Tiếp bước hành trình suy tưởng về tự do, bước sang thế kỉ XX, Isaiah Berlin 1909 - 1997, một nhà triết học, nhà lịch sử tư tưởng và nhà chính luận người Anh gốc Do Thái đã đưa ra những ý
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “QUAN NIỆM VỀ TỰ DO CỦA I BERLIN TRONG
TÁC PHẨM “BỐN TIỂU LUẬN VỀ TỰ DO” là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Các tài liệu sử dụng tham khảo, trích dẫn trong Luận văn đều rõ nguồn, trung thực Kết quả nghiên cứu được công bố trong Luận văn là chính xác, không trùng lặp với
các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước
Tôi xin cam đoan điều này là đúng sự thật Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Nhâm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn, người thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình dìu dắt tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo khoa Triết học - Trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân Văn –Đại học Quốc Gia Hà Nội đã có những ý kiến đóng góp quý báu để tôi trưởng thành hơn trong con đường học thuật
Tôi cũng trân trọng cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp đối với luận văn để tôi hoàn thiện hơn công trình nghiên cứu của mình!
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Nhâm
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG I BERLIN VỀ TỰ DO TRONG TÁC PHẨM BỐN TIỂU LUẬN VỀ TỰ DO 12
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa - chính trị 12
1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời quan niệm của I Berlin về tự do 18
1.3 I Berlin và tác phẩm Bốn tiểu luận về tự do 23
1.3.1 I Berlin cuộc đời và sự nghiệp 23
1.3.2 Tác phẩm “Bốn tiểu luận về tự do” 27
CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM CỦA I BERLIN VỀ TỰ DO TRONG TÁC PHẨM “BỐN TIỂU LUẬN VỀ TỰ DO” 38
2.1 Nền tảng triết học cho quan niệm của I Berlin về tự do 38
2.2 Tư tưởng cơ bản về tự do của I Berlin 49
2.2.1 Tự do phủ định 49
2.2.2 Tự do khẳng định 56
2.3 Giá trị và hạn chế trong quan niệm của I Berlin về tự do 67
2.3.1 Giá trị của quan niệm Berlin về tự do 67
2.3.2 Hạn chế của quan niệm Berlin về tự do 70
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tự do luôn là cái đích mà loài người hướng đến, con người đã trải qua các cuộc đấu tranh phá bỏ gông cùm, xiềng xích về mọi mặt để vươn mình đến với tự do theo nghĩa đầy đủ nhất Với tư cách là một phạm trù triết học, khái niệm tự do không ngừng vận động, phát triển qua từng thời kì, gắn với quan điểm của các nhà tư tưởng khác nhau
Nhân loại luôn khao khát tự do, đó là khát vọng thường trực trong mỗi con người Tự do đã trở thành bản chất tự nhiên, bản năng sống còn của con người Càng thiếu tự do, con người càng ao ước nó Chính vì thế, không một con người nào yên phận sống trong sự nô dịch của người khác và không một dân tộc nào cam chịu sống trong sự kìm kẹp của dân tộc khác Các cuộc kháng chiến chính là để giải phóng con người ra khỏi sự nô dịch và áp bức
Tự do là một chủ đề xuất hiện sớm và được bàn luận nhiều nhất ở phương Tây, kể từ thời Hy Lạp cổ đại Trong khi đó, lịch sử triết học phương Đông cổ đại đề cập rất ít hoặc không bàn luận đến phạm trù tự do bởi sự khác biệt giữa hai nền văn hóa Phương Tây hướng đến lý tính và con người cá nhân, còn phương Đông nhấn mạnh mặt xã hội của con người, đặt con người trong cộng đồng Bước vào thời kì Trung cổ, Ki tô giáo cũng đã nhắc đến tự
do của con người, nhưng ở đây mới dừng lại ở quan điểm tự do ý chí
Thời kỳ Khai sáng đã đánh dấu một bước ngoặt không chỉ trong lịch sử hướng tới văn hoá, văn minh, mà còn trong nhận thức của con người Các nhà
tư tưởng thời kỳ này không phải những người đầu tiên bàn về tự do nhưng họ
là những người có công rất lớn trong việc xây dựng những nhận thức mới về
tự do và thức tỉnh nhân loại về các giá trị của nó Phương Tây đã đón nhận những thành quả ấy và là những người đầu tiên được nếm vị ngọt của tự do
Bước sang thế kỉ XIX, J.S Mill (1806 - 1873), một triết gia theo đường lối tự do đã cho rằng, tự do của mỗi người tìm thấy giới hạn của mình trong tự
Trang 7do của người khác, tự do xã hội là ranh giới giữa sự kiểm soát xã hội và sự độc lập của cá nhân Tự do được nhắc đến ở đây là tự do về mặt chính trị - xã hội
Trong lịch sử tư tưởng về “Tự do”, ở phương Tây ta bắt gặp ba “mô hình” lý luận tiêu biểu làm cơ sở cho hành động thực tiễn:
Thứ nhất, là cứu vãn sự Tự do trước sự cưỡng chế mang tính định
mệnh tất yếu của tự nhiên để đặt nền tảng cho hành động thực hành (luân lý)
và khẳng định “phẩm giá bất khả xâm phạm” của con người (Kant)
Thứ hai, là hiện thực hóa Tự do như là tiến trình lịch sử tất yếu (Hegel) Thứ ba, là minh định phạm vi và ranh giới của Tự do dân sự trong mối
quan hệ cá nhân - xã hội vì sự tiến bộ và phát triển của đời sống cộng đồng (J.S Mill)
Hai “mô hình” trước dựa trên một “lý tính” (rationality) mang màu sắc triết học và siêu hình học (“siêu nghiệm” ở Kant; “siêu hình học tư biện” ở Hegel) “Mô hình” thứ ba của Mill - để mượn một thuật ngữ của J Habermas - dựa trên một “phương pháp lý tính”, tìm cách giải quyết vấn đề trong cộng đồng những công dân của một nhà nước dân chủ và trong hệ thống pháp quyền
Tiếp bước hành trình suy tưởng về tự do, bước sang thế kỉ XX, Isaiah Berlin (1909 - 1997), một nhà triết học, nhà lịch sử tư tưởng và nhà chính luận người Anh gốc Do Thái đã đưa ra những ý tưởng về chủ nghĩa tự do, đặc biệt là quan niệm “tự do phủ định” và “tự do khẳng định” Quan điểm này lần
đầu được đưa ra trong Hai khái niệm về tự do (1958) sau đó được tập hợp cùng với các tiểu luận khác in thành Bốn tiểu luận về tự do (1969) Berlin
thừa nhận rằng tự do đã được lịch sử tôn trọng như một lý tưởng chỉ bởi một thiểu số nhỏ, nhưng ông vẫn giữ nó là một giá trị đích thực cho tất cả mọi người, ở khắp mọi nơi, vì cách mà con người được cấu thành, và cho đến nay
nó sẽ tiếp tục được thiết lập trong đời sống cá nhân và xã hội
Tác phẩm Bốn tiểu luận về tự do của I Berlin cho chúng ta một cái
nhìn mới về nội hàm của “tự do” Tác giả tin tưởng vào khả năng hiểu biết lẫn
Trang 8nhau của con người, tạo dựng một xã hội “tử tế” để chung sống với nhau và
sự lựa chọn của con người “chúng ta không thể được tự do tuyệt đối và phải giao nộp một số tự do của chúng ta để cho những người khác giữ gìn Thế nhưng tự hàng phục là chuốc lấy thất bại” [3, 52] Các quan điểm trong tác phẩm mang đến những tư tưởng tự do chính trị rất quan trọng trong thời đại ngày nay, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, gia tăng những tranh chấp quốc
tế và sự nô dịch ngầm về kinh tế, chính trị và văn hóa
Yêu cầu lý luận và thực tiễn đã thôi thúc chúng tôi tìm tòi những quan niệm giá trị về tự do trong lịch sử tư tưởng nhân loại Và nhà tư tưởng khiến
chúng tôi đặc biệt quan tâm là I Berlin với Bốn tiểu luận về tự do - cuốn sách
được coi là một trong những tác phẩm nổi tiếng về chủ đề này ở phương Tây
Nó vừa là sự tiếp nối truyền thống triết học duy lý phương Tây, vừa mở rộng
và phát triển bởi những suy tư mới, bổ túc thêm cho các quan niệm về tự do
đã có Tác giả luận văn muốn làm rõ những giá trị của các quan điểm về tự do của I Berlin, bởi chúng có tác động đến lịch sử nhân loại Vì vậy tôi quyết
định chọn đề tài Quan niệm về tự do của I Berlin trong tác phẩm “Bốn
tiểu luận về tự do” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tự do là một trong những vấn đề được triết học quan tâm, nghiên cứu
từ thời cổ đại cho đến nay Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau, ở nước ta vấn đề này chưa được nghiên cứu và giới thiệu một cách hệ thống
Ở nước ngoài, phạm trù tự do được nhiều nhà triết học quan tâm Trong
số những tác giả nghiên cứu về vấn đề này phải kể đến R Garodi, một học giả macxit với tác phẩm: Tự do (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1962) Trong tác phẩm này, tác giả đã có công rất lớn trong việc làm sáng tỏ lịch sử và tiền sử của vấn đề tự do trong các chế độ xã hội khác nhau trong lịch sử Bên cạnh đó, tác giả còn đề cập đến một số vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa tất yếu và tự
do, tự do và nền dân chủ tư sản, tất yếu và tự do trong xã hội Xô Viết từ quan
Trang 9niệm mácxít Đáng chú ý trong số các công trình nghiên cứu về lịch sử triết học, trong đó có giành phần quan trọng phân tích về vấn đề tất yếu và tự do
như: Lịch sử phép biện chứng 6 tập ( Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998) của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô; Tất yếu và ngẫu nhiên (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1958) của N.V Pilipenca và công trình của V Faxmuxo: Phép biện
chứng về tất yếu và tự do trong triết học lịch sử của Hêghen (Tạp chí Những
vấn đề Triết học, số 1/ 1995)
