỏe do ô nhiễm môi trường là công việc quan trọng, Nổibật trong số các bệnh tật do ô nhiễm môi trường là nhóm bệnh truyền nhiễm,bao gồm viêm phổi, phổi bị tắc nghẽn mãn tính, nhiễm trùng đường hô hấp cấptính ,viêm họng, viêm phế quản, , cúm, tiêu chảy, viêm amidan, hen suyễn, viêmtai giữa, điếc, các bệnh về mắt, , hội chứng lỵ, tiêu chảy, sốt xuất huyết, bại não

Kế đó là các bệnh quai bị, , viêm da và các bệnh ngoài da, viêm gan do virus,lưu thai sản

uốn ván… Nền tảng của việc đánh giá này là hàm số liều lượng đáp ứng diễn tảmối quan hệ của con người và quá trình tiếp xúc với chất ô nhiễm môi trường

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe con người ngoài yếu tố môi trường

Trang 8

như ăn uống, cách sống, tuổi tác, di truyền Để tách biệt tác động của ô nhiễm,người ta phải đưa vào tất cả các biến số khác hoặc phải chịu rủi ro tính toán tácđộng của ô nhiễm trong khi thực sự thiệt hại sức khỏe lại bị các yếu tố khác tácđộng, điều này yêu cầu một số lượng lớn số liệu chính xác liên quan đến các tácđộng sức khỏe cũng như các dữ liệu cho các yếu tố tác động khác, công việcchính là phải tính toán các giá trị ảnh hưởng đến sức khỏe thủ tục để đánh giáthiệt hại sức khỏe là :

Thứ nhất, xem xét năng suất lao động của người dân giảm cùng với sứckhỏe giảm và cuộc sống bị rút ngắn làm giảm vốn nhân lực

Thứ hai là chỉ tiêu chăm sóc sức khỏe tăng Một phương pháp khác cũngdùng để đo thiệt hại sức khỏe là tính chi phí y tế Vì ô nhiễm gây thiệt hại sứckhỏe, chúng ta có thể ước lượng chi phí y tế tăng cho bệnh viện, bác sỹ và quátrình phục hồi Giảm ô nhiễm do đó làm giảm chi phí y tế, nghĩa là lợi ích củathay đổi chất lượng môi trường

2.1 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM):

Đây là phương pháp được sử dụng đánh giá cho những giá trị hàng hóamôi trường không có giá trên thị trường Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên bỏqua nhu cầu tham khảo giá thị trường bằng cách hỏi thẳng từng cá nhân mộtcách rõ ràng để đánh giá tài sản môi trường Mặc dù có nhiều biến tố cho kỹthuật này, cách thường áp dụng nhất là phỏng vấn các gia đình tại địa chỉ môitrường hoặc ở nhà họ và hỏi cái giá sẵn lòng trả (WTP) của họ cho việc bảo vệmôi trường sau đó các nhà phân tích có thể tính toán giá trị WTP ( giá sẵn lòngtrả trung bình) của những người tham gia phỏng vấn và nhân nó với tổng sốngười thụ hưởng địa điểm hay tài sản môi trường đang xem xét để có được tổnggiá trị ước tính của tài sản đó Một điểm thú vị của phương pháp CVM là trên lýthuyết nó có thể sử dụng để đánh giá các nguồn tài nguyên mà sự tồn tại tiếp tụccủa nó được người ta đánh giá cao nhưng bản thân họ không bao giờ đến thamquan Tuy nhiên có một số trở ngại tiềm ẩn nếu phân tích thiếu sót là: các cánhân được hỏi có thể nói ít đi giá WTP; sử dụng WTP và WTA với cùng một

Trang 9

nội dung là có sự khác nhau về kết quả có được, thông thường cùng một nộidung nhưng có hai cách hỏi khác nhau thì giá trị của WTA có thể cao hơn;thiên lệch một phần hay toàn phần nguyên nhân khi áp dụng phương thức điềutra mẫu và điều tra tổng thể có sự khác nhau

2.2 Phương pháp chi phí cơ hội:

Là mức phí để sản xuất ra một sản phẩm bất kì là giá trị tối đa của các sảnphẩm khác lẽ ra được sản xuất nếu ta không sử dụng tài nguyên để làm ra sảnphẩm hiện hành Chi phí cơ hội rất cần thiết khi đưa ra những quyết định liênquan đến việc chọn lựa cách sử dụng một tài nguyên cho mục đính này hay mụcđích khác Để đo lường chi phí cơ hội bằng các giá trị của những nhập liệu sửdụng trong sản xuất Một khi các nhập lượng được hạch toán và đánh giá chínhxác thì tổng giá trị này được xem như chi phí cơ hội của sản xuất hoặc nếumuốn bảo tồn môi trường tự nhiên và có chi phí cơ hội cho việc bảo tồn đóchúng ta phải làm những việc sau :

- Lên danh sách tất cả các hoạt động có lựa chọn có thể phải làm ở khuvực đó

- Dự tính lãi ròng của các hoạt động có trong danh mục

- Chi phí cơ hội sẽ là phần lãi ròng cao nhất được tính

2.3 Phương pháp ước lượng - hưởng thụ

Phương pháp này đòi hỏi các số liệu kết hợp các phản ứng sinh lý của conngười, thực vật và động vật trước áp lực của ô nhiễm Ví dụ nếu có một mức ônhiễm nào đó làm thay đổi sản lượng thì thông thường sản lượng có thể đượcđánh giá bằng giá thị trường hoặc giá ẩn ( giá điều chỉnh hay được mô phỏngtheo thị trường ) như sự thiệt hại sản lượng mùa màng do ô nhiễm không khí.Nhưng với những tình huống có liên quan đến sức khỏe con người, chúng taphải đối diện với những câu hỏi liên quan đến tính mạng con người ( một cáchchính xác các nhà phân tích tìm cách đánh giá mức rủi ro gia tăng của bệnh tậthoặc tử vong)

