đại học quốc gia Hà Nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn LƯỜNG THỊ ÁNH NGỌC NGHỆ THUẬT VIẾT TIỂU SỬ NHÂN VẬT TRONG THIấN “NHÂN VẬT CHÍ” – LỊCH TRIỀU HIẾN CHƯƠNG LOẠI CHÍ CỦA P
Trang 1đại học quốc gia Hà Nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
LƯỜNG THỊ ÁNH NGỌC
NGHỆ THUẬT VIẾT TIỂU SỬ NHÂN VẬT
TRONG THIấN “NHÂN VẬT CHÍ” – LỊCH TRIỀU HIẾN CHƯƠNG LOẠI CHÍ CỦA PHAN HUY CHÚ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYấN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM
Hà Nội – 2015
Trang 2đại học quốc gia Hà Nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
LƯỜNG THỊ ÁNH NGỌC
NGHỆ THUẬT VIẾT TIỂU SỬ NHÂN VẬT
TRONG THIấN “NHÂN VẬT CHÍ” – LỊCH TRIỀU HIẾN CHƯƠNG LOẠI CHÍ CỦA PHAN HUY CHÚ
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60 22 01 21
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN KIM SƠN
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Kim Sơn Đề tài không trùng lặp với bất cứ công trình khoa học nào Những vấn đề trình bày trong luận văn này là kết quả do chúng tôi nghiên cứu, bảo đảm tính trung thực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước những luận điểm khoa học nêu ra trong công trình này
Tác giả luận văn
Lường Thị Ánh Ngọc
Trang 4Hà Nội, ngày 23 tháng 12 năm 2015
Lường Thị Ánh Ngọc
Trang 51
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1.Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
4.Phương pháp nghiên cứu 7
5.Mục đích nghiên cứu 8
6 Bố cục của luận văn: 8
PHẦN NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: TRUYỀN THỐNG CHÉP SỬ PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TÁC PHẨM LỊCH TRIỀU HIẾN CHƯƠNG LOẠI CHÍ 9
1.1 Truyền thống viết sử và ghi chép lịch sử của các nhà viết sử phương Đông 9
1.2.Tác phẩm Lịch triều hiến chương loại chí và thiên Nhân vật chí 12
1.2.1 Cách hiểu về thể chí và tác phẩm Lịch triều hiến chương loại chí 12 1.2.2 Thiên Nhân vật chí 20
1.3.Tư tưởng sử học Nho gia của Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí : 22
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG VÀ CÁCH PHÂN LOẠI CÁC NHÂN VẬT LỊCH SỬ TRONG THIÊN NHÂN VẬT CHÍ – LỊCH TRIỀU HIẾN CHƯƠNG LOẠI CHÍ 26
2.1 Quan điểm chọn nhóm và mục đích phân loại nhân vật trong thiên Nhân vật chí 26
2.2 Hệ thống nhân vật 29
2.2.1 Nhân vật dòng dõi chính thống các đế vương 29
2.2.2.Nhân vật người phò tá có công lao tài đức 36
2.2.3 Nhân vật tướng có tiếng và tài giỏi 48
2.2.4.Nhân vật nhà nho có đức nghiệp 53
2.2.5.Nhân vật Bề tôi tiết nghĩa 61
CHƯƠNG 3: CÁCH THỨC XÂY DỰNG TIỂU SỬ NHÂN VẬT CỦA PHAN HUY CHÚ TRONG THIÊN NHÂN VẬT CHÍ 66
Trang 62
3.1 Xây dựng tiểu sử nhân vật gắn liền với các thủ pháp kể, tả, luận 66
3.2.Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp sử học và bút pháp văn học 77
3.2.1 Tư tưởng văn sử triết bất phântrong văn học trung đại 77
3.2.2.Sự thể hiện bút pháp sử học kết hợp văn học trong thiên Nhân vật chí - LTHCLC 80
3.3 Sử dụng bút pháp kì ảo để xây dựng tiểu sử nhân vật 89
3.3.1 Khái quát chung về văn học kỳ ảo ở Phương Đông 89
3.3.2 Bút pháp kì ảo trong thiên Nhân vật chí 91
PHẦN KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 7là bộLịch triều hiến chương loại chí(LTHCLC)gồm 49 quyển khảo cứu lịch sử Việt Nam từ thời kì lập quốc đến cuối triều Lê Trong Lịch Triều hiến chương
loại chí, nhiều vấn đề khác nhau về văn hóa, lịch sử, xã hội, địa lý…của Việt
Nam đều được đề cập đến nên khi nghiên cứu tác phẩm, ta có thể nghiên cứu theo nhiều chiều, nhiều phương diện
Có thể nói,bên cạnh các tác phẩm văn học sử lớn của dân tộc như Đại
Việt Sử Ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên hay Hoàng Lê nhất thống chí của các tác
giả họ Ngô thì LTHCLC là tác phẩm tiêu biểu cho sự hỗn hợp của tư duy văn
sử bất phân kéo dài và chi phối trong giai đoạn văn học trung đại Các nhà Nho học là các sử gia ghi chép lịch sử nhưng cũng đồng thời là nhà văn, nhà triết học, nhà tư tưởng, nhà địa lý học… Một tác phẩm sử học nhưng cũng đồng thời là tác phẩm văn học, triết học, tôn giáo, địa lý…
Lịch triều hiến chương loại chí được coi là một bộ bách khoa thư, là tập
hợp của nhiều bộ môn khoa học khác nhau nhưng cũng không nằm ngoài tư duy chung của văn học trung đại Có nghĩa là tự thân nó cũng mang trong mình giá trị của nhiều ngành khoa học khác nhau trong đó có văn học Chính
vì vậy, bên cạnh giá trị về sử học thì giá trị văn học của LTHCLC là một điều không thể chối cãi Giá trị này của tác phẩm là một vấn đề quan trọng cần được quan tâm, nghiên cứu và đánh giá
Như chúng ta đã biết, trong mười phần khác nhau của tác phẩm thì Nhân
vật chí là thiên quan trọng, nói về cuộc đời và sự nghiệp của các bậc đế
vương, các danh tướng công thần, các nhà nho, các bậc bề tôi tiết nghĩa có thật trong lịch sử dựng nước và giữ nước Hầu hết, khi nghiên cứu thiên này
Trang 84
trong tác phẩm, người ta chỉ nhìn thấy giá trị lịch sử trong cuộc đời của các nhân vật được ghi chép lại mà chưa chú trọng đến cách mà tác giả ghi chép lại tiểu sử nhân vật như thế nào? Nghệ thuật viết tiểu sử nhân vật của tác giả ra sao? Đây cũng chính là giá trị văn học to lớn chưa được nhìn nhận xác đáng
Chính vì vậy, việc nghiên cứu giá trị văn chương của Lịch triều hiến chương
loại chí nói chung và của thiên Nhân vật chí nói riêng là điều cần thiết Nó
cung cấp cho chúng ta những tri thức và cách nhìn mới mẻ về một tác phẩm được coi là bộ bách khoa toàn thư của lịch sử dân tộc Chỉ ra nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả cũng giúp chúng ta không chỉ thấy được giá trị về mặt lịch sử mà còn thấy được giá trị về mặt văn học cũng như cách thể hiện các nhân vật lịch sử của tác giả vừa theo truyền thống chung của sử truyện nhưng lại vừa theo cách thức của văn chương Nghệ thuật ghi chép tiểu sử nhân vật của tác giả làm cho ranh giới giữa việc chép sử và làm văn chương trở nên mờ nhạt Hình tượng nhân vật lịch sử và nhân vật văn học đan xen nhuần nhuyễn, không có sự phân biệt rạch ròi Trong các thể loại của sử học,
ta thấy ở sử truyện (ghi chép về cuộc đời nhân vật lịch sử)sự giao thoa của cả hai giá trị lịch sử và giá trị văn chương càng trở nên đậm nét Chính vì vậy,
việc nghiên cứu giá trị văn chương của Lịch triều hiến chương loại chí nói chung và của thiên Nhân vật chí nói riêng là điều cần thiết để chỉ ra giá trị văn
học trong một tác phẩm tích hợp giữa văn và sử này Đó là những lí do thôi
thúc người viết chọn đề tài Nghệ thuật viết tiểu sử nhân vật trong thiên
“Nhân vật chí” - Lịch triều hiến chương loại chí
Ngay từ những năm 1961 Nhà xuất bản sử học đã in bộ sách Lịch triều
hiến chương loại chí do tổ phiên dịch của viện sử học Việt Nam đã phiên dịch
Trang 95
và chú giải toàn bộ tác phẩm này Tác phẩm được chia làm 4 tập (gồm 49 quyển) Có thể nói đây là một trong những văn bản có giá trị lớn mà những người trong tổ biên dịch lịch sử đã làm được
Một số các nhà biên chép soạn sử như Trần Văn Giáp đã viết những cuốn
sách như Lược chuyện các tác gia Việt Nam, Tìm hiểu kho sách Hán nôm đã
sử dụng một số tư liệu về tác phẩm của Phan Huy Chú và có những lời nhận xét về ông tuy nhiên những tác phẩm này mang tính khảo lược và khái quát nên chỉ điểm qua về tác giả và tác phẩm chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu một vấn đề cụ thể
Sách Phan Huy Chú và dòng văn Phan Huy của nhà xuất bản Hà Sơn
Bình cũng là một cuốn cần thiết cho việc nghiên cứu về Phan Huy Chú và
Lịch triều hiến chương loại chí Cuốn sách đã tập hợp những bài viết của các
giáo sư, các nhà nghiên cứu về con người, gia đình dòng họ và những giá trị của tác phẩm Cuốn sách tập hợp những bài viết, những bài tham luận ở nhiều mặt khác nhau do vậy nó chưa có tính thống nhất, đi sâu vào một vấn đề cụ thể Chỉ duy nhất có bài viết của Vũ Tuân Sán là nghiên cứu một cách tổng
quát về thiên Nhân vật chí, nhưng chỉ dừng lại ở mức đánh giá sơ lược, chưa
đi sâu vào nghiên cứu nghệ thuật viết tiểu sử nhân vật của tác giả
Dương Quảng Hàm trong cuốn Việt nam văn học sử yếu đã có những nhận xét chung đánh giá về cuốn Lịch triều hiến chương loại chí, ngoài ra ông còn giới thiệu những tác phẩm của Phan Huy Chú và trích lời tựa của Lịch
triều hiến chương loại chí Nhìn chung ông đã khái quát qua những nét chính
cơ bản về tác phẩm và tác giả song nó mang tính sơ luợc chứ chưa đi sâu vào vấn đề cụ thể
Trong cuốn Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học (NXB Văn
hoá thông tin, 2002), Phương Lựu đã trích dẫn những quan niệm viết văn, chép sử của nhiều tác gia từ trung đại đến hiện đại trong đó có trích dẫn những quan niệm về văn cũng như chép sử của Phan Huy Chú
