1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trợ giúp người nghèo nhập cư thành phố hà nội tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội qua phương pháp công tác xã hội nhóm

107 381 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chất lượng cuộc sống của người nghèo di cư không được đảm bảo, việc tiếp cậnvới các dịch vụ xã hội bị hạn chế.Vì vậy, việc nghiên cứu sự hỗ trợ của Công tác xã hộinhóm đối với người nghè

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI

VÀ NHÂN VĂN

• • • •

NGUYỄN THỊ HUỆ

TRỢ GIÚP NGƯỜI NGHÈO NHẬP CƯ THÀNH PHỐ HÀ

NỘI TIẾP CẬN THÔNG TIN DỊCH VỤ XÃ HỘI

QUA PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM

(Điển cứu tại phường Phúc Xá- quận Ba Đình- thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI

VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HUỆ

TRỢ GIÚP NGƯỜI NGHÈO NHẬP CƯ THÀNH PHỐ HÀ

NỘI TIẾP CẬN THÔNG TIN DỊCH VỤ XÃ HỘI

XÃ HỘI NHÓM

(Điển cứu tại phường Phúc Xá- quận Ba Đình- thành phố Hà Nội)

Chuyên ngành: Công tác xã hội Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Bùi Thị Xuân Mai

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU 5

LỜI MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 rri Ạ _ Ạ -1- ^ _1 _ »Ạ r -* f\ Tông quan vân đề nghiên cứu

3 Ý nghĩa nghiên cứu 13

3.1 Ý nghĩa khoa học 13

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 14

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14

4.1 Mục đích nghiên cứu 14

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 14

5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 15

5.1 Đối tượng nghiên cứu 15

5.2 Khách thể nghiên cứu 15

6 Phạm vi nghiên cứu 15

7 Câu hỏi nghiên cứu 15

8 Giả thuyết nghiên cứu 15

9 Phương pháp nghiên cứu 16

9.1 Phương pháp phân tích tài liệu 16

9.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 16

9.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 17

9.4 Phương pháp thảo luận nhóm 17

9.5 Phương pháp quan sát 17

9.6 Phương pháp xử lý số liệu SPSS 18

10 Kết câu của đề tài 18

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CTXH NHÓM TRỢ GIÚP NGƯỜI NGHÈO NHẬP CƯ TIẾP CẬN THÔNG TIN DỊCH VỤ XÃ HỘI 19

Trang 4

1.1.2 Khái niệm di cư, nhập cư 22

1.1.3 Khái niệm dịch vụ xã hội, thông tin dịch vụ xã hội 23

1.1.4 Khái niệm Công tác xã hội, Công tác xã hội nhóm 26

1.1.5 Khái niệm trợ giúp 29

1.1.6 Khái niệm trợ giúp người nghèo nhập cư tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội qua phương pháp Công tác xã hội nhóm 29

1.2 Một số lý thuyết được vận dụng trong nghiên cứu 31

1.2.1 Thuyết Nhu cầu của Maslow 31

1.2.2 Lý thuyết Hệ thống 32

1.2.3 Lý thuyết Thay đổi xã hội 33

1.3 Tông quan địa bàn nghiên cứu (Phường Phúc Xá- quận Ba Đình- Hà Nội)35 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TRỢ GIÚP NGƯỜI NGHÈO NHẬP CƯ PHƯỜNG PHÚC XÁ- BA ĐÌNH- HÀ NỘI TIẾP CẬN THÔNG TIN DỊCH VỤ XÃ HỘI 37

2.1 Thực trạng đời sống xã hội của người nghèo nhập cư khu vực phường Phúc Xá- quận Ba Đình- thành phố Hà Nội 37

2.1.1 Về độ tuổi 37

2.1.2 Về trình độ văn hóa/chuyên môn 38

2.1.3 Về thu nhập bình quân và công việc 39

2.1.4 Về nguồn gốc và đặc điểm nhập cư 42

2.1.5 Về đăng ký hộ khẩu thường trú/ giấy tạm trú 45

2.2 Thực trạng, nhu cầu trợ giúp trong cuộc sống của người nghèo nhập cư tại khu vực phường Phúc Xá- quận Ba Đình- thành phố Hà Nội 47

2.2.1 Thực trạng, nhu cầu các điều kiện sống cơ bản (nhà ở, điện, nước sinh hoạt, ) 47

2.2.2 Thực trạng, nhu cầu chăm sóc sức khỏe 53

2.2.3 Thực trạng, nhu cầu vui chơi giải trí 64

2.3 Thực trạng sử dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm nhằm trợ giúp người nghèo nhập cư tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội 66

2.3.1 Thực trạng tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội của người nghèo nhập cư phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội 66

Trang 5

2.3.2 Thực trạng hỗ trợ người nghèo nhập cư tại địa phương tiếp cận thông

tin dịch vụ xã hội thông qua các hoạt động Công tác xã hội nhóm 76

2.3.3 Thực trạng đội ngũ cán bộ xã hội tham gia hỗ trợ hoạt động nhóm cho người nghèo nhập cư tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội 80

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 85

CHƯƠNG 3 THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM HỖ TRỢ NGƯỜI NGHÈO NHẬP CƯ PHƯỜNG PHÚC XÁ- BA ĐÌNH- HÀ NỘI TIẾP CẬN THÔNG TIN DỊCH VỤ XÃ HỘI 86

3.1 Tiến trình Công tác xã hội nhóm hỗ trợ người nghèo nhập cư 87

3.1.1 Giai đoạn 1: Chuẩn bị và thành lập nhóm 87

3.1.2 Giai đoạn 2: Lập kế hoạch hoạt động 93

3.1.3 Giai đoạn 3: Tập trung hoạt động 97

3.1.4 Giai đoạn 4: Lượng giá và kết thúc hoạt động 104

3.2 Xây dựng và huy động nguồn lực 105

3.2.1 Đội ngũ cán bộ xã hội/ cán bộ chuyên trách 105

3.2.2 Nhóm nòng cốt 109

3.2.3 Huy động, kết nối nguồn lực bên ngoài 111

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 113

KẾT LUẬN 114

KHUYẾN NGHỊ 116

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

PHỤ LỤC 120

PHỤ LỤC 1: PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN 120

PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT- MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG NHÓM ĐÃ TRIỂN KHAI TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG PHÚC XÁ- BA ĐÌNH- HÀ NỘI 128

Trang 6

Ủy ban nhân dânThành phốBảo hiểm y tếSức khỏe sinh sản

Kế hoạch hóa gia đìnhCông nghiệp hóa- Hiện đại hóaTrung học cơ sở

Trung học phổ thôngTrung cấp/ Cao đẳng/ Đại họcLao động Thương binh Xã hộiCác tổ chức phi chính phủ

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Đặc điểm của người nghèo nhập cư Phúc Xá- Ba Đình- HN 40

Bảng 2.2: Nguồn gốc và đặc điểm nhập cư của người nghèo nhập cư 42

phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội 42

Bảng 2.3: Thực trạng Hộ khẩu/ Đăng ký Tạm trú của người nghèo nhập cưphường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội 46

Bảng 2.4 Thực trạng nhà ở của người nghèo nhập cư 48

Phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội 48

Bảng 2.5: Thực trạng tiếp cận dịch vụ y tế của người nghèo nhập cư 54

phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội 54

Bảng 2.6: Thực trạng tiếp cận dịch vụ giáo dục của người nghèo nhập cưphường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội 59

Bảng 2.7: Thực trạng học tập của con/ em hộ nghèo nhập cư 60

Phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội 60

Bảng 2.8: Các hoạt động trong thời gian rảnh rỗi của người nghèo nhập cư phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội 64

Bảng 2.9: Thực trạng tiếp cận thông tin qua phương pháp CTXH nhóm của người nghèo nhập cư Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội 67

Bảng 2.10: Nội dung sinh hoạt nhóm của người nghèo nhập cư 72

phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội 72

Bảng 2.11: Lợi ích của việc tham gia sinh hoạt nhóm người nghèo nhập cư phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội 73

Bảng 2.12: Mức độ mong muốn có hoạt động cung cấp thông tin dịch vụ xã hội cho người nghèo nhập cư Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội 77

Bảng 2.13: Cán bộ xã hội/ người chuyên trách trong hỗ trợ sinh hoạt nhóm người nghèo nhập cư phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội 81

Trang 8

Biểu 2.1: Thực trạng nhà vệ sinh của người nghèo nhập cư phường Phúc Xá,

Ba Đình, Hà Nội 50Biểu 2.2: Mức độ đủ điện, nước sinh hoạt của người nghèo nhập cư 51Phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội 51

Biểu 2.3: Mong muốn hỗ trợ trong tiếp cận dịch vụ nhà ở, điện, nước sinh

hoạt của người nghèo nhập cư phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội 52

Biểu 2.4: Mong muốn hỗ trợ trong vui chơi, giải trí của người nghèo nhập cư

phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội 66

Biểu 2.5: Mong muốn về phương pháp tổ chức sinh hoạt nhóm người nghèo

nhập cư phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội 75Biểu 2.6: Các hoạt động hỗ trợ tiếp nhận thông tin dịch vụ xã hội cho người nghèonhập cư Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội 76

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

l Lý do chọn đề tài

Giai đoạn công nghiệp hóa- hiện đại hóa (CNH- HĐH) đất nước với nhiều bướcđột phá tiến bộ đã giúp đất nước ta đạt được nhiều thành tựu đáng kể mà không ai cóthể phủ nhận Tuy nhiên, CNH- HĐH cũng kéo theo nhiều hệ quả phát sinh khôngmong muốn Không chỉ những vùng đặc biệt khó khăn như nông thôn, miền núi, vấn

đề nghèo đói hay tiếp cận các thông tin các dịch vụ xã hội mới là một vấn đề nan giải

mà ngay chính tại trung tâm các thành phố lớn, chúng cũng là vấn đề lớn trong việcđảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân Tại các đô thị lớn, vấn đề khó khăntrong tiếp cận thông tin các dịch vụ xã hội gặp phải nhiều nhất ở đối tượng ngườinghèo nhập cư Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đã đưa những người dân từ vùngquê nghèo lên thành phố lớn để mưu sinh, kiếm thêm thu nhập Dù ngay ở nơi nhộnnhịp và phát triển nhất họ cũng không thể hoặc rất khó khăn trong tiếp cận thông tincác dịch vụ xã hội vì nhiều vấn đề tác động như điều kiện kinh tế, Những ngườinghèo nhập cư nghèo với những đặc điểm như nghề nghiệp không ổn định, trình độhọc vấn thấp và không có nhà cửa đã và đang thực sự phải đối mặt với nhiều nguy cơ.Thực trạng này thể hiện rõ nét nhất tại hai thành phố lớn nhất cả nước là thủ đô Hà Nội

và Thành phố Hồ Chí Minh

Cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 với mục đích thu thập số liệu vềdân số và nhà ở nhằm phục vụ công tác nghiên cứu và phân tích xu hướng phát triểndân số của cả nước cũng như các địa phương cho thấy rằng số người di cư giữa cáctỉnh năm 1989 là 1.349.291 người (chiếm 2,5%), năm 1999, là 2.001.408 người (chiếm2,9%); và đến thời điểm năm 2009 con số này lên đến 3.397.904 người (chiếm 4,3%)