Ở nước ta, một số bài giảng triết học có đề cập tới tự do nhưng vẫn
chưa nhiều Tác phẩm Chủ nghĩa xã hội và tự do (1986) của tác giả Ngô
Thành Dương, Nxb Sự thật, Hà Nội, có bàn đến vấn đề tất yếu và tự do trong
lịch sử triết học Giáo trình Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2009 cũng chỉ bàn đến phạm trù
tất nhiên và ngẫu nhiên
Các công trình nghiên cứu như Một số vấn đề triết học - con người - xã
hội (2002) của Nguyễn Trọng Chuẩn, Triết lí phát triển của C Mác, Ph Ăngghen, V I Lênin, Hồ Chí Minh (2000) của Nguyễn Văn Huyên, Chủ nghĩa xã hội từ lí luận đến thực tiễn (2001) cùng với các đồng nghiệp của
mình đã đặt ra và giải quyết thành công một số vấn đề có liên quan đến phạm trù tự do trên phương diện nhận thức luận và hoạt động thực tiễn Tuy nhiên, các tác giả cũng chỉ mới xem xét từng khía cạnh riêng biệt mà chưa dành một phần riêng cho mảng đề tài này
Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu về tự do như: tập tiểu luận
Suy tưởng của Nguyễn Trần Bạt (2005), Công trình nghiên cứu Việt Nam với vấn đề quyền con người của Bộ Tư pháp (2005), tác phẩm Tư duy tự do của
Phan Huy Đường (2006) Trong tập tiểu luận nêu trên của Nguyễn Trần Bạt
có đề cập và luận giải về tự do, tuy nhiên tác giả chủ yếu đi sâu vào phân tích vai trò của tự do với con người, xã hội, tự do sinh ra con người, mang lại sự thức tỉnh cho các dân tộc Công trình nghiên cứu về quyền con người của Bộ
Trang 10Tư pháp có đề cập đến tự do như một quyền của con người nhưng không đi sâu phân tích chúng, công trình chủ yếu luận giải vấn đề bảo vệ quyền con
người ở Việt Nam Còn tác phẩm Tư duy tự do của Phan Huy Đường lại khảo
sát tự do tư duy thông qua suy luận biện chứng
Bên cạnh đó cũng có một số luận văn, luận án nghiên cứu về tự do, trong đó có thể kể đến luận án tiến sĩ triết học của tác giả Nguyễn Công Chiến
(12/2000) với đề tài Mối quan hệ biện chứng giữa tất yếu và tự do trong hoạt
động nhận thức và hoạt động thực tiễn; luận án tiến sĩ triết học của tác giả
Vương Thị Bích Thủy (6/2003) với đề tài Quan niệm của triết học Mác -
Lênin về tất yếu và tự do và ý nghĩa thực tiễn của nó Luận án của tác giả
Nguyễn Công Chiến đã đi sâu vào khai thác mối quan hệ biện chứng giữa tự
do và tất yếu trong lĩnh vực nhận thức và hoạt động thực tiễn, nhưng chưa phân tích làm rõ phạm trù tự do với tư cách là một quyền dân sự của con người Còn luận án của tác giả Vương Bích Thủy đã trình bày khá chi tiết và thành công về vấn đề tự do trong mối quan hệ với tất yếu từ thời cổ đại thông qua một số triết gia tiêu biểu cho đến triết học Mác - Lênin Từ mối quan hệ biện chứng giữa tự do và tất yếu theo quan điểm triết học Mác - Lênin, tác giả
đã tiếp cận đến việc áp dụng vấn đề này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay Tuy nhiên trong luận án, tác giả vẫn chưa đề cập đến vấn đề tự do của các nhà triết học phương Tây phi macxit
Như vậy, dưới những góc độ khác nhau đã có những bài viết về vấn đề
tự do trong mối quan hệ hữu cơ với tất yếu Các công trình nói trên đã làm sáng tỏ lịch sử phát triển và một số khía cạnh của phạm trù tự do, bên cạnh những đóng góp tích cực có giá trị cần được kế thừa còn có những vấn đề phải được tiếp tục nghiên cứu thêm Hiện nay chưa có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu về quan niệm của triết học phương Tây phi macxit hiện đại về vấn
đề tự do Trong bối cảnh nước ta đang mở cửa giao lưu, hội nhập với quốc tế ngày càng mạnh mẽ thì mảng đề tài này càng cần được quan tâm nghiên cứu
Trang 11Ở nước ta, hầu như chưa có nghiên cứu nào về quan niệm tự do của Isaiah Berlin, các tác phẩm của ông được dịch ra tiếng Việt cũng rất ít nên hạn chế cho việc nghiên cứu Nếu được tiếp cận và khai thác tốt thì đây sẽ là mảnh đất màu mỡ mang lại những tri thức mới mẻ trong cách nhìn nhận, đánh giá về quan điểm tự do một cách sâu rộng hơn
Tác phẩm Bốn tiểu luận về tự do của I Berlin ra đời cách đây gần nửa
thế kỉ và đã được nhiều học giả phương Tây chú ý nghiên cứu Các công trình đó bao gồm:
- Jonh Gray (2013), Isaiah Berlin: An Interpretation of His Thought
(Isaiah Berlin: Một giải thích tư tưởng của ông), Nxb Princeton University Press Những đóng góp của Berlin để suy ngẫm về triết lý đạo đức, chính trị, và
lý thuyết tự do được tái hiện sinh động qua cuốn sách này Theo tác giả, chủ nghĩa tự do của I Berlin được xây dựng không phải trên sự lựa chọn hợp lý mà trên những sự lựa chọn triệt để khi đối mặt với tình huống khó xử Đó là tuyên
bố mới đây của chủ nghĩa tự do, chủ đề trung tâm sinh động và sáng suốt trong cuốn sách của J Gray, nó cung cấp cho truyền thống trí thức tự do một cuộc sống, nguồn sống mới Trong một giới thiệu mới, Gray cho rằng, khi một thế giới mà trong đó quyền tự do của con người được truyền bá chậm hơn so với dân chủ, thì quan niệm của Berlin về tự do là hữu ích hơn bao giờ hết
- J Gray, Zbigniew Andrzej Pelczynski (2014), Conceptions of Liberty
in Political Philosophy (Những quan niệm về tự do trong triết học chính trị),
Nxb Bloomsbury, Hoa Kỳ Tác giả cho biết, trung tâm của mỗi học thuyết chính trị trong truyền thống phương Tây là quan niệm tự do chính trị hoặc tự
do cá nhân Cuốn sách đã dẫn dắt các nhà triết học đương đại khám phá những quan niệm về tự do từ thời Hy Lạp cổ đại cho tới ngày nay Tác giả khảo sát và giải thích những quan niệm của Hobbes (1588-1679), Spinoza (1632 -1677), Locke (1632- 1704), Rousseau (1712- 1778), Kant (1724- 1804), Fichte (1762- 1814), Hegel (1770- 1831), J.S Mill (1806- 1873), K Marx (1818- 1883), T.H
Trang 12Green (1836- 1882) , Hayek (1899- 1992), Oakeshott (1901- 1990), Arendt (1906- 1975), Rawls (1921- 2002), Habermas (1929), và I Berlin (1909- 1997) Và một cuộc thảo luận sôi nổi diễn ra xung quanh việc phân chia tự do
thành tự do phủ định và tự do khẳng định của I Berlin
- Bruce Baum, Robert Nichols (2012), Isaiah Berlin and the Politics of
Freedom: 'Two Concepts of Liberty' 50 Years Later (Isaiah Berlin và chính trị
của tự do: "Hai khái niệm Tự do 50 năm sau), Nxb Routledge Tác phẩm tập
hợp các bài tiểu luận bằng cách ghi lại và phát triển lên của các nhà lý thuyết chính trị trong một dịp kỉ niệm về bài giảng nổi tiếng của Isaiah Berlin cách
đây 50 năm và bài luận Hai khái niệm Tự do
Những người đóng góp đã sử dụng bài luận của Berlin như một dịp để suy nghĩ lại về chính trị lớn của tự do từ một quan điểm thế kỷ XXI, đưa ý tưởng Berlin vào cuộc trò chuyện với các vấn đề chính trị hiện nay và quan điểm bắt nguồn từ lý thuyết hậu thuộc địa, lý thuyết nữ quyền, lý thuyết dân chủ, và lý thuyết xã hội quan trọng Các biên tập viên bắt đầu bằng cách khảo sát ảnh hưởng từ bài luận của Berlin và phạm vi của các cuộc tranh luận về tự
do mà nó đã truyền cảm hứng
Công trình phân tích làm thế nào để xem xét lại ý tưởng Berlin dưới ánh sáng của cuộc đấu tranh vì quyền tự quyết dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân châu Âu và nạn phân biệt chủng tộc, và làm thế nào để xem sự khác biệt gây tranh cãi ở Berlin giữa cái gọi là "tự do phủ định "và" tự do khẳng định" Bằng cách liên hệ suy nghĩ của I Berlin về tự do, quan điểm hiện đại của nền chính trị tự do, cuốn sách này sẽ là tài liệu đáng giá cho cả học giả của Berlin cũng như những người quan tâm trong các cuộc tranh luận lớn hơn về ý nghĩa
và điều kiện tự do
Many: Reading Isaiah Berlin (Một và Nhiều: Đọc Isaiah Berlin), Amherst,
NY: Prometheus Cuốn sách này có mục đích giới thiệu toàn bộ tư tưởng của
Trang 13I Berlin, các chương đầu tiên giới thiệu tư tưởng chính trị cũng như quan điểm về tự do, các vấn đề lịch sử, tôn giáo của I Berlin và chủ đề xuyên suốt
là ý nghĩa của tự do
- Claude J Galipeau (1994), Isaiah Berlin's Liberalism (Chủ nghĩa tự
do của I Berlin), Nxb Oxford: Clarendon Đây là nghiên cứu có hệ thống đầu tiên về ý tưởng chính trị của Isaiah Berlin trong tất cả các tác phẩm của ông, bao gồm cả bản thảo, phỏng vấn, và thư từ Claude Galipeau tập trung vào bảo vệ chủ nghĩa tự do chính trị dựa trên chủ nghĩa đa nguyên luân lý và giải thích về tư tưởng của I Berlin trong sự phát triển lịch sử và văn hóa của nền văn minh phương Tây hơn là lập luận trừu tượng về các quyền cơ bản Tác giả đã đưa ra những biện luận đầy thuyết phục và độc đáo trong những thảo luận về I Berlin, tìm cách hiểu những phức tạp và nghịch lý trong hành vi của con người Tư tưởng chính trị của I Berlin cung cấp một sự biện minh hấp dẫn cho các tổ chức tự do trong thế giới hiện đại và nghiên cứu của Claude Galipeau sẽ là một hướng dẫn vô giá cho các tác phẩm có chiều sâu thuộc phạm vi đề tài này
Các tác giả trên thế giới tiếp cận tư tưởng triết học I Berlin trong cả hệ thống tư tưởng của ông Quan niệm về tự do này được ông nghiên cứu đan xen trong những tác phẩm về triết học chính trị hay những hội thảo tranh luận