Trang 106
Nhìn chung còn rất nhiều những cuốn sách, những bài tham luận rải rác trên các báo hay tạp chí nghiên cứu viết về những vấn đề khác nhau có liên quan đến tác giả tác phẩm hoặc nghiên cứu một mặt nào đó về giá trị, tư tưởng, chính trị xã hội hay lịch sử Nhưng đa số các tác phẩm, cuốn sách đều dừng lại ở mức độ khái quát, tổng hợp chứ không đi sâu vào một khía cạnh trong tác phẩm đồ sộ này
Lịch triều hiến chương loại chí là tác phẩm có giá trị trong lịch sử dân
tộc Tuy là bộ sách lớn nhưng bản chính của tác giả hiện tại cũng không còn, chỉ còn một số sách chép tay Sách cũng chưa được phổ biến rộng rãi đến người đọc, người nghiên cứu nên các tác phẩm nghiên cứu về bộ sách này cũng còn rất hạn chế
Riêng về nhân vật lịch sử trongNhân vật chí chưa được nghiên cứu đầy đủ và
toàn diện ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu trước đây chỉ đề cập một vài
khía cạnh của Nhân vật chí, đồng nghĩa nghiên cứu và nhìn nhận Nhân vật chí dưới góc độ lịch sử và so sánh lịch sử, nghiên cứu và phân tích Nhân vật chí
mang tính phức tạp và trong mối tương quan so sánh với các sự thật lịch sử
mà chưa chú trọng đến nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả Theo như người nghiên cứu được biết thì đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến nghệ thuật viết tiểu sử nhân vật của tác giả Chính điều này cũng đã
phần nào làm cho công việc nghiên cứu của người viết gặp nhiều khó khăn
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài mà chúng tôi đưa ra là Nghệ thuật viết tiểu sử nhân vật trong thiên
“Nhân vật chí”- Lịch triều hiến chương loại chí nên đối tượng nghiên cứu
chính của đề tài là phần Nhân vật chí trongLịch triều hiến chương loại chí Do
không đọc trực tiếp được nguyên bản chữ Hán nên chúng tôi sử dụng bản dịch của Nhà xuất bản giáo dục, năm 2007
Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo những bài viết, bài tham luận, bài nghiên cứu phê bình có liên quan đến đề tài của luận văn
Trang 117
Luận văn này chủ yếu là nghiên cứu về cách viết tiểu sử nhân vật trong một thiên của tác phẩm chứ không phải nghiên cứu toàn bộ hệ thống nhân vật trong toàn bộ tác phẩm nên phạm vi nghiên cứu của chúng tôi được giới hạn
trong thiên “Nhân vật chí” của Lịch triều hiến chương loại chí
4.Phương pháp nghiên cứu
Đối với đề tài này, luận văn sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp khảo sát thống kê: sử dụng phương pháp này, người nghiên cứu
có thể khái quát được những nét cơ bản nhất trong nghệ thuật viết tiểu sử
nhân vật của thiên Nhân vật chí thông qua việc khảo sát hệ thống các nhân vật
được ghi chép trong tác phẩm
Phương pháp phân tích nhân vật theo loại hình: Hệ thống nhân vật thiên Nhân
vật chí được phân chia rõ ràng theo loại hình nhân vật Chính vì vậy, sử dụng
phương pháp phân tích nhân vật theo loại hình giúp ta thấy rõ được đặc trưng của từng loại hình nhân vật lịch sử, từ đó góp phần làm nổi bật lên đặc trưng riêng của từng loại hình nhân vật và nghệ thuật viết tiểu sửtừng loại hình nhân vật của tác giả
Phương pháp so sánh: sử dụng phương pháp này, người viết có thể đối chiếu nghệ thuật xây dựng tiểu sử nhân vật của tác giả với những người ghi chép sử khác, từ đó thấy được những nét riêng trong cách xây dựng nhân vật và hình tượng nhân vật
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: đề tài Nghệ thuật viết tiểu sử nhân vật
mang đậm tính văn chương nhưng lại không chỉ là vấn đề quan tâm của văn học với tư cách là một đề tài trong văn học, mà nó còn liên quan đến nhiều lĩnh vực
khác như triết học, tôn giáo, lịch sử, tư tưởng Lịch triều hiến chương loại chí
được coi là một bộ bách khoa toàn thư nên khi nghiên cứu về bất kì phương diện nào của tác phẩm cũng đòi hỏi phải có sự nghiên cứu liên ngành thì mới có thể nắm bắt được ý nghĩa rộng lớn và đích thực của nó Việc nghiên cứu từ nhiều góc độ sẽ cho phép ta tiếp cận được vấn đề cách thấu đáo Hướng tiếp cận liên
Trang 125.Mục đích nghiên cứu
Phan Huy Chú là một trong những nhà sử học nghiên cứu biên khảo sưu tầm Nghiên cứu về Phan Huy Chú và tác phẩm giúp chúng ta tìm hiểu được giá trị văn học trong sáng tác của Phan Huy Chú Giá trị này đặc biệt quan trọng với những người nghiên cứu văn học cổ
Luận văn đã triển khai một cách tiếp cận mới mang tính liên ngành giữa nghiên cứu văn học và các lĩnh vực khác, triển khai các thao tác và phương pháp nghiên cứu mới cho việc thể hiện các nhân vật lịch sử vừa theo truyền thống của sử truyện vừa bằng cách thức của văn chương
Lần đầu tiên tìm hiểu về nghệ thuật viết tiểu sử nhân vật trong Lịch triều hiến
chương loại chí
Tìm tòi, phát hiện ra những giá trị về mặt nghệ thuật trong tác phẩm mà bấy lâu nay nhiều người chưa biết đến
Làm rõ nghệ thuật viết tiểu sử nhân vật của Phan Huy Chú
6 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai thành 3 chương sau đây :
Chương 1: Truyền thống chép sử phương Đông và tác phẩm Lịch triều hiến
chương loại chí
Chương 2: Hệ thống và cách phân loại các nhân vật lịch sử trong thiên Nhân
vật chí - Lịch triều Hiến chương loại chí
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng tiểu sử nhân vật trong thiên Nhân vật chí
-Lịch triều hiến chương loại chí
Trang 139
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TRUYỀN THỐNG CHÉP SỬ PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TÁC
PHẨM LỊCH TRIỀU HIẾN CHƯƠNG LOẠI CHÍ
1.1 Truyền thống viết sử và ghi chép lịch sử của các nhà viết sử phương Đông
Trong kho tàng văn hóa văn học của mỗi quốc gia, lịch sử được coi là tâm hồn, là tinh túy của núi sông đất nước Mỗi bộ sử đều mang một giá trị riêng, ghi lại những thời khắc quan trọng của chính trị- xã hội đất nước Lịch sử không chỉ đơn thuần ghi lại những trận đánh, những cơn biến động lớn của quốc gia dân tộc, mà ta có thể tìm thấy trong đó cả những nhân vật lịch sử nổi tiếng, vang danh một thời Lịch sử là tài liệu gốc để nghiên cứu các ngành khoa học khác nên việc ghi sử chép sử là một công việc quan trọng đối với quốc gia, dân tộc Trong thời kì văn học cổ thì việc ghi chép sử lại càng quan trọng hơn
Ở phương Đông nói chung, trong đó có Việt Nam nói riêng, hành trình của các tác phẩm sử kinh điển có những bước phát triển riêng Ở Trung Quốc- một đất nước rộng lớn có truyền thống lịch sử hàng ngàn năm, các bộ chính
sử xuất hiện sớm Đầu tiên có thể kể đến là Sử ký Tư Mã Thiên - là một tác phẩm văn học sử đồ sộ, được xem như “công trình sử học lớn nhất Trung
Quốc, cũng như là một trong những quyển sử nổi tiếng nhất của thế giới”, tác
phẩm đã đặt nền móng và định hình cho phong cách viết sử tại Trung Hoa
Đồng thời, đối với nền văn học, Sử Ký cũng được xem như chuẩn mực cho lối
miêu tả nhân vật và sự kiện tại Trung Hoa, với bút pháp điêu luyện và tinh tế, những nhận xét xác đáng và khách quan làm nổi bật tính cách, chân dung nhân vật cũng như phản ánh một cách trung thực các sự kiện Đánh giá về Tư
Mã Thiên, Bách Khoa Toàn Thư Xô Viết đã vinh danh ông như là “một trong
những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại” Khác với những nhà sử học
khác, Tư Mã Thiên không chỉ nhắc đến những thời đại, những sự kiện đã qua
Trang 1410
mà còn viết về chính thời đại mình Đó là những ghi chép cẩn thận, khách quan và phải nói là rất dũng cảm vì dám đề cập đến những sự thật mà các nhà viết sử khác tránh né, cũng chính là động chạm đến triều đại đang cai trị Cái tâm của người viết sử, cộng với vốn kiến thức phong phú tích lũy từ khảo cứu
và những chuyến đi chu du khắp đất nước Trung Hoa rộng lớn, cùng những tâm sự u uất riêng tư và nỗi hàm oan khó rửa - tất cả qua ngòi bút tài hoa của
Tư Mã Thiên đã được thể hiện thành một di sản văn học - sử học có giá trị lớn lao cho nhiều đời sau
Bên cạnh Sử ký còn có nhiều tác phẩm khác như Kinh Xuân Thu của Khổng
Tử viết theo lối biên niên, Tư Trị Thông Giám của Tư Mã Quang, Thông
Giám cương mục của Chu Hy…Tất cả đều là những tác phẩm văn sử học nổi
tiếng, chứa đựng hệ tư tưởng Nho gia, có ảnh hưởng rất lớn đến lối viết sử và cách viết sử của các sử gia ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc ghi chép chính sử xuất hiện muộn hơn So với các nước láng giềng như Triều Tiên, Nhật Bản, đặc biệt là Trung Quốc thì nền sử học Việt Nam ra đời khá muộn Theo Tạ Ngọc Liễn, sử học Việt Nam có bề dày
khoảng 7 thế kỷ, tính từ Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu(1272) đến thế kỉ XIII,
khi nền sử học chính thức hiện diện Do quá trình giao lưu và tiếp biến của văn hóa, hầu hết các thể tài của sử Việt Nam đều ảnh hưởng của các thể tài đã được lưu hành ở Trung Quốc Sách sử Việt Nam tuy xuất hiện muộn, nhưng
