1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay

103 517 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Để hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi cần xây dựng mức chuẩn TCXH theo nhu cầu mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng giai đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ XUÂN

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TRỢ CẤP XÃ HỘI HÀNG THÁNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN LÝ

Hà Nội-2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ XUÂN

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TRỢ CẤP XÃ HỘI HÀNG THÁNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Khoa học quản lý

Mã số: Đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN LÝ Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Ngọc Toản

Hà Nội-2015

Trang 3

“Hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng cho người cao tuổi ở Việt

Nam hiện nay”

Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Ngọc Toản đã tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu đề tài và hoàn thành Luận văn của mình

Mặc dù đã rất cố gắng, xong khả năng còn hạn chế nên Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô và những cá nhân quan tâm đến Đề tài

Tác giả xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 01 năm 2016

Tác giả Luận văn

Nguyễn Thị Xuân

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 0

MỤC LỤC 2

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH 6

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lý do lựa chọn đề tài 7

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 12

4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 13

5 Câu hỏi nghiên cứu 13

6 Giả thuyết nghiên cứu 13

7 Phương pháp nghiên cứu 14

8 Kết cấu của Luận văn 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TRỢ CẤP XÃ HỘI HÀNG THÁNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM 15

1.1 Chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng 15

1.1.1 Quan niệm chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng 15

1.1.2 Phân loại trợ cấp xã hội và chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng 16

1.1.3 Mục tiêu, vai trò của trợ cấp xã hội hàng tháng 17

1.1.4 Đặc điểm trợ cấp xã hội hàng tháng 19

1.1.5 Nội dung chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng 21

1.1.6 Nhân tố ảnh hưởng tới chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng 22

1.2 Quan điểm tiếp cận xây dựng chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi 23

1.3 Đối tượng và nhu cầu trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi 25

1.3.1 Đối tượng 25

1.3.2 Nhu cầu trợ cấp xã hội hàng tháng 26

Trang 5

1.4 Công cụ chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao

tuổi 27

1.4.1 Hệ thống văn bản pháp luật 27

1.4.2 Tổ chức bộ máy và cán bộ 27

1.4.3 Công cụ kinh tế 28

1.4.4 Công cụ giáo dục, tâm lý 28

1.4.5 Hệ thống giám sát đánh giá 29

1.5 Kinh nghiệm xây dựng chính sách trợ cấp xã hội ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 31

1.5.1 Kinh nghiệm ở một số nước 32

1.5.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 38

* Tiểu kết Chương 1 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TRỢ CẤP XÃ HỘI HÀNG THÁNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM 41

2.1 Thực trạng người cao tuổi và nhu cầu trợ cấp xã hội hàng tháng 41

2.2 Tổng quan chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi 45

2.3 Đánh giá thực trạng tác động của chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi 49

2.3.1 Kết quả đạt được 49

2.3.2 Những hạn chế của chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi 55

* Tiểu kết Chương 2 70

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TRỢ CẤP XÃ HỘI HÀNG THÁNG CHO NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM 73

3.1 Bối cảnh đặt ra đối với chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng cho người cao tuổi 73

3.2 Định hướng hoàn thiện chính sách trong giai đoạn 2015-2025 75

3.3 Giải pháp hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội cho người cao tuổi 77

Trang 6

3.3.1 Xây dựng mức chuẩn trợ cấp xã hội hàng tháng phù hợp với điều

kiện phát triển kinh tế xã hội 77

3.3.2 Mở rộng đối tượng hưởng lợi 82

3.3.3 Hoàn thiện công cụ kỹ thuật nghiệp vụ chính sách 83

3.3.4 Huy động nguồn lực cho chính sách, đổi mới cơ chế quản lý 87

3.3.5 Nâng cao năng lực hệ thống tổ chức giám sát, thực hiện chính sách 88

3.3.6 Các giải pháp khác 90

* Tiểu kết Chương 3 92

KẾT LUẬN 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC 99

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Ngân hàng phát triển Châu Á

Tổng cục Thống kê

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH Danh mục bảng

Bảng 2.1 Phân bố % NCT được khảo sát theo tình trạng tham gia công việc 42

Bảng 2.2 Chi tiêu lương thực bình quân NCT chia theo nhóm tuổi và dân tộc 44

Bảng 2.3 Mức trợ cấp và hệ số TCXH hàng tháng đối với NCT 47

Bảng 2.4 Số lượng NCT được hưởng TCXH qua các năm 49

Bảng 2.5 Phân bố (%) NCT được cho biết về ý nghĩa của khoản TCXH 51

Bảng 2.6 So sánh mức chuẩn TCXH với các chỉ tiêu khác 58

Bảng 2.7 Phân bố % NCT được điều tra cho biết mục đích sử dụng tiền TCXH 59

Bảng 3.1 So sánh mức các phương án chuẩn trợ cấp với các chính sách ASXH khác 80

Bảng 3.2 Ước tính ngân sách của các phương án xây dựng mức chuẩn trợ cấp xã hội 81

Danh mục hình Hình 1.1 Quy trình đánh giá tác động chính sách trợ cấp xã hội 31

Hình 2.1 Thủ tục thực hiện TCXH hàng tháng cho người cao tuổi 54

Hình 2.2 Cơ cấu người cao tuổi và các khoản trợ cấp hàng tháng 2011 55

Hình 2.3 Mức chuẩn TCXH so với mức lương tối thiểu 57

Hình 3.1 Sơ đồ quy trình ra quyết định chính sách TCXH 84

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Trong xã hội, do nhiều nguyên nhân khác nhau luôn tồn tại một bộ phận dân cư có hoàn cảnh khó khăn cần đến sự trợ giúp của Nhà nước và xã hội, trong đó có người cao tuổi Theo số liệu của Bộ Lao động - Thương binh

và Xã hội, hiện cả nước có trên 9 triệu người cao tuổi, chiếm 10% dân số Trong đó có bộ phận không nhỏ người cao tuổi (NCT) có hoàn cảnh khó khăn, không có lương hưu và không có con cháu, người thân chăm sóc, nuôi dưỡng đang phải sống trong cảnh hết sức khó khăn, cần đến sự trợ giúp và chăm sóc của Nhà nước và xã hội

Với mục tiêu bảo đảm an sinh cho mọi người dân và đặc biệt là bảo đảm quyền của người cao tuổi, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã

có nhiều chính sách chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi Đặc biệt là chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi nghèo, người cao tuổi không có lương hưu và các khoản trợ cấp khác Chính sách này đã giúp trên 1,5 triệu NCT có điều kiện bảo đảm phần nào những nhu cầu cơ bản của cuộc sống hàng ngày, nhất là nhu cầu lương thực, thực phẩm, góp phần ổn định xã hội và bảo đảm an sinh xã hội cho nhân dân nói chung

Tuy nhiên, việc xây dựng và thực hiện chính sách trợ cấp xã hội (TCXH) hàng tháng đối với NCT còn những bất cập và hạn chế nhất định Còn bộ phận NCT khó khăn chưa tiếp cận chính sách, chế độ trợ cấp thấp (180.000đ/1 tháng) mới chỉ đủ mua một phần lương thực, chưa bảo đảm nhu cầu cơ bản, hệ thống tổ chức thực hiện còn nhiều hạn chế, yếu kém

Trong thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực NCT, chính sách đối với NCT Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu về TCXH hàng tháng đối với NCT, một trong những chính sách quan trọng đối với nhóm NCT có hoàn

cảnh khó khăn Do vậy, đề tài “Hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội hàng

tháng đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay” là cần thiết, bổ sung cơ sở

lý luận và thực tiễn để hoàn thiện chế độ chính sách và hệ thống tổ chức thực hiện trong thời gian tới

Trang 10

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết về TCXH hàng tháng và chính sách đối với NCT Cụ thể như:

Bùi Thế Cường (2005), “Trong miền an sinh xã hội - những nghiên

cứu về người cao tuổi Việt Nam”, NXB Lao động Tác giả đã đưa ra những

khái quát nghiên cứu về người cao tuổi trong nghiên cứu xã hội ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 1970 Trong giai đoạn này, các nhà y khoa là những người đầu tiên khai phá lĩnh vực nghiên cứu y học về người cao tuổi Năm

1970, thành lập chương trình Nghiên cứu Y học Tuổi già và mười năm sau trở thành đơn vị nghiên cứu Y học Tuổi già của Bộ Y tế Năm 1991, Viện bảo vệ sức khỏe NCT có chủ trì một hội thảo lớn về lão khoa xã hội, các công trình giới thiệu được xuất bản Đây là mốc quan trọng cho nghiên cứu xã hội học NCT

Nguyễn Đình Cử, “Xu hướng già hóa dân số trên thế giới và đặc trưng

người cao tuổi Việt Nam”, Tạp chí Gia đình và Trẻ em, Số 11, năm 2006 Tác

giả khái quát về xu hướng già hóa dân số trên thế giới Trong đó phân tích và đưa ra đặc trưng già hóa dân số ở Việt Nam và xu hướng quy mô NCT Trong

đó tác giả chỉ ra xu hướng nữ hóa dân số cao tuổi, phân bổ tập trung ở nông thôn, nông dân và làm nông nghiệp Nhu cầu được chăm sóc sức khỏe, đời sống vật chất và tinh thần của NCT là rất cao

Phạm Văn Sáng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn Huyền, Nguyễn Anh

Dũng (2009) đồng tác giả biên soạn cuốn “Lý thuyết và mô hình an sinh xã

hội (phân tích thực tiễn ở Đồng Nai)”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Nhóm tác giả đã khái quát những bất cập, xu hướng vận động và kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và phát triển hệ thống an sinh xã hội (ASXH), đồng thời các tác giả phân tích chính sách ASXH thực tiễn ở tỉnh Đồng Nai Trong đó

có đề cập đến ASXH đối với NCT

Đàm Hữu Đắc (2010), “Chính sách phúc lợi xã hội và phát triển dịch vụ

xã hội: Chăm sóc người cao tuổi trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập”, NXB Lao động - Xã hội Nội dung chính của cuốn sách

Trang 11

phân tích các thách thức về thể chế chính sách, thể chế tài chính, thể chế về tổ chức, nhân lực và nhận thức còn một khoảng cách so với yêu cầu hoàn thiện

và phát triển hệ thống phúc lợi xã hội dành cho NCT Từ thực tế, cuốn sách nêu bật sự cần thiết phải nghiên cứu toàn diện cả về lý luận và thực tiễn hệ thống chính sách phúc lợi xã hội và dịch vụ xã hội chăm sóc NCT Việt Nam cùng những kinh nghiệm quốc tế để từ đó đề xuất định hướng phát triển hệ thống chính sách phúc lợi xã hội và dịch vụ xã hội cơ bản chăm sóc NCT hiện đại phù hợp với bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa qua từng giai đoạn