về tự do
Tác phẩm Bốn tiểu luận về tự do lần đầu tiên được dịch giả Nguyễn
Văn Trọng giới thiệu và chú giải bằng Việt ngữ và được nhà xuất bản Tri thức
in xong trong Quý II năm 2014 Chính vì tính mới của tác phẩm nên chưa có tài liệu trong nước nào nghiên cứu một cách chuyên sâu Và hầu như chưa có tài liệu nghiên cứu nào về tư tưởng của I Berlin ở Việt Nam Tác phẩm tập hợp bốn tiểu luận là:
- “Tự do”
- “Hai khái niệm về tự do”
Trang 14- “Các ý tưởng chính trị trong thế kỉ XX”
- “Sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân Hy Lạp”
Như vậy, nghiên cứu quan niệm tự do của I Berlin trong tác phẩm Bốn
tiểu luận về tự do là một hướng nghiên cứu mới ở trong nước góp phần tìm
hiểu sâu hơn di sản triết học của nhân loại Luận văn góp phần bổ sung nhận thức về quan niệm tự do trong truyền thống triết học nhân loại thông qua nghiên cứu quan niệm về tự do của I Berlin trong tác phẩm “Bốn tiểu luận về
tự do”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Làm rõ những tư tưởng cơ bản của I Berlin về tự do trong tác phẩm
“Bốn tiểu luận về tự do”, từ đó chỉ ra những giá trị và hạn chế của chúng
- Nhiệm vụ:
+ Nghiên cứu các điều kiện và tiền đề ra cho sự đời quan niệm của I Berlin về tự do trong tác phẩm nêu trên
+ Nghiên cứu nội dung cơ bản của quan niệm I Berlin về tự do trong
tác phẩm Bốn tiểu luận về tự do
+ Đánh giá giá trị và hạn chế của quan niệm về tự do của I Berlin trong tác phẩm “Bốn tiểu luận về tự do”
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Quan niệm của I Berlin về tự do tập trung trong tác phẩm
Bốn tiểu luận về tự do
- Phạm vi: Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu các nội dung cơ bản trong
quan niệm tự do của I Berlin trong tác phẩm Bốn tiểu luận về tự do Tuy
nhiên, quá trình nghiên cứu không tách rời hệ thống quan niệm nền tảng triết học của I Berlin và nền tri thức tác động tới suy tư về tự do của tác giả
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 15- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên nền tảng quan điểm
của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng, phần quan điểm về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội để nghiên cứu quan niệm của I Berlin về tự do
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng cách tiếp cận biện chứng
và các phương pháp chủ yếu như phân tích và tổng hợp, so sánh, thống nhất lịch sử - logic, hệ thống - cấu trúc, quy nạp - diễn dịch, nghiên cứu văn bản, đặc biệt là phương pháp luận của chính trị học so sánh từ góc nhìn chính trị - đạo lý
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần khẳng định giá trị tư tưởng của I Berlin, đóng góp thêm một cách hiểu vào nhận thức chung về triết học chính trị, đặc biệt là lịch
sử các quan niệm về tự do Luận văn gợi mở cho những ai tiếp tục đi sâu nghiên cứu vấn đề này, và có thể làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần làm rõ quan niệm của I Berlin về
tự do, mang lại cái nhìn toàn diện hơn về lịch sử tư tưởng phương Tây trong vấn đề
tự do
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo giảng dạy và
học tập một số chuyên đề lịch sử triết học phương Tây hiện đại, chính trị học
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 2 chương và 6 tiết
Trang 16CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI
TƯ TƯỞNG I BERLIN VỀ TỰ DO TRONG
TÁC PHẨM BỐN TIỂU LUẬN VỀ TỰ DO
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa - chính trị
* Điều kiện kinh tế - xã hội
Từ những năm 1900 trở đi, nước Anh từ một cường quốc trung tâm hàng đầu có sức mạnh to lớn trở thành một quốc gia phát triển tầm trung với vai trò quốc tế mờ nhạt Trong thế kỉ XX, nước Anh trải qua sự thay đổi lớn, qua hai cuộc chiến tranh thế giới, đời sống mọi tầng lớp nhân dân lâm vào khó khăn, đặc biệt là giai cấp công nhân Năm 1900, các cuộc điều tra cho thấy, có từ 15 - 20% dân số sinh sống trong cảnh nghèo nàn, 8 - 10 % dân số sống dưới mức đói nghèo Trên thực tế luôn luôn có một lượng lớn dân số sống trong cảnh thiếu thốn dưới mức sinh tồn
Năm 1906, chính phủ tự do được bầu và họ đã đưa ra một số cải cách Từ đây các bữa ăn miễn phí được cung cấp trong trường học Từ 1907,
y tế học đường được xét duyệt, nền dân chủ xã hội được mở rộng, các tầng lớp nhân dân có được nhiều hơn các quyền tự do
Năm 1908, những người thợ mỏ đã đấu tranh thắng lợi, buộc giới chủ phải giới hạn ngày làm việc 8 tiếng, lương hưu bắt đầu được trao cho những người trên 70 tuổi, tuy nhỏ nhưng nó đã đánh dấu một sự khởi đầu cho việc thực hiện các chính sách xã hội Từ năm 1925, lương hưu được trả cho nhưng người đàn ông trên 65 tuổi, phụ nữ trên 60 tuổi, góa phụ cũng được nhận lương hưu
Năm 1909, Bộ Thương Mại đưa ra quy định về tiền lương tối thiểu cho những ngành nghề vốn có mức lương thấp và trong năm này một đạo luật giúp những người thất nghiệp tìm việc làm đã ra đời Năm 1911, Luật Bảo hiểm quốc gia được thông qua, từ đây những người lao động cùng đóng góp
để xây dựng các loại quỹ Bảo hiểm
Trang 17Bước vào chiến tranh thế giới lần thứ I, Anh tham chiến nhằm chặn đứng tham vọng tranh giành thuộc địa, chia lại thị trường của Đế quốc Đức
Sau cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, trừ Mĩ và Nhật, các nước tư bản chủ nghĩa châu Âu bị suy yếu trầm trọng vì đây là chiến trường chính Các nước này đều lâm vào khủng hoảng kinh tế 1920 - 1921 Trong cuộc chiến tranh đế quốc này, Anh tuy thắng trận nhưng cũng đã chịu những tổn thất nặng nề
Tại các nước châu Âu, những cuộc cách mạng dân chủ tư sản, cách mạng vô sản đã làm rung chuyển chế độ tư bản, châu Âu vốn từ lâu được coi
là trung tâm của chủ nghĩa tư bản bị lâm vào tình thế bất lợi trước so sánh tương quan lực lượng trước và sau chiến tranh
Giai đoạn này cũng đồng thời chứng kiến nỗ lực của các nước tư bản tìm cách nhanh chóng thanh toán chiến tranh, tổ chức lại trật tự thế giới cho phù hợp tương quan lực lượng mới Hệ thống Vecxai - Oasinhtơn ra đời phần nào đáp ứng được yêu cầu đó nhưng chưa thỏa mãn tham vọng của các bên Khủng hoảng kinh tế - chính trị, xã hội khiến cho chủ nghĩa tư bản ở các nước châu Âu nói riêng và thế giới nói chung lâm vào tình trạng bất ổn
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Anh là nước thắng trận, hạ gục được Đức, vẫn giữ được vị trí đế quốc có nhiều thuộc địa nhất Mặc dù vậy, Anh cũng chịu nhiều hậu quả từ cuộc chiến: mất 70% tàu buôn, ngoại thương chỉ còn ½, từ vị trí chủ nợ, sau chiến tranh Anh trở thành con nợ của Mĩ với 5,6 tỉ USD Từ cuối năm 1920, cuộc khủng hoảng kinh tế bùng lên, đến đầu 1921
đã trùm lên các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương mại Sản xuất công nghiệp giảm xuống còn 1/3, xuất khẩu giảm 44%, nhập khẩu giảm 39% Nhiều xí nghiệp bị phá sản, nạn thất nghiệp tràn lan nhất là các ngành đóng tàu và luyện kim
Trong những năm 1920, ngành công nghiệp truyền thống như khai thác than sụt giảm, vì vậy đến năm 1921 giới chủ cắt giảm tiền lương của công
Trang 18nhân, đến năm 1926 lại đề xuất giảm tiền lương và tăng giờ làm việc Điều này đã khiến cho các cuộc đình công ngày càng lan rộng, phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ Xã hội Anh thời kì này gặp nhiều vấn đề xã hội nan giải, người công nhân phải đối mặt với cuộc sống cực kì khó khăn Trước thực tế khắc nghiệt đó, các nhà tư tưởng theo phong trào cải cách đã cố gắng tìm ra những giải pháp để giải phóng họ Triết lý của chủ nghĩa tự do được quan tâm, đề cập nhiều nhất trong thời kì này
Từ năm 1925, nước Anh bước vào thời kì ổn định nền kinh tế và chính trị Nhiều ngành công nghiệp truyền thống được khôi phục, các ngành công nghiệp mới được phát triển như hàng không, kĩ thuật điện Nhưng mãi cho đến năm 1929 thì sản xuất công nghiệp ở Anh mới đạt đươc mức trước chiến tranh Tỉ trọng công nghiệp Anh trong tổng sản lượng chung của công nghiệp thế giới giảm rõ rệt sản xuất nông nghiệp cũng không mấy sáng sủa
Trong những năm khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933, mức độ khủng hoảng kinh tế ở Anh không trầm trọng bằng Mĩ vì nền kinh tế ở đây phát triển chậm, lạm phát cao, đồng bảng Anh mất giá 1/3 So với năm 1929, năm 1933, sản lượng công nghiệp giảm hơn 20%, trong đó các nghề sản xuất chủ yếu như gang, thép giảm 1/2, than đá, đóng tàu cũng giảm mạnh Khủng hoảng cũng xảy ra trong nông nghiệp, diện tích canh tác bị thu hẹp, nông sản giảm Tình hình xã hội rối ren, công nhân thất nghiệp nhất là trong các ngành luyện kim, đóng tàu,… chính phủ phải xuất một số lượng tiền lớn để cứu tế, chi cho bảo hiểm thất nghiệp hàng trăm triệu bảng
Nước Anh bước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1934 nhưng sự phục hồi và phát triển kinh tế yếu ớt trong những năm tiếp theo không chuyển thành sự phồn vinh