cũng đã đạt được những thành tựu xuất sắc Có thể kể đến là Đại Việt sử ký
toàn thư là tập đại thành của nhiều bộ sử do nhiều nhà sử học các đời biên
soạn, từ Lê Văn Hưu đời Trần qua Phan Tu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh đời
Lê Sơ, đến Phạm Công Trứ, Lê Hy đời Lê Trung Hưng Tác phẩm ghi chép lịch sử dân tộc ta từ họ Hồng Bàng đến năm 1675
Khâm định Việt sử thông giám cương mục được vua Tự Đức chỉ đạo biên
soạn vào năm Tự Đức thứ 8 (1856), do Phan Thanh Giản làm tổng tài (chủ biên) Bộ sách được hoàn thành vào năm 1859, sau đó trải qua các lần “duyệt nghị” (1871), “duyệt kiểm” (1872), “phúc kiểm” (1876), “duyệt định” (1878),
Trang 1511
“kiểm duyệt” (1884), đến năm Kiến Phúc thứ 1 (1884) được khắc in và ban
hành.Khâm định Việt sử thông giám cương mục được biên soạn theo thể biên niên dựa trên cơ sở Đại Việt sử ký toàn thư
Đại Việt sử ký tục biên là sự tiếp nối của Đại Việt sử ký toàn thư Bộ sách sử
được nhiều tác giả biên soạn vào năm 1775 có tham khảo các sách sử của Trung Quốc cùng các sách sử khác của Việt Nam Bộ sách được viết theo thể
“cương mục” của Chu Hi thời Tống, chia ra “cương” (phần tóm tắt gọn và sáng) và “mục” (việc chép rộng ra cụ thể hơn), theo thứ tự năm, tháng, ngày ghi chép sự kiện lịch sử, tiểu sử các nhân vật, lời cẩn án giám định một số sự kiện, nhân vật và niên đại trên cơ sở khảo chứng các sách sử, tư liệu của Việt Nam và Trung Quốc, lời chú thích tên người, tên đất, chế độ thi cử, tổ chức hành chính, rải rác có các lời phê của vua Tự Đức Tài liệu tham khảo của Cương mục khoảng trên 200 bộ, bao gồm dã sử, thơ văn, các tác phẩm của Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú cùng các sách sử của Trung Quốc
Cùng với Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương
mục, Đại Việt sử ký tiền biên là một trong ba bộ quốc sử lớn của nước ta còn
lại đến ngày nay Bộ sử 17 tập này được Sử quản triều Tây Sơn cho khắc in trên cơ sở công trình biên soạn của sử gia Ngô Thì Sỹ, được con ông là Ngô Thì Nhậm tu đính, thực sự là một thành tựu quan trọng về sử học của vương
triều tiến bộ nhưng quá ngắn ngủi ấy Đại Việt sử ký tiền biên về phương diện
sử liệu, căn bản dựa theo Đại Việt sử ký toàn thư, nhưng giá trị chủ yếu là ở
những bình luận sắc sảo và những vấn đề tác giả nêu lên để đính chính hoặc đánh giá lại Tính chất sử luận đậm nét trong ngót năm trăm “lời bàn” của các
sử gia nổi tiếng đời trước như Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Lê Tung, Ngô Sỹ Liên và của chính tác giả, ở đó toát lên lòng tự hào dân tộc và lòng yêu nước sâu sắc
Hoàng Lê nhất thống chí của dòng họ Ngô Thì cũng là một pho tư liệu lịch sử
khá đặc biệt về một giai đoạn mà cho đến nay còn lưu lại không nhiều trong
sử sách khác Ngày nay, nhiều người khi nghiên cứu lịch sử của giai đoạn
Trang 1612
cuối thế kỉ XVIII vẫn thường tìm tư liệu lịch sử trong tác phẩm này Tác phẩm có giá trị lớn về mặt văn học cũng như sử học
Song hành cùng các tác phẩm lịch sử lớn, thì Lịch Triều hiến chương loại chí
của Phan Huy Chú cũng là một tác phẩm đồ sộ, không chỉ có giá trị về lịch sử
mà còn có cả giá trị về văn học Đây cũng xứng đáng là bộ sử lớn của nước nhà đáng được các nhà nghiên cứu quan tâm
Nhìn chung, tất cả các tác phẩm sử học của Việt Nam đều chứa đựng trong mình nhiều giá trị, không chỉ có giá trị về sử học mà còn có cả giá trị văn học Vì các nhà nho đồng thời cũng là nhà sử học và văn học, họ chịu ảnh hưởng của Nho giáo và lối viết sử của Trung Hoa và mang trong mình tư duy chép sử của văn học trung đại, nghĩa là chép sử đồng thời cũng chép văn nên các tác phẩm sử mang trong mình giá trị văn học Một tác phẩm sử học nhưng lại mang chất văn chương Các tác phẩm sử học là ví dụ tiêu biểu cho tư duy văn sử bất phân thời trung đại
1.2.Tác phẩm Lịch triều hiến chương loại chí và thiên Nhân vật chí
1.2.1 Cách hiểu về thể chí và tác phẩm Lịch triều hiến chương loại chí
Muốn hiểu về tác phẩm LTHCLC, trước hết cần hiểu rõ về đặc trưng thể loại của tác phẩm hay nói cách khác, hiểu rõ về thể chí Trong LTHCLC, chữ chí
ở đây được dùng để chỉ về mặt thể loại của tác phẩm Chí có nguồn gốc từ thể
tài chính sử Trung Quốc, gồm hai thể loại cơ bản là biên niên(căn cứ vào ngày tháng năm để ghi chép lại sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian nhất định) Còn thể ký truyện xuất hiện muộn hơn Khi ghi chép sử bằng thể này, các sự kiện phân tán trong các thiên nên không được miêu tả hoàn chỉnh Chữ
chí mang nhiều nghĩa khác nhau Nghĩa đầu tiên của chí là “nghị lực”, “chí
hướng” Trong cách hiểu thứ hai, chữ chí cũng đồng âm với chữ chí chỉ
sự“ghi chép”, “miêu tả” Chính nghĩa thứ hai này đã chỉ ra thể loại của tác
phẩm Chữ chí trong sách Chu Lễ được hiểu là: “Các nhà chép sử ghi
chép(chí) những công việc của quốc gia” Bản chú giải cổ nhất đầu thời kỳ
Trang 1713
trung kỷ của Nhan Sư Cổ có giải thích “Chí- là bản ghi chép; là bộ sưu tập
các bản ghi chép về những sự kiện nào đấy” Vì đặc trưng của thể loại nên
chữ chí được các nhà chép sử của Trung Quốc sử dụng khá phổ biến trong
quá trình ghi chép của mình về lịch sử xã hội, lịch sử đất nước Vào thời trung
thế kỷ, Trần Thọ đã gọi cuốn sử chính thức của mình là Tam Quốc chí và sau
ông, còn rất nhiều tác giả những cuốn sử thi viết về đề tài lịch sử, bắt đầu từ
La Quán Trung, người đã đưa tên Tam Quốc của nhà sử học Trần Thọ vào đầu đề cho nên ở những thời kì xuất bản đầu tiên Bên cạnh đó còn có các tác
phẩm chí khác như Tống chí truyện, …
Ở Trung Quốc thời trung đại, chícòn được hiểu theo cách khác Chí là một trong 4 nội dung của Đoạn đại sử là Kỷ, Truyện, Biểu, Chí Trong đó, chí viết
về một địa phương nào đó bao gồm về mọi mặt, trừ những hoạt động cụ thể
của con người Trong Sử thông, xuất hiện các thể loại Thông điển, Thông
khảo, Thông chí mô tả về một số vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa – nhằm bổ
sung cho Thông Giám (vốn chủ yếu bàn về sự hưng vong của các thời đại, còn các hiện tượng kinh tế, văn hóa, điển chương chế độ nói rất sơ lược) Cụ
thể, Thông điển gồm 9 vấn đề Thực hóa, Tuyển cử, Chức quan, Lễ, Nhạc, Binh, Hình, Châu Quận, Biên Phòng Thông khảo chia làm 24 vấn đề, trong
đó 19 vấn đề đã có ở Thông điển như Điền Phú, Tiền tệ, Hộ khẩu, Chức dịch, Chính giác, Thị địch, Thổ công, Quốc dụng, Tuyển Cử, Học hiệu, Quan chức, Giao tự, Tôn miếu, Vương lễ, Nhạc, Binh, Hình, Dư địa, Tư duệ Và bổ sung thêm 5 vấn đề mới (Kinh tịch, Đế hệ, Phong kiến, Tượng vật, Vật dị) Còn
Thông chí thì trình bày một hệ thống các vấn đề bao gồm: Lễ, Quan chức,
Tuyển cử, Hình pháp, Thực hóa, Thị tộc, Lục thư, Thất âm, Thiên văn, Địa lý,
Đô ấp, Thụy, Khí phục, Nhạc, Nghệ văn, Hiệu thù, Đồ Phổ, Kim thạch, Tai
tường, Côn trùng, Thảo mộc Như vậy, chí có hai loại Một loại thuộc về
chính sử, viết về một triều đại nhất định với nội dung ghi chép mảng loại vấn đề: điển lệ, chế độ, văn nghệ…ngoài kỉ truyện nói về nhân vật, còn một loại
khác khảo về nhiều lĩnh vực theo diễn trình lịch sử Lịch triều hiến chương
Trang 1814
loại chí không nằm trong hai thể loại nói trên mà là một cuốn bách khoa thư
Cũng có thể coi LTHCLC là tổng hợp của Sử thông, vì nó đề cập đến tất cả
các vấn đề mà Thông điển, Thông Khảo, Thông chí đã trình bày Mười chí trong LTHCLC thực chất là ghi chép vềmười lĩnh vực khoa học khác nhau, trong đó mỗi nội dung đều được khảo cứu toàn bộ lịch sử hình thành, phát
triển Chính Phan Huy Chú đã nói trong Phàm lệ: “Sự tích chép ở sách này,
trên từ đời thượng cổ, xuống đến cuối (Hậu) Lê, chứng dẫn đều có điển tích”[15,tr.22]
Ở nước ta, các tác phẩm sử biên soạn theo thể loại bách khoa thư đã có từ Vân
đài loại ngữ.Vân Đài Loại Ngữ được Lê Quý Đôn hoàn thành vào năm 1773,
lúc ông 47 tuổi Tác phẩm này được xem như một loại “bách khoa thư”, đồ sộ nhất thời Trung đại Việt Nam, tập hợp các tri thức về triết học, khoa học, văn học… sắp xếp theo thứ tự: Vũ trụ luận, địa lý, điển lệ, chế độ, văn nghệ, ngôn
ngữ, văn tự, sản vật tự nhiên, xã hội… Vân Đài Loại Ngữ là bộ sách đạt tới
trình độ phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa khá cao, đánh dấu một bước tiến bộ vượt bậc đối với nền khoa học Việt Nam thời phong kiến Nhưng mặt
hạn chế của Vân đài loại ngữ là những tác giả và những sách sử kể ra đều là
người Trung Quốc, những sự vật sự việc được trình bày cũng là của Trung Quốc nên phần nào đó, bộ sử vẫn chưa thể coi là chính thống Phải đến
LTHCLC thì lần đầu tiên văn hiến, điển chương của nước ta mới được phân
loại và ghi chép một cách đầy đủ theo một tư duy khoa học Ở mỗi chí, Phan Huy Chú đều chú ý đi từ những điểm khái quát chung nhất đến từng yếu tố riêng nhỏ hơn Phần mở đầu của các chí, người viết sử đều cho biết rõ nội dung là khảo về lĩnh vực đó trong tiến trình lịch sử