Xu hướng gia tăng di cư cả về số lượng và tỉ lệ người di cư được quan sát thấy tronghai thập kỉ qua, nhưng xu hướng gia tăng này chỉ nổi bật rõ rệt trong vòng một thập kỷvừa rồi Theo như dự báo của Tổng cục Thống kê, đến năm 2019, số người di cư giữacác tỉnh sẽ lên đến 6 triệu người [8]

Số lượng và tỉ lệ người di cư đều tăng nhanh chóng trong thời gian vừa

Trang 10

qua và khó kiểm soát đã kéo theo hàng loạt những hệ lụy không mong muốn Trongthời gian qua, Đảng và nhà nước ta đã và đang đưa ra những chính sách cần thiết vàđem lại lợi ích cho những người nghèo thành phố cũng như những người dân nghèo di

cư tại đô thị Tuy nhiên, do ảnh hưởng của mặt trái nền kinh tế thị trường, cũng như sựthiếu sót trong quá trình triển khai thực hiện, vấn đề khó khăn trong tiếp cận thông tin

về các dịch vụ xã hội của người nghèo nhập cư tại đô thị vẫn đang có chiều hướng giatăng Chất lượng cuộc sống của người nghèo di cư không được đảm bảo, việc tiếp cậnvới các dịch vụ xã hội bị hạn chế.Vì vậy, việc nghiên cứu sự hỗ trợ của Công tác xã hộinhóm đối với người nghèo di cư tại đô thị là hết sức cần thiết.Nó không chỉ giúp chúng

ta có cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng hỗ trợ người nghèo di cư bằng phương phápCông tác xã hội nhóm mà còn giúp chúng ta đề ra những giải pháp, hướng đi đúng đắncho việc giải quyết vấn đề đặt ra

Hà Nội hiện nay là đô thị lớn thứ hai của cả nước, dân số 6.448.837 người Mật

1999- 2009 là 2,0% Hà Nội là trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, là trung tâmlớn về kinh tế, văn hóa, xã hội là đầu mối giao dịch quan trọng trong nước và quốc

tế Hà Nội có điều kiện cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng, các dịch vụ xã hội phổbiến như y tế, căm sóc sức khỏe, giáo dục, các dịch vụ vui chơi giải trí Bên cạnh đó,

Hà Nội có mức thu nhập cao hơn so với các tỉnh thành phố khác trong cả nước Chínhnhững điều kiện thuận lợi này đã khiến Hà Nội trở thành nơi hội tụ đầy đủ các yếu tốthu hút người dân di cư đến với nhiều mục đích khác nhau như kiếm việc làm, tăngthêm thu nhập, có cơ hội học tập nâng cao trình độ, cùng với những điều kiện sinh hoạt

và các dịch vụ xã hội tốt hơn Năm 2001 số người nhập cư vào Hà Nội là 16,985 ngườithì đến năm 2007 là 46,240 người và con số đó đã là 52,588 người vào năm 2010.Theo thống kê, sau khi mở rộng địa giới thủ đô, năm 2009, Hà Nội có 6,4 triệu ngườiđăng ký hộ khẩu thường trú, còn hiện nay lượng dân số thường xuyên sinh sống và tạmtrú trên 7 triệu người Nếu kể cả người nước ngoài, học sinh, sinh viên, người các tỉnh

về lao động thời

Trang 11

vụ thì dân số đang sống ở Hà Nội trên khoảng 8 triệu người Mật độ dân số tập trungrất cao ở các quận nội thành, nhất là 4 quận nội thành cũ (Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai BàTrưng, Đống Đa) Xu thế chung trong những năm tới là số lượng người lao động ngoạitỉnh nhập cư vào Hà Nội vẫn tăng lên một cách nhanh chóng [23]

Phường Phúc Xá- quận Ba Đình- thành phố Hà Nội là phường có chợ đầu mốiLong Biên đóng trên địa bàn, thu hút một lượng lớn người lao động nhập cư từ các nơitrên cả nước về đây Nhiều vấn đề của người lao động nhập cư nảy sinh theo đó Bị hạnchế trong việc tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin về các dịch vụ xã hội là mộttrong số những vấn đề của người lao động nghèo nhập cư Vấn đề này đặt ra bài toánnan giải với các cấp chính quyền phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội

CTXH có ba phương pháp chính: CTXH cá nhân, CTXH nhóm và Phát triểncộng đồng Mỗi phương pháp CTXH đều mang lại những hiệu quả và được sử dụngtrong những trường hợp khác nhau CTXH nhóm được công nhận là một phương phápcủa nghề CTXH chuyên nghiệp trên nền tảng cơ sở các khoa học để giải quyết vấn đềcủa thân chủ; thân chủ trong CTXH và CTXH nhóm đa dạng ở nhiều lĩnh vực; chươngtrình đào tạo CTXH nhóm có ở nhiều các cấp bậc khác nhau Phương pháp này đã bắtnguồn từ rất lâu trong văn hóa tương thân thương ái với các hoạt động nhóm mang tính

hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong khó khăn, chưa có tính chuyên nghiệp của CTXH nhóm.Nhóm trong CTXH (VD: nhóm chị em phụ nữ bị bạo lực gia đình xã A, nhóm trẻ mồcôi nhiễm HIV/AIDS, nhóm NVXH, nhóm tình nguyện viên, nhóm chuyên môn thựchiện nhiệm vụ hỗ trợ, ) được thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điều phối củaNVXH/ thành viên trong nhóm và sự trợ giúp của NVXH Ngày nay, các nhóm tự lực,đồng đẳng trong các thân chủ của CTXH đã hình thành, nhằm tạo dựng và phát huy sựtương tác, chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực giữa các thành viên, giúp củng cố, tăngcường chức năng xã hội và khả năng giải quyết vấn đề, thỏa mãn nhu cầu của nhóm.Thông qua sinh hoạt nhóm, mỗi cá nhân hòa nhập, phát huy tiềm năng, thay đổi thái

độ, hành vi và

Trang 12

khả năng đương đầu với nan đề của cuộc sống, tự lực và hợp tác giải quyết vấn đề đặt

ra vì mục tiêu cải thiện hoàn cảnh một cách tích cực Đây là phương pháp của Công tác

xã hội mang lại hiệu quả cao khi tạo môi trường cho các thành viên nhóm được tươngtác, chia sẻ; tác động đến số lượng lớn các thành viên nhóm; phù hợp nhiều hoàn cảnhkhác nhau với điều kiện chi phí thấp.Tuy nhiên, trong công tác hỗ trợ người nghèo nhập

cư, phương pháp Công tác xã hội nhóm vẫn chưa được chú trọng sử dụng nhằm manglại hiệu quả xứng với vai trò của phương pháp này

Từ thực trạng trên cho thấy, việc tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích thực trạngcuộc sống và tác động của Công tác xã hội nhóm trong trợ giúp người nghèo nhập cưtại đô thị nói chung, trên địa bàn phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội nói riêng trongviệc tiếp cận những thông tin về các dịch vụ xã hội có ý nghĩa rất lớn và làm cơ sở choviệc đưa ra những khuyến nghị, thử nghiệm mô hình phù hợp trong công tác hỗ trợngười nghèo nhập cư tại đô thị qua phương pháp nhóm

Từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: Trợ giúp người nghèo nhập cư thành phố Hà Nội tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội qua phương pháp Công tác xã hội nhóm (Điển cứu tại phường Phúc Xá- quận Ba Đình- thành phố Hà Nội).

2 rri Ạ Ạ _-1- _^ 1 _ »Ạ r

Tông quan vân đê nghiên cứu

Các vấn đề liên quan đến người di cư nói riêng, người nghèo nhập cư tại cácthành phố lớn đã và đang được quan tâm nghiên cứu hàng đầu trên thế giới cũng nhưtại Việt Nam.Đặc biệt ở nước ta, trong những năm gần đây lượng người nhập cư vàocác đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đang tăng vọt Các vấn đề nàymang đến nhiều thách thức cho sự phát triển chung của xã hội cũng như rủi ro chonhững người nghèo nhập cư sinh sống ở các đô thị này Chính vì vậy, đây là vấn đềđược rất nhiều quan tâm nghiên cứu không chỉ của quốc gia mà còn của các cá nhânđối với sự phát triển đô thị và đời sống người nghèo

Trang 13

Trong nghiên cứu về “Di cư tự do đến Hà Nội- Thực trạng và giải pháp” của

PGS.TS Hoàng Văn Chức, 2003 có đề cập đến tính hình di cư của người lao độngtrong những năm 1980- 1990 Chỉ ra những nguyên nhân của di cư xuất phát từ sựchuyển đổi sang kinh tế thị trường Nghiên cứu cũng đặc biệt nhấn mạnh đến thựctrạng di dân tự do đến Hà Nội và những ảnh hưởng của di dân tự do đến môi trường,đến cơ sở hạ tầng của thành phố, đến việc quản lý nhân khẩu, các tệ nạn xã hội, trật tự

an toàn xã hội - những vấn đề đang ngày càng trở nên nan giải hơn khi dòng người đổ

xô về đô thị ngày càng nhiều

Trên tạp chí Khoa học về phụ nữ có bài viết “Chiều cạnh giới của di cư lao động

thời kỳ CNH, HĐH đất nước” của GS.TS Đặng Nguyên Anh, 2005, xem xét đặc trưng

của di dân nhìn từ góc độ giới, tập trung đánh giá loại hình di dân lao động nữ ra đô thị

và đến các khu công nghiệp, chế xuất Bài viết cho thấy sự gia tăng về quy mô, tỷ trọngcũng như các loại hình di cư nữ, đặc biệt đến khu vực thành thị, các khu công nghiệp làmột thực tế khách quan phản ánh quy luật phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá,hiện đại hoá Bên cạnh đó là những bất cập, những khó khăn trở ngại mà phụ nữ phảiđối diện trong quá trình di cư khi mà các chính sách, môi trường xã hội và pháp lýchưa tạo điều kiện để đảm bảo quyền lợi cho họ