Trang 10

CHUƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ CÁT BÀ

1 Vị trí địa lý

Cát Bà (còn gọi là đảo Ngọc) là một quần đảo thuộc huyện Cát Hải được thảnhlập năm 1977 trên cơ sở sát nhập hai huyện Cát Hải và Cát Bà Quần đảo Cát Bà

là quần thể gồm 367 đảo trong đó lớn nhất là đảo Cát Bà với diện tích khoảng

200 km2 ở phía Nam vịnh Hạ Long, ngoài khơi thành phố Hải Phòng và tỉnhQuảng Ninh, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 30 km, cách thànhphố Hạ Long khoảng 25 km Về mặt hành chính, quần đảo thuộc huyện đảo CátHải, thành phố Hải Phòng

Quần đảo có tọa độ 106°52′ - 107°07′ kinh độ Đông, 20°42′ - 20°54′ vĩ độBắc Diện tích là 1.830 km² Dân số 9.135 người (năm 2007) Các đảo nhỏ khác:hòn Cát Ông, hòn Tai Kéo, hòn Quai Xanh, hòn Cát Đuối, hòn Mây ”

Cát Bà là hòn đảo lớn nhất trên “ tổng số 1.969 đảo trên đảo trên vịnh HạLong Cát Bà là một hòn đảo đẹp và thơ mộng, nằm ở độ cao trung bình 70 m

Trang 11

so với mực nước biển (dao động trong khoảng 0 - 331 m) Trên đảo này có thị trấn Cát Bà ở phía Đông Nam (trông ra vịnh Lan Hạ) và 6 xã: Gia Luận, Hiền Hào, PhùLong, Trân Châu, Việt Hải, Xuân Đám Cư dân chủ yếu là người Kinh.

Trong những năm gần đây, Cát Bà nhanh chóng trở thành một khu du lịchlớn ở miền Bắc Hàng năm có khoảng 500.000 lượt du khách trong đó có 40% làkhách nước ngoài đến nơi này Tính đến tháng 6 năm 2008 số lượng khách thămquan đến nghỉ mát tại Cát Bà đạt 418.000 lượt trong đó khách quốc tế là164.000 lượt Đến cuối năm 2009 Cát Bà đã đón vị khách thứ 1 triệu

Lớp sỏi cuội nằm ở độ sâu tới -67 m

1.2 Điều kiện khí tượng:

Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của đại dương nên các chỉ sốtrung bình về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa cũng tương đương như các khu vực xungquanh, tuy nhiên có đặc điểm là mùa đông thì ít lạnh hơn và mùa hè thì ít nónghơn so với đất liền

Nhiệt độ không khí có ảnh hưởng đến sự lan truyền và chuyển hóa các chất

ô nhiễm trong không khí gần mặt đất và nguồn nước Nhiệt độ càng cao thì tácđộng của các yếu tố gây ô nhiễm môi trường càng mạnh Nhiệt độ trungbìnhkhoảng 25 - 28°C Hàng năm có 4 tháng nhiệt độ trung bình dưới 20°C (từtháng 12 đến tháng 3) và 3 tháng nhiệt độ trung bình lớn nhất hoặc bằng 30°C(từ tháng 6 đến tháng 8) Diễn biến nhiệt độ không khí trong cả năm như sau:

Trang 12

 Nhiệt độ không khí trung bình (năm 2008): 2,7°C

 Nhiệt độ tối cao tuyệt đối: 41,5°C

 Nhiệt độ tối cao trung bình: 29°C Nhiệt độ tối thấp trung bình: 5,1°C

Gió là yếu tố khí tượng cơ bản ảnh hưởng đến sự lan truyền các chất ônhiễm trong không khí và làm xáo trộn các chất ô nhiễm trong nước Tốc độ giócàng lớn thì chất ô nhiễm trong không khí lan tỏa càng xa nguồn ô nhiễm vànồng độ chất ô nhiễm càng được pha loãng bởi không khí sạch Ngược lại, khitốc độ gió càng nhỏ hoặc không có gió thì nồng độ của các chất ô nhiễm trongkhông khí xung quanh nguồn thải lớn Hướng gió thay đổi sẽ làm cho nồng độcủa các chất ô nhiễm cũng biến đổi theo

Hướng gió trong một năm tại Hải Phòng biến đổi và thể hiện theo mùa củahoàn lưu

 Tháng 1, 2 và 12: gió Đông và Đông Bắc chiếm ưu thế tuyệt đối Tháng 3:gió Đông Bắc giảm, gió Đông chiếm ưu thế