Ở Việt Nam, chữ chí cũng được dùng nhiều trong tên các tác phẩm lịch sử và địa lý Các tác phẩm tiêu biểu cho thể loại chí như Việt Nam thế chí của Hồ Tông Thốc miêu tả lịch sử Việt Nam Nguyên bản Việt Nam thế chí đã mất, nhưng may mắn Lời tựa tác phẩm này được Phan Huy Chú (1782 – 1840) chép lại đầy đủ trong thiên Văn tịch chí bộ Lịch triều hiến chương loại chí đồ
Trang 1915
sộ Lời tựa này cho ta biết Việt Nam thế chí chép 18 đời vua Hùng & các đời
nhà Triệu; và Hồ Tông Thốc là người đầu tiên đưa ra danh xưng Việt Nam với ý nghĩa là quốc hiệu; người đầu tiên có quan điểm độc đáo, đúng đắn về thời Hồng Bàng (cũng tức là thời Hùng Vương), và mối quan hệ giữa huyền
thoại và lịch sử: “Huống chi đất Việt ta ở vào cõi xa, sự hiểu biết cũng khác,
từ đời Hồng Bàng thời gian xa cách, trong lúc mở mang, sách vở chưa đủ, lễ nhạc chưa làm, nếu cho là có thực thì bởi đâu mà biết? Nếu cho là không có thì bởi đâu mà xét ra? Cho nên những chuyện cóp nhặt được đều là lượm lặt
ở tiếng vang, chuyện đồn, trích lấy đầu đuôi để cho biết rõ về phả ký từng đời
mà thôi, còn những sự tích lờ mờ khó xét, tạm giữ đó để chờ các bậc quân tử sau này, dám đâu xuyên tạc ra lời quái dị để mê hoặc người đời Độc giả nếu lưu tâm nhận kỹ, có sức suy nghiệm thì ngọc & đá đều sẽ rõ ràng, những hình tiếng bóng vang của những chuyện quái đản không đợi phá cũng vỡ…”[15]
Bên cạnh Việt Nam thế chí thì Dư địa chí của Nguyễn Trãi cũng là một tác
phẩm chí ghi chép về đất nước, con người và đời sống văn hóa của từng địa phương Đây được coi như là một tác phẩm địa chí đầy đủ đầu tiên của Việt Nam Tác phẩm mang nhiều giá trị về mặt nhận thức, văn hóa giáo dục, giá trị
về địa lý, lịch sử Nguyễn Trãi viết địa chí là để giúp nhà vua và triều đình tìm hiểu về đất nước, con người, tài nguyên của dân tộc để thêm một bước khẳng định dân tộc mình, từ đó xây dựng một quốc gia độc lập toàn diện Thông qua những tư liệu ghi chép, cuốn sách đã khắc họa diện mạo của nước Đại Việt cũng như từng địa phương Sau phần giới thiệu qua vị trí chung của toàn quốc, đơn vị hành chính, nhân khẩu, quốc hiệu, quốc đô qua các thời đại, Nguyễn Trãi đã chép riêng về các đạo thời Lê Sơ Mỗi đạo có hai phần, phần trước chép các sông núi đặc biệt của đạo ấy và phần sau nói về diên cách địa
lý, vị trí, cương vực, số phủ, huyện, châu, rồi mới nói đến đất đai sản vật phong tục tập quán cùng khí chất con người và các đồ cống tiến cho vua Sách
đã xác định vị trí địa lý của mỗi địa phương và các địa danh, ghi lại các tên gọi núi sông đặc biệt cũng như các đơn vị hành chính và tổng số phủ, huyện,
Trang 2016
xã để chúng ta có thể so sánh sự thay đổi các đơn vị hành chính mỗi địa phương, xác định các mốc địa giới trong hiện tại và địa giới trong lịch sử nhất
là vào thế kỉ XV Dư địa chí thể hiện phương pháp biên soạn chí vừa ngắn
gọn, vừa xúc tích, cô đọng, khắc họa được diện mạo chung nhất của đất nước dân tộc vào thế kỉ XV Đây có thể coi là một bộ quốc chí mẫu mực của dân tộc, vì từ đó trở đi không ai viết về địa chí mà không quan tâm đến hai chủ đề lớn là lãnh thổ và giống nòi
Ngoài ra, thuật ngữ chí được dùng trong tác phẩm Đại Nam nhất thống chí
Đây là bộ sách dư địa chí (địa lý - lịch sử) Việt Nam, viết bằng chữ Hán do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn thời vua Tự Đức Có thể coi đây là bộ sách lớn nhất và quan trọng nhất về địa chí Việt Nam dưới thời phong kiến Nguyên bản bộ sách được biên soạn dưới triều Tự Đức, có 28 tập với 31
quyển, chép tay trên bản thường, khổ 28 x 16 cm.Mỗi quyển trong Đại Nam
nhất thống chí chép một tỉnh, bao gồm: Kinh sư (Huế), phủ Thừa Thiên, Hà
Nội, Hưng Yên, Sơn Tây, Hưng Hóa, Bắc Ninh, Quảng Yên, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Ninh Bình, Hải Dương, Nam Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Vĩnh Long, Gia Định, Biên Hòa, An Giang, Định Tường, Hà Tuyên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Phú Yên, và Phụ các nước lân cận (Cao Miên, Tiêm La, Thủy Xá, Hỏa Xá, Miến Điện, Nam Chưởng)
Hoàng lê nhất thống chí cũng là tác phẩm lớn của dòng họ Ngô thì, ghi chép
qua nhiều đời, được viết với mục đích ghi chép lại sự nghiệp thống nhất của
nhà Lê, điều đó cũng đồng nghĩa với việc có thể coi Hoàng Lê nhất thống chí
là một quyển sử, nhưng giá trị của nó lại vượt mong muốn ban đầu của tác giả Các nhà soạn sử không chỉ ghi chép lại những sự kiện lịch sử đã xảy ra trong thực tế của dân tộc vào thế kỉ XVIII mà họ còn xen vào đó cách nhìn và nhãn quan riêng, những nhận định chủ quan của người ghi chép sử Trong quá trình ghi chép họ đã hóa thân vào nhân vật và sự kiện Chính điều này đã làm
Trang 2117
cho tác phẩm vừa được coi là một bộ sử, nhưng lại mang đậm chất văn chương trong đó
Như vậy, một đặc điểm dễ nhận thấy trong quá trình ghi chép sử hoặc chí của
các sử gia trước Phan Huy Chú là tất cả các sử gia đều có ý thức khẳng định chủ quyền độc lập về lãnh thổ đất nước lên đầu Đặt lịch sử về lãnh thổ, địa lý của nước nhà lên đầu tiên rồi mới đề cập đến những vấn đề khác của đất nước như con người, lịch sử văn hóa Điều này thể hiện ở phần “địa chí”(ghi chép
về địa danh, sông núi, lãnh thổ, biên giới Việt Nam) Phan Huy Chú cũng không nằm ngoài tư duy viết sử trên Tư duy này thể hiện khã rõ nét trong tác
phẩm LTHCLC
Tóm lại: Chí là thể loại có nguồn gốc xuất phát từ Trung Quốc Do đặc trưng
của thể loại như tính khái quát, tổng hợp cao, khả năng phản ánh được nhiều
mặt và nhiều nội dung khác nhau của xã hội, nên chí được các biên soạn khảo
cứu lịch sử Việt Nam sử dụng trong việc ghi chép lại lịch sử quốc gia dân tộc Phan Huy Chú cũng đã thấy được ưu điểm của thể loại này nên trong việc biên soạn, trước thuật của mình, ông đã coi thể loại này là một phương thức dùng để chuyên chở tất cả những nội dung rộng lớn mà ông muốn phản ánh trong công việc ghi chép của mình nhằm làm phong phú thêm vốn văn hóa lịch sử dân tộc
Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ra đời với tư cách là bộ
bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam, có vị trí quan trọng trong kho tàng thư tịch cổ Việt Nam Bộ sách được Phan Huy Chú (1782- 1840) biên soạn trong 10 năm(1809-1819)
Bộ sách gồm có 49 quyển, chia ra làm 10 bộ môn nghiên cứu:
1 Dư địa chí: nói về tình hình địa lý và lịch sử địa lý của nước Việt Nam
2 Nhân vật chí:nói về tiểu sử của các vua chúa, các quan lại, các nho sĩ, tướng sĩ, người có tiết nghĩa,có tên tuổi trong lịch sử Việt Nam
3 Quan chức chí: nói về lịch sử chế độ quan liêu Việt Nam trong lịch sử
Trang 22tới 213 bộ sách (Liệt kê ở Văn tịch chí)…Ngoài ra ông còn sử dụng các sách
sử Trung Quốc mà theo ông đã kê trong bài “Phàm Lệ” gồm 26 bộ sử Trung
Quốc với hàng ngàn quyển sách Ông đã dày công nghiên cứu, chắt lọc trong
mớ kiến thức phong phú ấy, từ đó ghi chép, hệ thống hóa lại vào các “chí”
khiến cho bộ sách LTHCLC trở nên đầy đủ và chính xác Cũng trong Phàm
Lệ, ông viết: “Trong các chí lấy đủ mọi việc, chép cả văn từ Phàm các chiếu lệnh, tấu chương của các đời có quan hệ đến cốt yếu của điển chương đều chép vào hết thảy Và thơ văn của các danh công, cự nho có thể chép được, cũng đều tùy loại chép mà không bỏ sót Ví như quả mùa thu, hoa mùa xuân, tùy ý cả hai mới khỏi thiên về một bên” [15, tr 23]
Theo như sự sắp xếp của 10 bộ môn nghiên cứu trên, Phan Huy Chú đã đặt địa lý, lãnh thổ của quốc gia lên trước nhất Một đất nước chỉ thực sự tồn tại
khi có cương vực và lãnh thổ riêng Nhận thức được điều này ông đã đặt Dư
Trang 2319
địa chí lên hàng đầu Sau đó mới đến các vấn đề khác của quốc gia như con
người, lễ nghi, chế độ khoa cử, thuế khóa, tài chính, quân sự, văn học, ngoại giao
LTHCLC tuy được chia làm 10 chí, mỗi chí lại nói về một lĩnh vực khác nhau,
nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tư duy khoa học còn thể hiện trong nội dung của từng chí Đầu mỗi chí là lời dẫn mang tính khái quát tổng hợp, sau đó phân thành từng loại từng điều Phần mở đầu mỗi chí, Phan Huy Chú đều phân tích, suy nghĩ và đưa ra những quan điểm đúng đắn, phê phán những quan điểm lạc hậu hoặc chưa đúng trước khi đi vào ghi chép lại các sự
kiện, sự việc hay nhân vật Với 10 chí trên, các bộ môn của LTHCLC là
những bộ môn đã được nghiên cứu và phân loại hệ thống rành mạch Với tư
duy khoa học như trên thì so với Vân đài loại ngữ, cũng là một tác phẩm “loại thư” của Lê Quý Đôn, sách LTHCLC của Phan Huy Chú xác định môn loại phân minh và chính xác hơn Trong Dư địa chí, Phan Huy Chú chia ra thành
