Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài:Nghiên cứu về KNDH số và các phép tính đã có một số công trình nghiên cứu, đề cập dưới các góc độ khác nhau, trong đó đáng chú ý là công trình của T
Trang 1HÀ NỘI - 2014
CAO THỊ THU HÀ
PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG DẠY HỌC
số VÀ CÁC PHÉP TÍNH Ở LỚP 2
THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO
DỤC
Trang 2HÀ NỘI - 2014
CAO THỊ THU HÀ
PHÁT TRIỀN KĨ NĂNG DẠY HỌC
số VÀ CÁC PHÉP TÍNH Ở LỚP 2
THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI
CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC (GIÁO DỤC TIỂU HỌC)
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS vũ QUỐC CHUNG
Trang 31 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3
7 Những điểm mới, ý nghĩa khoa học của luận văn 5
Chương 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG
DẠY HỌC SỐ VÀ CÁC PHÉP TÍNH Ở LỚP 2 THEO MÔ HÌNH 6
TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN)
1.3 Thực trạng phát triển kĩ năng dạy học số và các phép 31 tính
ở lóp 2 -VNEN Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG DẠY HỌC SỐ VÀ CÁC PHÉP TÍNH Ở LỚP 2 THEO
2.1 Hướng dẫn GV tổ chức cho học sinh tự học cá nhân
2.1.1 Sự cần thiết phải tổ chức cho HS tự học cá nhân thông qua
2.1.2 Tổ chức cho HS tự học cá nhân thông qua các hoạt động
2.1.3 Tác dụng của việc tổ chức cho HS tự học cá nhân thông
2.2 Hướng dẫn GV tổ chức cho học sinh hoạt động học nhóm thông qua các hoạt động trải nghiệm
Trang 4hoạt động trải nghiệm trong mô hình VNEN 462.2.3 Tác dụng của việc tổ chức cho học sinh hoạt động học
nhóm thông qua các hoạt động trải nghiệm - VNEN 52
trong quá trình dạy học để giúp cho học sinh phát triển
kĩ năng làm toán về số và các phép tính 52
2.3.1 Một số vấn đề về đánh giá kết quả học tập của HS theo
2.3.2 Một số gợi ý cụ thể về hoạt động đánh giá kết quả học tập
Ket luận chương 2 60
3.1 Mô tả thử nghiệm
3.1.2
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ quá báu của các Thầy cô, đồng nghiệp và các em học sinh Với lòng biết ơn chân thành và sâu sẳc, tôi xin gửi tới:
Thầy PGS.TS Vũ Quốc Chung - người Thầy kỉnh mến đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, động viên và tạo mọi thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn Thạc sĩ;
Tôi xỉn cảm ơn các Thầy cô phòng Sau Đại học - trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thanh Luận văn;
Xỉn chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và học sinh trường Tiểu học Đồng Tâm, trường Tiểu học Trưng Trắc quận Hai Bà Trưng, trường tiểu học Phúc Tân quận Hoàn Kiểm, trường Tiểu học Trung Tự quận Đổng Đa những ngôi trường dạy học theo mô hình trường học mới và hiện hành - đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình khảo sát và thực nghiệm Luận văn.
Tôi cũng xỉn bày tỏ sự biết ơn sâu sẳc đến gia đình và đồng nghiệp - những người luôn động viên, khuyến khích và giúp đỡ về mọi mặt để tôi có thế hoàn thành Luận văn của mình.