Nguyễn Ngọc Toản (2011) biên soạn sách chuyên khảo về “Xây dựng

và hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở Việt Nam”, NXB

Đại học Kinh tế quốc dân Công trình nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng; đánh giá thực trạng đối tượng BTXH và nhu cầu trợ giúp thường xuyên; thực trạng chính sách TGXH thường xuyên cộng đồng Từ đó, tác giả đưa ra một số định hướng đổi mới chính sách và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện chính sách

Nguyễn Quốc Anh và Phạm Minh Sơn (2007), "Nghiên cứu một số đặc

trưng của người cao tuổi Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc người cao tuổi đang áp dụng”, Đề tài cấp Bộ, Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình

Đề tài đã phân tích, đánh giá các đặc trưng cơ bản về NCT ở Việt Nam, so sánh với tình hình thế giới và các nước trong khu vực; Khảo sát nghiên cứu chuyên sâu các đặc trưng kinh tế - xã hội của NCT, ở vùng đặc trưng, người cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt; lựa chọn, tác động can thiệp, đánh giá kết quả

mô hình can thiệp “Khu chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi" để từ đó đưa ra các kiến nghị và đề xuất, trong đó cần sớm hoàn thiện hệ thống tổ chức của cơ quan quản lý nhà nước về NCT ở các cấp từ Trung ương xuống cơ sở; xây dựng chiến lược quốc gia về NCT để có kế hoạch dài hạn, chủ động với xu thế già hoá dân số ở Việt Nam đang phát triển nhanh

Mai Ngọc Cường (2009) nghiên cứu đề tài cấp Nhà nước về “Cơ sở

khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở

Trang 12

nước ta giai đoạn 2006-2015” Công trình làm rõ những vấn đề cơ bản về

ASXH và hệ thống chính sách ASXH trong nền kinh tế thị trường; đánh giá thực trạng của hệ thống chính sách và thực thi chính sách ASXH Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp xây dựng hệ thống tổng thể quốc gia về ASXH ở Việt Nam, giai đoạn 2006-2015

Nguyễn Thị Thu Hương (2013) thực hiện nghiên cứu Luận văn Thạc sĩ

về “Nhu cầu trợ giúp của người cao tuổi tại cộng đồng”, Luận văn Thạc sĩ

Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội Công trình nghiên cứu này đi sâu vào vấn đề nhu cầu của người cao tuổi trong cuộc sống hàng ngày, theo hướng tiếp cận quyền sống, lợi ích của con người, truyền thống tôn trọng người già của dân tộc và hệ thống lý thuyết nhu cầu của Maslow

Lê Ngọc Lân, “Một số vấn đề cơ bản về người cao tuổi Việt Nam giai

đoạn 2011-2020, Đề tài Khoa học cấp Bộ, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới

- Viện Khoa học xã hội Việt Nam, 2010 Đề tài đã tập trung nghiên cứu một

số khái niệm và cách tiếp cận nghiên cứu về NCT, kinh nghiệm nghiên cứu NCT ở các nước; Một số vấn đề cơ bản về đời sống của NCT hiện nay; Một

số vấn đề cơ bản trong chăm sóc NCT; Vai trò của những đóng góp của NCT trong gia đình, cộng đồng và xã hội; Cơ sở thực tiễn để điều chỉnh chính sách nhằm phát huy hơn nữa vai trò NCT và chăm sóc NCT tốt hơn trong giai đoạn 2011-2020

Phạm Thắng - Đỗ Thị Khánh Hỷ, “Báo cáo tổng quan về chính sách

chăm sóc người già thích ứng với thay đổi cơ cấu tuổi tại Việt Nam”, Viện

Lão khoa Quốc gia, 2009 Báo cáo đã đưa ra xu hướng già hóa dân số trên thế giới và Việt Nam (nếu nhìn toàn bộ thời kỳ từ 1979 đến 2007, dân số tăng lên 1,61 lần còn dân số cao tuổi tăng 2,17 lần Tốc độ già hoá của dân số nước ta khoảng 35 năm (tỷ lệ người cao tuổi từ 7% năm 1990 tăng lên 14% năm 2025); những vấn đề và thách thức đặt ra khi dân số già, từ đó đưa ra các khuyến nghị và giải pháp trong việc tăng cường sức khỏe và chăm sóc sức khoẻ và phòng bệnh cho NCT

Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), Báo cáo “Già hóa dân số và

Trang 13

người cao tuổi ở Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách”, 2011 Báo cáo nhằm mục tiêu cung cấp những thông tin và phân tích

kỹ lưỡng, toàn diện về các vấn đề có liên quan đến già hóa dân số cũng như những gợi ý chính sách giải quyết vấn đề già hóa dân số trong những năm tới, trong đó phân tích kỹ các đặc điểm của già hóa dân số và NCT, bao gồm các đặc điểm nhân khẩu học, đời sống gia đình, văn hóa và tinh thần của NCT, sức khỏe và chăm sóc sức khỏe của NCT, hoạt động kinh tế, thu nhập và tình trạng nghèo của NCT, an sinh xã hội cho NCT

Kết quả “Điều tra quốc gia về người cao tuổi Việt Nam” (2011) do

Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phối hợp cùng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam, Viện nghiên cứu Y-Xã hội học (ISMS) và Công ty Nghiên cứu và Tư vấn Đông Dương (IRC) tiến hành năm 2011 với hơn 4.000 đối tượng từ 50 tuổi trở lên tại 12 tỉnh/thành phố đại điện cho 6 vùng sinh thái của Việt Nam Cuộc điều tra tập trung vào các vấn đề kinh tế, xã hội, tình hình sức khỏe, xu hướng bệnh tật, đời sống vật chất, tinh thần, nhu cầu chăm sóc và được chăm sóc cũng như việc tiếp cận với các chế độ an sinh xã hội và dịch vụ y tế của người cao tuổi Việt Nam Theo số liệu điều tra có đến 63% người cao tuổi được hỏi cho rằng, cuộc sống còn thiếu thốn và chưa đến 2% nói rằng cuộc sống rất đầy đủ Khoảng 14% người cao tuổi đang sống trong

hộ nghèo 7% người cao tuổi vẫn sống trong nhà tạm, gần 59% người cao tuổi đang phải làm các công việc khác nhau để kiếm sống với thu nhập không ổn định, người sống ở nông thôn làm việc cao hơn ở thành thị Tại thời điểm điều tra, có tới trên 50% số NCT được phỏng vấn cho rằng, tình trạng sức khỏe hiện tại là yếu hoặc rất yếu Đau đầu, chóng mặt, đau khớp, đau lưng là các triệu chứng thường gặp nhất NCT Gần 40% NCT được chẩn đoán có bệnh huyết áp Trên 30% NCT được chẩn đoán viêm khớp Tiếp theo là một số bệnh như tim mạch, răng miệng, viêm phế quản hoặc bệnh phổi mạn tính, song tỷ lệ mắc các bệnh này không quá 20% NCT ở thành thị mắc tiểu đường cao hơn nông thôn Tỷ lệ NCT gặp ít nhất một khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, tắm rửa, mặc quần áo hay đi đại tiểu tiện là 30% Hơn

Trang 14

80% NCT bị chấn thương trong vòng 12 tháng qua được điều trị bởi cán bộ y

tế Trong số NCT phải trả tiền cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, gần 50% trong số họ không đủ tiền chi trả cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Một điểm đáng lưu ý là tỷ lệ NCT nam được vợ chăm chiếm 65,5%, trong khi đó NCT nữ được chồng chăm sóc chỉ có 20,1%, đây là một yếu tố về bất bình đẳng giới cần được quan tâm

Ngoài ra còn có Luận án Tiến sĩ của Phạm Vũ Hoàng, “Một số giải

pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam”, nội dung

Luận án nghiên cứu cơ sở lý luận về chăm sóc NCT, đánh giá thực trạng, giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam bằng việc tăng cường sự giám sát của các bộ ngành trong quá trình triển khai chính sách chăm sóc NCT; đề xuất hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng chăm sóc NCT trong mô hình chăm sóc NCT tại cộng đồng nhằm xác định chuẩn mực về dịch vụ cung cấp

Tổng quan nghiên cứu cho thấy đã có được cơ sở lý luận về TGXH, TCXH ở Việt Nam; đánh giá thực trạng đời sống đối tượng và nhu cầu trợ giúp làm cơ sở cho xây dựng, hoàn thiện chính sách Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu sâu về chính sách trợ cấp hàng tháng đối với NCT, để từ đó nhìn nhận các hạn chế và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách trong giai đoạn tới Bên cạnh đó, cần phải tiếp cận trên góc độ khoa học quản lý để phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng chính sách và đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội đất nước giai đoạn hiện nay

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu

Tổng hợp cơ sở khoa học và thực tiễn về chính sách TCXH hàng tháng đối với NCT, làm cơ sở đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách TCXH hàng tháng đối với NCT giai đoạn tới

Trang 15

3.2 Nhiệm vụ

+ Nhận diện các chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi ở Việt Nam

+ Phân tích, đánh giá thực trạng nhu cầu trợ cấp xã hội của người cao tuổi

và thực trạng chính sách trợ cấp xã hội đối với NCT giai đoạn 2005-2015

+ Đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi ở Việt Nam

4 Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu

4.1 Phạm vi

- Phạm vi chính sách: Các chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi

- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên phạm vi cả nước

- Phạm vi thời gian: Các chính sách từ năm 2005 đến nay, nguồn số liệu từ năm 2010 đến nay

4.2 Đối tƣợng nghiên cứu

- Hệ thống văn bản pháp luật, văn kiện các chương trình, dự án về TCXH hàng tháng đối với người cao tuổi ở Việt Nam

- Các báo cáo, số liệu, tài liệu nghiên cứu của cơ quan, tổ chức, các chuyên gia trong nước và nước ngoài có liên quan đến NCT và chính sách đối với người cao tuổi

- Các cơ quan, tổ chức làm công tác TCXH hàng tháng đối với người cao tuổi

- Người cao tuổi

5 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng tác động của chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi ở Việt Nam như thế nào?

- Cần có những giải pháp nào để hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội

hàng tháng đối với người cao tuổi ở Việt Nam?