 Tháng 4: gió Đông Bắc giảm, gió Đông chiếm ưu thế

 Từ tháng 5 đến tháng 8: gió Đông Nam và gió Nam chiếm ưu thế

 Tháng 9, 10, 11: gió chuyển dần về hướng Bắc và Đông Bắc

Độ ẩm tương đối trung bình tháng của không khí tại Cát Bà dao động từ 79÷92% Biến trình năm của độ ẩm tương đối có hai cực đại vào tháng 3 (92%) vàtháng 8 (88%), và hai cực tiểu vào tháng 11 (79%) và tháng 5, 6 hoặc tháng 7.Tháng 3 có nhiều ngày mưa phùn ẩm ướt nên độ ẩm tương đối tháng này đạt caonhất Độ ẩm tương đối trung bình năm là 85%

Lượng mưa hàng năm ở Cát Bà đạt từ 1600 mm đến 1800 mm, được chia ralàm 2 mùa: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 với tổng lượng mưa là80% so với cả năm; mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượngmưa là 200 ÷ 550 mm Một năm, lượng mưa lớn nhất vào các tháng 8 và tháng

Trang 13

9, lượng mưa trung bình xấp xỉ 800 mm và là mùa bão Tháng 12, 1 và 2 lànhững tháng có lượng mưa ít nhất trong năm, lượng mưa trung bình chiếm 20 ÷25%.

Có khoảng 100÷150 ngày mưa/năm ở khu vực Cát Bà Vào mùa đông, trungbình có 8÷10 ngày mưa/tháng, mùa hè có số ngày mưa là 13÷15 ngày/tháng

1.3 Đặc điểm thủy văn:

Chế độ thủy triều Cát Bà mang đặc điểm chung của thủy triều Vịnh Bắc

Bộ, thuộc loại nhật triều đều biên độ cực đại gần 4 m nhưng thường chậm phahơn ở Hòn Dấu từ 20 - 30 phút do ảnh hưởng điều kiện địa hình khu vực Thủytriều khu vực mang tính nhật triều đều điển hình với hầu hết số ngày trong thánglà: trong một ngày đêm có 1 lần nước lớn và một lần nước dòng Mỗi tháng cứ 2

kỳ nước cường, mỗi kỳ 11 - 13 ngày, biên độ dao động 2,6 - 3,6 m; xen kẽ là 2

kỳ nước kém, mỗi kỳ 3 - 4 ngày có biên độ 0,5 – 1 m Trong năm, biên độ triềulớn vào các tháng 6, 7 và 11, 12; biên độ triều nhỏ vào các tháng 3, 4 và 8, 9

Khu vực Cát Bà, sóng thường xuất hiện và phát triển ở các hướng ĐôngBắc, Đông và Đông Nam Sóng hướng Đông Bắc độ cao trung bình 1,0 - 1,5 mchiếm tần suất 30% chủ yếu xuất hiện vào thời kỳ gió mùa Đông Bắc thịnh hành

từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Sóng hướng Đông Nam chiếm tần suất 25%chủ yếu phát triển ở độ cao 0,5 - 1,0 m thường gặp vào mùa hè từ tháng 5 - 8.Sóng hướng Nam thường xuất hiện từ tháng 6 - 8, độ cao lớn nhất có thể đạt tới2,8 m Sóng hướng Đông thường xuất hiện vào thời kỳ chuyển tiếp giữa hai mùagió có tần suất lớn nhưng độ cao nhỏ

Khu vực Lạch Huyện: Theo số liệu quan trắc tại khu vực này của TEDI từngày 12/7/2005 đến 15/8/2006 cho thấy:

Mùa khô vùng biển thuộc khu vực này không chịu ảnh hưởng của giómùa Đông Bắc bởi có quần đảo Cát Bà che chắn, từ tháng X năm trước đếntháng IV năm sau độ cao sóng có nghĩa tại khu vực là thấp (H1/3 < 1,25 m) và

Trang 14

chủ yếu có hướng Đông Nam, riêng tháng III và tháng IV sóng có hướng phântán.

Mùa mưa: độ cao sóng có nghĩa tại khu vực có lúc lên đến trên 2 m,chủ yếu có hướng Đông Nam do chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam là chính.Vào thời gian này độ cao sóng lớn nhất ghi được là 4,44 m chu kỳ 6,4 s theo

hướng Nam vào 12 giờ ngày 17/7/2006 (Nguồn: Viện Tài nguyên và Môi

trường Biển, 2008)

Chế độ dòng chảy vùng ven biển và đảo Hải Phòng rất phức tạp, thể hiệnqua mối quan hệ tương tác giữa thuỷ triều, sóng, gió, dòng chảy sông, địa hìnhkhu vực Dòng chảy ven bờ trong khu vực là tổng hợp của các dòng chảy triều,dòng chảy sóng ven bờ, dòng chảy gió, dòng chảy sông, trong đó dòng triều làthống trị, quy định tính chất của dòng tổng hợp Dòng triều mang tính chất thuậnnghịch, elíp triều dẹt, định hướng theo luồng, lạch, cửa sông hoặc song song vớiđường bờ Dòng triều mạnh vào các tháng 6, 7, 12, 1 và yếu vào các tháng 3, 4,

8, 9 trong năm Kết quả phân tích điều hoà các thành phần dòng triều cho thấy,dòng toàn nhật có độ lớn áp đảo, gấp 5 - 10 lần dòng bán nhật và lớn hơn nhiềudòng triều 1/4 ngày