Hà Nội, tháng 12 năm 2014Tác giả luận văn
Cao Thị Thu Hà
Trang 6Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là khách quan, trung thục và khôngtrùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sụ giúp đỡ choviệc thục hiện luận văn này đã đuợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trongluận văn đã đuợc chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 12 năm 2014Tác giả luận văn
Cao Thị Thu Hà
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế đangđặt ra cho ngành giáo dục nước ta một nhiệm vụ hết sức nặng nề, đó là đào tạo mộtlóp người có đủ phẩm chất và năng lực thích ứng với nền kinh tế thị trường, thamgia phát triển kinh tế, văn hoá xã hội một cách bền vững Để đạt được mục tiêu đó,ngành giáo dục cần phải đổi mới toàn diện, triệt để cả về nội dung, chương trình,phương pháp và hình thức giáo dục đào tạo
Vấn đề đổi mới giáo dục đã được đưa vào nghị quyết của các Đại hội Đảng
IX, X, XI Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng 8, khóa XI, đã thông qua
Nghị quyết 29 “về đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện Kinh tế thị trường định hướng
Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”
Một trong những đổi mới trong giai đoạn hiện nay là triển khai mô hìnhtrường học mới (VNEN) vào các trường Tiểu học trên toàn quốc, tập trung ở lóp 2,
3 và 4 Đây là một trong mô hình dạy học hiện đại được nhiều nước tiên tiến trênthế giói áp dụng từ lâu và mang lại hiệu quả cao trong giáo dục Mô hình nàyhướng tới việc đáp ứng các yêu cầu của đổi mới PPDH Do đó, việc triển khai môhình này là yêu cầu mang tính cấp thiết cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn ởnước ta hiện nay, phù họp với xu thế đổi mới giáo dục của khu vực, thế giới, là cơ
sở quan trọng để nước ta có thể hội nhập quốc tế
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học đóng vai trò là bậc họcnền tảng, cơ sở cho việc đào tạo con ngưòi toàn diện Cùng với môn Tiếng Việt,môn Toán có vị trí hết sức quan trọng Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở tiểuhọc có nhiều ứng dụng trong đời sống; chúng rất cần thiết cho người lao động, rấtcần thiết để học tốt các môn học khác ở Tiểu học và chuẩn bị cho việc học tốt mônToán ở bậc trung học; Môn toán giúp HS nhận biết những mối quan hệ về số lượng
Trang 9và hình dạng không gian của thế giói hiện thực; góp phần rất quan trọng trong việcrèn luyện phương pháp suy nghĩ, giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thôngminh Những thao tác tư duy có thể rèn luyện cho HS qua môn Toán bao gồm phântích tổng họp, so sánh, tương tự, KQH, TTH, cụ thể hoá, đặc biệt hóa Các phẩmchất trí tuệ có thể rèn luyện cho HS bao gồm: tính độc lập, tính linh hoạt, tínhnhuần nhuyễn, tính sáng tạo.
Đặc biệt, nội dung toán liên quan đến số và các phép tính là mảng kiến thức
trọng tâm nhất trong bốn mảng kiến thức toán cơ bản ở Tiểu học nói chung Thôngqua mảng kiến thức này, HS có kĩ năng đọc, viết, so sánh tập họp số tự nhiên, sốhữu tỉ và thực hành các phép toán cộng, trừ, nhân, chia trên 2 tập số đó Các mảngkiến thức còn lại (Đại lượng và đo đại lượng, Các yếu tố hình học, số và các phéptính có lời văn) đều được xây dựng xoay quanh mạch kiến thức trọng tâm này,củng cổ thêm cho mảng kiến thức này
Tuy nhiên, để có thể thực hiện tốt các mục tiêu dạy học toán nói chung và tổ
chức có hiệu quả việc dạy học mảng kiến thức số và các phép tính theo mô hình
Trường học mới VNEN nói riêng thì yêu cầu trước tiên có tính chất quyết định đốivới người GV (GV) là phải nâng cao hơn nữa kỹ năng dạy học mảng kiến thức đó.Trên thực tế, một GV nếu chỉ có tri thức thì chỉ gọi là “thợ dạy”, và khi nào họ có
kỹ năng sư phạm cũng như bộc lộ hệ thống kỹ năng ấy một phù họp vào thực tiễngiáo dục mới gọi là “Thầy” Một GV giỏi phải có hệ thống kỹ năng sư phạm đượcchuyên môn hóa cao, sâu sắc và luôn thích ứng với nhiều hoàn cảnh khác nhau.Ngoài việc chú trọng rèn luyện phương pháp dạy học, GV cần có khả năng truyềnlửa, kỹ năng tổ chức những hoạt động tương tác với HS, kỹ năng sáng tạo trongphương pháp giảng dạy, kỹ năng quản lý đội, nhóm Với những lý do trên, tôi đã
lựa chọn nghiên cứu đề tài “Phát triển KNDH số và các phép tính ở ỉớp 2 theo
mô hình trường học mới” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Khoa học giáo dục của mình.
