1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng giáo dục của fukuzawa yukichi và ý nghĩa của nó đối với tư tưởng giáo dục của phan bộ châu

109 442 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hai mươi năm đó, thực tiễn chính trị - xã hội Việt Nam đã tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ, sôi nổi trong tư tưởng của các nhà yêu nước nhằm giải quyết những vấn đề bức thiết và cấp b

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LƯU THI ̣ YẾN

TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA FUKUZAWA YUKICHI VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA PHAN

BỘI CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LƯU THI ̣ YẾN

TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA FUKUZAWA YUKICHI

VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI TƯ TƯỞNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC

Mã số: 60 22 03 01 Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Hạnh

Hà Nội – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Thị Hạnh

Tôi cũng xin cam đoan, đề tài này không trùng với bất cứ đề tài luận văn thạc sĩ nào đã được công bố ở Việt Nam Đề tài có sự kế thừa, chắt lọc

và phát triển từ những tài liệu chuyên ngành có vấn đề liên quan

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của đề tài

Người cam đoan

Lưu Thị Yến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn là kết quả của sự dạy dỗ tận tình, sự góp ý chân thành của tất cả các thầy giáo, cô giáo và sự cố gắng, nỗ lực của bản thân tôi trong suốt thời gian học tập, rèn luyện tại Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội

Qua đây cho tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn nói riêng, cũng như tất cả các thầy giáo, cô giáo đã truyền đạt cho chúng tôi kho tàng kiến thức vô cùng quý báu trong quá trình học tập tại Trường Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Thị Hạnh - người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo để tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ này

Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn chân thành đến tất cả bạn bè, người thân, đồng nghiệp - những người đã luôn ở bên giúp đỡ và động viên tôi suốt trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2015

Lưu Thị Yến

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của đề tài 8

7 Ý nghĩa của luận văn 8

8 Kết cấu của luận văn 8

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH XÃ HỘI NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX 9

1.1 Nhật Bản cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX 9

1.1.1 Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội 9

1.1.2 Tiền đề văn hóa tư tưởng 17

1.2 Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 20

1.2.1 Tình hình kinh tế, chính trị xã hội 20

1.2.2 Tiền đề văn hóa tư tưởng 29

Tiểu kết chương 1 33

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA FUKUZAWA YUKICHI 34

2.1 Fukuzawa - con người và sự nghiệp 34

2.1.1 Đôi nét về con người của Fukuzawa Yukichi 34

2.1.2.Về Sự nghiệp của Fukuzawa Yukichi 38

2.2 Một số tư tưởng duy tân chủ yếu của Fukuzawa Yukichi nhằm giáo dục người dân 41

2.2.1 Mục đích giáo dục vì con người 41

Trang 6

2.2.2 Nội dung giáo dục mang tính thiết thực cao 54

2.2.3 Phương pháp và nguyên tắc giáo dục tiến bộ 61

2.2.4 Ý nghĩa tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi đối với sự phát triển của xã hội Nhật Bản 67

Tiểu kết chương 2 71

CHƯƠNG 3 Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG DUY TÂN VỀ GIÁO DỤC CỦA FUKUZAWA YUKICHI ĐẾN TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA PHAN BỘI CHÂU 72

3.1 Phan Bội Châu với phong trào Đông Du và Đông Kinh nghĩa thục 72

3.1.1 Phan Bội Châu con người và sự nghiệp 72

3.1.2 Phan Bội Châu hoạt động trong phong trào Đông Du và Đông Kinh nghĩa thục 74

3.2 Ý nghĩa tư tưởng duy tân về giáo dục của Fukuzawa Yukichi đến sự chuyển biến tư tưởng giáo dục của Phan Bội Châu 81

3.2.1 Chuyển biến trong tư tưởng của Phan Bội Châu về mục đích giáo dục 81

3.2.2 Chuyển biến trong tư tưởng Phan Bội Châu về nội dung giáo dục 85

3.2.3 Chuyển biến của Phan Bội Châu về nguyên tắc, phương pháp và đối tượng giáo dục 90

Tiểu kết chương 3 96

KẾT LUẬN 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Theo Hồ Chí Minh , giáo dục có vai trò hết sức to lớn trong việc cải

tạo con người cũ, xây dựng con người mới Trong tập thơ “Ngục trung nhật ký”, ở bài Dạ bán (Nửa đêm) Người đã viết “Thiện, ác nguyên lai vô định tính, đa do giáo dục đích nguyên nhân” (nghĩa là: thiện, ác vốn chẳng phải

là bản tính cố hữu, phần lớn đều do giáo dục mà nên) Không những thế , giáo dục còn góp phần đắc lực vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước Chính vì vậy, tại Nghị quyết Trung Ương VIII Khóa XI có nhấn mạnh, giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân, mục tiêu của giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân tài, phát triển giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và củng cố an ninh quốc phòng

Giáo dục đào tạo có ý nghĩa quan trọng là chìa khóa, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Sự lạc hậu và yếu kém của nền giáo dục, bao giờ cũng phản chiếu một cách biện chứng chính cơ chế quản lý kinh tế

- xã hội của một nhà nước Tuy nhiên, đến lượt nó giáo dục cũng góp phần tác động trở lại, kìm hãm và ngăn cản sự phát triển của xã hội Hiện nay, nước ta đang tham gia vào quá trình toàn cầu hóa của thế giới, những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa tác động tới hầu hết các lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa - giáo dục Để khắc phục những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa đối với nước ta, chúng ta cần

phải đổi mới trên mọi lĩnh vực Trong đó, giáo dục phải có một cuộc “cách mạng” thực sự, để tiến kịp với các nước trong khu vực và trên thế giới

nhằm thoát khỏi sự lạc hậu, lỗi thời như hiện nay

Trong quá trình đổi mới giáo dục cần nắm chắc phương pháp luận

Hồ Chí Minh: Đổi mới “không phải cái gì cũng bỏ hết, không phải cái gì

Trang 8

cũng làm mới Cái cũ mà xấu thì phải bỏ Cái cũ không xấu mà phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý Cái gì cũ mà tốt thì phát triển thêm Cái gì mới mà hay thì phải làm”[37, tr.94-95] Đây cũng chính là sự kết hợp

nhuần nhuyễn giữa phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin với phép ứng xử linh hoạt của văn hóa phương Đông trong phương pháp luận

Hồ Chí Minh

Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, tình hình chính trị - xã hội của thế giới và Việt Nam có nhiều chuyển biến quan trọng Các nước Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La tinh lần lượt trở thành miếng mồi béo bở của thực dân, đế quốc trên con đường mở rộng thị trường Nhiều nước đã biến thành thuộc địa, nửa thuộc địa và làm sân sau của chúng, đặc biệt là khu vực Châu Á Việt Nam cũng chịu chung số phận, từ năm 1885 đến năm

1883, sau hơn 20 năm kháng cự thất bại, nước ta trở thành một nước nửa phong kiến nửa thuộc địa của thực dân Pháp Trong hai mươi năm đó, thực tiễn chính trị - xã hội Việt Nam đã tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ, sôi nổi trong tư tưởng của các nhà yêu nước nhằm giải quyết những vấn đề bức thiết và cấp bách của dân tộc

Cùng vị trí địa lý thuộc Châu Á, cùng bị đế quốc thực dân de dọa, xâm lược nhưng cuối thế kỷ XIX, Nhật Bản thực hiện một cuộc cải cách Minh Tri ̣ duy tân (1868 - 1892) làm cho Nhật Bản phát triển một cách nhanh chóng và thần kỳ, từ mô ̣t nước yếu kém đã trở thành mô ̣t nướ c có đủ khả năng, tiềm lực chống la ̣i các lực lượng xâm lược Trong đó, nội dung cuộc cải cách Minh Trị chú trọng ưu tiên vào lĩnh vực giáo dục Những thành tựu to lớn trong cuô ̣c cải cách giáo dục thời Minh Trị đem lại, phải kể đến công lao của các nhà tư tưởng hàng đầ u Nhâ ̣t Bản lúc bấy giờ như Mori Arinori (Sâm Hữu Lễ) (1847 - 1889) và Fukuzawa Yukichi (Phúc Trạch Dụ Cát) (1835 - 1901) Đặc biệt, Fukuzawa Yukichi là một nhà tư tưởng, nhà giáo dục lỗi lạc tại Nhật Bản xuất thân từ tầng lớp võ sĩ dưới thời Minh Trị

Trang 9

Fukuzawa Yukichi là một nhà tư tưởng “khai quốc công thần” có

ảnh hưởng sâu rộng nhất đến xã hội Nhật Bản cận đại Những tư tưởng về chính trị - xã hội, kinh tế - văn hóa mà Fukuzawa Yukichi truyền bá góp phần thúc đẩy sự phát triển của Nhật Bản đương thời Bên cạnh là một nhà chính trị, ông còn là một nhà giáo dục t iến bô ̣ và lỗi lạc của đất nước Nhật Bản Những tư tưởng tiến bộ về giáo dục của ông được thi hành và áp dụng trong cuộc cải cách Minh Tri ̣ duy tân, nhờ đó mới thu được sự thành công vang dội của cuộc cải cách này Tư tưở ng về giáo du ̣c của ông đến thời đại ngày nay vẫn còn nguyên giá tri ̣ to lớn

Nhật Bản trở thành mô ̣t tấm gươn g cho các nước cùng khu vực ho ̣c

tâ ̣p trong đó có Viê ̣t Nam Ở Việt Nam, những người tiếp thu tư tưởng duy tân Nhật Bản không ai khác chính là những nhà Nho yêu nước tiến bộ như: Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phan Châu Trinh Đặc biệt, có Phan Bô ̣i Châu , Phan Bội Châu đã tìm tới Nhật Bản để thực hiê ̣n con đường cứu nước của mình Trước là cầ u viê ̣n binh sau chuyển sang chính sách cầu ho ̣c Điều này được thể hiện rõ trong phong trào Đông

Du do ông và một số nhà tư tưởng cùng chí hướng khác khởi xướng và thực hiện

Trong hoạt động thực tiễn cách mạng và hoạt động nghiên cứu lý luận của mình, Phan Bội Châu rất coi trọng nền giáo du ̣c nước nhà , giáo dục con ngư ời.Tư tưởng về giáo dục của ông là sự chuyển biến từ cái cũ , cái lạc hậu đến với những tư tưởng tiến bô ̣ Sự chuyển biến đó bắt nguồn từ cuô ̣c cải cách Minh Tri ̣ duy tân ở Nhật Bản, hay nguyên nhân sâu xa chính

là tư tưởng của Fukuzawa Yukichi - nhà giáo dục lỗi lạc hàng đầu Nhật Bản lúc bấy giờ Để tìm hiểu, nghiên cứu rõ về tư tưởng giáo du ̣c của Fukuzawa Yukichi và làm rõ ý nghĩa của nó tới tư tưởng của Phan Bội Châu, tôi đã

lựa chọn đề tài: “Tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi và ý nghĩa của nó đến tư tưởng giáo dục của Phan Bội Châu” làm đề tài luận văn

cao học của mình

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu tài liệu, đã có mô ̣t s ố công trình nghiên cứu về tư tưởng Fukuzawa Yukichi về giáo dục và tư tưởng giáo dục của Phan Bội Châu dưới các góc độ và nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau Trong phạm vi của đề tài mà ta có thể kể đến một số công trình nghiên cứu dưới đây được phân loại theo thời gian

a Các công trình nghiên cứu về tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi

