công lao động xã hội tất yếu và hợp lý nhằm giúp cho các doanh nghiệp tiết kiệmđược thời gian, chi phí, nhân lực …Trong việc thực hiện một hợp đồng mua bán.Các tổ chức chuyên nghiệp về g
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được aicông bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đượcnêu rõ nguồn gốc
Tác giả
Đoàn Thị Phương Thảo
Trang 2Trước tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các Quý thầy cô đã giảng dạytrong chương trình Đào tạo Thạc sỹ ngành Quản lý Kinh tế khóa 2014-2016 củaViện Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Đỗ Thị Mai Thơm đãnhiệt tình hướng dẫn trong thời gian thực hiện luận văn này
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Lãnh đạo và tập thể cán bộ, nhânviên Công ty CP Giám định Năng lượng Việt Nam (EIC) đã giúp đỡ và cung cấpcác thông tin, số liệu để tác giả hoàn thành luận văn của mình
Mặc dù đã hết sức cố gắng song do thời gian và năng lực có hạn nên luận vănvẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót Rất mong nhận được sự quan tâm, tham gia góp
ý, xây dựng của các thầy cô và các bạn đồng nghiệp để bài luận văn được hoànthiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Tác giả
Đoàn Thị Phương Thảo
MỤC LỤC
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.2.5 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 17
1.2.5.1 Chỉ tiêu sản lượng 17
1.2.5.2 Chỉ tiêu doanh thu 17
1.2.5.5 Chỉ tiêu sinh lợi 18
1.2.5.6 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn 19
1.2.6 Vai trò hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 21
1.2.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 21
1.2.7.1 Các nhân tố khách quan 21
1.2.7.2 Các nhân tố chủ quan 22
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp các chỉ tiêu kinh doanh của Công ty EIC từ năm
2011-2015
34Bảng 2.2: Số lượng các vụ giám định của Công ty EIC từ năm 2011-
2015
39Bảng 2.3: Chỉ tiêu doanh thu của Công ty EIC từ năm 2011-2015 43Bảng 2.4: Chỉ tiêu chi phí của Công ty EIC từ năm 2011-2015 47Bảng 2.5: Lợi nhuận của Công ty EIC từ năm 2011-2015 51Bảng 2.6: Hiệu quả kinh doanh của Công ty EIC từ năm 2011-2015 53
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty EIC 30Hình 2.2: Biểu đồ số lượng các vụ giám định của Công ty EIC từ năm
2011-2015
39Hình 2.3: Biểu đồ Tỷ lệ số lượng các vụ giám định của Công ty EIC
năm 2015
40Hình 2.4: Biểu đồ Doanh thu của Công ty CP EIC từ năm 2011-2015 43Hình 2.5: Biểu đồ Tỷ lệ Doanh thu các loại hình giám định
của Công ty EIC năm 2015
45Hình 2.6: Biểu đồ Chi phí của Công ty EIC từ năm 2011-2015 47Hình 2.7: Biểu đồ Tỷ lệ chi phí của Công ty EIC năm 2015 48Hình 2.8: Biểu đồ Lợi nhuận của Công ty EIC từ năm 2011-2015 51Hình 2.9: Biểu đồ Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty EIC
từ năm 2011-2015
54
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Hiện nay, với xu thế hội nhập và phát triển kinh tế mang tính chất khu vựchóa và toàn cầu hóa, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt Thêmvào đó sự bất ổn định của nền kinh tế, giá cả leo thang của nhiều mặt hàng sảnphẩm, cùng với sự biến động của tỷ giá lãi suất, tỷ giá ngoại tệ đã ảnh hưởng đếnnền kinh tế Việt Nam nói chung và hoạt động SXKD của các doanh nghiệp nóiriêng
Hiệu quả kinh doanh là vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp, do đó nótrở thành mục tiêu ưu tiên hàng đầu của doanh nghiệp Doanh nghiệp muốn tồn tại
và phát triển được đòi hỏi phải có khả năng nhận biết và phát huy tốt nhất năng lựccủa mình để xây dựng được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và ngày càng nâng caohơn nữa hiệu quả kinh doanh
Công ty CP Giám định Năng lượng Việt Nam (EIC) là một trong những công
ty lớn trong lĩnh vực giám định Trải qua thời gian dài hoạt động, đồng hành vớicác đối tác uy tín trong và ngoài nước, EIC đã luôn đáp ứng và mang tới cho kháchhàng những dịch vụ tối ưu và hiệu quả nhất Bên cạnh đó, EIC cũng luôn nhậnđược sự ủng hộ và tin tưởng của khách hàng Đây chính là cơ sở và tiền đề cho sựphát triển và hợp tác bền vững, lâu dài của EIC trong quá trình hội nhập và pháttriển Tuy nhiên trong quá trình hoạt động Công ty CP Giám định Năng lượng ViệtNam cũng đã gặp phải không ít khó khăn và bộc lộ một số hạn chế nhất định Trướcsức cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường hiện nay, Công ty CP Giám địnhNăng lượng Việt Nam phải xây dựng các biện pháp để tận dụng và phát huy sứcmạnh, khắc phục các hạn chế của mình, từ đó nâng cao được hiệu quả kinh doanh
của Công ty Vì vậy tác giả đã chọn đề tài “Biện pháp nâng cao hiệu quả kinh
doanh của Công ty Cổ phần Giám định Năng lượng Việt Nam”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Qua quá trình nghiên cứu, phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanhcủa Công ty CP Giám định Năng lượng Việt Nam, thấy được những mặt đã đạt
Trang 7được cần phát huy và những tồn tại cần khắc phục trong những năm qua từ đó đưa
ra các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Căn cứ theo nội dung đề tài, đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạtđộng kinh doanh của Công ty CP Giám định Năng lượng Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong các hoạt động kinh doanh củaCông ty CP Giám định Năng lượng Việt Nam trong giai đoạn 05 năm từ 2011-2015
4 Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu đặt ra chủ yếu là thống kê, so sánh, phân tích, tổnghợp và khái quát vấn đề nhằm xác định ảnh hưởng, vai trò và tầm quan trọng củatừng chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả kinh doanh tại Công ty CP Giám định Nănglượng Việt Nam từ đó đưa ra biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại đơn vị
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Hiện nay, các đơn vị kinh doanh dịch vụ giám định nói chung và Công ty CPGiám định Năng lượng Việt Nam nói riêng đang phải đương đầu với nhiều khó
khăn, thách thức Việc nghiên cứu đề tài “Biện pháp nâng cao hiệu quả kinh
doanh của Công ty Cổ phần Giám định Năng lượng Việt Nam” giúp đánh giá
thực trạng sản xuất kinh doanh của Công ty để nhận thức rõ khó khăn và lợi thếđang tồn tại từ đó đề ra những giải pháp hữu hiệu mang tính khả thi đảm bảo cho
sự phát triển ổn định và lâu dài của Công ty
Trang 8CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ
VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP GIÁM ĐỊNH 1.1 Tổng quan về ngành giám định.
1.1.1 Nhu cầu tất yếu của giám định.
Trong thương mại, việc thực hiện một hợp đồng mua bán thường trải quanhiều giai đoạn với nhiều chủ sở hữu khác nhau Đồng thời trong quá trình nàyhàng hóa luôn có nguy cơ phải chịu những rủi ro tổn thất, hư hỏng khi có những sự
cố xảy ra những người tham gia thực hiện hợp đồng mua bán cũng như các bênliên quan đều tìm những chứng cứ chứng minh mình đã thực hiện đúng nghĩa vụ
và được miễn trách Mặt khác trách nhiệm và quyền lợi của mỗi tổ chức cá nhântham gia vào quá trình này thường được xác định bằng một hợp đồng mua bán,hợp đồng vận tải, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng xếp dỡ… Theo thông lệ quốc tế,công ước vận tải, giao nhận, bảo hiểm…Mỗi bên tham gia vào quá trình lưuchuyển hàng hóa đều tìm cách chứng minh mình đã thực hiện đúng nghĩa vụ đượcquy định trong hợp đồng nhằm miễn trách cho mình về các tranh chấp phát sinhnếu có
Như vậy để chứng minh hàng hóa được giao đúng các điều kiện đã đượcthỏa thuận, để giải quyết tranh chấp và có chứng cứ khách quan để phân định tráchnhiệm đối với các bên tham gia vào quá trình thực hiện hợp đồng mua bán khihàng hóa bị sai hỏng, thiếu mất … Đồng thời giải quyết nhiều vấn đề khác liênquan đến thanh toán, giao nhận bốc xếp vận chuyển hàng hóa … Người ta chỉ địnhtrong hợp đồng hoặc trực tiếp yêu cầu một tổ chức thứ 3 (Third party) chuyênnghiệp, hợp pháp, hoạt động độc lập, trung lập có năng lực về kỹ thuật và nghiệp
vụ để thay thế họ đứng ra làm bên trung gian chứng kiến và tiến hành xác định tìnhtrạng, số khối lượng, phẩm chất thực tế của hàng hóa làm phương tiện để các bên
có căn cứ thực hiện thanh toán và phân chia trách nhiệm
"Tổ chức thứ ba trung lập, độc lập, chuyên nghiệp này chính là các tổ chứckinh doanh dịch vụ giám định được hình thành ở các quốc gia trên thế giới từ rấtlâu Việc hình thành các tổ chức kinh doanh dịch vụ giám định là một sự phân
Trang 9công lao động xã hội tất yếu và hợp lý nhằm giúp cho các doanh nghiệp tiết kiệmđược thời gian, chi phí, nhân lực …Trong việc thực hiện một hợp đồng mua bán.Các tổ chức chuyên nghiệp về giám định sẽ có đầy đủ các điều kiện và phương tiện
để tiến hành kiểm tra hàng hóa một cách tốt hơn (họ có dụng cụ, trang thiết bị thínghiệm, các quy trình giám định và có đội ngũ cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ
và kinh nghiệm kiểm tra hàng hóa, phương tiện)" [3]
Với vai trò như vậy, "hoạt động giám định là một dịch vụ gắn liền và hỗ trợđắc lực cho hoạt động kinh doanh Dịch vụ này đã xuất hiện hàng trăm năm và trởthành một tập quán thương mại được thừa nhận rộng rãi, một hoạt động không thểthiếu trong chuỗi giao dịch thương mại và dịch vụ" [3]