Trang 102 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu về KNDH số và các phép tính đã có một số công trình nghiên cứu, đề cập dưới các góc độ khác nhau, trong đó đáng chú ý là công trình của Trần
Thị Thu Hồng với đề tài “Góp phần nâng cao chất lượng dạy học số học trong
môn Toán lóp 4 theo hướng dạy học phù họp vói đối tượng HS trên cơ sở
chuẩn kiến thức kĩ năng” (2010); Vũ Thị Lan với đề tài “Một số biện pháp
nâng cao hiệu quả hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
theo hướng tích họp” (2011); Đặng Thị Thanh Nhàn với đề tài “Vấn đề suy
luân trong day hoc số tư nhiên ở Tiểu hoc” (2004);
Qua các công trình nghiên cứu trên cho thấy, các tác giả đã đề cập đến
KNDH Số và các phép tính với những đối tượng khác nhau như cho HS tiểu học,
HS mầm non Các công trình trên đã giải quyết được một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về KNDH số và các phép tính ở những khía cạnh khác nhau, nhưng chưa
có một công trình nào đề cập một cách sâu sắc, toàn diện và có hệ thống về phát
triển KNDH số và các phép tính ở lóp 2 theo Mô hình trường học mới VNEN Do
đó, việc nghiên cứu một cách đầy đủ cả trên phương diện lý luận và thực tiễn cũng
như đưa ra những giải pháp nhằm phát triển KNDH số và các phép tính ở lóp 2
theo mô hình trường học mới là một yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay, gópphần hoàn thiện lý luận và đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra cho việc triển khai môhình trường học mới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 11được KNDH số và các phép tính ở lóp 2 theo mô hình trường học mới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu: Đe đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết
những nhiệm vụ chính sau đây:
- Nghiên cứu văn bản, tài liệu liên quan đến phát triển KNDH số và các phép tính
ở lóp 2 theo mô hình trường học mới;
- Thu thập tài liệu, số liệu phản ánh tình hình phát triển KNDH số và các phéptính ở lóp 2 theo mô hình trường học mới;
- Điều tra, khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng phát triển KNDH số và cácphép tính ở lóp 2 theo mô hình trường học mới;
- Trên cơ sở nghiên cứu đưa ra những giải pháp và đề xuất nhằm phát triển KNDH
Số và các phép tính ở lóp 2 theo mô hình trường học mới
4 Giả thuyết khoa học:
Nếu hướng dẫn GV tổ chức cho HS lóp 2 học Toán thông qua hoạt động trải
nghiệm của cá nhân và nhóm, kết hợp với kiểm tra đánh giá thì góp phần phát triển
được KNDH số và các phép tính ở lóp 2 của GV trong mô hình trường học mớiVNEN
5 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lý luận về phát triển KNDH số và các phép tính ở môn
Toán lóp 2 theo mô hình trường học mới
- Phạm vi nghiên cứu: Thực tiễn phát triển KNDH sổ và các phép tính ở lóp 2
theo mô hình trường học mới tại một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố HàNội trong thời gian từ năm 2009 đến 2014
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình hoàn thiện luận văn sử dụng một số phương pháp nghiêncứu cụ thể như: phân tích; tổng hợp; so sánh; đối chiếu, toạ đàm; trao đổi; sử dụngtài liệu, báo cáo của một số ngành có liên quan như của một số trường tiểu học trênđịa bàn thành phố Hà Nội về mô hình trường học mới
Trang 127 Những điểm mói, ỷ nghĩa khoa học của luận văn
Luận văn đã phân tích, làm rõ đặc trưng rèn luyện dạy học số và các phép
tính ở lóp 2 mô hình trường học mới VNEN, đồng thời luận văn cũng làm rõ
những vấn đề lý luận về mô hình trường học mới Luận văn đã đánh giá thực trạng
tình hình phát triển KNDH số và các phép tính ở lóp 2 theo mô hình trường học
mới VNEN Trên cơ sở đó, luận văn đã đề ra một số giải pháp có tính khoa học góp
phần phát triển KNDH số và các phép tính ở lóp 2 theo mô hình trường học mới
Kết quả nghiên cứu là nguồn tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứukhoa học và công tác giảng dạy trong các trường tiểu học trên địa bàn thành phố HàNội và các địa phương khác khi triển khai dạy học theo mô hình trường học mới
8 Cấu trúc của đề tài
Đề tài được cấu trúc gồm 3 phần:
- Phần mở đầu;
- Phần nội dung: Được chia làm 3 chương:
+ Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển KNDH số và các
phép tính ở lớp 2 theo mô hình trường học mới
+ Chương 2: Các biện pháp nhằm phát triển KNDH số và các phép tính ở môn
Toán lóp 2 theo mô hình trường học mới
+ Chương 3: Một số biện pháp kiểm nghiệm, đánh giá hiệu quả của các biện pháp
nhằm góp phần phát triển KNDH số và các phép tính ở lóp 2 theo mô hình trường
Trang 13THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN)
1.1 Cơ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Kĩ năng
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về kĩ năng và đưa ra nhiềukhái niệm khác nhau về nó Tuy các tác giả đưa ra những quan điểm khác nhau,nhưng nổi lên hai khuynh hướng cơ bản sau:
Khuynh hướng thứ nhất: Xem xét kĩ năng nghiêng về mặt kĩ thuật của hành
động Đó là quan điểm của các tác giả Hoàng Phê Từ điển Tiếng Việt), V.A.
