1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách hỗ trợ phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia tại cục thông tin khoa học và công nghệ quốc gia

85 321 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 845,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây cũng là lý do để tác giả Luận văn lựa chọn đề tài nghiên cứu:“ Chính sách hỗ trợ phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ các chương trình khoa học và công nghệ c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ MỸ BÌNH

CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN

PHỤC VỤ CÁC CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG

VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội-2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ MỸ BÌNH

CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN

PHỤC VỤ CÁC CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG

VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60 34 04 12

Người hướng dẫn khoa học: TS Tạ Bá Hưng

Hà Nội-2015

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu 7

3 Mục tiêu nghiên cứu 9

4 Phạm vi nghiên cứu 10

5 Mẫu khảo sát 10

6 Câu hỏi nghiên cứu 10

7 Giả thuyết nghiên cứu 10

8 Phương pháp nghiên cứu 11

9 Các luận cứ 11

10 Về mặt cấu trúc luận văn 11

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ CÁC CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP QUỐC GIA 13

1.1 Giải thích các khái niệm 13

1.1.1 Khái niệm về thông tin, thông tin KH&CN và mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ các chương trình khoa học và công nghệ quốc gia 13

1.1.2 Khái niệm về chính sách, chính sách hỗ trợ phát triển 21

1.1.3 Khái niệm về chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia 22

1.2 Vai trò của thông tin KH&CN đối với các chương trình KH&CN cấp quốc gia 23

1.3 Chương trình KH&CN cấp quốc gia gia đoạn 2011-2015 27

1.3.1 Danh mục các chương trình KH&CN cấp quốc gia 27

1.3.2 Mục tiêu các chương trình KH&CN cấp quốc gia 28

1.3.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả các chương trình KH&CN cấp quốc gia 33

Trang 4

Kết luận Chương 1 34 CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ CÁC CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP QUỐC GIA TẠI CỤC THÔNG TIN KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA 35 2.1 Hiện trạng các chính sách thông tin KH&CN 35 2.2 Mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ các chương trình KH&CN cấp quốc gia tại Cục thông tin KH&CN quốc gia 41

2.2.1 Người dùng tin và nhu cầu tin 41 2.2.2 Nguồn tài nguyên thông tin KH&CN phục vụ các chương trình KH&CN cấp quốc gia tại Cục thông tin KH&CN quốc gia hiện nay 44 2.2.3 Sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN phục vụ các chương trình KH&CN quốc gia tại Cục thông tin KH&CN quốc gia hiện nay 51

2.3 Phân tích, đánh giá hiện trạng mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ các chương trình KH&CN cấp quốc gia tại Cục thông tin KH&CN quốc gia 55 Kết luận Chương 2 58 CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ CÁC CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP QUỐC GIA TẠI CỤC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA 60 3.1 Chính sách phát triển nguồn tin KH&CN 60

3.1.1 Chính sách phát triển hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN có giá trị gia tăng cao đáp ứng nhu cầu thông tin KH&CN để phục vụ các chương trình KH&CN cấp quốc gia 61 3.1.2 Chính sách tăng cường hoạt động tiêu chuẩn hóa trong quản lý, phát triển và khai thác nguồn tin KH&CN 62 3.1.3 Chính sách phối hợp giữa các cơ quan thông tin KH&CN trong tạo lập, phát triển và khai thác, chia sẻ nguồn tin KH&CN 64 3.1.4 Xây dựng CSDL quốc gia về KH&CN 65

Trang 5

3.1.5 Thể chế hoá các chủ trương, đường lối, chính sách 66

3.2 Chính sách hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin KH&CN 67 3.2.1 Phát triển mạng tiến tiến VISTA và VinaREN tại Cục thông tin KH&CN quốc gia 67

3.2.2 Số hoá các nguồn thông tin KH&CN 68

3.3 Chính sách phát triển nguồn nhân lực thông tin 69

3.3.1 Xây dựng định mức lao động và đánh giá khả năng nhân lực 73

3.3.2 Chế độ đãi ngộ đối với nhân lực 74

3.3.3 Xây dựng quy chế tuyển dụng đầu vào công bằng, chặt chẽ 76

PHẦN KẾT LUẬN 77

KHUYẾN NGHỊ 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS.Tạ Bá Hưng đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho Tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo, các đồng nghiệp đang công tác tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia đã nhiệt tình giúp đỡ Tôi thu thập tài liệu, đây là những căn cứ quan trọng để Tôi hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô tại Trường đại học Xã hội và nhân văn- Đại học quốc gia Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn cho Tôi trong quá trình học tập

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc những người thân trong gia đình, bạn

bè, đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên Tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình học tập, nghiên cứu

Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, Tôi cũng gặp những khó khăn nhất định về năng lực, sự hiểu biết của bản thân và thời gian nghiên cứu có hạn nên luận văn không tránh khỏi những hạn chế và khiếm khuyết, tác giả trân trọng và mong nhận được những góp ý của các nhà khoa học, các giảng viên

và các đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2015

Phạm Thị Mỹ Bình

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

and Technology Advance

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khoa học và công nghệ ngày càng có vai trò quan trọng trong phát triển của mỗi quốc gia Nhận thức được tầm quan trọng của khoa học và công nghệ, Đảng và nhà nước ta đã có nhiều Nghị quyết về khoa học và công nghệ

và khẳng định “ Cùng với giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế, xã hội; là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước dựa vào khoa học và công nghệ” Thực hiện các Nghị quyết trên, Chính phủ đã liên tục tăng đầu tư cho khoa học và công nghệ trong nhiều thập kỷ qua Cụ thể như: Năm 1996 là 0,96% tổng chi ngân sách; Năm 1998 là 1,26%; Năm 1999 là 1,28%; Giai đoạn từ năm 2000 – 2015 là 2%.1Cùng với việc tăng đầu tư cho khoa học và công nghệ, Chính phủ cũng quan tâm đến việc xây dựng và thực hiện các chương trình KH&CN cấp quốc gia Đặc thù của các chương trình KH&CN cấp quốc gia là được thực hiện trong thời gian tương đối dài, với nhiều đề tài, dự án có tính ứng dụng cao Thông qua các chương trình KH&CN cấp quốc gia, các cá nhân và

tổ chức nhận thấy được đầy đủ vai trò và áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào trong quá trình sản xuất và đời sống Bằng việc triển khai các chương trình KH&CN cấp quốc gia, có thể thấy phát triển năng lực KH&CN

ở nước ta là có trọng tâm, trọng điểm, tập chung cho những ngành, lĩnh vực then chốt, mũi nhọn Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, ưu tiên phát triển công nghệ cao, đồng thời sử dụng hợp lý công nghệ sử dụng nhiều lao động; hình thành các cơ sở nghiên cứu ứng dụng, gắn với các doanh nghiệp chủ lực,

đủ sức tiếp thu, cải tiến và sáng tạo công nghệ mới Các chương trình KH&CN cấp quốc gia cũng tạo ra sự gắn kết nghiên cứu với sản xuất, hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đổi mới công nghệ, hội nhập

1

Đề tài cấp Bộ: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển công tác thông tin thư viện và thống kê KH&CN Việt Nam đến năm 2020, Ths Phan Huy Quế, chủ nhiệm đề tài

Trang 9

kinh tế quốc tế… Các chương trình KH&CN cấp quốc gia thực chất là cầu nối giữa nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng Các chương trình này thường có tính liên ngành, liên lĩnh vực, tính hướng đích và ứng dụng cao, nhằm cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc giải quyết những vấn

đề cơ bản và nóng bỏng nhất đang đặt ra trong thực tiễn, nhằm giải phóng các tiềm năng, tháo gỡ khó khăn, phát huy cao độ các nguồn lực, tạo nên xung lực mạnh mẽ trong quá trình phát triển bền vững Mặt khác, các chương trình được thực hiện trong một giai đoạn tương đối dài, do đó các cán bộ KH&CN tham gia các chương trình cần phải được cung cấp thông tin khoa học và công nghệ một cách kịp thời, nhanh chóng, chính xác, nắm bắt được xu thế phát triển trong nước và thế giới Do vậy, việc cung cấp thông tin KH&CN phục

vụ các chương trình KH&CN cấp quốc gia đóng vai trò rất quan trọng

Như vậy, việc cung cấp các thông tin phục vụ các chương trình KH&CN cấp quốc gia là điều kiện cần thiết để đẩy mạnh phát triển lĩnh vực KH&CN nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung Các chương trình KH&CN cấp quốc gia là các chương trình liên ngành, đa lĩnh vực, có tầm ảnh hưởng trên quy mô toàn quốc Đây cũng là nội dung cơ bản của hoạt động khoa học và công nghệ trong từng giai đoạn cụ thể Mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ cho các chương trình này tại Cục Thông tin KH&CN quốc gia không những cần được đẩy mạnh mà còn rất cần các chính sách hỗ trợ phát triển của Nhà nước để thông tin KH&CN có đóng góp hiệu quả hơn nữa vào việc triển khai các chương trình KH&CN quan trọng này trong thời gian tới Đây cũng là lý do để tác giả Luận văn lựa chọn đề tài nghiên cứu:“ Chính sách hỗ trợ phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia tại Cục thông tin khoa học

và công nghệ quốc gia “ làm đề tài của Luận văn tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu

Trong thời gian qua, đã có không ít các đề tài, dự án nghiên cứu về chính sách thông tin KH&CN nói chung và về mạng lưới thông tin KH&CN nói