Năm 2002, Hội thông tin giáo dục quốc tế kết hợp với Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia xuất bản cuốn “Hiện đại hóa giáo dục Nhật Bản” Nội

dung cuốn sách trình bày cả về mặt tư tưởng, hệ thống nội dung và phương pháp, nhấn mạnh đến cải cách giáo dục thời Minh Trị duy tân và vai trò của

nó đối với nền giáo dục Nhật Bản hiện nay Cuốn sách có đề cập đến tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi nhưng chỉ khát quát một cách cơ bản và trong một số nội dung nhất định

Nhật Bản thay da đổi thịt toàn bộ diện mạo của đất nước nhờ thực hiện cuộc cải cách Minh Trị duy tân Đề tài này được nhiều nhà nghiên cứu

đi sâu tìm hiểu trong đó là luận án Tiến sĩ của tác giả Đặng Xuân Kháng

“Cải cách giáo dục và những tác động chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế

- xã hội Nhật Bản” (2003) Luận án đề cập đến những vấn đề cấn phải đổi

mới trong cuộc cải cách giáo dục là phương pháp, nội dung Qua đó, tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi được đề cập một cách cơ bản

Năm 2012, tác giả Dương Thị Nhẫn có công trình nghiên cứu đầy đủ

và sâu sắc về tư tưởng giáo du ̣c của Fukuzawa Yukichi: “Tìm hiểu tư tưởng duy tân về giáo dục của Fukuzawa Yukichi” Nội dung của luận văn tập

trung bàn về những vấn đề có tính then chốt là tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi với nội dung n ổi bâ ̣t như : Mục đích giáo dục, nguyên tắc tiến hành giáo d ục, nội dung giáo du ̣c và phương pháp giáo dục của ông Luận văn đã trình bày sự ảnh hưởng tư tưởng giáo dục của ông đối với

Trang 11

xã hội Nhật Bản, tuy nhiên chưa đề cập đến sự ảnh hưởng tư tưởng giáo dục của ông tới các nhà tư tưởng Việt Nam đương thời

Năm 2013, Luận văn: “Ảnh hưởng tư tưởng cải cách giáo dục từ thời Minh Trị (Meiji) Nhật Bản đến tư tưởng giáo dục của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục” của tác giả Ngô Bích Đào Đã làm nổi bật nội dung cải

cách giáo dục Minh Trị duy tân trong đó có Arinori (Sâm Hữu Lễ) và Fukuzawa Yukichi (Phúc Trạch Dụ Cát) Tuy nhiên ở luận văn chưa có sự tách biệt tư tưởng giáo dục của hai ông

Năm 2013, tư tưởng giáo d ục của Fukuzawa Yukichi được tác giả Nguyễn Tiến Lực xuất bản một cuốn sách trình bày về tư tưởng cải cách giáo dục của Fukuzawa Yukichi Tuy nhiên, tác giả so sánh tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi với nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ ở nước ta

Đó là cuốn “Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ - Tư tưởng cải cách giáo dục”, Nxb Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh Hai ông có sự tương

đồng về thời đại, về đất nước, về tình hình thế giới bởi cả hai sống trong một giai đoạn lịch sử Từ việc so sách hai nhà tư tưởng về cải cách giáo dục thông qua đó thể hiện nội dung cải cách giáo dục của Fukuzawa Yukichi Đặc biệt là trong chương 2 đã giới thiệu tư tưởng cải cách giáo dục của Fukuzawa Yukichi một cách cụ thể

Năm 2015, trong cuốn “Nhật Bản duy tân 30 năm” của Đào Trinh

Nhất là cuốn sách được xem như cẩm nang để tìm hiểu về đất nước, con người và văn hóa Nhật Bản Cuốn sách nghiên cứu về nguồn gốc của công cuộc duy tân ở Nhật Bản và sự lột xác thần kỳ của Nhật Bản Cuốn sách nghiên cứu về Fukuzawa Yukichi một cách khái lược, chưa sâu sắc và trình bày được tổng quan về cuộc đời và sự nghiệp giáo dục của Fukuzawa Yukichi

b Các công trình nghiên cứu về tư tưởng giáo dục của Phan Bội Châu

Trang 12

Tư tưởng của Phan Bội Châu được đề cập trong một số công trình như:

Năm 2000 trên tạp chí Triết học, tác giả Nguyễn Văn Hòa có bài

viết: “Vấn đề giáo dục trong tư tưởng của Phan Bội Châu”, số 1, tr 39 -

40 Đã đề cập đến tư tưởng giáo dục của Phan Bội Châu một cách khái quát được thể hiện trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu

Năm 2004, một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về tư tưởng Việt Nam cận đại là GS Chương Thâu Ông là người dành nhiều công sức

và tâm huyết của mình nghiên cứu về Phan Bội Châu Cuốn sách “Nghiên cứu về Phan Bội Châu”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Qua đó, ông phân

tích về con người, sự nghiệp và những tư tưởng chính trị của Phan Bội Châu qua các thời kỳ hoạt động của Phan Bội Châu

Năm 2008, tác phẩm “Tư tưởng Triết học và chính tri ̣ c ủa Phan Bội Châu” tác giả Nguyễn Văn Hòa , Nxb Chính trị quốc gia , Hà Nội Tác

phẩm làm nổi bâ ̣t và cu ̣ thể tư tưởng về con người của Phan Bô ̣i Châu trong đó có nô ̣i dung giáo du ̣c và đào ta ̣o con người

Năm 2008, tác phẩm “Những hoạt động của Phan Bội Châu ở Nhật Bản (1905 - 1909)” của Nguyễn Tiến Lực, Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ

Chí Minh Tác giả giới thiệu những hoạt động của Phan Bội Châu trong thời kỳ ở Nhật Bản qua đó cho ta thấy từ ảnh hưởng tư tưởng giáo dục của các nhà giáo dục Nhật Bản mà Phan Bội Châu có sự chuyển biến trong tư tưởng giáo dục của mình

Năm 2013, công trình được viết thành sách phải kể đến cuốn: “Tư tưởng Phan Bội Châu về con người” của PGS TS Doãn Chính - TS Cao

Xuân Long Các tác giả đã trình này một cách cơ bản và có hệ thống về tư tưởng giáo dục Phan Bội Châu gồm những nội dung cơ bản đó là những quan điểm cơ bản của tư tưởng giáo dục con người nhằm mục đích giải phóng con người, phát triển giáo dục dựa trên cơ sở yêu nước

Trang 13

Tóm lại, những tác giả và các tác phẩm trên đây đã có những cách tiếp cận khác nhau, có những đánh giá trực tiếp, sâu sắc về nội dung tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi và của Phan Bội Châu Song nhìn chung chưa có một công trình nào đề cập rõ đến ý nghĩa của tư tưởng giáo dục Fukuzawa Yukichi đối với tư tưởng giáo dục của Phan Bội Châu Chính vì vậy, luận văn tập trung tìm hiểu và nghiên cứu Ý nghĩa tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi đối với tư tưởng giáo d ục của Phan Bội Châu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Làm rõ nội dung tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi, từ đó phân tích ý nghĩa của nó đối với tư tưởng giáo dục của Phan Bội Châu

- Nhiệm vụ:

+ Khái lược về những điều kiện kinh tế - chính trị, tiền đề văn hóa -

xã hội và tiền đề tư tưởng ảnh hưởng tới cuộc đời và sự nghiệp của Fukuzawa Yukichi

+ Tìm hiểu tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi qua một số tác phẩm của ông

+ Phân tích những ý nghĩa của tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi tới sự chuyển biến tư tưởng giáo dục của Phan Bội Châu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi và ý nghĩa của nó đối với sự chuyển biến tư tưởng giáo dục của Phan Bội Châu

- Phạm vi: Luận văn tập trung tìm hiểu tư tưởng về giáo dục trong một số tác phẩm của Fukuzawa Yukichi và sự chuyển biến trong tư tưởng

về giáo dục Phan Bội Châu qua các tác phẩm của ông

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; Quan điểm và những chính sách của Đảng và Nhà nước ta về giáo

Trang 14

dục Đồng thời luận văn tham khảo và kế thừa một số sách tham khảo, những công trình, bài viết của những nhà chuyên môn về vấn đề liên quan

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm công cụ để khái quát nội dung Đồng thời, luận văn sử dụng các phương pháp trừu tượng hóa và khái quát hóa, phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử

6 Đóng góp của đề tài

Nghiên cứu ý nghĩa tư tưởng giáo dục Fukuzawa Yukichi sự chuyển biến tư tưởng giáo dục của Phan Bội Châu

7 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả của nghiên cứu luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm những luận điểm, các vấn đề lí luận, vấn đề thực tiễn về giáo dục trong một số các tác phẩm của Fukuzawa Yukichi Và ý nghĩa của quan điểm trên tới tư tưởng giáo dục của Phan Bội Châu Đồng thời, luận văn cũng là tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho học sinh, sinh viên quan tâm đến những vấn đề

có liên quan trong luận văn

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài: gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 15

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH XÃ HỘI NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM

CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1 Nhật Bản cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

1.1.1 Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội

Nhật Bản là một quần đảo hình vòng cung hẹp, dài khoảng 3000km, nằm ở cực đông lục địa châu Á, đồi núi chiếm 70% diện tích cả nước Nhật Bản là đất nước nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội thường xuyên xảy ra động đất sóng thần Những điều kiện tự nhiên trên đã ảnh hưởng quan trọng đến lịch sử hình thành và phát triển của đất nước Nhật Bản

Về kinh tế: Đất nước Nhật Bản dưới sự cai trị của chính quyền Tokugawa đã tạo nên những điều kiện hết sức thuận lợi cho các ngành kinh

tế phát triển Sau một thời gian mở cửa đẩy mạnh quan hệ với nước ngoài đến năm 1630, chính quyền Tokugawa đã thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng chỉ cho phép một số lượng hạn chế tàu buôn Hà Lan, Trung Quốc được tiếp tục đến giao thương Nhờ vào chính sách đó mà Nhật Bản

đã thoát khỏi sự lệ thuộc vào hệ thống thương mại quốc tế và từng bước vươn lên thành một nước tự chủ về kinh tế