1.1.2 Dịch vụ Giám định.
1.1.2.1 Khái niệm.
- Giám định là hoạt động của bên thứ ba nhằm đánh giá tình trạng thực tế củađối tượng giám định theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân Nền tảng để thựchiện việc giám định là sự kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố con người, cơ sở vật chất,công nghệ, phương pháp tạo nên sự đánh giá chuyên nghiệp Có thể nói, không chỉgóp phần hạn chế rủi ro trong kinh doanh, “giám định” còn góp phần giúp các cơquan nhà nước trong công tác quản lý nhằm bảo đảm một môi trường kinh doanh
an toàn, hiệu quả cho các nhà đầu tư
- “Giám định là một hoạt động khoa học kỹ thuật cao và mang tính đặc thùđồng thời giám định cũng được xem là ngành kinh doanh Tầm quan trọng củadịch vụ giám định không chỉ liên quan đến số phận của hàng hóa hay Doanhnghiệp có hàng hóa cần giám định, mà liên quan đến cả tính mạng con người” [2]
“Trong đời sống kinh tế xã hội, giám định là một nhu cầu tất yếu khách quan,phù hợp với sự phát triển và hòa nhập vào quốc tế của nền kinh tế xã hội ViệtNam” [3] Trong lĩnh vực ngoại thương, dịch vụ giám định giữ vai trò quan trọng.Các thương nhân mua bán hàng hóa xuất nhập khẩu luôn sử dụng dich vụ giámđịnh để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình trong quá trình giao nhận hàng hóa.Luật pháp tất cả các nước đều có qui định về lĩnh vực này
Trang 101.1.2.2 Vai trò của dịch vụ giám định
Giám định không chỉ làm thuận lợi hóa các hoạt động thương mại mà cònđóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các hoạt động quản lý nhà nước đối vớihàng hóa xuất nhập khẩu
‘Giám định làm tăng thêm trách nhiệm của các bên có liên quan trong quátrình thực hiện hợp đồng mua bán từ đó ngăn ngừa các rủi ro, tổn thất và nhữngnghi ngờ, tranh chấp giữa các bên Đặc biệt khi có các tranh chấp xảy ra, chứngthư giám định được sử dụng như một chứng cứ khách quan mang tính pháp lý quantrọng để các bên có thể giải quyết các tranh chấp một cách nhanh chóng hạn chếtranh cãi kéo dài và chi phí ảnh hưởng xấu đến uy tín và hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp” [2]
Đối với các bên liên quan đến quá trình thực hiện hợp đồng mua bán, họ cóthể yên tâm với những việc mà mình đã cố gắng làm đúng, bởi lẽ họ tìm thấy ởgiám định người trọng tài vô tư, khách quan luôn đứng ra bảo vệ quyền lợi chínhđáng của họ và tạo điều kiện thuận lợi cho họ hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình cụthể :
- Đối với các nhà xuất nhập khẩu: Do biểu thuế có quá nhiều điểm không rỏràng và nhiều kẽ hở cho nên các cơ quan chức năng luôn có xu hướng áp dụng biểuthuế cao, còn doanh nghiệp xuất nhập khẩu luôn tính thuế cho hàng hóa có lợi chomình nhất do vậy thường xuyên có những tranh chấp giữa chủ hàng và cơ quanchức năng “Việc thông quan hàng hóa trở thành mối quan tâm hàng đầu và làmđau đầu các doanh nghiệp xuất nhập Nhờ có giám định mà các bên thống nhấtcách hiểu về hàng hóa giúp cho việc thông quan tiến hành được thuận lợi” [4]
- Đối với người xuất khẩu: “Dịch vụ giám định giúp cho nhà xuất khẩu chủđộng tính toán cả về số lượng và chất lượng cho phù hợp với tiêu chuẩn, yêu cầuxuất khẩu hàng hóa” [4] Nhờ sự hỗ trợ của dịch vụ giám định mà các công ty xuấtkhẩu có kinh nghiệm tốt trong việc theo dõi, kiểm tra, kiểm soát các khâu sản xuất,chế biến, gom hàng… đảm bảo chất lượng tốt đáp ứng yêu cầu của khách hàng,cũng như tiêu chuẩn chất lượng của thị trường nước ngoài Mặt khác “thông qua
Trang 11chứng thư giám định, người xuất khẩu có bằng chứng chứng minh mình đã làmđúng nghĩa vụ ghi trong hợp đồng” [4] Ngoài ra chứng thư giám định còn là mộtchứng từ quan trọng để người xuất khẩu thanh toán tiền hàng.
- Đối với người nhập khẩu: Nhờ có dịch vụ giám định mà người nhập khẩu
có cơ sở yên tâm mình nhận đúng, nhận đủ loại hàng mà mình đã đặt mua màkhông phải tự đầu tư, tổ chức kiểm tra hàng hóa do đó tiết kiệm được thời gian,công sức, tiền của không những vậy, chứng thư giám định còn là một văn bảnkhông thể thiếu trong hồ sơ khiếu nại
- Đối với người vận tải: Họ có một chỗ dựa tin cậy để xác định rằng họ đãthực hiện công việc của mình đúng với các quy định cũng như yêu cầu kỷ thuậttrong vận tải: Phương tiện có đủ khả năng, điều kiện chuyên chở hàng hóa, chứngminh cho người vận tải đã làm hết khả năng cần thiết để hạn chế tối đa các thiệt hạikhi có tổn thất đối với hàng hóa
- Đối với người bảo hiểm: “Dịch vụ giám định giúp người bảo hiểm xác địnhmức độ, nguyên nhân gây hư hỏng, tổn thất đối với hàng hóa và phương tiện vậntải và để làm cơ sở bồi thường thiệt hại cho khách hàng” [4]
- Đối với các ngân hàng: Chứng thư giám định là một trong những cơ sở để
họ làm cơ sở chuyển tiền cho người bán Người xuất khẩu yên tâm nhận được tiềnbán hàng đầy đủ và đúng thời hạn khi họ thực hiện đúng các nghĩa vụ cam kếttrong hợp đồng
Đặc biệt, “giám định là hoạt động hữu hiệu giúp nhà nước quản lý chất lượnghàng hóa xuất nhập khẩu, để các doanh nghiệp tránh nhập phải hàng xấu, hàngkém chất lượng và bảo vệ người tiêu dùng Tránh làm ảnh hưởng đến đời sống, sứckhỏe của con người, làm ảnh hưởng xấu đến môi trường, gây rối loạn thị trườngtrong nước” [3]
Giám định giúp Nhà nước quản lý, kiểm soát để các doanh nghiệp trong nướckhông xuất đi hàng xấu, hàng kém phẩm chất làm mất uy tín Quốc gia hoặc xuất đihàng tốt hơn nhiều so với thỏa thuận trong hợp đồng, làm thiệt hại lợi ích Quốc giacũng chính như người xuất khẩu…
Trang 12Ngoài ra hoạt động giám định trong lĩnh vực thẩm định, đánh giá các côngtrình đầu tư, công tình xây dựng… không những giúp Nhà nước nắm được chấtlượng các công trình xây dựng hạn chế đưa vào nước ta những máy móc, thiết bịlạc hậu mà còn giúp cho các doanh nghiệp, các bên đối tác quyết toán sát với giátrị thực tế các công trình Từ đó hạn chế được những thiệt hại cho các nhà đầu tưtrong nước.
