LỜI MỞ ĐẦU Thuế không chỉ là công cụ quan trọng của nhà nước để quản lý nền kinh tế mà còn là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Thông qua việc thu thuế nhà nước có thể tập trung một phần nguồn lực xã hội vào tay mình để có thể thực hiện chức năng của mình. Từ khi nước ta thực hiện đổi mới, Đảng và nhà nước chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các thành phần trong xã hội có thể tự do sản xuất, kinh doanh theo pháp luật, trong đó có việc tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp. Các doanh nghiệp kinh doanh trong nhiều lĩnh vực khác nhau, ở nhiều địa bàn khác nhau do vậy cũng đã góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên ở nước ta hiện nay việc quản lý thuế đối với các doanh nghiệp này vẫn còn nhiều bất cập, gây ra thất thu thuế lớn. Mặc dù các luật thuế đã ra đời và thực hiện được một thời gian khá dài nhưng công tác quản lý chưa chặt chẽ vẫn còn nhiều kẽ hở vì vậy một số doanh nghiệp đã lợi dụng để trốn lậu thuế, do đó một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành thuế là phải tăng cường chống thất thu thuế đối với các doanh nghiệp, tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh doanh nhất là đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhằm tránh thất thoát cho ngân sách nhà nước và đảm bảo sự công bằng cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước. Hiện nay nước ta ngày càng hội nhập sâu với kinh tế thế giới do vậy nhiều loại thuế đang được cắt giảm theo những hiệp định đã ký kết nhất là các loại thuế xuất nhập khẩu, đồng nghĩa với việc cắt giảm các loại thuế này là NSNN sẽ mất đi một khoản thu đáng kể do vậy mà việc chống thất thu thuế ngày càng trở nên cấp thiết. nghiên cứu về đề tài: “Các biện pháp tăng nguồn thu thuế ở Việt Nam”.
Trang 1đó có việc tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp Các doanh nghiệp kinh doanh trongnhiều lĩnh vực khác nhau, ở nhiều địa bàn khác nhau do vậy cũng đã góp phần vào sựtăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước
Tuy nhiên ở nước ta hiện nay việc quản lý thuế đối với các doanh nghiệp nàyvẫn còn nhiều bất cập, gây ra thất thu thuế lớn Mặc dù các luật thuế đã ra đời và thựchiện được một thời gian khá dài nhưng công tác quản lý chưa chặt chẽ vẫn còn nhiều
kẽ hở vì vậy một số doanh nghiệp đã lợi dụng để trốn lậu thuế, do đó một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng của ngành thuế là phải tăng cường chống thất thu thuế đối vớicác doanh nghiệp, tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh doanh nhất là đối với các doanhnghiệp ngoài quốc doanh nhằm tránh thất thoát cho ngân sách nhà nước và đảm bảo sựcông bằng cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước
Hiện nay nước ta ngày càng hội nhập sâu với kinh tế thế giới do vậy nhiều loạithuế đang được cắt giảm theo những hiệp định đã ký kết nhất là các loại thuế xuấtnhập khẩu, đồng nghĩa với việc cắt giảm các loại thuế này là NSNN sẽ mất đi mộtkhoản thu đáng kể do vậy mà việc chống thất thu thuế ngày càng trở nên cấp thiết
Từ những lý do trên nhóm em đã tìm hiểu, nghiên cứu về đề tài: “Các biện pháp tăng
nguồn thu thuế ở Việt Nam”.