Nhật Bản là một nước châu Á, cơ sở kinh tế chủ yếu dựa vào sản phẩm nông nghiệp tự nhiên nên chính quyền Mạc phủ luôn coi trọng vai trò của ngành kinh tế này và thực thi nhiều chính sách tích cực nhằm khuyến khích ngành kinh tế nông nghiệp phát triển Tuy nhiên, trong nông nghiệp vẫn dựa trên quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu Địa chủ bóc lột nhân dân lao động rất nặng nề chiếm tới 50% số thu hoa lợi Tình trạng mất mùa, đói kém liên tiếp xảy ra làm cho lớp nông dân nghèo bị bần cùng hóa phải bán đất cho địa chủ hoặc thương nhân và trở thành nông dân tự do

Đối với kinh tế công thương nghiệp cũng có bước phát triển đáng kể Các thành thị, hải cảng, kinh tế hàng hóa phát triển, công trường thủ công xuất hiện ngày càng nhiều khiến nền kinh tế hàng hóa của Nhật Bản phát

Trang 16

triển mạnh Đến cuối thời Edo, các ngành thủ công nghiệp thu hút 20% lực lượng lao động trên toàn quốc Nhờ sự chuyên môn hóa và sự đầu tư máy móc kỹ thuật, một số mặt hàng thủ công của Nhật Bản lúc đó đã đạt đến trình độ tinh xảo nổi tiếng thế giới như: tơ lụa, luyện kim, đồ gốm sứ, sơn mài

Việc hình thành một đội ngũ thương nhân chuyên nghiệp là một nhân tố quan trọng khác nữa thúc đẩy kinh tế phát triển Thương nhân bao gồm rất nhiều loại Loại có thế lực lớn nhất (Tonya) là những người kinh doanh lớn có quyền lợi gắn chặt với giới chính trị Họ thường mua hàng từ các vùng sản xuất, công xưởng rồi bán lại cho các thương nhân trung gian (Nakagai) và từ đó lại phân chia cho những người bán lẻ, bán dạo Bên cạnh tầng lớp Nakagai còn có một loại thương nhân đặc biệt khác nữa là Nakadachi - Nin Họ là những thương nhân chuyên mua đi bán lại giữa các thương nhân khác với nhau Các đại doanh thương như gia đình Mitsui, Konoike, Yodoya đã thâu tóm nhiều lĩnh vực kinh tế ở Nhật Bản thời bấy giờ

Sự phát triển của các thành thị với tư cách là các trung tâm kinh tế là nhân tố quan trọng tạo nên diện mạo mới trong xã hội Nhật Bản Vào thời Edo, Nhật Bản có tới 200 thành thị và cảng thị Trong các thành thị đó, tầng lớp thương nhân ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế Thông qua các hoạt động kinh doanh, nhiều thương nhân đã tích lũy được nguồn của cải lớn và trở thành một lực lượng có vị thế vững chắc trong xã hội Đây là những mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển nhanh chóng

Thời Minh Trị, chính quyền tiến hành những cải cách kinh tế, khuyến khích phát triển sản xuất Những cơ chế kinh tế mang tính chất phong kiến bị hủy bỏ nhắm thiết lập một nền kinh tế hiện đại Để hỗ trợ cho việc xây dựng một nền công nghiệp hiện đại, hệ thống giao thông và thông tin liên lạc được mở mang hoặc xây dựng mới Năm 1869, Nhật Bản

Trang 17

khánh thành hệ thống điện tín Tokyo -Yokohama Ngành bưu chính cũng nhanh chóng được tổ chức để đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại Năm

1871, Nhật Bản thiết lập đường bưu chính giữa Tokyo và Osaka Vào một năm sau, hệ thống bưu chính đã được áp dụng trên quy mô toàn quốc Giá tem cũng được thống nhất giữa các vùng kể từ năm 1885

Về giao thông, đường xe lửa đầu tiên của Nhật Bản nối Tokyo với Yokohama khánh thành vào năm 1872 do dự giúp đỡ của các chuyên gia Anh Vào năm 1874, tuyến xe lửa thứ hai từ Osaka đi Kobe đã hoàn thành Năm 1889, toàn bộ tuyến đường Tokaido nổi tiếng nối liền Tokyo với Kobe được đưa vào sử dụng Đường biển cũng được chú trọng đầu tư Tổng cộng đến năm 1893, Nhật Bản đã có hơn 2.000 dặm đường xe lửa, 4.000 dặm đường điện thoại và 100.000 tấn trọng tải tàu biển chạy bằng hơi nước Hàng ngàn xí nghiệp công nghiệp có từ 10 đến 20 công nhân trở lên Các ngành công nghiệp chè, thuốc lá, đồ sứ và đặc biệt ngành dệt là ngành phát triển với tốc độ diễn ra nhanh chóng

Cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế nói chung, chính phủ đã

tổ chức lại hệ thống tài chính, thiếp lập chế độ tiền tệ hiện đại Ngân sách lúc đầu chính phủ chủ yếu tiếp thu từ nguồn thuế đất theo chế độ tô thuế trước đây của Mạc phủ Năm 1871, chính phủ ban hành chế độ tiền tệ mới của Nhật Bản và thiết lập hệ thống ngân hàng quốc gia theo mô hình của Hoa Kỳ (1872) Năm 1873, Ngân hàng quốc gia đầu tiên được thành lập Những thành tựu trong lĩnh vực kinh tế đem lại là bước chuẩn bị hết sức quan trọng, là sự tích lũy dần về lượng để tạo tiền đề cho sự thay đổi về chất trong công cuộc hiện đại hóa đất nước của Nhật Bản sau này

Về chính trị: Đến giữa thế kỷ XIX, Nhật Bản vẫn là quốc gia phong kiến Nhà vua được tôn là Thiên hoàng có vị trí tối cao nhưng quyền hành lại thuộc về Tướng quân (Shogun) Nhật Bản dưới sự trị vì của dòng họ Tokugawa suốt 300 năm (XVII - XIX) không hề có một cuộc chiến tranh nào chạm tới cuộc sống thanh bình của người dân nước này Vì chính

Trang 18

quyền Tokugawa thực thi chính sách “Tỏa quốc” (Sakoku) đóng của đất

nước từ chối mọi sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài

Trong khi đó, thuộc địa - vấn đề xuất hiện ngay từ những ngày đầu tích lũy tư bản chủ nghĩa vào thế kỷ XV - XVI nay đã trở thành một nhu cầu cấp thiết của các nước này, vì vậy hầu hết khu vực Á - Phi nhanh chóng bị cuốn vào cơn lốc tranh giành thuộc địa của các nước Âu - Mỹ Nước Trung Hoa khổng lồ đã bị chia năm xẻ bảy bởi các nước đế quốc Nhật Bản cũng bị đặt trước nguy cơ tương tự vào giữa thế kỷ XIX, nền độc lập được bảo toàn hơn hai thế kỷ dưới chính quyền Mạc phủ Tokugawa nay bắt đầu bị đe dọa

Nhiều cường quốc Anh, Pháp, Nga, Mỹ sau khi xâm lược các nước châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc và mục tiêu tiếp theo các nước này hướng tới là Nhật Bản Nga là cường quốc châu Âu đầu tiên đến yêu cầu Nhật Bản

mở cửa để buôn bán sau đó là các nước như Anh, Pháp Tuy nhiên, Hoa Kỳ

mới trở thành quốc gia quyết định trong việc phá bỏ chính sách “Tỏa quốc”

đưa Nhật Bản hội nhập với thế giới bên ngoài

Ngày 3/6/1853, Edo đứng trước một bước ngoặt lớn được đánh dấu khi đoàn tàu chiến của hải quân Mỹ do đô đốc M Perry dẫn đầu vào vịnh Tokyo để trao bức thư của tổng thống Mỹ đòi Nhật Bản mở cửa Một hiệp định theo yêu cầu của Mỹ đã được ký kết vào mùa xuân năm sau tại Kanagawa Trong khi đó, các nước tư bản phương Tây nhân lúc tình hình Nhật Bản rối ren đã nhảy vào gây áp lực buộc Nhật Bản phải mở cửa cho

họ vào tự do buôn bán Nhật Bản đứng trước hai sự lựa chọn: Một là, tiếp tục con đường trì trệ, bảo thủ để các nước đế quốc xâu xé; Hai là, canh tân, cải cách xóa bỏ chế độ phong kiến đưa Nhật Bản hòa nhập với nền kinh tế phát triển hiện đại phương Tây

Ngày 31/3/1854, Hoa Kỳ liên tục dùng vũ lực đến gây hấn khiến Mạc phủ phải ký hiệp ước Kanagawa với bốn điều khoản chính bất lợi thuộc về Nhật Bản như: Một là, Nhật Bản sẽ cung cấp lương thực, chất đốt

Trang 19

cho tàu thuyền Mỹ; Hai là, hai bên hứa cứu hộ lẫn nhau mỗi khi có tàu thuyền gặp nạn; Ba là, Nhật Bản thừa nhận việc Mỹ gửi lãnh sự đến đóng tại hai cửa biển Shimoda và Hakodate cho Hoa Kỳ vào buôn bán; Bốn là, Nhật Bản dành cho Hoa Kỳ quyền quốc gia được ưu đãi đặc biệt Sau Hoa

Kỳ đến lượt Anh, Pháp, Đức đòi Nhật Bản phải mở cửa và ký những hiệp ước bất bình đẳng khác Việc ký kết một loạt hiệp ước mở đã chứng tỏ rằng chính sách bế quan tỏa cảng của Nhật Bản đã chính thức chấm dứt Người Nhật đã phá vỡ lệ của riêng mình để hòa nhập vào cộng đồng quốc tế Sự kiện năm 1853 đã thực sự trở thành một cú hích đưa Nhật Bản đến những biến đổi to lớn sau này

Bên cạnh áp lực của các cường quốc bên ngoài thì bản thân trong xã hội Nhật Bản nảy sinh mâu thuẫn ngày càng sâu sắc Nhiều người cho rằng Mạc phủ cướp quyền của Thiên Hoàng đã làm cho nước Nhật yếu đi Vì vậy họ phát động một phong trào đấu tranh chống Tướng quân đòi lại

quyền hành cho Thiên hoàng dưới khẩu hiệu “Tôn vương nhương di” Tình

hình Nhật Bản phức tạp hơn bao giờ hết Liên tiếp các vụ ám sát người nước ngoài xảy ra trong những năm 1895 - 1862, các tàu nước ngoài cũng

bị tấn công

Trước sức mạnh của phe tôn vương, tướng quân đương thời và cũng

là tướng quân cuối cùng của Mạc phủ là Yoshinobu thỏa hiệp bằng cách trả lại thực quyền cho Thiên Hoàng tháng 3/10/1867 với hi vọng khi tham gia chính phủ mới thì quyền lợi của Tokugawa được duy trì Tuy nhiên, kết cuộc phía Tokugawa thấy mình bị mất quá nhiều quyền lợi nên đã đem quân chống lại phía Thiên Hoàng