hai phần quan trọng đó là: sự khác nhau về bờ cõi của các đời và sự khác nhau về phong thổ của các đạo Cùng với cách phân tích kèm theo nhiều tư liệu quý giá về địa lý, trích cả thơ văn minh họa, Phan Huy Chú đã vẽ nên một bức tranh tổng thể và cũng rất chi tiết của nước ta với từng bài, từng phần theo cấu trúc từ lớn đến nhỏ, từ rộng đến hẹp giúp người đọc có thể định hình
về địa phận ranh giới của nước ta và sự thay đổi về đất đai lãnh thổ qua từng
đời như thế nào Hay trong Văn tịch chí tác phẩm nào có trước được ông đưa
lên trước, tác phẩm nào có sau ông đưa xuống sau theo đúng trật tự thời gian, niên đại Điều này giúp cho việc khảo cứu tài liệu văn chương cũng như sử học của người đời sau được thuận tiện và dễ dàng hơn, tránh được tình trạng người khảo cứu đời sau bị rối rắm, mông lung trong kho tư liệu rộng lớn của dân tộc
Trang 2420
1.2.2 Thiên Nhân vật chí
Chữ “Nhân vật” trong thiên Nhân vật chí theo nghĩa của từ này là chỉ những
“nhân tài”, những người tài đức trong xã hội đã giúp đời sửa tục, làm gương cho đời sau Hay nói cách khác đi, đây là thiên ghi chép về tiểu sử của những người đã có đóng gớp lớn cho sự nghiệp chung của nước nhà Phan Huy Chú rất chú trọng biểu dương những nhân vật xuất sắc trong lịch sử Trong tất cả
các thiên của LTHCLC, không phải chỉ ở thiên Nhân vật chí mới nói đến các
bậc nhân tài của đất nước mà ngay cả những thiên khác trong tác phẩm, những nhân vật hiền tài của nước nhà vẫn xuất hiện Ở từng lĩnh vực khác
nhau họ lại có những đóng góp khác nhau Trong Dư địa chí, mối quan hệ
giữa con người và sông núi cũng được Phan Huy Chú hết sức chú trọng Khi
viết về Nghệ An, ông cũng ca ngợi: “núi cao sông sâu,phong tục trọng
hậu…Người thì thuần hòa và chăm học… Được khí tốt của sông núi nên sinh
ra nhiều bậc danh hiền.”[15] Về trấn Sơn Nam, thượng và hạ : “Văn vật thì thượng lộ thịnh hơn, của cải thì hạ lộ nhiều hơn, tóm lại đều là đất tụ khí anh hoa, tục gọi là văn nhã…” [15] Trong Khoa mục chí, Phan Huy Chú nhắc
nhiều đến những người có công trong việc xin sửa đổi cách thi cử như Nhữ
Đình Toản, Ngô Thì Sĩ… Trong Quốc dụng chí cũng vậy, Phan Huy Chú biểu
dương những người có sáng kiến sửa đổi thuế ngạch như Nguyễn Công Hãng hoặc quy định thể thức người phương Bắc sang khai mỏ ở nước ta như Ngô
Thì Sĩ Cũng như thế trong Văn tịch chí, các tên sách đều kèm theo tên họ và
tiểu sử sơ lược của tác giả Ông cũng không quên đưa ra các nhận xét chính xác về thơ văn của họ, nêu lên được cái xuất thần làm nên văn chương của từng bậc danh nho Các nhà thơ, văn thời trung đại đều được ông tập hợp lại
và khái quát ví dụ như Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Nguyên Đán,
Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn…Trong Bang giao chí đã lập danh
sách những người có công đi sứ, đề cập đến những nhân vật có tài ứng đối bảo vệ uy tín quốc gia, không cho bọn Phong kiến phương Bắc phạm tới (Nguyễn Trung Ngạn, Ngô thì Sĩ…) hoặc đấu tranh để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ (Nguyễn Huy Nhuận và Nguyễn Cống Thể) Như vậy ta có thể thấy, các
Trang 2521
nhân vật lịch sử (nhân tài) được nói đến rải rác trong hầu hết các thiên của
LTHCLC chứ không phải chỉ riêng ở Nhân vật chí Các lĩnh vực khác nhau
của các thiên trong LTHCLC, nhất là các yếu tố chính như đất đai (lãnh thổ và
tài nguyên) tổ chức chính trị xã hội (pháp luật, tục lệ) và con người gắn chặt
với nhau Nhân tố chủ yếu và tiên quyết vẫn là con người Khi viết Đại Cáo
bình ngô, Nguyễn Trãi đã khẳng định “Nước Đại Việt ta, thực là một nước
văn hiến” với nghĩa “văn” là sách vở, tư liệu, văn hóa nói chung, và “hiến” là người tài giỏi, trong đó yếu tố con người vẫn là quan trọng nhất Vì có người tài giỏi thì các thiết chế xã hội văn hóa nói chung và sách vở nói riêng mới được kiến tạo
Như vậy có thể thấy, thiên Nhân vật chí có vai trò quan trọng trong kết cấu
của toàn bộ tác phẩm vì đây là chương có liên quan đến toàn bộ các chương khác Nó làm rõ tiểu sử và công trạng của các nhân vật trong các chí khác nhau, làm rõ lý do tại sao các nhân vật này lại được lưu danh vào sử sách
Như vậy, thiên Nhân vật chí có vai trò trọng tâm, góp phần bổ sung và làm
sáng rõ cho toàn bộ tác phẩm
Thiên Nhân vật chí nói về tiểu sử của các vua chúa, các quan lại, các nho sĩ,
tướng sĩ, người có tiết nghĩa, có tên tuổi trong lịch sử Việt Nam Hay nói cách khác đi, đây chính là thiên viết về tiểu sử của mẫu hình thánh nhân quân tử trong văn học trung đại Thánh nhân quân tử là mẫu hình nhân vật lý tưởng của nho gia Tuy nhiên, khái niệm thánh nhân quân tử dùng ở đây không chỉ đơn thuần là ghi chép về lịch sử của các đế vương, vua chúa mà còn là ghi chép về các nhân vật lịch sử thuộc các loại “thế gia”, “danh thần”, “danh nho”, “tiết nghĩa”…bao quát cả những nhân vật nổi danh, có những nét phi phàm, xuất chúng theo quan niệm trung đại để người đời sau khảo cứu
Trang 26Ngô Sĩ Liên thì lấy việc ghi chép quốc sử là một điều quan trọng, để tỏ rõ sự trị hóa lúc thịnh lúc suy, lúc lìa lúc hợp của nước nhà Chép sử không chỉ nhằm mục đích đơn thuần là để “cơ vi về dĩ vãng” mà còn để làm gương răn dạy đời sau Ngô Sĩ Liên vẫn theo quan điểm truyền thống về lịch sử của các Nho gia như một quá trình thịnh suy, hưng vong, bĩ thái có tính chất chu kì của các triều đại trị vì và truy tìm nguyên nhân của sự thịnh suy ấy, nhằm rút
ra những bài học đạo đức nhắn gửi cho những người làm chính trị đời sau Quan điểm này từng được nhấn mạnh trong một số tác phẩm sử Trung Quốc
như Kinh Xuân Thu của Khổng Tử, Sử ký của Tư Mã Thiên, Tư trị Thông
giám của Tư Mã Quang Các nhà sử học của Việt Nam thời kỳ trung đại trong
quá trình ghi chép sử cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng sử học của các Nho gia Trung Quốc và Phan Huy Chú cũng không phải là trường hợp ngoại lệ
Phạm Công Trứ thì nêu rõ mục đích của việc ghi chép quốc sử Chép sử để
ghi chép công việc, chính trị của từng đời Ghi chép sử để “giữ nghị luận
nghiêm, tô điểm việc chí trị sáng tỏ ngang với mặt trăng, mặt trời”, và hơn
nữa là để răn đe kẻ loạn tặc, phát hiện và phân chia kẻ tốt người xấu
Mỗi nhà chép sử đều có quan niệm và mục đích chép sử khác nhau, nhưng đều hướng đến mục đích chung là treo gương, răn đời, hướng đến phản ánh xã hội phong kiến Nhiều khi các sử gia đã nhìn nhận nhân vật lịch sử thiếu tính
Trang 2723
khách quan mà mang màu sắc chủ quan Mục đích viết sử dù lớn hay nhỏ đều hướng đến sự khen chê, nêu gương đạo đức và chở Đạo Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tư duy và quan niệm chép sử của Phan Huy Chú
Lịch triều hiến chương loại chí được ông ghi chép để dâng vua nên ngay
trong “Bài tựa” của mình, Phan Huy Chú đã nói đến cái chí “lập ngôn” của
mình: “Tôi, từ nhỏ đi học vẫn thường có cái chí ấy May nhờ được sách vở
của các đời để lại và sự dạy dỗ của gia đình, nên về điển chương, gọi là có biết qua đầu mối, nhưng hiềm vì sử sách tản mát chưa kịp sửa chép Từ khi vào núi đến giờ mới đóng cửa tạ khách cố sức tìm nhặt, sau khi đọc sách được nhàn rỗi, thì lại tùy từng loại mà khảo xét và đính chính…”[15,
tr.14].Phan Huy Chú có chí lớn lại được hun đúc bởi các yếu tố môi trường dòng họ tốt lành, có ông là tiến sĩ Phan Huy Cận, bố là tiến sĩ Phan Huy Ích, chú là tiến sĩ Phan Huy Ôn, bác là Tiến sĩ Ngô Thì Nhậm đều là những nhân vật kiệt xuất và tác gia nổi tiếng Cái chí lập ngôn của Phan Huy Chú cứ dần dần lớn trong điều kiện thuận lợi như vậy Ông ghi chép lịch sử là để giữ gìn truyền thống quốc sử của nước nhà Sự ghi chép xuất phát từ tinh thần tự hào
dân tộc và trên nền tảng sẵn có: “Nước Việt ta, từ đời Đinh, Lê, Lý, Trần,
phong hội đã mở, đời nào cũng có chế độ của đời ấy Đến đời nhà Lê,kiến thiết kĩ càng phép tắc đầy đủ, thanh danh của nước và văn hóa nhân tài đều thịnh không kém gì Trung Hoa.” [15, tr.13], và ý thức trách nhiệm gìn giữ lịch
sử nước nhà của một người học giả: “Huống chi từ năm Bính Ngọ có việc
binh đao đến giờ, sách cũ tan nát, chỉ còn được một ít của các cố gia thế tộc cất giấu đi Các sách nát vở cũ còn lại biên chép đều lẫn lộn, sai lầm chưa có đầu mối, có bàn về điển cố của các triều thì lờ mờ không bằng cứ vào đâu Vậy thời chép lấy những điều mắt thấy tai nghe ,chia ra từng việc, từng loại
để làm một quyển sách có khuôn phép há chẳng là nhiệm vụ của người học giả ru?” [15, tr.13] Trong suy nghĩ của mình, Phan Huy Chú đã nhận thức
được tình trạng sách vở được những người đi trước biên soạn đều đã cũ nát lẫn lộn, điển cố, điển tích thì lờ mờ không có căn cứ chính xác Với tinh thần
Trang 2824
của một nhà Nho, một học giả ông đã tự đặt cho mình trọng trách nặng nề đó