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Chính sách TCXH hàng tháng đối với người cao tuổi được quy định tại Hiến pháp, Luật người cao tuổi và một số Nghị định của Chính phủ, tuy

Trang 16

nhiên chính sách chưa đồng bộ; đối tượng hưởng TCXH hàng tháng chưa phù hợp; có nơi chưa đáp ứng được mức sống tối thiểu của NCT trên địa bàn được trợ giúp

- Để hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi cần xây dựng mức chuẩn TCXH theo nhu cầu mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng giai đoạn phát triển; mở rộng đối tượng hưởng lợi; hoàn thiện cơ chế điều phối nguồn lực

7 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội, thống kê, phân tích - tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học Trong đó không thực hiện điều tra riêng, mà kết hợp với khảo sát đánh giá 5 năm thực hiện Luật người cao tuổi do Cục Bảo trợ xã hội thực hiện từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2015 Trong khảo sát này đã thực hiện phỏng vấn trực tiếp người cao tuổi bằng bảng hỏi và tiến hành thảo luận sâu người cao tuổi, cán bộ làm công tác người cao tuổi ở cả trung ương và địa phương Đồng thời, cũng sử dụng cơ sở dữ liệu thứ cấp từ các nghiên cứu, tài liệu đã được công bố trước đó

Ngoài ra, tác giả thực hiện tiếp xúc, trao đổi trực tiếp với NCT trên địa bàn huyện Ninh Giang, Hải Dương và một số cán bộ phụ trách công tác NCT trên địa bàn tỉnh để nắm được tình hình thực tế về việc thực hiện chính sách TCXH hàng tháng đối với NCT

8 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phẩn Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi

Chương 2 Thực trạng tác động của chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi

Chương 3 Giải pháp hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi

Trang 17

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TRỢ CẤP XÃ HỘI HÀNG THÁNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM 1.1 Chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng

1.1.1 Quan niệm chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng

Để hiểu được chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng, trước tiên hiểu thế nào là chính sách xã hội Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để lý giải về chính sách xã hội Các nhà khoa học Xô-viết đặt vấn đề chính sách xã hội trên quan niệm có tính chất lý luận rộng lớn Cụ thể như V.Z.Rogovin, một tác giả quen thuộc trong lĩnh vực chính sách xã hội cho rằng chính sách xã hội là một lĩnh vực tri thức xã hội học, nghiên cứu hệ thống về các quá trình xã hội quyết định hoạt động sống của con người trong xã hội, xét theo khả năng tác động quản lý đến các quá trình đó Ông quan niệm rằng, chính sách xã hội là một hướng chủ yếu trong hoạt động lập kế hoạch và quản lý của Đảng và Nhà nước nhằm vào một lĩnh vực rộng lớn và tương đối độc lập của đời sống xã hội, đó là các quan hệ xã hội.1

Hay với cách nhìn nhận từ mục tiêu, đối tượng chính sách, Giáo sư Bùi Đình Thanh cho rằng chính sách xã hội là cụ thể hóa

và thể chế hóa bằng pháp luật những đường lối, chủ trương, những biện pháp giải quyết những vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm của những chủ thể lãnh đạo, phù hợp với bản chất của chế độ xã hội chính trị, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm mục đích cao nhất là thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống, vật chất, văn hóa tinh thần của người dân.2

Từ các quan điểm khác nhau trên có thể thấy định nghĩa về chính sách

xã hội của Giáo sư Bùi Đình Thanh là đầy đủ nhất Như vậy chính sách xã hội

là một hệ thống bao gồm nhiều chính sách và chương trình khác nhau Mỗi chính sách xã hội có đối tượng, phạm vi, nội dung điều chỉnh nhất định và nhằm vào một mục tiêu nhất định Chính sách xã hội phổ biến là loại chính sách có tác động, có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống của các tầng lớp dân

Trang 18

Trợ cấp xã hội, hay trợ cấp xã hội hàng tháng được sử dụng phổ biến trong giao tiếp, trong các văn bản quy định chính sách của Nhà nước, tài liệu nghiên cứu liên quan về chính sách xã hội Đây là một trong những cấu phần quan trọng của chính sách xã hội nói chung và chính sách ASXH nói riêng Tuy nhiên, rất ít tài liệu giải thích về ngữ nghĩa cũng như nội hàm của khái niệm trợ cấp xã hội Từ điển tiếng Việt ghép nghĩa của từ “trợ” và từ “cấp” để giải thích thuật ngữ “trợ cấp” Với cách diễn giải như vậy “trợ cấp” được hiểu

là cấp tiền để giúp đỡ cho ai đó, khi họ gặp khó khăn thiếu thốn Từ điển hành chính giải thích “trợ cấp” là sự giúp đỡ vật chất cho đối tượng nhất định để khắc phục một phần khó khăn3

Với các cách giải thích trên có thể hiểu trợ cấp xã hội hàng tháng là khoản tiền của Nhà nước cấp hàng tháng cho đối tượng hưởng lợi để mua lương thực, thực phẩm và các chi tiêu cần thiết phục vụ cho cuộc sống hàng ngày

1.1.2 Phân loại trợ cấp xã hội và chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng

Tuỳ từng cách tiếp cận khác nhau, có thể có nhiều cách phân loại trợ cấp xã hội hàng tháng như sau:

 Theo tính chất trợ giúp xã hội

- Trợ cấp đột xuất: là trợ cấp một lần cho các đối tượng gặp khó khăn đột xuất do những nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh Trợ cấp đột xuất mang nặng tính thời điểm, tạm thời và thực hiện trong khoảng thời gian ngắn, 3 tháng và cấp một lần cho đối tượng

- Trợ cấp thường xuyên hay còn gọi là trợ cấp hàng tháng: là khoản trợ cấp thường xuyên hàng tháng cho đối tượng

 Theo nguồn tài chính

- Ngân sách Nhà nước: nguồn kinh phí trợ cấp do ngân sách Nhà nước hoặc các nguồn hỗ trợ khác nhưng thông qua ngân sách Nhà nước và do các

cơ quan Nhà nước thực hiện

3

Tô Tử Hạ (chủ biên), Từ điển hành chính, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội, 2003, Tr.259

Trang 19

- Từ đóng góp của các thành viên trong tổ chức thông qua các quỹ bảo hiểm rủi ro, quỹ của các tổ chức đoàn thể, xã hội

- Quỹ vận động trong cộng đồng xã hội: khoản trợ cấp được thực hiện thông qua các tổ chức đoàn thể, xã hội hoặc cá nhân đứng ra vận động, nhằm giúp đỡ cho các đối tượng yếu thế như quỹ ngày vì người nghèo, quỹ nạn nhân chất độc da cam, quỹ vận động trợ giúp các bệnh nhân bị bệnh hiểm nghèo…

1.1.3 Mục tiêu, vai trò của trợ cấp xã hội hàng tháng

 Mục tiêu

Mục tiêu của chính sách TCXH hàng tháng đối với người cao tuổi là để người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn duy trì, nâng cao chất lượng đời sống vật chất của người cao tuổi; nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi; đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi phù hợp với tiềm năng và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đảm bảo mức sống tối thiểu cho người cao tuổi Người cao tuổi cần được nhìn nhận như một nguồn lực trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo đầy đủ quyền của người cao tuổi là quyền được chăm sóc, phụng dưỡng và quyền được đóng góp, cống hiến cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Vai trò của trợ cấp xã hội hàng tháng

Chính sách TCXH hàng tháng được thiết kế tốt sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển của mỗi quốc gia Thông qua hệ thống ASXH mà cụ thể là các chính sách TCXH hàng tháng, Nhà nước tiến hành phân phối lại thu nhập cho người nghèo và những người dễ bị tổn thương, nhanh chóng tác động lên nghèo đói và bất bình đẳng xã hội Trên cơ sở phân tích vị trí của TCXH hàng tháng trong hệ thống ASXH và các chính sách kinh tế - xã hội, tác giả cho rằng TCXH hàng tháng có những vai trò cơ bản sau:

 Đối với xã hội

Chính sách TCXH hàng tháng là một trong những cấu phần quan trọng trong hệ thống ASXH của một quốc gia và là công cụ quản lý của Nhà nước

Trang 20

thông qua hệ thống luật pháp, chính sách và các chương trình trợ giúp Mục đích của nó là giữ gìn sự ổn định về xã hội - kinh tế - chính trị của đất nước, đặc biệt là ổn định xã hội, giảm bất bình đẳng, phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội; tạo nên sự đồng thuận giữa các giai tầng, các nhóm xã hội trong quá trình phát triển TCXH hàng tháng còn là một trong những trụ cột cơ bản trong hệ thống chính sách an sinh xã hội Nó hướng đến bảo đảm mức sống tối thiểu cho người dân, bảo vệ giá trị cơ bản và là thước đo trình độ phát triển của một quốc gia trong quá trình phát triển và hội nhập

Bảo đảm ASXH là nền tảng của phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Thông qua việc áp dụng các cơ chế điều tiết, phân phối lại thu nhập giữa các khu vực kinh tế, các vùng kinh tế và các nhóm dân cư, ASXH có thể được coi như là một giá đỡ đảm bảo thu nhập cho người dân Vì chính sách TCXH hàng tháng là một hợp phần của hệ thống chính sách ASXH nên được thiết kế trên cơ sở các nguyên tắc công bằng, đoàn kết ở các mức độ khác nhau, ngoài ra còn thể hiện giá trị và định hướng phát triển của một quốc gia Cách thức xây dựng chính sách TCXH hàng tháng chính là sự thể hiện mô hình phát triển xã hội, quan điểm lựa chọn đầu tư cho con người

Ngoài ra, chính sách TCXH hàng tháng còn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững thông qua việc điều hòa các mâu thuẫn xã hội, đảm bảo xã hội không có sự loại trừ, điều tiết tốt hơn và hạn chế các nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và bất ổn định xã hội Nhà nước thông qua chính sách TCXH hàng tháng để cân đối, điều chỉnh nguồn lực cho các vùng/hộ nghèo, vùng chậm phát triển, tạo nên sự phát triển hài hoà, giảm bớt

sự chênh lệch giữa các vùng; mở rộng chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, hạn chế bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư Chính sách TCXH hàng tháng lâu dài, đầy đủ có thể thực hiện được mục tiêu tái phân phối của cải xã hội, giải phóng các nguồn lực trong dân cư

 Đối với các đối tượng được điều chỉnh bởi chính sách

Nếu chính sách TCXH hàng tháng được thiết kế hiệu quả có thể tạo điều kiện cho các cá nhân và gia đình đầu tư tốt hơn cho tương lai Trong vai

Trang 21

trò này, chính sách TCXH hàng tháng cơ bản là khắc phục các rủi ro trong tương lai, cho phép các gia đình tiếp cận đến được các cơ hội để phát triển Chính sách TCXH hàng tháng còn góp phần hỗ trợ cho các gia đình quản lý được rủi ro Thông qua các mức trợ cấp, ít nhất nó cũng giúp cho các các đối tượng hưởng lợi từ chính sách đương đầu được với những giai đoạn khó khăn trong cuộc sống

TCXH hàng tháng còn là một yếu tố bảo hiểm, cho phép các gia đình được lựa chọn sinh kế để phát triển Như vậy, chính sách TCXH hàng tháng vừa bảo vệ cho các thành viên trong xã hội vừa nâng cao khả năng tồn tại độc lập của họ trong cuộc sống, ngoài ra còn giúp tăng sự gắn kết trong xã hội, nâng cao sự chia sẻ giữa các thành viên trong xã hội