Trước khả năng nước ngoài tìm cách thôn tính Nhật Bản, những nhà lãnh đạo hai bên Mạc phủ và Thiên Hoàng phải có quyết định để tránh tổn

thất lớn cho đất nước Lịch sử đã ghi lại sự kiện này bằng bốn chữ “Vô huyết khai thành” (mở cửa thành đầu hàng để tránh đổ máu) Những người

tài giỏi của thời Tokugawa được chính quyền Minh Trị mời cộng tác trong

Trang 20

bộ máy quản lý của nhà nước và nhiều lĩnh vực khác Như vậy, chế độ Mạc phủ và sự cầm quyền dòng họ Tokugawa chính thức cáo chung Nhật Bản bước sang một trang sử mới

Đối điện với tình hình rối loạn trong nước và sự đe dọa của các nước phương Tây, Thiên hoàng Minh Trị (Meiji) mới lên ngôi, đã thực hiện một cuộc Duy tân năm 1868 với mục tiêu chống lại sự áp bức của người nước

ngoài còn được gọi là “Minh Trị duy tân” Cuộc cải cách này đã đưa Nhật

Bản phát triển theo con đường của các nước phương Tây, trở thành một nước đế quốc duy nhất ở châu Á Thiên hoàng Minh Trị đã thực hiện một loạt những cải cách tiến bộ nhằm đưa Nhật Bản thoát khỏi tình trạng một nước phong kiến lạc hậu trên tất cả lĩnh vực:

Về chính trị: Nhật hoàng tuyên bố thủ tiêu chế độ phong kiến Mạc

phủ, lập chính phủ mới trong đó đại biểu của tầng lớp quý tộc tư sản hóa đóng vai trò quan trọng Thực hiện quyền bình đẳng giữa các công dân Ban hành Hiến pháp 1889, chế độ quân chủ lập hiến được thiết lập

Về kinh tế: Chính quyền đã tiến hành những cải cách kinh tế, khuyến

kích phát triển sản xuất Những cơ chế kinh tế mang tính chất phong kiến

bị hủy bỏ để thiết lập một nền kinh tế hiện đại trên mọi phương diện Chính phủ thi hành các chính sách thống nhất tiền tệ, thống nhất thị trường, thiết lập chế độ tiền tệ thống nhất (đồng Yên), phát triển chủ nghĩa tư bản đến tận các vùng nông thôn, xóa bỏ sự độc quyền ruộng đất của giai cấp phong kiến

Để xây dựng một nền công nghiệp hiện đại, chính phủ cho xây dựng nhiều công trình, đường sá đặc biệt là đường sắt, cầu cống phục vụ giao thông liên lạc Giao thông đường biển cũng được chú trọng đầu tư phát triển Cải cách ruộng đất cũng được triển khai với những chính sách tiến

bộ, nổi bật so với thời Mạc phủ Trước hết, chính phủ quy định về quyền sử dụng ruộng đất, quy định thuế ruộng đất và bước đầu đã thu được những thành công nhất định

Trang 21

Về xã hội: Chính phủ bãi bỏ hệ thống lãnh địa và danh hiệu của các quý tộc Đồng thời, tuyên bố “tứ dân bình đẳng”, nghĩa là bốn tầng lớp

gồm võ sĩ, nông dân, thợ thủ công và thương nhân giờ đây không còn bị phân biệt

Về quân sự: Quân đội được tổ chức huấn luyện theo kiểu phương

Tây, chế độ nghĩa vụ quân sự thay cho trưng binh, chú trọng công nghiệp đóng tàu chiến, tiến hành sản xuất vũ khí đạn dược và mời các chuyên gia quân sự nước ngoài cố vấn và truyền thụ kiến thức cho đội ngũ quân binh

Về giáo dục: Chính quyền Minh Trị đã quyết tâm xây dựng nền giáo

dục theo mô hình phương Tây Việc cưỡng bức giáo dục được thi hành Bất

kể nam hay nữ, khi đến tuổi đều phải tới trường học ít nhất là ba năm Cùng với việc xây dựng hệ thống trường học, hàng ngàn thanh niên ưu tú được lựa chọn gửi ra nước ngoài học tập để tiếp thu kiến thức của phương Tây hiện đại Rất nhiều người trong số họ sau này trở thành những quan chức chủ chốt trong chính quyền Minh Trị

Bên cạnh đó, hàng ngàn giáo sư và chuyên gia kỹ thuật thuộc các lĩnh vực khác nhau như chính trị, luật pháp, quân sự, ngoại giao, kinh tế, tiền tệ, công nghiệp, giao thông, giáo dục của nước ngoài đã được mời sang giảng dạy tại Nhật Bản với một mức lương cao gấp ba lần so với lương của thủ tướng chính phủ khi đó

Bằng công cuộc cải cách của mình, chính phủ Minh Trị đã thực sự thoát khỏi nguy cơ bất ổn về tình hình chính trị - xã hội trong nước và bắt đầu nhận thấy phải nhanh chóng thực thi những cải cách mới về chế độ chính trị - xã hội Chính phủ Minh Trị cũng tích cực hơn trong việc đề ra những chính sách nhằm hiện đại hóa nền kinh tế Nhật Bản đưa Nhật Bản trở thành một nước siêu cường về kinh tế sau này

Về xã hội: Chính quyền Tokugawa duy trì chế độ đẳng cấp: Sĩ, nông, công, thương Đến cuối thế kỷ XIX, xã hội Nhật Bản ngày càng chuyển động với vận tốc lớn Sự tồn vong của dân tộc trước hiểm họa phương Tây

Trang 22

thúc đẩy toàn bộ các đẳng cấp xã hội tham gia vào trào lưu cải cách, lật đổ chế độ Mạc phủ, thiết lập nên nhà nước tư sản đầu tiên ở châu Á Trong khi nông dân, thợ thủ công hãy còn chưa đủ sức lực và lực lượng vươn lên nắm ngọn cờ lãnh đạo, giới thương nhân, đặc biệt là thương nhân tài chính có quyền lợi gắn liền với chế độ Mạc phủ còn do dự hoặc bị chôn vùi dưới làn sóng cải cách thì các Samurai với ý thức dân tộc và tinh thần hiệp sĩ Nhật Bản đã đóng vai trò quan trọng nhất trong công cuộc cải cách đất nước

Thời Minh Trị xã hội Nhật Bản có những biến đổi to lớn đặc biệt đó

là sự thay đổi cơ cấu xã hội Chính quyền Minh Trị thực hiện một trong những nhiệm vụ trước tiên là xóa bỏ sự bất bình đẳng giữa các giai cấp, sự cách biệt lớn giữa các đẳng cấp Trong đó, việc xỏa bỏ những đặc quyền của tầng lớp võ sĩ là một trong những vấn đề khó khăn và nguy hiểm hơn

cả Đây là tầng lớp xã hội đông đảo vốn độc quyền về sức mạnh quân sự, chính trị và được hưởng các đặc quyền có tính chất cho truyền con nối Nếu tiếp tục duy trì bổng lộc của họ thì ngân sách quốc gia sẽ khánh kiệt Chính quyền đã định ra tên gọi cho bốn tầng lớp mới trong xã hội là Hoa tộc (Kazoku), Sĩ tộc (Shizoku), Tốt tộc (Sotsuzoku), Bình dân (Heimin) Các

võ sĩ của Daimyo được gọi là Shizoku Đồng thời nông, công thương được gọi chung là Heimin Tốt tộc gồm các võ sĩ lớp dưới do không còn một nghề cụ thể nên sau ít năm hầu hết cũng chuyển thành tầng lớp bình dân

Nhìn chung trong quá trình cải cách, tầng lớp sĩ tộc phải hy sinh nhiều nhất Sau khi bị tước bỏ quyền đeo kiếm, chế độ bổng lộc của họ cũng dần dần bị cắt để giảm bớt gánh nặng cho nhà nước Vào năm 1873, chính phủ cho phép những sĩ tộc nghèo sẽ được lĩnh một khoản lương hưu trung bình bằng 1/10 số lương bổng lộc trước kia Vì vậy, họ trở nên quá nghèo túng Trên thực tế, các cựu võ sĩ phải rời khỏi địa vị trước đây và bị ném vào một thế giới mới, phải tự tìm kiếm kế sinh nhai Để đảm bảo ổn định xã hội, chính phủ tìm mọi cách để ổn định đời sống kinh tế cho họ Một bộ phận đáng kể được chính phủ chuyển thành nhân viên cảnh sát

Trang 23

hoặc tham gia vào các trường quân sự mới thành lập Một số khác chuyển sang lĩnh vực hoạt động công nghiệp, thương mại hoặc các nghề chuyên môn khác Tuy nhiên, đại đa số trở thành người lao động

Việc xóa bỏ tầng lớp võ sĩ và cùng với nó là một loạt cải cách trong các lĩnh vực khác nhau đã đưa lại những biến đổi có chiều hướng tốt Điều

đó, cho thấy chính quyền Minh Trị đã đưa được ra những chiến lược đúng đắn nhằm mục tiêu đưa Nhật Bản trở thành đất nước hùng cường và phát triển sánh ngang với các nước phương Tây hiện đại

1.1.2 Tiền đề văn hóa tư tưởng

Nhật Bản vào thời Mạc phủ Tokugawa là thời kỳ phát triển đa dạng

về văn hóa - tư tưởng, giáo dục Trong lĩnh vực tư tưởng Nhật Bản không

có hiện tượng độc tôn về mặt tư tưởng Chính vì vậy, nền văn hóa của Nhật Bản có tính chất mở, người Nhật sớm hình thành phong cách độc lập, tự chủ, duy lý

Nhật Bản là một nước theo chế độ phong kiến để nâng cao vị thế cho đẳng cấp võ sĩ, chính quyền Edo đã có những chủ trương tích cực trong việc phát triển giáo dục Từ những cơ sở giáo dục vốn có từ trước, đến thời Edo việc học tập ngày càng trở thành nhu cầu bức thiết của nhiều đẳng cấp

xã hội Để duy trì trật tự xã hội, khẳng định địa vị của bốn đẳng cấp, Mạc phủ đề cao Nho giáo và lấy học thuyết của Chu Hy là hệ tư tưởng chính thống của giai cấp phong kiến, nhưng trí thức Nho sĩ lại không trở thành một tầng lớp có tính thuần nhất Nhiều học giả Nho giáo đã đi sâu vào việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của Tống nho để vận dụng vào xã hội Nhật Bản Hayashi là một gia tộc có truyền thống Nho học ở Nhật Bản Bản thân Hayashi Razan đã được chính phủ Tokugawa mời làm cố vấn và

là người giao trách nhiệm truyền bá tư tưởng Nho giáo ở Nhật Bản Sau khi ông qua đời, những người trong dòng họ này đã kế truyền cương vị đứng đầu trường Shoheiko, trung tâm nghiên cứu, giảng dạy Nho học lớn nhất Nhật Bản