Chuyên đề nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống của người di cư Việt Nam" của

Tổng cục thống kê thực hiện năm 2006 Nghiên cứu này quan tâm xem xét tác độngcủa di cư với bản thân những người di cư Chất lượng cuộc sống của người di cư được

đề cập trong báo cáo này đã mô tả các yếu tố quyết định sự thành công của di cư (cảkhách quan và chủ quan) liên quan tới thu nhập, nhà ở, phúc lợi và an ninh nơi chuyểnđến Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả di cư bao gồm từ các cơ hội kinh tế, tính sẵnsàng về nhà ở và các điều lệ, quy định của địa phương nơi đến, loại di cư, tức là di cưtạm thời, chuyển đến nơi mới rồi lại quay về, tạm trú dài hạn hoặc kết hợp của các hìnhthức trên, các hỗ trợ mà người di cư có thể có được thông qua hoặc hệ thống phúc lợi

xã hội chung hoặc mạng lưới xã hội riêng của người di cư

Trang 14

Chuyên khảo “Di cư trong nước và mối liên hệ với các điều kiện sống'" do Tổng

cục thống kê thực hiện cũng trong năm 2006 nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việchoạch định chính sách và kế hoạch hoá phát triển các lĩnh vực khác nhau có tính đến sựkhác biệt giữa các nhóm di cư Mục tiêu chính của chuyên khảo này là miêu tả mốiquan hệ giữa di cư và các sự kiện cuộc sống Các sự kiện được phân tích xem xét baogồm: việc làm, thay đổi nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, học vấn, sinh đẻ Tập trungphân tích các mô hình di cư theo chu trình cuộc sống, gắn với các nguyên nhân và hậuquả chính của di cư

Tài liệu nghiên cứu “Di cư trong nước- Cơ hội và thách thức đối với sự phát triển

kinh tế xã hội ở Việt Nam" do Veronique Marx và Katherine Fleischer thay mặt nhóm

Điều phối chương trình về chính sách kinh tế và xã hội của các tổ chức Liên hợp quốctại Việt Nam biên soạn tháng 7/ 2010 đã tập trung đi sâu vào vấn đề di cư, các phântích trong tài liệu bao gồm các xu hướng nổi trội của di cư trong nước, tác động của nótới sự phát triển kinh tế xã hội và những khó khăn thách thức mà người di cư gặp phảitrong quá trình di cư

Nghiên cứu “Tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội của người nghèo tại khu vực đô

thị: thực trạng và các giải pháp hoàn thiện - ThS Lưu Quang Tuấn, Phó Viện trưởng

Viện Khoa học Lao động và Xã hội thực hiện năm 2011 đã có cái nhìn tổng quan vềthực trạng tiếp cận các dịch vụ ASXH của người nghèo ở khu vự đô thị và giải pháp đề

ra Nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh như giáo dục, y tế, nhà ở, việc làm, điện,nước, BHXH, nước sinh hoạt, chế độ hưu trí cho người nghèo tại khu vực đô thị.Nghiên cứu đưa ra so sánh mức độ tiếp cận dịch vụ xã hội của các nhóm người sinhsống và làm việc tại đô thị: nhóm người nghèo, nhóm cận nghèo, nhóm trung bình,nhóm khá, nhóm giàu Từ đó đưa ra những nhận định chuẩn xác nhất về thực trạng tiếpcận dịch vụ xã hội của nhóm người nghèo đô thị

Các nghiên cứu trên đều cho thấy đặc điểm, thực trạng, nguyên nhân của quá trình

di cư nói chung cũng như nhập cư vào các đô thị lớn nói riêng, trong đó có Hà Nội.Nhưng các báo cáo, tài liệu, nghiên cứu trên đều chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu thựctrạng, một số những khó khăn của người nghèo tại đô thị

Trang 15

và đưa ra những đề xuất mà chưa đi sâu nghiên cứu vai trò, tác động và những hiệuquả của mô hình Công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ người nghèo nhập cư.

Từ thực trạng trên, trong giới hạn cho phép, tôi xin thực hiện đề tài nghiên cứu,

tìm hiểu Trợ giúp người nghèo nhập cư thành phố Hà Nội tiếp cận thông tin dịch vụ xã

hội qua phương pháp Công tác xã hội nhóm (Điển cứu tại phường Phúc Xá- quận Ba Đình- thành phố Hà Nội) Đề tài sẽ đi sâu vào nghiên cứu thực trạng cuộc sống của

người nghèo nhập cư tại đô thị, thực trạng tiếp cận thông tin về các dịch vụ xã hội;những nhu cầu, mong muốn của họ và những hoạt động Công tác xã hội nhóm trongtrợ giúp người nghèo nhập cư tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội (điển cứu tại địa bànphường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội) Từ đó có những khuyến nghị, thử nghiệm môhình phù hợp nhằm hỗ trợ người nghèo nhập cư tăng cường khả năng tiếp cận thông tin

về các dịch vụ xã hội

3 Ý nghĩa nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài nhằm tìm hiểu và đánh giá thực trạng cuộc sống của người nghèo nhập

cư tại đô thị, thực trạng tiếp cận thông tin về các dịch vụ xã hội; những nhu cầu, mongmuốn của họ trong việc tiếp cận thông tin về các dịch vụ xã hội và những hoạt độngCông tác xã hội nhóm trong trợ giúp người nghèo nhập cư tiếp cận thông tin dịch vụ xãhội (điển cứu tại địa bàn phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội) Cũng như đề ra nhữnggiải pháp phù hợp để từ đó có những khuyến nghị, thử nghiệm phù hợp nhằm hỗ trợngười nghèo nhập cư

Ngoài ra, nghiên cứu còn vận dụng các lý thuyết trong công tác xã hội như:thuyết hệ thống, thuyết nhu cầu đối với vấn đề người nghèo nhập cư tại đô thị Từ đó

bổ sung lý luận cho việc vận dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm, hoàn thiện hệthống lý thuyết của Công tác xã hội đối với người nghèo nhập cư tại thành phố Hà Nộinói riêng và các đô thị hiện nay nói chung

Trang 16

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu nhằm hỗ trợ nhóm đối tượng là người nghèo nhập cư tại thành phố

Hà Nội tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội về các lĩnh vực trong cuộc sống bao gồm giáodục, y tế, nhà ở, việc làm qua các hoạt động của phương pháp Công tác xã hội nhóm.Nghiên cứu này nhằm mục đích thấy được thực trạng cuộc sống của người nghèonhập cư tại đô thị, thực trạng tiếp cận thông tin về các dịch vụ xã hội; những nhu cầu,mong muốn của họ trong việc tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội và những hoạt độngCông tác xã hội nhóm trong trợ giúp người nghèo nhập cư tiếp cận thông tin dịch vụ xãhội (điển cứu tại địa bàn phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội) Từ đó có những thửnghiệm, khuyến nghị nhằm trợ giúp cho nhóm người nghèo nhập cư tăng năng lực tiếpcận thông tin dịch vụ xã hội và khả năng đương đầu với những khó khăn trong cuộcsống

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá thực trạng trợ giúp người nghèo nhập cư thành phố Hà Nội tiếp cậnthông tin dịch vụ xã hội thông qua phương pháp Công tác xã hội nhóm; bên cạnh đó,thử nghiệm mô hình Công tác xã hội nhóm nhằm trợ giúp nhóm người nghèo nhập cưtại đô thị tăng cường khả năng tiếp cận thông tin về các dịch vụ xã hội tại nơi nhập cư

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận về người nghèo nhập cư, phương pháp CTXH nhóm trong

hỗ trợ người nghèo nhập cư

- Khảo sát đánh giá thực trạng cuộc sống của người nghèo nhập cư tại đô thị; thựctrạng tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội; nhu cầu, mong muốn của nhóm người này trongviệc tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội tại nơi nhập cư đến và thực trạng CTXH nhómtrong trợ giúp người nghèo nhập cư tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội tại địa bàn nghiêncứu

- Thử nghiệm phương pháp CTXH nhóm với người nghèo nhâp cư trong tiếp cậnthông tin

Trang 17

5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

5.1.Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu về việc trợ giúp người nghèo nhập cư thành phố Hà Nội tiếp cậnthông tin dịch vụ xã hội qua phương pháp công tác xã hội nhóm

5.2.Khách thể nghiên cứu

- Nhóm người nghèo nhập cư hiện đang sinh sống và làm việc tại đô thị

- Cán bộ địa phương nơi mà có người nghèo nhập cư sinh sống và làm việc đượcchọn nghiên cứu

6 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian nghiên cứu: khu vực phường Phúc Xá - quận Ba thành phố Hà Nội

Đình Phạm vi thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 6 năm 2015

- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Đề tài khảo sát, tìm hiểu đặc điểm, đánh giá thựctrạng tiếp cận thông tin về các dịch vụ xã hội; và những hoạt động Công tác xã hộinhóm trong trợ giúp người nghèo nhập cư tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội (điển cứutại địa bàn phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội) Qua đó thử nghiệm mô hình CTXHnhóm nhằm hỗ trợ người nghèo nhập cư trong địa bàn nghiên cứu nâng cao chất lượngcuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bằng các hoạt động của phương pháp CTXH nhóm

7 Câu hỏi nghiên cứu

(1) Thực trạng cuộc sống của người nghèo nhập cư thành phố Hà Nội như thế nào?

(2) Nhu cầu và thực trạng tiếp cận thông tin về dịch vụ xã hội của người nghèo nhập cư qua phương pháp nhóm tại địa bàn thành phố Hà Nội như thế nào?

(3) Vai trò của CTXH nhóm trong trợ giúp người nghèo nhập cư thành phố Hà Nội tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội?

8 Giả thuyết nghiên cứu

Thực trạng cuộc sống của nhóm người nghèo nhập cư tại Hà Nội tồn tại rất nhiều khó khăn

Trang 18

Hầu hết những người nghèo nhập cư chưa được tiếp cận với thông tin về cácdịch vụ xã hội như việc làm, nhà ở, giáo dục, y tế, để đáp ứng nhu cầu cuộc sống.CTXH nhóm là một trong những phương pháp can thiệp giúp người nghèo nhập cưtiếp cận thông tin về các dịch vụ xã hội có hiệu quả.