Một số quan trắc gần đây cho thấy, dòng chảy tổng hợp có giá trị vận tốckhá lớn, thường nằm trong khoảng 0,4 - 1,0 m/s Hướng chảy thường song songvới đường bờ, trừ các khu vực cửa sông hướng dòng chảy thay đổi phụ thuộcvào các luồng lạch chính Trường dòng chảy ổn định trong mùa đông hướng TâyNam, tốc độ trung bình 20 – 25 cm/s, trong mùa hè hướng Đông Bắc, tốc độtrung bình 15 – 20 cm/s Khi triều lên dòng chảy thường có hướng từ Nam lênBắc, khi triều xuống dòng chảy có hướng ngược lại Tốc độ dòng triều lớn nhấtkhi triều dâng đạt 50 cm/s, tốc độ dòng chảy cực đại khi triều triều rút: 50 – 70cm/s

Do đặc điểm tự nhiên, hệ động thực vật và lịch sử kiến tạo mà đảo Cát Bà cónhững lợi thế tuyệt vời về du lịch, là một điển hình cho một vị trí phát triển du

Trang 15

lịch đảo biển và là một khu bảo tồn biển ở dải ven biển Việt Nam Tài nguyên

du lịch ở đây rất phong phú và đa dạng Từ cảnh quan thiên nhiên hữu tình, môitrường trong lành, văn hoá lâu đời đến nguồn thực phẩm biển dồi dào đều lànhững tài nguyên vô giá đối với ngành du lịch Với tính đa dạng sinh học cao ởcác hệ sinh thái rừng, sinh thái biển, hệ sinh thái các hang động, hệ sinh thái cácbãi cát đẹp và hoang sơ đã, đang được nhiều thế hệ người Việt Nam gìn giữ vàphát triển Cát Bà có một tiềm năng lớn cho nhiều loại hình du lịch mà khôngnơi nào có thể đáp ứng được đầy đủ như ở đây Vì các lý do đó, UNESCO đãchính thức công nhận đảo Cát Bà là khu vực bảo tồn sinh quyển thế giới

Theo định hướng phát triển của Nhà nước và của Thành phố Hải Phòng,Cát Bà đang được tập trung đầu tư để trở thành trung tâm du lịch lớn, quan trọngcủa cả nước

2 Hiện trạng hệ sinh thái Cát Bà

Quần đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Hải là một nơi có rất nhiều địa danh nổitiếng như Cát Cò 1, Cát Cò 2, Cát Cò 3, động Thiên long, vụng Ếch…, đồng thờicũng là vùng có đa dạng sinh học cao Nổi bật là vườn quốc gia (VQG) Cát Bà.Vườn quốc gia Cát Bà rộng 15.200 ha, bao gồm 9.800 ha rừng núi và 5.400

ha mặt nước biển, chiếm trên 50% diện tích toàn đảo Cát Bà (28.500 ha) Trong

đó, vùng bảo vệ nghiêm ngặt với 800 ha là những khu rừng nguyên sinh, 14.000

ha còn lại là vùng phục hồi sinh thái

2.1 Nét độc đáo của thiên nhiên

Cát Bà là một VQG đặc biệt, với sự kết hợp của nhiều hệ sinh thái khácnhau như: rừng thường xanh trên núi đá vôi, rừng ngập nước trên núi cao , rừngngập mặn vùng duyên hải, vùng biển với các rạn san hô gần bờ, hệ thống hangđộng với đặc trưng riêng biệt là nơi cư trú của họ nhà Dơi và Hệ canh tác nằmgiữa các thung lũng như ở Khe Sâu hoặc các khu dân cư

Trong đó, lớn nhất là hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi (khoảng 9800 ha) vớithảm thực vật thuộc kiểu rừng nhiệt đới thường xanh và các loại rừng như rừngnúi thấp và ven thung lũng, rừng trên núi đá dốc, rừng trên đỉnh núi cao, rừng

Trang 16

ngập nước nội địa

Sự đa dạng của các kiểu rừng đã hình thành nên sự phong phú của khu hệđộng, thực vật Cát Bà Trong số 745 loài thực vật ở đây có tới 350 loài có khảnăng sử dụng làm thuốc chữa bệnh Và nhiều loài nằm trong danh mục quýhiếm, cần bảo vệ như: kim giao, chò đãi, lát hoa, lim xẹt,… Hệ động vật đa dạngvới 282 loài, bao gồm 20 loài thú, 69 loài chim, 20 loài bò sát lưỡng cư, 11 loàiếch nhái Động vật phù du có khoảng 98 loài, cá biển 196 loài, san hô 177 loài…Đặc biệt, đây là nơi cư trú duy nhất trên thế giới của loài voọc đầu trắng – mộttrong 5 loài linh trưởng của Việt Nam có tên trong 25 loài trên thế giới đứngtrước nguy cơ tuyệt chủng

Cùng với rừng trên núi đá vôi, rừng ngập mặn là một tài nguyên quý giá tạiđảo Cát Bà Rừng ngập mặn phân bố chủ yếu tại phái Tây Bắc đảo, với bãi súvẹt tự nhiên lớn nhất Hải Phòng Các loài cây phổ biến nơi đây: đước xanh, vẹtdù,… Độ cao của thảm thực vật ngập mặn từ 2 – 3 m, mật độ lớn và sức sốngtốt Rừng ngập mặn là nơi cư trú tốt của các loài động vật thủy sinh như: cá,tôm, các loài nhuyễn thể động vật hai mảnh như: trai, ốc, vẹm,…; độngvật chân

đốt… Đặc biệt, đây còn là nơi ở của các loài chim nước, chim di cư từ phía Bắcnhư: sâm cầm, cốc đế, cuốc, vịt trời,…