Krutecki (V.A.Kruteki - Tâm lí năng lực toán học của HS - NXBGD, 1973, Trần Trọng Thủy Ợâm li học lao động - NXBGD, 1978) Theo các tác giả này, kĩ năng
là phương tiện thực hiện hành động mà con người nắm vững Con người có kĩ năng
là người nắm được tri thức về hoạt động đó và thực hiện hoạt động đó theo đúngyêu cầu của nó mà không cần tính đến kết quả của hành động
Khuynh hướng thứ hai: Xem xét kĩ năng nghiêng về năng lực của con
người Đó là quan niệm của các tác giả N.Đ Levitop (Gãy hứng thú học Toán cho
HS như thế nào:), K.K.Platonop, G.G.Goolubev {Tâm lí học - NXBGD,1997),
Nguyễn Quang Ẩn, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Ánh Tuyết Theo quan điểm này, kĩnăng thể hiện khả năng thực hiện một hành động có kết quả với chất lượng cầnthiết và với thời gian tương ứng trong điều kiện xác định
Như vậy, khác với khuynh hướng thứ nhất, các tác giả theo khuynh hướngthứ hai xem xét kĩ năng không chỉ đon thuần mà là mặt kĩ thuật của hành động màcòn là biểu hiện năng lực Các tác giả còn chú ý đến cả kết quả của hành động
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, chúng tôi sử dụng khái niệm kĩ năng
theo khuynh hướng thứ hai Theo GS.TS Nguyễn Quang Ẩn: “Kĩ năng là khả năng
của con người thực hiện một cách cỏ hiệu quả một hành động hay một hoạt động nào đỏ để đạt được mục đích đã xác định bằng cách lựa chọn và áp dụng những
cách thức hành động phù hợp với điều kiện thực tiễn cho phép”,
Trang 14Khái niệm kĩ năng này tương đối chính xác vì: Tri thức là nền tảng của kĩnăng và bất cứ một hành động nào cũng có những mục đích nhất định Quá trìnhcon người tiến hành hành động là quá trình con người tiến hành thực hiện một hệthống thao tác theo một trật tự nhất định Và để hành động có kết quả, con ngườiphải có những tri thức cần thiết về mục đích của hành động, về cách thức hànhđộng đi đến kết quả, những điều kiện cần thiết để triển khai cách thức hành động
đó Nhưng chỉ có tri thức cần thiết thì chưa đủ, con người phải biết vận dụng nhữngtri thức đó để thực hiện hành động có kết quả Chỉ khi nào con người hành động cókết quả thì lúc đó con người mới được gọi là có kĩ năng về hành động đó
1.1.2.2 Đặc trưng của kĩ năng dạy học
- KNDH biểu hiện mặt kỹ thuật của hành động giảng dạy và mặt năng lực
giảng dạy của mỗi người dạy Có KNDH nghĩa là có năng lực giảng dạy ở
Trang 15- Đặc trưng của KNDH cơ bản là chúng có liên hệ mật thiết với chất lượng và kết quả dạy học; có những hình thái phát hiển liên tục trong suốt thời gian làm công tácdạy học ở nhà trường; có tính khả thi, thiết thực đối với người dạy trong điều kiện dạy học hiện nay.