* Bối cảnh văn hóa - chính trị
Bối cảnh xã hội Tây Âu đầu thế kỷ XX là yếu tố có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến tư tưởng về tự do của I Berlin Vào thời kỳ này, xã hội Tây Âu có
Trang 19nhiều biến động trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, Nguyên nhân chính của những biến động đó là do sự bành trướng của khoa học - kỹ thuật và đặc biệt, về mặt lý luận, là sự thống trị của chủ nghĩa duy lý Xã hội duy lý đã tước mất mọi giá trị đích thực của con người, con người bị duy lý hóa tới mức trở thành một “mắt xích” trong dây chuyền sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng như trong chính trị Con người trong xã hội không ý thức được mình là ai, có ham muốn gì , mà ngược lại, họ trở thành những công cụ, phương tiện hỗ trợ đắc lực cho những mục tiêu chính trị
Về mặt tôn giáo, con người bị lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa Ngay cả giáo lý Thiên Chúa giáo cũng bị duy lý hóa để rồi con người phải răm rắp tuân theo những mệnh lệnh của Chúa Trời
Về chính trị, sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tình hình tiếp tục xấu đi, hình thức chính quyền của Anh trong mấy năm sau chiến tranh là chính phủ liên hiệp gồm Công đảng, Bảo thủ, Tự do Tháng 5 năm 1918, Đảng Tự do chính thức bị phân liệt, từ đây vị trí của Đảng Tự do suy giảm không cứu vãn nổi Đảng Bảo thủ trở thành ngọn cờ tập hợp giai cấp hữu sản Tháng 1 năm
1919, Chính phủ chỉ gồm Đảng Bảo thủ và Tự do do Lôi Giooc (thuộc Đảng
Tự do) đứng đầu Công đảng tập hợp giai cấp công nhân xung quanh Trong bối cảnh đó, Công đảng phát triển nhanh: trong cuộc tuyển cử 1922, được 162 ghế (năm 1918 chỉ được 60 ghế)
Tình hình nước Anh tiếp tục xấu đi do khủng hoảng kinh tế và sự suy yếu địa vị của Anh trên trường quốc tế Tháng 10 năm 1922, chính phủ của Đảng bảo thủ lên nắm quyền đã thi hành những chính sách đối nội, đối ngoại phản động, nhất là chính sách chống nước Nga Xô Viết Chính sách này đã gây nên sự bất bình trong lòng dân chúng
Trong cuộc bầu cử quốc hội bất thường năm 1923, Đảng bảo thủ mất
uy tín, Công đảng lên nắm quyền với thủ tướng là R Macpônan Từ đây, trên chính trường Anh, vị trí của Công đảng đã lớn mạnh hơn trước, thay thế vị trí
Trang 20của Đảng Tự do, giữ vai trò đảng đối lập với đảng cầm quyền Điều đó chứng
tỏ phần nào sự thật bại của chính giới bảo thủ Anh trước trình độ giác ngộ ngày càng cao của nhân dân lao động
Trong khi Anh bị suy giảm thì các nước ngoài châu Âu như Nhật, Mĩ không chịu nhiều hậu quả chiến tranh, vươn lên mạnh mẽ Vị trí bá chủ của Anh bị lung lay, nhường bước cho Mĩ Anh buộc phải nhân nhượng cho Mĩ tại Hội nghị Vecxai và Oasinhtơn Anh cùng với các nước Đế quốc can thiệp vào nước Nga Xô Viết song bị thất bại Đế quốc Anh bị mất khá nhiều thuộc địa vì phải nhường cho Mĩ và phải trao trả độc lập cho một số dân tộc phụ thuộc, thuộc địa Trong thời kì Công đảng nắm quyền, chính phủ của đảng này đã công nhận Liên Xô và có dự định kí kết hiệp ước với Liên Xô
Sự suy thoái kinh tế đưa đến nạn thất nghiệp thường xuyên (số người thất nghiệp tăng lên 1 triệu người), đời sống nhân dân ngày càng khó khăn đã kích thích tinh thần đấu tranh của họ Điều này dẫn tới cuộc đấu tranh mạnh
mẽ của giai cấp công nhân Trong những năm 1918 - 1921 có 6,5 triệu người bãi công Phong trào công nhân không những đưa ra những yêu sách kinh tế
mà còn cả những yêu sách chính trị Họ đòi chấm dứt can thiệp vào nước Nga
Xô Viết, đòi quốc hữu hóa nền kinh tế
Trong những năm từ 1924 đến 1929 ở nước Anh là thời kì cầm quyền của Đảng Bảo thủ Chính phủ của Đảng Bảo thủ chủ trương khôi phục kinh tế bằng cách đánh vào quyền lợi của người lao động, có lợi cho giới chủ Bất bình trước việc chính phủ cắt giảm tiền lương, thợ mỏ Anh đã tổ chức đình công tháng 5 năm 1926 Toàn bộ lao động trong các xí nghiệp công nghiệp và giao thông ngưng trệ, hầu hết các báo ngừng xuất bản Chính phủ Anh phải ban bố “Tình trạng đặc biệt”
Để duy trì vai trò của mình trong tình hình mới, năm 1926, Anh thành lập khối Cộng đồng Anh Sau khi Công đảng trở lại nắm quyền, chính phủ Anh tái hợp quan hệ ngoại giao với Liên Xô (tháng 11/1929) Năm 1931,
Trang 21Chính phủ ban bố “Quy chế Oetminxtơ” công nhận quyền tự do của các nước
tự trị trong các lĩnh vực đối nội và đối ngoại
Tuy nhiên chính phủ Công đảng không có những biện pháp hữu hiệu để giải quyết tình hình khó khăn do cuộc khủng hoản gây ra Đời sống nhân dân giảm sút mọi mặt Công đảng bị chia rẽ gay gắt, đến năm 1931 ban lãnh đạo Công đảng chuyển sang phe đối lập
Đối với phong trào công nhân, chính quyền Anh chủ trương đàn áp, ra các đạo luật chống nổi dậy nhưng lại nới lỏng cho chủ nghĩa phát xít, cho phép thành lập “Liên hiệp phát xít Anh”
Từ nửa đầu thế kỉ XX, Anh phải đối phó với phong trào độc lập ở Nam Phi, Ấn Độ,… Lãnh thổ của đế quốc Anh ngày càng thu hẹp
Tóm lại, bối cảnh nước Anh thế kỷ XX đã ảnh hưởng rất lớn tới I Berlin, một người luôn luôn theo chủ nghĩa tự do nhưng mãi đến đầu những năm 1950 việc bảo vệ chủ nghĩa tự do mới trở thành trung tâm trong các nghiên cứu của ông Từ đây, ông đã viết một hệ thống các tác phẩm mang tính triết học, chính trị, xã hội có nhiều giá trị
I Berlin sinh ra ở Riga (Latvia) và lớn lên trong xã hội Anh thế kỷ XX, thời kỳ đầy rẫy những mâu thuẫn xã hội rất gay gắt và những biến động lịch
sử Thêm vào đó là tình cảnh khổ cực của toàn thể nhân dân, không chỉ có giai cấp vô sản Phụ nữ và trẻ em cũng không có được quyền lợi thực sự, ngược lại, họ vẫn luôn phải lao động vất vả và không có bất kì một sự bảo hộ nào Chính trị Anh thời kỳ này cũng khá rối ren Đối với dân chúng, về cơ bản, họ bị mất đi quyền tự do chính trị của mình Một bộ phận được coi là giới tinh hoa trong xã hội Anh không có quyền tham chính bởi sự lấn át của
số đông Thực chất, số đông được nhắc đến ở đây là số đông đã bị các nhà cầm quyền thao túng Dưới những bất cập về chính trị, xã hội thời kỳ này, I Berlin đã viết một hệ thống tác phẩm triết học chính trị của mình để đưa ra những đề xuất, kiến giải nhằm hướng đến một xã hội tiến bộ, mọi người đều được tự do
Trang 221.2 Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời quan niệm của I Berlin về tự do
Các nhà tư tưởng đi trước có ảnh hưởng đến sự hình thành hệ thống triết học chính trị - xã hội của I Berlin có thể kể đến là: Solomon Rachmilevich (1892 - 1953), RG Collingwood (1889 - 1943), Alexander Herzen (1812 - 1870)… Đặc biệt, khi xem xét hệ thống quan điểm của I
Berlin trong tác phẩm Bốn tiểu luận về tự do mà phạm vi nghiên cứu là quan
niệm về tự do của ông thì không thể không kể đến sự ảnh hưởng của truyền thống triết học Anh (với đặc trưng duy lý, chiết trung) nằm trong truyền thống triết học châu Âu Cùng với đó là ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc của các nhà tư tưởng tiền bối hơn như Locke, Kant, Constant và J S Mill
John Locke (1632 - 1704) là nhà triết học, nhà hoạt động chính trị người Anh Ông được xem là người khởi đầu cho phong trào Khai sáng ở Anh
và Pháp Ông là nhà triết học theo trường phái chủ nghĩa kinh nghiệm
Anh trong lĩnh vực nhận thức luận
Qua các tác phẩm của mình, J Locke luôn đấu tranh chống lại chủ nghĩa
chuyên chế và có những đóng góp lớn đối với chủ nghĩa tự do cả về mặt cá
nhân lẫn về mặt thể chế Chính những khái niệm về quyền tự nhiên, khế ước xã hội và nhiều đóng góp khác đã khiến ông trở thành một nhà tư tưởng lớn
Không như những nhà triết học trước đó nghiên cứu tự do trong mối quan hệ với tất yếu, ông tiếp cận tự do ở một khía cạnh mới, coi đó là tài sản
tự nhiên của con người, là quyền cơ bản của con người: “tự do tự nhiên của con người thể hiện ở chỗ nó không chịu mọi quyền lực đứng trên nó trong thế gian này và không phục tùng ý chí lập pháp của người khác, nó chỉ tuân thủ quy luật của tự nhiên” [trích theo 22, 396-397] vì vậy nó là tự do vô hạn
Locke phát triển lý luận “quyền tự nhiên” bằng việc khẳng định bản chất tự do - tự nhiên của con người Sự tự do của con người là tự do hành động theo ý muốn của nó dựa vào sở hữu ý chí Tuy nhiên, Locke khẳng định, con người trong xã hội không phải là hoàn toàn tự do làm những gì mình
Trang 23muốn Đây là tự do có hạn chế, không tuyệt đối, không vô hạn Nhưng bất chấp mọi hạn chế, nó khá rộng rãi: đây là tự do sử dụng cá nhân và sở hữu của mình theo ý mình trong khuôn khổ của luật pháp Ông viết: “Tự do của con người trong điều kiện tồn tại của hệ thống cầm quyền thể hiện ở chỗ cần phải sống phù hợp với luật pháp ổn định, là chung đối với mỗi người ở trong
xã hội đó và do quyền lập pháp xác lập; đây là tự do tuân theo nguyện vọng của bản thân trong mọi trường hợp khi mà luật pháp không cấm điều đó, và khi trở nên không phụ thuộc ý chí không rõ ràng, độc đoán của người khác, tự