Hiện nay, diện tích rừng ngập mặn ở Cát Bà đang tiếp tục bị suy giảm do

sự xâm lấn của dân cư địa phương để làm đầm nuôi tôm, cua Rừng bị chặt phá,đốt hoặc bị chết do môi trường sống bị thay đổi từ việc xây bờ ngăn đầm Đểbảo vệ rừng ngập mặn quan trọng này, trước hết cần phải ngăn chặn nạn phárừng, đẩy mạnh các chương trình trồng rừng mới, và hướng dẫn người dân ápdụng các quy mô hình xen canh nuôi tôm trong rừng ngập mặn, vừa phát triểnkinh tế vừa bảo vệ môi trường bền vững

Ngoài đảo chính, quần đảo Cát Bà còn có 137 đảo nhỏ như đảo Đầu Bê,đảo Cát Dứa, đảo Bù Lâu, hòn Ghềnh Hang, hòn Đá Lẻ, hòn Xả Lan… Nhiềuđảo có hình dạng kỳ dị, bờ đảo có nhiều mũi nhô, cung lõm và nhiều bờ vách

Trang 17

dốc đứng, chân có ngấn ăn mòn Đa số các đảo có thềm san hô viền quanh vàtrên đảo có hồ nước mặn.

2.2 Đa dạng sinh học phong phú

Vùng biển Cát Bà chứa đựng nguồn tài nguyên đa dạng sinh học phongphú Kết quả điều tra cho thấy có 186 loài thực vật phù du, 43 loài rong biển,

147 loài san hô (tập trung ở vùng Vạn Bội, Vạn Hà, Cát Dứa, Đầu Bê, HangTrai, Hòn Mây, độ sâu từ 3 – 7 m), 44 loài giun nhiều tơ, 120 loài nhuyễn thể(động vật thân mềm) như mực, sứa, trai, ốc, vẹm… 195 loài cá đa dạng sinhsống ở biển Cát Bà, trong đó có nhiều loài mang giá trị kinh tế cao: cá ngừ, cámặt trăng, cá hồng, cá chình,…

Với đa dạng sinh học cao, quần đảo Cát Bà đã được “ UNESCO chính thứccông nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới trong kỳ họp của Hội đồng quốc tế

về phối hợp chương trình con người và sinh quyển tổ chức tại Paris, ngày29/10/2004.” Về quần đảo Cát Bà được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinhquyển là một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, du lịch, thúc đẩy ngànhnuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản và nghiên cứu khoa học

2.3 Khu dự trữ sinh quyển thế giới và hiện trạng phân bố san hô

Việt Nam có bốn khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công

nhận: Cần Giờ, Cát Tiên, vùng châu thổ sông Hồng và Cát Bà Cần Giờ mangđặc điểm vùng ngập mặn cửa sông, Cát Tiên hệ sinh thái trên cạn, châu thổ sôngHồng hệ sinh thái nước ngọt, lợ Còn Cát Bà mang các đặc điểm của cả ba khu

dự trữ sinh quyển trên, hội tụ đầy đủ hệ sinh thái rừng và biển, rừng mưa nhiệtđới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm rong – cỏ biển và đặc biệt

là hệ sinh thái hang động

Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà được chia thành ba vùng: vùng lõi, vùngđệm và vùng chuyển tiếp, nằm liền kề với nhau rất thuận lợi cho việc quản lýthống nhất, nằm trọn vẹn trong một không gian của hòn đảo lớn nhất trong hệthống đảo vùng biển Bắc Bộ

Vùng lõi của Cát Bà có diện tích 7.500 ha, không có tác động của con

Trang 18

người, trừ một số hoạt động nghiên cứu, giám sát, tuy nhiên vẫn có thể duy trìmột số hoạt động truyền thống của người dân.

Vùng đệm có chức năng phát triển điều hòa, tôn trọng hiện trạng vàbảo đảm sự phát triển có hạn định

Vùng chuyển tiếp vẫn duy trì các hoạt động kinh tế bình thường, nhândân cùng các nhà khoa học, tổ chức xã hội và doanh nghiệp quản lý và phát triểnbền vững nguồn lợi tài nguyên

Theo đánh giá của các nhà khoa học, sinh vật biển đảo Cát Bà phong phú

và đa dạng vào bậc nhất ở các vùng đảo phía Bắc nước ta Đây không chỉ là nơilưu giữ và phát triển nguồn gene quý của vịnh Bắc Bộ, mà còn có nhiều loàiđộng, thực vật có giá trị kinh tế cao Trên 30 loài cá kinh tế và 70 loài động vậtđáy tại vùng biển này đã hợp thành ngư trường cá đáy và cá nổi Cát Bà – LongChâu, mang lợi ích về du lịch, xuất khẩu và phát triển nguồn lợi thủy sản

Biển Cát Bà có nhiều loài đặc sản nổi tiếng như sò huyết, tu hài, ngao,mực, cua, cá song, cá thu,… Các rạn san hô vùng biển Đông – Nam đảo kéo dàiđến Hang Trai – Đầu Bê rất có giá trị cho bảo tồn và du lịch sinh thái của TPcảng

Trong số 2320 loài động vật, thực vật tại Cát Bà, có gần 60 loài được coi

là đặc hữu, quý hiếm nằm trong sách đỏ Việt Nam và thế giới, đặc biệt là voọcđầu trắng Hiện nay, loài voọc này chỉ còn tồn tại ở Cát Bà