1.1.2.3 Chứng thư giám định.
“Sản phẩm của quá trình giám định là chứng thư giám định:
- Chứng thư giám định là văn bản xác định tình trạng thực tế của hàng hóa,dịch vụ theo các nội dung giám định được khách hàng yêu cầu
- Chứng thư giám định phải có chữ ký của người đại diện có thẩm quyền củathương nhân kinh doanh dịch vụ giám định, chữ ký, họ tên của giám định viên vàphải được đóng dấu nghiệp vụ được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền
- Chứng thư giám định chỉ có giá trị đối với những nội dung được giám định
- Thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định chịu trách nhiệm về tính chínhxác của kết quả và kết luận trong Chứng thư giám định
- Chứng thư phải đảm bảo nhận biết được tổ chức giám định; phân biệt đượccác chứng thư; nhận biết đối tượng, thời gian và địa điểm giám định; thời gian cấpchứng thư…
- Chứng thư đảm bảo tính trung thực, chính xác và khách quan, tính pháp lý
về kết quả giám định; đáp ứng cũng như phù hợp với yêu cầu chính đáng củakhách hàng
- Kết quả trong chứng thư là kết quả được thực hiện theo quy trình, phươngpháp đã được người có quyền thẩm xét hoặc phê duyệt
- Chứng thư phải đảm bảo có chữ ký của người có thẩm quyền, của giám địnhviên đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật; được đóng dấu hợp pháp
Luật thương mại cũng quy định giá trị và tính pháp lý của chứng thư như sau:
- Chứng thư chỉ có giá trị đối với nội dung được giám định tại địa điểm vàthời gian giám định
Trang 13- Tổ chức giám định chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả/ kết luậntrong chứng thư (kể cả khi ủy thác hay sử dụng nhà thầu phụ)
- Chứng thư có giá trị pháp lý với bên yêu cầu giám định nếu họ không chứngminh được kết quả giám định sai
- Chứng thư có giá trị pháp lý đối với các bên cùng chỉ định tổ chức giámđịnh trong hợp đồng nếu các bên không chứng minh được kết quả giám định sai
- Khi các bên không cùng chỉ định tổ chức giám định trong hợp đồng thìchứng thư chỉ có giá trị với bên yêu cầu giám định Bên kia có quyền yêu cầu giámđịnh lại khi không đồng ý với kết quả giám định” [2]
1.1.3 Điều kiện của giám định.
“Hiện nay tại Việt Nam, giám định là hoạt động kinh doanh bình thường, gầnnhư là không đòi hỏi những điều kiện ràng buộc, hoặc đòi hỏi không cao Tuynhiên thời gian qua, thị trường giám định tại Việt Nam đã có sự hỗn loạn do cáccông ty đua nhau tranh giành khách, dẫn đến chất lượng dịch vụ quá kém và đạođức nghề xuống cấp trầm trọng do đó cần siết chặt hơn công tác quản lý đối vớicác cơ quan giám định và ngành giám định tại Việt Nam sẽ là ngành kinh doanh cóđiều kiện” [3] Hiện tại, cơ quan giám định cần phải đạt được các điểm sơ lược nhưsau:
Điều kiện số 1: “Điều kiện về trình độ chuyên môn của giám đốc - người ký
và chịu trách nhiệm trước kết quả giám định do công ty mình thực hiện, là điềukiện hàng đầu cho việc ra đời của một công ty chuyên doanh về dịch vụ giám định.Trình độ của giám đốc có thể không chuyên sâu, nhưng người giám đốc phải đủhiểu biết để triển khai một dịch vụ giám định và đảm bảo được kết quả đó” [3]
Điều kiện số 2: “Đơn vị kinh doanh dịch vụ giám định phải có ít nhất 3 giám
định viên đạt tiêu chuẩn quy định:
- Có trình độ đại học hoặc cao đẳng phù hợp với yêu cầu của lĩnh vực giámđịnh;
- Có chứng chỉ chuyên môn về lĩnh vực giám định trong trường hợp pháp luậtquy định phải có chứng chỉ chuyên môn;
Trang 14- Có ít nhất ba năm công tác trong lĩnh vực giám định hàng hoá, dịch vụ.Giám định viên phải có khả năng thực hiện quy trình, phương pháp giám địnhhàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật, tiêu chuẩn quốc tế hoặc đã đượccác nước áp dụng một cách phổ biến trong dịch vụ giám định.
Căn cứ các tiêu chuẩn quy định tại Luật Thương mại, giám đốc doanh nghiệpkinh doanh dịch vụ giám định công nhận giám định viên và chịu trách nhiệm trướcpháp luật về quyết định của mình”
Điều kiện số 3: “Phương tiện và trang thiết bị không là yếu tố quan trọng như
trình độ hay kinh nghiệm của người đứng đầu, nhưng là điều cần thiết để hìnhthành nên một công ty giám định Sự thiếu hụt về phương tiện có thể thuê dịch vụ
từ những tổ chức khác, nhưng vẫn được coi là điều kiện cần phải có đối với mộtcông ty muốn tham gia vào hoạt động này, để tránh trường hợp một công ty giámđịnh chỉ có vài nhân viên, còn mọi thứ đều thuê từ bên ngoài”
Điều kiện số 4: “Giám định liên quan đến trách nhiệm, quyền lợi giữa người
bán và người mua, người bảo hiểm và người được bảo hiểm , vì vậy nếu kết quảgiám định sai sẽ gây ra thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế Vì vậy tổ chức giám địnhphải có khả năng tài chính để chi trả, đền bù thiệt hại do sai sót của mình trong quátrình thực hiện công tác giám định và phải có trách nhiệm tham gia bảo hiểm nghềnghiệp trong trường hợp rủi ro nằm ngoài phạm vi kiểm soát của tổ chức”
1.1.4 Tổ chức kinh doanh dịch vụ giám định.
1.1.4.1 Khái niệm.
Căn cứ theo các văn bản pháp quy Nhà nước về dịch vụ giám định thì tổ chứckinh doanh dịch vụ giám định được hiểu là: doanh nghiệp được thành lập theo quyđịnh của Pháp luật hoạt động độc lập và chuyên kinh doanh dịch vụ giám định.Trên cơ sở quy định này theo điều 3 Nghị định số 20/1999/NĐ-CP thì có 2 đốitượng sau đây được phép kinh doanh dịch vụ giám định:
- Doanh nghiệp giám định Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế được thànhlập theo Pháp luật hiện hành
- Doanh nghiệp giám định được thành lập theo luật đầu tư nước ngoài
Trang 151.1.4.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức kinh doanh dịch vụ giám định.
- Vị trí: “Tổ chức giám định là một tổ chức kinh doanh dịch vụ giám định
theo yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước, mang tính chất độc lập, trunglập Vị trí độc lập, trung lập có nghĩa: Tổ chức giám định không có liên quan vềquyền lợi vật chất với bất cứ bên nào Về nghiệp vụ không bị chi phối bởi bất cứngành nào, không thiên vị về phía nào, tự mình độc lập đem hết khả năng và tráchnhiệm cung cấp chứng cứ cụ thể, đúng thực tế làm cơ sở cho các bên liên quan giảiquyết tranh chấp Việc giám định có thể theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chứchoặc theo ủy quyền của Nhà nước”
- Chức năng: “Tổ chức giám định có chức năng kinh doanh dịch vụ giám
định theo yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước tự hoạch toán độc lập, tựtrang trải chi phí”
- Nhiệm vụ: “Hoạt động theo đúng quy định của Pháp luật Tổ chức thực hiện
việc giám định: hướng dẫn thực hiện và quản lý theo quy trình quy phạm vàphương pháp giám định thực hiện đúng yêu cầu của khách hàng đã được quy địnhtrong hợp đồng Cấp chứng thư giám định: chính xác trung thực kịp thời”
1.1.5 Các loại hình giám định.
1.1.5.1 Các loại hình giám định ở Việt Nam hiện nay.
Căn cứ nội dung và đối tượng giám định có thể chia giám định thành hai loại:Giám định hàng hóa và giám định phi hàng hóa
Giám định hàng hóa bao gồm:
- "Giám định số lượng, khối lượng hàng hóa
- Giám định quy cách, phẩm chất tình trạng hàng hóa
- Giám định bao bì, kí mã hiệu
- Giám định tổn thất hàng hóa
- Giám định thể tích hàng đối với hàng lỏng
- Giám định mức độ vệ sinh an toàn cho việc sử dụng hàng hóa
- Thẩm định giá trị hàng hóa
- Giám định nguồn gốc xuất xứ
Trang 16- Giám định đặc tính hàng hóa và tính năng sử dụng
- Giám định lắp đặt, vận hành, nghiệm thu hệ thống máy móc thiết bị …"
Giám định phi hàng hóa bao gồm:
- "Giám định điều kiện của các phương tiện vận tải như: độ kín chắc, sạch sẽhầm hàng phù hợp cho việc sắp xếp và vận chuyển hàng hóa Giám định điều kiện
kỹ thuật sắp xếp, nhiệt độ của các phương tiện vận chuyển hàng đông lạnh, các vậtliệu chèn lót, hệ thống thông gió…
- Giám định phương tiện vận tải trước khi sửa chữa, phá hủy
- Giám định phương tiện vận tải trước khi cho thuê và nhận lại
- Giám định kho tàng và cách bảo quản hàng hóa
- Giám định và giám sát quá trình sản xuất hàng hóa về các mặt chất lượng,
vệ sinh an toàn, bảo vệ môi trường…
- Giám sát, giao nhận, vận chuyển, bốc dỡ, xếp hàng
- Thẩm định hoạch toán công trình đầu tư
- Giám định công trình xây dựng"