do tự nhiên đồng thời cũng thể hiện ở chỗ không bị ràng buộc bởi một cái gì ngoài quy luật của tự nhiên” [trích theo 22, 398]
J Locke đã tập trung luận giải vấn đề tự do trong xã hội có sự phân chia giai cấp, trạng thái tự nhiên của con người đã mất đi, con người chuyển sang trạng thái công dân Do đó tự do của con người không còn là tự do tuyệt đối (tức không phục tùng ý chí lập pháp của người khác, để chỉ tuân thủ quy luật của tự nhiên), mà là tự do trong mối quan hệ với luật pháp, phù hợp với luật pháp, chính luật pháp là cái đảm bảo cho tự do tồn tại
Chính lý luận này đã vạch ra giới hạn nhất định của việc con người sử dụng quyền tự do của mình mà không xâm phạm đến tự do của người khác
Và I Berlin đã tiếp nối dòng tư tưởng về tự do này, ông cho rằng, dù giả định
có một đường ranh giới giữa cuộc sống công cộng và đời sống riêng tư và dù phạm vi riêng tư ấy có nhỏ bé đến đâu chăng nữa thì con người vẫn có thể làm theo ý mình mà không gây cản trở cho người khác
Nhà tư tưởng tiếp theo có ảnh hưởng lớn tới I Berlin là Kant (1724 - 1804) Ông cho rằng con người trước tiên là chủ thể nhận thức và tự do là một kinh nghiệm bên trong của con người, họ có thể tự quyết về hành vi của mình Với lý trí, chúng ta mới chỉ có ý niệm về những hữu thể tự do, còn khi thấy con người thực sự có thể tự ý làm điều lành hay điều ác thì ta được chứng nghiệm lần đầu tiên rằng con người là một hữu thể tự do Kant gắn quan niệm
Trang 24tự do với quy luật đạo đức Tuy nhiên, quan niệm về tự do này chỉ là một ý tưởng của lý trí thuần túy Thuật ngữ “tự do tiêu cực (tự do phủ định)” và “tự
do tích cực (tự do khẳng định)” bắt đầu xuất hiện từ Kant
Nhà tư tưởng tiếp theo có ảnh hưởng rất lớn tới I Berlin chính là Benjamin Constant (1767 - 1830), một nhà văn, chính trị gia Thụy Sĩ gốc Pháp Ông là một trong những nhà tư tưởng đầu tiên đi theo tiếng gọi của tự
do, Constant nhìn sang Anh hơn là nhìn về La Mã cổ đại cho một mô hình thực tiễn của tự do rộng lớn trong một xã hội thương mại Ông so sánh sự khác biệt giữa tự do của những người cổ đại và tự do của những người hiện đại Benjamin Constant tuyên bố rằng, tối thiểu nhất thì tự do tôn giáo, tự do biểu lộ ý kiến, tự do sở hữu phải được đảm bảo không bị tùy tiện xâm hại
B Constant cho rằng cần phải giữ gìn một không gian tối thiểu cho tự
do cá nhân nếu không muốn làm mất phẩm giá hay chối bỏ chính bản thân chúng ta Chúng ta không thể được tự do tuyệt đối và phải hạn chế một số tự
do của mình để giữ gìn tự do cho những người khác Thế nhưng phải giữ lại cái không gian tối thiểu nếu không muốn xúc phạm đến bản chất con người
Theo B Constant, không gian không bị can thiệp dù được xây dựng dựa trên nguyên tắc nào đi nữa thì tự do theo cảm nhận này có nghĩa là “tự do không bị”, là không chịu sự can thiệp ở phía sau một ranh giới bị xê dịch
Sau này I Berlin đã tiếp thu ý tưởng này và gọi ông là người biện hộ hùng hồn nhất cho tự do cá nhân và sự riêng tư, đồng thời cho rằng ông đã mang lại cho chúng ta khái niệm “tự do phủ định”
B Constant là người diễn đạt rõ ràng nhất về phạm vi của đời sống, cuộc sống riêng tư mà công quyền không nên can thiệp vào, ngoại trừ những tình huống đặc biệt
I Berlin xuất phát từ giả định rằng có một đường ranh giới giữa cuộc sống công cộng và đời sống riêng tư Cho dù phạm vi riêng tư ấy có nhỏ bé tới đâu đi nữa thì trong phạm vi ấy người ta vẫn có thể làm theo ý mình, sống như
Trang 25họ thích, tin vào điều họ nói và nói theo ý họ, miễn là điều đó không gây cản trở cho những quyền tương tự của người khác Đây cũng chính là quan điểm tự
do kinh điển được biểu lộ toàn bộ hay một phần trong các tuyên ngôn khác nhau về quyền con người ở Mỹ và Pháp Và trong cả các tác phẩm của Locke, Voltaire (1694 - 1778), Thomas Paine (1737 - 1809), Constant (1767 - 1830)
và John Stuart Mill (1806 - 1873) Các quyền tự do dân sự, các giá trị văn minh đều được họ đề cập là một bộ phận mà quan điểm tự do trên hàm nghĩa
Đặc biệt quan niệm về tự do của I Berlin còn chịu ảnh hưởng khá lớn
từ J.S Mill
Vấn đề tự do được J.S Mill đề cập không phải là tự do nằm trong mối quan hệ với tất yếu, chịu sự quy định của tất yếu, là sự hiện thực hóa tất yếu thông qua lý trí con người Ông tiếp cận tự do với tư cách là một trong những quyền của con người - tự do trong xã hội dân sự Đây chính là khuynh hướng
mới luận giải về tự do Trong tác phẩm Bàn về tự do, J.S Mill khẳng định: “Đề
tài của luận văn này không phải là điều được gọi là tự do của ý chí, không may đối lập với học thuyết có cái tên gọi không đúng là sự Tất yếu Triết học mà là
tự do Dân sự hay tự do Xã hội: tức là bản chất và các giới hạn của quyền lực
mà xã hội có thể thực thi một cách chính đáng đối với cá nhân” [34, 17]
Với cách tiếp cận đó, J.S Mill đã không những kế thừa mà còn phát triển quan điểm tự do của các nhà triết học Khai sáng Bản chất của tự do mà J.S Mill đề cập đến là các quyền tự do của con người trong xã hội có đối kháng giai cấp Khi xuất hiện đối kháng giai cấp, ngay lập tức trong xã hội xuất hiện một quan hệ mới - quan hệ giữa nhà nước và công dân; trong mối quan hệ này đòi hỏi phải xác định được quyền hạn của nhà nước đối với công dân và của công dân đối với nhà nước và với các công dân khác trong cộng đồng Danh giới về quyền hạn của nhà nước đối với công dân, của công dân đối với nhà nước chính là bản chất của tự do mà J.S Mill muốn đề cập và luận giải
Trang 26Giới hạn của quyền uy xã hội đối với cá nhân được J.S Mill đặc biệt quan tâm, ông coi việc xác định giới hạn quyền uy của xã hội chính là cơ sở
để xác định đúng đắn quyền tự do cá nhân Quyền uy của xã hội đối với cá nhân được giới hạn ra sao? Quyền uy của xã hội bắt đầu từ chỗ nào? Ông khẳng định: “Thứ nhất, cá nhân không phải giải trình trước xã hội về những hành vi trong chừng mực chúng không liên can đến quyền lợi của một ai ngoài bản thân anh ta… Thứ hai là các cá nhân phải chịu trách nhiệm về các hành vi gây hại cho quyền lợi của những người khác và có thể phải chịu sự trừng phạt của xã hội hay pháp luật, nếu xã hội cho rằng cần có trừng phạt loại này hay loại kia để bảo vệ mình” [31, 209]
Đối với J.S Mill, mỗi người cần được tự do mưu cầu hạnh phúc riêng của mình trong chừng mực ta không mưu toan xâm hại đến hạnh phúc của người khác hoặc ngăn trở những nỗ lực của người khác đạt được hạnh phúc I Berlin tán thành với J.S Mill ở điểm ông là người đầu tiên nhận ra sự khác biệt giữa tự do (theo mặt nghĩa là quyền tự do hành động) với tự do (theo mặt nghĩa là không có sự áp bức) Tuy nhiên, J S Mill bàn về quyền tự do với tính cách xã hội, tính cách công dân nhiều hơn Do đó, dù chịu sự ảnh hưởng của nhà tư tưởng này nhưng I Berlin cũng có những sự phê phán nhất định
Các triết gia chính trị trên đều thấy rằng không gian tự do không thể là
vô hạn, nếu không mọi người có thể can thiệp vào những không gian riêng tư nhất của nhau Do đó quyền tự do của kẻ yếu sẽ bị kẻ mạnh thủ tiêu Bên cạnh
tự do, con người còn có nhiều mục tiêu khác như công bằng, hạnh phúc, văn hóa, an toàn, bình đẳng,…
Và các mục đích cũng như hoạt động của con người không tự động hài hòa với nhau, họ có thể đặt giá trị cao hơn cho các mục tiêu khác hay thay đổi mức độ ưu tiên theo cách khác nhau Vì vậy, họ giảm bớt tự do vì lợi ích của những giá trị khác cũng như vì lợi ích của chính bản thân tự do I Berlin cũng cho rằng, nếu không có điều này thì không thể nào tạo ra được những liên kết
mà họ mong muốn
Trang 27Từ đó, các nhà tư tưởng trên cho rằng, không gian hành động tự do của con người phải bị giới hạn bởi luật pháp Những người thuyết giảng tự do như
J Locke và J.S Mill ở Anh, Benjamin Constant và Tocqueville ở Pháp đều cho rằng, phải có một không gian tối thiểu nhất định cho tự do cá nhân, không được vi phạm vì bất cứ lý do gì Trong không gian riêng tư ấy, những khả năng tự nhiên của con người được thể hiện, được bộc lộ để con người cá nhân theo đuổi những mục đích thiêng liêng khác nhau của mình
Từ đó, theo I Berlin phải có một ranh giới được vạch ra giữa không gian đời tư và không gian quyền uy công cộng, nhưng ranh giới ấy phải được vạch ra ở đâu lại là vấn đề đáng bàn luận Vì theo ông, con người phụ thuộc lẫn nhau rất nhiều và không bao giờ có hoạt động nào của một người mà lại không ít nhiều cản trở cuộc sống của những người khác Và tự do của một số người ắt phải phụ thuộc vào sự kiềm chế của những người khác
I Berlin tán thành với ý kiến cho rằng tự do của một số người đôi khi phải bị cắt giảm để đảm bảo cho tự do của những người khác
1.3 I Berlin và tác phẩm Bốn tiểu luận về tự do
1.3.1 I Berlin cuộc đời và sự nghiệp
