Chính vì vậy, tính chất cơ học, khả năng bền nhiệt và bền dầu mỡ của vật liệu cao su CSTN/NBR/7nSiO2 nanocompozit được cải thiện đáng kể.. Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu gia cường c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Hồ Thị Oanh
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO VÀ TÍNH CHẤT VẬT LIỆU CAO SU NANOCOMPOZIT TRÊN CƠ SỞ BLEND CỦA CAO SU THIÊN NHIÊN VỚI CAO SU NITRIL
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội - 2015
Trang 2Luận văn được hoàn thành tại:
Phòng Công nghệ Vật liệu và Môi trường – Viện Hóa học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Quang Kháng – Viện Hóa
học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Người phản biện khoa học:
Ph ản biện 1: PGS.TS Bạch Trọng Phúc – Đại học Bách
khoa Hà Nội
Ph ản biện 2: PGS.TS Phạm Ngọc Lân – Khoa Hóa học –
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà
Nội
Trang 324
KẾT LUẬN
1 Bằng phương pháp trộn kín ở trạng thái nóng chảy đã tạo ra
được hệ vật liệu cao su nanocompozit trên cơ sở blend CSTN/NBR
với các hạt nanosilica phân tán đồng đều trong nền cao su ở kích
thước đa phần dưới 100 nm Cũng bằng phương pháp này đã phân
tán được CNT-g-PVC khá đồng đều trong nền cao su kể trên Tuy
nhiên, nếu CNT không được biến tính thì sự phân tán của chúng
không được đồng đều Chính vì vậy, các tính năng cơ lý, kỹ thuật của
hệ vật liệu trên cơ sở CSTN/NBR gia cường CNT chưa tăng một
cách thuyết phục như kỳ vọng
2 Từ những kết quả nghiên cứu gia cường cho blend
CSTN/NBR bằng nanosilica cho thấy: Hàm lượng nanosilica tối ưu
để gia cường cho cao su blend CSTN/NBR là 7% Khi có thêm 5%
tác nhân ghép nối silan Si69 (so với nanosilica hay 0,6% so với cao
su), nanosilica phân tán đồng đều trong nền cao su với kích thước hạt
nhỏ hơn (dưới 60 nm) Chính vì vậy, tính chất cơ học, khả năng bền
nhiệt và bền dầu mỡ của vật liệu cao su CSTN/NBR/7nSiO2
nanocompozit được cải thiện đáng kể
3 Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu gia cường cho blend
CSTN/NBR bằng CNT cho thấy, tính chất cơ học của vật liệu
CSTN/NBR đạt giá trị lớn nhất với hàm lượng CNT là 4% Tuy
nhiên, từ kết quả nghiên cứu cấu trúc hình thái cũng chỉ ra rằng, bằng
phương pháp trộn hợp ở trạng thái nóng chảy, CNT phân tán chưa
thật đồng đều trong nền cao su blend CSTN/NBR và do vậy tính chất
cơ lý kỹ thuật của hệ vật liệu này chưa đạt được như kỳ vọng
4 Vật liệu CSTN/NBR/nanosilica và CSTN/NBR/CNT-g-PVC
có tính năng cơ lý, độ bền nhiệt và khả năng bền dầu mỡ vượt trội so
với vật liệu cao su blend trên cơ sở CSTN/NBR và do vậy, có khả
năng ứng dụng trong các lĩnh vực kỹ thuật cao mà đặc biệt dùng
trong chế tạo các vật liệu cao su bền dầu mỡ và bền nhiệt
1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận văn
Khoa học và công nghệ nano là một lĩnh vực đang nổi lên trong việc nghiên cứu và phát triển vật liệu mới Vật liệu cao su nanocompozit kết hợp được cả ưu điểm của vật liệu vô cơ (như tính chất cứng, bền nhiệt,…) và ưu điểm của polyme hữu cơ (như tính linh động, mềm dẻo, là chất điện môi và khả năng dễ gia công…) Đặc tính riêng biệt của vật liệu cao su nanocompozit đó là kích thước nhỏ của chất độn dẫn tới sự gia tăng mạnh mẽ diện tích bề mặt chung
so với các compozit truyền thống, đồng thời cải thiện tính chất cơ lý của vật liệu