là ghi chép lại những điều mà mình biết, phân loại sách vở khác nhau để người đời sau có thể khảo cứu Đó cũng chính là tinh thần, ý thức, trách nhiệm của một người học giả trong việc truyền giữ những giá trị truyền thống văn hóa lịch sử của nước nhà Tinh thần học giả này thật đáng để ca ngợi và noi theo
Đối với từng thiên khác nhau trong Lịch triều hiến chương loại chí thì mục đích chép sử của Phan Huy Chú cũng khác nhau Trong Nhân vật chí, Phan
Huy Chú đã tham khảo thêm cách chép sử của Ban Cố Ông vừa tham khảo, lại vừa khắc phục được những nhược điểm của Ban Cố trong quá trình ghi chép về nhân vật lịch sử Mục đích ghi chép các nhân vật lịch sử của Ban Cố
là để phân biệt nhân tài, hơn, kém, cao, thấp từ đó đưa ra những thái độ
hành xử riêng Khi nói về cách chép sử này ông đã viết: “Sở dĩ sử của Ban
(Cố)chép có chín bậc nhân vật là để tỏ rõ sự tích mà phân biệt người hơn kém khác nhau” [15, tr.219] Phan Huy Chú cũng phân loại nhân vật thành các
mục Dòng chính thống các đế vương, Người phò tá công lao tài đức, Tướng
có tiếng và tài giỏi, Nhà nho có đức nghiệp, Bề tôi tiết nghĩa với quan niệm
rất rõ ràng : “vua hiền chúa sáng kế tiếp nổi lên, danh khanh lương tá thường
xuất hiện Các danh tài tuấn kiệt đời đời đều có, hoặc có người ghi công vào đỉnh vạc, hoặc có người lập công với lưỡi búa cờ mao, có người nổi tiếng ở làng văn, có người tỏ khí tiết trong lúc cùng, đều là những người có nhiều tài năng đáng chép, có công nghiệp danh vọng đáng khen, mà trên dưới một nghìn năm xuất hiện lũ lượt” [15, tr.219] Cũng là hình thức ghi chép sử như
Ban Cố, nhưng nội hàm, ý nghĩa thì đã hoàn toàn khác Khi ghi chép về tiểu
sử các nhân vật, tác giả không hề có mục đích chép sử để phân biệt người tài hơn kém hay địa vị cao thấp giống như Ban Cố mà sự phân loại của tác giả chỉ là các nhân vật “khác nhau”,chứ không phải trên / dưới/cao/thấp Mỗi nhân vật đều có công lao, sự đóng góp công trạng cho nước nhà trong từng lĩnh vực, không ai hơn ai, đều rất đáng để ghi chép
Trang 2925
Ở Phan Huy Chú, ngoài tư duy khoa học, ta còn thấy một cái nhìn công bằng, khách quan trong quá trình ghi chép sử Nếu như các sử gia khác ghi chép lịch
sử để treo gương và chở Đạo thì Nhân vật chí cũng đã thể hiện mục đích chép
sử của ông đó là nêu gương răn dạy người đời sau về lòng trung chữ hiếu và
giữ tiết nghĩa “Thu nhặt mà chép ra để là khuôn phép, do đó noi gương mà
bắt chước, thì công việc trị nước giúp đời mới có thể nắm được bản lĩnh ”
[15, tr 16] Do được rèn luyện và học tập theo sách vở nho gia nên quan điểm chép sử của ông là quan điểm của một nhà nho chính thống Thu nhặt chép sử cũng không nằm ngoài mục đích treo gương và truyền bá Đạo thánh hiền để người đời sau có thể nhìn vào đó mà học tập
Như vậy trong tư tưởng của mình, Phan Huy Chú chép sử không chỉ đơn thuần để lưu giữ kho tư liệu cho lịch sử nước nhà mà còn để theo đuổi một luân lý đạo đức chứ không phải để tìm kiếm quy luật vận động khách quan, thịnh suy của lịch sử Đây cũng là điều dễ hiểu vì Phan Huy Chú là một nhà nho chính thống.Tư tưởng Nho gia đã thấm sâu vào đời sống tinh thần của ông và đã trở thành kim chỉ nam để biên soạn lịch sử Trong quá trình ghi chép sử, tư tưởng này thể hiện rất rõ ở những lời bình xét của ông Phan Huy Chú đã đứng trên lập trường đạo đức của nho gia như tam tòng tứ đức, tam cương ngũ thường…để nhìn nhận và đánh giá các nhân vật lịch sử Tất cả các nhân vật lịch sử được ghi chép như những vị vua anh minh hay hủ bại, các bậc bề tôi trung quân ái quốc hay nghịch tặc phản bội cũng đều được tác giả nhìn nhận theo người chuẩn mực của nho giáo Điều này thể hiện ở những lời bình luận khen chê sắc sảo của ông về những nhân vật lịch sử ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau
Trang 3026
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG VÀ CÁCH PHÂN LOẠI
CÁC NHÂN VẬT LỊCH SỬ TRONG THIÊN NHÂN VẬT CHÍ –
LỊCH TRIỀU HIẾN CHƯƠNG LOẠI CHÍ
2.1 Quan điểm chọn nhóm và mục đích phân loại nhân vật trong thiên
Nhân vật chí
Trong một quốc gia dân tộc, nhân tài là một phần quan trọng Một quốc gia có lãnh thổ riêng, vị thế riêng mà không có nhân tài thì quốc gia đó cũng không
thể phát triển được Chính vì thế mà thiên Nhân vật chí được đặt ngay sau Dư
địa chí Vì theo ông “có nước thì phải lấy dân làm gốc” ông dành hẳn một
thiên để nói về các nhân vật quan trọng, thiết yếu, chủ chốt của đất nước Nếu
như ở các tác phẩm ghi chép lịch sử khác như Đại Việt sử kí toàn thư, trục
chính của bộ sử xoay quanh các sự kiện có liên quan đến đời sống cung đình, các nhân vật lịch sử chủ yếu là các bậc vua chúa, quan lại, các bậc trung thần hay gian thần thì đến Phan Huy Chú, việc ghi chép về nhân vật lịch sử đã có
sự mở rộng Không chỉ ghi chép lịch sử về các bậc đế vương, các tướng hầu công khanh, các văn thần võ tướng mà ông còn ghi chép về các nhân vật không có địa vị gì nhưng lại có công trạng và có đạo đức trong xã hội như các danh nho, các bậc bề tôi tiết nghĩa
Thiên Nhân vật chí là sự ghi chép về các nhân vật có thật trong lịch sử nước
nhà Năm mục mà Phan Huy Chú phân loại có thể sắp xếp thành hai phần lớn
là vua chúa và bề tôi Mục đích sắp xếp này đã được Phan Huy CHú viết ngay
trong câu mở đầu của thiên Nhân vật chí: “Nước lấy người làm gốc Trong đó
nhân phẩm có cao thấp không giống nhau Trên có vua, quan sửa sang chỉnh đốn việc nước, dưới có các sĩ phu kẻ xuất người xử Người hiền hay không có khác nhau, thì nước trị hay loạn do đó mà có khác Cho nên bàn đến việc đời phải phân biệt nhân tài.”[15, tr 219] Ghi chép về vua chúa quan lại trước rồi
mới ghi chép đến những danh nho có tiếng và đóng góp cho việc xây dựng đất nước Họ đều là những người trung quân ái quốc, vì tiết nghĩa mà hy sinh
Trang 3127
Phan Huy Chú cũng đã thuyết minh cho sự phân loại của mình Trong lời mở
đầu của Nhân vật chí, ông đã viết: “Dân sinh ra phải có người coi sóc chăn
nuôi, thì vua chúa truyền nối phải xét đến hệ thống”[15, tr.219] Chép vua lên
trước nhất vì vua là người đứng đầu một quốc gia, vua điều hành cai trị một đất nước, nước có phát triển hay không còn tùy thuộc vào người đứng đầu có phải là vua hiền chúa sáng hay không Theo quan niệm của các nhà nho xưa, vua có hiền, chúa có sáng thì dân mới yên ổn và sung túc, đất nước mới thái
bình thịnh trị Còn ghi chép về bề tôi ông quan niệm: “Đời nào nổi lên cũng
đều có những người giúp đỡ thì nên ghi chép công lao của các bầy tôi văn võ” vì chính họ là những cánh tay đắc lực phò vua giúp nước “ Các người văn nho tài học và phẩm hạnh nổi tiếng, các trung thần bỏ mình giữ lấy tiết nghĩa trong khi hoạn nạn đều liên quan đến vận mệnh của đất nước, quan hệ đến luân thường của người”[15, tr 219] Trên thực tế, trong Nhân vật chí,
phần ghi chép về vua chúa, ông ghi chép khá sơ lược về cuộc đời và quá trình trị vì của họ Còn khi ghi chép về các bề tôi thì ông lại ghi chép rất rõ Điều này xuất phát từ quan niệm trọng nhân tài và quan niệm về việc chép sách nêu gương Hơn nữa, ông đã có cái nhìn rất sâu sắc về tình hình biên soạn lịch sử của nước ta Các nhân vật lịch sử như vua chúa, đế vương đã được nhiều sách
sử chép lại, trước sau đều đầy đủ.Khi cần thiết, có thể khảo cứu từ kho tư liệu quốc sử phong phú Nhưng sách sử ghi chép về bề tôi có công trạng với đất nước lại rất hiếm hoi Họ đều là những tấm gương sáng có thể đem ra cho muôn đời sau học tập Ghi chép lại, vừa là để lưu giữ tên tuổi của họ, vừa là
để treo gương cho thế hệ sau Chính vì vậy, ông chú trọng ghi chép về các
nhân vật bề tôi để đời sau có thể noi gương và khảo cứu Mục đích của Nhân
vật chí đã được Phan Huy Chú nói rất rõ trong Lời dẫn thứ tự các chí Theo
ông, “đạo làm người trên phải để tâm về việc trị nước thì mới hay; đạo làm
người dưới phải giữ hết lòng trung thì mới tốt Làm người học trò phải có ý nghĩ sâu xa, lúc lâm nạn phải giữ tiết tháo bền vững đều là đạo thường phải thế, không thể vượt qua” [15, tr 16] Vì vậy, ghi chép lại những tấm gương đó
Trang 3228
là công việc rất cần thiết “Thu nhặt mà chép ra để làm khuôn phép, do đó noi
gương mà bắt chước, thì công việc trị nước giúp đời có thể nắm được bản lĩnh.” [15, tr 16]
Rõ ràng khi viết Nhân vật chí, tác giả đã muốn nêu những tấm gương sáng
trong cuộc sống của tiền nhân để sau này những vua chúa cũng như mọi kẻ sĩ
lấy đó làm khuôn phép và cố gắng noi theo