9 Phương pháp nghiên cứu

9.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài Ngườinghiên cứu tiến hành thu thập các tài liệu văn bản cần thiết từ các sở, ban, ngành và cácnguồn tin cậy và phù hợp với đối tượng cũng như vấn đề nghiên cứu, tiến hành xemxét các thông tin có sẵn trong tài liệu để có cái nhìn tổng quan về vấn đề Đồng thờiphục vụ cho mục đích tổng hợp thông tin và đáp ứng cho mục tiêu nghiên cứu của đềtài một cách tốt nhất

Trong vấn đề này, người nghiên cứu tìm hiểu và nghiên cứu các tài liệu liênquan tới người nghèo nhập cư tại đô thị, cụ thể đó là các chương trình quản lý, cácchương trình nghiên cứu, báo cáo về tình trạng người nghèo nhập cư ở đô thị, nghiêncứu sâu tại thành phố Hà Nội

9.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Phỏng vấn bằng bảng hỏi là một công cụ quan trọng trong nhận thức thựcnghiệm, nó là sự thể hiện bên ngoài của chương trình nghiên cứu Bảng hỏi là một hệthống các câu hỏi được xếp đặt trên cơ sở logic bảo đảm theo nội dung của vấn đềnghiên cứu nhằm tạo điều kiện cho người được hỏi thể hiện quan điểm của mình vớinhững vấn đề thuộc về đối tượng nghiên cứu và người nghiên cứu thu nhận được cácthông tin cá biệt đầu tiên đáp ứng các yêu cầu của đề tài, mục tiêu và nội dung nghiêncứu

Đề tài xây dựng bộ công cụ bảng hỏi dành cho khách thể nghiên cứu là ngườinghèo nhập cư, với các câu hỏi nhằm khai thác thông tin phục vụ cho việc tổng hợp sốliệu nghiên cứu

Nội dung bảng hỏi gồm các thông tin:

- Đặc điểm nhân khẩu: giới tính, trình độ học vấn, độ tuổi,

Trang 19

- Đặc điểm đời sống xã hội của người nghèo nhập cư: lịch sử nhập cư của ngườinghèo nhập cư; đặc điểm nhà ở và điều kiện sống cơ bản, chăm sóc sức khỏe, y tế, giáodục, hoạt động nhóm và nhu cầu của người nghèo nhập cư; thực trạng những trợ giúp

từ phía chính quyền, đoàn thể, các tổ chức phi lợi nhuận trong hỗ trợ người nghèo nhập

cư tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội bằng phương pháp Công tác xã hội nhóm

- Phạm vi mẫu nghiên cứu: nghiên cứu trên số lượng mẫu 150 người dân nghèonhập cư hiện đang sinh sống và làm việc tại khu vực phường Phúc Xá - quận Ba Đình -thành phố Hà Nội

9.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng với 10 người đại diện cho 10 hộ giađình nghèo nhập cư và 10 cán bộ chính quyền địa phương Cụ thể về quy mô và cơ cấuphỏng vấn sâu như sau:

Người nghèo nhập cư Cán bộ địa phương

9.4 Phương pháp thảo luận nhóm

Người nghiên cứu vận dụng các kỹ năng trong phương pháp thảo luận nhómnhằm thu thập các thông tin liên quan đến nội dung nghiên cứu luận văn Phương phápthảo luận nhóm được thực hiện trên 2 nhóm nhỏ, mỗi nhóm gồm 3 người nghèo nhập

cư hiện đang sinh sống và làm việc trên địa bàn phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội

9.5 Phương pháp quan sát

Là phương pháp thu thập thông tin quan trọng được sử dụng trong suốt quá trìnhnghiên cứu, được thực hiện qua nhiều giai đoạn, từ giai đoạn khảo sát, thu thập thôngtin cho đến tiến hành hỗ trợ và kết thúc

Mục đích của phương pháp này nhằm thấy được thực tiễn cuộc sống của người

thông tin dịch vụ xã hội như việc làm, nơi ở, giáo dục, y tế, Phương pháp quan sát giúp tăng tính xác thực của đề tài nghiên cứu

9.6 Phương pháp xử lý số liệu SPSS

Sau khi tiến hàng khảo sát bằng bảng hỏi, người nghiên cứu thực hiện các kỹnăng như làm sạch phiếu hỏi, tổng hợp, mã hóa và xử lý số liệu trên phần mềmSPSS.150 mẫu điều tra được thu thập, tổng hợp và xử lý trên phần mềm SPSS nhằmđưa ra được thực trạng về những khía cạnh cần nghiên cứu

10 Kết cấu của đề tài

Đề tài có kết cấu gồm ba phần chính: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kếtluận Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của Luận văn gồm bachương Nội dung chính tập trung trong ba chương

Kết cấu đề tài nghiên cứu như sau

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CTXH NHÓM TRỢ GIÚP NGƯỜI NGHÈO NHẬP CƯ TIẾP CẬN THÔNG TIN DỊCH VỤ XÃ HỘI CHƯƠNG 2 THỰC

TRẠNG TRỢ GIÚP NGƯỜI NGHÈO NHẬP CƯ PHƯỜNG PHÚC XÁ- BA ĐÌNH-

HÀ NỘI TIẾP CẬN THÔNG TIN DỊCH VỤ XÃ HỘI

CHƯƠNG 3 THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH CTXH NHÓM HỖ TRỢ NGƯỜI NGHÈONHẬP CƯ PHÚC XÁ- BA ĐÌNH- HÀ NỘI TIẾP CẬN THÔNG TIN DỊCH VỤ XÃHỘI

Trang 20

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CTXH NHÓM TRỢ GIÚP NGƯỜI NGHÈO

NHẬP CƯ TIẾP CẬN THÔNG TIN DỊCH VỤ XÃ HỘI1.1 Một số khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm nghèo và người nghèo

Khái niệm nghèo và một số khái niệm có liên quan.

* Nghèo:

Khái niệm chung về nghèo đã được các quốc gia trong khu vực thống nhất tại Hội nghị chống nghèo do Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội

và phong tục tập quán của địa phương ”.

Ông Abapia Sen, chuyên gia của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho rằng:

“Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.”

Ngân hàng thế giới (WB) lại đưa ra quan điểm: Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất Nghèo không chỉ bao gồm cac chỉ số dựa trên thu nhập mà cỏn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, quyền phát ngôn và quyền lực.

Ở Việt Nam, theo định nghĩa trước năm 1995, của tác giả Phạm Hữu Khải:

“Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống ngang bằng với mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện ”.

§ Dù có nhiều đặc trưng nhưng các khái niệm, quan niệm về nghèo đói trên hầunhư đều phản ánh 3 khía cạnh của người nghèo: Không được thụ hưởng những mứcsống cơ bản dành cho con người; có mức sống thấp hơn

Trang 21

mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia trong quátrình phát triển cộng đồng.

Ngưỡng nghèo (chuẩn nghèo): là mức chi dùng tối thiểu, được xác định nhưtổng tiền chi cho giỏ hàng tiêu dùng trong thời hạn nhất định, bao gồm một lượng tốithiểu lương thực thực phẩm và đồ dùng cá nhân, cần thiết để bảo đảm cuộc sống và sứckhỏe một người ở tuổi trưởng thành, và các khoản chi bắt buộc khác

* Nghèo đơn chiều và nghèo đa chiều:

Nghèo đơn chiều: Là tình trạng nghèo được tính dựa trên chuẩn nghèo của Ngân

hàng thế giới/ Tổng cục Thống kê, hoặc chuẩn nghèo thu nhập của chính phủ Tức làdựa trên mức thu nhập của cá nhân/ hộ gia đình hoặc mức chi tiêu dể đánh giá mức độnghèo đói

Nghèo đa chiều: Là tình trạng nghèo được xem xét dựa trên nhiều phương diện

không chỉ về thu nhập, chi tiêu mà còn về nhiều phương diện khác như nguồn nhânlực, điều kiện sống, vốn xã hội và khả năng tiếp cận các dịch vụ công cùng nhiều tiêuchí khác Chỉ số nghèo khổ đa chiều phản ánh tất cả phạm vi tác động của nghèo đói.Chỉ số này được tính toán bằng việc nhân phạm vi ảnh hưởng của đói nghèo (Incidence

of Poverty) và cường độ trung bình tác động lên người nghèo (Average IntensityAcross the Poor) Chỉ số nghèo khổ đa chiều đánh giá được một loạt các yếu tố quyếtđịnh hay những thiếu thốn, túng quẫn ở cấp độ gia đình: từ giáo dục đến những tácđộng về sức khỏe, đến tài sản và các dịch vụ

Như vậy nếu xem xét trên góc độ nghèo đa chiều thì người nghèo, cụ thể làngười nghèo di cư tại đô thị sẽ được bao quát và nhìn nhận đúng đắn hơn rất nhiều sovới nghèo đơn chiều

* Hộ nghèo: Là những hộ có thu nhập bình quân đầu người trong hộ dướingưỡng nghèo (hay còn gọi là chuẩn nghèo)

Ngưỡng nghèo có thể thay đổi theo thời gian, không gian và điều kiện kinh tếcủa đất nước Ở nước ta, chuẩn nghèo đã được điều chỉnh theo các giai đoạn: 1993-

1995, 1996- 2000, 2001- 2005 và 2006- 2010, 2011- 2015

Trang 23

Chuẩn nghèo của Chính phủ và chuẩn nghèo riêng TP Hà Nội trong từng

ồng/ người/ tháng)

2009 2010 2011

400.0 ở nông thôn

ủa Chính phủ và UBND TP Hà Nội

Ngày 01-01-2011, áp dụng chuân nghèo mới cho giai đoạn 2011-2015theochỉ thị số 1752/ CT - TTg ngày 21-09-2010 của Thủ tướng Chính phủ.Theo đó, hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ

nhập bình quân từ 501.000 đến 650.000 đồng/ người/ tháng Mức chuân nghèo quyđịnh nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và các chính sáchkinh tế, xã hội khác

Trước đó, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố Hà Nội cũng đã ban hành chuân

hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011- 2015 trên địa bàn Cụ thể, tại khuvực thành thị những hộ có mức thu nhập bình quân từ

những hộ có mức thu nhập bình quân từ 751.000 đến 1.000.000 đồng/ người/ tháng

Hộ cận nghèo tại nông thôn sẽ là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 551.000đồng/ người/ tháng đến 750.000 đồng/ người/ tháng

1.1.1.2 Khái niệm người nghèo

Theo tác giả cổ Trung Quốc cho rằng, người nghèo là: "Những người vẫn đang cỏn phải lo toan cho bữa ăn đó là người nghèo, cuộc sống đối với người nghèo chỉ là

thời kỳ (thu nhập bình quân: đi

Nguồn: Quyết định chuẩn nghèo ci

Tại hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển xã hội tổ chức tại Copenhaghen,

Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra định nghĩa về người nghèo như sau: “Người nghèo là

tất cả những ai mà thu nhập dưới 1 Đô la (USD) mỗi ngày, số tiền được coi là đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại.”