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, bên cạnh cơ hội cũng có nhiều thách thức và rủi ro Thách thức của hội nhập quốc tế thường là các vấn đề xã hội như bất bình đẳng gia tăng, phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội, nghèo đói, bần cùng hoá và ô nhiễm môi trường Chính sách TCXH hàng tháng tốt

sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, vì ngay cả các nhà đầu tư không chỉ chú ý đến các yếu tố kinh tế mà còn chú ý đến các yếu tố của an toàn, ổn định xã hội

1.1.4 Đặc điểm trợ cấp xã hội hàng tháng

- TCXH hàng tháng là chính sách của Nhà nước dành cho các nhóm dân cư không có thu nhập hoặc thu nhập thấp, đang phải sống dưới mức tối thiểu (mức nghèo); do vậy đối tượng hưởng lợi, các chế độ, mức trợ cấp cụ thể phụ thuộc vào định hướng phát triển của đất nước, khả năng tài chính

trong mỗi thời kỳ

- Thực hiện trong khoảng thời gian nhất định, không phải là chính sách vĩnh viễn cả đời như chính sách đối với người có công, hưu trí Thời gian để được trợ cấp phụ thuộc vào độ tuổi, nguồn thu nhập và khả năng phục hồi sức lao động của đối tượng Hàng năm phải rà soát lại các tiêu chí đối với từng trường hợp cụ thể để quyết định tiếp tục trợ cấp hay dừng trợ cấp

Trang 22

- Chính sách TCXH hàng tháng được thực hiện hàng tháng, khác với các chính sách khác có thể thanh toán một lần như chế độ trợ cấp đối với người mất việc làm, tai nạn lao động, tử tuất

- TCXH hàng tháng có thể bằng tiền hoặc hiện vật: Trước giai đoạn đổi mới (1986) có thời kỳ tính bằng tiền (thông tư 202), có thời kỳ được quy đổi thành gạo, (khoảng 12 kg gạo một tháng) tức là đủ lương thực cho một người trong một tháng và mức trợ cấp xã hội chưa được tính toán theo phương pháp dựa vào nhu cầu chi tiêu bảo đảm mức sống tối thiểu, và vẫn mang tính chất

hỗ trợ; các trợ giúp khác như y tế, giáo dục áp dụng cơ chế miễn, giảm Gạo

và tiền do các hợp tác xã cung cấp cho các đối tượng bảo trợ xã hội là chủ yếu

và các đối tượng này được các địa phương gọi là đối tượng 202 Sau đổi mới,

từ 1994 đến nay, TCXH hàng tháng đều được xác định bằng tiền và cũng dựa vào cách quy đổi từ “gạo sang tiền”; số tiền tương ứng để mua số gạo khoảng

12 kg

- TCXH hàng tháng được thực hiện thông qua hệ thống các cơ quan hành chính của Nhà nước Việc theo dõi giám sát, đánh giá và thực hiện chính sách do cơ quan Nhà nước thực hiện Cấp xã có nhiệm vụ lập danh sách đối tượng gửi cấp huyện duyệt, cấp huyện cân đối ngân sách để thực hiện chế độ trợ cấp cho các đối tượng bảo trợ xã hội Khác với Bảo hiểm xã hội là việc hình thành quỹ bảo hiểm xã hội và hệ thống tổ chức quản lý quỹ, chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội theo luật định

- Các chế độ xác định trên cơ sở đảm bảo mức sống tối thiểu và mặt bằng chung của hệ thống chính sách xã hội Tiền lương được xác lập trên cơ

sở quan hệ lao động và các yếu tố thị trường lao động (cung và cầu lao động)

và bảo đảm để người lao động tái sản xuất sức lao động Lương hưu và các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội được xác lập trên cơ sở của sự đóng góp (sự tham gia) vào quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH) Trợ cấp đối với người có công được xác lập trên cơ sở của sự đóng góp, công lao của cá nhân và gia đình đối với đất nước, phụ thuộc vào sự đóng góp và điều kiện kinh tế đất nước từng thời kỳ, chế độ chính trị của từng quốc gia Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và

Trang 23

Nhà nước Việt Nam đang tôn vinh người có công với đất nước và thực hiện chủ trương của nhà nước là “bảo đảm cho các đối tượng có công có mức sống ngang bằng với mức sống trung bình của dân cư” Các mức trợ cấp xã hội hàng tháng nói chung và TCXH hàng tháng cho NCT nói riêng phải tương đồng với tiền lương của người lao động bình thường, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp người có công Nếu quá thấp so với các chế độ này thì sẽ tạo ra sự bất bình đẳng giữa các nhóm hưởng lợi

1.1.5 Nội dung chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng

Trợ cấp xã hội hàng tháng phải vừa đảm bảo duy trì cuộc sống của đối tượng tức là đảm bảo cung cấp tiền để chi trả các chi phí đáp ứng nhu cầu cơ bản về ăn, ở, mặc, y tế giáo dục, đi lại… vừa phải đảm bảo chi phí người phục

vụ, hỗ trợ sinh hoạt cho đối tượng như: Chăm sóc hàng ngày, bảo vệ, hỗ trợ Nếu tính đầy đủ thì trợ cấp xã hội hàng tháng đối với mỗi đối tượng sẽ có hai phần cơ bản là (i) trợ cấp nuôi dưỡng là phần chi phí để duy trì cuộc sống cho đối tượng và (ii) trợ cấp chăm sóc là phần chi phí cho người chăm sóc đối tượng trong trường hợp đối tượng không có khả năng tự phục vụ và cần người thân phục vụ Trợ cấp xã hội hàng tháng là tổng hai mức trợ cấp nuôi dưỡng

và trợ cấp chăm sóc

S = F + C

Trong đó: + S mức trợ cấp xã hội hàng tháng

+ F mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng + C mức trợ cấp chăm sóc hàng tháng

Đối với tất cả các nhóm đối tượng đều có mức trợ cấp nuôi dưỡng như nhau (Fo), được gọi là mức chuẩn trợ cấp xã hội và mức trợ cấp chăm sóc khác nhau (Ci) Mức trợ cấp xã hội của nhóm đối tượng cụ thể là tổng mức trợ cấp nuôi dưỡng và mức chăm sóc

Si= F0 + Ci

Trong đó: + Si mức trợ cấp xã hội hàng tháng nhóm i

+ F0 mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng chung + C i mức trợ cấp chăm sóc hàng tháng đối với nhóm i

Trang 24

1.1.6 Nhân tố ảnh hưởng tới chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng

Khi phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách TCXH hàng tháng cho người cao tuổi sẽ tìm ra những thiếu sót hoặc các điểm hạn chế của chính sách, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện phù hợp Từ thực tiễn thực hiện chính sách TCXH hàng tháng cho người cao tuổi ở Việt Nam có thể khái quát nhân tố ảnh hưởng chính sách bao gồm:

 Nhân tố thuộc về thể chế chính sách

Thể chế chính sách đóng vai trò quan trọng trong các chính sách TCXH Nội dung cơ bản của thể chế này là xác định khuôn khổ pháp lý (Luật người cao tuổi và các văn bản dưới luật), phạm vi các chính sách, đối tượng, tiêu chí, điều kiện tham gia, quyền lợi hưởng thụ và những điều kiện ràng buộc Thể chế chính sách còn xác định trách nhiệm của Bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện chính sách đề ra

Thể chế chính sách được hình thành từ nhu cầu thực tế của các thành viên trong xã hội cần được bảo vệ trước các nguy cơ bị rủi ro mà họ không tự bảo vệ được Tuy nhiên không phải mọi thành viên trong xã hội đều có nhu cầu và có cơ hội ngang nhau trong việc tham gia và thụ hưởng các chính sách TCXH

 Nhân tố thuộc về thể chế tài chính

Thể chế tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm nguồn lực thực hiện chính sách TCXH hàng tháng Thể chế tài chính xác định cơ chế đối với từng loại chính sách, từng nhóm đối tượng; cơ chế cân đối thu - chi, đầu

tư phát triển quỹ; giá cả, cơ chế và chất lượng cung cấp dịch vụ hỗ trợ xã hội Việc bố trí nguồn tài chính cho các chính sách TCXH hàng tháng tùy thuộc vào tình hình kinh tế - xã hội của đất nước

 Các nhân tố thuộc về đối tượng hưởng lợi

Quy mô, phân bố đối tượng: Dựa vào khảo sát thực tế nếu quy mô đối

tượng ít thì có thể lựa chọn hướng nâng cao chất lượng chính sách, nhưng nếu quy mô đối tượng đông mà nguồn lực để thực hiện trợ cấp có hạn thì phải lựa chọn hướng phổ cập chính sách, tức là mở rộng đối tượng hưởng lợi Nhân tố này sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả và hiệu lực, tính công bằng của chính sách

Trang 25

Nhu cầu trợ giúp của các đối tượng: Nhu cầu của đối tượng cũng là

một trong những nhân tố ảnh hưởng đến chính sách Đối tượng có nhu cầu gì, thì ưu tiên xây dựng chính sách hỗ trợ vào nhu cầu đó Trong quá trình nghiên cứu xây dựng chính sách cần đánh giá về nhu cầu và mong muốn của đối tượng cần được TCXH Nhu cầu của đối tượng cũng khác nhau giữa các vùng Ở các tỉnh miền núi, đối tượng có tuổi thọ trung bình thấp hơn ở đồng bằng, cần xem xét các yếu tố này để xây dựng chính sách TCXH hàng tháng cho người cao tuổi sao cho phù hợp với từng địa bàn

 Các nhân tố thuộc về môi trường chính sách

Ngoài các nhân tố thuộc về đối tượng hưởng lợi, thể chế chính sách, thể chế tài chính thì nhân tố thuộc về môi trường chính sách cũng là nhân tố quan trọng quyết định đến hiệu quả của chính sách Điều kiện phát triển kinh tế xã hội của quốc gia có tác động rất lớn đến mức trợ cấp xã hội Ngoài ra quá trình hợp tác quốc tế cũng sẽ chi phối hệ thống chính sách quốc gia và ảnh hưởng đến những định hướng chính sách trong dài hạn Yếu tố văn hóa quyết định đến các phương châm thực hiện và cách thức đưa đối tượng tiếp cận với chính sách đồng thời thu hút các nguồn hỗ trợ ngoài Nhà nước được đóng góp bởi các thành viên trong xã hội Vì vậy, quá trình nghiên cứu xây dựng chính sách cần xem xét đến các nhân tố môi trường của chính sách

1.2 Quan điểm tiếp cận xây dựng chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi

Chính sách TCXH hàng tháng được xây dựng trên nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau, cụ thể:

Tiếp cận theo quan điểm lịch sử: Thực hiện quan điểm này một mặt

cho phép ta nhìn thấy toàn cảnh sự xuất hiện, phát triển, diễn biến và kết quả tác động của chính sách TCXH trong những khoảng thời gian, không gian, điều kiện hoàn cảnh cụ thể Dựa vào các kết luận đó để đánh giá tác động và hiệu quả của chính sách TCXH từ đó dự đoán các xu hướng, triển vọng của chính sách, ngoài ra còn có thể ngăn ngừa và tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm có thể lặp lại trong tương lai của chính sách mới