Ông cũng nhìn ra sự thiếu sót của các sử gia đời trước, đó là chỉ ghi chép bản kỷ(chép các công việc của các đời vua) còn liệt truyện (công việc của các bề tôi giỏi) thì còn thiếu sót rất nhiều Trong lịch sử của Đại Việt, ngoài vua hiền chúa sáng thì các danh tài tuấn kiệt đời đời đều có, có người lập công ngoài chiến trường, có người văn nho, phẩm hạnh nổi tiếng, các trung thần bỏ mình giữ lấy tiết nghĩa trong hoạn nạn… Tất cả đều đáng được ghi danh để người khảo cổ có thể ghi nhớ và phân biệt Chính vì vậy, ông chủ trương sắp xếp các nhân vật lịch sử dựa vào chức vị và công đức Mỗi nhóm nhân vật đều có đặc trưng riêng để phân biệt Nhân vật vua chúa gắn với quá trình trị vì Nhân vật người phò tá thì gắn với công lao to lớn mà họ làm được cho quốc gia dân tộc Nhân vật tướng có tiếng và tài giỏi thì gắn liền với công lao đánh giặc và dẹp yên giặc dã Còn nhóm nhân vật danh nho và bề tôi tiết nghĩa thì lại được ghi chép cùng với thơ văn hay hành động hy sinh vì tiết nghĩa của họ Điều này thể hiện một tư duy logic và khoa học trong việc ghi chép sử của Phan Huy Chú mà người nghiên cứu có thể khảo cứu và so sánh một cách dễ dàng Dựa trên quan điểm này, ông phân chia hệ thống nhân vật thành các mục nhỏ:
Dòng chính thống các đế vương
Người phò tá công lao có tài đức
Tướng có tiếng và tài giỏi
Nhà nho có đức nghiệp
Bề tôi tiết nghĩa
Gọi chung là Nhân vật chí
Trang 3329
2.2 Hệ thống nhân vật
2.2.1 Nhân vật dòng dõi chính thống các đế vương
Nhân vật lịch sử được các sử gia quan tâm nhiều nhất là các bậc đế vương Đây cũng là hệ thống nhân vật được ghi chép nhiều nhất trong các tác phẩm chính sử
Nhân vật đế vương hay còn gọi với danh xưng là hoàng đế hay quốc vương,
là những danh hiệu khác đều dùng để chỉ những nhân vật có tầm quan trọng
và ảnh hưởng lớn đối với vận mệnh của một quốc gia, dân tộc Họ là những nhân vật trọng yếu đứng đầu chế độ quân chủ và hầu như có mặt ở tất cả các ngôn ngữ, phản ánh tính phổ biến hiển nhiên của loại nhân vật lịch sử này Các nền văn minh và sự hình thành hay hủy diệt của một đất nước đều gắn chặt với tên tuổi của của các bậc đế vương hùng mạnh Trong lịch sử các chế
độ chuyên chế phương Đông, ngôi vua đã được khẳng định tất yếu là phải tồn tại và một khi đã tồn tại là tối thượng và bất khả tư nghị Ngôi vua tồn tại hơn
ba nghìn năm ở Trung Quốc, hàng nghìn năm ở Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản Vì vậy, nhân vật đế vương hay hoàng đế là một cương vị đặc biệt với nhân cách đặc biệt, không chỉ chi phối đến lịch sử phát triển của một quốc gia
mà còn có tác động vô cùng to lớn tới lịch sử hình thành và phát triển của các loại hình nhân cách khác trong xã hội phương Đông nói chung và trong lịch
sử của Việt Nam nói riêng
Chính vì có vị trí hết sức đặc biệt như vậy nên sẽ là một thiếu sót lớn khi ghi chép về nhân vật lịch sử của quốc gia, dân tộc mà lại không ghi chép tiểu sử của loại hình nhân vật này Ý thức được tầm quan trọng đó, nên trong thiên
Nhân vật chí, Phan Huy Chú đã lấy việc ghi chép tiểu sử của các nhân vật Dòng dõi chính thống các đế vương lên trước nhất rồi mới ghi chép đến lịch
sử của các nhân vật người phò tá có công lao tài đức, các tướng có tiếng và tài giỏi rồi mới đến nhân vật các nhà nho, bề tôi tiết nghĩa Đây là sự sắp xếp từ cao xuống thấp theo công trạng, địa vị và chức phận của mỗi loại hình nhân
Trang 34học trung đại ghi chép về lịch sử của các triều đại phong kiến như Đại Việt sử
ký toàn thư, nhân vật lịch sử được các sử gia quan tâm nhiều nhất là các bậc
đế vương Trục chính của bộ sử cũng chỉ xoay quanh các triều đại, các sự kiện lịch sử chủ yếu là các sự kiện có liên quan đến đời sống cung đình được kể lại theo nguyên tắc biên niên, có đối chiếu với lịch sử biên niên theo các triều đại của Trung Quốc Các nhân vật lịch sử thường là các bậc vua chúa, quan lại, các bậc trung thần hay gian thần, họ được kể lại qua sự tái hiện lời nói việc làm, các quan hệ tương tác qua lại với nhau Nhưng cách ghi chép sử của Phan Huy Chú thì khác Ông không chú trọng đến ghi chép hay miêu tả hành
động ngôn ngữ của các bậc vua chúa mà khi chép về Dòng chính thống các đế
vương, Nhân vật chí ghi những triều đại nối tiếp nhau, có sự phân biệt dòng
chính thống hay không chính thống (tác giả gọi là Nhuận) Tự hào về bề dày của lịch sử, về sự đông đảo các danh nhân anh hùng, Phan Huy Chú còn lưu ý tới khía cạnh dân tộc của vấn đề này Trong khi ghi chép lại thế thứ của các dòng vua, Phan Huy Chú đã dừng lâu và ghi chép khá tỉ mỉ về những ông vua được coi là “minh quân” có công dựng nước hoặc giữ nước trong lịch sử Còn đối với những ông vua khác thì tác giả chỉ ghi vắn tắt, lướt qua
Đi theo tinh thần ghi chép sử chung của các bậc thần sử trước mình, nhưng Phan Huy Chú cũng đã chọn cho mình một cách ghi chép sử riêng, khác biệt
Trang 3531
với tư duy chép sử của văn học trung đại nói chung Ta thấy ở ông một tư duy lịch sử ngắn gọn, khúc chiết Khi ghi chép về tiểu sử vua chúa, bên cạnh những nhân vật gắn liền với mô tip chung của thi pháp trung đại, đa số hình tượng nhân vật đế vương khác, ông không đi sâu miêu tả kĩ ngoại hình, hành động hay nội tâm tính cách mà ông chỉ ghi chép một cách hết sức tóm tắt về toàn bộ cuộc đời của các bậc vua chúa Tuy gọi là ghi chép tóm tắt, nhưng ông không hề ghi chép sơ sài mà toàn bộ cuộc đời nhân vật cứ hiện lên theo từng mốc thời gian và những mốc quan trọng nhất trong cuộc đời của nhân vật Ông tuân theo một trình tự nhất định là ghi chép một cách ngắn gọn về
họ, tên, rồi mới đến nơi sinh, nguồn gốc xuất thân và thời gian cai trị, sau khi mất lấy niên hiệu gì Không chỉ vậy, ông còn xen kẽ các lời bình, nhận ra công trạng được mất của các bậc vua chứ không chỉ đơn thuần là ca ngợi nêu gương Đây có thể coi là sự sai lệch form khi miêu tả, ghi chép về một mẫu hình nhân vật hoàng đế trong văn học cũng như sử học
Các đời vua cứ thế nối tiếp nhau theo dòng thời gian Cuộc đời của những đế vương thường gắn với những sự kiện lớn của đất nước, dân tộc
Phần ghi chép này, thông qua việc trình bày những nét lớn về đời sống những vua chúa, đế vương kèm theo những ghi chú và trình bày quan điểm của riêng mình, Phan Huy Chú đã phác họa toàn bộ quá trình dựng nước và giữ nước, từ thời thượng cổ, khi lịch sử còn mang nhiều màu sắc truyền thuyết đến thời cận đại Mỗi triều đại được ghi rõ có mấy vua, hoàn cảnh xuất thân, lên ngôi trị vì bao nhiêu năm, có mấy niên hiệu và được đối chiếu với niên
hiệu Trung Quốc Những ghi chép này đều được rút ra từ chính sử, như Đại
Việt sử ký toàn thư nên vẫn là nguồn tư liệu đáng tin cậy Tuy dựa vào chính
sử nhưng Phan Huy Chú không nhất thiết tuân theo chính sử mà có nhận xét
và quan điểm của riêng mình
Ông có nhiều quan điểm tiến bộ khi ghi chép và nhận xét về các triều đại trị vì của các ông vua Ví dụ điển hình nhất là ông đã không đi theo quan điểm sử
cũ mà gạt bỏ Triệu, không coi như một triều đại chính thống và đã viết: “Sau
Trang 3632
khi An Dương Vương mất, nước ta thuộc về họ Triệu Bắt đầu từ Vũ đến Vệ Dương Vương, cả thảy 97 năm Nước ta khi ấy lại thuộc về hai nhà Hán, bắt đầu từ [Tây Hán] Vũ đế năm Nguyên Phong thứ nhất [110 tr C.n] đến [Đông Hán] Quang Vũ năm Kiến Vũ thứ 15 [ 39 sau C.n] cả thảy 140 năm.”[15, tr 222] Như vậy Phan Huy Chú đã mặc nhiên bác bỏ cách nhìn
của các sử gia Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử kí và Đại Việt sử
kí toàn thư Nếu như Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên không coi họ Triệu như một
triều đại chính thống mà chỉ là quân xâm lược thì Phan Huy Chú lại coi họ Triệu như một triều đại chính thống ngang với Đinh, Lê, Lý, Trần
Cũng với thái độ ghi chép lịch sử như vậy, Phan Huy Chú dưới con mắt nhìn của một nhà nho chính danh, phân biệt những triều đại chính thống và những triều đại được dựng lên do cướp ngôi không chính đáng làm phần phụ Theo quan điểm phong kiến, cướp ngôi vua cũng đồng nghĩa với việc bất trung, bất nghĩa nên những dòng họ cướp ngôi không phải là chính thống Nhà Nhuận
Hồ của Hồ Quý Ly và Hán thương cướp ngôi Trần, Nhà Mạc của Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Nguyên, Mạc Mậu Hợp cướp ngôi Lê đều được coi là không chính thống Trong quan điểm nho giáo, hành động cướp ngôi là hành động bất trung của bậc quân thần, đáng bị lên án Chính vì vậy, tất cả những ông vua nhà Hồ hay Nhà Mạc đều không được coi là có dòng máu thiên tử, lên ngôi không chính thống nên Phan Huy Chú gọi là Nhuận, nghĩa là dư thừa và chỉ là chép “phụ” vào vì theo ông đó là những sự kiện không thể bỏ sót Nhưng ngược lại Phan Huy Chú lại có cách nhìn rộng rãi với nhà Trịnh Ông chép ngay sau nhà Lê và coi ngang hàng với nhà Lê
Ông nêu rõ lí do: “các đời chúa Trịnh giúp vua Lê chuyên giữ quyền chính,
dòng dõi họ cũng nên chép đủ cả.” [15, tr 259] Khi ghi chép về chúa Trịnh,
ông ghi chép với một thái độ trân trọng, không chép thẳng tên mà dùng niên hiệu hay chức tước Những nhân vật trong dòng dõi chúa Trịnh được gọi lần lượt với các tên như “thế tổ”, “thành tổ”, “văn tổ”, hoàng tổ”, “chiêu tổ”,