Trang 24

Hệ thống giáo dục ở Nhật Bản khá đa dạng với nhiều loại hình nhà trường như: Trường học do Mạc phủ thành lập, trường học do các Han quản lý và trường đền, chùa được lập nên cho tất cả các đẳng cấp Một số các môn học mới như: Toán học, thiên văn học, y học, sinh học, vật lý học, khoa học quân sự đã được đưa vào nội dung giảng dạy Với hệ thống giáo dục đa dạng này đã đào tạo nên một đội ngũ trí thức tương đối đông đảo Người dân Nhật Bản lúc đó có tỉ lệ người biết chữ cao so với nhiều nước châu Á đương thời Đây chính là cơ sở quan trọng cho sự phát triển của chế

độ giáo dục Nhật Bản hiện đại cũng như sự thức tỉnh dân tộc vào cuối thế

kỷ XIX

Sau khi Mạc phủ nới lỏng việc du nhập văn hóa phương Tây vào năm 1720 và nhận thấy rõ sức mạnh của phương Tây cùng với sự lạc hậu của Nhật Bản Nên Mạc phủ Edo tìm mọi cách nhanh chóng tiếp cận với văn minh phương Tây, luôn tích cực khuyến khích đào tạo ra những người hiểu biết về khoa học, kỹ thuật, ngôn ngữ phương Tây Do vốn có quan hệ với Hà lan và vì sách, tài liệu của châu Âu đưa vào Nhật Bản hầu hết được viết bằng chữ Hà Lan, nên để hiểu tất cả các nội dung trong sách đó, giới trí thức trẻ bắt đầu học ngôn ngữ của nước này Phong trào học tập Hà Lan ngày càng có ảnh hưởng lớn và được gọi là Lan học (Rangaku) Fukuzawa Yukichi cũng theo ngành Hà Lan học năm 1853 lúc đó ông mới 19 tuổi Hà Lan học thực sự đã trở thành một trào lưu học thuật và tư tưởng mới góp phần tích cực vào công cuộc hiện đại hóa và cuộc đấu tranh về tư tưởng ở Nhật Bản cuối thời cận đại

Về văn hóa, Edo được coi là thời kỳ phát triển, đan xen của đồng thời nhiều khuynh hướng văn hóa Sự khác biệt về địa vị xã hội, tư tưởng cũng như khả năng về kinh tế đã tạo nên văn hóa của mỗi đẳng cấp những phong cách, chuẩn mực, thang bậc giá trị riêng Với vị trí là một đẳng cấp lãnh đạo, nắm giữ quyền lực chính trị và kinh tế, trên một số phương diện, dòng văn hóa của đẳng cấp võ sĩ thời Edo vẫn kế thừa nhiều thành tựu của

Trang 25

văn hóa truyền thống Trong điều kiện xã hội mới, dòng văn hóa này có khuynh hướng trở lại phồn thịnh, lộng lẫy được biểu hiện trong kiến trúc ở khu lăng mộ, đền thờ, thành trì Những công trình kiến trúc đó là sự thể hiện sinh động quyền lực của giới võ sĩ cũng như khung cảnh một thời kỳ

mà kinh tế, văn hóa có nhiều khởi sắc Nghệ thuật hoa viên, trà đạo, kịch được giới võ sĩ ưa chuộng, hội họa tạo nên một bản sắc văn hóa riêng, văn hóa thị dân năng động, khoáng đạt đầy sức sống ở Nhật Bản

Bên cạnh đó, còn có văn hóa của tầng lớp bình dân, từ việc tiếp nhận

tư tưởng của Phật giáo Văn hóa bình dân được coi là thiếu lý tưởng, tự nhiên, phóng khoáng nhưng chính đó là sự thể hiện phong tục vốn có cùng những ước vọng trần thế của đại đa số đẳng cấp bình dân Tinh thần này được thể hiện qua các tác phẩm văn học của tầng lớp bình dân

Trải qua hơn hai thế kỷ phát triển cuộc sống, văn hóa của giới bình dân cũng chịu ảnh hưởng từ nền văn hóa, tư tưởng của đẳng cấp võ sĩ xuất hiện một đội ngũ trí thức xuất thân từ tầng lớp bình dân Họ có đóng góp quan trọng cho nền văn hóa của Nhật Bản như về toán học, địa lý Có thể nói, những đóng góp của các học giả đó không chỉ nâng cao vị thế của dòng văn hóa bình dân mà còn góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa, kho tàng tri thức của Nhật Bản Sự xuất hiện của đồng thời nhiều khuynh hướng học thuật, tư tưởng mới thời Edo đã phá vỡ thế độc tôn của Khổng học, coi Trung Hoa là nguồn tiếp thu văn hóa duy nhất Trước sự đấu tranh của các dòng tư tưởng và trước yêu cầu lịch sử, dân tộc Nhật Bản

đã quyết tâm thực hiện thành công chủ trương cải cách sớm trở thành cường quốc trong khu vực

Nhật Bản cuối thế kỷ XIX xuất hiện nhiều luồng tư tưởng mới du nhập đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự chuyển biến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của chính quyền Nhật Bản nói riêng và người dân Nhật Bản nói chung Từ phong trào học tiếng Hà Lan diễn ra sôi nổi đến phong trào học các ngoại ngữ khác lan rộng rãi trong

Trang 26

những người học, những luồng tư tưởng tiến bộ phương Tây tràn vào Nhật Bản, đem đến những nhân tố mới cho sự hưng khởi về văn hóa trong cộng đồng người dân Nhật Bản

1.2 Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

1.2.1 Tình hình kinh tế, chính trị xã hội

Về kinh tế: Trước khi thực dân Pháp xâm lược, nền kinh tế nước ta

căn bản có tính chất tự nhiên với một nền nông nghiệp tự cung tự cấp Thủ công nghiệp tuy có nhiều ngành, đông thợ, phân bố khắp nơi và kỹ thuật khá tinh xảo nhưng do nền kinh tế sản xuất hàng hóa chưa phát triển nên chỉ hạn chế ở mức phường bạn, bó hẹp trong từng phường nhỏ chứ chưa hình thành các xưởng thủ công lớn Thương nghiệp chỉ buôn bán nhỏ làm nhiệm vụ trao đổi hàng hóa trong từng vừng, từng mùa Bên cạnh đó, chính sách thuế khóa nặng nề và nạn hối lộ hoành hành, giặc dã triền miên nên

thương nghiệp kém phát triển

Nền kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc của các hộ tiểu nông tồn tại trong phạm vi làng xã kìm hãm mọi sự phát triển Nhìn chung, kinh tế nông nghiệp dưới triều Nguyễn khá đa dạng, phong phú nhưng không vượt ra khỏi phương thức sản xuất truyền thống Trong khi đó thiên tai, mất mùa, dịch bệnh thường xảy ra liên miên ảnh hưởng đến cuộc sống của người nông dân lao động

Nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển nhà Nguyễn lập nhiều đồn điền khẩn hoang và khuyến khích nhân dân khai hoang phục hóa Tuy nhiên, chính sách này không đem lại hiệu quả như mong muốn Vấn đề ngày càng trở nên cấp bách hơn khi diện tích đất bỏ hoang tăng giảm thất thường Bên cạnh đó, do thiếu kết hợp và quy hoạch, do tác động của môi trường gây lụt lội, đê vỡ liên tục xảy ra Từ năm 1802 - 1858 cả nước phải chịu 38 lần mưa bão lớn gây lụt lội lớn, trong đó có 16 lần vỡ đê Kéo theo nạn mất mùa, đói kém thường xuyên xảy ra khiến cho đời sống nhân dân lao động càng thêm nghèo túng và bi đát Đến cuối thế kỷ XIX, Việt Nam

Trang 27

vẫn là một quốc gia với nền sản xuất công nghiệp chậm tiến so với thế giới phương Tây

Về thủ công nghiệp: Dưới triều Nguyễn thủ công nghiệp giữ vị trí vô cùng quan trọng, chịu trách nhiệm chế tạo mọi thứ cần dùng cho bộ máy chính quyền phong kiến như đóng thuyền, đúc tiền, đúc súng Thời Minh Mạng, nhiều máy móc mang tính mới mẻ đã được chế tạo như máy cưa chạy bằng sức trâu và sức nước, máy xẻ gỗ chạy bằng sức trâu Mặc dù thủ công nghiệp có bước phát triển nhưng phương thức sản xuất hầu như không thay đổi Các làng thủ công vẫn gắn liền với nông nghiệp, không hình thành các phường với quy chế riêng nên kìm hãm sự phát triển của thủ công nghiệp, mặt khác chính sách của nhà nước thiếu khuyến khích các ngành thủ công nghiệp phát triển Nhà nước giữ độc quyền mua một số sản phẩm như: Sa, lụa là, các thợ thủ công vừa phải đóng thuế thân vừa phải

nộp thuế sản phẩm đặc biệt là các sản phẩm thủ công quý như “dân hai làng Yên Thái, Hồ Khẩu (Hà Nội), hàng năm mỗi người phải nộp 5000 tờ giấy, người già và người tàn tật phải nộp một nửa; dân Bát Tràng (Hà Nội) mỗi năm phải nộp 300 viên gạch lớn; dân làng La Khê (Hà Tây) mỗi năm phải nộp chung cho nhà nước 600 tấn sa các màu ”[42, tr.452] Những

tiến bộ này vẫn chưa kịp tác động vào quá trình phát triển của xã hội Việt Nam Nền thủ công nghiệp của nước ta mang đậm tính chất thô sơ, lạc hậu, chậm tiến so với nền công nghiệp của các nước phương Tây

Về thương nghiệp: Việc trao đổi buôn bán với thương nhân nước

ngoài suy giảm do chủ trương “bế quan tỏa cảng” của triều đình nhà Nguyễn Nhà Nguyễn nắm độc quyền ngoại thương chính sách “bế quan tỏa cảng” hạn chế tới mức thấp nhất mọi quan hệ với các nước phương Tây, kìm hãm sự phát triển của công thương nghiệp tại Việt Nam, “bịt mắt toàn thể nhân dân” trước những sự thay đổi đang diễn ra trên toàn thế giới

Sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng thi hành nhiều chính sách kinh tế nhằm vơ vét, bóc lột triệt để đối với nhân dân ta, những chính

Trang 28

sách đó tập trung vào ba nội dung chính: Một là, về vấn đề bán hàng hóa chúng dùng chính sách độc chiếm thị trường, mua rẻ nông phẩm (chủ yếu

là gạo, tơ tằm) và bán đắt các sản phẩm công nghiệp cho nhân dân, độc quyền ngoại thương; Hai là, độc quyền các ngành kinh doanh quan trọng từ khai thác mỏ, giao thông đến làm muối, nấu rượu, độc quyền ngân hàng và đầu tư vào các ngành có lợi để vơ vét thuộc địa để xuất khẩu; Ba là, lợi dụng quyền thống trị về chính trị duy trì bộ máy quan liêu, cường hào và những luật lệ, chính sách sưu thuế phong kiến để ra sức chiếm đoạt ruộng đất tạo ra các vùng sản xuất hàng xuất khẩu (cao sư, cà phê, gạo ), tăng cường bóc lột tô thuế sưu dịch, làm phá sản nông dân và thợ thủ công, tạo

ra nguồn nhân công rẻ mạt phục vụ cho việc khai thác thuộc địa của chúng

Kết quả của những chính sách đó là nền kinh tế tự nhiên cổ xưa bị phân tán, quá trình lưu thông hàng hóa phát triển với tốc độ nhanh, tỷ trọng kinh tế tư bản tăng nhanh, nước ta bị kéo vào quỹ đạo chủ nghĩa tư bản Việc mở mang giao thương buôn bán phát triển kinh tế hàng hóa tạo ra một thị trường thống nhất từ Bắc chí Nam, mặt khác tạo thêm cơ sở củng cố sự thống nhất của dân tộc được hình thành từ lâu nhưng chưa được vững chắc