1.1.5.2 Thị trường giám định tại Việt Nam hiện nay.
“Hiện nay có hơn 200 tổ chức giám định đang hoạt động trên thị trường ViệtNam và có thể chia thành 5 nhóm:
- Nhóm 1: Tổ chức giám định do Nhà nước thành lập Ở Việt Nam hiện naychỉ có duy nhất một tổ chức giám định do Nhà nước thành lập, đó là Công ty giámđịnh hàng hóa xuất nhập khẩu Viêt Nam - Vinacontrol được thành lập năm 1957
do Bộ Thương Mại quản lý
- Nhóm 2: Tổ chức giám định nước ngoài: SGS (Thụy Sĩ), BV (Pháp), NKKK(Nhật)…
- Nhóm 3: Tổ chức giám định trong nước: EIC, AIS, PICO, Sulicontrol, MIC,Davicontrol…
- Nhóm 4: Tổ chức giám định dưới dạng cơ quan giám định mang tính chấtNhà nước do các bộ chủ quản, chuyên ngành có hàng hóa xuất nhập khẩu đứng rathành lập và quản lý:
Trang 17+ Trung tâm giám định hàng nông sản thực phẩm (Food control)
+ Trung tâm giám định cà phê (Café control)
+ Trung tâm giám định Khoa học công nghệ và hàng hóa (Caspect)+ Trung tâm giám định phân tích hàng hóa (Testcontrol)
+ Trung tâm kiểm tra chất lượng than (Quacontrol)
- Nhóm 5: Tổ chức giám định dưới dạng cơ quan Nhà nước có chức năngquản lý pháp quyền về chất lượng hàng hóa nói chung:
+ Các trung tâm Tiêu chuẩn Đo lường chất lường khu vực I, II, III trựcthuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng
+ FCC (food and commodities control center): Trung tâm kiểm tra chấtlượng hàng hóa và thực phẩm”
1.1.6 Các tranh chấp thường gặp trong lĩnh vực giám định.
Ngày nay theo đà phát triển của hoạt động ngoại thương, hoạt động giám địnhhàng hóa xuất nhập khẩu cũng được mở rộng vượt ra ngoài hàng hóa, bao gồm cảnhững vấn đề liên quan đến hàng hóa và phi hàng hóa và người sử dụng chứng thưgiám định không còn chỉ là người mua, người bán mà còn mở rộng ra cả các đốitượng khác như các cơ quan chức năng, Hải quan, bảo hiểm, vận tải, thậm chí cảcông an … Mặt khác, trong bất cứ lĩnh vực nào của xã hội đều tồn tại các mâuthuẩn và khi những mâu thuẩn này chưa được giải quyết thì tranh chấp tất yếu xảy
ra và lĩnh vực giám định cũng không nằm ngoài quy luật ấy Như đã nói ở trên,việc tranh chấp trong lĩnh vực thương mại lẽ ra chỉ có hai đối tượng là người mua
và người bán nhưng trên thực tế các tranh chấp với các đối tượng khác đã xảy ranhiều nơi
Theo quan điểm các công ty giám định thì định nghĩa về "vụ tranh chấp lànhững vụ xảy ra do người yêu cầu giám định phản bác hay thậm chí kết luận kếtquả giám định sai Một vụ sai sót là vụ khi có tranh chấp mà Trọng tài kinh tế kếtluận là sai hoặc công ty giám định tự tái kiểm tra và nhận thấy sai"
Theo thống kê của Bộ thương mại và Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Namthì "hàng năm số vụ tranh chấp chiếm đến 4,5% tổng số chứng thư cấp ra, số vụ
Trang 18được kết luận có sai sót chiếm 2,7% và số vụ sai nghiêm trọng bị đưa ra trước phápluật chiếm 1,1%”.
1.2 Hiệu quả kinh doanh.
1.2.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh.
“Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, nó gắn liền với cơ chế thịtrường, có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình kinh doanh” [9] Khi đề cậphiệu quả kinh doanh, các nhà kinh tế dựa vào từng góc độ xem xét đưa ra các quanđiểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tếphản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài vật lực của doanh nghiệp để đạt kếtquả cao nhất trong quá trình kinh doanh với chi phí thấp nhất” [9] Quan điểm này
đã phản ánh rõ việc sử dụng các nguồn lực và trình độ lợi dụng chúng được đánhgiá trong mối quan hệ giữa kết quả đạt được với việc cực tiểu hóa các chi phí bỏ ra
Nó không phải là sự so sánh giữa chi phí đầu vào và kết quả nhận được ở đầu racủa một quá trình mà trước tiên hiệu quả kinh doanh phải gắn với việc hoàn thànhmục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp và để đạt được mục tiêu thì phải sử dụngchi phí như thế nào, nguồn lực như thế nào cho hợp lý
Quan điểm thứ hai cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữakết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó” [9] Quan điểm này phảnánh giữa kết quả đạt được với toàn bộ chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, phảnánh được trình độ sử dụng các yếu tố Để phản ánh được trình độ sử dụng cácnguồn lực, chúng ta phải cố định một trong hai yếu tố hoặc kết quả hoặc chi phí bỏ
ra vì khó xác định việc sử dụng các nguồn lực và khó khăn trong đánh giá chúng Quan điểm thứ ba cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phầntăng thêm của kết quả với phần tăng thêm của chi phí” [9] Quan điểm này đã biểuhiện được mối quan hệ so sánh tương đối giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra.Nhưng sản xuất kinh doanh là một quá trình trong đó các yếu tố tăng thêm có sựliên kết đến các yếu tố sẵn có Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm kết quả
Trang 19sản xuất kinh doanh thay đổi Theo quan điểm này, hiệu quả kinh doanh chỉ đượcxét đến phần kết quả bổ sung và chi phí bổ sung.
Trong thực tế hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp đạt được trongcác trường hợp sau: Kết quả tăng, chi phí giảm hoặc Kết quả tăng, chi phí tăng.Trong trường hợp 2, thời gian đầu tốc độ của chi phí lớn hơn tốc độ tăng của kếtquả sản xuất kinh doanh nếu không thì doanh nghiệp không thể tồn tại và pháttriển Trường hợp này diễn ra vào các thời điểm khi chúng ta đổi mới công nghệ,đổi mới cân nhắc giữa việc kết hợp lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài
Tóm lại, “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự tập trungcủa sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh các trình độ khai thác các nguồnlực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiệnmục tiêu kinh doanh Nó là thước đo ngày càng trở nên quan trọng của tăng trưởngkinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanhnghiệp trong từng thời kỳ” [9]
1.2.2 Bản chất của hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp.
Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội vàtiết kiệm lao động xã hội Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp phảichú trọng đến các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu lực của các yếu tố sảnxuất và tiết kiệm mọi chi phí Vì vậy yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinhdoanh là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu, hay là phải đạt kết quả tối đavới chi phí nhất định
Trong điều kiện xã hội nước ta, hiệu quả kinh doanh được đánh giá trên 2 tiêuthức: tiêu thức hiệu quả về mặt kinh tế và tiêu thức hiệu quả về mặt xã hội Tuỳtừng thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động kinh doanh mà hàng hoá trong 2tiêu thức này khác nhau Các doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, Công tytrách nhiệm hữu hạn, Công ty nước ngoài, tiêu thức hiệu quả kinh tế được quantâm nhiều hơn các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp có sự chỉ đạo caohơn Điều này phù hợp với mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội là không ngừng nâng
Trang 20cao nhu cầu vật chất tinh thần của toàn xã hội, không có sự bất bình đẳng, phânbiệt giữa các thành phần kinh tế và giữa nội bộ nhân dân toàn xã hội.
Hiệu quả về mặt kinh tế là những lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt đượcsau khi bù đắp các khoản chi phí về lao động xã hội Hiệu quả về mặt xã hội lànhững lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp tạo ra đem lại cho xã hội, bản thân doanhnghiệp trong hoạt động kinh doanh của mình
Đánh giá hiệu quả kinh doanh rất phức tạp và khó tính toán Việc xác địnhmột cách chính xác kết quả và hao phí nguồn lực với một thời kỳ cụ thể là rất khó Bởi vì nó vừa là thước đo trình độ quản lý của cán bộ lãnh đạo, vừa là chỉ tiêuđánh giá trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào, vừa phải đồng thời thoả mãn lợi íchcủa doanh nghiệp và của Nhà nước Vì vậy, cần hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệuquả kinh doanh và phát triển doanh nghiệp theo các mục tiêu đã định trước
1.2.3 Vai trò của hiệu quả kinh doanh.
“Hiệu quả kinh doanh ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với mỗi cá nhân,mỗi tổ chức và toàn bộ nền kinh tế quốc dân”
1.2.3.1 Đối với người lao động.