Cao su thiên nhiên (CSTN) có tính chất cơ học tốt nhưng khả năng bền dầu kém Trong khi đó, cao su nitril butadien (NBR) được biết đến với đặc tính vượt trội là khả năng bền dầu mỡ rất tốt Do vậy, vật liệu cao su blend CSTN/NBR vừa có tính chất cơ học tốt của CSTN vừa có khả năng bền dầu mỡ của cao su NBR Để tăng khả năng ứng dụng cho vật liệu cao su blend, các vật liệu này thường được gia cường bằng một số chất độn gia cường như than đen, silica, clay, Các chất độn nano, có thể cải thiện đáng kể tính chất các sản
phẩm cao su Từ những cơ sở trên, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên
cứu chế tạo và tính chất vật liệu cao su nano compozit trên cơ sở blend của cao su thiên nhiên với cao su nitril butadien và một số phụ gia nano” làm chủ đề cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của luận án
Mục tiêu nghiên cứu
Đưa ra được điều kiện thích hợp để chế tạo vật liệu cao su nano compozit trên cơ sở blend của cao su thiên nhiên với cao su nitril butadien gia cường bằng nanosilica, ống nano carbon
Nội dung nghiên cứu
- Chế tạo và nghiên cứu tính chất vật liệu cao su nanocompozit trên cơ sở blend của CSTN/NBR và nanosilica
- Chế tạo và nghiên cứu tính chất vật liệu cao su nanocompozit trên cơ sở blend của CSTN/NBR và ống nano carbon
3 Bố cục của luận án
Luận án dày 75 trang với 6 bảng và 31 hình Kết cấu của luận án:
Lời mở đầu (2 trang), Chương 1 Tổng quan (24 trang), Chương 2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu (5 trang), Chương 3 Kết quả nghiên
Trang 4cứu và thảo luận (23 trang), Kết luận (2 trang), Phần Danh mục các
công trình khoa học đã được công bố liên quan đến luận án (1 trang),
Tài liệu tham khảo (6 trang)
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Giới thiệu về vật liệu polyme nanocompozit và cao su
nanocompozit
Vật liệu polyme nanocompozit kết hợp được cả ưu điểm của vật liệu
vô cơ (như tính chất cứng, bền nhiệt,…) và ưu điểm của polyme hữu
cơ (như tính linh động, mềm dẻo, là chất điện môi và khả năng dễ gia
công…) Hơn nữa chúng cũng có những tính chất đặc biệt của chất
độn nano điều này dẫn tới sự cải thiện tính chất cơ lý của vật liệu
Một đặc tính riêng biệt của vật liệu polyme nanocompozit đó là kích
thước nhỏ của chất độn dẫn tới sự gia tăng mạnh mẽ diện tích bề mặt
chung so với các compozit truyền thống
1.2 Các phụ gia nano
1.2.1 Ống nano carbon
- CNT có đường kính càng nhỏ thì khả năng hoạt động hóa học
càng mạnh Song do ảnh hưởng của hiệu ứng kích thước và hiệu
ứng bề mặt của vật liệu nano nên CNT rất dễ bị kết tụ
- Phương pháp biến tính bề mặt CNT: Về mặt lý thuyết để biến
tính vật liệu, chúng ta có thể dùng các phương pháp cơ, lý, hóa
tác động lên bề mặt của vật liệu Nhưng chủ yếu là tập trung vào
việc xử lý hóa học bề mặt của vật liệu CNT để gắn các nhóm
chức lên bề mặt của CNT Việc xử lý hóa học có thể hiểu đơn
giản là dùng các tác nhân hóa học tác dụng lên các nguyên tử
carbon trên thành ống
1.2.2 Nanosilica
- Chất độn gia cường có hiệu quả do kích thước nhỏ, dễ phân tán vào
vật liệu Nanosilica có tác dụng làm tăng khả năng tương hợp giữa
CSTN và NBR
- Tính ưa nước của nhóm silanol trên bề mặt silica là nhược điểm làm
hạn chế khả năng ứng dụng của silica, do đó cần biến tính silica
1.3 Cao su thiên nhiên và cao su nitril butadien
1.3.1 Cao su thiên nhiên (CSTN)
Có độ đàn hồi tuyệt vời, tính chất cơ học tốt và dễ gia công, kháng
lạnh tốt
Hình 3.31: Giản đồ TGA của mẫu vật liệu