Trang 10

riêng Có thể điểm qua một số đề tài, dự án quan trọng có liên quan tới vấn

đề này như được trình bày dưới đây

Trước hết đó là “Nghiên cứu xây dựng chính sách quốc gia phát triển công

tác thông tin khoa học và công nghệ trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do PGS TS Nguyễn Hữu Hùng làm chủ nhiệm Kết quả đề tài đã

cung cấp bức tranh toàn diện về hiện trạng phát triển hoạt động thông tin KH&CN của đất nước và đề xuất xây dựng một chính sách quốc gia phát triển công tác thông tin khoa học và công nghệ trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng chỉ đạo của UNESCO về phát triển một hệ thống thông tin KH&CN quốc gia Tuy nhiên, đề tài chưa đề cập đến chính sách hỗ trợ phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ các chương trình KH&CN cấp quốc gia tại cơ quan thông tin KH&CN đầu mối quốc gia trong giai đoạn đầu của quá trình đổi mới đất nước

“Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phát triển mạng thông tin tư liệu

về khoa học và công nghệ ở Việt Nam” là đề tài cấp Bộ do TS Tạ Bá Hưng

làm chủ nhiệm Đề tài đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để Bộ KH&CN quyết định đầu tư và phát triển mạng thông tin tư liệu về khoa học và công nghệ ở Việt Nam mà hiện thân là Mạng VISTA, Mạng Thông tin KH&CN Việt Nam hiện nay Đó là mạng thông tin KH&CN do Cục Thông tin KH&CN xây dựng và phát triển với sứ mệnh đáp ứng nhu cầu thông tin KH&CN của cả nước, góp phần thúc đẩy phát triển KH&CN của Việt Nam Mặc dù vậy, đề tài tập trung chủ yếu đến nền tảng công nghệ của mạng lưới, thiên về thông tin tư liệu mà chưa đề cập gì đến mạng lưới thông tin KH&CN chuyên phục vụ các chương trình KH&CN cấp quốc gia

"Nghiên cứu mạng lưới thông tin và quản lý Nhà nước đối với hoạt động

thông tin ở các nước kinh tế thị trường" do PGS TS Nguyễn Hữu Hùng làm

chủ nhiệm Đề tài đã cung cấp các bài học kinh nghiệm trong quản lý nhà nước đối với hoạt động thông tin và các mạng lưới thông tin ở các nước có nền kinh tế thị trường và đưa ra các đề xuất có tính gợi mở cho công tác này ở Việt Nam khi Đảng và Nhà nước đã xác định cần phát triển nền kinh tế thị

Trang 11

trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nơi cần phải tính đến quy luật khách quan của thị trường cùng các điều tiết hợp lý bằng chính sách của nhà nước

"Nghiên cứu xây dựng và phát triển hệ thống thông tin khoa học kỹ thuật

quốc gia" đây là đề tài cấp Nhà nước do Kỹ sư Phạm Văn Vu, nguyên Phó

Giám đốc Trung tâm Thông tin Tư liệu KH&KT quốc gia chủ trì Kết quả đề tài có giá trị lý luận và thực tiễn rất cao, làm cơ sở để hoạch định và phát triển

hệ thống thông tin KH&CN quốc gia Tuy nhiên, trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, cách tiếp cận của nhóm thực hiện đề tài còn chịu ảnh hưởng nhiều của tư duy thời bao cấp, nhất là mô hình phát triển hệ thống thông tin KH&CN quốc gia của Liên xô cũ nên mức độ đóng góp về chính sách phát triển phù hợp với thời kỹ mới còn khiêm tốn

Đã có một số đề tài, dự án nghiên cứu về các chương trình khoa học và

công nghệ như: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng phương

pháp, tiêu chí và quy trình đánh giá chương trình khoa học và công nghệ” do

TS Nguyễn Thị Thu Oanh làm chủ nhiệm hoặc đề tài “Tổ chức và hoạt động

của chương trình khoa học cấp Nhà nước: Phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam" do Nguyễn Văn Thu chủ trì thực hiện Các nhiệm vụ

này đã đi sâu nghiên cứu về tổ chức hoạt động và phương pháp đánh giá các chương trình KH&CN và chưa đề cập tới mạng lưới thông tin KH&CN phục

là một đề tài mới, có tính thời sự và cần được đi sâu nghiên cứu

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở đánh giá vai trò của thông tin KH&CN đối với các chương trình KH&CN cấp quốc gia Để đề xuất chính sách hỗ trợ phát triển mạng lưới

Trang 12

thông tin KH&CN phục vụ các chương trình KH&CN cấp quốc gia tại Cục thông tin khoa học và công nghệ quốc gia

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Mạng lưới thông tin KH&CN có vai trò như thế nào trong quá trình phục

vụ các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia?

- Thực trạng mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia tại Cục thông tin khoa học và công nghệ quốc gia hiện nay ra sao?

- Chính sách hỗ trợ phát triển nào cần được đề xuất, ban hành và thực thi trong thời gian tới để mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia tại Cục thông tin khoa học và công nghệ quốc gia có thể đóng góp hiệu quả hơn nữa cho việc xây dựng, triển khai các chương trình KH&CN cấp quốc gia?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia tại Cục Thông tin KH&CN quốc gia có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và triển khai các chương trình KH&CN cấp quốc gia Hoạt động của mạng lưới thông tin KH&CN chưa cao, do còn nhiều hạn chế về nguồn lực cũng như chưa đặt nhiệm vụ phát triển mạng lưới này ngang tầm với đòi hỏi của xã hội trong giai đoạn mới hiện nay Một loạt những vấn

Trang 13

đề liên quan khó có thể được giải quyết chỉ bằng nỗ lực của riêng Cục Thông tin KH&CN quốc gia

Chính sách hỗ trợ phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ các chương trình KH&CN cấp quốc gia tại Cục Thông tin KH&CN quốc gia chủ yếu tập chung vào: chính sách phát triển nguồn tin KH&CN, chính sách hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin KH&CN, chính sách phát triển nguồn nhân lực thông tin

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tìm hiểu các nội dung liên quan đến cơ

sở lý luận và thu thập, phân tích, xử lý, tổng hợp thông tin, tài liệu

- Phương pháp kế thừa các nghiên cứu có liên quan đến luận văn Phương pháp khảo sát kế thừa

9 Các luận cứ

Luận cứ lý thuyết:

- Các khái niệm và lý thuyết liên quan đến chính sách

- Các khái niệm và lý thuyết liên quan đến mạng lưới thông tin

- Các khái niệm và lý thuyết liên quan đến chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia

Luận cứ thực tế:

- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về KH&CN; thông tin KH&CN; các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia

- Các báo cáo về hiện trạng mạng lưới thông tin tại Cục thông tin khoa học

và công nghệ quốc gia

- Các dữ liệu, dữ kiện được thu thập từ các hội thảo khoa học

10 Về mặt cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận của chính sách hỗ trợ phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia

Trang 14

Chương 2: Hiện trạng mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia tại Cục thông tin khoa học và công nghệ quốc gia

Chương 3: Đề xuất chính sách hỗ trợ phát triển mạng lưới thông tin khoa học

và công nghệ phục vụ các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia tại Cục thông tin khoa học và công nghệ quốc gia

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

PHỤC VỤ CÁC CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP QUỐC GIA

1.1 Giải thích các khái niệm

1.1.1 Khái niệm về thông tin, thông tin KH&CN và mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ các chương trình khoa học và công nghệ quốc gia

1.1.1.1 Khái niệm về thông tin

Trong cuộc sống hàng ngày, các mối quan hệ của con người diễn ra là nhờ

có sự trao đổi bằng thông tin Tất cả những thứ trao đổi đó dù là bằng ngôn ngữ tượng trưng hay ngôn ngữ tượng hình, dù là cử chỉ hay lời nói, mà con người trao đổi với nhau đều được coi là thông tin Vậy thực chất thông tin là gì? Có một định nghĩa nào được coi là chuẩn xác về thông tin hay không? Theo nghĩa thông thường: Thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một nguời có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu, hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh Thông tin là sự truyền tải tri thức trong xã hội Theo nghĩa thông thường, thông tin là tất cả những gì về các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán góp phần làm tăng hiểu biết của con người Về bản chất, thông tin là một đối tượng trừu tượng, vô hình, được biểu thị qua nội dung của sự vật, được tiếp thu và được sử dụng cho các mục đích khác nhau Thuật ngữ “Thông tin” (theo gốc Latinh là Informatio - có nghĩa là diễn giải, thông báo, lý giải) - là một thuật ngữ thường xuyên được nhắc tới, được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thông tin: Theo từ điển Oxford English Dictionary, Thông tin là điều mà người ta đánh giá, hoặc nói đến, là

Trang 16

tri thức, là tin tức Nhiều từ điển khác đồng nhất thông tin với kiến thức:

“Thông tin là điều mà người ta biết” hoặc “Thông tin là sự chuyển giao tri thức làm tăng thêm hiểu biết của con người” Tùy theo quan điểm cụ thể, thông tin được định nghĩa theo cách tương ứng, ví dụ theo quan điểm triết học, thông tin là một phạm trù triết học phản ánh sự vận động và tương tác của các hiện tượng, sự việc của thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy Trong khi theo quan điểm của Lý thuyết thông tin, thông tin là sự loại trừ tính bất định của hiện tượng ngẫu nhiên

Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5453 – 1991 “Thông tin là dữ liệu, tin tức, dữ kiện, tri thức được xem xét trong quá trình tồn tại và vận động trong không gian và thời gian”

Như vậy, thông tin là kết quả của sự phân tích, tổng hợp và đánh giá dựa trên những dữ liệu sẵn có để phục vụ nhu cầu của người dùng tin Căn cứ vào đặc điểm, nội dung của tin tức, có thể chia thông tin thành các loại thông tin kinh tế, thông tin quản lý, thông tin KH&CN v.v Mỗi loại thông tin đều có đặc trưng riêng, song nhìn chung chúng đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển xã hội Và như vậy, theo tác giả Luận văn, dưới dạng khái quát nhất, thông tin chính là những dữ liệu, số liệu, tin tức được đặt trong văn cảnh, được lưu giữ trên những vật mang tin khác nhau và được xem xét trong quá trình tồn tại, vận động trong không gian và thời gian