Nội dung đề tài nghiên cứu gồm ba phần:
Chương 1: Tổng quan về thuế và thất thu thuế tại Việt Nam
Chương 2: Nguyên nhân và thực trạng thất thu thuế tại Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp tăng nguồn thu thuế tại Việt Nam
Trang 2CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ THẤT THU THUẾ TẠI VIỆT NAM 1.1 Những nội dung cơ bản về thuế tại Việt Nam
1.1.1 Khái niệm
Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụphải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhànước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộpthuế Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội dochính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật
1.1.2 Đặc điểm
Sự ra đời và tồn tại của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấpđối kháng và sự xuất hiện của Nhà nước - pháp luật
Thuế do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành
Thuế là khoản nộp mang tính nghĩa vụ bắt buộc của các pháp nhân và thể nhânđối với Nhà nước không mang tính đối giá hoàn trả trực tiếp
Thuế là công cụ phản ánh quan hệ phân phối lại của cải vật chất dưới hình thứcgiá trị giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội
1.1.3 Chức năng của thuế trong nền kinh tế Việt Nam
Lịch sử phát triển của thuế đã chứng minh rằng, thuế phải thực hiện được 3 chứcnăng cơ bản, đó là: chức năng bảo đảm nguồn thu cho NSNN nhằm đáp ứng nhu cầuchi tiêu của Nhà nước; chức năng phân phối lại thu nhập và tài sản nhằm đảm bảocông bằng xã hội và chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế
a) Chức năng đảm bảo nguồn thu cho NSNN:
Mức độ động viên các nguồn thu từ thuế vào ngân sách phần lớn, gắn liền với tổng
số chi tiêu của của nhà nước vì các khoản thu này là nguồn bù đắp chủ yếu cho cáckhoản chi ngân sách Nhưng các khoản thu này cũng không phải là nguồn bù đắp duynhất mà bên cạnh đó, thâm hụt ngân sách còn được bù đắp bằng nguồn vay hoặc pháthành tiền tệ Mức độ động viên thu ngân sách với tỷ lệ giữa thâm hụt ngân sách trêntổng sản phẩm quốc nội (GDP) của mỗi nước cho thấy mức độ huy động của Nhànước để bù đắp cho các khoản chi này (tất nhiên kể cả khoản lãi phải trả khi hoàn trảnợ)
Trang 3b) Chức năng phân phối lại nhằm đảm bảo công bằng xã hội:
Ngay từ lúc ra đời thuế là phương tiện dùng để động viên nguồn tài chính vào ngânsách Nhà nước (có ở tất cả các kiểu Nhà nước).Về mặt lịch sử, chức năng huy độngnguồn tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh ra thuế.Thôngqua chức năng này, các qũy tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảmbảo cơ sở vật chất cho sự hoạt động thường xuyên và tồn tại của Nhà nước
c) Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay khắc phục những bất cân bằng của thị trường:
Thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định các hình thứcthu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế; xâydựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộpthuế Trên cơ sở đó Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào qũy đạo chungcủa nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích của toàn xã hội Trong điều kiện chuyểnsang cơ chế thị trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngay càng được nângcao Nhà nước sử dụng thuế để tác động lên lợi ích kinh tế của các chủ thể vì lợi íchcủa nền kinh tế quốc dân Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà nước không mangtính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh hay không kinh doanh màchủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chủ thể kinh doanh
Tóm lại, để phát huy được vai trò của thuế trong nền kinh tế, phải sử dụng thuếđúng với chức năng của nó Tuy nhiên, vai trò của thuế đối với nền kinh tế ở mỗi quốcgia không giống nhau mà tuỳ thuộc vào “nghệ thuật sử dụng” công cụ thuế của mỗiquốc gia đó Vấn đề có tính nguyên tắc là thuế phải luôn luôn phù hợp với mục tiêu,đường lối phát triển kinh tế - xã hội và là công cụ đắc lực cho việc thực hiện đườnglối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhấtđịnh Đó cũng là lý do mà các quốc gia phải thường xuyên rà soát mức độ phù hợp của
hệ thống thuế với chiến lược phát triển kinh tế xã hội cuả mình, thực hiện các cải cáchthuế kịp thời nếu thấy cần thiết
1.1.4 Khái quát về hệ thống chính sách thuế Việt Nam
Hệ thống chính sách thuế của Việt Nam được hình thành và phát triển trongthời kỳ “đổi mới” (sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986) Trước đó nền