Một doanh nghiệp làm ăn kinh doanh có hiệu quả sẽ kích thích được ngườilao động hưng phấn hơn, làm việc hăng say hơn và ngược lại
“Hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp chi phối rất nhiều tới thu nhậpcủa người lao động ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống vật chất tinh thần Hiệu quảkinh doanh của doanh nghiệp cao mới đảm bảo cho người lao động có được việclàm ổn định, đời sống tinh thần vật chất cao, thu nhập cao”
1.2.3.2 Đối với doanh nghiệp.
Doanh nghiệp lấy hiệu quả làm căn cứ để đánh giá việc sử dụng lao động,vốn, nguyên vật liệu và trình độ quản lý kết hợp với các yếu tố trên một cách hợp
lý nhất Từ đó doanh nghiệp sẽ có biện pháp quản lý thích hợp để điều chỉnh khicần thiết nhất là khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO
1.2.3.3 Đối với nền kinh tế quốc dân.
Trang 21“Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế quan trọng, phản ánh yêu cầucủa quy luật tiết kiệm thời gian, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực, trình độsản xuất với mức độ hoàn thiện của quan hệ sản xuất trong cơ chế thị trường Hiệuquả kinh doanh càng được nâng cao thì quan hệ sản xuất càng củng cố lực lượngsản xuất phát triển, hay ngược lại quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất kém pháttriển dẫn đến sự kém hiệu quả của hoạt động kinh doanh”.
1.2.4 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Nâng cao hiệu quả kinh doanh là cơ sở cơ bản để đảm bảo sự tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là một đòi hỏi tất yếukhách quan đối với tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường hiệnnay
- Nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và tiến bộtrong kinh doanh Chính việc thúc đẩy cạnh tranh yêu cầu các doanh nghiệp phải
tự tìm tòi, đầu tư tạo nên sự tiến bộ trong kinh doanh Trong khi thị trường ngàycàng phát triển thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt
do đó để đạt được mục tiêu là tồn tại và phát triển mở rộng thì doanh nghiệp phảichiến thắng trong cạnh tranh trên thị trường
- Mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận Để thựchiện mục tiêu này, doanh nghiệp phải tiến hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
để tạo ra sản phẩm cung cấp cho thị trường Muốn vậy, doanh nghiệp phải sử dụngcác nguồn lực xã hội nhất định Doanh nghiệp càng tiết kiệm sử dụng các nguồnlực này bao nhiêu sẽ càng có cơ hội để thu được nhiều lợi nhuận bấy nhiêu Vì vậy,nâng cao hiệu quả kinh doanh là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp thực hiệnmục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận Chính sự nâng cao hiệu quả kinhdoanh là con đường nâng cao sức cạnh tranh và khả năng tồn tại, phát triển củamỗi doanh nghiệp
Trang 221.2.5 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.5.2 Chỉ tiêu doanh thu.
“Doanh thu là một chỉ tiêu tài chính phản ánh quy mô và trình độ của doanhnghiệp Doanh thu của doanh nghiệp trong chu kỳ kinh doanh là toàn bộ số tiềndoanh nghiệp thu được từ hoạt động kinh doanh của mình trong thời kỳ đó”
Đối với Công ty giám định, doanh thu là tổng số phí giám định thu được đốivới mỗi vụ giám định Đây là cơ sở để trang trải chi phí và một phần tích tụ pháttriển doanh nghiệp Doanh thu nhiều hay ít phụ thuộc vào sản lượng, giá cả tùytheo thị trường
1.2.5.3 Chỉ tiêu chi phí.
"Chi phí được định nghĩa như là giá trị tiền tệ của các khoản hao phí bỏ ranhằm thu được các loại tài sản, hàng hóa hoặc các dịch vụ" Như vậy, nội dung củachi phí rất đa dạng Trong kế toán quản trị, chi phí được phân loại và sử dụng theonhiều cách khác nhau nhằm cung cấp những thông tin phù hợp với nhu cầu đadạng trong các thời điểm khác nhau của quản lý nội bộ doanh nghiệp Thêm vào
đó, chi phí phát sinh trong các loại hình doanh nghiệp khác nhau (sản xuất, thươngmại, dịch vụ) cũng có nội dung và đặc điểm khác nhau
Đối với Công ty kinh doanh dịch vụ giám định, chi phí trực tiếp được ápdụng cho bộ phận hiện trường và chi phí gián tiếp được áp dụng cho bộ phận vănphòng Chi phí trực tiếp là các chi phí liên quan đến bộ phận hiện trường (lươngcủa giám định viên) và các chi phí để thực hiện công tác giám định tại hiện trường
Trang 23(công tác phí, chi phí đi lại ) Chi phí trực tiếp là các chi phí liên quan đến bộphận quản lý (lương của bộ phận văn phòng) và các chi phí quản lý doanh nghiệp(thuê văn phòng, điện thoại, điện nước, văn phòng phẩm )
Cách phân loại chi phí này giúp ích cho việc xây dựng các phương pháphạch toán và phân bổ thích hợp cho từng loại chi phí
1.2.5.4 Chỉ tiêu lợi nhuận.
Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chiphí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động củadoanh nghiệp mang lại Lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm lợi nhuận từ cáchoạt động kinh doanh; lợi nhuận từ hoạt động liên doanh, liên kết; lợi nhuận từ cáchoạt động đầu tư tài chính Chỉ tiêu lợi nhuận là mục tiêu phấn đấu để doanhnghiệp tồn tại và phát triển
Lợi nhuận của Công ty Giám định chủ yếu là do lợi nhuận từ các vụ giámđịnh mang lại
1.2.5.5 Chỉ tiêu sinh lợi
- Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (ROS): Tỷ số này cho biết lợi nhuận chiếm
bao nhiêu phần trăm trong doanh thu Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là công
ty kinh doanh có lãi; tỷ số càng lớn nghĩa là lãi càng lớn Tỷ số mang giá trị âmnghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ
Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu = Lợi nhuận ròng
Doanh thu thuần
Tỷ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành Vì thế, khitheo dõi tình hình sinh lợi của công ty, người ta so sánh tỷ số này của công ty với
tỷ số bình quân của toàn ngành mà công ty đó tham gia
- Tỷ suất sinh lợi trên tổng giá trị tài sản (ROA): Chỉ tiêu này cho biết bình
quân một đơn vị tài sản sử dụng trong quá trình kinh doanh tạo ra được bao nhiêuđồng lợi nhuận trước thuế Trị số của chỉ tiêu càng cao, hiệu quả sử dụng tài sảncàng lớn và ngược lại
Trang 24Tỷ suất sinh lợi trên tổng giá trị tài sản = Lợi nhuận ròng
Tổng giá trị tài sản
Tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng giá trị tài sản phụ thuộc vào mùa vụ kinhdoanh và ngành nghề kinh doanh Do đó, người phân tích tài chính doanh nghiệpchỉ sử dụng tỷ số này trong so sánh doanh nghiệp với bình quân toàn ngành hoặcvới doanh nghiệp khác cùng ngành và so sánh cùng một thời kỳ
- Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (ROE): Chỉ tiêu này phản ánh khái quát
nhất hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Khi xem xét ROE, các nhà quản lýbiết được một đơn vị vốn chủ sở hữu đầu tư vào kinh doanh đem lại mấy đơn vị lợinhuận sau thuế Trị số của ROE càng cao, hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngượclại
Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần = Lợi nhuận ròng
Vốn cổ phần
- Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí: Đây là chỉ tiêu chất lượng phản ánh tỷ trọng
lãi trong một đồng chi phí Tỷ lệ này lớn chứng tỏ doanh nghiệp kinh doanh có lãi
và hiệu quả
Tỷ suất lợi theo chi phí = Lợi nhuận ròng
Tổng chi phí
1.2.5.6 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn.
Hiệu quả sử dụng vốn phản ánh khả năng hoạt động và sinh lời của vốn đầu
tư vào quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Để đánh giá hiệu quả sửdụng vốn của doanh nghiệp người ta dùng các chỉ tiêu sau:
- Hệ số hiệu suất sử dụng vốn cố định: được xác định bằng tỷ số giữa doanh
thu thuần với vốn cố định bình quân trong kỳ Hệ số này cho biết một đồng vốn cốđịnh tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu
Hiệu suất sử dụng vốn cố định = Doanh thu thuần
Vốn cố định bình quân
Trang 25Hệ số hiệu suất sử dụng tài sản cố định: được xác định bằng tỷ số giữadoanh thu thuần trong kỳ với nguyên giá tài sản cố định bình quân Hệ số này chothấy một đồng tài sản cố định đã tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu.