Một trong các hệ sinh thái quan trọng của vùng biển Cát Bà đó là hệ sinhthái san hô Cho đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện 193 loài thuộc lớp san

hô ở vùng biển Cát Bà, tập trung nhiều ở các đảo Áng Thảm, Cát Dứa, MũiHồng, Ba Trái Đào, cụm đảo Đầu Bê – Hang Trai, Long Châu

2.4 Hiện trạng phân bố:

Theo kết qủa điều tra năm 2009 - 2010 của đề tài KC.09.26/06.10, san hô ởvịnh Hạ Long - Cát Bà - Long Châu bị thu hẹp không gian phân bố chỉ còn ở cácđảo bao bên ngoài, diện tích phân bố trên các rạn cũng suy giảm đáng kể Hiệnnay, các rạn san hô còn sót lại chỉ là một dải hẹp ven các đảo phía ngoài như khu

Trang 19

vực Cống Đỏ, Trà Sản, Vạn Gió, Bọ Hung, Hang Trai, Đầu Bê, Ba Trái Đào,Vạn Bội và vùng quần đảo Long Châu Các rạn san hô ở ven đảo phía bên trong

đã bị chết toàn bộ hoặc số còn sót lại không đáng kể

Thành phần loài, độ phủ và các đặc trưng khác:

* Thành phần loài san hô cứng

Kết quả khảo sát tại hiện trường và phân tích mẫu vật được trong năm 2009

và 2010 của đề tài cùng với các kết quả khảo sát tại một số rạn trong năm 2008trên toàn khu vực Hạ Long và Cát Bà đã xác định được tổng số 102 loài, 32giống thuộc 11 họ của bộ san hô cứng Scleractinia Như vậy, tuy số lượngkhông nhiều nhưng so với các khu vực tương đương ở phía Bắc trong thời gianhiện nay như Cô Tô, Bạch Long Vỹ, Hòn Mê thì khu vực này vẫn là nơi có sốlượng loài phong phú nhất Trong cấu trúc thành phần khu hệ, số loài tập trungtrong 3 họ là Faviidae, Acroporidae, Poritidae, chiếm đến 58,8% tổng số

Hình 2.1 Biến động về phân bố của san hô ở Cát Bà - Hạ Long giai đoạn

1995 - 2010 (Nguồn: Đề tài KC-09.26/06-10)

Các kết quả khảo sát cho thấy, họ Faviidae có số lượng giống loài cao nhất(7 giống, 25 loài), tiếp theo là họ Acroporidae có 3 giống 18 loài, đứng thứ 3 là

Trang 20

họ Poritidae chỉ có 2 giống nhưng có đến 17 loài Có 2 họ chỉ có 1 giống làOculinidae và Dendrophyliidae trong đó họ Oculinidae có số loài thấp nhất (2loài) Còn lại các họ khác có số loài giao động từ 4 đến 11 loài.

Với số giống loài trên có thể thấy, san hô khối và phủ chiếm tỷ lệ khá lớn,

trên 80% trong khi đó san hô cành chỉ có 1 giống duy nhất là Acropora với 10

loài chiến gần 10% (các vùng rạn khác tỷ lệ san hô cành chiếm từ 20 - 40% tổng

số loài) Như vậy, có thể thấy sự đơn điệu của rạn san hô ở khu vực này và nó sẽkhông tạo được sự đa dạng về kiểu dáng, kiểu hình hay tạo ra được các tiểu sinhcảnh để hấp dẫn các sinh vật biển đến cư trú Đặc biệt, ở đây mỗi rạn thường cómột loài chủ đạo chiếm ưu thế và có những rạn chỉ có 1 loài cũng chiếm đến 80

- 85% diện tích chung của rạn

Kích thước của các tập đoàn san hô trên các rạn chủ yếu là cỡ nhỏ và trungbình, phổ biến từ 20-50 cm, rất ít tập đoàn có kích thước trên 1 m

Phần lớn các rạn san hô ở vịnh Hạ Long - Cát Bà - Long Châu hiện nay chỉ

là một dải nhỏ và hẹp, chiều ngang rạn chỉ khoảng 3 - 4 m trong phạm vi độ sâukhoảng 0 m đến 4 m so với 0mHĐ Phần chân rạn đều là bùn bao phủ, phần trên(đới mặt bằng) là đá san hô chết (từ 0 m trở lên) phần này khá rộng ở Ba TráiĐào, Cọc Chèo, Cống Híp, Vụng Vua,… Kết quả khảo sát độ phủ san hô bằngphương pháp dây mặt cắt điểm tại một số rạn tiêu biểu được còn tốt dao độngtrong khoảng 24,0 đến 44,0 nền đáy Từ kết quả trên cho thấy, hiện nay ở khuvực Hạ Long - Cát Bà - Long Châu không còn rạn nào thuộc loại rạn tốt (độ phủtrên 50%), mà chỉ còn lại các rạn có độ phủ thuộc loại trung bình đến nghèo nàn(dưới 25%) Nhìn chung trên các rạn có tỷ lệ đá san hô chết rất cao, toàn bộ đớimặt bằng trên tất cả các rạn đều bị chết (đới này khá rộng nằm ở khoảng + 0,5đến 0mHĐ) Trên rạn có nhiều trầm tích bùn bao phủ trên các đá san hô chết và

cả san hô sống Ở một số rạn bắt gặp địch hại là ốc Drupella spp ăn san hô, mật

độ hàng chục con/m2 như Ba Trái Đào và Cọc Chèo Một số rạn như Bù Xám,

Trang 21

Bồ Hòn, Bồ Câu, Cổ Ngựa, Bến Bèo những năm trước san hô khá phát triểnnhưng đến nay san hô chết hết, trên rạn chỉ còn lại phần lớn là đá san hô chết vàđang dần dần bị bùn vùi lấp.