1.1.1.2 Khái niệm về thông tin KH&CN

Trước tiên, ta tìm hiểu hai khái niệm ”Khoa học” và ”Công nghệ” bởi lẽ, trên thực tế có rất nhiều người đánh đồng hai khái niệm này với nhau Nhưng thực chất, khoa học và công nghệ là hai khái niệm khác nhau hoàn toàn

Khái niệm khoa học có 4 cách tiếp cận:

Theo cách tiếp cận bản thể học: khoa học là một hệ thống tri thức về các quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội, tư duy, con người Trên thế giới có rất nhiều loại tri thức, có thể chia ra là tri thức kinh nghiệm ( Nhờ rút

ra từ các bài học thực tế ) và tri thức khoa học ( thu thập được nhờ hoạt động

Trang 17

nghiên cứu khoa học, có được là nhờ có mục tiêu từ trước, tiến hành công việc theo phương pháp khoa học)

Theo cách tiếp cận xã hội học: khoa học là một hoạt động xã hội Đây là hoạt động của con người nhằm nghiên cứu, khám phá các bản chất của sự vật

Theo quan điểm của tác giả Luận văn: khoa học là hệ thống tri thức, là sản phẩm của tư duy của con người

Cũng như khái niệm khoa học, khái niệm công nghệ cũng được đưa ra nhiều cách hiểu khác nhau như:

Định nghĩa của ESCAP: Công nghệ là kiến thức có hệ thống về qui trình kỹ thuật để chế biến vật liệu và thông tin CN bao gồm kỹ năng, kiến thức, thiết

bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ

Theo lý thuyết tổ chức: Công nghệ là khoa học và nghệ thuật dùng trong sản xuất, phân phối hàng hoá và dịch vụ

Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006: Công nghệ là giải pháp, quy trình,

bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sảnphẩm

Theo tác giả Luận văn, công nghệ là các thao tác kỹ thuật tin cậy, nhằm tạo

ra các sản phẩm theo thiết kế được áp dụng vào sản xuất và đời sống Các sản phẩm này tuân theo quy luật của chu trình sống, hay còn gọi là vòng đời công nghệ

Như vậy, từ các khái niệm về thông tin, khoa học và công nghệ có thể xem xét khái niệm thông tin KH&CN

Trang 18

Đối với khái niệm Thông tin KH&CN cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau chẳng hạn “Thông tin KH&CN là các thông tin nhận được và tích lũy trong quá trình phát triển KH&CN và hoạt động thực tiễn của con người” hay

“là một tập hợp có hệ thống những xuất bản phẩm tồn tại trên các vật mang tin khác nhau được lựa chọn và sử dụng nhằm mục đích phục vụ các nhiệm

vụ của các cơ quan KH&CN

Theo Nghị định 159/2004/NĐ – CP ngày 31 tháng 08 năm 2004 về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ “Thông tin KH&CN là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin tức, tri thức KH&CN (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội” Cách định nghĩa này nhấn mạnh mục đích quản lý và sử dụng thông tin KH&CN như một dịch vụ công ích, trong khi đồng nhất giữa thông tin KH&CN với tri thức KH&CN

Mới đây, theo Điều 3 của Nghị định 11/2014/NĐ – CP Về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ, “Thông tin KH&CN là dữ liệu, dữ kiện, số liệu, tin tức được tạo ra trong các hoạt động KH&CN, đổi mới sáng tạo” Cách định nghĩa này rất cô đọng, dễ hiểu, dễ nhớ, song có thể được xem là khá phiến diện, chủ yếu nhấn mạnh đến nguồn gốc sản sinh và đồng nhất thông tin với dữ liệu, số liệu, tin tức

Theo tác giả Luận văn, thông tin KH&CN là thông tin phản ánh trung thực

sự vật, hiện tượng của thực tiễn khách quan, tư duy con người và được sử dụng trong điều kiện lịch sử, xã hội cụ thể

Là một trong các loại hình thông tin, thông tin KH&CN vừa là nguồn lực của phát triển, vừa là của cải và tài sản của xã hội, là yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản sinh ra các sản phẩm KH&CN mới ở trình độ cao hơn Hiện nay, thông tin, nhất là thông tin KH&CN trở thành một dạng hàng hóa đặc biệt có giá trị cao, là nhu cầu cơ bản, là nguồn lực không thể thiếu của mọi cá nhân, mọi tổ chức và mọi quốc gia

Trang 19

Bên cạnh khái niệm “thông tin khoa học và công nghệ”, khái niệm “nguồn tin khoa học và công nghệ” cũng thường được nhắc đến, nhất là khi đề cập đến chính sách hỗ trợ phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nghiên cứu và phát triển nói chung, các chương trình KH&CN cấp quốc gia, nói riêng

Nguồn tin KH&CN bao gồm sách, báo, tạp chí, cơ sở dữ liệu, tài liệu hội nghị, hội thảo khoa học, báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, tài liệu về sở hữu trí tuệ, tài liệu về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, luận văn, luận án sau đại học và các nguồn tin khác được tổ chức, cá nhân thu thập Đây được cho là nguồn tri thức đã được bộc lộ, được mã hóa (Explicit knowledge) trong khi so sánh với nguồn tri thức tiềm ẩn (Tacit knowledge) bao gồm các

bí quyết kỹ thuật, bí kíp kinh doanh (know how), tri thức bản địa, tri thức chuyên môn sâu

Xét về xuất xứ đối với một quốc gia cụ thể, thông tin KH&CN cũng như các thông tin khác được thu thập từ 2 nguồn gồm: nguồn tin KH&CN nội sinh

và nguồn tin KH&CN ngoại sinh (được nhập từ nước ngoài) dưới các hình thức khác nhau

Nguồn tin KH&CN nội sinh được sản sinh dựa trên sức lực trí tuệ và vật chất của một quốc gia Thông thường, các cơ quan thông tin-thư viện thuộc sở hữu Nhà nước được cấp kinh phí để thu thập, quản lý đầy đủ các dạng nguồn tin KH&CN nội sinh và tạo lập các nguồn tin nội sinh phù hợp với chức năng

và diện phục vụ của mình Các nguồn tin KH&CN nội sinh rất đa dạng, bao gồm các loại sau: sách, báo, tạp chí, tài liệu chép tay, luận án khoa học; báo cáo kết quả nghiên cứu và phát triển KH&CN; tư liệu và số liệu điều tra cơ bản; báo cáo các đoàn tham quan, khảo sát; tài liệu hội nghị, hội thảo, các tài liệu đa phương tiện, v.v

Nguồn tin KH&CN ngoại sinh chủ yếu được nhập từ nước ngoài qua mua sắm, trao đổi, hoặc biếu tặng, v.v

Các nguồn tin khoa học và công nghệ thường được thể hiện dưới các loại hình sau đây:

Trang 20

- Thông tin thư mục: là thông tin cung cấp các dấu hiệu đặc trưng, vắn tắt

về một tài liệu xác định như thông tin về tác giả, thông tin về xuất bản, tên tài liệu, nơi lưu giữ, kí hiệu xếp giá v.v

- Thông tin toàn văn: là các thông tin được chứa trong một đơn vị tài liệu

cụ thể, có kết cấu tương đối hoàn chỉnh, trình bày về một vấn đề nào đó

- Thông tin thông báo: là các dạng thông tin về các hoạt động, sự có mặt của các tư liệu, thông tin, phương thức sử dụng mới Các dạng thông tin này thường được công bố đại chúng có tác dụng mở rộng, khơi gợi các nhu cầu của người dùng tin đối với các nguồn tin trong thư viện

- Thông tin từ Internet: các thông tin được khai thác từ các kho lưu trữ mở, các mục lục truy cập công cộng trực tuyến, các trang thông tin của các cơ sở giáo dục-đào tạo, các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế, v.v Nguồn tin này rất đa dạng, thuận tiện trong tìm kiếm, tra cứu, sử dụng, song cũng tiềm ẩn mức độ rủi ro khá cao do tính xác thực, độ tin cậy và mức

Nguồn tin KH&CN là nguyên liệu đầu vào cho quá trình ra quyết định, là tài sản quý giá cho bất kỳ tổ chức và hoạt động nào của con người Vì vậy, nó

có vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả của các quyết định Nếu nguồn tin KH&CN được quản trị tốt sẽ giúp cho hoạt động KH&CN giảm được rủi

ro, giảm chi phí, khuyến khích đổi mới và sáng tạo trong nội bộ cơ quan, đơn

vị cũng như cung cấp các sản phẩm và dịch vụ ra bên ngoài

Theo Tiêu chuẩn Việt Nam 5453 – 1991,“Thông tin khoa học là thông tin thu nhận được trong quá trình hoạt động khoa học, kỹ thuật, sản xuất và phản ánh nội dung, kết quả các hoạt động đó” NC&PT là một nội dung quan trọng,

Trang 21

cơ bản của hoạt động KH&CN, vì vậy có thể thấy thông tin cho hoạt động KH&CN cũng là thông tin cho NC&PT

Từ khái niệm thông tin khoa học và công nghệ nói trên, có thể thấy phục vụ thông tin cho nghiên cứu và phát triển nói chung và cho các chương trình KH&CN cấp quốc gia, nói riêng là một bộ phận của hoạt động thông tin khoa học và công nghệ