Trang 26

Tiếp cận theo quan điểm thực tiễn: Dựa vào thực tiễn nhu cầu cần trợ

giúp của đối tượng để điều chỉnh chính sách cho phù hợp Chính sách xa rời thực tiễn sẽ gây thất thoát ngân quỹ của Nhà nước, có sự chồng chéo giữa các đối tượng hưởng lợi từ đó gây mất đoàn kết, không đảm bảo mục tiêu công bằng và lãng phí ngân sách Nhà nước

Tiếp cận theo quan điểm hệ thống: Xây dựng chính sách TCXH cần

xét trên nhiều mặt như mối liên hệ với sự phát triển kinh tế của quốc gia, vị trí của chính sách TCXH hàng tháng trong hệ thống chính sách ASXH, từ đó xác định được quan điểm, đối tượng trợ giúp rõ ràng, tránh sự chồng chéo, không hiệu quả của chính sách

Tiếp cận theo quan điểm văn hóa: Văn hóa trở thành tâm lý xã hội của

một cộng đồng, ý thức hệ của một dân tộc Văn hóa tạo nên sự cấu kết giữa các cá nhân và cộng đồng xã hội vì tính thống nhất và phổ biến của nó Từ

đó, tạo nên tâm lý xã hội cộng đồng và chuyển hóa cao hơn thành ý thức hệ của một dân tộc, thành thượng tầng kiến trúc của một dân tộc Chính vì vậy, mỗi chính sách được đưa ra nói chung và chính sách TCXH hàng tháng nói riêng cần phải phù hợp với thực tiễn đời sống và tình cảm, tâm lý người dân

và cộng đồng

Tiếp cận theo quan điểm quản lý rủi ro: Cơ sở của quan điểm này là

mọi thành viên trong xã hội luôn có nguy cơ bị rủi ro Rủi ro làm cho cá nhân trong xã hội mất hoặc suy giảm thu nhập, không còn nguồn sống, thiếu người chăm sóc Với quan điểm này TCXH bao gồm hệ thống nhiều cấp độ hỗ trợ với các mức trợ cấp khác nhau Cấp cao nhất là trợ cấp để phát triển, sau đó đến trợ cấp để ổn định và cấp cuối cùng là trợ cấp để duy trì

Tiếp cận theo quan điểm quyền con người: Quan điểm này lấy con

người làm trung tâm của mục tiêu các chính sách TCXH hàng tháng là sự can thiệp để các cá nhân thực hiện các nhu cầu cơ bản Trách nhiệm của Nhà nước là bảo vệ sự an toàn cho tất cả các thành viên trong xã hội trước các nguy cơ bị suy giảm, hoặc bị mất nguồn thu nhập, trước các cú sốc về kinh tế

- xã hội Theo quan điểm này, chính sách TCXH xây dựng trên cơ sở bảo

Trang 27

đảm cho bộ phận dân cư khó khăn thực hiện các nhu cầu về đời sống (lương thực, thực phẩm), có nước sạch sinh hoạt, có nơi ở, bảo đảm vệ sinh cá nhân

và môi trường, được chăm sóc y tế, được tiếp cận giáo dục, giao tiếp và các hoạt động cộng đồng

Tiếp cận theo quan điểm mục tiêu: Đây là quan điểm tiếp cận được

sử dụng chủ yếu trong quá trình xây dựng chính sách TCXH hàng tháng bởi chính sách TCXH hiện tại ở nước ta có nhiều mức khác nhau theo điều kiện khó khăn, hoàn cảnh, nhu cầu của từng nhóm đối tượng cụ thể Ưu điểm của cách tiếp cận này là chính sách cho nhóm đối tượng ưu tiên thường gắn với bảo đảm mức sống tối thiểu, cao hơn các chính sách phổ cập, nguồn lực thường thấp hơn chính sách phổ cập vì độ bao phủ so với dân số thường thấp hơn Độ bao phủ thấp và bỏ sót đối tượng cũng chính là mặt trái của cách tiếp cận này Vì vậy, khi xây dựng một chính sách cần kết hợp nhiều cách tiếp cận khác nhau để đảm bảo cái nhìn đa chiều trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, nâng cao hiệu quả tác động tích cực của chính sách

1.3 Đối tượng và nhu cầu trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi

1.3.1 Đối tượng

Đối tượng của chính sách TCXH là một bộ phận của đối tượng BTXH Đối tượng BTXH là mọi người dân trong xã hội không phân biệt vị thế và thành phần xã hội khi gặp phải khó khăn, thiếu thốn, lâm nạn, cơ nhỡ hoặc vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến cuộc sống thường ngày hoặc lâu dài của họ bị đe dọa Dưới góc độ kinh tế thì đó là những thành viên có mức sống thấp hơn mức sống tối thiểu của xã hội hoặc gặp khó khăn, rủi ro cần

có sự nâng đỡ về vật chất Dưới góc độ xã hội thì họ thuộc nhóm người yếu thế trong xã hội, có ít cơ may trong cuộc sống như người bình thường và không đủ khả năng tự lo liệu, bảo đảm cho cuộc sống của gia đình và bản thân Như vậy, đối tượng BTXH là một bộ phận hay nhóm dân cư do các nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến phải chịu những hoàn cảnh khó khăn trong sinh hoạt, lao động, học tập và cần đến sự trợ giúp của gia đình,

Trang 28

cộng đồng, Nhà nước thì mới có thể bảo đảm cuộc sống và hoà nhập cộng đồng Đối tượng TCXH hàng tháng là một bộ phận của đối tượng BTXH sống ở cộng đồng và có nhu cầu trợ giúp lâu dài Theo quy định của pháp luật hiện hành thì các nhóm NCT sau thuộc diện được hưởng TCXH hàng tháng:

(1) Người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo (theo chuẩn nghèo được Chính phủ quy định cho từng thời kỳ)

(2) NCT từ đủ 80 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội

(3) NCT là người khuyết thật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng (4) NCT là người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo

(5) NCT là người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi; trường hợp con đang đi học văn hoá, học nghề được áp dụng đến dưới 22 tuổi

1.3.2 Nhu cầu trợ cấp xã hội hàng tháng

Nhu cầu là sự thể hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là những đòi hỏi mà cá nhân thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển Dựa vào những tiêu chuẩn khác nhau có những cách phân loại nhu cầu khác nhau Thông thường nhu cầu được phân thành nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần và nhu cầu xã hội

Nhu cầu vật chất bao gồm các nhu cầu về lương thực, thực phẩm, phương tiện sinh sống như nước, ô xy để thở, quần áo và nơi che chở để bảo

vệ và giữ cơ thể an toàn, nhu cầu được hoạt động, luyện tập thân thể và nghỉ ngơi Nhu cầu tinh thần là nhu cầu về học tập, hưởng thụ giá trị văn hóa, nghệ thuật, chính trị, tình thương yêu và nhu cầu được thừa nhận Các nhu cầu nảy sinh từ nền văn hóa hoặc bối cảnh xã hội mà con người là một thành viên được gọi là nhu cầu xã hội, ví dụ như nhu cầu giáo dục, tôn giáo, giải trí… Các nhu cầu này được đáp ứng và tác động qua lại giữa các thành viên của cộng đồng, các nhóm xã hội hay trong gia đình

Trang 29

Mỗi cá nhân đều được bảo đảm các nhu cầu chung như những thành viên khác trong xã hội và điều đó đã trở thành quyền của mỗi người, việc đáp ứng quyền này thuộc trách nhiệm của Nhà nước và xã hội Nhu cầu TCXH hàng tháng được hình thành khi cá nhân không tự mình bảo đảm được nhu cầu tối thiểu như trên Nhu cầu trợ cấp phụ thuộc vào các nhu cầu cơ bản của con người, nhưng phải được xem xét dưới góc độ chung của cộng đồng

Chính sách TCXH hàng tháng đối với người cao tuổi được hình thành

từ nhu cầu thực tế của các đối tượng Nhà nước thực hiện TCXH hàng tháng cho người cao tuổi bằng các biện pháp hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp bằng tiền hoặc hiện vật tùy từng đối tượng với những hoàn cảnh cụ thể mà xác định trợ cấp lâu dài hay trợ cấp đột xuất Các chính sách này được thể chế hóa, từng bước phát triển thành hệ thống các chính sách nhằm hỗ trợ cho đối tượng là người cao tuổi trong xã hội khi gặp hoàn cảnh khó khăn

1.4 Công cụ chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi

Chính sách TCXH hàng tháng cho người cao tuổi được thực hiện thông qua các công cụ chủ yếu sau:

1.4.1 Hệ thống văn bản pháp luật

Mức độ thể chế các chính sách cùng với các nguồn lực, cơ chế tài chính

có vai trò rất lớn trong việc tổ chức thực hiện, giám sát đánh giá và thực thi chính sách Để làm được những nhiệm vụ đó cần đến hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Chính sách TCXH hàng tháng cho người cao tuổi được thể chế thông qua Luật người cao tuổi và các văn bản quy định của Chính phủ, hướng dẫn của các Bộ, quy định của cấp địa phương…

1.4.2 Tổ chức bộ máy và cán bộ

Việc thiết lập hệ thống tổ chức và nhân lực thực thi chính sách có vai trò quyết định đến kết quả thực hiện chính sách Thực hiện chính sách TCXH hàng tháng cho NCT chịu sự chi phối bởi các nguyên tắc quản lý theo chiều ngang là các ngành, lĩnh vực mang tính chất hỗ trợ về chuyên môn và theo chiều dọc là các cấp quản lý và tổ chức thực hiện từ Trung ương đến địa phương Khi thực hiện các chương trình hỗ trợ cho người cao tuổi có một loạt

Trang 30

các cơ sở bảo trợ xã hội, các dịch vụ thiết yếu trợ giúp các đối tượng là người cao tuổi Hệ thống quản lý theo chiều dọc chủ yếu thực hiện nhiệm vụ chi trả khoản tiền trợ cấp cho các đối tượng thuộc sự điều chỉnh bởi chính sách TCXH

1.4.3 Công cụ kinh tế

Công cụ kinh tế chính là cơ chế huy động phân bổ, quản lý và sử dụng nguồn ngân sách thực hiện chính sách Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại của đất nước và đặc biệt là trong việc thực hiện các chính sách xã hội nói chung và chính sách TCXH hàng tháng nói riêng Ngân sách nhà nước gồm 4 cấp: ngân sách Trung ương, ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã Ngân sách Trung ương phân bổ chi thực hiện chính sách TCXH hàng tháng trong nguồn chi bảo đảm xã hội cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ngân sách cấp tỉnh bố trí cho cấp huyện và cấp huyện bố trí cho cấp xã Cấp xã chỉ là đơn vị thực hiện chính sách t r ự c t i ế p cho các đối tượng cụ thể khi đã được duyệt Tổng nguồn thực hiện chính sách được tính toán trên cơ sở nhu cầu thực hiện các chế độ và đối tượng thụ hưởng chính sách