Nó phá bỏ chính sách “bế quan tỏa cảng” của triều đình nhà Nguyễn Tuy

nhiên, mục đích chính của thực dân Pháp không nhằm đưa nước ta tiếp xúc với thế giới, mà trước hết là Đông Á và Châu Âu, đưa nước ta hòa chung vào cuộc sống hiện đại của thế giới, mà ngược lại, thực dân Pháp lại tạo ra một hàng rào thuế quan làm cho Việt Nam phụ thuộc vào Pháp và trở thành cái đuôi của tư bản Pháp

Về chính trị: Trước khi thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam vẫn là một nước phong kiến lạc hậu, đời sống nhân dân hết sức khó khăn các chính sách của triều Nguyễn lúc bấy giờ tỏ ra bất lực trước sự biến đổi của thời cuộc Năm 1802 sau khi đánh bại triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long lập ra nhà Nguyễn Các vua nhà Nguyễn từ Gia Long (1802 - 1819), Minh Mạng (1820 - 1840), Thiệu Trị (1841 - 1847) và

Trang 29

Tự Đức (1848 - 1883) kế tiếp nhau xây dựng và củng cố nền thống trị, bảo

vệ chế độ phong kiến Tuy nhiên, trong hơn nửa thế kỷ tồn tại dưới triều Nguyễn, mọi mặt trong đời sống xã hội Việt Nam hầu như không có sự phát triển nào, trong khi đó tình hình trên thế giới đã có nhiều biển đổi to lớn, mâu thuẫn xã hội sâu sắc làm bùng lên hàng loạt cuộc khởi nghĩa của nhân dân, cuối cùng nước ta trở thành đối tượng xâm lược của các nước phương Tây

Trong trào lưu xâm lược thuộc địa của chủ nghĩa tư bản phương Tây,

từ năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu tiến công quân sự để chiếm Việt Nam Sau khi thực dân Pháp nổ xúng xâm lược nước ta ở Đà Nẵng gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ của nhân dân ta Năm 1883, triều đình Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp thừa nhận sự bảo hộ của chúng trên toàn cõi Việt Nam

Xã hội Việt Nam vốn là một nước thuần phong kiến dần dần trở thành thuộc địa và bị cuốn vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản Pháp

Nhằm khai thác thuộc địa với quy mô ngày càng lớn, thực dân Pháp thiết lập và kiện toàn cơ cấu của bộ máy thống trị từ trung ương đến địa phương, một bộ máy đàn áp nặng nề Thực dân Pháp bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc đấu tranh của nhân dân ta trong biển máu Đi đôi với việc đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân

ta, chúng còn thực hiện những chính sách hết sức thâm độc, chính sách

“chia để trị” đặt ra ba chế độ chính trị khác nhau tương ứng với ba miền

của đất nước (Chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ, chế độ bảo hộ ở Trung Kỳ, chế

độ nửa bảo hộ ở Bắc Kỳ) ; Chính sách “dùng người Việt trị người Việt” của

thực dân Pháp đã gây chia rẽ giữa người miền Bắc với người miền Nam, miền Trung, gây hận thù giữa dân tộc đa số với dân tộc thiểu số, dụ dỗ những phần tử phong kiến đầu hàng, duy trì các tổ chức bộ máy quản lý cũ

kỹ lạc hậu ở các làng xã và bộ máy vua quan phong kiến để làm công cụ bóc lột nhân dân ta

Trang 30

Tình hình đó làm cho mâu thuẫn toàn thể dân tộc Việt Nam với tư bản Pháp xâm lược ngày càng gay gắt Để giải quyết mâu thuẫn đó, đòi hỏi phải huy động sự đồng tâm, hiệp lực của mọi lực lượng yêu nước, tiến bộ vùng dậy dùng bạo lực cách mạng đánh đổ ách thống trị của bọn thực dân Pháp Chính yêu cầu này đã ảnh hưởng và được phản ánh đậm nét trong tiến trình phát triển tư tưởng của các nhà trí thức yêu nước Việt Nam

Về mặt xã hội: Xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn được chia làm hai giai cấp lớn đó là giai cấp thống trị và giai cấp bị trị Trong đó giai cấp thống trị bao gồm vua quan, thư lại trong hệ thống chính quyền và giai cấp địa chủ Giai cấp bị trị bao gồm toàn bộ nông dân, thợ thủ công, thương dân, một số dân nghèo thành thị, lớp người bị lưu đày, nô tỳ cùng gia quyến sống tại các đồn điền Giai cấp thống trị với nhiều cách thức bóc lột

đã làm cho cuộc sống của nhân dân lao động trở lên cùng cực, đói kém,

cũng chính sự áp bức đó nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân đã nổ ra “Theo tính toán của các nhà nghiên cứu dưới triều Nguyễn có đến 500 cuộc khở nghĩa lớn nhỏ các loại, riêng thời Gia Long có khoảng 90 cuộc, thời Minh Mạng khoảng 250 cuộc” [45, tr.475]

Sau thực dân Pháp biến nước ta thành thuộc địa của chúng Việt Nam dưới sự tác động đồng thời của hai phương thức sản xuất, cùng với việc thực thi những chính sách về kinh tế, chính trị và văn hóa giáo dục của thực dân Pháp đã làm cơ cấu, vai trò của các giai cấp trong xã hội Việt Nam có sự phân hóa, biến đổi phức tạp, tạo ra một bộ mặt xã hội mới - xã hội thuộc địa nửa phong kiến

Kết cấu xã hội Việt Nam thời kỳ này có sự đan xen lồng ghép giữa những giai cấp cũ (địa chủ phong kiến, nông dân) với những giai cấp mới, được coi là sản phẩm trực tiếp của chương trình khai thác thuộc địa lần hai (tư sản, tiểu tư sản và công nhân) Mỗi giai cấp trong xã hội Việt Nam thời

kỳ này lại có điều kiện hình thành, địa vị kinh tế, thái độ chính trị khác

Trang 31

nhau nên họ lại chiếm những vị trí khác nhau trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam

Giai cấp địa chủ ra đời từ trước, nay phản bội quyền lợi của nhân dân, phản bội dân tộc làm tay sai cho đế quốc Tuy nhiên, trong giai cấp này lại phân hóa thành các bộ phận khác nhau Đại bộ phận của giai cấp này đi vào con đường thỏa hiệp, đầu hàng thực dân Pháp làm tay sai đắc lực cho chúng quay lưng lại đàn áp, bóc lột nhân dân ta ngày càng thậm tệ

hơn “Sự kết cấu giữa hai lực lượng thực dân và phong kiến đã tạo một lực cản hết sức lớn đối với sự phát triển của xã hội, nó kìm hãm các yếu tố mới” [42, tr.151]

Bộ phận còn lại có thái độ bất hợp tác với thực dân Pháp, quay lưng với thực tế, bi quan với thời cuộc nhưng là để chờ thời, che mắt kẻ địch Đây là lớp người có tinh thần yêu nước, chịu chung số phận với nỗi nhục của nhân dân, nhưng họ bất lực Họ có ít nhiều khả năng đứng về phía nhân dân để chống đế quốc, tán thành độc lập dân tộc

Tầng lớp sĩ phu, mặc dù bị tác động bởi chính sách giáo dục của thực

dân Pháp, nhưng gần cuối thế kỷ XIX họ vẫn đứng vào hàng đầu trong “tứ dân” Từ sau khi khởi nghĩa Hương Sơn thất bại (1896) cho đến cuộc

chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918), tầng lớp sĩ phu có sự phân hóa rõ nét Một số tỏ ra bế tắc, chán nản quay về với cuộc sống điền viên,

vừa giữ trọng được “danh”, vừa giữ trọng được “mệnh” Một số lấy chiêu bài “tùy thời” để ngụy biện cho hành động khuất phục, cúi đầu, ôm chân

liếm gót thực dân Nhưng trái lại, đứng trước cảnh nước mất nhà tan, một

số sĩ phu yêu nước tiến bộ một lòng nêu cao tinh thần yêu nước, kiên quyết chống giặc ngoại xâm, xứng đáng với truyền thống quật cường của dân tộc

và chính họ đóng vai trò lãnh đạo phong trào yêu nước trong giai đoạn quá

độ từ sau phong trào Cần Vương thất bại cho đến khi xuất hiện phong trào cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo

Trang 32

Ngọn lửa bi tráng của Hương Sơn vừa tắt nhưng nó lại thổi bùng lên những ngọn lửa mới sáng chói hơn, mạnh mẽ hơn đó là những cuộc vận động Duy Tân, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa thục, Quang Phục, những phong trào bạo động, những hội kín Tất cả những phong trào đó đều do các sĩ phu yêu nước tổ chức và lãnh đạo Chính họ đã góp phần tích cực vào việc thức tỉnh tinh thần yêu nước của dân tộc Họ đã biết kế thừa những tinh hoa truyền thống của dân tộc, mang một bầu nhiệt huyết, một tinh thần yêu nước rực cháy hăm hở tiếp xúc với những trào lưu tư tưởng

mới qua “Tân thư”, “Tân văn” và qua hình mẫu của các xã hội Nhật Bản,

Pháp Họ đã bền bỉ, kiên trì đưa những tư tưởng mới đó đến với nhân dân Tuy có những hạn chế nhất định bởi hoàn cảnh lịch sử, nhưng họ thực sự là những chiếc cầu nối cho sự chuyển đổi tìm hướng đi lên của dân tộc và họ

có một vị trí xứng đáng trong sự phát triển tư tưởng của dân tộc

Nông dân là thành phần chiếm đại đa số trong xã hội, chiếm khoảng 90% dân số cả nước Dưới ảnh hưởng của cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và những biến đổi của quá trình kinh tế - xã hội, nông dân ngày càng bị bần cùng hóa vì sưu cao thuế nặng Họ bị đế quốc và phong kiến áp bức bóc lột nặng nề và gánh chịu mọi thảm họa của chế độ thực dân phong kiến, đời sống của họ ngày càng túng quẫn, điêu đứng Thực dân Pháp cùng với bè lũ quan lại bù nhìn dùng mọi chính sách hà khắc nhằm xiết chặt ách thống trị, cướp đoạt ruộng đất, tăng thuế cũ, đặt thuế mới, đàn