Thông tin KH&CN là sản phẩm của hoạt động NC&PT Thực tế cho thấy, yếu tố đầu ra của NC&PT chính là thành quả KH&CN, là kết tinh của hoạt động NC&PT, có cống hiến trực tiếp và ảnh hưởng gián tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội Hình thái biểu hiện của thành quả đó thể hiện dưới dạng tri thức và hiện vật Tri thức chứa đựng trong các vật mang là sách báo, tạp chí, tài liệu hội nghị, hội thảo, các báo cáo kết quả nghiên cứu, kết quả đề tài, luận văn, đồ án thiết kế, thống kê số liệu, tài liệu sáng chế v.v.; hiện vật bao gồm

mô hình, máy mẫu, sản phẩm sản xuất thử, công nghệ mới v.v Như vậy, yếu

tố đầu ra của NC&PT cũng là thông tin KH&CN, hay nói cách khác, một phần sản phẩm của NC&PT là thông tin KH&CN

Thông tin KH&CN còn là yếu tố đầu vào của nghiên cứu và phát triển Là một quá trình chuyển hóa có nhiều cấp độ, hoạt động NC&PT vừa là quá trình không ngừng tạo ra các thành quả KH&CN vừa là quá trình không ngừng tiếp thu, áp dụng, đưa các thành quả KH&CN vào thực tiễn sản xuất và đời sống Sản phẩm của NC&PT một mặt được áp dụng vào thực tiễn, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Mặt khác, nó lại quay trở lại làm nguyên liệu đầu vào cho NC&PT, để NC&PT tiếp tục hoạt động và phát triển ở cấp độ cao hơn Sản phẩm của NC&PT, sau khi áp dụng vào thực tiễn cũng sẽ nhận được thông tin phản hồi về chất lượng sản phẩm, về giá trị sử dụng v.v nhằm thúc đẩy NC&PT hoạt động đúng hướng và có hiệu quả cao Qua đó, có thể thấy thông tin KH&CN là một nhu cầu không thể thiếu trong toàn bộ quá trình hoạt động của NC&PT nói chung và thực hiện các chương trình KH&CN cấp nhà nước, nói riêng

Trang 22

Để phục vụ thông tin KH&CN một cách hiệu quả cho các chương trình KH&CN cấp quốc gia, cần chú trọng hai loại thông tin quan trọng:

- Thông tin KH&CN: đây là nguyên liệu chủ yếu để những người làm NC&PT thực hiện công việc, nhiệm vụ của mình Tất cả các thông tin thuộc lĩnh vực KH&CN đều cần thiết cho hoạt động nghiên cứu, tất nhiên tùy từng đối tượng, ở những thời điểm khác nhau, nội dung thông tin có thể đi sâu hơn vào từng lĩnh vực cụ thể

- Thông tin kinh tế: là thông tin về tình hình, dự báo xu hướng phát triển kinh tế, thông tin về giá cả thị trường, cạnh tranh hàng hóa về những mặt hàng, sản phẩm công nghệ trong nước và trên thế giới v.v Đây cũng là loại thông tin rất cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ thuộc các chương trình KH&CN cấp quốc gia, giúp gắn kết nghiên cứu với thị trường, với nhu cầu của xã hội và cuộc sống

1.1.1.3 Khái niệm về mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia

Mạng lưới thông tin là một tập hợp các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thông tin bao gồm nhiều hình thức khác nhau, liên kết với nhau và cùng chung một mục tiêu, một định hướng cho một đối tượng phục vụ Như vậy chúng ta có thể hiểu rằng, mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia cũng sẽ là một tập hợp các tổ chức, gồm nhiều hình thức khác nhau nhưng đều có mục tiêu là cung cấp được thông tin KH&CN cần thiết, đầy đủ, chính xác và kịp thời cho đội ngũ thực hiện các nhiệm vụ thuộc cácchương trình KH&CN cấp quốc gia

Trong giai đoạn hiện nay, việc hình thành và vận hành mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ các chương trình KH&CN cấp quốc gia có nhiều thuận lợi

do có thể sử dụng rộng rãi mạng Internet, các nguồn tin điện tử, đặc biệt là cơ chế điều hoà, phối hợp giữa các cơ quan thông tin KH&CN trong cả nước được xác định trong các văn bản quy phạm pháp luật quan trong trọng như Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 cũng như Nghị định số 11/2014/NĐ –

CP Về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ

Trang 23

1.1.2 Khái niệm về chính sách, chính sách hỗ trợ phát triển

1.1.2.1 Chính sách

Có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách, trong đó đáng chú

ý là James E Anderson đã đưa ra định nghĩa: “Chính sách là quá trình hành động có mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thể theo đuổi để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm”2

Trong từ điển tiếng Việt, Nhà Xuất bản Đà Nẵng, xuất bản năm 1988, trang 157 có viết: “Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”hoặc trong Đại Từ điển tiếng Việt, Nhà Xuất bản Văn hoá – Thông tin, năm 1999, trang 369: “Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội” Trong các bài giảng về khoa học quản lý và khoa học chính sách, tác giả

Vũ Cao Đàm đã đưa ra định nghĩa: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo ra sự ưu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội.”Khái niệm

“Hệ thống xã hội” ở đây được hiểu theo một ý nghĩa khái quát Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường, v.v

Theo tác giả Luận văn chính sách chính là biện pháp nhằm bắt buộc đối tượng thực thi theo ý muốn của chủ thể Và trong quá trình thực thi đó, sẽ gây

ra những xung đột, xung đột đó tạo tiền đề cho nhóm hưởng lợi từ chính sách

và một nhóm thiệt hại từ chính sách gây ra Từ đó, cho ra đời các chính sách mới, cộng với tác động của môi trường, chính sách luôn được sủa đổi, ban hành mới để sao cho phù hợp nhất với tình hình thực tại

2 James E Anderson: Public Policymaking, Thomson Learning, dec 1983

Trang 24

1.1.2.2 Chính sách hỗ trợ phát triển

Thuật ngữ ”Chính sách hỗ trợ phát triển” đã được nhắc đến rất nhiều trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, chưa có một khái niệm nào giải thích cặn kẽ về vấn đề này Có chăng chỉ là sự tách các khái niệm để con người hiểu một cách chủ quan về chính sách hỗ trợ phát triển Theo quan điểm của tác giả Luận văn, phát triển là sự vận động của sự vật, hiện tượng theo chiều hướng tích cực, từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, dựa trên sự biến đổi cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu của các yếu tố cấu thành

Chính sách hỗ trợ phát triển là các biện pháp được thể chế hóa để giúp cho

sự vật, hiện tượng biến đổi theo chiều hướng tích cực, chiều hướng đi lên để đạt mục tiêu mà cá nhân hay tổ chức đề ra

1.1.3 Khái niệm về chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia

1.1.3.1 Khái niệm chương trình

Theo ” Cẩm nang theo dõi và đánh giá” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư biên soạn, năm 2007: Chương trình là một tập hợp các hoạt động, các đề tài, dự án

có liên quan đến nhau và có thể liên quan đến một hoặc nhiều ngành, lĩnh vực, nhiều vùng lãnh thổ, nhiều chủ thể khác nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu xác định, có thời hạn thực hiện tương đối dài hoặc theo nhiều giai đoạn, nguồn lực để thực hiện có thể được huy động từ nhiều nguồn ở những thời điểm khác nhau, với nhiều phương thức khác nhau

Theo hướng dẫn giám sát và đánh giá đề tài, dự án nghiên cứu và phát triển nông nghiệp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2008: Chương trình là một tập hợp các đề tài, dự án, hoặc các hoạt động hay các thí nghiệm được định hướng để đạt được mục tiêu cụ thể Một chương trình thường không giới hạn về thời gian cụ thể như đề tài, dự án; chương trình có thang bậc nghiên cứu cao hơn đề tài, dự án

Giáo trình „ Phương pháp luận nghiên cứu khoa học”, tác giả Vũ Cao Đàm

có nêu ở trang 25 – 26: Chương trình là một nhóm các đề tài hoặc dự án, được tập hợp theo một mục đích xác định Giữa chúng có thể có tính độc lập tương

Trang 25

đối cao Tiến độ thực hiện các đề tài, dự án trong chương trình không có sự đòi hỏi quá cứng nhắc, nhưng những nội dung của chương trình thì phải luôn đồng bộ

Từ các tiếp cận trên, tác giả luận văn nhận thấy cách tiếp cận của tác giả Vũ Cao Đàm có tính khái quát cao và phù hợp với thực tiễn xây dựng và triển khai các chương trình cấp quốc gia hiện nay ở nước ta và trên thế giới

1.1.3.2 Khái niệm chương trình khoa học và công nghệ

Theo khoản 4, điều 15, Nghị định 81/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoa học và công nghệ (năm 2001), thì : chương trình khoa học và công nghệ bao gồm một nhóm các đề tài, dự án khoa học và công nghệ, được tập hợp theo một mục đích xác định nhằm thực hiện mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ cụ thể hoặc ứng dụng trong thực tiễn

Nghị định 08/2014/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 27 tháng 01 năm 2014,quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoa học và công nghệ năm 2013, trong Chương 1, điều 3, mục 8; có nêu: chương trình khoa học và công nghệ

là nhiệm vụ khoa học và công nghệ có mục tiêu chung giải quyết các vấn đề khoa học và công nghệ phục vụ phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ trung hạn hoặc dài hạn được triển khai dưới hình thức tập hợp các đề tài khoa học và công nghệ, dự án sản xuất thử nghiệm, dự án khoa học và công nghệ

Theo quan điểm của tác giả Luận văn, chương trình KH&CN là một tập hợp các đề tài, dự án hoặc các hoạt động có liên quan đến nhau và có thể liên quan đến một hoặc nhiều ngành, lĩnh vực nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu xác định, có thời hạn thực hiện tương đối dài hoặc theo nhiều giai đoạn, nguồn lực để thực hiện có thể huy động từ nhiều nguồn ở những thời điểm khác nhau, với nhiều phương thức khác nhau