§ Từ các quan niệm và định nghĩa về nghèo đã đề cập ở trên và những quan điểm về người nghèo, ta có thể đưa ra những quan điểm về người nghèo như sau: Người nghèo là những người có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng xung quanh Họ có thu nhập thấp, không ổn định và không có khả năng tiếp cận các dịch vụ

cơ bản của xã hội.

Trong khuôn khổ của luận văn Thạc sỹ, căn cứ vào chuẩn nghèo giai đoạn 2011- 2015 của Thủ tướng Chính phủ, ta có thể rút ra một khái niệm về người nghèo ở Việt Nam như sau: Người nghèo là những người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo của Chính phủ Tức là người có thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/ người/ tháng trở xuống đối với nông thôn và từ

500.0 đồng/ người/ tháng trở xuống ở thành thị (theo Chuẩn nghèo giai đoạn 2015)

2011-1.1.2 Khái niệm di cư, nhập cư.

1.1.2.1 Khái niệm di cư.

Di cư, hiểu theo nghĩa rộng là sự dịch chuyển bất kỳ của con người trong mộtkhông gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnhviễn Hiểu theo nghĩa hẹp thì di cư là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ nàyđến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập nơi cư trú mới trong một không gian, thờigian nhất định

Theo tổ chức Liên Hiệp Quốc, di cư hay di dân là sự dịch chuyển từ khu vựchành chính này sang khu vực hành chính khác, trong một khoảng thời gian nhất định

Di cư được phân loại thành di cư trong nước và di cư quốc tế

Theo TS Kinh tế học Lao động Harvey B.King "di cư thường được hiểu là chuyển đến một chỗ ở khác cách chỗ ở cũ một khoảng đủ lớn buộc

Trang 24

người di cư phải thay đổi “hộ khẩu thường trú ”, chuyển đến một thành phố khác, một tỉnh khác hay một nước khác".

Di cư đi và di cư đến: Mỗi hiện tượng di cư bao giờ cũng gồm hai mặt: Rời bỏchỗ cũ và đến một nơi ở khác Rời bỏ nơi cư trú gọi là di cư đi và đến một nơi cư trúkhác gọi là di cư đến Nhập cư là di cư đến nơi cư trú khác

1.1.2.2 Khái niệm nhập cư.

Nhập cư là hoạt động di chuyển chỗ ở đến một vùng hay quốc gia mới Dânnhập cư là người dân di chuyển từ một vùng đến một vùng khác để định cư hoặc tạmtrú Nhập cư ngược với xuất cư Tuy nhiên, cả nhập cư và xuất cư đều là di cư

Mỗi cá nhân khi quyết định nhập cư đều tính đến lợi ích của bản thân và nhữngngười thân quanh mình Lý do nhập cư gồm có những nguyên nhân ở cả nơi đi và nơiđến

❖ Phân loại nhập cư:

Phân loại theo mục đích nhập cư: nhập cư để học tập, nhập cư để làm việc vànhập cư với mục đích khác

Phân loại theo khu vực: nhập cư từ các địa phương trong nước và nhập cư giữacác nước khác nhau

l.l.3 Khái niệm dịch vụ xã hội, thông tin dịch vụ xã hội

1.1.З.1 Dịch vụ xã hội

“ Dịch vụ” thường được đề cập đến là một trong ba khu vực của nền kinh tế,

cùng với Nông nghiệp và Công nghiệp Trong cơ cấu của một nền kinh tế hiện đại, khuvực dịch vụ có vai trò ngày càng quan trọng Chính vì vậy, có nhiều tài liệu nghiên cứu

đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của dịch vụ Tuy nhiên, thực tế cho thấy,trên thế giới chưa có một định nghĩa thống nhất nào được công nhận, điều này bắtnguồn từ tính phong phú, đa dạng và khó nắm bắt của các loại hình dịch vụ Bên cạnh

đó, các quốc gia khác nhau với trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau cũng cónhững cách hiểu khác nhau về dịch vụ

Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho

Trang 25

những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [16, tr 256].

Theo cách tiếp cận dưới góc độ căn cứ vào những đặc điểm nổi bật và sự khácnhau giữa dịch vụ và hàng hóa, Tiến sĩ Nguyễn Thị Mơ cho rằng: Dịch vụ là các hoạtđộng của con người được kết tinh thành các sản phẩm vô hình và không thể cầm nắmđược Tiến sĩ Hồ Văn Vĩnh định nghĩa: Dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm đápứng nhu cầu nào đó của con người mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thái phi vậtthể

Philip Kotier định nghĩa dịch vụ: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứngnhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu.Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất

Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ khác nhau nhưng tựu chung lại:

Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người.Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hànghoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội

Dựa trên cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu mà có thể phân loại dịch vụ theonhững cách khác nhau như: dịch vụ mang tính chất thương mại và dịch vụ không mangtính chất thương mại; dịch vụ về hàng hóa và dịch vụ về tiêu dùng hoặc phân ngànhdịch vụ một cách cụ thể dựa trên nguồn gốc ngành kinh tế

Trang 26

Thứ hai là về chuẩn mực hay tính xã hội, nghĩa là dịch vụ để bảo đảm các giá trị,chuẩn mực xã hội Theo nghĩa này thì dịch vụ xã hội cung cấp những hỗ trợ cho cácthành viên trong xã hội được: chủ động phòng ngừa khả năng xảy ra rủi ro để dẫn đếnkhông bảo đảm giá trị và chuẩn mực xã hội; chủ động tiếp cận hạn chế ảnh hưởng củarủi ro dẫn đến không bảo đảm giá trị và chuẩn mực xã hội; khắc phục rủi ro và hòanhập cộng đồng/ xã hội trên cơ sở các giá trị, chuẩn mực xã hội.

Chức năng của dịch vụ xã hội: Dịch vụ xã hội cung cấp và hỗ trợ thông qua các

dịch vụ đặc thù giúp các công dân trong xã hội có thể xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơnbằng sự độc lập về kinh tế, sự khẳng định quyền con người được hòa nhập và tham giavào thị trường lao động cũng như các hoạt động cộng đồng, xã hội

1.1.З.2 Thông tin dịch vụ xã hội

Để nghiên cứu về khái niệm "thông tin dịch vụ xã hội”, chúng ta cùng nhau tìmhiểu thế nào là "thông tin"

Theo nghĩa thông thường: Thông tin là tất cả sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một nguời có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua phương tiên thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu, hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh.

Theo quan điểm triết học: Thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người.

Trên cơ sở khái niệm dịch vụ xã hội và những cách hiểu về "thông tin", chúng ta

có thể có cái nhìn chung nhất về thông tin dịch vụ xã hội như sau: Thông tin dịch vụ xã hội là sự phản ánh các dịch vụ xã hội bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh và tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người nhằm đảm bảo mục tiêu của dịch vụ

xã hội (mục tiêu cung cấp hỗ trợ cho các thành viên trong xã hội được: chủ động phỏng ngừa khả năng xảy ra rủi ro để dẫn đến không bảo đảm giá trị và chuẩn mực xã hội; chủ động tiếp

Trang 27

cận hạn chế ảnh hưởng của rủi ro dẫn đến không bảo đảm giá trị và chuẩn mực xã hội; khắc phục rủi ro và hỏa nhập cộng đồng/ xã hội trên cơ sở các giá trị, chuẩn mực xã hội).

l.l.4 Khái niệm Công tác xã hội, Công tác xã hội nhóm.

1.1.4.1 Khái niệm Công tác xã hội

Công tác xã hội là một ngành khoa học, một nghề chuyên môn đang được ứngdụng rộng rãi trong xã hội hiện đại Công tác xã hội bắt nguồn từ Đạo luật Elizabet ởAnh năm 1961, trải qua quá trình phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế, khoahọc và xã hội, Công tác xã hội ngày càng hoàn thiện và trở thành một nghề chuyênnghiệp

Có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa về Công tác xã hội Những định nghĩa nàybắt nguồn từ những quan niệm khác nhau về Công tác xã hội: Công tác xã hội là việcthực hiện các chính sách xã hội; Công tác xã hội là hoạt động nhân đạo từ thiện; Côngtác xã hội là các thiết chế xã hội; Công tác xã hội là dịch vụ xã hội; Công tác xã hội làphong trào xã hội Nhìn chung, các quan điểm trên đã có những cách hiểu và sự tiếpcận đến Công tác xã hội ở những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, sự phản ánh nàychưa thể hiện đầy đủ bản chất, nội dung và tính chất của Công tác xã hội

Từ việc tổng hợp, phân tích các định nghĩa khác nhau của CTXH, cùng với thực tiễn hoạt động CTXH, có thể dưa ra một định nghĩa chung, khái quát về CTXH: Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp được thực hiện dựa trên nền tảng khoa học chuyên ngành nhằm hỗ trợ đối tượng có vấn đề xã hội (cá nhân, nhóm, công đồng) giải quyết vấn đề gặp phải, cải thiện hoàn cảnh, vươn lên hỏa nhập xã hội theo hướng tích cực, bền vững.

Như vậy, Công tác xã hội là một ngành khoa học ứng dụng, sử dụng khoa học về

xã hội và con người để phân tích, xây dựng, can thiệp một cách phù hợp đối với cácvấn đề xã hội Công tác xã hội cũng là một nghề nghiệp và hoạt động chuyên nghiệpphi lợi nhuận nhằm giúp đỡ cá nhân, nhóm, gia đình, cộng đồng và toàn xã hội giảiquyết được vấn đề và và phát triển khả

Trang 28

năng giải quyết vấn đề Không chỉ vậy, Công tác xã hội còn góp phần thực hiện ổnđinh, công bằng và tiến bộ xã hội.