áp dã man những người chống đối

Nông dân phải sống trong cảnh lầm than khổ cực, một cổ hai tròng

và hai tầng áp bức Họ là một lực lượng hùng hậu mang trong mình truyền thống quật cường bất khuất của dân tộc và là nhân tố chính của cuộc cách mạng Nhưng họ không có khả năng lãnh đạo, bởi vì họ không đại diện cho một phương thức sản xuất tiên tiến Lực lượng hùng hậu này chỉ trở thành quân đội chủ lực đông đảo của cách mạng và tìm ra ánh sáng soi đường cho mình đi đến thắng lợi khi được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Trang 33

Bên cạnh các giai cấp tiêu biểu cho xã hội Việt Nam truyền thống, những giai cấp mới được nảy sinh từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa như giai cấp vô sản và giai cấp tư sản cũng dần dần được hình thành, phát triển Đến cuối những năm 20 của thế kỷ XX, các giai cấp mới đó mới tích lũy đủ về lượng, từng bước trưởng thành bước lên vũ đài chính trị giành quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam

Giai cấp tư sản Việt Nam là giai cấp hình thành sau giai cấp công nhân Giai cấp tư sản Việt Nam trước chiến tranh thế giới thứ nhất mới chỉ

là một tầng lớp nhỏ bé, kinh doanh lẻ tẻ trong một số ngành, chủ yếu là các ngành dịch vụ Sau chiến tranh, nhân đà làm ăn thuận lợi trong chiến tranh

và do sự cạnh tranh của tư bản Pháp có phần được nới lỏng, tư sản Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh muốn vươn lên giành lấy vị trí khá hơn trong nền kinh tế Trên đà phát triển từ một tầng lớp mới trong xã hội, họ đã trở thành một giai cấp trong xã hội và bắt đầu bước lên vũ đài chính trị, góp phần vào phong trào đấu tranh của dân tộc

Song được ra đời và lớn lên ở một nước thuộc địa nửa phong kiến lại

bị đế quốc chèn ép và phong kiến kìm hãm cho nên khi phát triển đến mức

độ nhất định, giai cấp tư sản Việt Nam bị phân hóa thành hai bộ phận: Tư sản mại bản có quyền lợi gắn liền với đế quốc, làm tay sai cho đế quốc, là

kẻ thù của cách mạng; Tư sản dân tộc vừa ra đời đã bị đế quốc chèn ép và

bị phong kiến kìm hãm cho nên thế lực kinh tế của họ rất nhỏ bé, toàn bộ

số vốn của tư sản Việt Nam chỉ bằng 5% số vốn của tư bản nước ngoài Trong hoàn cảnh ấy, thái độ chính trị của tư sản dân tộc Việt Nam mang tính hai mặt: tích cực (ít nhiều có tinh thần dân tộc dân chủ chống đế quốc

và phong kiến) và tiêu cực (thường có khuynh hướng cải lương và thỏa hiệp) Do vậy tư sản dân tộc nước ta không có khả năng lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc, họ là một trong bốn lực lượng của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nước ta

Trang 34

Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời lần thứ nhất, bị tư bản Pháp và

tư bản Hoa Kiều bóc lột Họ là sản phẩm trực tiếp của quá trình thực dân Pháp xâm lược và khai thác thuộc địa ở Đông Dương, là sản phẩm của nền kinh tế thuộc địa - tư bản Pháp Nhưng lúc này giai cấp công nhân Việt Nam chưa đủ độ trưởng thành để đảm nhận sứ mệnh mà lịch sử giao phó,

họ còn là giai cấp đấu tranh, biểu tình với hình thức tự phát và nhỏ lẻ Sở dĩ như vậy, vì giai cấp công nhân Việt Nam tuy ra đời, nhưng còn ở giai đoạn chưa tìm ra ánh sáng chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, chưa thấy rõ được

sự khác biệt của giai cấp mình, chưa thấy được rằng mình có quyền lợi khác với những giai cấp khác, chưa thấy được sứ mệnh vẻ vang của mình

và đặc biệt chưa thấy được bản chất bóc lột của nhà tư bản

Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam dưới sự tác động của phương thức tư bản chủ nghĩa tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam cũng bắt đầu xuất hiện và từng bước trưởng thành Họ bao gồm các thị dân, thợ thủ công và giới học sinh, sinh viên, trí thức sống chủ yếu ở thành thị Cùng với quá trình mở rộng các thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa, tầng lớp tiểu tư sản ngày càng đông và phân hóa thành hai thái cực một bộ phận giàu có trở thành các nhà

tư bản kinh doanh trong các ngành nghề khác nhau và có địa vị trong xã hội; một bộ phận khác bị bần cùng hóa, bị phá sản có xu hướng gia nhập vào hàng ngũ giai cấp công nhân Trí thức, học sinh, sinh viên là bộ phận năng động nhất trong tầng lớp tiểu tư sản Họ là người tiếp thu và truyền bá những tư tưởng tiến bộ đến với nhân dân lao động

Như vậy ở thời kỳ này, cơ cấu giai cấp của xã hội Việt Nam có nhiều biến động phức tạp nhưng chưa đạt đến độ làm thay đổi căn bản cơ cấu xã hội cổ truyền Mặc dù, các lực lượng xã hội mới của phương thức sản xuất mới đã xuất hiện, nhưng lực lượng xã hội mới này chỉ là thiểu số và nắm trong tay số lượng cơ sở kinh tế rất nhỏ bé Trong xã hội Việt Nam nảy sinh những mâu thuẫn gay gắt là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, mâu thuẫn giữa nhân dân lao động Việt Nam mà

Trang 35

chủ yếu là nông dân với địa chủ phong kiến Hai mâu thuẫn này đặt ra hai nhiệm vụ cơ bản và quan trọng mà cách mạng Việt Nam cần phải giải quyết Đó là đấu tranh dân tộc chống đế quốc, đấu tranh dân chủ chống phong kiến Từ những điều kiện lịch sử - xã hội đó đặt ra những yêu cầu cấp bách, đòi hỏi các nhà tư tưởng yêu nước Việt Nam cần phải tìm ra một phương hướng giải phóng con người, giải phóng dân tộc và phát triển đất nước

1.2.2 Tiền đề văn hóa tư tưởng

Nhà Nguyễn chủ trương độc tôn Nho giáo, hạn chế hoạt động của các tôn giáo, đặc biệt là Thiên Chúa giáo Gia Long rất đề cao Nho học, cho lập Văn Miếu ở các doanh, các trấn thờ đức Khổng Tử và lập Quốc Tử Giám năm 1803 ở kinh thành Huế để dạy cho các quan và các sĩ tử, mở khoa thi Hương lấy những người có học, có hạnh ra làm quan Cũng trong năm này, Gia Long cũng ban hành hai đạo dụ về việc mở các trường ở các tỉnh, ấn định nhân viên giáo giới và chương trình học chế, tái lập lại các khoa thi ở các trấn Ở mỗi trấn có một quan Đốc học, một phó Đốc học hay Trợ giáo Cứ tháng 10 hàng năm, triều đình mở một kỳ thi Theo thông lệ

cứ ba năm triều đình mở khoa thi Hương ở các địa phương Những người trúng cao ở khoa thi Hương gọi là cử nhân, trúng thấp gọi là tú tài Năm sau, ở Kinh đô mở khoa thi Hội tại bộ Lễ, những cử nhân năm trước khi ứng thí, nếu trúng cách thì được tiếp tục thi Đình ở trong điện nhà vua để lấy các bậc Tiến sĩ

Trong dân chúng việc học tập có tính chất tự do hơn Bất kỳ người nào có học lực kha khá cũng có thể mở trường tư thục để dạy học Mỗi làng

có vài ba trường tư thục hoặc ở nhà thầy, hoặt ở nhà người hào phú nuôi thầy cho con học và cho con các nhà lân cận đến học Theo ông Trần Trọng Kim, người Việt Nam vốn chuộng sự học cho nên người đi học cũng nhiều Những sách Tứ Thư, Ngũ Kinh cùng những lời thể chú của tiền nho trong những sách ấy là tài liệu chính cho việc học tập hàng ngày

Trang 36

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, biến nước ta thành thuộc địa của chúng Với mục đích nô dịch nhân dân ta, thực dân Pháp thi hành chính sách xây dựng một nền giáo dục nô dịch mang tính chất thực dân nửa phong kiến Chúng ra sức loại bỏ những ảnh hưởng tích cực của nền văn hóa cổ truyền của dân tộc, đồng thời thúc đẩy những mặt hạn chế trong giáo dục phong kiến đã trở nên lỗi thời, cũ kĩ, lạc hậu so với xu thế chung của thời đại như lối học khoa cử, trích cú tầm chương Lối học này đã làm cho nhân dân ta luẩn quẩn trong vòng tối tăm, dốt nát để phục vụ cho công cuộc thực dân hóa của chúng

Mặt khác, thực dân Pháp từng bước xây dựng một nền giáo dục thực dân phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa với quy mô ngày càng lớn

và tăng cường nô dịch nhân dân ta về mọi mặt Chúng xây dựng nền giáo dục nhằm mục tiêu tuyên truyền cho chính sách xâm lược bóc lột của Pháp, truyền bá tiếng Pháp và tạo ra ảnh hưởng của văn hóa Pháp đối với các trí thức văn thân, đào tạo một một số người làm tay sai cho chúng Trong

“Hòa lệ cống ngôn” Phan Bội Châu có viết: Thực dân Pháp “chỉ lưu lại khoa cử cặn bã, để dụ dỗ, hãm hại kẻ sĩ chúng ta” [5, 266] Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc viết: “Rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho công cuộc ngu dân của chính phủ Máy chém và nhà tù làm nốt phần còn lại” [35, tr.28]

Thực dân Pháp và chính quyền tay sai tiếp tục duy trì và củng cố ý thức hệ phong kiến lỗi thời, củng cố quyền cai trị của chúng Xã hội Việt Nam cùng một lúc tồn tại nhiều hệ tư tưởng Nho giáo, Lão - Trang, Phật giáo, chủ nghĩa yêu nước và những tư tưởng bên ngoài được truyền bá và

du nhập vào nước ta khi thực dân Pháp xâm lược nước ta mang vào Đó là

những tư tưởng được thể hiện trong các “Tân văn”, “Tân thư” từ Trung

Quốc của các nhà tư tưởng như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn , từ Nhật Bản có Cát Điền Tùng Âm - Yoshida Syoin, Phúc Trạch Dụ Cát - Fukuzawa Yukichi bằng nhiều con đường du nhập khác

Trang 37

nhau Từ sự ảnh hưởng đó, làm cho các nhà Nho yêu nước Việt Nam xây dựng một thế giới quan mới, một phương pháp luận mới trong quá trình tìm đường cứu nước của mình Một trong những nhà nho yêu nước tiến bộ đó chính là Phan Bội Châu