Các KNDH Tiểu học cơ bản:
1.1.2.3 Kĩ năng dạy học sổ và phép tỉnh ở môn Toán lớp 2 - VNEN:
Dựa trên quan điểm đã được trình bày về kĩ năng, chúng tôi hiểu KNDH
Số và phép tính ở môn Toán lóp 2 như sau:
“KNDH “Số và Phép tính ở môn Toán lóp 2” là khả năng của người dạy(GV) vận dụng một cách có kết quả những kiến thức và kinh nghiệm dạy Toán đã
có vào trong quá trình dạy học những nội dung đó, nhằm giúp HS chiếm lĩnh kiếnthức số và phép tính, hình thành kĩ năng học tập và ứng dụng những kiến thức, kĩnăng đã được học vào thực tế”
* Những biểu hiện của KNDH số và phép tính ở môn Toán lóp 2 VNEN
Trang 16Người GV được gọi là có KNDH số và Phép tính phải đảm bảo một số yêu cầu sau:
- về kiến thức: Nắm chắc kiến thức về dạy học Tập hợp số và các Phép
Xuất phát điểm từ một sinh viên chưa biết về quy trình hay phương pháp
để dạy học số và các phép tính Khi hướng dẫn cho HS số và các phép tính sẽ nóihết những gì mình biết, chỉ cho HS cần phải làm những gì để giải bài đó
Đôi khi là vô tình đã nói cho HS kết quả của bài toán Làm như vậy HS chỉ có thểhiểu bài toán cụ thể đó nhưng khi gặp những bài toán tương tự có thể lại phải nhờđến sự giúp đỡ của người khác mà không thể tự giải
Sau khi đã được học, nắm được quy trình dạy học số và các phép tính thì
GV sẽ đi đúng hướng hơn trong việc hướng dẫn HS tìm ra cách giải bài cho bàitoán Tuy nhiên, một vấn đề lớn có thể gặp phải khi GV chỉ dừng lại ở mức độ biếtcách dạy, đó là sa vào việc nói nhiều, hướng dẫn HS quá chi tiết Từ những việc dễcho đến nhưng bước khó GV đều can thiệp hướng dẫn HS mà không để các em tựsuy nghĩ, tự tìm cách giải quyết Điều đó sẽ làm cho HS phụ thuộc vào GV, làmviệc gì cũng lưỡng lự không biết đúng hay sai, và cần đến sự giúp đỡ của ngườikhác
Khi đã có kinh nghiệm, dần dần GV sẽ hình thành kĩ năng dạy học số và cácphép tính GV không còn nói nhiều, hướng dẫn cụ thể chi tiết nữa mà có sự địnhhướng rõ ràng để HS từ đó tự tìm cách giải quyết bài toán Những bước làm dễ GVchỉ hướng dẫn lần đầu còn những lần làm bài sau để HS tự làm Ví dụ như bước:đọc đề bài, xác định các dự liệu của đề bài,tóm tắt bài toán GV sẽ chỉ giúp đỡ HS
Trang 17khi gặp khó khăn trong việc xác định dạng toán và tìm cách giải Hơn nữa, việc đặtcâu hỏi của GV khi có kỹ năng cũng sẽ được cải thiện đáng kể, những câu hỏi ngắnngọn, dễ hiểu, đi đúng hướng mà không cho HS sẵn cách giải.
Trên cơ sở kỹ năng sẵn có, GV sẽ phát triển được kỹ năng dạy học số và cácphép tính của mình Một GV có sự phát triển trong kỹ năng dạy học số và các phéptính thì thường thể hiện qua những việc làm sau:
* Biết hướng dẫn cho HS nhận diện được các dạng toán theo từng chủ
Để phát triển kĩ năng, GV phải thường xuyên tiến hành trên lóp để cô vàtrò tạo thành thói quen sử dụng đồ dùng trực quan
Chủ đề 2: Phép cộng và phép trừ có nhớ trong phạm vi 100
- Dạng 1: Cộng cỏ nhớ trong phạm vi 20 (thành lập các bảng cộng)
- Dạng 2: Thực hiện tính cộng cỏ nhớ (trongphạm vi 1000)
Ví dụ: Em nghe thầy/cô hướng dẫn cách đặt tính và tính 49+25
GV phải giúp HS hiểu rằng bảng hướng dẫn thực hiện các bước tính đưa ra mộtquá trình gồm 3 bước, bước đầu tiên: đặt tính (viết các chữ số thẳng cột), bước thứhai: cộng các số ở hàng đon vị, bước thứ ba: cộng các số ở hàng chục
GV phải biết kết họp hướng dẫn HS đối chiếu từng bước tính ghi trong hướng dẫnvới quá trình tính thực trên bảng Cách làm như sau:
- GV cho HS đọc đoạn hướng dẫn đầu, đồng thời thể hiện nó bằng cách đặt tínhtrên bảng
Trang 18- Tiếp đó, GV cho HS quan sát, đọc hướng dẫn thứ hai (9 cộng 5 bằng 14, viết 4nhớ 1), đồng thời GV viết kết quả lên bảng (viết 4 thẳng cột với 5 và 9)
- Cuối cùng GV cho HS đọc hướng dẫn cuối, GV nêu cách nhớ: ’’thêm 1 bằng 7”