Trang 4kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, thu ngân sách Nhà nướcchủ yếu từ kinh tế quốc doanh (chiếm tới 90% tổng số thu), thuế chỉ áp dụng đối vớikhu vực kinh tế ngoài quốc doanh dưới một số hình thức: thuế doanh nghiệp, thuếhàng hoá, thuế lợi tức, thuế nông nghiệp, thuế môn bài vai trò của thuế trong quản lýđiều tiết vĩ mô nền kinh tế được sử dụng rất hạn chế
Đầu những năm 1990, Việt Nam thực hiện cải cách thuế bước I, một hệ thốngchính sách thuế mới ra đời và áp dụng thống nhất đối với các thành phần, khu vực kinh
tế gồm các sắc thuế cơ bản như: Thuế doanh thu, Thuế tiêu thụ đặc biệt, Thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu, Thuế tài nguyên, Thuế lợi tức, Thuế thu nhập đối với người cóthu nhập cao, Thuế nông nghiệp (từ 1994 chuyển thành là thuế sử dụng đất nôngnghiệp), Thuế nhà đất, Thuế chuyển quyền sử dụng đất và một số loại phí, lệ phí như
lệ phí trước bạ, lệ phí chứng thư, lệ phí giao thông Sau 10 năm đổi mới, nền kinh tếthị trường đã và đang hình thành, quan hệ đối ngoại của Việt Nam cũng có những cảithiện đáng kể, nền kinh tế - xã hội chuyển sang giai đoạn phát triển mới: thực hiệncông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế Bối cảnh
đó đã đặt ra yêu cầu thực hiện cải cách thuế bước II, bắt đầu từ nửa cuối những năm
90, được đánh dấu bằng việc Quốc hội ban hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuếthu nhập doanh nghiệp năm 1997 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999), thaythế Luật thuế doanh thu, Luật thuế lợi tức Năm 1998, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, Luậtthuế XNK cũng được sửa đổi để bảo đảm sự đồng bộ Các Luật thuế quan trọng nàytiếp tục được bổ sung, sửa đổi vào cuối năm 2003, 2005
Thực hiện Chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010, Quốc hội đã banhành Luật thuế thu nhập cá nhân vào tháng 11/2007 với hiệu lực thi hành từ ngày01/01/2009, thay thế cho Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất và Pháp lệnh thuế thunhập đối với người có thu nhập cao Năm 2008, Quốc hội sửa đổi đồng bộ Luật thuếgiá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đểthống nhất thực hiện từ đầu năm 2009 Như vậy, sau gần 20 năm xây dựng và hoànthiện, hệ thống chính sách thuế của Việt Nam đến nay gồm có các sắc thuế sau:
(i) Thuế giá trị gia tăng (GTGT),
(ii) Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB),
(iii) Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (XNK),
Trang 5(iv) Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN),
(v) Thuế thu nhập cá nhân (TNCN),
(vi) Thuế sử dụng đất nông nghiệp,
(vii) Thuế nhà đất,
(viii) Thuế tài nguyên,
(ix) Thuế môn bài,
(x) Các loại phí và lệ phí
Bắt đầu từ 01/01/2015, một số chính sách thuế sửa đổi bổ sung của Nhà Nước
và Bộ Tài Chính đã có hiệu lực được quy định cụ thể trong Luật số 71/2014/QH1 vàThông tư 26/2015/TT-BTC:
Quản lý thuế: Bỏ quy định phạt chậm nộp thuế 0.07%/ngày tính trên số tiềnthuế chậm nộp vượt quá 90 ngày và giữ nguyên mức phạt chậm nộp 0.05%/ngày tínhtrên số tiền thuế chậm nộp Doanh nghiệp không phải nộp bảng kê mua vào, bán ra của
tờ khai thuế GTGT
Thuế giá trị gia tăng: Chuyển mặt hàng phân bón; thức ăn gia súc, gia cầm vàthức ăn cho vật nuôi khác; máy móc, thiết bị chuyên dùng cho sản xuất nông nghiệp từđối tượng chịu thuế suất 5% sang đối tượng không chịu thuế
Thuế thu nhập cá nhân: Thu nhập của cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 100triệu đồng/năm trở xuống không thuộc thu nhập chịu thuế
Thuế thu nhập doanh nghiệp: Dỡ bỏ trần chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại,hoa hồng môi giới, tiếp tân, khánh tiết, hội nghị, hỗ trợ tiếp thị, hỗ trợ chi phí liên quantrực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh 15% cho doanh nghiệp
Quản lý thuế, hoá đơn:
- Bỏ hướng dẫn cơ sở kinh doanh phải đăng ký sử dụng dấu ngăn cách và chữviết không dấu trên hóa đơn
- DN có thể phát hành hoá đơn bao nhiêu cũng được mà không bị giới hạn từ 3tháng đến 6 tháng như trước nữa
- Không xuất hóa đơn đối với hàng hóa tiêu dùng nội bộ để tiếp tục quá trìnhsản xuất kinh doanh
Trang 6- Trường hợp hóa đơn đã lập có sai sót về tên, địa chỉ người mua nhưng ghiđúng mã số thuế người mua thì các bên lập biên bản điều chỉnh và không phải lập hóađơn diều chỉnh.