1.1.4.2 Phương pháp Công tác xã hội Nhóm

Khái niệm phương pháp Công tác xã hội Nhóm

Có nhiều cách hiểu và cách tiếp cận về công tác xã hội nhóm nhưng có điểmchung thống nhất là sử dụng phương pháp công tác xã hội nhóm, tiến trình sinh hoạtnhóm để tạo dựng, duy trì và tăng cường sự tương tác giữa các thành viên của nhómnhằm thay đổi thái độ, hành vi cá nhân một cách tích cực, nâng cao khă năng giải quyếtvấn đề, đáp ứng nhu cầu của mỗi thành viên và của cả nhóm

Phương pháp Công tác xã hội nhóm là một công cụ tác nghiệp, phương pháp can thiệp của Công tác xã hội với nhóm mà trong đó, dưới sự điều phối, trợ giúp của nhân viên công tác xã hội, các thành viên được tạo cơ hội, môi trường có các hoạt động tương tác, chia sẻ quan tâm, vấn đề chung của nhóm nhằm đạt được mục đích chung của nhóm và hướng đến giải quyết mục tiêu cá nhân thành viên nhóm Nhóm trong Công tác xã hội được thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điều phối của nhân viên công tác xã hội/ thành viên trong nhóm và sự trợ giúp của nhân viên công tác xã hội (Ví dụ: nhóm chị em phụ nữ bị bạo lực gia đình xã A, nhóm trẻ mồ côi nhiễm HIV/AIDS, nhóm nhân viên công tác xã hội, nhóm tình nguyện viên, nhóm chuyên môn thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ, )

Đặc trưng của phương pháp công tác xã hội nhóm Về công cụ tác nghiệp: hầu

hết công cụ hay phương tiện, kĩ năng tác nghiệp của công tác xã hội là những phươngtiện thuộc về khái niệm mang ý nghĩa trừu tượng nhưng được thể hiện thông qua hànhđộng (hành vi) cụ thể Trong công tác xã hội nhóm, công cụ tác nghiệp chủ yếu là mốiquan hệ, sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm Bằng trình độ, năng lực chuyênmôn của mình, nhân viên xã hội thông qua hoạt động nhóm phát huy sự tác động qualại giữa các thành viên nhóm để phát hiện, củng cố, nâng cao, phát

Trang 29

triển năng lực của mỗi cá nhân Quá trình giúp đỡ được hiểu là quá trình trợ giúp lẫnnhau giữa các thành viên nhóm.

Nhân viên xã hội sử dụng các công cụ tác động là mối quan hệ, sự tương tácgiữa các thành viên, hoạt động sinh hoạt nhóm và bầu không khí nhóm Cụ thể là: Lấyhoạt động nhóm làm nơi thỏa mãn nhu cầu của các thành viên và nhóm; Lấy sự tươngtác nhóm và hoạt động nhóm để trị liệu và giải quyết các vấn đề đặt ra của các thànhviên; Mục đích chung phục vụ các mục đích riêng và sự tác động trở lại; Lấy ảnhhưởng của nhóm để tạo sự thay đổi hành vi, thái độ, nhận thức của mỗi thành viên

về kiến thức và kỹ năng của người thực hiện phương pháp công tác xã hội nhóm:

người thực hiện phương pháp Công tác xã hội nhóm (NVCTXH) giữ vai trò quan trọngđối với sự hiệu quả của công tác xã hội nhóm Vì vậy đòi hỏi NVCTXH phải đảm bảonhững yêu cầu về kiến thức và kỹ năng, bên cạnh phẩm chất nghề nghiệp.Những yêucầu chung được xác định thành những quy định mang tính bắt buộc cho sự chi tiết hóa

về kiến thức và kỹ năng đối với nhân viên công tác xã hội trong CTXH nhóm:

Hệ thống kiến thức đặc biệt quan trọng trong CTXH nhóm đòi hỏi người thựchiện phương pháp này phải nắm vững, hiểu rõ là: Các lý thuyết sử dụng trong CTXHnhóm như Thuyết động năng tâm lý, Thuyết học tập xã hội, Thuyết trao đổi xã hội,Thuyết lãnh đạo, Lý thuyết về tương tác nhóm, năng động nhóm Bên cạnh đó nhânviên công tác xã hội cần nắm vững và linh hoạt các kiến thức về triết học, tâm lý xãhội, xã hội học, pháp l u ậ t

Kỹ năng được hiểu là những thói quen hành động, việc thực hiện hành vi, sựphản ứng và thể hiện thao tác một cách tích cực, tự giác theo một quy trình dựa trên cơ

sở kết quả của quá trình nhận thức, rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm và trải nghiệm thực

tế của cá nhân trước những tác động bên ngoài, những nhu cầu, đòi hỏi về công việc vàhoạt động trong những điều kiện, bối cảnh cụ thể

Người thực hiện phương pháp Công tác xã hội nhóm cần phải được trang bị,thực hành ứng dụng trực tiếp các kỹ năng cơ bản cũng như những

Trang 30

công cụ mang tính chất kỹ thuật để thực hiện tốt nhất vai trò của mình Những kỹ năngnày không tự nhiên mà có, nó phải được rèn luyện và tích lũy trong quá trình hoạt độngtác nghiệp và trải nghiệm thực tiễn Bên cạnh đó người thực hiện phương pháp Côngtác xã hội nhóm còn cần có những công cụ sử dụng trong CTXH nhóm như: các công

cụ giúp các thành viên vận động, thay đổi không khí; các công cụ lấy ý kiến thành viênnhóm

Tiến trình công tác xã hội nhóm

Tiến trình công tác xã hội nhóm là quá trình bao gồm các bước hoạt động thểhiện sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm với nhau và với nhân viên xã hộinhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Thực chất tiến trình công tác xã hội nhóm là trình tựcác bước, các nội dung hoạt động được xác lập trong kế hoạch hỗ trợ đối với mộtnhóm xã hội cụ thể của nhân viên công tác xã hội dựa trên các yêu cầu về chuyên môncông tác xã hội

Tiến trình công tác xã hội nhóm được chia làm bốn bước- bốn giai đoạn: Giaiđoạn chuẩn bị và thành lập nhóm; Giai đoạn khởi động và tiến hành hoạt động- giaiđoạn đầu; Giai đoạn tập trung hoạt động- giai đoạn trộng tâm; Giai đoạn lượng giá vàkết thúc hoạt động- giai đoạn cuối

1.1.5 Khái niệm trợ giúp

Với quy mô nghiên cứu của đề tài, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về trợ giúpdưới góc độ xã hội nói chung và Công tác xã hội nói riêng: trợ giúp xã hội là sự đảmbảo của nhà nước, sự hỗ trợ của cộng đồng về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiếtbằng các hình thức và biện pháp khác nhau đối với các thành viên trong xã hội khi họrơi vào hoàn cảnh rủi do, bất hạnh, nghèo đói, yếu thế hoặc hụt hẫng trong cuộc sống

mà họ không đủ khả năng tự lo được cuộc sống của bản thân và gia đình ở mức tốithiểu

1.1.6 Khái niệm trợ giúp người nghèo nhập cư tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội qua phương pháp Công tác xã hội nhóm

Khả năng tiếp cận các thông tin dịch vụ xã hội của người nghèo nhập cư bị ảnhhưởng bởi rất nhiều yếu tố như: điều kiện xuất thân, trình độ văn hóa, nhận thức, thunhập, sự quan tâm và hiệu quả hoạt động hỗ trợ của các

Trang 31

cơ quan ban ngành có thẩm quyền liên quan, Vì khả năng tiếp cận thông tin dịch vụ xãhội của người nghèo nhập cư chịu tác động và ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố trên nênviệc tiếp cận dịch vụ xã hội của nhóm người này cũng bị ảnh hưởng không nhỏ Cũngbởi vậy, đời sống nhóm người nghèo nhập cư tại các đô thị không được đảm bảo, ansinh xã hội cũng từ đó mà bị ảnh hưởng theo hướng tiêu cực.

Qua đây, người nghiên cứu thử nghiệm mô hình trợ giúp người nghèo nhập cưtiếp cận thông tin dịch vụ xã hội thông qua phương pháp Công tác xã hội nhóm Đểnghiên cứu sâu hơn mô hình này, chúng ta cũng nhau tìm hiểu khái niệm thế nào là trợgiúp người nghèo nhập cư tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội thông qua phương phápCông tác xã hội nhóm Trên cơ sở các khái niệm trên, ta có thể đưa ra một khái niệmchung nhất về trợ giúp người nghèo nhập cư tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội thôngqua phương pháp Công tác xã hội nhóm Cụ thể như sau:

Trợ giúp người nghèo nhập cư tiếp cận thông tin về dịch vụ xã hội qua phươngpháp Công tác xã hội nhóm là việc sử dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm vớicác kiến thức, kỹ năng chuyên môn Công tác xã hội nhóm có những hoạt động nhóm

hỗ trợ nhóm người nghèo nhập cư đạt được mục đích chung của nhóm là tiếp cận cácthông tin về những dịch vụ xã hội

Các hoạt động Công tác xã hội nhóm được thực hiện dưới một đó là các buổisinh hoạt, tập huấn, hội thảo chia sẻ, được triển khai trong nhóm người nghèo nhập cưdưới sự điều phối của nhân viên công tác xã hội hoặc người lãnh đạo/ nhóm trưởng.Quá trình sinh hoạt nhóm diễn ra trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo các giaiđoạn và hoạt động được thực hiện để đạt được mục tiêu chung trong nhóm đó là hỗ trợcác thành viên nhóm tiếp cận được các thông tin về dịch vụ xã hội nơi mình nhập cư.Cũng thông qua sinh hoạt nhóm, các thành viên được tạo cơ hội, môi trường, có cáchoạt động tương tác, chia sẻ quan tâm, vấn đề chung để đạt mục tiêu thành viên trên cơ

sở hoàn thành mục tiêu chung của nhóm Mục đích chính trong các hoạt động

Trang 32

Công tác xã hội nhóm với người nghèo nhập cư là hỗ trợ nhóm người này tiếp cậnthông tin các dịch vụ xã hội.