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = Doanh thu thuần
Tài sản cố định bình quânMuốn đánh giá việc sử dụng vốn cố định có hiệu quả không ta phải so sánhvới các công ty khác cùng ngành hoặc so sánh với các thời kỳ trước
- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
Hệ số hiệu suất sử dụng vốn lưu động: được xác định bằng tỷ số giữa doanhthu thuần với vốn lưu động bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốnlưu động sử dụng đem lại bao nhiêu đồng doanh thu Hệ số này càng cao thì hiệuquả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại
Hệ số hiệu suất sử dụng vốn lưu động = Doanh thu thuần
Vốn lưu động bình quân
Hệ số sinh lợi của vốn lưu động: được xác định bằng tỷ số giữa lợi thuần với
vốn lưu động bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng vốn lưu động làm
ra bao nhiều đồng lợi nhuận trong kỳ
Hệ số sinh lời vốn lưu động = Lợi nhuận thuần
Vốn lưu động bình quân
1.2.5.7 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động.
- Năng suất lao động: Năng suất lao động biểu thị khả năng sản xuất của
người lao động, được tính bằng số lượng sản phẩm hoặc giá trị sản lượng bìnhquân của một lao động trong một thời gian Năng suất lao động cao là mục tiêuphấn đấu của các doanh nghiệp, nó quyết định sự thành đạt của doanh nghiệp trong
cơ chế thị trường
Năng suất lao động = Tổng sản lượng
Tổng số lao động bình quân
Trang 26- Hiệu quả sử dụng lao động: Hiệu quả sử dụng lao động được tính bằng tổng
doanh thu (hoặc tổng lợi nhuận) của một lao động trong một thời gian
Hiệu quả sử dụng lao động = Tổng doanh thu (Tổng lợi nhuận)
Tổng số lao động bình quânKhi phân tích đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpthông qua các chỉ tiêu, ta có thể dựa trên sự so sánh các chỉ tiêu tương đối giữa cácthời kỳ để thấy được tốc độ phát triển cũng như hướng phát triển của doanhnghiệp Qua đó tìm hiểu nguyên nhân nhằm phát huy thế mạnh cũng như khắcphục những hạn chế để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.6 Vai trò hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị doanh nghiệpthực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một trong các chỉtiêu để các nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình
Thông qua việc tính toán hiệu quả kinh doanh, nhà quản trị kiểm tra đánhgiá tính hiệu quả của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (các hoạt động
có hiệu quả hay không và hiệu quả đạt ở mức độ nào) và phân tích tìm ra các nhân
tố ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó đưa ra đượccác biện pháp điều chỉnh thích hợp trên cả hai phương diện giảm chi phí tăng kếtquả nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.7.1 Các nhân tố khách quan.
- Môi trường chính trị, luật pháp: Môi trường pháp lý là nhân tố kìm hãm
hoặc khuyến khích sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong khi đó Môitrường chính trị ổn định luôn luôn là tiền đề cho việc phát triển và mở rộng cáchoạt động đầu tư của các doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước
- Môi trường văn hoá xã hội: Môi trường văn hóa xã hội bao gồm tình trạng
thất nghiệp, trình độ giáo dục, phong cách, lối sống, phong tục, tập quán, tâm lý xãhội Các yếu tố này tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới hiệu quả kinhdoanh của mỗi doanh nghiệp theo hai chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực Phong
Trang 27cách, lối sống, phong tục, tập quán, tâm lý xã hội ảnh hưởng tới cầu về sản phẩmcủa các doanh nghiệp
- Môi trường kinh tế: Các chính sách kinh tế của Nhà nước, tốc độ tăng
trưởng kinh tế, tốc độ lạm phát, thu nhập bình quân trên đầu người là các yếu tốtác động trực tiếp tới cung cầu của từng doanh nghiệp Nếu tốc độ tăng trưởng kinh
tế cao, các chính sách của chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mởrộng hoạt động kinh doanh Sự biến động tiền tệ là không đáng kể, lạm phát đượcgiữ mức hợp lý, thu nhập bình quân đầu người tăng sẽ tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp phát triển, nâng cao hiệu quả kinh doanh và ngược lại
- Điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và cơ sở hạ tầng: Các điều kiện tự
nhiên và cơ sở hạ tầng của nền kinh tế quyết định sự phát triển của nền kinh tếcũng như sự phát triển của các doanh nghiệp, nó ảnh hưởng tới chi phí kinh doanh,khả năng nắm bắt thông tin, khả năng huy động và sử dụng vốn, khả năng giaodịch thanh toán của các doanh nghiệp
- Môi trường khoa học kỹ thuật công nghệ: Tình hình phát triển, ứng dụng
khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất trên thế giới cũng như trong nước ảnhhưởng tới trình độ kỹ thuật công nghệ và khả năng đổi mới kỹ thuật công nghệ củadoanh nghiệp Do đó ảnh hưởng tới năng suất chất lượng sản phẩm của doanhnghiệp tức là ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Nhân tố môi trường ngành: Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có
trong ngành, khả năng gia nhập mới của các doanh nghiệp, sản phẩm thay thế,người cung ứng, người mua là những nhân tố môi trường ngành ảnh hưởng tớilượng cung - cầu, chi phí và thị trường do đó nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quảsản xuất kinh doanh
1.2.7.2 Các nhân tố chủ quan.
- Bộ máy quản trị doanh nghiệp: Nếu bộ máy quản trị được tổ chức với cơ
cấu phù hợp, gọn nhẹ linh hoạt, có sự phân chia nhiệm vụ chức năng rõ ràng, có cơchế phối hợp hành động hợp lý, với một đội ngũ quản trị viên có năng lực và tinh
Trang 28thần trách nhiệm cao sẽ đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpđạt hiệu quả cao và ngược lại.
- Lao động, tiền lương: Lao động và tiền lương là một trong các yếu tố đầu
vào quan trọng, nó tham gia vào mọi hoạt động, mọi quá trình kinh doanh củadoanh nghiệp Trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm của người lao động tácđộng trực tiếp đến tất cả các khâu của quá trình hoạt động kinh doanh, đến năngsuất, chất lượng sản phẩm trong khí đó tiền lương và thu nhập là một bộ phận cấuthành lên chi phí kinh doanh của doanh nghiệp, còn tác động tới tâm lý người laođộng
- Tình hình tài chính của doanh nghiệp: Doanh nghiệp có khả năng tài chính
mạnh thì không những đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục, ổnđịnh và đầu tư đổi mới công nghệ và áp dụng kỹ thuật tiên tiến nhằm làm giảm chiphí, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, dịch vụ
- Đặc tính của sản phẩm: Các đặc tính của sản phẩm như chất lượng, mẫu mã,
nhãn hiệu… là nhân tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp góp phần rất lớn tới việc tạo uy tín, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm làm
cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nên có ảnh hưởng rất lớn tớihiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ của doanh nghiệp: Cơ sở vật chất kỹ
thuật của doanh nghiệp là yếu tố vật chất hữu hình quan trọng phục vụ cho quátrình kinh doanh của doanh nghiệp, là nền tảng quan trọng để doanh nghiệp tiếnhành các hoạt động kinh doanh Cơ sở vật chất kỹ thuật càng được bố trí hợp lýbao nhiêu thì càng góp phần đem lại hiệu quả cao bấy nhiêu
- Môi trường làm việc trong doanh nghiệp: Bao gồm mô trường văn hóa, các
yếu tố mang tính chất vật lý, hóa học trong doanh nghiệp (không khí, độ ẩm, tiếng
ồn ) và môi trường thông tin là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình
thành các mục tiêu chiến lược và các chính sách trong kinh doanh, nó ảnh hưởngtới hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng tới hiệu quảkinh doanh của doanh nghiệp
Trang 29- Phương pháp tính toán của doanh nghiệp: Hiệu quả kinh tế được xác định
bởi kết quả đầu ra và chi phí sử dụng các yếu tố đầu vào, hai đại lượng này trênthực tế đều rất khó xác định được một cách chính xác, nó phụ thuộc vào hệ thốngtính toán và phương pháp tính toán trong doanh nghiệp
1.2.8 Sử dụng ma trận SWOT xác định điểm mạnh, điểm yếu để loại bỏ nguy
cơ và nắm bắt cơ hội nâng cao hiệu quả kinh doanh cho Doanh nghiệp.