Đặc biệt, khi tìm hiểu về công cuộc duy tân Minh Trị tại Nhật Bản, Phan Bội Châu cho rằng Nhật Bản có được sự nghiệp phát triển rực rỡ và

vĩ đại như vậy là do lúc đầu họ biết cho người đi du học nước ngoài để mở mang dân trí, bồi dưỡng nhân tài Từ những nét tương đồng về điều kiện lịch sử - xã hội giữa Việt Nam và Nhật Bản cùng những thành tựu rực rỡ của công cuộc cải cách Minh Trị tại Nhật Bản trở thành cái đích hướng tới,

là nguồn động viên, cổ vũ tinh thần chống thực dân đế quốc ở Việt Nam nói riêng và các nước thuộc địa nói chung Ở Việt Nam, Phan Bội Châu là một trong những người tiêu biểu đầu tiên phát động phong trào Đông Du,

ông viết: “Tôi sang nước lớn ở Biển Đông (nước Nhật Bản), dưới nước đi thuyền, trên bộ đi xe, thấy trong thuyền trong xe có bao pháp độ được đặc

ra để đãi người nước họ, giá vẻ rẻ, đối xử lịch sự, cung cấp ăn uống đầy

đủ, có y tá chăm sóc khi bệnh tật, lúc ngồi lúc nằm, khi đi khi lại, đâu đâu cũng sạch sẽ gọn gàng, vẫy gọi tiếp dẫn, việc gì cũng đều nhân từ dùng đạo người để đối đãi với con người hẳn là phải như thế”[5, tr.191]

Sự ảnh hưởng của công cuộc duy tân Minh Trị tại Nhật Bản, làm cho

tư tưởng Phan Bội Châu có sự biến chuyển quan trọng về con đường giải phóng dân tộc, giải phóng con người Trong đó, ông đặt tư tưởng giáo dục

là mục tiêu cốt lõi và quan trọng hàng đầu trong hoạt động cách mạng của mình

Như vậy, lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, có nhiều biến đổi hết sức to lớn Thực tiễn cách mạng đã đặt ra những nhiệm vụ cấp bách mà cách mạng nước ta cần phải giải quyết đó là đấu tranh dân tộc chống đế quốc, đấu tranh dân chủ chống phong kiến, đặt ra nhiệm vụ cho các nhà tư tưởng yêu nước tiến bộ phải tìm ra phương pháp đấu tranh

Trang 38

cách mạng phù hợp, tiến bộ giúp cho cách mạng đi đến thành công Người đứng lên gánh vác trọng trách lớn lao này là hàng loạt các sĩ phu yêu nước

là Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can trong đó phải kể đến Phan Bội Châu một nhà cách mạng yêu nước, luôn đau đáu với vận mệnh, an nguy của dân tộc

Trang 39

rỡ và to lớn Tại Việt Nam sự du nhập tư tưởng cải cách của nước “đồng văn, đồng chủng” [5, 329], trong kỷ nguyên Minh Trị Duy tân đã thắng hai

nước lớn là Trung Quốc và Nga, đưa đất nước Nhật Bản phát triển phồn thịnh ngang hàng với các nước phương Tây Người có công lao to lớn trong

sự phát triển thần kỳ của nước Nhật không thể không nhắn đến nhà tư tưởng, nhà giáo dục lớn Fukuzawa Yukichi Ông là bậc khai quốc công thần, nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối với xã hội Nhật Bản thời cận đại đặc biệt là tư tưởng giáo dục của ông Ông cùng với các đồng chí của mình là những người khai sáng tinh thần quốc dân Nhật Bản, đem lại hồn, động lực và sự hậu thuẫn tinh thần cho công cuộc Minh Trị duy tân Với các điều kiện, tiền đề đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới tư tưởng tiến

bộ của các nhà nho yêu nước nước ta tiểu biểu là Phan Bội Châu và manh nha ở họ việc khởi xướng phong trào Duy tân và thành lập Đông Kinh nghĩa thục để học tập mô hình của Nhật Bản, đồng thời quy định nội dung

tư tưởng cải cách trong giáo dục của Phan Bội Châu

Trang 40

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG

GIÁO DỤC CỦA FUKUZAWA YUKICHI 2.1 Fukuzawa - con người và sự nghiệp

2.1.1 Đôi nét về con người của Fukuzawa Yukichi

Fukuzawa Yukichi (1835 - 1901), phiên âm Hán Việt là Phúc Trạch

Dụ Cát là bậc “khai quốc công thần” và là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng

sâu rộng nhất trong xã hội Nhật Bản thời kỳ cận đại Với những đóng góp

to lớn cho sự vươn mình một cách thần kỳ của Nhật Bản nên hình ảnh của ông được người Nhật Bản kính trọng in trên tờ tiền có mệnh giá cao nhất,

tờ 10.000 Yên Nhà tư tưởng tiến bộ ấy đã xây dựng một bản kế hoạch, một phương án kết thúc một cách nhanh chóng chế độ phong kiến lạc hậu, nghèo nàn, đưa lịch sử Nhật Bản bước sang một trang mới - thời kỳ vàng son

Ông sinh trong một gia đình võ sĩ cấp thấp ở Osaka, lớn lên tại Nakatsu, nay thuộc tỉnh Oita, Kyushu, Nhật Bản Ông là con út trong gia đình có năm anh chị em Cha ông là Fukuzawa Hykusuke (Phúc Trạch Bách Trợ), một võ sĩ cấp thấp của lãnh địa Nakastu Cha ông là một người thuần Nho học Ông luôn dạy dỗ con mình theo những quan điểm của Nho

học “sống phải thành tâm, thành ý, giữ mình ở cả những nơi không ai để mắt tới, không làm gì để phải xấu hổ” [68, tr 36] Điều đó chứng tỏ rằng,

Fukuzawa Yukichi được thừa hưởng một nền giáo dục Nho giáo rất nghiêm khắc Bên cạnh người cha nghiêm nghị, nhưng mẹ của Fukuzawa Yukichi

là một người mẹ mẫu mực, thương yêu các con Mặc dù, cha ông mất sớm không có ai dạy dỗ, mẹ ông thay chồng chăm lo các con Tuy nhiên, anh

em ông rất nề nếp, đúng mực và rất yêu thương nhau

Năm 15 tuổi, ông được đi học tại một ngôi trường làng Ở trường Fukuzawa Yukichi được học kiến thức Nho học.Tuy chỉ mới nghiên cứu Nho học trong khoảng thời gian 5 năm, ông là một học trò xuất sắc thông

thạo kinh sử, ông đã đọc được “Tứ thứ”, “Ngũ kinh”, “Lão Tử”, “Trang

Ngày đăng: 19/06/2016, 11:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aiichi Aoki (chủ biên) (2006), Nhật Bản đất nước và con người, (Người dịch: Nguyễn Kiên Trường), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản đất nước và con người
Tác giả: Aiichi Aoki (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
2. Phan Bội Châu (1976), “Văn thơ chọn lọc”, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn thơ chọn lọc
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1976
3. Phan Bội Châu (1962), Việt Nam quốc sử khảo, ( Người dịch: Chương Thâu), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam quốc sử khảo
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1962
4. Phan Bội Châu (2001), Toàn Tập, tập 1, Nxb Thuận Hóa và trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn Tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa và trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2001
5. Phan Bội Châu (2001), Toàn Tập, tập 2, Nxb Thuận Hóa và trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn Tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa và trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2001
7. Phan Bội Châu (2001), Toàn Tập, tập 4, Nxb Thuận Hóa và trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn Tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa và trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2001
8. Phan Bội Châu (2001), Toàn Tập, tập 6 , Nxb Thuận Hóa và trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn Tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa và trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2001
9. Phan Bội Châu (2001), Toàn Tập, tập 7, Nxb Thuận Hóa và trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn Tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa và trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2001
10. Phan Bội Châu (2001), Toàn Tập, tập 10, Nxb Thuận Hóa và trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn Tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa và trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2001
11. Nhật Chiêu (2007), Nhật Bản trong chiếc gương soi, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản trong chiếc gương soi
Tác giả: Nhật Chiêu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
12. Ngô Bích Đào (2013), “Ảnh hưởng tư tưởng cải cách giáo dục từ thời Minh Trị (Meiji) Nhật Bản đến tư tưởng giáo dục của phong trào Đông Kinh nghĩa thục”, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học, Mã số Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng tư tưởng cải cách giáo dục từ thời Minh Trị (Meiji) Nhật Bản đến tư tưởng giáo dục của phong trào Đông Kinh nghĩa thục”
Tác giả: Ngô Bích Đào
Năm: 2013
13. Lê Đình Hà (2000), Cuộc đời Phan Bội Châu, Nxb.Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc đời Phan Bội Châu
Tác giả: Lê Đình Hà
Nhà XB: Nxb.Thanh Niên
Năm: 2000
14. Dương Phú Hiệp, Phạm Hồng Thái (2004), Nhật Bản trên con đường cải cách, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản trên con đường cải cách
Tác giả: Dương Phú Hiệp, Phạm Hồng Thái
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
15. Nguyễn Văn Hòa (1996), Tư tưởng Phan Bội Châu về Bản thể luận, Tạp chí báo chí và tuyên truyền, số 4, tr.33 - 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Phan Bội Châu về Bản thể luận
Tác giả: Nguyễn Văn Hòa
Năm: 1996
16. Nguyễn Văn Hòa (1996), Tư tưởng của Phan Bội Châu về vai trò của tri thức trong đời sống con người, Tạp chí Triết học, số 4, tr.32 - 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng của Phan Bội Châu về vai trò của tri thức trong đời sống con người
Tác giả: Nguyễn Văn Hòa
Năm: 1996
17. Nguyễn Văn Hòa (2000), Vấn đề giáo dục trong tư tưởng của Phan Bội Châu, Tạp chí Triết học, số 1, tr.39 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giáo dục trong tư tưởng của Phan Bội Châu
Tác giả: Nguyễn Văn Hòa
Năm: 2000
18. Nguyễn Văn Hòa (2006), Tư tưởng triết học và chính trị của Phan Bội Châu, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng triết học và chính trị của Phan Bội Châu
Tác giả: Nguyễn Văn Hòa
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
19. Nguyễn Quốc Hùng (chủ biên) (2005), Lịch sử Nhật Bản, Nxb Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhật Bản
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thế Giới
Năm: 2005
20. Vũ Thị Minh Hương, Vũ Văn Sạch (biên soạn) (1997), Văn thơ Đông Kinh nghĩa thục, Nxb. Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn thơ Đông Kinh nghĩa thục
Tác giả: Vũ Thị Minh Hương, Vũ Văn Sạch (biên soạn)
Nhà XB: Nxb. Văn hóa
Năm: 1997
21. Nguyễn Văn Kim (1997), “Chế độ giáo dục Nhật Bản thời lỳ Tokugawa. Những đặc điểm tiêu biểu”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5, tr.59-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ giáo dục Nhật Bản thời lỳ Tokugawa. Những đặc điểm tiêu biểu
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Năm: 1997

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w