- Từ 01/01/2015, tiền chậm nộp được tính theo mức 0,05% số tiền thuế chậmnộp tính trên mỗi ngày chậm nộp
Thuế GTGT: Bổ sung vào đối tượng không chịu thuế đối với các mặt hàng sau:
- Phân bón là các loại phân hữu cơ và phân vô cơ
- Thức ăn cho gia súc, gia cầm, thủy sản và thức ăn cho vật nuôi khác
- Máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
Tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình cải cách thuế, một số dự án luật thuếđang được nghiên cứu xây dựng để áp dụng trong thời gian tới, như: dự án Luật thuế
sử dụng đất, dự án Luật thuế tài sản (thời gia đầu ban hành Luật thuế nhà, đất), dự ánLuật thuế bảo vệ môi trường…
1.1.5 Khái quát về bộ máy quản lý thu thuế hiện hành ở Việt Nam
Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế hiện hành bao gồm hệ thống thu nội địa (Thuế Nhànước) và hệ thống thu thuế XNK
Hệ thống Thuế Nhà nước:
Theo Nghị định số 281-HĐBT ngày 7/8/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chínhphủ), hệ thống thuế Nhà nước được thành lập để thực hiện công tác thu và quản lý cácloại thuế và các khoản thu khác cho NSNN trong nội địa Bộ máy quản lý thuế được tổchức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương; cơ quan thuế đặt tại địaphương chịu sự lãnh đạo song trùng của ngành thuế cấp trên và Chủ tịch UBND cùngcấp; Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế là tổ chức trong hệ thống hành chính nhànước có tư cách pháp nhân công quyền, có con dấu riêng và được mở tài khoản tạiKho bạc nhà nước
Ngày 28 tháng 10 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 218/2003/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cụcThuế trực thuộc Bộ Tài chính Theo đó, bộ máy quản lý thu thuế nội địa được đổi mới
tổ chức theo mô hình chức năng, chuyển sang thực hiện việc cung cấp thông tin và
Trang 7dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế; đồng thời đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra xử lýcác hành vi vi phạm pháp luật thuế
Hệ thống Hải quan:
Hệ thống Hải quan trước đây trực thuộc Chính phủ, được tổ chức thành 3 cấp:
Tổng cục hải quan (cấp trung ương), Cục hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc trungương (hải quan vùng) và Hải quan cửa khẩu Hệ thống hải quan đảm nhiệm việc quản
lý thu thuế đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu như: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu; thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu; thu nhậpđối với hàng là quà biếu, quà tặng vượt quá tiêu chuẩn miễn thuế
Kể từ 4/9/2002, hệ thống Hải quan (Tổng cục Hải quan) được chuyển vào trực thuộc
Bộ Tài chính (Quyết định 113/2002/QĐ-TTg ngày 4/9/2002 của Thủ tướng Chínhphủ)
1.2 Thất thu thuế là gì?
1.2.1 Khái niệm thất thu thuế
Thất thu thuế là một hiện tượng thực tế khách quan vốn có của bất kỳ hệ thốngthuế khoá nào Nó phản ánh hai mặt của một vấn đề: lợi ích của Nhà nước và lợi íchcủa người nộp thuế Trên thực tế thì hai lợi ích này thường mâu thuẫn với nhau, Nhànước luôn có khuynh hướng tăng nguồn thu từ thuế, trong khi đó người nộp thuế luônmong muốn càng giảm số thuế phải nộp càng nhiều càng tốt Hay nói cách khác, ở đâu
có thuế khoá thì ở đó có thất thu
Thất thu thuế là khoản thuế quy định trong luật thuế phải thu được và tập trungvào ngân sách nhà nước, song do nhiều nguyên nhân số tiền trên không được thu đủ đểtập trung vào ngân sách nhà nước đúng quy định
1.2.2 Các dạng thất thu thuế:
Thất thu thuế biểu hiện, diễn biến rất đa dạng và phức tạp tuỳ theo điều kiệncủa nền kinh tế - xã hội của một quốc gia, song có thể khái quát hoá thành 2 dạng: thấtthu thực tế và thất thu tiềm năng
Trang 8- Thất thu thực tế, có nghĩa là có nhiều khoản thu được quy định rõ ràng trong các luậtthuế, song do nhiều nguyên nhân số tiền đó không được tập trung vào ngân sách đúngquy định.