1.2 Vai trò của thông tin KH&CN đối với các chương trình KH&CN cấp quốc gia

Thông tin là nhu cầu cơ bản không thể thiếu của mọi người, mọi tổ chức,

Trang 26

mọi quốc gia Ngày nay, người ta cho rằng thông tin chính là một nguồn lực của mỗi quốc gia và quốc gia nào sở hữu được nhiều thông tin hữu ích, nước

đó sẽ mau chóng phát triển, nhất là thông tin về khoa học và công nghệ Nguồn lực thông tin hay còn gọi tắt là tin lực, khác với các nguồn lực khác của mỗi quốc gia như tài lực, vật lực Trên thực tế, nguồn lực tự nhiên như khoáng sản, năng lượng, nhiên liệu càng dùng nhiều thì càng cạn kiệt, không hoặc ít có khả năng tái tạo Ngược lại, nguồn lực thông tin càng được dùng nhiều thì càng phong phú và phát triển thêm vì mỗi người sử dụng thông tin lại tạo ra những thông tin mới

Công tác phục vụ thông tin KH&CN cho các chương trình KH&CN cấp quốc gia là một hoạt động bao gồm các quá trình liên quan tới việc thu thập,

xử lý, lưu giữ, tìm kiếm, chia sẻ, cung cấp các thông tin, dữ liệu KH&CN đáp ứng các nhu cầu thông tin nảy sinh trong xuốt quá trình xác định, phê duyệt, triển khai, nghiệm thu, phổ biến và ứng dụng các kết quả của các nhiệm vụ thuộc các chương trình KH&CN cấp quốc gia Nếu công tác này được triển khai hiệu quả nó sẽ giúp nâng cao hiệu quả chung của các chương trình KH&CN cấp quốc gia Khi không được cung cấp các thông tin KH&CN, các nhà nghiên cứu phải thực hiện rất nhiều công đoạn khó khăn từ khi nảy sinh ý tưởng nghiên cứu đến khi tiến hành công tác nghiên cứu Họ phải tìm kiếm thông tin dựa trên nhiều nguồn khác nhau, tải về các bài toàn văn và tổ chức, sắp xếp thông tin một cách hợp lý Với những thông tin KH&CN đầy đủ, chính xác, cập nhật và kịp thời, các nhà quản lý, nghiên cứu có thể dành nhiều thời gian và sức lực hơn cho hoạt động sáng tạo, trực tiếp giải quyết các vấn

đề thuộc nội dung nghiên cứu để đạt được mục tiêu và kết quả đề ra Việc cung cấp thông tin KH&CN sẽ tìm kiếm thông tin theo vấn đề nghiên cứu được yêu cầu, phân tích, tổng hợp và tổ chức thông tin thành những gói thông tin và cung cấp thông tin cho người sử dụng để họ có căn cứ khoa học để tiến hành các bước nghiên cứu tiếp theo của mình Thông qua việc cung cấp thông tin, các đề tài, dự án cụ thể được đề xuất để tham gia các Chương trình KH&CN quốc gia, sẽ có nội dung phù hợp, nhằm giải quyết các mục tiêu, nội

Trang 27

dung đã được phê duyệt của Chương trình; đặc biệt là có thể khắc phục hiện tượng trùng lặp, cũng như kế thừa, phát huy kết quả nghiên cứu của các nhiệm vụ đã được thực hiện trên phạm vi cả nước Theo thống kê, nếu làm tốt công tác thông tin KH&CN thì hàng năm thế giới không phải lãng phí từ 40 - 70% kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học do sự trùng lắp của các đề tài, công trình nghiên cứu Các nhà khoa học sẽ dành thời gian nhiều hơn để nghiên cứu các vấn đề thực sự mới và cần thiết, những công trình mà chưa ai nghiên cứu Qua đó, tính hiệu quả của các công trình nghiên cứu cũng được

nâng lên

Thông tin KH&CN là nguyên liệu đầu vào cho quá trình xây dựng các Chương trình KH&CN cấp quốc gia Thông qua nguồn nguyên liệu này, các nhà nghiên cứu sẽ đưa ra các dự báo về sự phát triển của KH&CN, tiềm năng KH&CN, các vấn đề về đổi mới và phát triển, nhận thức được các ngành mũi nhọn, các lĩnh vực trọng điểm đang được xã hội quan tâm, từ đó, đưa ra định hướng để xây dựng các đề tài, dự án KH&CN phù hợp với sự phát triển của đất nước Đặc biệt trong thời đại ngày nay, thông tin KH&CN không chỉ chứa đựng ở các vật mang tin truyền thống mà thông tin đã được số hóa Internet giúp cho thông tin được truyền tải một cách nhanh chóng Người dùng tin có thể tiếp cận các thông tin KH&CN hiện đại trong nước và trên thế giới, để bắt kịp với xu thế của sự phát triển Dựa vào nguồn nguyên liệu là thông tin KH&CN, các nhà nghiên cứu trong quá trình nghiên cứu và xử lý sẽ cho ra đời các sản phẩm nghiên cứu đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Sản phẩm này tiếp tục được cung cấp cho người dùng tin làm nguyên liệu đầu vào của quá trình nghiên cứu, đồng thời các sản phẩm này phải có tính ứng dụng vào đời sống Như vậy, thông tin KH&CN vừa là nguyên liệu đầu vào của quá trình nghiên cứu, vừa là sản phẩm của quá trình nghiên cứu

Trong quá trình hoạt động thông tin, việc thu thập và phổ biến thông tin KH&CN chính là phổ biến những thành tựu mới của KH&CN hiện đại vào sản xuất, đời sống với những hình thức, bước đi, quy mô thích hợp Ở giai đoạn cuộc cách mạng KH&CN đang bùng nổ như hiện nay, điểm nổi bật

Trang 28

được chú trọng là ứng dụng những thành tựu mới, tiên tiến về KH&CN, đặc biệt là các ngành công nghệ cao như : công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ vũ trụ, công nghệ chế tạo robot Thế giới

đã trải qua hai cuộc cách mạng kỹ thuật Cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất diễn ra đầu tiên ở nước Anh vào 30 năm cuối thế kỷ XVIII và hoàn thành vào những năm 50 đầu thế kỷ XX với nội dung chủ yếu là cơ khí hoá, thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc Cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ hai còn gọi là cuộc cách mạng KH&CN hiện đại, xuất hiện vào những năm 50 của thế kỷ XX và nhanh chóng làm nên sự thay đổi to lớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội toàn cầu Cuộc cách mạng này có nhiều nội dung, song có năm lĩnh vực chủ yếu, đó là: Tự động hoá, sử dụng ngày càng nhiều máy tự động quá trình, máy công cụ điều khiển bằng số, rôbốt; sử dụng năng lượng, ngoài những dạng năng lượng truyền thống (nhiệt điện, thuỷ điện) ngày nay đã và đang chuyển sang lấy dạng năng lượng nguyên tử là chủ yếu và các dạng năng lượng "sạch" như năng lượng mặt trời, v.v ; công nghệ vật liệu mới, xuất hiện với nhiều chủng loại rất phong phú và có nhiều tính chất đặc biệt mà vật liệu tự nhiên không có được

Ví dụ: vật liệu tổ hợp (composit); gốm zincôn hoặc cácbuasilích chịu nhiệt cao ; công nghệ sinh học, được ứng dụng ngày càng nhiều trong công nghiệp, nông nghiệp, y tế, hoá chất, bảo vệ môi trường như công nghệ vi sinh, kỹ thuật cuzin, kỹ thuật gen và nuôi cấy tế bào; điện tử và tin học, đây là lĩnh vực vô cùng rộng lớn, hấp dẫn đang được loài người đặc biệt quan tâm, nhất là lĩnh vực máy tính diễn ra theo bốn hướng: nhanh (máy siêu tính); nhỏ (vi tính); máy tính có xử lý kiến thức (trí tuệ nhân tạo); máy tính nói từ xa (viễn tin học)

Mục tiêu các chương trình KH&CN cấp quốc gia là phát triển nền kinh tế,

xã hội của đất nước nhanh và bền vững, đưa nền KH&CN của nước nhà hội nhập với nền KH&CN trên thế giới Thông tin KH&CN chính là cầu nối, việc phổ biến, cung cấp các thông tin KH&CN chính là tạo điều kiện để ứng dụng các sản phẩm của nghiên cứu khoa học vào trong đời sống Phát triển mạnh

Trang 29

mẽ thông tin KH&CN, làm cho KH&CN thực sự là động lực để phát triển nền kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đưa nước

ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020

1.3 Chương trình KH&CN cấp quốc gia gia đoạn 2011-2015

1.3.1 Danh mục các chương trình KH&CN cấp quốc gia

Trong giai đoạn 2011-2015, Việt Nam đã và đang triển khai 12 chương trình KH&CN cấp quốc gia, bao gồm:

- Chương trình nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020 (được phê duyệt theo Quyết định số 712/QĐ-TTg ngày 21/5/2010);

- Quy định áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000/2008 vào hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước (được phê duyệt theo Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg ngày 20/06/2006 và 118/2009/QĐ-TTg ngày 30/09/2009);

- Đề án hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại (được phê duyệt theo Quyết định số 682/QĐ-TTg ngày 10/5/2011);

- Chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi giai đoạn 2011-2015 (được phê duyệt theo Quyết định số 1831/QĐ-TTg ngày 01/10/2010);

- Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2011-2015 (được phê duyệt theo Quyết định số 2204/QĐ-TTg ngày 06/12/2010);

- Chương trình phát triển sản phẩm Quốc gia đến năm 2020 (được phê duyệt theo Quyết định số 2441/QĐ-TTg ngày 31/12/2010);

- Chương trình Quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020 (được phê duyệt theo Quyết định số 2457/QĐ-TTg ngày 31/12/2010);