"Ma trận SWOT: Là ma trận cho phép ta đánh giá điểm mạnh, điểm yếu củadoanh nghiệp và ước lượng những cơ hội, đe dọa của môi trường kinh doanh bênngoài để từ đó có sự phối hợp thích hợp giữa khả năng của doanh nghiệp với tìnhhình môi trường" [5]
Mô hình phân tích SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và raquyết định trong mọi tình huống đối với bât cứ tổ chức kinh doanh nào SWOT làviết tắt của 4 chữ Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities(cơ hội) và Threats (nguy cơ), SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược,
rà soát và đánh giá vị trí, định hướng của một công ty hay một đề án kinh doanh.SWOT phù hợp với làm việc và phân tích theo nhóm, được sử dụng trong việc lập
kế hoạch kinh doanh, xây dựng chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, tiếp thị,phát triển sản phẩm và dịch vụ
- "Điểm mạnh: Là những gì mà doanh nghiệp làm tốt hơn đối thủ hoặc doanhnghiệp có mà đối thủ không có (năng lực vượt trội)"
- "Điểm yếu: Là những gì mà doanh nghiệp làm kém hơn so với đối thủ, hoặcđối thủ có mà doanh nghiệp không có"
- "Cơ hội: là những sự kiện do môi trường bên ngoài mang tới có lợi chodoanh nghiệp"
- "Đe doạ: Là những sự kiện do môi trương bên ngoài mang tới có thể đem tớibất lợi cho doanh nghiệp"
- S1
- S2
Chiến lược SO
Sử dụng điểm mạnh để tậndụng cơ hội
Chiến lược ST
Sử dụng điểm mạnh để hạnchế đe doạ
Trang 30Chiến lược WT
Tối thiểu hóa các điểm yếu
và tránh các đe dọa
Ma trận này giúp doanh nghiệp phát triển 4 loại chiến lược Cách xây dựng
ma trận SWOT trải qua 8 bước:
- Bước 1: Liệt kê các cơ hội quan trọng bên ngoài doanh nghiệp;
- Bước 2: Liệt kê các mối đe doạ quan trọng bên ngoài doanh nghiệp;
- Bước 3: Liệt kê các điểm mạnh bên trong doanh nghiệp;
- Bước 4: Liệt kê các điểm yếu bên trong doanh nghiệp;
- Bước 5: Kết hợp điểm mạnh với cơ hội để hình thành chiến lược SO và ghikết quả vào ô thích hợp;
- Bước 6: Kết hợp điểm yếu với cơ hội để hình thành chiến lược WO và ghikết quả vào ô thích hợp;
- Bước 7: Kết hợp điểm mạnh với đe doạ để hình thành chiến lược ST và ghikết quả vào ô thích hợp;
- Bước 8: Kết hợp điểm yếu với đe dọa để hình thành chiến lược WT và ghikết quả vào ô thích hợp
Lưu ý:
- Cơ hội và nguy cơ có thể chuyển hóa lẫn nhau Khi cơ hội xuất hiện, nếudoanh nghiệp không khai thác được mà lại rơi vào tay đối thủ cạnh tranh thì sẽbiến thành nguy cơ
- SWOT chỉ đưa ra những gợi ý cho chiến lược chứ không phải là kỹ thuậtquyết định cho việc lựa chọn, cần phải phối hợp các công cụ khác
- Nhà quản trị cần phải có kỹ năng phán đoán tốt khi kết hợp
Trang 31CHƯƠNG 2: HIỆU QUẢ KINH DOANH DỊCH VỤ GIÁM ĐỊNH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GIÁM ĐỊNH NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM 2.1 Giới thiệu chung về Công ty CP Giám định Năng lượng Việt Nam.
2.1.1 Thông tin chính:
Công ty CP Giám định Năng lượng Việt Nam (Tên giao dịch quốc tế:Vietnam Energy Inspection Corporation, tên viết tắt: EIC) tiền thân là Ban Giámđịnh Năng lượng trực thuộc Tổng Công ty Công nghệ Năng lượng Dầu khí ViệtNam (PVEIC) được thành lập năm 2008 Sau đó, do sự tái cấu trúc của Tập đoànDầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN), Ban Giám định Năng lượng tách khỏi TổngCông ty Công nghệ Năng lượng Việt Nam và thành lập nên Công ty CP Giám địnhNăng lượng Việt Nam vào năm 2009
Công ty EIC có mối quan hệ hợp tác chặt chẽ cới các Công ty trong ngànhtrong và ngoài nước, khai thác hiệu quả các nguồn lực của nhau như Viện Dầu khí,Việ khoa học hình sự, Viện cơ khí, Viện nghiên cứu hàng hải, Germanisher Lloyd,Global Maritime, trong cung cấp các dịch vụ giám định chính xác, khoa học vàkhách quan Ngoài ra Công ty EIC còn là thành viên của Phòng Thương mại vàCông nghiệp Việt Nam (VCCI)
Trang 32Điện thoại/ Fax: 031 3822966/ 031 3822965
- Chi nhánh Vũng Tàu:
Địa chỉ: Số 21 đường Tiền Cảng, phường Thắng Nhất, TP Vũng Tàu
Điện thoại/ Fax: 064 3577838/ 064 3577839
- Chi nhánh Miền Trung:
Địa chỉ: Số 15 Đào Duy Anh, phường Thạc Gián, quận Thanh Khê, TP ĐàNẵng
Điện thoại/ Fax: 0511 3540910/ 0511 3654338
- Chi nhánh Cần Thơ:
Địa chỉ: Số 24/26C Võ Thị Sáu, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
Điện thoại/ Fax: 0710 3739074/ 0710 3782864
- Chi nhánh Dung Quất:
Địa chỉ: Thôn Tuyết Diêm 1, xã Bình Thuận, Bình Sơn, Quảng Ngãi
Điện thoại/ Fax: 055 3618789
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và các ngành nghề kinh doanh của Công ty.
Công ty CP Giám định năng lượng Việt Nam hoạt động chuyên sâu trong lĩnhvực giám định kỹ thuật cao, tập trung vào các chuyên ngành: năng lượng, hàng hải,tài sản kỹ thuật, vật tư hàng hóa, máy móc thiết bị, phục vụ cho các đơn vị trựcthuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam cùng các khách hàng khác trong nước
và quốc tế
Các loại hình dịch vụ của EIC:
- Giám định xăng dầu, hóa chất, khí hóa lỏng
- Lập bảng tra dung tích
- Quản lý, phân tích và thử nghiệm mẫu
- Giám định hàng hải và tài sản kỹ thuật
- Giám định hàng hóa và nông sản
- Giám định máy móc thiết bị
Về mặt chuyên môn, EIC là tổ chức giám định loại A (đáp ứng theo quy địnhchuẩn mực đốc lập của ISO/IEC 17020) chuyên cung cấp các dịch vụ giám định
Trang 33của bên thứ ba, thực hiện vụ giám định trong điều kiện hoàn toàn độc lập với cácbên liên quan như: khách hàng, nhà sản xuất, nhà thiết kế, cung ứng, lắp đặt, ngườimua hàng, chủ sở hữu Trong mọi trường hợp, Công ty và các Giám định viênkhông là đại diện quyền lợi cho bất kỳ bên liên quan nào Các nhân viên của EICtuyệt đối không được phép tham gia vào bất kỳ một hoạt động nào có thể ảnhhưởng đến sự độc lập của hoạt động giám địnhvà làm tổn hại đến tính trung thực,đúng đắn, khách quan của kết quả thử nghiệm/ giám định
EIC cam kết đảm bảo tất cả các nhân viên thuộc tổ chức của mình khoogn bịchi phối hoặc ảnh hưởng bới áp lực nội bộ cũng như từ bên ngoài về thương mại,tài chính có thể tác động đến sự đánh giá/ kết quả thử nghiệm/ kết quả giám định
đã thực hiện
Xuất phát từ bản chất dịch vụ giám định là một hoạt động thương mại, vì vậytất cả các bên quan tâm đều được quyền sử dụng dịch vụ của EIC Các điều kiện/thủ tục và phương pháp giám định mà EIC áp dụng trong mọi trường hợp và đốivới tất cả các khách hàng được dựa theo nguyên tắc bình đẳng, khách quan, khôngphân biệt đối xử
EIC cam kết bảo đảm tính bảo mật của các thông tin thu thập được trong quátrình giám định, chỉ sử dụng thông tin này phục vụ cho việc giám định và cấpchứng thư, không cung cấp cho bất kỳ bên thứ ba nào nếu không được sự đồng ýcủa khách hàng trực tiếp yêu cầu EIC giám định
EIC cũng xây dựng chế độ bảo mật thông tin nội bộ, hạn chế việc thất thoátthông tin về các hồ sơ, tài liệu phục vụ giám định
Các hoạt động liên quan đến bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp, kiểm toán, chuẩnmực chế độ kế toán, tài chính, giới hạn trách nhiệm pháp lý đối với hoạt động giámđịnh được Công ty thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật hiện hành vàĐiều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty Chứng thư giám định do EIC cấp làchứng cứ mang tính khách quan, tập trung, có thể dùng làm cơ sở pháp lý để giúpkhách hàng giải quyết một cách có hiệu quả các vấn đề trong kinh doanh, thươngmại như: khiếu nại/ tranh tụng, thanh toán, giao nhận, xuất xứ, bảo hiểm, thông
Trang 34quan, áp mã thuế, vệ sinh an toàn hàng hóa, môi trường
Công ty trung thành tuyệt đối nguyên tắc hoạt động: Độc lập Chính xác Khách quan, kết hợp hệ thống quản lý chất lượng tích hợp các yêu cầu của hai tiêuchuẩn quốc tế ISO 9001:2008, ISO/IEC 17020, ISO/ IEC 17025
Với giá trị cốt lõi: Chuyên nghiệp Giá trị Gia tăng Hiệu quả Đổi mới Chi phí hợp lý - Khách quan - Độc lập, trải qua thời gian dài hoạt động, đồng hànhvới các đối tác uy tín trong và ngoài nước, EIC đã luôn đáp ứng và mang tới chokhách hàng những dịch vụ tối ưu và hiệu quả nhất Bên cạnh đó, EIC cũng luônnhận được sự ủng hộ và tin tưởng của khách hàng Đây chính là cơ sở và tiền đềcho sự phát triển và hợp tác bền vững, lâu dài của EIC trong quá trình hội nhập vàphát triển
-2.1.3 Cơ cấu tổ chức của công ty.