Ở khu vực Hạ Long - Cát Bà - Long Châu đã phát hiện được 111 loài, 71giống thuộc 41 họ trên các rạn san hô Các họ có số lượng loài cao theo thứ tự là

cá Thia Pomacentridae và cá Bống trắng Gobiidae mỗi họ có 9 loài (8,11%), họ

cá Sơn Apogonidae có 8 loài (7,21%), họ cá Mú Serranidae, cá BướmChaetodontidae, cá Bàng chài Labridae mỗi họ có 7 loài (6,31%) Các họ Sơn đáHolocentridae và Mào gà Blennidae mỗi họ có 5 loài (4,5%) Họ cá Hồng

Lutjanidae có 4 loài Các họ cá Trích Clupeidae, cá Mù làn Scorpaenidae, cá Sạo Haemulidae, cá Phèn Mullidae và cá Dìa Siganidae, mỗi họ có 3 loài Các

họ khác có số loài tới 52 loài chiếm 46,8%, trong khi đó mỗi họ thuộc nhóm nàychỉ bao gồm 1 tới 2 loài 12 loài được xem là loài mới bổ sung cho “Danh sách

cá biển vịnh Hạ Long, 1997

Thành phần loài tại Cát Bà - Long Châu: Cho đến nay hiện biết 532 loài

động vật không xương sống đáy thuộc 270 giống, 114 họ, 11 lớp của 4 ngành:Giun đốt (Annelida), Chân đốt (Arthropoda); Thân mềm (Mollusca) và Da gai(Echonodermata) Trong số này, thân mềm có số loài phong phú nhất 261 loài,chiếm 49,1% tổng số loài; sau đó đến giun đốt 145 loài, chiếm 3%; giáp xác 113loài, chiếm 21,2%; và da gai có số loài thấp nhất với 13 loài chiếm 2,4%

Trong số hơn 570 loài động vật đáy phát hiện ở vùng Cát Bà Hạ Long Long Châu có khoảng 100 loài có giá trị kinh tế về các mặt: xuất khẩu, thực phẩm,sản xuất đồ mỹ nghệ, dược liệu và các loài quý hiếm bị đe dọa tuyệt chủng

Cho đến nay ở vùng rạn san hô Cát Bà - Long Châu đã xác định được 178loài rong biển, thuộc 4 ngành Là rong Lam có 24 loài chiếm 13,5 %; rong Đỏ

có 69 loài (38,7%); rong Nâu có 44 loài (24,7%) và rong Lục có 41 loài

Trang 22

(23,1%) Các kết quả khảo sát năm 2009 - 2010 của đề tài KC.09-26/06-10 chothấy số lượng loài rong biển chỉ ghi nhận được 23 loài, so với trước năm 1993 bịgiảm đi tới 84,3% (2009), trung bình là 5,3%/năm Trong số này, sự suy giảm

về loài gặp ở hầu hết các taxon

Các nhóm sinh vật khác như động vật phù du, thực vật phù du di chuyểnthụ động theo dòng nước do vậy ít chịu ảnh hưởng của hiện trạng hệ sinh tháirạn san hô nên không trở thành một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng của rạn

Độ sâu rạn san hô phổ biến 5 – 6 m, tuy không lớn và lộng lẫy bằng khuvực ở phía Nam, song lại tiêu biểu cho kiểu rạn ven bờ Tây vịnh Bắc Bộ, với sự

đa dạng cao các giống, loài thủy sinh vật sống trên cạn, là nơi bảo vệ các cá thểnon, ấu trùng nhiều loài sinh vật khác Những lúc biển lặng, du khách đến nơiđây có thể tham gia du lịch sinh thái biển với các cuộc lặn, thám hiểm một phần

sự kỳ thú của Cát Bà dưới đáy đại dương

Một số hình ảnh thể hiện sinh thái nơi Cát Bà:

Hình 2.2 Sinh thái Cát Bà

Trang 23

Hình 2.3 Rừng Cát Bà

Trang 24

Hình 2.4 Một khoảng vườn quốc gia Cát Bà

Hình 2.5 Làng cá

3 Điều kiện kinh tế- xã hội

Tổng số dân thị trấn Cát Bà là 9.135 người Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là0,87%, trong đó nam chiếm 4.476 người, nữ chiếm 4.659 người Diện tích đất tựnhiên là 1.830 km2 Mật độ dân số là 4.992 người/km2 Số lao động có việc làmchiếm 100%

Ngành nghề chủ yếu ở thị trấn Cát Bà là nuôi trồng thủy hải sản, kinhdoanh du lịch, dịch vụ

Hiện nay diện tích nuôi trồng thủy sản của thị trấn Cát Bà là 53,6 ha, đượcphân bổ như sau:

Trang 25

Bảng 1.1 Cơ cấu nuôi trồng thủy sản của thị trấn Cát Bà

từ du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Chỉ trong vòng 5 năm tới, Cát Bà sẽ nhanh chóng trở thành trung tâm dulịch quốc gia vì Cát Bà là trung tâm du lịch cho cả miền bắc, Vân Nam, QuảngTây và Quảng Đông Trung Quốc với hơn 300 triệu dân