1.2 Một số lý thuyết được vận dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Thuyết Nhu cầu của Maslow

Học thuyết Nhu cầu được nhà khoa học xã hội nổi tiếng Maslow xây dựng vàonhững năm 1950 Lý thuyết nhằm giải thích những nhu cầu của con người cần đượcđáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả vềthể chất lẫn tinh thần Lý thuyết của Maslow đề cập đến nhu cầu của con người thôngqua một hệ thống theo bậc thang năm nhu cầu từ thấp đến cao, gồm:

Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như

nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thỏa mãn về tình dục Maslow quan niệmrằng, khi những nhu cầu này chưa thỏa mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sốngthì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiếp tục Đây là những nhu cầu cơbản của con người nói chung, nhóm người nghèo nhập cư nói riêng Đặc biệt, vớinhóm người nhập cư nghèo ở các thành phố lớn, việc đảm bảo nhu cầu ăn uống, nhà ở,sưởi ấm và thỏa mãn tình dục vẫn bị đe dọa và với một số trường hợp còn chưa đượcthỏa mãn

Nhu cầu về an toàn/ an ninh: An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, tiền đề

cho các nhu cầu về an toàn Nhóm người nghèo nhập cư ở các thành phố lớn được xếpvào nhóm người yếu thế với nhiều rủi ro trong lao động, môi trường, nghề nghiệp, ở và

đi lại

Những nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận: Nhu cầu này bắt nguồn từ tình cảm

của con người, lo sợ bị cô đơn và mong muốn được hòa nhập Với nhóm người nghèonhập cư, bên cạnh những nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn vẫn bị đe dọa thì nhu cầu vềquan hệ và được thừa nhận cũng chưa được đáp ứng đúng mực Nngười nghèo nhập cưyếu thế, không có lợi thế về trình độ, học vấn, công việc, thu nhập họ gặp khó khăntrong tiếp cận và thỏa mãn nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận

Trang 33

Nhu cầu được tôn trọng: Nhu cầu này thể hiện hai khía cạnh trong mối quan hệ:

lòng tự trọng và được người khác tôn trọng Việc đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu này đốivới nhóm người nghèo nhập cư ở đô thị là một vấn đề đặt ra Trong khi các nhu cầu ởbậc thấp vẫn còn bị đe dọa, người nghèo nhập cư gặp nhiều khó khăn trong việc tiếpcận và thỏa mãn những nhu cầu ở bậc cao hơn

Nhu cầu phát huy bản ngã: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong bậc thang

nhu cầu Bao gồm nhu cầu về nhận thức, thẩm mỹ, nhu cầu thực hiện mục đích bằngkhả năng cá nhân Với những nỗ lực trong việc thỏa mãn các nhu cầu ở cấp thấp hơn,việc thỏa mãn nhu cầu phát huy bản ngã của người nghèo nhập cư cũng cần đến những

nỗ lực dài hơi của chính bản thân nhóm người này và toàn xã hội [5]

Vận dụng thuyết Nhu cầu của Maslow vào nghiên cứu giúp xác định được nhữngnhu cầu nào trong hệ thống thứ bậc nhu cầu chưa được thỏa mãn tại thời điểm hiện tại.Đối với người nghèo nhập cư là những nhu cầu sinh lý cơ bản nhất như nhà ở, sứckhỏe, vệ sinh là tiền đề cho việc thỏa mãn những nhu cầu cao hơn Qua đó đánh giáđược thực tế thỏa mãn nhu cầu của họ, khả năng tiếp cận thông tin các dịch vụ cầnthiết, những yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội của họ.Đồng thời giúp cho họ xác định được những mục tiêu, hoạt động thay đổi và nâng caokhả năng của họ trong việc thỏa mãn các nhu cầu Cụ thể là giúp họ xác định hànhđộng để tiếp nhận đầy đủ, chính xác các thông tin dịch vụ xã hội nơi nhập cư nhằmnâng cao chất lượng sống của nhóm người nghèo nhập cư

1.2.2 Lý thuyết Hệ thống

Các quan điểm hệ thống trong công tác xã hội có nguồn gốc từ lý thuyết hệ thốngtổng quát của Bertalanffy Bertalanffy sinh ngày 19/09/1901 tại Vienna và mất12/06/1972 tại New York- Mĩ Ông là một nhà sinh học nổi tiếng.Lý thuyết của ông làmột lý thuyết sinh học cho rằng “mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống được tạonên từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Do đócon người là một bộ phận của xã hội và được tạo nên từ các phân tử, mà được tạo dựng

từ các nguyên tử nhỏ

Trang 34

hơn.Lý thuyết này được áp dụng đối với các hệ thống xã hội cũng như những hệ thốngsinh học.Sau này, lý thuyết hệ thống được các nhà khoa học khác như Hanson (1995),Mancoske (1981), Siporin (1980) nghiên cứu và phát triển.

Hệ thống: Có nhiều khái niệm về hệ thống khác nhau như: “Hệ thống là tập hợp

nhiều yếu tố đối với cùng loại hoặc cùng chức năng có quan hệ hoặc liên hệ với nhauchặt chẽ làm thành một thể thống nhất” Hay: “Hệ thống là một tập hợp các thành tốđược sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất Một hệ thống cóthể gồm nhiều tiểu hệ thống, đồng thời là một bộ phận của hệ thống lớn hơn [5]

Việc vận dụng lý thuyết Hệ thống vào đề tài nghiên cứu giúp cho việc nghiêncứu thực trạng tiếp cận các dịch vụ xã hội và việc tiếp nhận thông tin về các dịch vụ xãhội của người nghèo nhập cư tại đô thị Mỗi cá nhân đều là một tiểu hệ thống nằmtrong những hệ thống khác nhau.Sự tồn tại và phát triển của các cá nhân cũng vì thế màchịu tác động bởi rất nhiều các hệ thống.Việc vận dụng lý thuyết Hệ thống tạo cái nhìntổng quan và chuẩn xác nhất về sự tác động qua lại của các hệ thống.Từ đó có xác địnhđược đúng hướng cho việc nghiên cứu mô hình Công tác xã hội nhóm hỗ trợ ngườinghèo nhập cư thành phố Hà Nội tiếp cận đầy đủ, chính xác và kịp thời thông tin vềcác dịch vụ xã hội nơi họ nhập cư

1.2.3 Lý thuyết Thay đổi xã hội

Lý thuyết Thay đổi xã hội được nhiều học giả nghiên cứu Có thể kể đếnnhững đóng góp của học giả Karl Marx, Charles Darwin's, Hermann Strasser, Susan C.Randall, Kingsley Davis,

Lý thuyết cho rằng: Thay đổi xã hội là một hiển nhiên của hiện thực xã hội, làmột quá trình lịch sử lâu dài Thay đổi có thể từ mức độ không rõ ràng hoặc dễ dàngquan sát; việc thay đổi có thể dẫn đến ảnh hưởng theo chiều hướng phát triển hoặckhông; thay đổi xã hội diễn ra mọi nơi và mọi lúc

Thay đổi ở tất cả các cấp độ từ cá nhân đến nhóm, và toàn thể xã hội: từ các yếu

tố liên quan đến cá nhân như tâm lý, hành vi, đến những thay đổi từ

Trang 35

bên trong cấu trúc xã hội, thay đổi trong văn hóa, quy tắc ứng xử, các tổ chức xã hội,các hệ thống giá trị Thay đổi xã hội diễn ra ở bốn cấp độ: Cấp độ đầu tiên (mức độ cánhân) có thể là thay đổi tâm lý hoặc khung hành vi Cấp độ thứ hai (tương tác giữa các

cá nhân) nó bao gồm các "quan điểm hành vi", nhân cách, tương tác giữa các cá nhânvới nhau Cấp độ thứ ba: thay đổi xã hội diễn ra ở các nhóm xã hội Cấp độ thứ tư: thayđổi xã hội diễn ra ở cấp độ hệ thống văn hóa

Nguyên nhân của thay đổi xã hội không chỉ bởi một yếu tố đơn lẻ Thay đổi xãhội là kết quả của sự tác động đồng bộ, tương quan hay đồng nhất của rất nhiều yếu tốkhác nhau.Thay đổi xã hội ảnh hưởng bởi sự tương tác của nhiều yếu tố xã hội và phi

xã hội.Đó không chỉ là sự xuất hiện và sự kết hợp của các yếu tố này trong một tìnhhuống nhất định tại một thời điểm nào đó sẽ đem lại sự thay đổi xã hội.Thay đổi xã hộigắn bó chặt chẽ với những thay đổi văn hóa và trình độ phát triển của khoa học côngnghệ [22]

Việc vận dụng lý thuyết Thay đổi xã hội vào đề tài nghiên cứu giúp ta nhìnnhận chính xác và khách quan nhất về những thay đổi ở các cấp độ khác nhau có ảnhhưởng đến người nghèo nhập cư Những thay đổi ở cả cấp độ cá nhân người nghèonhập cư, và ở cấp độ các mối quan hệ tương tác, các nhóm người nghèo nhập cư thamgia ở môi trường nơi nhập cư đến Những thay đổi đó chịu tác động bởi những yếu tốnào?yếu tố nào là chủ yếu? có thể tác động vào yếu tố nào để có những thay đổi theochiều hướng tích cực hơn? Qua đó, đánh giá, kết luận chính xác nhất về thay đổi cũngnhư những yếu tố tác động đến những thay đổi của người nghèo nhập cư, những yếu tốtác động; đặc biệt là những thay đổi của người nghèo nhập cư trong việc tiếp cận thôngtin về dịch vụ xã hội ở nơi nhập cư đến có gì thay đổi so với nơi đi Trên cơ sở đó, thửnghiệm mô hình phù hợp nhằm hỗ trợ người nghèo nhập cư tăng cường khả năng tiếpcận thông tin dịch vụ xã hội, hướng đến tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ xã hộicủa nhóm người này Bên cạnh đó, việc vận dụng lý thuyết Thay đổi xã hội cũng giúpngười nghiên cứu xác định được đúng hướng cho việc nghiên cứu mô hình Công tác xãhội nhóm hỗ trợ

Trang 36

người nghèo nhập cư thành phố Hà Nội tiếp cận đầy đủ, chính xác và kịp thời thông tin

về các dịch vụ xã hội nơi họ nhập cư

1.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu (Phường Phúc Xá- quận Ba Đình- Hà Nội)

Phường Phúc Xá thuộc địa bàn quận Ba Đình- thành phố Hà Nội, với diện tích

“Một xóm dân cư mới hình thành trên đất bãi ngoài sông Hồng phía dưới gầmcầu Long Biên từ đầu thế kỷ XX Đây là phạm vi của phường Phúc Xá cũ và củaphường Cơ Xá từ nhiều thế kỷ trước; cũng gọi là Phúc Xá mới Nay thuộc phườngPhúc Tân quận Hoàn Kiếm”

Phường Phúc Xá hiện nay bao gồm: phường An Xá, đường Cơ Xá, đường Hồng

Hà, phố Nghĩa Dũng, phố Phúc Xá, phố Tân Äp, đường Yên Phụ Trong đó có chợLong Biên trên địa bàn phường Phúc Xá là chợ đầu mối lớn nhất miền Bắc

thực phẩm đêm Tổng số hộ kinh doanh tại chợ là 1.087 hộ, trong đó ngành hàng hoaquả chiếm tỷ lệ 38%, rau củ quả chiếm 39% Đây là chợ đầu mối hoa quả lớn củathành phố, cung cấp phục vụ nhu cầu tiêu dùng của Hà Nội cũng như các tỉnh miềnBắc Ngoài ra, chợ còn là đầu mối hàng nông sản thực phẩm Với đặc thù hoạt động24/24 giờ, lưu lượng hàng hoa quả, rau củ quả qua chợ đạt khoảng 300 tấn; vào cácngày Rằm và Mồng Một lưu lượng thường tăng gấp đôi Vì vậy, hằng ngày có hàngtrăm xe trọng tải lớn đưa hoa quả thực phẩm từ các tỉnh đến những hộ kinh doanhtrong chợ Cũng từ chợ này, hàng ngày có hàng nghìn xe thô sơ, xe trọng tải nhỏchuyển hoa quả đi các nơi trong thành phố Hà Nội và một số tỉnh lân cận, chưa kể đếnhàng nghìn người buôn bán nhỏ đến mua các sản phẩm hoa quả tại chợ

Khu vực cầu Long Biên và chợ đầu mối Long Biên là khu vực tập trung gần

2000 lao động từ ngoại thành và các tỉnh thành trên khắp cả nước về buôn bán làm ăn.Điều này đặt ra một vấn đề trong công tác của các cơ quan ban ngành và các cấp chínhquyền

Trang 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1Trong chương 1, đề tài đã tập trung đề cập đến hệ thống cơ sở lý luận liên quanđến người nghèo nhập cư tại đô thị cũng như khái niệm, đặc trưng của phương phápCông tác xã hội nhóm cùng với hệ thống các lý thuyết có liên quan đến đề tài nhưthuyết Nhu cầu của của Maslow, thuyết Hệ thống, thuyết Thay đổi xã hội.