và GV viết nốt số 7 thẳng cột với 4 và 2 ở hàng chục trên bảng
Việc làm này của GV sẽ giúp HS có thể hiểu dễ dàng các hướng dẫn tương tự ởphần tiếp theo Trong các bài sau, HS có thể tự đọc hướng dẫn, thảo luận trongnhóm và tự làm theo hướng dẫn, và dần dần HS có thể độc lập tự thực hiện cácphép tính mà không cần đọc hướng dẫn
- Dạng 3: Trừ có nhớ (Trong phạm vi 20)
- Dạng 4: Thực hiện phép trừ cỏ nhớ (trongphạm vi ỉ00)
Tương tự với các bài thực hiện tính cộng có nhớ, mức độ tự học trừ có nhớcủa HS được tăng dần Với bài đầu tiên 51-15, GV phải hướng dẫn kĩ cho HS nắmđược các bước: đọc hướng dẫn, viết trên bảng theo từng bước hướng dẫn để HSthấy quá trình thực hiện phép trừ có nhớ
GV cần chú ý nhắc HS nhớ: Với phép trừ, chẳng hạn có 1 không trừ được cho 5, taphải lấy 11 (vay lchục ở hàng chục của số bị trừ )trừ 5 bằng 6, viết 6 nhớ 1, khi nhớthì nhớ thêm vào hàng chục của số trừ, có 1 thêm 1 bằng 2, 5 trừ 2 bằng 3, viết 3
đã biết để thành lập những phép tính còn lại
- Dạng 3: Tìm thừa sổ của phép nhân, tìm sổ bị chia
GV phải biết thông qua các trò chơi học tập để gợi động cơ học tập và ôn lại tên
Trang 19gọi các thành phần của phép nhân và phép chia GV có thể linh hoạt chọn và thayđổi trò chơi để tạo hứng thú, phát huy tính tích cự cho HS, tránh sự nhàm chán lặplại Các trò chơi phù hợp với loại bài này có thể sử dụng như: „ghép thẻ”, „Ainhanh, ai đúng”
Ngoài ra, một GV có sự phát triển trong kỹ năng dạy học số và các phép tínhcòn có những biểu hiện sau:
* Có kỹ năng đọc, viết, so sánh các số và thực hiện tính tốt
* Nắm vững quy trình dạy học, cách thức tổ chức các hoạt động dạy học
* Biết dạy đúng trọng tâm, tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn của HSđúng lúc, đúng chỗ
* Lường trước và có cách giải quyết tối ưu với những tình huống có thể xảy
ra trong quá trình dạy học cũng như quá trình lĩnh hội kiến thức, rèn kỹ năng đọc,viết, so sánh các số và thực hiện tính của HS
* Biết giúp HS phát huy được hết khả năng, sáng tạo Biết khơi gợi, pháttriển niềm dam mê toán học của HS
* Biết thông qua dạy học số và các phép tính để phát triển năng lực tư duy,rèn luyện phương pháp suy luận .cho HS
Ngoài ra, người GV phải có khả năng truyền đạt kiến thức Toán học mộtcách chính xác, tốc độ thực hiện hoạt động dạy học nhanh chóng, linh hoạt; Có khảnăng độc lập thực hiện công việc dạy học; Biết bố trí thời gian, sắp xếp công việcdạy học một cách khoa học, họp lí; Biết lựa chọn các phương tiện và phương phápdạy học khác nhau để thực hiện hành động dạy học trong thực tế một cách họp lí,
đa dạng; Biết đánh giá kết quả học tập của HS một cách chính xác theo đúng chuẩnkiến thức, kĩ năng
1.1.3 Phát triển kĩ năng dạy học:
I.I.3.I Phát triển:
Theo từ điển Triết học: Phát triển là một phạm trù dùng để khái quát quá
Trang 20trình vận động từ thấp tới cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến
hoàn thiện hơn (Giáo trình triết học Mác - Lê Nin, NXB Chính trị quốc gia, Hà
Nội)
- Theo từ điển Xã hội học: Phát triển là sự biến đổi hợp quy luật theophương hướng không thể đảo ngược, được đặc trưng bởi sự chuyển biến chấtlượng, bởi sự chuyển biến sang một trình độ mới Phát triển là đặc điểm cơ bản củavật chất, là nguyên tắc giải thích về sự tồn tại và hoạt động của các hệ thống bất
cân bằng, lưu động, biến đổi (Từ điển quản lý xã hội, NXB ĐHQG, Hà Nội)
- Theo tác giả Fran Emanuel Weinert: Phát triển là sự trải qua, tăng trưởnghay lớn lên tự nhiên, phân hoá hoặc tiến hoá tự nhiên với những thay đổi liên tục kế
tiếp nhau (Franz Emanuel Weinert (1998), Sự phát triển nhận thức học tập và giảng dạy, NXB Giáo dục, Hà Nội.)