- Thất thu tiềm năng, có nghĩa là thực tế có nhiều nguồn thu cần thiết phải động viênvào ngân sách nhưng lại không thu được vì chưa có quy định của luật pháp
1.2.3 Thất thu thuế do trốn thuế và tránh thuế:
Trốn thuế là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt hành chính hay bịtruy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế
Tránh thuế là hành vi lợi dụng những quy định của pháp luật thuế nhằm làmgiảm số thuế phải nộp cho Nhà nước Tránh thuế hợp pháp không bị xử phạt hànhchính hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự Bởi lẽ, đối tượng nộp thuế am hiểu rõ vềpháp luật thuế và vận dụng tốt những phương thức hạch toán hợp pháp để giảm thiểucác khoản thuế phải đóng, mà không trái với quy định pháp luật
a) Các hình thức trốn thuế:
Việc trốn thuế ở Việt Nam thường diễn ra dưới nhiều hình thức và ở nhiều loại thuếkhác nhau Chẳng hạn, trường hợp doanh nghiệp trong nước bắt tay với đối tác bán hàngnước ngoài hạ giá hàng hóa nhập khẩu nhằm trốn thuế nhập khẩu; tổ chức, cá nhân muabán hóa đơn đầu vào khống (thuế giá trị gia tăng); doanh nghiệp không khai báo đầy đủdoanh thu hay khai khống chi phí (thuế thu nhập doanh nghiệp); cá nhân không kê khaithu nhập chịu thuế (thuế thu nhập cá nhân), hạ giá của hàng hóa mua bán chịu thuế trước
bạ (như xe hơi hay nhà ở) để giảm thiểu số thuế trước bạ phải đóng…
b) Các hình thức tránh thuế:
- Chuyển dịch thu nhập
- Hoãn thuế (vd như bán phiếu quà tặng)
- Trung gian thuế (vd bán cho doanh nghiệp khác tài sản sau thuê lại, doanhnghiệp đó không đủ điều kiện khấu hao nhanh)
- Lợi dụng những ưu đãi của pháp luật thuế
- Lợi dụng những quy định bất cập của pháp luật thuế (cách phân bổ chi phí)
- Sử dụng phương pháp hạch toán chi phí thích hợp
- Chuyển giá
Trang 9CHƯƠNG II: NGUYÊN NHÂN VÀ THỰC TRẠNG THẤT THU THUẾ Ở VIỆT NAM
2.1 Nguyên nhân dẫn đến thất thu thuế ở Việt Nam
2.1.1 Nguyên nhân từ người nộp thuế:
- Không thực hiện đúng chế độ đăng ký doanh, đăng mã số thuế và không nộp thuế
- Khai báo nộp thuế không đúng, cụ thể là khai thấp giá bán và số lượng bán ra, đểngoài sổ sách kế toán nguồn thu, khoản thu đáng lẽ ra phải thu, kê khai không đúngcác khoản chi phí hợp lý, hợp lệ (trường hợp khi bán hàng các doanh nghiệp ghi hóađơn thấp hơn giá thị trường, khi mua ghi hóa đơn cao hơn giá thị trường hoặc sử dụnghóa đơn bất hợp pháp để khấu trừ khống thuế GTGT)
- Chậm nộp, kéo dài thời gian nộp thuế nhằm chiếm dụng thuế vào hoạt động kinhdoanh
- Lợi dụng chính sách của nhà nước tự kê khai thuế, tự điều chỉnh thuế kế tiếp nhautrong ba tháng từ đó họ tìm cách cân đối thấp nhất số thuế phải nộp, cụ thể là các saiphạm khi họ kê khai thuế GTGT
2.1.2 Nguyên nhân từ cơ quan thuế
- Những năm qua vấn đề nợ đọng thuế của các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh liêntục gia tăng, mặc dù chính quyền địa phương các cấp và ngành thuế đã tích cực cónhiều biện pháp tích cực nhưng cũng chưa chuyển biến Bộ tài chính chỉ đạo phấn đấu
nợ tồn đọng thuế cuối năm chỉ dưới 5%, nhưng thực tế các địa phương đều nợ thuế tồnđọng trên 10%, cá biệt có địa phương hơn 50% nợ thuế tồn đọng Có nhiều nguyênnhân khách quan và chủ quan