1.4.4 Công cụ giáo dục, tâm lý

Để nâng cao nhận thức của xã hội, nhận thức của các cơ quan, tổ chức

có trách nhiệm thực thi chính sách, nhận thức của chính đối tượng hưởng lợi nhằm bảo đảm thực hiện các chính sách đạt hiệu quả cao nhất thì cần đến hệ thống thông tin truyền thông; hệ thống tư vấn chính sách; các hoạt động xã hội với mục đích huy động các nguồn lực thực thi chính sách, mở rộng độ bao phủ và nâng cao nhận thức của các cá nhân trong xã hội về chính sách Các cơ quan, tổ chức thực thi chính sách để hoàn thành được nhiệm vụ thực hiện TCXH cần phải thông qua các khóa đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ… Bên cạnh đó, cộng đồng dân cư, gia đình và chính bản thân đối tượng hưởng lợi cần theo dõi trên truyền thông hoặc liên hệ với bộ phận tư vấn chính sách

để cập nhật các thông tin mới hoặc các điều chỉnh của chính sách, bảo đảm

Trang 31

việc thực thi chính sách TCXH hàng tháng được bao phủ rộng rãi, không bỏ sót đối tượng

1.4.5 Hệ thống giám sát đánh giá

 Mục tiêu giám sát đánh giá

Chính sách TCXH hàng tháng đối với người cao tuổi nói riêng và các chính sách xã hội nói chung bao gồm nhiều chính sách bộ phận và nhiều nhóm đối tượng hưởng lợi Do vậy, trong quá trình hoạch định chính sách, tổ chức thực thi cần phải đánh giá tác động của chính sách để điều chỉnh và hoàn thiện chính sách Tác động của chính sách là ảnh hưởng của chính sách đối với các đối tượng khác nhau trong xã hội và đối với sự phát triển của xã hội nói chung

Cùng với hoạch định và triển khai thực hiện, thì đánh giá tác động của chính sách là một khâu không thể thiếu của quy trình chính sách Mục đích của đánh giá tác động của chính sách là làm rõ kết quả, hiệu quả chính sách

và các tác động tích cực cùng với các tác động tiêu cực Đồng thời cũng phát hiện những nội dung chính sách không phù hợp, dự kiến xu hướng kết quả và tác động tiếp theo của chính sách Kết quả đánh giá là căn cứ khoa học và thực tiễn đưa ra kiến nghị bổ sung, sửa đổi một bộ phận chính sách, hoặc toàn

bộ chính sách đảm bảo sự bao phủ của chính sách và mức trợ cấp phù hợp với mức sống tối thiểu của đối tượng trên từng địa bàn

 Tiêu chí đánh giá

Có nhiều tiêu chí khác nhau để đánh giá tác động của chính sách TCXH hàng tháng đối với người cao tuổi như sau:

- Tỷ lệ bao phủ đối tượng của chính sách

- Tỷ lệ đối tượng chưa được hưởng lợi từ chính sách

- Kết quả thay đổi cuộc sống của đối tượng sau khi được hưởng chính sách

- Mức độ thiếu hụt của chính sách so với mức sống tối thiểu

- Tổng kinh phí thực hiện TCXH, tỷ lệ chi phí so với tổng chi ngân sách nhà nước, so với GDP

Trang 32

Cụ thể:

Về tính hiệu lực của chính sách: Đánh giá hiệu lực của chính sách

chính là xem xét mục tiêu của chính sách có đạt được như mong muốn không Cụ thể là phạm vi ảnh hưởng của chính sách đến đời sống của đối tượng Theo nghĩa hẹp, là xem xét mức độ hoàn thành mục tiêu, bao gồm cả các yếu tố ảnh hưởng Để đánh giá hiệu lực của chính sách có nhiều chỉ tiêu khác nhau, trong đó đặc biệt là các chỉ tiêu:

- Tổng số đối tượng thuộc diện hưởng chính sách Chỉ tiêu này cho biết quy mô, đồng thời là căn cứ để tính toán các chỉ tiêu đánh giá khác và đánh giá mức độ biến động của đối tượng chính sách theo thời gian

- Tỷ lệ bao phủ của chính sách so với dân số: Với các nước có điều kiện phát triển kinh tế như Việt Nam thì tỷ lệ bao phủ so với dân số trên 2%

là phù hợp

- Tỷ lệ bao phủ so với đối tượng: trên 25% là phù hợp

- Tỷ lệ đối tượng chưa được hưởng chính sách: Chỉ tiêu này cho thấy đến thời điểm nhất định có tỷ lệ bao nhiêu đối tượng thuộc diện chính sách vẫn chưa được hưởng Chỉ tiêu này càng nhỏ thì hiệu lực chính sách càng cao

Về tính hiệu quả của chính sách: Tính hiệu quả của chính sách đo

lường bằng cách so sánh giữa đầu ra với đầu vào của chính sách, hay đo lường giữa đầu vào với quá trình chuyển hóa thành đầu ra như thế nào Để có thể lượng hóa thành những con số so sánh thì cần lựa chọn các chỉ số có thể tính toán thông qua chỉ tiêu cụ thể Với chính sách trợ cấp xã hội có thể phân tích hiệu quả của chính sách thông qua các chỉ tiêu sau:

- Mức trợ cấp bình quân

- Tỷ lệ đối tượng thay đổi cuộc sống sau hưởng chính sách: Tỷ lệ này càng cao thì chính sách càng có hiệu quả Tuy nhiên, trong quá trình đánh giá cần tính đến chất lượng của sự thay đổi sau bao lâu từ khi đối tượng được hưởng chính sách

Về tính công bằng của chính sách: Tiêu chí này thể hiện sự thuận lợi

Trang 33

về điều kiện hưởng lợi của đối tượng, sự bình đẳng về chế độ giữa các nhóm đối tượng và sự phù hợp giữa chính sách TCXH hàng tháng so với hệ thống chính sách xã hội Tính công bằng của chính sách được đánh giá bằng các tiêu chí sau:

- Mức độ thiếu hụt của chính sách so với mức sống tối thiểu dân cư: Mục tiêu của chính sách là bảo đảm bộ phận dân cư khó khăn sống ở mức sống trên tối thiểu và với nguyên tắc chia sẻ trách nhiệm là Nhà nước bảo đảm trên 60% mức chi tiêu tối thiểu Như vậy chỉ số này nhỏ hơn 0,4 là chấp nhận được, nếu trên 0,4 cần nghiên cứu điều chỉnh nâng mức TCXH lên

- Mức độ tương quan đối với các chính sách khác: Để đảm bảo sự bình đẳng giữa các nhóm dân cư thì các chính sách xã hội cần hướng tới việc bảo đảm sự tương quan các mức chính sách trong mặt bằng chung Vì chính sách TCXH là hỗ trợ một phần nên mức này thường thấp hơn các mức chính sách khác, tuy nhiên không quá chênh lệch và thông thường phải đảm bảo tối thiểu 60% mức chính sách khác

 Quy trình đánh giá tác động của chính sách

Quy trình đánh giá tác động của chính sách thường bắt đầu từ việc xác định vấn đề, sau đó xây dựng các lập luận, tiêu chí để đánh giá, bước tiếp theo

là thu thập thông tin về tác động tích cực, tiêu cực của chính sách đối với những tập thể và cá nhân liên quan, đặc biệt là các tác động tiêu cực và tích cực của chính sách lên các nhóm đối tượng, sau đó phân tích và phát hiện những vấn đề cần kiến nghị bổ sung, sửa đổi hoặc chấm dứt hiệu lực của chính sách

Hình 1.1 Quy trình đánh giá tác động chính sách trợ cấp xã hội

1.5 Kinh nghiệm xây dựng chính sách trợ cấp xã hội ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Xác định

vấn đề

Xây dựng tiêu chí đánh giá

Xác định mục tiêu chính sách

Tham vấn sơ

bộ, thu thập thông tin

Phân tích, kiến nghị,

đề xuất

Trang 34

1.5.1 Kinh nghiệm ở một số nước

 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về số lượng dân cư (khoảng 1,3 tỷ người), trong đó, khoảng 150 triệu người đang ở độ tuổi trên 60 (2007), chiếm 21% tổng số người già trên thế giới vào thời điểm thống kê Mặc dù Trung Quốc được cả thế giới đánh giá cao nhờ tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của quốc gia này không ngừng tăng, đạt 9,9% bình quân trong vòng ba thập kỷ qua, dự báo tăng trưởng GDP bình quân từ 2014-2017 là 7,10% nhưng vẫn được coi là đất nước còn nghèo.4

Phần lớn dân số Trung Quốc sống ở thành thị đều được hưởng chính sách trợ giúp tuổi già với mức hưởng ban đầu tương đương với chính sách lương hưu cơ bản Chính sách này được xây dựng nhằm bao phủ toàn bộ dân

cư, tuy nhiên, điều kiện để được hưởng chính sách này là người nghỉ hưu phải đóng bảo hiểm ít nhất 15 năm mới có thể nhận lương hưu Tuổi nghỉ hưu được quy định khác nhau đối với từng giới và loại hình công việc, tuy nhiên tuổi được quy định chung là 60 Mức đóng góp phụ thuộc vào quy định của chính quyền địa phương Đối với lao động tự làm, năm 2010, mức đóng của

họ được quy định là 12% mức lương bình quân của địa phương Mức đóng của chủ sử dụng lao động cũng khác nhau tùy thuộc vào quy định của chính quyền địa phương nhưng mức đóng tối đa là 20% của thang bảng lương Nhưng cuối cùng thì cách tính lương hưu phụ thuộc vào mức lương địa phương bình quân vào năm trước khi nghỉ hưu và mức lương tháng bình quân của từng cá nhân Mức hưởng tối thiểu là từ 40% - 60% của mức lương địa phương bình quân năm trước đó (Hiệp hội An sinh xã hội thế giới, 2011) Ngoài chính sách lương hưu cơ bản, hệ thống ASXH của Trung Quốc cho người già còn áp dụng chương trình tài khoản cá nhân bắt buộc bao gồm hai tầng bậc Đối với lao động tự làm, mức đóng góp vào tài khoản của họ là 8% của mức lương tổng hoặc 8% của mức lương bình quân của địa phương

4 Theo Huyền Trân (theo Business Insider), Danh sách dự báo 13 quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế

mạnh nhất thế giới (2014-2017) nhưng người dân có mức sống trung bình, http://vtc.vn , ngày cập nhật 16.06.2015