Từ các định nghĩa trên cho ta thấy: Phát triển là một trường hợp đặc biệt
của sự vận động biểu hiện chiều hướng đi lên của các đổi tượng trong hiện thực khách quan, là quá trình chuyến hoá từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn (Dénommé Jean-Marc & Madeleine Roy (2000), Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác, NXB Thanh niên, Hà Nội.)
Nguyên nhân của sự phát triển là kết quả của quá trình tích luỹ đủ về lượngtạo ra sự thay đổi về chất, là biểu hiện của quy luật phủ định của phủ định tronghiện thực khách quan
1.1.3.2 Phát triển kĩ năng dạy học:
Phát triển KNDH là quá trình chuyển hóa kỹ năng dạy học của người GV từmức độ thấp đến mức độ cao hơn, từ mức độ đơn giản đến mức độ hoàn thiện hơn
Nguyên nhân của sự phát triển KNDH là kết quả của quá trình trải qua thực
tế giảng dạy, đúc rút và tích lũy kinh nghiệm cũng như không ngừng nâng cao vàbồi dưỡng kiến thức chuyên môn của bản thân người GV
Trang 211.1.3.3 Các giai đoạn phát triển kĩ năng:
Theo cách phân chia của Kixegof X.I, quá trình hình thành và phát triểnKNDH chia thành 5 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1 : Tiếp nhận sự hướng dẫn (bao gồm việc nhận biết mục đích,
ý nghĩa, yêu cầu và cách thức thực hiện hành động) (bắt chước)
- Giai đoạn 2: Diễn đạt quy trình, tái hiện hành động (làm được)
- Giai đoạn 3: Quan sát, nắm vững cách thức hành động (làm chính xác)
- Giai đoạn 4: Thực hiện thành thạo hành động một cách có ý thức (Làm thành
Có thể mô tả quá trình phát triển M năng nói chung bằng sơ đồ sau:
I.I.3.4 Biểu hiện của sự phát triển KNDH của ngưòi GV
Đối với người GV, quá trình hình thành và phát triển kĩ năng qua 5 giai đoạncũng được thể hiện cụ thể như sau:
Trang 22- Từ khi còn là Sinh viên ngồi trên giảng đường trường Sư phạm, thông qua việc nghiên cứu giáo trình, tài liệu học tập và thực hành sư phạm dưới sự hướng dẫn củaGiảng viên, KNDH của họ hình thành và dần phát triển từ giai đoạn 1 đến 2 (Bắt chước cách dạy học, Dạy học có sự hướng dẫn của GV)
Trang 23trường Sư phạm kết họp việc dạy học thực tế, trải qua những sai lầm, vấp váp
đã tự bổ sung kiến thức, trau dồi và phát triển KNDH của mình lên mức độ caohơn ( mức độ 3 - dạy đúng yêu cầu trong mọi hoàn cảnh, mọi đối tượng) Càngdạy học lâu năm, tích lũy nhiều kinh nghiệm dạy học thì người GV càng cónhiều kiến thức và càng thuần thục về kĩ năng, lúc này mức độ phát triển kĩnăng của họ có thể ở mức cao hoặc rất cao (ở mức 4, 5 - dạy hay, dạy giỏi,trong bất kì hoàn cảnh điều kiện nào, với bất kì đối tượng HS nào, xử lí tìnhhuống sư phạm khéo léo) Người GV được coi là GV dạy giỏi là người GV cómức độ phát triển ở mức 5 Đây là điều mà bất cứ người GV nào cũng đangphấn đấu
Có thể mô tả quá trình phát triển KNDH bằng sơ đồ sau:
Người xưa có câu “Thầy già, con hát trẻ” - đây là câu nói phản ánh kháđúng thực tế trên Tuy nhiên, không phải cứ dạy lâu năm là trở thành GV giỏi,cũng không thể nói GV trẻ mới vào nghề thì dạy không tốt, điều này còn tùythuộc vào khả năng và niềm say mê nghề nghiệp của từng GV Việc dạy học làmột công việc vô cùng vẻ vang nhưng cũng đầy rẫy khó khăn thử thách, nóđòi hỏi người GV không ngừng tích lũy kiến thức, trau dồi kĩ năng để đạt được
Trang 24học mới VNEN