Cát Bà trở thành phát kiến du lịch cho người Hàn Quốc mới từ năm 2006,hiện nay Cát Bà đã trở thành một điểm đến quan trọng không thể thiếu đối với

du khách Hàn Quốc khi sang Việt Nam Tuy nhiên hiện nay cơ sở hạ tầng dịch

vụ du lịch trên đảo Cát Bà còn chưa phát triển, chỉ có các khách sạn nhỏ do dânđịa phương xây dựng một cách tự phát để phục vụ khách bình dân Theo con sốthống kê chưa đầy đủ lượng khách sạn của đảo mới đáp ứng được 50 – 60% nhucầu trong mùa hè cho du khách nội địa Hơn thế nữa ngoài việc khai thác thiênnhiên một cách đơn thuần như đi tắm biển, đi thăm rừng quốc gia, thăm Vịnh HạLong chưa có những đầu tư chiều sâu để phát triển du lịch một cách thực sự

Trang 26

CHUƠNG 4 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG KHU DU LỊCH CÁT BÀ

1 Hiện trạng môi trường không khí

Để đánh giá hiện trạng chất lượng không khí khu du lịch Cát Bà, đã cónhững dự án tiến hành khảo sát, lấy mẫu, phân tích thông qua một số chỉ tiêuđặc trưng như CO, SO2, NOx…Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành thu thập sốliệu qua 2 năm 2010 và 2011

Bảng 2.1 Kết quả phân tích chất lượng không khí khu du lịch Cát Bà năm

2010.

STT Thông số Đơn vị Kết quả 2008/BTNMT QCVN 05:

Ngày 10/3/2010; Vị trí: Cổng Công ty xổ số và đầu tư tài chính Hải Phòng,

Trang 27

Bảng 2.2 Kết quả phân tích chất lượng không khí khu du lịch Cát Bà năm

không khí xung quanh

Nhận xét: Qua kết quả quan trắc chất lượng không khí khu vực thị trấn Cát Bà,

có thể nhận thấy các chỉ tiêu đều thấp hơn QCVN cho phép Vì vậy, khu vựcnày chưa bị ô nhiễm không khí

Ngày đăng: 19/06/2016, 20:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Biến động về phân bố của san hô ở Cát Bà – Hạ Long giai - Đánh giá thiệt hại ô nhiễm môi trường do hoạt động du lịch ở cát bà và đề xuất các giải pháp khắc phục
Hình 2.1 Biến động về phân bố của san hô ở Cát Bà – Hạ Long giai (Trang 5)
Hình 2.1. Biến động về phân bố của san hô ở Cát Bà - Hạ Long giai đoạn - Đánh giá thiệt hại ô nhiễm môi trường do hoạt động du lịch ở cát bà và đề xuất các giải pháp khắc phục
Hình 2.1. Biến động về phân bố của san hô ở Cát Bà - Hạ Long giai đoạn (Trang 19)
Hình 2.2. Sinh thái Cát Bà - Đánh giá thiệt hại ô nhiễm môi trường do hoạt động du lịch ở cát bà và đề xuất các giải pháp khắc phục
Hình 2.2. Sinh thái Cát Bà (Trang 23)
Hình 2.3.  Rừng Cát Bà - Đánh giá thiệt hại ô nhiễm môi trường do hoạt động du lịch ở cát bà và đề xuất các giải pháp khắc phục
Hình 2.3. Rừng Cát Bà (Trang 23)
Hình 2.4. Một khoảng vườn quốc gia Cát Bà - Đánh giá thiệt hại ô nhiễm môi trường do hoạt động du lịch ở cát bà và đề xuất các giải pháp khắc phục
Hình 2.4. Một khoảng vườn quốc gia Cát Bà (Trang 24)
Bảng  2.1. Kết quả phân tích chất lượng không khí khu du lịch Cát Bà năm - Đánh giá thiệt hại ô nhiễm môi trường do hoạt động du lịch ở cát bà và đề xuất các giải pháp khắc phục
ng 2.1. Kết quả phân tích chất lượng không khí khu du lịch Cát Bà năm (Trang 27)
Bảng  2.2. Kết quả phân tích chất lượng không khí khu du lịch Cát Bà năm - Đánh giá thiệt hại ô nhiễm môi trường do hoạt động du lịch ở cát bà và đề xuất các giải pháp khắc phục
ng 2.2. Kết quả phân tích chất lượng không khí khu du lịch Cát Bà năm (Trang 29)
Bảng 2.3. Kết quả phân tích mẫu nước mặt - Đánh giá thiệt hại ô nhiễm môi trường do hoạt động du lịch ở cát bà và đề xuất các giải pháp khắc phục
Bảng 2.3. Kết quả phân tích mẫu nước mặt (Trang 30)
Bảng 2.5. Kết quả phân tích chất lượng nước biển - Đánh giá thiệt hại ô nhiễm môi trường do hoạt động du lịch ở cát bà và đề xuất các giải pháp khắc phục
Bảng 2.5. Kết quả phân tích chất lượng nước biển (Trang 32)
Bảng 2.6: Kết quả phân tích mẫu đất - Đánh giá thiệt hại ô nhiễm môi trường do hoạt động du lịch ở cát bà và đề xuất các giải pháp khắc phục
Bảng 2.6 Kết quả phân tích mẫu đất (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w