CSTN/NBR/3%CNT-g-PVC
Nhận thấy rằng, khả năng bền nhiệt của vật liệu CSTN/NBR chứa CNT (chưa biến tính và biến tính) đã được tăng lên so với mẫu không có CNT Điều này có thể giải thích, do CNT có độ bền nhiệt cao, khi đưa vào nền cao su đã che chắn tác động của nhiệt đối với các phần tử cao su, đã làm tăng khả năng ổn định nhiệt cho vật liệu Trong hai mẫu vật liệu chứa CNT thì mẫu chứa CNT-g-PVC có nhiệt độ bắt đầu phân hủy và phân hủy mạnh nhất cao hơn so với mẫu chứa CNT Điều này chứng tỏ CNT biến tính tương tác với nền cao su tốt hơn CNT chưa biến tính Do vậy, cấu trúc của vật liệu chặt chẽ hơn, dẫn đến cả nhiệt độ bắt đầu phân hủy và nhiệt
độ phân hủy mạnh nhất đều cao hơn so với mẫu blend chứa CNT chưa biến tính
Trang 522
một số mẫu vật liệu cao su CSTN/NBR, CSTN/NBR/CNT và
CSTN/NBR/CNT-g-PVC được trình bày trong các hình và bảng sau
Hình 3.29: Giản đồ TGA của mẫu vật liệu CSTN/NBR
Hình 3.30: Giản đồ TGA của mẫu vật liệu
CSTN/NBR/4%CNT
3
1.3.2 Cao su nitril butadien (NBR)
- Khả năng chịu môi trường dầu mỡ, dung môi hữu cơ
- Ứng dụng màng bơm cao su nitrile kháng dầu, lớp lót trong các đường ống, bọc trục, đế giày và các lớp lót thiết bị
CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM 2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Cao su thiên nhiên (CSTN) loại SVR-3L (Công ty cao su Đồng Nai)
- Cao su nitril butadien (NBR) Kosyl – KNB35L (Hàn Quốc)
- Ống nano carbon (CNT) của hãng Nanocyl S.A (Bỉ)
- Nanosilica Reolosil (Akpa, Thổ Nhĩ Kỳ)
- Tác nhân ghép nối silan Si69 là bis-(3-trietoxysilyl propyl) tetrasulphit (TESPT) và hỗn hợp dung môi toluen và isooctan (50:50) (Trung Quốc)
- Các chất phụ gia gồm: Lưu huỳnh, oxit kẽm, axit stearic, xúc tiến DM, xúc tiến CZ, phòng lão D
- Hóa chất khác như CHCl3, NaOH, AlCl3, THF, axeton đều
là các hóa chất thông dụng của Trung Quốc, bột PVC-S của Việt Nam
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Biến tính phụ gia nano
2.2.1.1 Ph ối trộn nanosilica với Si69
- Cân nanosilica (7% so với cao su) và Si69 (lượng Si69 thay đổi
từ 0-15% so với nanosilica), hỗn hợp này được nghiền trộn đều trong cối sứ
2.2.1.2 Bi ến tính CNT bằng polyvinylchloride (PVC)
- Cân 0,2g CNT và 0,5g PVC cho vào bình cầu 3 cổ có sẵn 30ml CHCl3 khan, bình cầu được nối với một ống đựng CaCl2 khan và một ống dẫn khí khác được nhúng trong dung dịch NaOH 10% để loại bỏ HCl sinh ra trong quá trình phản ứng Thêm từ từ 0,5g AlCl3 trong thời gian 1giờ, đồng thời khuấy trộn trong môi trường nitơ ở 60oC trong 30 giờ tiếp theo Sau khi làm nguội đến nhiệt độ phòng hỗn hợp sản phẩm CNT-PVC được khuấy rung siêu âm trong dung môi tetrahydrofuran (THF) 10 phút, lọc và rửa nhiều lần bằng axeton và ete dầu hỏa, sấy ở
60oC trong 10 giờ
2.2.2 Chế tạo mẫu cao su nanocompozit
Trên cơ sở đơn phối trộn từ cao su blend CSTN/NBR có tỷ lệ là
Trang 680/20 với các phụ gia cố định, ảnh hưởng của hàm lượng phụ gia nano
tới tính chất của vật liệu đã được khảo sát Thành phần cơ bản của các
mẫu được trình bày trong bảng sau:
B ảng 2.1: Thành phần cơ bản của mẫu vật liệu cao su nanocompozit
Thành phần Hàm lượng
Pkl-phần khối lượng
Nanosilica (hoặc CNT) Thay đổi
2.3 Phương pháp xác định một số tính chất cơ học của vật liệu
a Tính ch ất cơ học: Độ bền kéo đứt và độ dãn dài khi đứt theo tiêu
chuẩn TCVN 4509 : 2006 Độ cứng được xác định theo tiêu chuẩn