“Điện đô vương”, “Đoan Nam vương” Trong con mắt của Phan Huy Chú,
Trang 3733
dòng họ chúa Trịnh có công phò tá vua Lê, xây dựng đất nước Tiêu biểu nhất
là Thành tổ Triết Vương “Trong hai mươi năm kinh dinh đất nước, cuối cùng
dẹp được kẻ tiếm nghịch, khôi phục nhà Lê, công trùm thiên hạ, oai lừng khắp nơi, mới được sắc phong vẻ vang, lễ đãi long trọng Ông thực sự làm chúa cầm quyền chính, công lao sự nghiệp danh vọng lừng lẫy.” [15,tr 251] Không
chỉ vậy dòng họ này còn được vua ban nhiều ưu ái Như Chiêu tổ khang
Vương “Vua tôn trọng chúa khác thường, tấu sớ không phải đề tên, vào chầu
không phải lạy, lại cho đặt ghế ngồi coi chầu ngay bên tả, đủ các thứ yêu chuộng… Chúa phò Lê Hy Tông giữ chính quyền 26 năm, thọ 77 tuổi.” [15, tr
253] Các nhân vật thuộc dòng dõi chúa Trịnh đều được Phan Huy Chú ghi chép lại với thái độ ngợi ca Dòng chúa Trịnh được coi ngang hàng với vua
Lê Ông cho rằng họ này có những đóng góp lớn trong việc trị nước trên hai thế kỉ cũng không thể bỏ sót
Một điểm đáng lưu ý nữa là Phan Huy Chú bắt đầu ghi chép là từ thời Kinh Dương Vương dựng nước đến Lê Chiêu Thống, tức không chép về nhà Nguyễn Không gian cũng hạn chế ở Đàng Ngoài, còn những nhân vật Đàng Trong (thuộc chúa Nguyễn) thì ông không ghi chép vì theo ông đã nói ở lời bàn, các chúa đàng Trong đã được ghi chép đầy đủ và có thể khảo cứu trong
quốc sử nên ông không dám lạm chép:“Còn như các chúa trước của hoàng
triều ta cai trị xứ đàng Trong, huân nghiệp thịnh vượng trong 200 năm; đã có quốc sử chép, truyền lại muôn đời, tôi đâu dám lạm chép.” [15, tr 259] Sách
được viết dưới triều Nguyễn vốn không coi trọng dòng họ này nên thái độ của ông được coi là thẳng thắn và dũng cảm
Các bậc đế vương được ghi chép liên tục và toàn bộ, không phân biệt giỏi kém, tốt xấu, khác với bề tôi chép ở các phần sau, chỉ nêu những người có sự nghiệp, nổi gương sáng cho đời sau Do đó, đối với các vua chúa, Phan Huy Chú đã bày tỏ quan điểm và thái độ của riêng mình, bên cạnh những lời biểu dương là sự phê phán khi cần thiết.Hầu hết nhân vật đế vương, Phan Huy Chú cũng đều bày tỏ quan điểm, lời nhận xét riêng Tùy vào hoàn cảnh, ông đều
Trang 3834
chỉ ra những chỗ được và mất ở mỗi vị vua Ông bày tỏ thái độ ca ngợi với những vị vua hiền trị vì bờ cõi và đất nước yên ổn thái bình Ông viết về Hiến
Tông Duệ Hoàng Đế : “Vua vẻ người đứng đắn, tuấn tú được cha yêu Khi đã
lên ngôi, hiệu là Thượng dương động chủ, ngày sinh làm “ Thiên thọ thánh tiết”, vua noi theo phép tắc đời trước,thích văn học, giữ sự nghiệp sẵn có, trong nước yên ổn đáng là đời trị” Hay như vua Hy Tông Chương Hoàng Đế,
tác giả ca ngợi về đức trị của vua: “ Vua noi giữ nghiệp cũ ngồi yên mà trị
[Bấy giờ] giường mối hơn trước, thưởng phạt nghiêm minh, công khanh đều xứng chức, quan lại giữ phép, nhân dân yên nghiệp; bình trị hơn tất cả các đời trong thời Trung Hưng” Đời trị vì của Dụ Tông Hòa Hòang Đế thì “Bấy giờ nối nghiệp thái bình, không biết việc đao binh, trong nước vô sự Triều đình đặt nhiều việc pháp độ, kỷ cương rất hẳn hoi đầy đủ, các phương xa đến cống hiến và Trung Quốc trả lại đất đai Thực là đời rất thịnh.” [15, tr.248]
Ông cũng mạnh dạn bày tỏ quan điểm thái độ phê phán bên cạnh những lời
biểu dương khi cần thiết Ông viết về Thái Tông hoàng đế “khi cầm quyền thì
đánh đâu được đấy vũ công lừng lẫy Lại khuyên dân làm ruộng, tự mình cày tịch điền, thân oan, đặt luật Vua trị nước chuyên dùng nhân từ khoan thú, là
vị vua hiền nối được cơ nghiệp Nhưng vua hành động không theo lễ, khoe khoang tự đắc nên nhà làm sử còn chê ở chỗ đó” [15, tr.232] Ông cũng chê
Thần Tông Hoàng đế mê tín dị đoan, quá yêu chuộng đạo Phật mà “thích
điềm lành, bị mê hoặc quá, đánh được giặc mà quy công cho Phật, kẻ dâng hươu mà cho quan tước Nói đến chuyện ấy ai cũng chê” [15, tr 230] Các
bậc thần sử xem Nho gia là tư tưởng chính thống nên những vị vua say mê đạo Phật bị họ phê phán kịch liệt Cả Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên đều nêu nguyên tắc làm vua là không được say mê đạo Phật Ngô Sĩ Liên đã nhận xét
về Lý Thái Tổ “Duy có việc ham thích đạo Phật, đạo Lão là chỗ kém.”[35, tr
252]
Ngoài những quan điểm tiến bộ trên trong cách ghi chép, ta còn thấy ông có một cách nhìn chính xác hơn các ghi chép sử khác ở thời gian làm vua của
Trang 3935
một số nhân vật vua chúa trong các triều đại Ví dụ như số năm ở ngôi vua
của Tiền Lý Nam Đế, tác giả đã chép “Ở ngôi được 8 năm” Trong khi đó Việt
sử thông giám cương mục chép vua ở ngôi được 5 năm (544- 548), còn Đại Việt Sử ký cũng chép Lý Nam Đế ở ngôi được 7 năm Sách này đã coi năm Lý
Nam Đế đánh chiếm Long Biên đuổi Tiêu Tư là năm đầu (Tân Dậu,541) đến năm Thiên Đức thứ 4(Đinh Mão, 574) là năm cuối, tổng cộng là 7 năm Vấn
đề đặt ra cho người khảo sát lịch sử là; số năm nào là chính xác? Đại việt sử
ký tính thời gian trị vì của Lý Nam Đế bắt đầu từ năm Tân Dậu(541)là đúng,
nhưng đã sai khi chấm dứt thời gian trị vì vào năm 547(vì Lý Nam Đế vẫn
còn sống và ở động Khuất Lão đến tháng 3 năm Mậu Thìn(548) mới mất Việt
sử thông giám cương mục rất có lý khi chép năm 548 là năm Thiên Đức thứ 5,
và năm Kỷ tị(549) là năm đầu Triệu Việt Vương nhưng lại quan niệm sai khi coi thời gian ở ngôi vua chỉ tính từ khi đặt niên hiệu Phan Huy Chú đã có cách nhìn xác đáng hơn, tính năm ngôi vua bắt đầu từ năm 541, sau khi đánh chiếm được Long Biên, thủ phủ của bọn cướp nước hồi đó, và chấm dứt sau khi Lý Bí đã mất ở động Khuất Lão năm 548, tổng cộng là 8 năm
Một trường hợp nữa là số năm cầm quyền của Triệu Quang Phục, Nhân vật
chí ghi 24 năm, còn Đại việt sử ký ghi 23 năm, Việt sử thông giám cương mục
chép 22 năm Như vậy có sự mâu thuẫn về thời gian trong hai sách chính sử
này Nhân vật chí đã coi kỉ nguyên Triệu Việt Vương bắt đầu từ năm Nam đế
lui về Khuất lão, giao cho giữ nước, chống với Bá Tiên, tức năm Bính Dần(546), như vậy tính đến năm 570, Triệu Việt Vương gieo mình xuống biển mất thì thời gian giữ nước đúng là 24 năm
Ta thấy ở mục Dòng dõi chính thống các đế vương này, chủ yếu Phan Huy
Chú trình bày và ghi chép đầy đủ tiểu sử sự nghiệp của các nhân vật đế vương Điều đặc biệt quá trình ghi chép về tiểu sử của các đế vương là, những
vị vua được Phan Huy Chú chọn lọc ghi chép đều tuân theo một khuôn mẫu chung là những người tài giỏi, có công lớn trong việc gây dựng và trị vì đất nước Họ đều đặc biệt từ hình dáng đến tài năng tính cách Tất cả đều có dung
Trang 4036
mạo khác thường và xuất thân phi phàm, tài năng đức độ Đây cũng chính là hình mẫu lý tưởng của bậc đế vương trong lòng các sử gia Vì tư tưởng trung quân, ái quốc được coi như một điều bất biến trong lòng họ Đã là vua thì nhân cách, tài năng, đức độ phải hơn người
Một điều đáng chú ý trong phần ghi chép về loại hình nhân vật đế vương là, Phan Huy Chú ghi chép tiểu sử nhân vật nhưng trong mối liên quan mật thiết với thời đại các đời vua trị vì Đối với những triều đại không được coi là chính thống như họ Hồ, họ Mạc, Phan Huy Chú cũng ghi chép đầy đủ các
nhân vật vì đó là “sự việc không nên để mất” Đối với họ Trịnh “giúp vua Lê
chuyên giữ chính quyền, dòng dõi cũng nên chép đủ”
Dòng dõi chính thống các đế vương chỉ vẻn vẹn mấy chục trang nhưng đã là
cuốn sử thu nhỏ và súc tích, cung cấp khái quát những tư liệu chính xác dễ tìm về quá trình dựng nước giữ nước của dân tộc ta
2.2.2.Nhân vật người phò tá có công lao tài đức
Trong xã hội phong kiến với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước
Để làm nên sự hưng thịnh của một triều đại lịch sử không những cần một vị vua anh minh sáng suốt mà bộ máy quan lại hoạt động tốt cũng là một điều rất cần thiết Ghi chép về nhân vật lịch sử, ngoài vua chúa ra thì những người phò
tá trợ giúp vua cũng cần được lịch sử nhắc đến và lưu giữ Họ là những nhân vật giữ các trọng trách khác nhau trong triều chính, nhưng đều cùng chung một nhiệm vụ là phò tá hay giúp vua cai trị nước nhà, củng cố bộ máy thống trị Lúc thời bình, họ giúp vua chăm lo đến đời sống nhân dân, điều hành bộ máy quân chủ hoạt động bình ổn Khi nước có nạn chiến tranh giặc giã, họ lại
là người đưa ra các sách lược giúp vua chống giặc Quan trọng hơn, những nhân vật này là người dám đứng ra can ngăn vua, hoặc là dâng tấu sớ, hoặc dùng văn thơ để nhắc nhở lúc vua làm những việc trái với đạo lý luân thường hay lỗi nghịch ý trời Có thể nói, họ là những bậc tể phụ có vai trò quan trọng thứ hai sau nhà vua trong xã hội phong kiến Họ dùng tận tâm tận lực để phục
vụ cho các đời vua Phan Huy Chú đã nhận ra tầm quan trọng của những nhân