Công ty xây dựng bộ máy tổ chức tương đối tinh giản gọn nhẹ và hiệu quả, có
sự phân cấp, phân quyền rõ ràng dựa trên chức năng và nhiệm vụ Cơ cấu tổ chứcquản lý của Công ty CP Giám định Năng lượng Việt Nam (EIC) gồm:
- Đại hội đồng cổ đông: Gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơquan quyết định cao nhất của Công ty CP Giám định Năng lượng Việt Nam
- Hội đồng Quản trị: Là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân danhCông ty để quyết định thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Công ty không thuộcthẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị có từ 3 thành viên trở lên(gồm 1 Chủ tịch và các ủy viên) do Đại hội Cổ đông bầu, bổ nhiệm, miễn nhiệm,khen thưởng, kỷ luật Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị là 05 (năm) năm.Thành viên của Hội đồng Quản trị có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạnchế
- Ban giám đốc Công ty (gồm 1 giám đốc và các phó giám đốc) do Hội đồngQuản trị bổ nhiệm có thời hạn với nhiệm kỳ 05 (năm) năm Ban giám đốc là bộphận điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty, chịu sự giám sát củaHội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trước Hội đồng Quản trị, pháp luật về việcthực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao
Trang 35Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty EIC
Tính đến thời điểm 31/12/2015, tổng số nhân sự trên toàn Công ty (bao gồm
cả các chi nhánh) là 190 người, trong đó bộ phận trực tiếp (khối hiện trường) là
154 người, bộ phận gián tiếp (khối văn phòng) là 36 người về cơ bản đã và đangđáp ứng được các yêu cầu về khối lượng công việc hiện tại
- Ban lãnh đạo: Bao gồm HĐQT và Ban giám đốc: 04 người
PHÓ GĐ PHỤ TRÁCH KINH DOANH
BỘ PHẬN HÀNH CHÍNH
Trang 36Phòng Hàng Hải & Tài sản kỹ thuật: 16 người
Phòng máy móc thiết bị: 12 người
Phòng Xăng dầu, khí hóa lỏng và Hóa chất: 30 người
Phòng Lường tàu, Lường bồn: 05 người
CN Miền Trung: 21 người
CN Dung Quất: 21 người
CN Cần Thơ: 03 người
Công ty có 02 Phó giám đốc, một chuyên trách về mảng nghiệp vụ, mộtchuyên trách về mảng kinh doanh Các phó giám đốc cùng quản lý các chi nhánh,giải quyết các yêu cầu về nghiệp vụ đối với chi nhánh và định hướng phát triểnkinh doanh cho các chi nhánh
2.1.4 Thực trạng nguồn nhân lực và cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty.
2.1.4.1 Nguồn nhân lực của công ty.
Công ty CP Giám định Năng lượng Việt Nam có đội ngũ đội ngũ nhân viên,giám định viên nhiệt huyết, có tri thức và kinh nghiệm, làm việc chuyên nghiệp, cótinh thần trách nhiệm với công việc, năng lực chuyên môn tốt, đáp ứng yêu cầu các
vụ việc đòi hỏi kỹ thuật cao
Do đội ngũ cán bộ nhân viên là những người trẻ nên khả năng tiếp thu côngviệc nhanh, năng suất làm việc cao và hiệu quả, đóng góp một phần không nhỏ vào
sự thành công chung của toàn công ty
Trang 37Tuy có phân cấp đối với cấp bậc giám định viên: Giám định viên tập sự, Giámđịnh viên, Giám định viên chính, Giám định viên cấp cao Tuy nhiên Công ty chưa
tổ chức các cuộc sát hạch nâng cấp cho Giám định viên mà chỉ dựa vào các báocáo theo cảm tính lên từ các phòng ban/ chi nhánh
2.1.4.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty.
Công ty rất chú trọng đến việc đầu tư cơ sở vật chất Hiện tại Công ty đã trang
bị 01 phòng thử nghiệm tại Miền Nam, 01 phòng thử nghiệm tại Miền Trung vàtrong tương lai gần sẽ xây dựng 01 phòng thử nghiệm tại Miền Bắc
Công ty trang bị cho mỗi chi nhánh 01 xe ô tô 07 chỗ phục vụ nhu cầu pháttriển kinh doanh và công tác giám định được kịp thời Tại văn phòng TP Hồ ChíMinh, Công ty cũng đã trang bị 03 xe ô tô 07 chỗ, 01 xe ô tô 05 chỗ và chuẩn bịđầu tư thêm 01 xe ô tô bán tải giải quyết nhu cầu đi lại phục vụ công tác phát triểnkinh doanh và công tác giám định,…
Đối với công tác hiện trường, Công ty trang bị đầy đủ các tài sản và công cụdụng cụ phục vụ giám định như máy đo bồn bể, máy toàn đạc, tỷ trọng kế, chai lấymẫu, thước đo dầu, nhiệt kế điện tử, máy ảnh, dụng cụ đo
Đối với công tác quản lý, văn phòng, Công ty cũng trang bị đầy đủ các trangthiết bị văn phòng như máy vi tính, máy phô tô, máy fax, máy in, máy scan,
2.2 Hoạt động kinh doanh của Công ty CP Giám định Năng lượng Việt Nam trong giai đoạn 05 năm, từ năm 2011 đến năm 2015.
Là một tổ chức giám định độc lập với đội ngũ chuyên gia và giám định viênđược tuyển chọn và đào tạo kỹ lưỡng với trang bị các thiết bị hiện đại, EIC đượcCục Hải quan Việt Nam ủy quyền thực hiện giám định phục vụ quản lý nhà nước
về hải quan trong phạm vi toàn quốc
Do trực thuộc Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam nên EIC có thuận lợitrong việc tiếp cận mảng giám định cho Tổng Công ty Dầu PVOIL và Tổng Công
ty bảo hiểm Dầu khí PVI
Một số khách hàng trong ngành dầu khí như PV GAS, PV GAS North,DMC, vẫn chưa ủng hộ, do đó EIC đã phát triển ra các khách hàng khác như:
Trang 38Hải Hà, Hải Linh, Tratimex,… nhưng số lượng công việc không ổn định Hiệnnay, khách hàng chính của Công ty là PTSC, BSR, Vietsopetro, PVI và PV OIL.Tuy nhiên do tình hình kinh tế khó khăn, thị trường xăng dầu biến động xuống giáliên tục nên các khách hàng đẩy mạnh tiết giảm chi phí, cắt bỏ 1 số hạng mục giámđịnh và 1 số hoạt động giám định không còn được khách hàng chú trọng sử dụng.Phí giám định của các vụ việc không lớn lại luôn bị cạnh tranh với xu thếgiảm, trong khi đó chi phí thực hiện vụ việc tăng, chi phí khách hàng bị đẩy lên rấtcao.
Đại đa số các CBNV đã đáp ứng được yêu cầu công việc tuy nhiên vẫn còn 1
bộ phận đội ngũ cán bộ, GĐV chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm với công việc,còn hạn chế về năng lực chuyên môn, chưa đáp ứng yêu cầu các vụ việc đòi hỏi kỹthuật cao, yêu cầu thành thạo ngoại ngữ để xử lý công việc
Tuy nhiên với những nỗ lực hết mình, EIC luôn đáp ứng và mang tới chokhách hàng những dịch vụ tối ưu và hiệu quả nhất và luôn nhận được sự ủng hộ vàtin tưởng của khách hàng Đây chính là cơ sở và tiền đề cho sự phát triển và hợp
tác bền vững, lâu dài của EIC trong quá trình hội nhập và phát triển.
Thương hiệu EIC đã trở thành một thương hiệu lớn sánh vai cùngVinacontrol, SGS
Để có một cái nhìn khái quát và tổng thể nhất về tình hình kinh doanh dịch vụgiám định của Công ty CP Giám định Năng lượng Việt Nam, ta sẽ tiến hành phântích hoạt động kinh doanh của Công ty trong vòng 05 năm từ năm 2011- 2015thông qua bảng số liệu dưới đây:
Trang 39Bảng 2.1: Tổng hợp các chỉ tiêu kinh doanh của Công ty EIC từ năm 2011-2015
3 Lợi nhuận Triệu đồng 1.543 1.216 684 1.191 1.379 115,78 174,12 56,25 78,80 188 507 (532) (327)
III Lao động tiền lương
2 Năng suất lao động Triệu đồng/
người/ tháng 35,01 34,90 34,48 28,71 31,64 110,20 83,27 98,80 99,69 2,93 (5,77) (0,42) (0,11)
3 Tổng quỹ lương Triệu đồng 6.709 8.971 13.413 19.301 23.156 120 143,90 149,52 133,72 3.855 5.888 4.442 2.262
4 Tiền lương bình quân Triệu đồng/