Trang 35

Trong trường hợp nguồn quỹ bị hạn chế, chính quyền Trung ương và địa phương có thể trợ cấp cho các tài khoản cá nhân này Cũng giống như chính sách lương hưu cơ bản, mức đóng bình quân tối thiểu của người hưởng là 15 năm Tuổi nghỉ hưu của nhóm chính sách này cũng phụ thuộc vào giới tính và loại hình việc làm, nhưng tuổi nghỉ hưu quy định chung vẫn là 60 Trợ cấp lương hưu hàng tháng được tính dựa trên mức cân đối tài khoản cá nhân của người hưởng chia theo tháng đóng bảo hiểm Theo đó, tháng tham gia bảo hiểm được tính theo tuổi nghỉ hưu của người hưởng, tuổi thọ bình quân của dân số thành thị và mức lãi suất Nếu không muốn nhận lương hưu hàng tháng, người nhận có thể yêu cầu thanh toán khoản trợ cấp một lần Mức nhận một lần này được trả dựa trên mức cân đối của tổng mức phí mà người hưởng đóng và lãi suất trong thời gian tham gia bảo hiểm

Nhận thấy khoảng cách giữa nông thôn và thành thị trong an sinh tuổi già, chính phủ Trung Quốc đã thử nghiệm một loạt các chính sách vào năm

2009 nhằm bao phủ tất cả dân cư nông thôn, đặc biệt là người nghèo Các chính sách này nhằm mục đích bao phủ 50% số dân nông thôn vào năm 2010

và 100% vào năm 2020 Chính sách đề ra mục tiêu là người tham gia bảo hiểm không phải đóng góp trong khi chủ sử dụng lao động đóng khoảng 100 đến 500 nhân dân tệ vào tài khoản lương hưu của mỗi người lao động ở khu vực nông thôn Ngoài ra, tùy thuộc vào từng khu vực, chính phủ sẽ sử dụng nguồn thu từ thuế để đóng 55 nhân dân tệ/1 tháng vào tài khoản của mỗi người tham gia bảo hiểm để hình thành quỹ cho chính sách (việc đóng góp này có thể đóng một lần hoặc nhiều lần) Tuổi nghỉ hưu được quy định trong chính sách này là 60 đối với những người già không là đối tượng của chính sách lương hưu cơ bản đô thị Mức hưởng của chính sách lương hưu nông thôn là mức nhận một lần 55 nhân dân tệ cộng với mức hưởng tài khoản cá nhân hàng tháng

 Kinh nghiệm của Indonesia

Với số dân 237 triệu người, Indonesia là nước có dân số đứng thứ 4 trên thế giới (Ngân hàng thế giới, 2012) Tỷ lệ người già trên 65 tuổi ở Indonesia

Trang 36

tương đối nhỏ (6,1%) Thêm vào đó, Indonesia là quốc gia có dân số làm việc trong khu vực phi chính thức phổ biến Trong số 117 triệu người đang làm việc, hơn 65 triệu người ở Indonesia đang làm việc trong nền kinh tế phi chính thức Trong khi những người lao động này không thuộc nhóm người nghèo và đại diện cho một nhóm đông của tình hình kinh tế - xã hội thì việc tiếp cận tới các chính sách ASXH của người lao động trong khu vực phi chính thức còn rất hạn chế Ngân hàng phát triển Châu Á ước tính rằng ở Indonesia,

tỷ lệ dân số được bao phủ bởi một trong trong các chính sách ASXH không vượt quá 20% Indonesia không thực hiện chính sách hưu trí đầy đủ cho người lao động trong khu vực chính thức mà chỉ là trợ cấp tuổi già, tương tự như tài khoản tiết kiệm cá nhân và được trả một lần sau khi người lao động đến độ tuổi được hưởng, chỉ có công chức viên chức chính phủ mới được hưởng lương hưu

Theo các quy định hiện tại, nhân viên Chính phủ và quân đội đóng 4,75% của thang bảng lương tháng vào chính sách lương hưu và Chính phủ đóng khoảng 20% Tuổi nghỉ hưu theo quy định của chính sách này từ 56-60 tuổi phụ thuộc vào vị trí công tác Tuy nhiên, công chức, viên chức Chính phủ

ở tuổi 50 mà đã có ít nhất 20 năm đóng bảo hiểm có thể nghỉ hưu sớm Lương hưu ước tính chiếm 2,5% của tháng lương cuối cùng trong mỗi năm phục vụ

và mức tối đa là 80% Mức trợ cấp được tăng hàng năm cùng với sự thay đổi của tiền lương

Độ bao phủ của hệ thống ASXH đối với người lao động trong khu vực chính thức chỉ giới hạn đối với các cơ sở có số lượng trên 10 nhân viên hoặc thang bảng lương của cơ sở ít nhất phải đạt 1 triệu rupi Tuy nhiên, Chính phủ Indonesia cũng đang cố gắng mở rộng độ bao phủ tới cả doanh nghiệp nhỏ hơn cũng như một vài công ty trong khu vực không chính thức Độ bao phủ của chính sách đối với lao động tự làm chỉ mang tính chất tự nguyện Đối với nhóm lao động trong các công ty hoạt động trong khu vực phi chính thức, mức đóng góp được chia ra cho cả người lao động (2% của lương tháng) và chủ sử dụng lao động (3,7% của lương tháng) (theo ADB, 2007) Tuổi được

Trang 37

hưởng là 55 tuổi đối với cả nam và nữ trong khi không cần thiết phải nghỉ hưu

ở độ tuổi này Ngoài ra, mức trợ cấp có thể bị giới hạn và không có mức tuổi tối đa cho mức giới hạn này Mức trợ cấp được trả một lần bao gồm tất cả mức đóng của người lao động và chủ sử dụng lao động cộng thêm với lãi suất tích lũy Ngoài ra, trợ cấp có thể được trả theo thời kỳ (đôi khi còn được gọi

là lương hưu) cho người tham gia bảo hiểm với mức tài khoản là trên 50 triệu rupi

 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Nhật Bản là quốc gia có tốc độ già hóa nhanh nhất Theo số liệu thống

kê năm 2009, tuổi thọ cao nhất của phụ nữ là 86 và của nam giới là 80 Ngoài

ra, Nhật Bản là quốc gia có tỷ lệ người già cao nhất với số người ở độ tuổi trên 65 chiếm hơn 23% tổng dân số cả nước Ước tính đến năm 2030, cứ 3 người Nhật Bản thì có 1 người cao tuổi và 1/5 dân số sẽ ở độ tuổi trên 75 Bên cạnh sự cải thiện đáng kể về sức khỏe và tuổi thọ, tỷ lệ sinh đang giảm cũng

là yếu tố chính tạo nên một xã hội đang già hóa Tỷ lệ sinh năm 2009 là 1,27, khá thấp so với mức sinh thay thế

Trái ngược với tình hình trên, hệ thống ASXH của Nhật Bản đã liên tục được cải cách để phù hợp với sự chuyển dịch nhân khẩu học trong xã hội Trong khi Nhật Bản đã đạt được độ bao phủ toàn diện về lương hưu và y tế cho người dân vào những năm 1961, chính sách về chăm sóc dài hạn là trách nhiệm của con cái của các bậc cha mẹ mới chỉ được cải cách vào năm 2000

Kể từ đó, cứ mỗi người già trên 65 tuổi, bất kể thuộc gia đình có điều kiện kinh tế hay không, có nhu cầu về vật chất hay tinh thần, đều có thể nhận được các dịch vụ chăm sóc tại bệnh viện, ở cộng đồng hoặc tại nhà do thuế chi trả

Về các quy định của lương hưu, hệ thống lương hưu của Nhật Bản được chia thành ba cấp độ Cấp độ thứ nhất bao gồm lương hưu cơ bản do Chính phủ quản lý, có mức độ bao phủ toàn diện Mức đóng góp vào chính sách này

là bắt buộc đối với toàn dân ở độ tuổi từ 25 đến 59 tuổi và tự nguyện đối với những người sống ở nước ngoài có độ tuổi từ 20-64 (hoặc đến 69 tuổi trong những trường hợp đặc biệt) Các mức đóng góp được quy định theo mức sàn

Trang 38

là 15,100 Yên (từ tháng 4/2010 đến tháng 3/2011) Những người có thu nhập thấp, đối tượng hưởng lợi của chương trình lương hưu quốc gia cho người khuyết tật và những người nhận trợ cấp sinh kế không phải đóng góp vào chính sách này Trong hệ thống lương hưu quốc gia, những người trên 65 tuổi

đã tham gia bảo hiểm ít nhất là 25 năm có thể nhận mức trợ cấp cơ bản Mức trợ cấp đầy đủ chỉ được trả cho người tham gia nếu họ đóng bảo hiểm ít nhất

là 40 năm Các khoản cụ thể của lương hưu được tính theo chu kỳ đóng và mức lương hưu đầy đủ là 792,100 Yên/ 1 năm (Viện nghiên cứu dân số và An sinh xã hội Nhật Bản, 2011)

Theo chính sách liên quan đến việc làm, chủ sử dụng lao động và người lao động phải đóng mức 7.85% mức lương tháng (từ tháng 9/2009 đến tháng 8/2010 bao gồm lương và các khoản hoa hồng trước thuế) với mức lương cơ bản để tính mức đóng góp khởi điểm là 98.000 Yên và mức tối đa là 620.000 Yên Các mức đóng này được điều chỉnh theo mức tăng của lương bình quân

cả nước Các chi phí quản lý của chính sách này do chính phủ chi trả thông qua doanh thu tổng Với mức trợ cấp phụ thuộc vào mức đóng góp, mức tuổi được hưởng là 60 đối với người có mức đóng góp tối thiểu là 25 năm Tuổi quy định sẽ được tăng lên 65 đối với phụ nữ vào năm 2025 và đối với nam giới vào năm 2030

Cấp độ thứ ba bao gồm quỹ lương hưu lựa chọn cho các tập đoàn tư nhân (chủ sử dụng lao động) cung cấp cho nhân viên của họ hoặc quỹ lương hưu quốc gia tập trung cho lao động tự làm do chính phủ là người đứng ra chi trả Đối với quỹ lương hưu do tập đoàn tư nhân chi trả mức đóng góp cố định rơi vào khoản từ 5.500 đến 16.910 Yên/ 1 tháng Trong cả hai trường hợp, tuổi được hưởng lương hưu quy định là 65 tuổi và mức hượng được tính dựa trên mức đóng góp theo phần trăm của thang bảng lương hay theo hình thức mức phí trần (Viện nghiên cứu dân số và An sinh xã hội Nhật Bản, 2011)

 Kinh nghiệm của Cộng hòa liên bang Đức

Đức là quốc gia có mức thu nhập cao ở Châu Âu, dân số là 81.9 triệu người (theo cơ quan Thống kê Đức, 2012) Dân số Đức có đặc điểm là tỷ lệ