- Về mặt khách quan do chế độ chính sách nộp thuế các đối tượng nộp thuế được kéodài đến 90 ngày, nếu quá thời gian đó ngành thuế mới áp dụng các biện pháp hànhchính để xử lý Trong thời gian này các đối tượng nộp thuế chỉ nộp tiền phạt thuế donộp chậm, số tiền nộp phạt chậm quá thấp so với mức lãi vay ngân hàng hiện nay củacác ngân hàng, do vậy không doanh nghiệp, hộ kinh doanh nào lại đi vay ngân hàng đểnộp thuế với mức lãi suất cho vay quá cao như hiện nay
Trang 10- Về mặt chủ quan có nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh làm ăn có tinh thần tráchnhiệm, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế theo quy định, tuy nhiên có doanh nghiệp,
hộ kinh doanh cố tình trốn thuế, khi biết đến thời điểm ngành thuế sẽ áp dụng các biệnpháp hành chính thì các đơn vị này đã tẩu tán tài sản, nơi kinh doanh chỉ là nơi thuêmặt bằng để kinh doanh, nơi ngân hàng đăng ký tài khoản thì không còn số dư Cuốicùng cơ quan thuế chuyển hồ sơ sang cơ quan công an điều tra để xử lý, nhưng không
xử lý được do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, vì các tổ chức này chỉ nợ thuế chứkhông phải trốn thuế
- Hệ thống luật thuế còn nhiều bất cập, chưa theo kịp tốc độ phát triển của nền kinh tếtrong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam
- Công tác quản lý và khai thác nguồn thu thuế của một số địa phương chưa thật sựchặt chẽ, hiệu quả
- Trình độ của cán bộ thuế ở một số địa phương, một số lĩnh vực chưa thực sự đáp ứngđược yêu cầu quản lý của ngành thuế, nhất là đối với công tác quản lý thuế của cácdoanh nghiệp FDI (chủ yếu tập trung ở 2 khu tam giác kinh tế lớn nhất nước là :TPHCM - Bình Dương - Bà Rịa Vũng Tàu, và Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh)
- Hiện tượng tiêu cực của một số ít cán bộ thuế cũng có tác động không nhỏ dẫn tớiviệc thất thu thuế ở một số địa phương
2.2 Thực trạng thu thuế ở Việt Nam:
2.2.1 Khái quát số liệu tổng hợp thất thu thuế của ngành thuế:
- Năm 2011, toàn ngành Thuế đã thanh tra, kiểm tra tại 50.276 doanh nghiệp (đạt90,65% chỉ tiêu kế hoạch và bằng 158,3% so năm 2010), xử lý truy thu, truy hoàn vàphạt qua thanh tra, kiểm tra 7.582 tỉ đồng, bằng 138,8% (7.582 tỉ đồng/5.462 tỉ đồng)
so năm 2010, giảm khấu trừ qua thanh tra, kiểm tra là 567 tỉ, giảm lỗ qua thanh tra,kiểm tra là 11.021 tỉ đồng Trong đó, thanh tra tại 6.167 doanh nghiệp, xử lý truy thu
và phạt 3.386 tỉ đồng, giảm lỗ qua thanh tra là 7.011 tỉ đồng, giảm khấu trừ thuếGTGT 209 tỉ đồng; nộp NSNN 2.093 tỉ đồng bằng 120.9% so với năm 2010 Đối vớithanh tra chống chuyển giá đã thực hiện thanh tra tại 921 doanh nghiệp lỗ, doanhnghiệp có dấu hiệu chuyển giá, xử lý giảm lỗ 6.617 tỉ đồng (tăng 3,5 lần so với nămtrước), truy thu thuế và phạt 1.669 tỉ đồng (tăng hơn 4 lần so với cùng kỳ năm trước)
Trang 11- Đối với vấn đề nợ thuế theo đánh giá của Tổng cục chiếm 72,3% tổng số nợ thuế,trong đó trên 90 ngày chiếm 63,3% Dù vậy, cơ quan chức năng vẫn cho rằng “số nợnày còn có khả năng thu hồi được”.