I Berlin là một triết gia chính trị và là một nhà lịch sử tư tưởng, ông được coi là một trong những nhà tư tưởng tự do hàng đầu thế kỉ XX Ông sinh năm 1909 trong một gia đình Do Thái trung lưu tại Riga (Latvia) Khi đó, Latvia còn nằm trong vòng ảnh hưởng của đế chế Nga
Năm 1916 gia đình ông chuyển đến Petrograt, đến năm 1920, gia đình ông rời Nga đến Anh
Tại Anh, ông học trường trung học ST Paul và sau đó nhờ có học bổng, ông theo học trường Corpus Christi College, Oxford Là một sinh viên xuất sắc, ông lấy bằng thạc sĩ năm 1935 Trong thời gian đó, ông khởi nghiệp trên cương vị giảng viên triết học ở New College, Oxford (1932 - 1938), nơi sau này ông trở thành ủy viên quản trị (1938 - 1950) Ông trở thành chủ tịch sáng
Trang 28lập của Wolfson College, Oxford, từ 1957 - 1967, ông là giáo sư môn lý thuyết
xã hội và chính trị tại đại học Oxford Ông được phong tước hiệp sĩ năm 1957, được tặng huân chương công trạng năm 1971 và là chủ tịch Viện Hàn lâm Anh
từ 1974 - 1978 Ngoài ra ông còn là Viện sĩ danh dự của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn chương Mĩ (Honorary Fellow of the American Academy of Arts and Letters) Ông được nhận giải thưởng Jerusalem Prize năm 1979 vì trong các trước tác đã bày tỏ tư tưởng về tự do cá nhân trong xã hội
Triết học chính trị của I Berlin thường đề cập đến vấn đề tự do và ý chí
tự nguyện trong các xã hội ngày càng chuyên chế và máy móc Các tác phẩm
cơ bản của ông gồm: (1937), Cảm ứng và giả thuyết, kỷ yếu hội thảo Arixtot; (1939), C Mác: cuộc sống và hoàn cảnh; (1949), Dân chủ, chủ nghĩa cộng
sản và các cá nhân; (1952), Tự do và sự phản bội của nó: sáu kẻ thù của tự
do nhân loại; (1953), Con nhím và con cáo: một tiểu luận về cái nhìn của Tônxtôi với lịch sử; (1954), Điều tất yếu lịch sử; (1958), Hai khái niệm về tự do; (1969), Bốn tiểu luận về tự do; (1978), Các nhà tư tưởng Nga; (1990), Khúc gỗ cong của nhân loại: những chương trong lịch sử của ý tưởng;
(1996), Giác quan thực tế: các nghiên cứu ý tưởng và lịch sử; (1997), Nghiên
cứu đúng đắn của nhân loại: một tuyển tập các bài tiểu luận
Tuy nhiên, có lẽ cuốn sách gây nhiều ảnh hưởng nhất của ông là Con
nhím và con cáo (1953), trong đó ông chia các nhà tư tưởng của thế giới thành
những người (những con nhím) - như Aristotle (384 - 322 TCN) và Shakespeare (1564 - 1616) - ''biết nhiều chuyện'', và những người (những con cáo) - như Plato (427 - 347 TCN) và Dante (1265 - 1321) - biết một chuyện vĩ đại''
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, I Berlin chuyển sự quan tâm ban đầu
từ triết học phân tích sang các lĩnh vực của khoa học chính trị, lý thuyết chính trị và lịch sử tri thức
Ông được nhiều người trong giới học thuật ca ngợi về học thuyết đa nguyên khách quan triệt để, những trước tác về tự do, sự sửa đổi và cải tiến
Trang 29trong biện hộ của ông đối với chủ nghĩa duy tâm truyền thống Cùng với đó là những khảo cứu xuất sắc và sáng tỏ của ông trong lịch sử ý tưởng từ Machiavelli (1469 - 1527) và Vico (1668 - 1744) đến C Mác (1818 - 1883)
và Svel Ông và Austin (1911 - 1960), Ayer (1910 - 1989) cùng nhiều người khác sáng lập trường phái triết học Oxford trong thập niên 1930 Ông viết nhiều luận văn giá trị trên tinh thần chung của nó, nhưng do không chịu từ bỏ lối tiếp cận thực nghiệm mà ông dần trở lên bất đồng với những điều mà ông cho là những khuynh hướng giáo điều và phủ nhận chân lý của chúng
Ông trình bày một cách thuyết phục và sáng rõ chủ nghĩa đa nguyên khách quan mà ông nhận diện và biến thành của riêng ông Có một đa số không thể giảm bớt những giá trị khách quan của con người, nhiều giá trị trong đó không tương thích với nhau, vì thế thiết yếu cần có những chọn lựa tuyệt đối bởi những cá nhân và những hội đoàn Một nhu cầu trao giá trị tối cao cho và hình thành một trong những sự biện hộ chính cho khái niệm của ông về “tự do phủ định” Cũng vì thế, ông khẳng định rằng, xã hội không tưởng nghĩa là một thế giới ở đó mọi cứu cánh hợp lý của con người và những giá trị khách quan được thực hiện cùng một lúc trong nhiều hợp đề tối hậu, là
sự bất khả về mặt ý niệm
Nhiều người biết đến những trước tác của I Berlin về lịch sử trí thức
Nga, đa số đã được tuyển chọn in lại trong Các nhà tư tưởng Nga (1978); tác
phẩm này, như hầu hết tác phẩm của Berlin, được Henry Hardy (biên tập viên người Anh sinh ngày 15 tháng 3 năm 1949) hiệu đính Mặc dù bản thân ông không sáng lập nên trường phái hay phong trào nào nhưng như một triết gia
và như một con người vĩ đại, I Berlin đã có ảnh hưởng đặc biệt đến nhiều nhà
tư tưởng kiệt xuất như Stuart Hamsphire (1914 - 2004), Charles Taylor (1948), Bernard Willia (1929 - 2003), Richard Woltheim (1923 -2003), Gerry Cohen, Steven Lukes (1941), David Pears (1921 - 2009) và nhiều người khác
Trang 30Tác động chung về mặt trí thức và đạo đức của ông với cuộc sống thế
kỷ XX biểu hiện qua hoạt động của ông như của một tác gia, nhà ngoại giao, người bảo trợ về âm nhạc và hội họa, chính khách hàn lâm quốc tế, người bạn được yêu mến và tin cậy của những người vĩ đại và những kẻ tầm thường, nhà thuyết trình, người đối thoại chói sáng, người dẫn dắt các ý tưởng, và sẽ là nguồn cung cấp chất liệu vô tận cho các sử gia tương lai
Hai đóng góp quan trọng nhất của ông là tác phẩm Tất yếu lịch sử
(1954) và bài khai giảng niên khóa với tư cách là giáo sư lý thuyết xã hội và
chính trị tại Oxford, Hai khái niệm về tự do (1958) Tác phẩm Tất yếu lịch sử
là sự công kích can đảm và kiên quyết vào thuyết tất định lịch sử cùng thuyết tương đối và thuyết chủ quan đạo đức, đồng thời chứng thực vai trò của ý chí
tự do và trách nhiệm trong lịch sử con người Ông tập trung vào cuộc tranh luận trong triết học lịch sử
Sau này I Berlin còn bày tỏ triết lý của mình về lịch sử các ý tưởng
trong tác phẩm Vico và Herder (1976) Tác phẩm trình bày sự xuất hiện của
cái mà chủ nghĩa duy lịch sử và chủ nghĩa đa nguyên đã lay động niềm tin duy lý nhất nguyên hai nghìn năm vào một khối chân lý thống nhất liên quan tới tất cả vấn đề về sự kiện và nguyên lý trong mọi lĩnh vực của tri thức con người Từ cuộc lật đổ tri thức sâu xa này, I Berlin lần theo, trong một loạt
khảo luận như Ngược dòng (1979), Thanh gỗ cong của con người (1990) và
Cảm thức thực tại (1996), sự phát triển của một số phong trào trí thức chủ yếu
đánh dấu kỉ nguyên chúng ta, bao gồm chủ nghĩa dân tộc, thuyết tương đối, thuyết chủ quan, chủ nghĩa hư vô, ý chí luận và chủ nghĩa hiện sinh
Quan niệm về tự do của ông được thể hiện trong tiểu luận Hai khái
niệm về tự do, trong đó chứa đựng những nỗ lực to lớn của ông nhằm phân
biệt giữa “tự do phủ định” và “tự do khẳng định” “Tự do phủ định” đã được các nhà tư tưởng như B Constant, J.S Mill và trên tất cả là Herzen (1812 - 1870) báo trước bằng việc đưa ra những giả định tối thiểu về bản chất và
Trang 31những nhu cầu tối hậu của chủ thể Quan niệm của các ông tựu trung ở việc bảo đảm một mức độ tối thiểu sự can thiệp ngoại tại bởi uy quyền của bất kỳ nguồn gốc nào, và ở việc để cho sự chọn lựa cá nhân rộng mở và phù hợp với mức độ tối thiểu của tổ chức và trật tự xã hội
Trong cuộc đời mình, ngoài giảng dạy và nghiên cứu triết học chính trị, ông còn từng công tác tại Bộ Ngoại giao Anh từ năm 1942 đến năm 1946, làm việc tại sứ quán Anh ở Mỹ Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai ông cũng làm việc vài tháng tại Matxcơva trong thành phần phái bộ ngoại giao Anh tại đây Thời gian ngắn ngủi tại Matxcơva cũng kịp để ông gặp gỡ và thân quen với các văn sĩ Nga nổi tiếng như A.A Akhmaltova, B.L Pasternac Ông mất ngày 5 tháng 11 năm 1997 khi cuộc đời đã đi trọn hết thế kỷ XX đầy biến động sục sôi
1.3.2 Tác phẩm “Bốn tiểu luận về tự do”
* Hoàn cảnh ra đời tác phẩm
Bốn tiểu luận về tự do được xuất bản lần đầu vào năm 1969 bao gồm
các bài tiểu luận được ông viết trước đó như Tự do, Hai khái niệm về tự do,
Các ý tưởng chính trị trong thế kỉ XX và Sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân Hy Lạp Trong đó tiểu luận “Hai khái niệm về tự do” được ông viết từ năm 1958
với tư cách là bài giảng nhận chức và đồng thời là bài khai giảng khóa học của Đại học Oxford ngày 31 tháng 10 năm 1958 Sau đó tiểu luận này được xuất bản như một cuốn sách nhỏ gồm 57 trang tại nhà xuất bản Clarendon Press, Oxford Đến năm 1969, tiểu luận này trở thành một trong những bài
viết cấu thành tác phẩm Bốn tiểu luận về tự do
Trong Hai khái niệm về tự do, ông định nghĩa “tự do phủ định” là khi
nào hành động khả thể có ít cơ hội bị tước đoạt hay bị can thiệp Còn “tự do khẳng định” thì được ông liên kết với ý tưởng tự chủ hoặc khả năng tự quyết
để kiểm soát số phận của mình
Ngày nay những người đọc lại Hai khái niệm về tự do” đều dễ nhận ra
rằng điểm nổi bật nhất là cách I Berlin phân tích về tự do đã bị tác động bởi