TCVN 1595-1:2007 Độ mài mòn của được xác định bằng phương
pháp AKRON, theo tiêu chuẩn TCVN 1594-87
b Xác định khả năng lưu hóa của vật liệu: Quá trình lưu hóa của vật
liệu được khảo sát theo tính chất lưu biến trên thiết bị đo lưu biến của
hãng EKTRON
c Ph ương pháp xác định cấu trúc hình thái của vật liệu: bằng
phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM) thực hiện trên thiết bị
JSM-6490 (JEOL-Nhật Bản)
d Đánh giá khả năng bền nhiệt của vật liệu: Khả năng bền nhiệt của
các mẫu vật liệu cao su và cao su blend được đánh giá bằng phương
pháp nhiệt trọng lượng (TGA) được thực hiện trên thiết bị Labsys TG
của hãng Setaram (Pháp)
e Đánh giá độ bền môi trường: Thông qua hệ số già hóa và khả
năng bền dầu mỡ của vật liệu
Hình 3.27: Ảnh FESEM của mẫu CSTN/NBR/6%CNT
Hình 3.28: Ảnh FESEM của mẫu CSTN/NBR/3%CNT-g-PVC
3.2.4 Nghiên cứu khả năng bền nhiệt của vật liệu
Khả năng bền nhiệt của vật liệu được đánh giá bằng phương pháp phân tích nhiệt trọng lượng (TGA) Kết quả phân tích TGA của
Trang 720
Hình 3.25: Ảnh FESEM của mẫu CSTN/NBR/3%CNT
Hình 3.26: Ảnh FESEM của mẫu CSTN/NBR/4%CNT
5
Chương 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Nghiên cứu chế tạo và tính chất vật liệu cao su nanocompozit trên cơ sở blend của CSTN/NBR và nanosilica
3.1.1 Ảnh hưởng của hàm lượng nanosilica tới tính chất cơ học của vật liệu
Kết quả khảo sát ảnh hưởng của hàm lượng nanosilica tới tính chất cơ học của vật liệu được mô tả trong các hình dưới đây
Hình 3.1: Ảnh hưởng của hàm lượng nanosilica tới độ bền kéo đứt
và độ dãn dài khi đứt của vật liệu
Hình 3.2: Ảnh hưởng của hàm lượng nanosilica tới độ cứng và độ
dãn dư của vật liệu
Trang 8Hình 3.3: Ảnh hưởng của hàm lượng nanosilica tới độ mài mòn
của vật liệu
Nhận thấy rằng, khi hàm lượng nanosilica tăng lên, độ bền kéo
đứt, độ dãn dài khi đứt và độ bền mài mòn của vật liệu tăng lên khi
hàm lượng nanosilica tăng tới 7% Sau đó, nếu hàm lượng nanosilica
tiếp tục tăng, độ bền kéo đứt, độ dãn dài khi đứt của vật liệu và độ
bền mài mòn của vật liệu lại có xu hướng giảm xuống Riêng độ
cứng của vật liệu tăng lên liên tục nhưng với tốc độ chậm Điều này
có thể giải thích do nanosilica là một loại gia cường cho vật liệu
polyme nói chung và cao su nói riêng Khi có mặt của vật liệu này,
chúng phân tán đều trong vật liệu, tạo thành màng lưới riêng, đan xen
màng lưới polyme đã làm tăng tính chất cơ học của vật liệu Riêng độ
cứng của vật liệu tăng không nhiều vì nanosilica là chất độn “mềm”
nên không làm tăng nhiều độ cứng của vật liệu [8] Căn cứ những kết
quả thu được, chúng tôi chọn hàm lượng nanosilica biến tính blend
CSTN/NBR là 7% để tiến hành các khảo sát tiếp theo
3.1.2 Ảnh hưởng của hàm lượng Si69 tới tính chất cơ học của vật liệu
Để nâng cao khả năng tương hợp giữa nanosilica với chất nền
cao su và cũng làm tăng mức độ phân tán cho chất độn, nanosilica
được biến tính với tác nhân ghép nối silan Si69 Các hình dưới đây
trình bày sự ảnh hưởng của hàm lượng tác nhân Si69 (so với
nanosilica) tới tính cơ học của vật liệu blend CSTN/NBR
Nhận thấy rằng, chỉ cần một lượng nhỏ CNT (chưa biến tính và biến tính) đã làm tăng đáng kể tính chất cơ học của blend CSTN/NBR Khi hàm lượng CNT và CNT-g-PVC tăng lên, các tính chất cơ học (độ bền kéo đứt, độ dãn dài khi đứt) của vật liệu tăng lên