Trang 39

sinh bằng 0 hoặc đang bị giảm nên dân số của Đức là dân số già Bảo hiểm tuổi già đã được áp dụng vào các thập kỷ cuối của thế kỷ 19 Bảo hiểm lương hưu nhà nước là một trụ cột của hệ thống BHXH theo luật pháp của Đức Các trụ cột khác là BHYT, bảo hiểm chăm sóc lâu dài, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm tai nạn Người dân Đức cũng được hưởng lợi từ các chính sách lương hưu nghề nghiệp tự nguyện và các chính sách lương hưu tư nhân Các chính sách này được thực hiện chủ yếu nhờ các nguồn thu từ thuế

Tất cả người lao động làm việc trong khu vực phi chính thức phải đóng góp vào quỹ bảo hiểm nhà nước bắt buộc chỉ trừ cán bộ công chức, viên chức được nhận lương hưu do thuế chi trả

Bảo hiểm lương hưu Bang bắc buộc được vận hành dựa trên mô hình tự chi Việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu từ mức hiện tại là 65 lên tới 66 vào năm

2023 và 67 vào năm 2029 là một trong những biện pháp nhằm ứng phó với những tác động về biến động của nhân khẩu học

Bên cạnh vấn đề về tuổi, các yếu tố quyết định đối tượng hưởng lợi của Bảo hiểm Lương hưu Nhà nước bắt buộc là khả năng thu nhập giảm và vợ/chồng của người tham gia bảo hiểm bị chết Mức lương hưu phụ thuộc vào

số năm tham gia bảo hiểm và mức đóng Mức đóng hiện tại của người tham gia là 19,6% của tổng thu nhập và mức đóng này do cả chủ sử dụng và người lao động cùng đóng Giới hạn thu nhập để đánh giá mức đóng góp là 5.600 EUR đối với các bang thuộc Liên bang và Tây Đức; 4.800 EUR đối với các bang thuộc Liên bang mới

Những người cao tuổi có nhu cầu kinh tế mà không được chính sách lương hưu bao phủ thì nhận được một khoản trợ cấp tương đương với mức lương cơ bản dành cho những người chưa già có nhu cầu nhằm mục đích đảm bảo một mức thu nhập tối thiểu văn hóa xã hội dựa vào thuế cho người dân Gần 28 phần mười của 1% phụ nữ và 20 phần mười của 1% nam giới ở độ tuổi trên 65 hiện đang nhận mức trợ cấp cơ bản này

Trang 40

1.5.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của các nước được nêu ra ở trên bao gồm các mô hình được áp dụng cho nền kinh tế có mức thu nhập cao đến trung bình cũng như các nhóm đối tượng người dân và đặc điểm nhận khẩu học khác nhau Tuy nhiên, liên quan đến vấn đề nhân khẩu học và quy mô dân số, chỉ có một vài nghiên cứu chỉ ra rằng già hóa dân số đang là một xu thế chung và chỉ xảy ra

ở một số quốc gia có các mô hình ASXH tốt như ở Nhật Bản và Đức Bên cạnh trình độ kinh tế và đặc điểm dân số khác nhau, các quốc gia được nghiên cứu cũng có những khác nhau đáng kể trong hệ thống lương hưu và chế độ nghỉ hưu của họ Trong khi hầu hết các quốc gia phát triển dựa vào chính sách BHXH tự thu chi để đối phó với những nguy cơ có liên quan đến sự thiếu hụt thu nhập do tuổi già thì các quốc gia đang phát triển và mới nổi lên lại có các

hệ thống ASXH kém hoàn thiện hơn Trong khi người giàu trong các hệ thống này thiên về các nhà bảo hiểm tư nhân thì người nghèo và đặc biệt là người già nghèo vẫn không nhận được bất kỳ hình thức TCXH nào

Trong bối cảnh khi sự bất bình đẳng diễn ra ngày càng trầm trọng hơn, Trung Quốc phải đối mặt với các khoảng cách kinh tế rất lớn giữa nhóm dân

số nông thôn và thành thị Để thu hẹp khoảng cách này, Trung Quốc bắt đầu thử nghiệm chương trình lương hưu xã hội ở nông thôn Với vài đánh giá học thuật của các chương trình thử nghiệm, các kết quả ban đầu ẩn chứa sự không đồng bộ của chương trình cho phép người già ở nông thôn có thể có mức sống bền vững

Bên cạnh những quốc gia được nghiên cứu ở trên, ở Châu Á, các quốc gia như Nepal, Ấn Độ, Thái Lan và Philippin cũng đã có những nỗ lực đáng

kể trong việc trợ cấp lương hưu không dựa vào đóng góp cho người dân Các chính sách được áp dụng ở các quốc gia trên sử dụng mô hình kiểm kinh tế để

hỗ trợ cho người già (ở độ tuổi từ 57 – 70 tuổi) với mức trợ cấp trần Mức trợ cấp này giao động khoảng 2-6.5 USD/ 1 tháng ở một số nơi ở Nepal tới 11 USD Một bài học thú vị cho chính sách Việt Nam đó là trong khi các chương trình lương hưu xã hội ở Châu Á hướng tới độ bao phủ và trợ cấp - tất cả các

Ngày đăng: 19/06/2016, 20:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quốc Anh, CN. Phạm Minh Sơn (2007), Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc người cao tuổi đang áp dụng, Đề tài cấp Bộ, Tổng cục dân số - Kế hoạch hóa gia đình 2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2010), Báo cáo tổng kết chương trình trợ giúp người cao tuổi giai đoạn 2006-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc người cao tuổi đang áp dụng", Đề tài cấp Bộ, Tổng cục dân số - Kế hoạch hóa gia đình 2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2010), "Báo cáo tổng kết chương trình trợ giúp người cao tuổi giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Nguyễn Quốc Anh, CN. Phạm Minh Sơn (2007), Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc người cao tuổi đang áp dụng, Đề tài cấp Bộ, Tổng cục dân số - Kế hoạch hóa gia đình 2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Năm: 2010
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam (2014), Tổng quan thực trạng và đề xuất chính sách TGXH đối với người cao tuổi từ 75-80, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan thực trạng và đề xuất chính sách TGXH đối với người cao tuổi từ 75-80
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam
Năm: 2014
4. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam (2015), Báo cáo kết quả khảo sát 5 năm thực hiện Luật Người cao tuổi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả khảo sát 5 năm thực hiện Luật Người cao tuổi
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam
Năm: 2015
5. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2015), Tờ trình số 59/TTr- BLĐTBXH ngày 14/8/2015 đề nghị phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờ trình số 59/TTr-BLĐTBXH ngày 14/8/2015 đề nghị phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Năm: 2015
7. Cục Bảo trợ xã hội (2014), Báo cáo rà soát pháp luật, chính sách trợ giúp xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo rà soát pháp luật, chính sách trợ giúp xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Cục Bảo trợ xã hội
Năm: 2014
8. Mai Ngọc Cường (Chủ nhiệm đề tài, 2009), Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006-2015, Đề tài cấp Nhà nước 2009, Chương trình KH và CN trọng điểm cấp Nhà nước, Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006-2015
9. Nguyễn Anh Dũng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn Huyền, Phạm Văn Sáng (2009), Lý thuyết và mô hình an sinh sã hội (phân tích thực tiễn ở Đồng Nai), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết và mô hình an sinh sã hội (phân tích thực tiễn ở Đồng Nai)
Tác giả: Nguyễn Anh Dũng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn Huyền, Phạm Văn Sáng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
10. Đàm Hữu Đắc (2010), Chính sách phúc lợi xã hội và phát triển dịch vụ xã hội: Chăm sóc người cao tuổi trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập, NXB Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phúc lợi xã hội và phát triển dịch vụ xã hội: Chăm sóc người cao tuổi trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập
Tác giả: Đàm Hữu Đắc
Nhà XB: NXB Lao động - xã hội
Năm: 2010
11. Nguyễn Thị Thu Hương (2013), Nhu cầu trợ giúp của người cao tuổi tại cộng đồng, Luận văn Thạc sĩ Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu trợ giúp của người cao tuổi tại cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hương
Năm: 2013
12. Phạm Vũ Hoàng (2013), Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam
Tác giả: Phạm Vũ Hoàng
Năm: 2013
13. Lê Ngọc Lân (2010), Một số vấn đề cơ bản về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Đề tài Khoa học cấp Bộ, Viện nghiên cứu Gia đình và Giới, Viện Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Tác giả: Lê Ngọc Lân
Năm: 2010
16. Phạm Thắng - Đỗ Thị Khánh Hỷ (2009), Báo cáo tổng quan về chính sách chăm sóc người già thích ứng với thay đổi cơ cấu tuổi tại Việt Nam, Viện Lão khoa quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng quan về chính sách chăm sóc người già thích ứng với thay đổi cơ cấu tuổi tại Việt Nam
Tác giả: Phạm Thắng - Đỗ Thị Khánh Hỷ
Năm: 2009
17. Nguyễn Ngọc Toản (2011), Xây dựng và hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở Việt Nam, NXB. Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Toản
Nhà XB: NXB. Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2011
18. Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, Hà NộiTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2015
19. Naoko Muramatsu and Hiroko Akiyama, Japan: Super-Aging Society Preparing for the Future, The Gerontologist Volume 51, Issue 4 Pp. 425-432 http://gerontologist.oxfordjournals.org, Accepted May 24, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Japan: Super-Aging Society Preparing for the Future
6. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2011), Nghị định số 06/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người cao tuổi Khác
15. Quỹ Dân số Liên hợp quốc (2011), Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Phân bố % NCT đƣợc khảo sát theo tình trạng - Hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay
Bảng 2.1. Phân bố % NCT đƣợc khảo sát theo tình trạng (Trang 44)
Bảng 2.2. Chi tiêu lương thực bình quân NCT chia theo - Hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay
Bảng 2.2. Chi tiêu lương thực bình quân NCT chia theo (Trang 46)
Bảng 2.5. Phân bố (%) NCT đƣợc cho biết về ý nghĩa của khoản TCXH - Hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay
Bảng 2.5. Phân bố (%) NCT đƣợc cho biết về ý nghĩa của khoản TCXH (Trang 53)
Hình 2.1 . Thủ tục thực hiện TCXH hàng tháng cho người cao tuổi - Hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay
Hình 2.1 Thủ tục thực hiện TCXH hàng tháng cho người cao tuổi (Trang 56)
Hình 2.3. Mức chuẩn TCXH so với mức lương tối thiểu - Hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay
Hình 2.3. Mức chuẩn TCXH so với mức lương tối thiểu (Trang 59)
Bảng 3.1. So sánh mức các phương án chuẩn trợ cấp với các chính sách - Hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay
Bảng 3.1. So sánh mức các phương án chuẩn trợ cấp với các chính sách (Trang 82)
Hình 3.1. Sơ đồ quy trình ra quyết định chính sách TCXH - Hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay
Hình 3.1. Sơ đồ quy trình ra quyết định chính sách TCXH (Trang 86)
BẢNG KHẢO SÁT - Hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay
BẢNG KHẢO SÁT (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w