- Chương trình đổi mới công nghệ Quốc gia đến năm 2020 (được phê duyệt theo Quyết định số 677/QĐ-TTg ngày 10/5/2011);

Trang 30

- Đề án Hội nhập Quốc tế về khoa học và công nghệ (được phê duyệt theo Quyết định số 735/QĐ-TTg ngày 22/5/2011);

- Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KH&CN và tổ chức KH&CN công lập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm (được phê duyệt theo Quyết định số 592/QĐ-TTg ngày 22/5/2012);

- Đề án tăng cường năng lực nghiên cứu, triển khai và hỗ trợ kỹ thuật phục

vụ phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử và đảm bảo an toàn, an ninh (được phê duyệt theo Quyết định số 265/QĐ-TTg ngày 05/03/2012);

- Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020 (được phê duyệt theo Quyết định số 2075/QĐ-TTg ngày 8/11/2013)

1.3.2 Mục tiêu các chương trình KH&CN cấp quốc gia

Để nắm bắt và hiểu rõ các nhu cầu thông tin cần đáp ứng trong quá trình triển khai các chương trình KH&CN cấp quốc gia, cần khảo sát chi tiết các mục tiêu đặt ra đối với từng chương trình KH&CN cấp quốc gia cụ thể Dưới đây, tác giả Luận văn trình bày kết quả khảo sát và hệ thống hóa các nhu cầu thông tin cần đáp ứng để đạt được các mục tiêu của các chương trình cụ thể

1.3.2.1 Chương trình nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020

- Xây dựng và áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, các hệ thống quản lý, mô hình, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng; phát triển nguồn lực cần thiết để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa

- Tạo bước chuyển biến rõ rệt về năng suất và chất lượng của các sản phẩm, hàng hoá chủ lực, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

1.3.2.2 Chương trình „Quy định áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000/2008 vào hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước”

Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 (dưới đây gọi chung là hệ thống quản lý chất lượng) được tiến hành thông qua việc xây dựng và thực hiện hệ thống quy trình xử lý công việc hợp lý, phù hợp với

Trang 31

quy định của pháp luật nhằm tạo điều kiện để người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước kiểm soát được quá trình giải quyết công việc trong nội bộ của cơ quan, thông qua đó từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả của

công tác quản lý và cung cấp dịch vụ công

1.3.2.3 Đề án hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại

Mục tiêu tập trung vào các vấn đề chính như góp phần ổn định kinh tế vĩ

mô, phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng Nâng cao năng lực của các cơ quan tổ chức Việt Nam trong việc thực thi các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Hiệp định TBT của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của Việt Nam

1.3.2.4 Chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học

và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi giai đoạn 2011-2015

Chuyển giao, ứng dụng công nghệ và tiến bộ kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, bảo quản, chế biến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của một số hàng hóa và nông sản trên thị trường trong nước và ngoài nước, phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở nông thôn, góp phần xóa đói nghèo, tạo việc làm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho cộng đồng dân cư ở nông thôn bằng các giải pháp khoa học và công nghệ Liên kết và phối hợp với các Chương trình mục tiêu Quốc gia, các chương trình kinh tế - xã hội khác lựa chọn và triển khai ứng dụng các công nghệ phù hợp để đúc rút kinh nghiệm, tạo căn cứ thực tiễn cho việc phổ cập các giải pháp công nghệ tiến bộ như một biện pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư các nguồn lực của Nhà nước nói riêng và nguồn lực của xã hội nói chung

Đào tạo, bồi dưỡng cho nông dân và cán bộ cơ sở nâng cao năng lực, nhằm giúp các địa phương chủ động tìm kiếm, lựa chọn và triển khai các dự án ứng dụng công nghệ tiên tiến thích hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

1.3.2.5 Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2011-2015

Trang 32

Tiếp tục nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân về tạo, lập, quản lý, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ;

Góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ của Việt Nam, trong đó ưu tiên hỗ trợ các sản phẩm chiến lược, đặc thù, có tiềm năng xuất khẩu

1.3.2.6 Chương trình phát triển sản phẩm Quốc gia đến năm 2020

Hình thành, phát triển các sản phẩm hàng hóa thương hiệu Việt Nam bằng công nghệ tiên tiến, có khả năng cạnh tranh về tính mới, về chất lượng và giá thành dựa trên việc khai thác các lợi thế so sánh về nhân lực, tài nguyên và điều kiện tự nhiên của đất nước; tăng cường chuyển giao công nghệ, tiếp thu, làm chủ và ứng dụng công nghệ vào các ngành kinh tế - kỹ thuật, công nghiệp then chốt; nâng cao năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp và tiềm lực công nghệ quốc gia

1.3.2.7 Chương trình Quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020

Thúc đẩy nghiên cứu, làm chủ và tạo ra công nghệ cao; ứng dụng hiệu quả công nghệ cao trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội; sản xuất sản phẩm, hình thành doanh nghiệp và phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao; xây dựng hạ tầng kỹ thuật và phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao

1.3.2.8 Chương trình đổi mới công nghệ Quốc gia đến năm 2020

Số lượng doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ tăng trung bình 10%/năm

100% doanh nghiệp sản xuất sản phẩm chủ lực, sản phẩm trọng điểm, sản phẩm quốc gia làm chủ được công nghệ tiên tiến để sản xuất sản phẩm

30.000 kỹ sư, kỹ thuật viên và cán bộ quản lý doanh nghiệp nhỏ và vừa được đào tạo về quản lý công nghệ, quản trị công nghệ và cập nhật công nghệ mới

Hình thành ít nhất một mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững ứng dụng công nghệ tiên tiến tại mỗi vùng sinh thái

1.3.2.9 Đề án Hội nhập Quốc tế về khoa học và công nghệ

Trang 33

Đưa Việt Nam trở thành nước mạnh trong một số lĩnh vực khoa học và công nghệ vào năm 2020 phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, rút ngắn khoảng cách về trình độ khoa học và công nghệ của nước ta với khu vực và thế giới

1.3.2.10 Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KH&CN và tổ chức KH&CN công lập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Hỗ trợ hình thành và phát triển 3.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ; thành lập 100 cơ sở và đầu mối ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, trong đó tập trung chủ yếu tại các viện nghiên cứu, trường đại học

Hỗ trợ 1.000 cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, các nhóm nghiên cứu mạnh được ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ tại các cơ sở và đầu mối ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho 5.000 lượt đối tượng thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ và các đối tượng có liên quan

Hỗ trợ các tổ chức khoa học và công nghệ công lập chưa chuyển đổi thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hoàn thành việc chuyển đổi trước ngày 31 tháng 12 năm 2013

1.3.2.11 Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020

Tăng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ khoa học và công nghệ trên thị trường hằng năm bình quân không dưới 15%, không dưới 20% đối với một số công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển

Tỷ trọng giao dịch mua bán tài sản trí tuệ (giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật) trong tổng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường khoa học và công nghệ đạt không dưới 10% vào năm 2015 và không dưới 20% vào năm 2020

Đến năm 2020: Thiết lập mạng lưới sàn giao dịch công nghệ kèm theo: hệ thống tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ hỗ trợ, trọng tâm là thành phố

Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng

Trang 34

1.3.2.12 Đề án tăng cường năng lực nghiên cứu, triển khai và hỗ trợ kỹ thuật phục vụ phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử và đảm bảo an toàn, an ninh

a) Xây dựng chương trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử

- Nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ của quốc gia trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, đặc biệt là xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ có trình độ với nhiều chuyên gia đẳng cấp quốc tế

- Hỗ trợ tiếp thu, làm chủ, chuyển giao và phát triển công nghệ trong lĩnh vực ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ, điện hạt nhân, an toàn bức xạ và môi trường, an toàn hạt nhân và bệnh nhiễm xạ theo lộ trình đặt ra của các quy hoạch chi tiết phát triển ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các ngành kinh tế - xã hội và Định hướng quy hoạch phát triển điện hạt nhân đến năm 2030

- Tạo ra nhiều công nghệ, sản phẩm và các hoạt động dịch vụ kỹ thuật trong lĩnh vực ứng dụng năng lượng nguyên tử có khả năng thương mại hóa

và hỗ trợ thúc đẩy hình thành ngành công nghiệp công nghệ hạt nhân

b) Phát triển Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam

Xây dựng và phát triển Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực đảm nhiệm chức năng:

- Cơ quan nghiên cứu - triển khai công nghệ kỹ thuật cao trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử phục vụ thúc đẩy ứng dụng bức xạ, phát triển điện hạt nhân và đào tạo cán bộ

- Cơ quan hỗ trợ kỹ thuật quốc gia độc lập về kiểm tra chất lượng và bảo đảm chất lượng, bảo đảm an toàn, an ninh và bảo vệ môi trường cho phát triển điện hạt nhân

c) Xây dựng hệ thống cấp cứu và điều trị bệnh nhiễm xạ

Xây dựng hệ thống cơ sở chữa bệnh nhiễm xạ sẵn sàng đáp ứng cứu chữa tại chỗ nạn nhân bị tổn thương do bức xạ và tổ chức điều trị cơ bản theo phân tuyến từ tại chỗ đến tuyến khu vực và tuyến Trung ương

Trang 35

1.3.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả các chương trình KH&CN cấp quốc gia

Việc nắm bắt các nhu cầu thông tin cần đáp ứng trong quá trình triển khai thực hiện các chương trình KH&CN cấp quốc gia còn có thể dựa trên việc phân tích, nắm bắt từ các tiêu chí đánh giá hiệu quả của các chương trình Đánh giá hiệu quả các chương trình KH&CN cấp quốc gia để tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của các chương trình Hiệu quả của các chương trình KH&CN được đánh giá, theo các tiêu chí sau:

Thứ nhất, đó là hiệu quả về kinh tế, năng lực các chương trình KH&CN quốc gia có triển vọng làm biến đổi cơ cấu một ngành kinh tế đang tồn tại hoặc triển vọng phát triển một ngành kinh tế mới Có khả năng tính toán được giá trị thu được bằng tiền do kỹ thuật mới đưa lại Phần tăng doanh số do sử dụng công nghệ mới, sản phẩm mới Phần tăng lợi nhuận do công nghệ mới, sản phẩm mới đưa lại

Thứ hai, hiệu quả xã hội, các chương trình KH&CN quốc gia có tác động nâng cao dân trí, xóa đói giảm nghèo, khắc phục bất bình đẳng xã hội, tác động đến sức khỏe cộng đồng và đến môi trường

Thứ ba, hiệu quả khoa học và công nghệ, thể hiện qua mức độ đóng góp của công trình nghiên cứu vào quá trình giải quyết các vấn đề khoa học và công nghệ đặt ra trong từng thời kỳ phát triển khoa học và công nghệ cụ thể, thúc đẩy sự phát triển khoa học và công nghệ (cơ sở lý luận, trình độ khoa học

và năng lực công nghệ quốc gia v.v…) Hiệu quả khoa học công nghệ có thể đánh giá qua so sánh tổng chi phí đầu tư cho công trình nghiên cứu (nhân lực, vật lực, tài lực, tin lực) với mức độ đóng góp và phạm vi tác động vào quá trình giải quyết các vấn đề khoa học và công nghệ nói chung và từng lĩnh vực khoa học và công nghệ nói riêng Bên cạnh đó, hiệu quả KH&CN còn được đánh giá thông qua những khái niệm, phạm trù mới hay các phát minh, sáng chế

Thứ tư, hiệu quả thông tin, thể hiện qua quá trình và kết quả thu thập thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu, xử lý, phân tích, đánh giá và sử dụng các nguồn

Trang 36

thông tin đa dạng và tin cậy phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu và phổ biến thông tin khoa học kết quả các chương trình KH&CN Các kết quả nghiên cứu được xử lý, thông tin rộng rãi trong cộng đồng khoa học và xã hội Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả các chương trình KH&CN quốc giá được thể hiện: đưa lại thông tin mới cho ngành khoa học và công nghệ nói chung Đồng thời, đưa lại thông tin mới cho các ngành khoa học khác

* Kết luận Chương 1

Thông tin KH&CN đã trở thành vấn đề thời đại,có vai trò quan trọng trong việc xây dựng,phê duyệt, triển khai thực hiện và ứng dụngkết quả các Chương trình KH&CN cấp quốc gia Song bản thân thông tin KH&CN không thể tạo

ra giá trị Giá trị thông tin KH&CN được hình thành từ kết quả sử dụng thông tin KH&CN trong quá trình lao động sáng tạo của các nhà khoa học thực hiện các nhiệm vụ KH&CN Giá trị của thông tin không chỉ được hiểu một chiều: Hoặc dương tính ( tích cực ), hoặc âm tính ( tiêu cực ) Trách nhiệm của cơ quan thông tin KH&CN là phải làm tăng phần các giá trị tích cực để thông tin KH&CN giúp cho con người giải quyết có hiệu quả các vấn đề của cuộc sống, hạn chế và tiến tới thủ tiêu các giá trị tiêu cực Có như vậy, thông tin KH&CN mới thực sự là nguồn lực của sự phát triển và hoạt động thông tin thực sự mới

là hoạt động có ích cho xã hội

Việc làm rõ các khái niệm có liên quan, xác định vai trò của thông tin KH&CN cũng như khảo sát, nắm bắt các nhu cầu thông tin cần đáp ứng dựa trên việc hệ thống hóa các mục tiêu và tiêu chí đánh giá hiệu quả các chương trình KH&CN cấp quốc gia giai đoạn 2011-2015 trong Chương này là cơ sở

lý luận và thực tiễn quan trọng giúp tác giả Luận văn giải quyết các nội dung

cơ bản của Luận văn trong các chương tiếp theo liên quan đến khảo sát, đánh giá hiện trạng mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ các chương trình KH&CN cấp quốc gia tại Cục Thông tin KH&CN quốc gia và đề xuất chính sách hỗ trợ phát triển mạng lưới đó trong thời gian tới

Trang 37

CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ CÁC CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP QUỐC GIA TẠI CỤC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ

CÔNG NGHỆ QUỐC GIA 2.1 Hiện trạng các chính sách thông tin KH&CN

Trong những năm qua, công tác quản lý hoạt động thông tin KH&CN được Đảng và Nhà nước rất quan tâm Hành lang pháp lý liên quan đến lĩnh vực thông tin KH&CN được củng cố mạnh mẽ thể hiện bằng việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này

Sau đây là một số văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động thông tin KH&CN:

Ngày 4/5/1972, Thủ tưởng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 89/CP “Về

việc tăng cường công tác thông tin KH&CN” Cùng năm đó, Chính phủ cũng

đã ra Quyết định “Thành lập Viện Thông tin Khoa học và Kỹ thuật Trung

ương” ( nay là Cục thông tin KH&CN quốc gia ) Đây là văn bản pháp qui

đầu tiên dành cho lĩnh vực thông tin KH&CN Nghị quyết 89/CP đã đặt nền móng về mặt pháp lý cho hoạt động thông tin KH&CN Nghị quyết này đã

mở đầu cho sự hình thành và phát triển hệ thống thông tin KH&CN rộng khắp trong cả nước

Quyết định 133/QĐ ngày 2/4/1985 của Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà

nước (nay là Bộ Khoa học & Công nghệ) ban hành kèm theo “Quy định thống

nhất về tổ chức và hoạt động thông tin khoa học kỹ thuật” Trên cơ sở văn

bản này, hoạt động của toàn bộ Hệ thống Thông tin KH&CN Quốc gia đã được tăng cường toàn diện cả về tổ chức, liên kết cũng như phát triển các sản phẩm, dịch vụ Mặc dù là văn bản pháp quy do cơ quan cấp Bộ ban hành, song Quy định trên đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hình thành

và phát triển khuôn khổ pháp lý của hoạt động thông tin KH&CN tại Việt Nam

Trang 38

Chỉ thị 95/CT ngày 4/4/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ

tướng Chính phủ) về “Công tác thông tin KH&CN” Đây là một văn bản pháp

qui quan trọng được ban hành sau 19 năm kể từ ngày ban hành Nghị quyết 89/CP Trong Chỉ thị này đã chỉ rõ những điểm yếu của Hệ thống thông tin KH&CN đã hình thành và phát triển trong giai đoạn trước đây và những đòi hỏi bức xúc của sự nghiệp đổi mới Văn bản này nhấn mạnh một số nội dung, nhiệm vụ trọng tâm cho các cơ quan thông tin trong giai đoạn mới phục vụ CNH-HĐH như quy hoạch Hệ thống, gắn thông tin KH&CN với thông tin kinh tế; chú trọng kế hoạch đào tạo cán bộ, tăng cường cơ sở vật chất – kỹ thuật, trang bị các thiết bị hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin ở một số cơ quan thông tin quan trọng và nhất là việc đảm bảo kinh phí cho hoạt động thông tin KH&CN

Nghị quyết Hội nghị lần thứ II BCH Trung ương Đảng Khóa VIII (số

02-NQ/HNTW ngày 24/12/1996) về “Định hướng chiến lược phát triển KH&CN

trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000” là

một tài liệu chỉ đạo cực kỳ quan trọng của Đảng ta đối với việc định hướng chiến lược phát triển KH&CN trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước Nghị quyết

đã khẳng định việc đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ cập kiến thức KH&CN là một trong tám giải pháp chủ yếu để thực hiện chiến lược nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của nước ta và xu thế phát triển chung của thế giới

Luật KH&CN của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã được Quốc hội

thông qua ngày 9/6 năm 2000 và được Chủ tịch nước ký ban hành ngày 22/6/2000, có hiệu lực từ ngày 1/1/2001 Luật KH&CN đã mở ra một giai đoạn mới về chất với khung khổ pháp lý của hoạt động thông tin KH&CN Với Đạo luật này, lần đầu tiên hoạt động thông tin KH&CN ở nước ta được điều chỉnh bằng luật pháp – văn bản cao nhất của Nhà nước Trong tổng số 59

điều của Luật KH&CN, ngoài những điều chung quy định cho hoạt động KH&CN nói chung, Luật KH&CN đã có 2 điều riêng về thông tin KH&CN:

Khoản 1, Điều 25 về Đăng ký, hiến tặng, lưu giữ kết quả nghiên cứu khoa học

Trang 39

và phát triển công nghệ “Kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công

nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước phải được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền và phải được lưu giữ tại cơ quan lưu trữ nhà nước”; Điều 45 về Thông

tin KH&CN "Chính phủ đầu tư xây dựng hệ thống thông tin khoa học và công

nghệ quốc gia hiện đại, bảo đảm thông tin đầy đủ và kịp thời về các thành tựu quan trọng trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ trong nước và trên thế giới; ban hành quy chế quản lý thông tin khoa học và công nghệ" Ngoài ra,

theo các điều khoản chung của Luật, hoạt động thông tin KH&CN còn được hưởng ưu tiên trong chính sách thuế của Nhà nước, đầu tư cho thông tin là đầu tư cho phát triển và thông tin KH&CN là một trong 11 nội dung cơ bản của quản lý Nhà nước về KH&CN Như vậy, hoạt động thông tin KH&CN đã được coi như là một bộ phận cấu thành của toàn bộ nền KH&CN nước ta Thông tư liên tịch số 15/2003/TTLT-BKH&CN-BNV ngày 15/7/2003, trong đó quy định tại các Sở KH&CN các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Trung tâm Tin học và Thông tin KH&CN