- Theo báo cáo của Tổng cục thuế, tỷ trọng nợ thuế trên tổng thu NSNN giảm mạnhqua các năm; năm 2008 là 9,5%; năm 2009 là 7,7%; năm 2010 là 7,3% và năm 2011 là6,9% Có tới 17 địa phương có mức nợ đọng dưới 5% như: Bà Rịa - Vũng Tàu; BếnTre, Bình Dương; Bình Thuận; Đà Nẵng; Đồng Nai; Hà Tĩnh; Hậu Giang; Khánh Hòa;Lai Châu; Lạng Sơn; Quảng Ngãi; Quảng Ninh; Thái Nguyên; TT-Huế; Tuyên Quang
- Đặc biệt năm 2011, Cục thuế các địa phương đã xử lý tích cực nợ chờ điều chỉnh (nợảo), tính đến 31/12/2011 đã xử lý hết số nợ ảo tính đến 31/12/2010, với số nợ chiếm0,3% trên tổng số thu NSNN Công tác thanh kiểm tra tại 50.276 doanh nghiệp (đạt90,65% chỉ tiêu kế hoạch và bằng 158,3% so với 2010) đã xử lý truy thu, truy hoàn vàphạt đạt 7.582 tỷ đồng (bằng 138,8% so với 2010); giảm khấu trừ được 576 tỷ đồng;giảm số lỗ qua thanh kiểm tra đạt 11.021 tỷ đồng
- Theo Báo cáo Đánh giá thực hiện nhiệm vụ tài chính - ngân sách năm 2011của BộTài chính, công tác quản lý, kiểm tra, giám sát chống thất thu thuế; đấu tranh chốngchuyển giá, nhất là đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), các khoảnthu liên quan đến đất đai, kinh doanh bất động sản, tài nguyên khoáng sản và thuếxuất-nhập khẩu được xem là một trong những thành công đáng ghi nhận nhất trongnăm 2011 của ngành tài chính.Nhờ tích cực chống thất thu và nợ đọng thuế, nên thungân sách cả năm 2011 vẫn đạt 647.500 tỷ đồng, vượt 13,4% so với dự toán, tăng20,6% so với năm 2010 Theo số liệu của Bộ Tài chính, năm 2011, ngành thuế đã thuhồi 67% số nợ thuế năm 2010 chuyển sang, với tổng số tiền lên tới 18.039 tỷ đồng,ngành hải quan đã xử lý thu trên 709 tỷ đồng tiền nợ thuế
Trang 12Hiện nay, ngành Thuế đã chuyển sang cơ chế tự khai, tự nộp, vì vậy, cán bộ thuế cầnnâng cao trách nhiệm, hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp kê khai cho đúng Từ nội dung
kê khai này, tìm ra những doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro kịp thời thanh tra, kiểm trađúng đối tượng
Với một năm kinh doanh khó khăn như 2011, nhiều doanh nghiệp không tránh khỏithua lỗ, bao gồm cả những “đại gia” trong các ngành nghề mà báo cáo của Tổng cụcThuế cũng phải “điểm mặt chỉ tên”
Chẳng hạn, tình trạng “đóng băng” ở thị trường bất động sản đã khiến Hoàng Anh GiaLai phải nợ thuế lên đến hàng trăm tỉ đồng
Hay như những doanh nghiệp có số nợ hàng chục tỉ đồng, nhưng thời gian nợ lại kéodài như Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) – Công ty TNHH mộtthành viên, Tổng công ty Xây dựng Hà Nội, công ty Cavico xây dựng cầu hầm, CTCPBia và nước giải khát Phú Yên, CTCP tập đoàn Thành Công…
2.2.2 Các lĩnh vực thất thu thuế trọng tâm:
- Thời gian vừa qua, thực trạng thất thu thuế đang làm ảnh hưởng tới nhiệm vụ thungân sách của ngành Năm 2012, ngành thuế đã xác định 6 lĩnh vực trọng tâm củangành Thuế trong công tác chống thất thu và thu hồi nợ đọng thuế
2.2.2.1 Thực trạng thất thu thuế từ các doanh nghiệp FDI:
Hiện tượng DN FDI kê khai lỗ đang khá phổ biến (khoảng 50% tổng số DNFDI đang hoạt động trên cả nước, trong đó có nhiều DN kê khai lỗ liên tục trong 3năm) Điển hình tại tỉnh Bình Dương - địa phương thu hút FDI khá tốt, năm 2010,trong tổng số 1.490 DN có tới 754 DN FDI kê khai lỗ, chiếm 50,6% Đáng chú ý, dùlàm ăn thua lỗ trong thời gian dài nhưng nhiều DN vẫn không ngừng mở rộng đầu tư