và đạt giá trị lớn nhất với hàm lượng CNT là 4% hoặc CNT-g-PVC là 3% Điều này có thể giải thích do tại hàm lượng này, số lượng các phần tử CNT hoặc CNT-g-PVC đạt mức tối ưu để gia cường cho vật liệu, chúng sắp xếp theo trật tự nhất định và các sợi này tạo liên kết
bề mặt tốt với phân tử cao su Khi hàm lượng CNT vượt quá 4% cũng như đối với CNT-g-PVC là 3% thì các ống carbon nano được sắp xếp theo nhiều hướng khác nhau tạo thành các ống dài dẫn đến sự móc nối giữa các ống càng làm cho sự phân tán trở nên khó khăn dẫn đến sự kết tụ làm giảm tính chất cơ học của vật liệu Riêng độ cứng của vật liệu tăng dần với sự tăng của hàm lượng CNT Riêng đối với CNT-g-PVC đã cải thiện tính chất cơ học của vật liệu rõ ràng hơn so với CNT không biến tính Điều này có thể giải thích do PVC tương hợp tốt với NBR [7] nên sự có mặt của đoạn mạch PVC trên bề mặt giúp cho CNT-g-PVC tương tác với nền cao su tốt hơn Chính vì vậy, các tính chất cơ học của vật liệu được cải thiện tốt hơn
3.2.3 Cấu trúc hình thái của vật liệu
Cấu trúc hình thái của vật liệu được nghiên cứu bằng phương pháp kính hiển vi điện tử quét trường phát xạ (FESEM) Các hình dưới đây là ảnh FESEM bề mặt cắt của các mẫu vật liệu CSTN/NBR/CNT và CSTN/NBR/CNT-g-PVC
Từ các ảnh FESEM cho thấy, đối với mẫu CSTN/NBR/CNT (hình 3.25, hình 3.26, hình 3.27) thì ống nano carbon phân tán chưa thật đồng đều trong nền cao su và khả năng tương tác của chúng với nền cao su chưa thật tốt Trong khi đó mẫu CSTN/NBR/CNT-g-PVC (hình 3.28), ống carbon nano biến tính phân tán đồng đều hơn và chúng tương tác, bám dính tốt với nền cao su Chính vì vậy, tính chất
cơ học cũng như khả năng bền nhiệt của mẫu CSTN/NBR chứa CNT-g-PVC cao hơn so với mẫu chứa CNT Mặt khác trên ảnh FESEM còn cho thấy, đường kính ống CNT biến tính PVC lớn hơn CNT không biến tính Điều này càng khẳng định, PVC đã được ghép lên bề mặt của ống nano carbon
Trang 918
Hình 3.23: Ảnh hưởng của hàm lượng chất gia cường tới độ cứng
của vật liệu
Hình 3.24: Ảnh hưởng của hàm lượng chất gia cường tới độ mài
mòn của vật liệu
7
Hình 3.4: Ảnh hưởng của hàm lượng Si69 tới độ bền kéo đứt và độ
dãn dài khi đứt của vật liệu
Hình 3.5: Ảnh hưởng của hàm lượng Si69 tới độ cứng và độ dãn
dư của vật liệu
Trang 10Hình 3.6: Ảnh hưởng của hàm lượng Si69 tới độ mài mòn
của vật liệu
Kết quả trên cho thấy, độ bền kéo đứt và độ cứng của blend tăng
khi hàm lượng Si69 tăng và đạt giá trị cực đại ở hàm lượng 5% Si69
(so với nanosilica hay 0,6% so với cao su) Điều này có thể giải
thích, Si69 có thể kết hợp với bề mặt chất gia cường nanosilica, mặt
khác, các nhóm chức hữu cơ của Si69 phản ứng với các liên kết đôi
của mạch cao su, dẫn đến hình thành cầu nối giữa phân tử chất gia
cường với phân tử cao su, do đó nâng cao khả năng gia cường cho
chất gia cường
3.1.3 Cấu trúc hình thái của vật liệu
Cấu trúc hình thái của vật liệu được nghiên cứu bằng kính hiển vi
điện tử quét trường phát xạ (FESEM) Các hình dưới đây là ảnh chụp
FESEM bề mặt cắt của một số mẫu vật liệu cao su compozit trên cơ
sở blend CSTN/NBR với 3% nanosilica, 7% nanosilica, 10%
nanosilica và 7% nanosilica biến tính 5% Si69
3.2.2 Ảnh hưởng của hàm lượng CNT biến tính và chưa biến tính
đến tính năng cơ học của vật liệu
Kết quả khảo sát thu được được trình bày trong các hình dưới đây
Hình 3.21: Ảnh hưởng của hàm lượng chất gia cường tới độ bền
kéo đứt của vật liệu
Hình 3.22: Ảnh hưởng của hàm lượng chất gia cường tới
độ dãn dài khi đứt của vật liệu