Nghị định số 159/2004/NĐ-CP đã cụ thể hóa vai trò của Nhà nước trong

việc “Xây dựng và phát triển Hệ thống thông tin KH&CN quốc gia” hiện đại

Điều này được thể hiện qua chính sách và các biện pháp; khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng và phát triển hệ thống thông tin KH&CN quốc gia hiện đại bằng chính sách và các biện pháp đảm bảo (cơ chế quản lý; tài chính, nhân lực, nguồn tin và cơ sở vật chất kỹ thuật); Tăng cường quản lý Nhà nước đối với các nguồn tin KH&CN, đặc biệt là nguồn tin KH&CN trong nước (kết quả thực hiện các chương trình, đề tài, đề án, dự án nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, các nhiệm vụ điều tra cơ bản có sử dụng kinh phí từ ngân sách Nhà nước); Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với hoạt động thông tin KH&CN, nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân hoạt động thông tin KH&CN; Đẩy mạnh xã hội hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thông tin KH&CN, cung cấp dịch vụ thông tin KH&CN; Bảo đảm cho các tổ chức, cá nhân dễ dàng tiếp cận thông tin KH&CN được tạo ra bằng ngân sách nhà

Trang 40

nước; Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho phát triển hoạt động thông tin KH&CN, khuyến khích phát triển dịch vụ thông tin KH&CN có thu, tạo lập thị trường thông tin KH&CN, đáp ứng nhu cầu tin của các tổ chức, cá nhân trong xã hội

Nghị định 115/2005/NĐ-Cp (ngày 5/9/2005) và Nghị định 96/2010/NĐ-CP ngày 20/9/2010 bổ sung Nghị định 115 là những văn bản quan trọng đánh dấu giai đoạn mới về chuyển đổi cơ chế hoạt động đối với các tổ chức KH&CN công lập, trong đó có các cơ quan thông tin KH&CN Nghị định 115 có thể

coi là khâu “đột phá” về cơ chế tự chủ đối với các tổ chức KH&CN nói chung

và các tổ chức thông tin KH&CN nói riêng, tạo điều kiện và thúc đẩy để các

tổ chức này chuyển theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, năng động, chất lượng, hiệu quả

Nghị định số 28/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định:

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu của Bộ Khoa học và Công nghệ,

thay thế Nghị định 54/2003/NĐ-CP ngày 19/5/2003 của Chính phủ Quy định

chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ KH&CN và Nghị

định 28/2004/NĐ-CP ngày 16/01/2004 của Chính phủ về Sửa đổi, bổ sung

một số điều của Nghị định số 54/2003/NĐ-CP Nghị định này quy định nhiệm

vụ quản lý hoạt động thông tin, thống kê KH&CN của Bộ KH&CN như sau:

"Quy định và hướng dẫn hoạt động thông tin, truyền thông, thư viện, thống kê

khoa học và công nghệ và phát triển thị trường khoa học và công nghệ; chỉ đạo và hướng dẫn hoạt động của mạng lưới các tổ chức dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ; xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho thông tin và thống kê khoa học và công nghệ, tổ chức các chợ công nghệ và thiết bị, các trung tâm giao dịch công nghệ, triển lãm khoa học và công nghệ, xây dựng cơ

sở dữ liệu về nhân lực và thành tựu khoa học và công nghệ, đầu tư phát triển các mạng thông tin khoa học và công nghệ tiên tiến kết nối với khu vực và quốc tế" (mục 8 Điều 8)

Quyết định 03/2007/QĐ-BKHCN về ban hành Quy chế đăng ký, lưu giữ

và sử dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN Để triển khai thực hiện Điều

Ngày đăng: 19/06/2016, 11:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học và công nghệ (2013), Quyết định số 1916/QĐ-BKHCN ngày 6/6/2013 của Bộ trưởng Bộ KH&CN về việc ban hành Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia 2. Bộ Khoa học và công nghệ (2013), Khoa học và Công nghệ Việt Nam2013, tr 88; tr 70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1916/QĐ-BKHCN ngày 6/6/2013 "của Bộ trưởng Bộ KH&CN về việc ban hành "Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia" 2. Bộ Khoa học và công nghệ (2013), "Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2013
Tác giả: Bộ Khoa học và công nghệ (2013), Quyết định số 1916/QĐ-BKHCN ngày 6/6/2013 của Bộ trưởng Bộ KH&CN về việc ban hành Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia 2. Bộ Khoa học và công nghệ
Năm: 2013
4. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2004), Nghị định số 159/2004/NĐ-CP ngày 31/08/2004 của Chính phủ về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 159/2004/NĐ-CP" ngày 31/08/2004 của Chính phủ về
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2004
5. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2014), Nghị định số 11/2014/NĐ – CP ngày 18/12/2014 của Chính phủ về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 11/2014/NĐ – CP" ngày 18/12/2014 của Chính phủ về
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2014
6. Vũ Cao Đàm ( 1998 ): Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Hà Nội, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: Nxb. Khoa học và Kỹ thuật
8. Vũ Cao Đàm ( 2011 ): Kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách. Hà Nội, Nxb. Thế giới, Công ty Từ Văn, 212tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách
Nhà XB: Nxb. Thế giới
9. Lê Xuân Định (2015), Quan điểm và định hướng về cơ chế chính sách và hạ tầng kỹ thuật để xây dựng và phát triển CSDL KH&CN quốc tế, Tạp chí Thông tin và Tư liệu, số 2/2015, tr 3 – 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm và định hướng về cơ chế chính sách và hạ tầng kỹ thuật để xây dựng và phát triển CSDL KH&CN quốc tế
Tác giả: Lê Xuân Định
Năm: 2015
10. Nguyễn Đăng Hải, Bàn về các khái niệm trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam, số 4/2011, tr 41 – 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về các khái niệm trong nghiên cứu khoa học và " phát triển công nghệ
11. Nguyễn Hữu Hùng: Phát triển thông tin khoa học & công nghệ để trở thành nguồn lực. Tạp chí Thông tin và tư liệu, số 1/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển thông tin khoa học & công nghệ để trở thành nguồn lực
12. Tạ Bá Hưng ( 1996 ): Chương trình và kế hoạch phát triển thông tin KH&CN của nước ta giai đoạn đến năm 2020. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình và kế hoạch phát triển thông tin KH&CN của nước ta giai đoạn đến năm 2020
13. Tạ Bá Hưng, Cao Minh Kiểm, Nguyễn Tiến Đức: Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam: Hiện trạng và định hướng phát triển. TC Thông tin Tư liệu, số 4, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam: Hiện trạng và định hướng phát triển
15. Nguyễn Lê Hằng (2011), Nâng cao năng lực đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng chính sách khoa học và công nghệ (nghiên cứu trường hợp Cục Thông tin KH&CN Quốc gia), Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành Chính sách Khoa học và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng chính sách khoa học và công nghệ (nghiên cứu trường hợp Cục Thông tin KH&CN Quốc gia)
Tác giả: Nguyễn Lê Hằng
Năm: 2011
16. Phùng Minh Lai (2002), Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng hệ thống đảm bảo thông tin khoa học và công nghệ cho các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước (đề tài cấp bộ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng hệ thống đảm bảo thông tin khoa học và công nghệ cho các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước
Tác giả: Phùng Minh Lai
Năm: 2002
17. Trần Thu Lan, Đào Mạnh Thắng (2011), Liên hợp thư viện Việt Nam về nguồn tin điện tử. Kỷ yếu Hội thảo khoa học ngành Thông tin, thống kê khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015, Lần thứ VI, Hà Nội ngày 24-25/11/2011, tr.111-120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên hợp thư viện Việt Nam về nguồn tin điện tử
Tác giả: Trần Thu Lan, Đào Mạnh Thắng
Năm: 2011
18. Phan Huy Quế (2011), Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển công tác thông tin – thư viện và thống kê KH&CN Việt Nam đến năm 2020 (Đề tài cấp bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển công tác thông tin – thư viện và thống kê KH&CN Việt Nam đến năm 2020
Tác giả: Phan Huy Quế
Năm: 2011
19. Phan Huy Quế (2011): Hoạt động tiêu chuẩn trong lĩnh vực thông tin và tư liệu – 5 năm nhìn lại. Kỷ yếu Hội thảo khoa học ngành Thông tin, thống kê khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015, Lần thứ VI, Hà Nội ngày 24-25/11/2011, tr. 79-87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động tiêu chuẩn trong lĩnh vực thông tin và tư liệu – 5 năm nhìn lại
Tác giả: Phan Huy Quế
Năm: 2011
21. Trần Thị Thu (2011), Phát triển nguồn tin phục vụ nghiên cứu và đào tạo ở Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo khoa học ngành Thông tin, thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn tin phục vụ nghiên cứu và đào tạo ở Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Thu
Năm: 2011
23. Trần Thị Hải Yến, Vũ Anh Tuấn (2015), Sản phẩm dich vụ thông tin KH&CN phục vụ Chương trình Quốc gia phát triển CNC đến năm 2020 tại Cục Thông tin KH&CN quốc gia, tạp chí Thông tin &Tư liệu , số 2/2015, tr.18 – 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản phẩm dich vụ thông tin KH&CN phục vụ Chương trình Quốc gia phát triển CNC đến năm 2020 tại Cục Thông tin KH&CN quốc gia
Tác giả: Trần Thị Hải Yến, Vũ Anh Tuấn
Năm: 2015
24. Trần Thị Hải Yến, Liên hợp thư viện Việt nam về nguồn tin điện tử: Cần làm gì để tiếp tục phát triển. Tạp chí Thông tin và tư liệu, số 3/2013, tr 29 – 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên hợp thư viện Việt nam về nguồn tin điện tử: Cần làm gì để tiếp tục phát triển

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w