Trang 32bối cảnh chính trị thời điểm tác phẩm này được viết Ông viết bài luận này vào cuối những năm 50 của thế kỉ XX, khi chiến tranh lạnh đang ở mức cao trào Ông đã mang lại một cuộc tranh luận giữa hai khái niệm “phủ định” và
“khẳng định” của tự do khi cuộc chiến chắc chắn xảy ra giữa hai hệ thống tư tưởng đang đấu tranh với nhau, giữa một bên được cho là nền dân chủ tự do phương Tây và một bên là cánh tả
Hai khái niệm về tự do thừa nhận vai trò can thiệp của nhà nước trong
việc đảm bảo điều kiện tối thiểu cho sự tồn tại của cá nhân Nguyên nhân của
sự biến đổi có tính chất bước ngoặt này chủ yếu do sự xuất hiện và phát triển của chế độ phát xít trong những năm 30 - 40 với sự tập trung toàn bộ quyền lực chính trị, kinh tế trong tay nhà nước và sự ra đời của các nhà nước xã hội chủ nghĩa với quan niệm về một nhà nước chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân đã làm thay đổi cách nhìn của các nhà tự do chủ nghĩa về vai trò của nhà nước và của cộng đồng Họ lí giải sự xuất hiện hiện tượng này là do sự nghèo khổ của khối đông đảo quần chúng nên họ buộc phải chấp nhận giải pháp của chế độ mà trong đó nhà nước có trách nhiệm bảo vệ phúc lợi kinh tế của công dân Trong một xã hội có giai cấp, có kẻ mạnh, người yếu, thì tự do cho giai
cấp này là sự mất tự do của giai cấp khác như I Berlin đã viết trong Hai khái
niệm về tự do: “Tự do cho con cá lớn là cái chết cho con cá bé” [trích theo 2,
46], do đó vai trò can thiệp của nhà nước để đảm bảo công bằng xã hội là không thể thiếu được trong những điều kiện nhất định
Hai khái niệm về tự do cũng bắt đầu đưa tự do trong cả hai nghĩa trên
ra khỏi những giới hạn khác, như sự khao khát được công nhận, nhu cầu sở hữu, hoặc tình đoàn kết nhân loại, tình huynh đệ, hoặc sự bình đẳng
Các bài tiểu luận sau đó được viết theo đơn đặt hàng của một số tạp chí Đến năm 1969, I Berlin đã tự mình tổng hợp và biên tập lại, cho ra đời
Bốn tiểu luận về tự do
Kết cấu và nội dung chính của tác phẩm
Trang 33Bài luận đầu tiên của cuốn sách là Tự do, tác giả giới thiệu các quan
điểm tự do khác nhau trong thế giới cổ đại Hy Lạp và thế giới hiện đại, giới thiệu các quan điểm kinh điển về tự do trong các tuyên ngôn về quyền con người ở Pháp và Mỹ Từ đó I Berlin đi tới gợi mở ra hai quan điểm đối chọi nhau về tự do “thống trị thế giới từ thời Phục hưng”
Tiểu luận tiếp theo, đáng chú ý nhất phải kể đến Hai khái niệm về tự
do, tác giả định nghĩa các khái niệm chính trị, tái giới thiệu các nghiên cứu về
triết lý chính trị cùng các phương pháp của triết học phân tích Đây cũng là một trong những biểu hiện đầu tiên của bản thể học đạo đức ở Berlin
Ở tiểu luận này, ông phân biệt hai quan điểm về tự do, và đưa ra những đánh giá riêng của mình trên cơ sở phân tích những quan điểm trái chiều về tự do
Hai khái niệm về tự do xứng đáng được đánh giá là một tiểu luận kinh
điển, chiếu rọi những ánh sáng rực rỡ lên quan điểm “phủ định” và “khẳng định” của tự do
Ở phần này, ông định nghĩa “tự do phủ định” hay còn gọi là tự do tiêu cực (như thuật ngữ "tự do" đã được sử dụng bởi Thomas Hobbes) là sự vắng mặt của những ràng buộc, những cản trở, chướng ngại bên ngoài Ông cũng định nghĩa nó như một ý tưởng chính trị tương đối gần, trước đó, nó tái xuất vào cuối thế kỉ XVII và phát triển một cách chậm chạp, không rõ ràng trong các học thuyết Hy Lạp cổ đại ở các nhà ngụy biện, các môn đệ của chủ nghĩa khoái lạc
Ở phần khái niệm tự do phủ định, tác giả phân biệt giữa việc không có khả năng “làm gì?”, “trở thành như thế nào?” với việc bị ngăn cản, sắp xếp không cho làm khác đi Theo ông, việc không có khả năng đạt được mục tiêu không phải là mất tự do chính trị
Các nhà triết học thuyết giảng về tự do trước đó cho rằng không gian hành động tự do của con người cần bị giới hạn bởi luật pháp nhưng phải có một không gian tối thiểu cho tự do cá nhân I Berlin đồng ý với quan điểm đó
Trang 34và đặt ra câu hỏi cần suy ngẫm là: ranh giới giữa không gian đời tư và không gian quyền uy công cộng cần được đặt ở đâu? Và ông cho rằng đó thực ra là một cuộc mặc cả Bên cạnh đó, I Berlin tái khẳng định quan điểm từng được thừa nhận trước đó rằng tự do của một số người đôi khi phải bị cắt giảm để đảm bảo tự do cho những người khác
Ở phần này, tác giả cũng đưa ra những nhận xét đối với lập trường của J.S Mill khi ông này cho rằng, hài hòa xã hội và tiến bộ là tương thích với việc dành một không gian rộng lớn cho cuộc sống riêng tư mà không quyền
uy nào được xâm phạm Thứ hai là học thuyết đó khá mới mẻ so với thời đại,
tự do cá nhân như một lý tưởng chính trị có ý thức chưa được thảo luận trong thế giới cổ đại, ngay cả trong lịch sử mới đây của phương Tây Vì thế, tự do cũng không phải là khẩu hiệu tập hợp đông đảo quần chúng của nhân loại Theo I Berlin, “khao khát không bị tác động, được để yên một mình, là dấu hiệu của văn minh cao cấp ” [2, 58] Thứ ba, ông không đồng tình khi J.S Mill cho rằng tự do không tương thích với một số chế độ chuyên chế hay tuyệt đối không tương thích với “tình trạng thiếu vắng sự tự quản” Berlin cho rằng không có mối quan hệ tất yếu giữa tự do cá nhân và cai trị dân chủ và lời giải cho câu hỏi “Ai cai trị tôi?” khác về lôgic với câu hỏi “Chính quyền can thiệp tôi đến mức nào?” Và sự khác biệt này đã tạo ra sự tương phản giữa hai khái niệm “tự do phủ định” và “tự do khẳng định”
Trong phần trình bày về khái niệm “tự do khẳng định”, I Berlin đưa ra những kiến giải riêng của mình, người tự do là người tự lựa chọn “cái ngã (self) đích thực” của mình Theo ông, ý niệm tự do khẳng định như tự làm chủ với giả định con người bị phân cách chống lại bản thân mình Bản ngã của con người bị tách đôi thành “bản ngã siêu việt”, kiểm soát vượt trội và “bản ngã kinh nghiệm” gồm nhiều khao khát và đam mê, cần được khép vào kỉ luật
Trong tiểu luận “Các ý tưởng chính trị trong thế kỉ XX”, tác giả diễn giải sự phát triển các ý tưởng chính trị và các khái niệm công cụ về xã hội
Trang 35Các khái niệm có thể là những biểu hiện và hiệu quả của những quá trình khác, xã hội, tâm lý,… mà việc khám phá những quá trình ấy là nhiệm vụ của khoa học thường nghiệm Một nhà nghiên cứu ý tưởng chính trị phải ý thức được sâu sắc các ý tưởng và thuật ngữ trong cái nhìn tổng quát về các sự vật, phải thấy được tính liên tục của truyền thống trí tuệ châu Âu
Các trường phái tư tưởng khác nhau đưa ra những lời giải đáp khác nhau cho những vấn đề của cá nhân và xã hội Theo tác giả, những người thuyết giảng tự do tin vào sức mạnh của giáo dục và đạo đức lý tính để vượt qua nỗi thống khổ kinh tế và tình trạng bất bình đẳng Những người xã hội chủ nghĩa lại tin rằng nếu không có một thay đổi triệt để trong phân phối và kiểm soát các nguồn lực kinh tế thì sự biến đổi trong tâm trí cá nhân không xảy ra đầy đủ được
Các luận cứ về mức độ tương đối của nghĩa vụ cá nhân đối với xã hội
và ngược lại luôn sôi nổi Theo tác giả, chủ nghĩa tự do châu Âu mang dáng
vẻ của một phong trào đơn nhất chặt chẽ, ít đổi thay trong suốt hầu như ba thế
kỉ dựa trên những thành quả trí tuệ được tạo ra bởi những người Hy Lạp cổ đại, phong trào phục hưng Italia, Spinoza và Locke
I Berlin phân tích, những nhà bảo thủ, những người thuyết giảng tự do, những nhà cấp tiến, những người xã hội chủ nghĩa, khác biệt nhau trong việc diễn giải về thay đổi lịch sử Họ bất đồng với nhau về việc những nhu cầu, lợi ích, lý tưởng sâu sắc nhất của con người là gì, ai giữ chúng, chúng rộng và kéo dài bao lâu
Ở tiểu luận Sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân Hy Lạp, I Berlin đánh giá
chủ nghĩa cá nhân Hy Lạp là “một bước ngoặt trong lịch sử tư tưởng chính trị” [3, 261] Theo ông, khái niệm “bước ngoặt” là chỉ một cuộc cách mạng có thể xảy ra khi một giả thuyết chủ yếu hay một hệ thống giả thuyết chủ yếu bị đập tan bởi một khám phá dẫn tới những giả thuyết mới không tương hợp với các học thuyết chủ yếu của hệ thống cũ
Trang 36Và phương pháp là một kiểu bác bỏ, cho nên để tạo ra bước ngoặt thì cần thay đổi các phương pháp đạt được tri thức mới Mối quan tâm đến các phương pháp và lý thuyết đã bị thay thế hiện nay phần nhiều mang tính lịch
sử nên những người vẫn kiên trì theo đuổi chúng bị cho là không còn phù hợp với hiện tại
Thế nhưng ông lại nhận định hiện trạng trên không nằm trong những lĩnh vực rộng lớn của tri thức không chính xác: lịch sử, triết học, nghiên cứu kinh viện,… Ở đây I Berlin đã phân biệt khoa học tự nhiên với khoa học xã hội Ông cho rằng, vật lý học hay toán học của Plato có thể bị đánh đổ nhưng
cả tư tưởng của Plato lẫn Aristotle về đạo đức và chính trị vẫn còn sống động Hay không một ai “căm phẫn” ý kiến thời cận đại về vũ trụ học, hóa học, vật