Qua nội dung chương 1, người nghiên cứu làm sáng tỏ những nội dung liên quanđến vấn đề nghiên cứu để từ đó có xác định hướng đi đúng đắn cho nghiên cứu

Như vậy, với việc phân tích cơ sở lý luận về CTXH nhóm trong trợ giúp ngườinghèo nhập cư tại đô thị, những yếu vấn đề có liên quan đến CTXH trong hỗ trợ nhómngười này chúng ta sẽ có cơ sở để tiến hành điều tra, phân tích, đánh giá và thử nghiệm

nhằm Trợ giúp người nghèo nhập cư thành phố Hà Nội tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội

qua phương pháp Công tác xã hội nhóm mà địa bàn nghiên cứu là phường Phúc Xá- Ba

Đình- Hà Nội

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TRỢ GIÚP NGƯỜI NGHÈO NHẬP CƯ PHƯỜNG

PHÚC XÁ- BA ĐÌNH- HÀ NỘI TIẾP CẬN THÔNG TIN

DỊCH VỤ XÃ HỘI

2.1 Thực trạng đời sống xã hội của người nghèo nhập cư khu vực

phường Phúc Xá- quận Ba Đình- thành phố Hà Nội Qua thực tế khảo sát vànhững thông tin thu thập được với quy mô nghiên cứu trên 150 người nghèo di cư trênđịa bàn phường Phúc Xá- quận Ba Đình- thành phố Hà Nội, có thể thấy rõ một cáchtổng quan nhất đời sống xã hội của nhóm người nghèo nhập cư về độ tuổi, công việc,thu nhập bình quân từ những công việc sau khi nhập cư, lịch sử và đặc điểm nhập cư,

về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn cũng như về việc đăng ký Hộ khẩu/ Đăng kýtạm trú Từ những đặc điểm này ta sẽ có cái nhìn khách quan hơn về thực trạng và nhucầu tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội cũng như việc triển khai các hoạt động hỗ trợnhóm người này tăng khả năng tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội trên địa bàn điển cứuphường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội

2.1.1 Về độ tuổi

Kết quả khảo sát với 150 người nghèo nhập cư phường Phúc Xá- Ba Đình- HàNộicho thấy độ tuổi của người nghèo nhập cư ở đây tập trung phần lớn ở độ tuổi từ 16đến 55 tuổi (70,92%)- độ tuổi lao động Số còn lại thuộc độ tuổi dưới 16 tuổi (12,24%)

và độ tuổi trên 55 tuổi (16,84%) (Bảng 2.1) Khu vực phường Phúc Xá với chợ đầu mốiLong Biên là nơi tập trung số lượng rất lớn lao động nhập cư về đây Bên cạnh đó,công việc người lao động có thể tìm được ở đây chủ yếu là những công việc nặng nhọc,yêu cầu nhiều sức lực của những người lao động Do vậy, số lượng người trong độ tuổilao động tập trung về nơi đây vượt trội hơn hẳn những người ngoài độ tuổi lao động.Những người ngoài độ tuổi lao động (dưới 16 tuổi và trên 55 tuổi) sinh sống ở đâycũng thuộc hai nhóm chính đó là nhập cư cùng người thân hoặc nhập cư vì mục đíchlao động (trẻ em lao động sớm và người lao động cao tuổi) Ngay cả những người banđầu nhập cư cùng người thân,

Trang 39

không vì mục đích lao động thì sau khi sinh sống một thời gian tại đây cũng gia nhậpvào mạng lưới người lao động khu vực chợ đầu mối Long Biên Điều đáng nói là cómột bộ phận trẻ em chưa đến tuổi thành niên cũng nằm trong nhóm người nghèo nhập

cư tại đô thị Một phần là con em của những người lao động nhập cư ở đây, một phầnkhác chính bản thân các em là lao động nhập cư và đang trực tiếp làm việc kiếm thêmthu nhập trong gia đình Bên cạnh đó, số người cao tuổi nhưng vẫn tham gia lao độngkhông nhỏ (16,84%) Họ là những người chịu rất nhiều thiệt thòi trong số những ngườinhập cư ở đây Bản thân họ không ai chăm sóc, mất con cháu hoặc chịu sự bỏ bê củacon cháu, phải tự ra thành phố kiếm tiền; một bộ phận khác thì cùng con cháu nhập cư

để cải thiện cuộc sống, tạo thành những hộ gia đình nhập cư theo thế hệ, tức là nhiềuthế hệ thành viên trong gia đình cùng nhập cư Nghề của họ chủ yếu là bán hàng rongnay đây mai đó hoặc những công việc có thu nhập rất thấp và gặp nhiều trở ngại trongviệc sinh kế

2.1.2 Về trình độ văn hóa/chuyên môn

Trong số150 người nghèo nhập cư tham gia trả lời khảo sát, chỉ có 2 người(chiếm tỉ lệ 1,33%) có trình độ chuyên môn Cao đẳng/ Đại học mà toàn bộ trong số đóđều chỉ dừng lại ở trình độ Cao đẳng; chỉ có 8 người (5,33%) số người được phỏng vấn

có trình độ chuyên môn Trung cấp (Bảng 2.1 Nguồn gốc và đặc điểm nhập cư của

người nghèo nhập cưphường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội) Những người này tuy trình

độ chuyên môn nhưng vì nhiều lý do khác nhau như tiêu cực trong tìm việc làm, haychính họ tuy có bằng cấp chuyên môn nhưng việc vận dụng chuyên môn vào thực tếcòn yếu nên những người này gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, họkhông có được công việc phù hợp Bên cạnh đó, điều kiện xuất thân nghèo khó, nhiềukhó khăn như thiếu đất canh tác, thiếu vốn xã hội, khiến họ lúng túng trong việc tìm

kế mưu sinh Họ nhập cư đến phường Phúc Xá với mục đích tìm một công việc mưusinh dù là công việc lao động phổ thông nặng nhọc

Số lượng người có trình độ văn hóa hết cấp 2 chiếm số đông nhất: 75 người(chiếm 50%) Còn lại là những người có trình độ học vấn rải rác ở các

Trang 40

cấp 1, cấp 3 và biết đọc/ viết Bản thân họ sinh ra và lớn lên ở các vùng nông thônnghèo, kinh tế khó khăn, không đủ điều kiện cho việc học hành đầy đủ, nghề nghiệpchính là nông nghiệp cha truyền con nối với kỹ thuật lạc hậu Khi theo học, họ gặpphải nhiều khó khăn về kinh tế và cả nhận thức của gia đình, xã hội về vai trò của việchọc tập cũng chưa cao.

Bên cạnh đó, có 9,33% số người được khảo sát chỉ dừng lại ở mức biết đọc/viết Con số này tập trung ở những người lao động nghèo cao tuổi Họ sinh ra trongthời kỳ đất nước còn khó khăn, kinh tế yếu kém, việc học tập đối với họ chỉ nhằm mụcđích xóa mù chữ

Chúng ta thấy rằng số lượng người có trình độ Sau Đại học và số lượng ngườikhông biết đọc/ viết ở nhóm người nghèo nhập cư đều bằng 0 Với hiệu quả cácchương trình xóa mù chữ, phổ cập giáo dục, nhà nước đã cơ bản thành công trong côngcuộc xóa mù chữ cho người nghèo Bên cạnh đó, với điều kiện, hoàn cảnh của nhữngngười nghèo nhập cư này, việc theo học đã gặp nhiều trở ngại thì việc có thể theo học

ở các bậc cao lại là một điều vô cùng khó khăn.Những người nghèo nhập cư vàophường Phúc Xá tuy đều đã được tiếp cận các chương trình, các dịch vụ về giáo dục ởmột mức độ nào đó nhưng trình độ học vấn/ chuyên môn không cao

2.1.3 về thu nhập bình quân và công việc

Thu nhập và công việc của nhóm người nghèo nhập cư tại khu vực này đượcbiểu thị rõ hơn qua sau:

Ngày đăng: 19/06/2016, 12:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức hỗ trợ được mong muốn nhiều nhất là được kết nối với các nguồn lực hỗ trợ (chiếm 28,67%) - Trợ giúp người nghèo nhập cư thành phố hà nội tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội qua phương pháp công tác xã hội nhóm
Hình th ức hỗ trợ được mong muốn nhiều nhất là được kết nối với các nguồn lực hỗ trợ (chiếm 28,67%) (Trang 48)
Bảng 2.10: Nội dung sinh hoạt nhóm của người nghèo nhập cư - Trợ giúp người nghèo nhập cư thành phố hà nội tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội qua phương pháp công tác xã hội nhóm
Bảng 2.10 Nội dung sinh hoạt nhóm của người nghèo nhập cư (Trang 61)
Sơ đồ tương tác nhóm: - Trợ giúp người nghèo nhập cư thành phố hà nội tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội qua phương pháp công tác xã hội nhóm
Sơ đồ t ương tác nhóm: (Trang 80)
6.3. Hình thức sinh hoạt của các nhóm đó là gì? - Trợ giúp người nghèo nhập cư thành phố hà nội tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội qua phương pháp công tác xã hội nhóm
6.3. Hình thức sinh hoạt của các nhóm đó là gì? (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w