* Luận văn này đề cập đến vấn đề phát triển kỹ năng dạy học số và phéptính ở môn Toán lóp 2 cho GV Tiểu học theo mô hình trường học mới(VNEN) như sau:
- Là một loạt biện pháp giúp cho GV nắm vững các yêu cầu cần đạt về
kĩ năng dạy số và phép tính ở môn Toán lớp 2;
- Được thực hiện thông qua các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giúp
GV củng cố vốn kĩ năng đã có, bổ sung, hoàn thiện, phát triển KNDH số và phép tính ở môn Toán lóp 2 - VNEN, từ đó đổi mới phương pháp dạy học, cải
thiện tình trạng dạy học hiện nay;
- Nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy số và phép tính ởmôn Toán lóp 2 nói riêng, Toán học nói chung và yêu cầu đổi mới PPDH đang
là vấn đề cấp thiết hiện nay
Nguyên nhân của sự phát triển KNDH “Sổ và phép tỉnh ở môn Toán lớp
2 theo mô hình trường học mới VNEN” là kết quả của quá trình trải qua thực tế
giảng dạy, đúc rút và tích lũy kinh nghiệm cũng như không ngừng nâng cao vàbồi dưỡng kiến thức chuyên môn của bản thân người GV, cũng là yêu cầu củathực tiễn khách quan: đứng trước yêu cầu đổi mới hình thức và phương phápdạy học từ mô hình truyền thống quen thuộc nhưng lạc hậu sang mô hình dạyhọc hiện đại mới mẻ, tích cực, đem lại hiệu quả giáo dục cao hơn
Có thể mô tả quá trình phát triển KNDH sổ và phép tính ở môn Toán lớp 2 - VNEN bằng sơ đồ sau:
Trang 25* Hệ thống mức độ kỹ năng Dạy học số và phép tính ở môn Toán lóp 2
mô hình VNEN nêu trên được cụ thể hóa thành các yêu cầu cần đạt để bồidưỡng cho GV và đó cũng chính là tiêu chuẩn đánh giá về sự phát triển kỹnăng Dạy học số và phép tính ở môn Toán lóp 2 mô hình VNEN của GV lóp 2,
cụ thể như sau:
- GV được củng cổ những kiến thức và kĩ năng về KNDH số và phép tính ở
môn Toán lóp 2 bằng cách nghiên cứu tài liệu, học hỏi đồng nghiệp
- Kịp thời bổ sung những kiến thức và kĩ năng về KNDH số và phép tính ở
môn Toán lóp 2 mà mình còn chưa cập nhật hoặc chưa thành thạo bằng cáchnghiên cứu tài liệu, tự học, tự trau dồi, rút kinh nghiệm sau mỗi tiết dạy
- Tự mình hoàn thiện vốn kiến thức và kĩ năng về KNDH số và phép tính ở
môn Toán lóp 2 để làm dày thêm hành trang kiến thức, kĩ năng cho bản thânnhư: biết dạy đúng trọng tâm bài, dạy đúng phương pháp
- Trên cơ sở những kiến thức, kĩ năng đã được trang bị, người GV đáp ứng tốt
những yêu cầu đổi mới PPDH, tiến tới phát triển KNDH số và phép tính ở
môn Toán lóp 2 lên mức độ cao hơn như: biết chủ động tháo gỡ những khókhăn thắc mắc của HS đúng lúc, đúng chỗ, lường trước những tình huống dạyhọc có thể xảy ra
- Chủ động Đổi mới cách dạy để cho tiết dạy Toán không bị khô khan, nhàm
Trang 26chất tốt của HS, khơi gợi niềm dam mê Toán học trong các em, thông qua họcToán phát triển tư duy cho HS
1.1.6 Những biện pháp để góp phần phát triển KNDH số và phép tính ở môn Toán lóp 2 theo mô hình VNEN cho GV lớp 2
1.1.6.1 Biện pháp:
KNDH chỉ được phát triển khi được áp dụng trực tiếp vào một hoạt độngdạy học cụ thể KNDH số và phép tính ở môn Toán lóp 2 theo mô hình VNENcũng vậy, nó chỉ có thể phát triển nếu đặt trong hoạt động học tập của mô hìnhtrường học mới với những hình thức dạy học và PPDH hiện đại, mới mẻ này.Những điểm đổi mới cơ bản của mô hình VNEN là:
+ Hình thức học tập thông qua trải nghiệm, khám phá