lý học của Descartes (1596 – 1650), nhưng quan điểm của Augustine (354 - 430) về đối xử với người ngoại đạo, chế độ nô lệ, quan điểm của Thomas Aquynas (1225 - 1274) về quyền uy chính trị hay học thuyết của Rousseau, Hegel đang gây ra những phản ứng bạo lực mang tính trí tuệ
Do vậy, theo tác giả, có một ý nghĩa nào đó khiến cho một số tiêu chuẩn được vận hành và không được vận hành ở những bộ môn nhất định hay không được chấp thuận phổ biển ở các lĩnh vực tư tưởng khác Như các đề xuất triết học hay hệ thống triết học hoặc không thể hồi sinh hoặc đã thiết lập nên một nền tảng vững chắc ở bất cứ mức độ nào trong chừng mực liên quan tới tri thức hiện đại
Theo ông, tốt nhất là mô tả các hệ tư tưởng, như các mô thức được rút
ra từ một lĩnh vực sáng tỏ và được xác lập vững chắc đối với một nhà tư tưởng Sự tài giỏi của một nhà tư tưởng thường mở rộng ra trong việc sáng tạo các luận cứ củng cố cho ý tưởng chủ chốt của mình và bác bỏ những phản đối Thế nhưng để thấu hiểu tư tưởng của một triết gia thì phải nhìn được cảm nhận cơ bản bao trùm tư tưởng của triết gia đó và định hình được thế giới quan của ông ta
Trang 37I Berlin cho rằng, những thời điểm vĩ đại là những thời điểm khi một thế giới tiêu vong và một thế giới khác kế tiếp nó và điều này được đánh dấu trong thay đổi mô thức chủ yếu Ông lấy dẫn chứng về những thời điểm vĩ đại của biến đổi xảy ra như khi các định luật chu kì của người Hi Lạp được kế tục bởi đường tuyến tính đi lên, cứu cánh luận lịch sử của người Do Thái và các tín đồ Kitô giáo Cứu cánh luận đến lượt nó lại bị đánh đổ bởi mô thức toán học nhân quả của thế kỉ XVII,…
Tác giả diễn giải lí thuyết chính trị cổ điển phương Tây được liên tưởng với giá đỡ ba chân - ba giả định Giả định đầu tiên là câu hỏi về giá trị, tính đúng đắn và tính đáng mong đợi của hành động con người bao gồm hành động chính trị Giả định thứ hai là lời giải đáp nếu là chân lý thì không được xung đột với nhau Giả định thứ ba là con người có một bản chất có thể khám phá và mô tả được, bản chất ấy mang tính xã hội một cách tự nhiên
Mỗi trụ cột trên mà lí thuyết chính trị dựa vào đều đã bị tấn công Quan điểm về con người như một thực thể mang tính xã hội nội tại và quan điểm về
lí thuyết chính trị như lí thuyết bao gồm các câu hỏi xuyên thấu vào tâm điểm của bản chất con người là gì đã bị tấn công vào cuối thế kỉ IV
Có ba đề xuất được đưa ra, thứ nhất là mọi giá trị đều tương hợp với nhau và về nguyên tắc, có một lời giải tổng thể cho các vấn đề con người chỉ cần ta khám phá ra lời giải ấy
Đề xuất thứ hai cho rằng, về nguyên tắc có thể không có lời giải chung cuộc cho các vấn đề con người, và rằng một số giá trị nào đó có thể không tương hợp được với các giá trị khác Nó đòi hỏi có những xem xét của những người đối diện với nó mà không cảm thấy bị xáo trộn
Cuối cùng là đòi hỏi các câu hỏi về giá trị là những câu hỏi đích thực
và có khả năng giải đáp được và chính trị là một nhánh của nhu cầu trí tuệ, có khả năng đem lại những đề xuất đúng hoặc sai Cuộc khủng hoảng đầu tiên được I Berlin phân tích với câu hỏi xoay quanh vấn đề con người là một thực thể xã hội
Trang 38Theo I Berlin, có một điều mọi người đều thừa nhận rằng người Hy Lạp cổ đại quan niệm con người có bản chất xã hội, đời sống tự nhiên của con người như được định chế hóa bởi thành bang Và ông cho rằng những gì nhân danh tự do cá nhân, về cuộc sống riêng tư khó được thể hiện ở đây Tư tưởng của hai triết gia tiêu biểu của Hy Lạp thời kì này là Plato (427 - 347 TCN) và Aristotle (384 - 322 TCN) đều nhấn mạnh đến các giá trị xã hội là chủ yếu trong các tác phẩm của mình
Ở tập tiểu luận cuối cùng của tác phẩm này, I Berlin dẫn ra các quan điểm, tư tưởng của các nhà triết học, trường phái triết học thời kì này, dựa trên những so sánh và đưa ra nhận định của bản thân rằng thành tựu lớn nhất của con người là tự dạy dỗ mình để không còn lo lắng, phiền muộn Đó là hình thức rút lui vào thành trì nội tâm của tâm hồn cá nhân bất khả xâm phạm, được che chở bởi lòng dũng cảm, sự chịu đựng, lý trí Đây là bài học rút ra từ cuộc đời Socrates (470 - 399 TCN) Chỉ khi nào con người giải thoát bản thân khỏi những ảnh hưởng tàn phá mình, những lầm lạc về thế giới, khi đó họ mới không thể bị tổn thương đối với những gì bất hạnh do người khác tạo ra
I Berlin đã đưa ra phỏng đoán về một cuộc cách mạng đang diễn ra từ
từ Ông tổng kết cuộc cách mạng này trên những phương diện sau:
Thứ nhất, chính trị học và đạo đức học tách khỏi nhau Đơn vị tự nhiên bây giờ không còn là nhóm người nữa, dưới dạng nhóm người ấy con người được xác định là thành viên của nó Đơn vị tự nhiên bây giờ là cá nhân Những nhu cầu của nó, các mục tiêu, giải pháp, số phận của nó mới là vấn đề
Thứ hai, chỉ có cuộc sống nội tâm mới là cuộc sống đích thực; những thứ ngoại tại là mong manh phù du Một người chưa phải là người khi các hành động của anh ta không được quyết định bởi chính mình mà bị ép buộc, những thứ mà anh ta không thể kiểm soát Chỉ có con người độc lập mới có tự
do, chỉ có con người tự do mới có thể thỏa mãn các khát vọng của mình, tức
Trang 39là bình an và hạnh phúc Độc lập như thế chỉ có thể đạt được bằng cách hiểu được bản chất của hiện thực
Trong khi đối với Plato và Aristotle cái hiện thực ấy bao gồm cuộc sống công cộng - nhà nước - như một bộ phận nội tại của nó, còn đối với các triết gia cổ Hy Lạp khác thì nó không bao gồm Từ đây, triết học chính trị bị suy tàn cho tới khi nhu cầu thời La Mã xuất hiện và hồi sinh lại nó
Thứ ba, là đạo đức học là đạo đức học của cá nhân, nhưng nó không giống như ý kiến về quyền cá nhân hay tính thiêng liêng của đời sống riêng
tư Ý tưởng về quyền có một không gian riêng của mình xuất hiện muộn hơn
ở thời điểm sau này
Thứ tư, I.Berlin cho rằng, một trong ba chân của giá đỡ cho nền triết học chính trị phương Tây đã rạn nứt Cứu rỗi cá nhân, hạnh phúc cá nhân, tính cách cá nhân nổi lên như một mục tiêu chủ yếu, trung tâm của các mối quan tâm và giá trị
Theo ông, đây là thời điểm đánh dấu sự ra đời của ý tưởng cho rằng chính trị là thứ không xứng đáng với người tài năng đích thực Nó là thứ làm đau khổ và mất phẩm giá của người tốt Mặc dù không có dấu vết nào trước đây về thái độ ấy đối với chính trị nhưng cuộc đời của Socrates (469 - 399 TCN) và nhiều nhà tư tưởng ở thời kì này là nhân chứng cho thái độ đó
Các giá trị công cộng và cá nhân trước đây chưa bị phân biệt đối xử thì nay lại đi theo những hướng khác nhau, có khi va chạm nhau kịch liệt Đây là thời điểm khai sinh ra ý tưởng đó Từ đây, những ý tưởng về tách biệt các giá trị đạo đức và chính trị, đạo đức học về kháng cự, về thoái ẩn, về các quan hệ
cá nhân,… là một trong những yếu tố sâu sắc, gây lên sự lo âu vào thời kì Phục hưng và cả thời kì hiện đại
Cuối cùng, I.Berlin đánh giá các nhận xét của một số học giả về tư
tưởng thời cổ đại này như Francis Macdonald Cornford (1874 - 1943), George
Trang 40H Sabine (1880 - 1961) và đưa ra nhận định thời đại mới của chủ nghĩa cá nhân thường bị lên án như một thời đại suy đồi
Ông cho rằng những nhận xét của Cornford và Sabine là hết sức bi quan và bày tỏ quan điểm của mình rằng mỗi thời đại có các giá trị của nó, chủ nghĩa cá nhân thời cổ Hy Lạp được các nhà tư tưởng ấy quy cho nỗi cô đơn hiu quạnh của con người trong một xã hội mới đông đúc Nhưng có thể những gì họ cảm nhận thấy không phải là nỗi hiu quạnh, cô đơn mà là nhận ra
sự ngột ngạt trong thành bang Và tình trạng suy tàn chậm không phải là chuyện đáng buồn, nó hàm nghĩa mở rộng các chân trời mới Từ đây, I Berlin đánh giá rằng, thế kỉ thứ 3 đã đánh dấu cho khởi đầu về những giá trị mới và một ý niệm mới về cuộc đời
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã đi tìm hiểu về những điều kiện kinh tế
-xã hội, chính trị - văn hóa cũng như những tư tưởng có ảnh hưởng lớn tới sự hình thành tư tưởng triết học chính trị của I Berlin Sự hiểu biết đó kết hợp với những thông tin về cuộc đời của I Berlin đã giúp chúng ta hình dung
được quá trình hình thành tư tưởng cũng như sự ra đời tác phẩm Bốn tiểu luận
về tự do Có nhiều quan điểm về tự do trong lịch sử triết học của các triết gia
như J Locke, I Kant, B Constant và J.S Mill Những nghiên cứu của họ về
tự do đã đem lại những giá trị nhất định Và đó cũng chính là tiền đề quan trọng cho sự ra đời quan niệm của I Berlin về tự do
Tác phẩm Bốn tiểu luận về tự do được I Berlin hoàn thành và xuất bản
năm 1969, đây là thời kì thế giới có nhiều biến động chính trị, chiến tranh lạnh đang diễn ra quyết liệt và chưa có dấu hiệu kết thúc Về mặt tư tưởng, thời kì này xuất hiện những luồng tư tưởng mới, chủ nghĩa tân tự do Khái niệm tự do trở thành chủ đạo và nhận được nhiều quan tâm hơn cả Mặc dù trước đó, khái niệm này cũng đã là đề tài bàn luận từ thời Khai sáng