Từ năm 2006 đến nay, hiện tượng chuyển giá của các DN FDI ngày càng tinh vihơn, với việc điều chuyển lợi nhuận từ nơi có thuế suất cao sang nơi có thuế suất thấphơn để tránh thuế Những vụ việc chuyển giá “đình đám” thời gian qua của Coca -Cola, Adidas, Metro Cash & Carry, Keangnam và Nestlé liên tục báo lỗ
Phải thừa nhận rằng hoạt động của khu vực DN FDI đã góp phần không nhỏ đến sựđổi thay, phát triển lớn mạnh của nền kinh tế Việt Nam, giải quyết việc làm cho hàngtriệu lao động Tuy nhiên, chính sách ưu đãi đầu tư của nhà nước, đang bộc lộ nhiềuhạn chế, cơ quan nhà nước không chỉ đau đầu, nhức nhối trước vấn nạn chuyển giá, lỗgiả, lãi thật, một bộ phận DN FDI đã bỏ trốn, “xù nợ” thuế xuất nhập khẩu…
Trang 13Phản ánh của nhiều cục hải quan cho thấy, DN FDI trốn nợ thuế đã ở mức đáng longại, số nợ thuế mỗi vụ lên đến hàng chục tỷ đồng
Điển hình như trường hợp của Công ty trách nhiệm hữu hạn Diing Long Việt Namtại Bình Dương Công ty này nợ thuế nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu lêntới hơn 17 tỷ đồng Số tiền này chưa kịp thu hồi thì ban giám đốc của Diing Long đã
về nước Công ty rơi vào tình trạng vắng chủ trong khi tài sản đã thế chấp tại ngânhàng Hiện công ty chỉ còn một nhà xưởng trên diện tích 3 ha tại Mỹ Phước ước tínhtrị giá 70 tỷ đồng, song, tài sản này đã được thế chấp tại ngân hàng với số tiền vay trên
100 tỷ đồng Với trường hợp như vậy, cơ quan hải quan gần như "bó tay" để đòi đượcthuế của doanh nghiệp
Đối tượng DN FDI bỏ trốn và nợ thuế chủ yếu tập trung ở các DN sản xuất xuất khẩu.Theo lý giải của một số chuyên gia kinh tế, do biến động kinh tế, sản xuất xuất khẩukhó khăn, giá nhân công tại Việt Nam cũng không còn cạnh tranh so với nhiều nướctrong khu vực, nhiều DN FDI lợi dụng cơ hội này để “tháo chạy”
Thực tế DN FDI bỏ trốn, xù nợ thuế không còn là cá biệt Hải quan Hải Phòng mớiđưa ra thống kê, tại đơn vị hiện còn 14 DN nợ thuế có chủ là người nước ngoài đã bỏtrốn, với tổng số nợ gần 11,7 tỷ đồng Các DN này mở tờ khai trong khoảng thời gian
từ năm 2003 trở lại đây, số nợ của các DN bao gồm nợ thuế NK, thuế GTGT và một
số trường hợp nợ tiền phạt chậm nộp Trong số 14 DN này, DN có số nợ nhiều nhấttrên 7,2 tỷ đồng (gần 3,7 tỷ thuế GTGT và hơn 3,5 tỷ thuế NK) là Công ty TNHH Đầu
tư và Phát triển Kenmark
Lãnh đạo Hải quan Hà Nội cho biết, đơn vị đang rà soát các nguồn nợ thuế, tập trungvào đối tượng DN FDI Còn theo Cục Hải quan TP.Hồ Chí Minh, hiện còn 1.114 DN
nợ thuế bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng kí kinh doanh, không kinh doanh tại địa chỉ đăng ký,ngưng và tạm ngưng hoạt động Số DN nêu trên nợ thuế XNK tổng cộng trên 416 tỷđồng
Theo Hải quan Đồng Nai, những DN phát sinh nợ đọng trên địa bàn còn có thể rà soát
và đôn đốc kịp thời, nhưng với những trường hợp DN ngoài tỉnh, đặc biệt là DN FDIcác biện pháp xem chừng không hiệu quả Việc kiểm chứng hoạt động của các DN này
để đôn đốc thuế rất tốn kém về chí phí đi lại, nhân lực để theo dõi Trong khi đó, việcphối hợp giữa các bộ, ngành, cơ quan chức năng còn rời rạc, mang tính cục bộ, chưa
hỗ trợ tích cực cho yêu cầu quản lý thuế
Tại Bình Dương và Đồng Nai, rất nhiều trường hợp DN nước ngoài nợ thuế, bỏ trốn
về nước không có cách nào thu hồi được thuế Hầu hết các DN đều thế chấp tài sản tạingân hàng, khi DN có vấn đề khó khăn trong hoạt động, ngân hàng thu hồi tài sản, cơquan hải quan không có nguồn để trích thu hồi thuế