1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự tham gia của cộng đồng vào quá trình xây dựng nông thôn mới ( trường hợp thân tân mỹ, xã thụy hương, huyện chương mỹ, thành phố hà nội

112 301 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 4,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiến hành phỏng vấn sâu những đối tượng là cán bộ xã và thôn, đã từng tham gia các dự án XDNTM; những cá nhân đại diện cho các tầng lớp dân cư trong thôn nên có thể lắng nghe được tiếng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Hà Nội, ngày 14 tháng 01 năm 2016

Tác giả luận văn

Hoàng Cao Phúc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Công trình này là sự tập hợp của nhiều nguồn tư liệu và đối tượng nghiên cứu, nếu tự bản thân người viết sẽ không thể thực hiện được Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô giáo, sự sẻ chia đầy tình nghĩa của những người bạn cùng lớp, của đồng nghiệp và những người thân trong gia đình

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy giáo, cô giáo của Khoa Nhân học - Trường ĐHKHXH&NV - ĐHQGHN, đặc biệt là sự quan tâm, giúp đỡ của PGS.TS Nguyễn Văn Sửu đã giúp tôi thực hiện để tài nghiên cứu này Xin cảm ơn những người bạn cùng lớp và đồng nghiệp đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn này

Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến UBND xã Thụy Hương, ban lãnh đạo thôn Tân Mỹ và đặc biệt bà con nhân dân thôn Tân Mỹ đã nhiệt tình cộng tác, giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này

Hà Nội, ngày 14 thàng 01 năm 2016

Học viên: Hoàng Cao Phúc

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4

MỞ ĐẦU 5

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Đóng góp của luận văn 8

6 Bố cục luận văn 8

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 9

1.1 Tổng quan tài liệu 9

1.2 Một số khái niệm cơ bản 18

1.2.1 Khái niệm nông thôn và nông thôn mới 18

1.2.2 Khái niệm cộng đồng 20

1.3 Tiếp cận lý thuyết về sự tham gia 21

1.3.1 Về cách tiếp cận tham gia 21

1.3.2 Khái niệm sự tham gia 26

Tiểu kết chương 1 28

Chương 2: QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở THỤY HƯƠNG 30 2.1 Chương trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 30

2.1.1 Khái quát tiến trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 30

2.1.2 Những kết quả ban đầu 32

2.2 Xã Thụy Hương và quá trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới 33 2.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Thụy Hương 33

2.2.2 Về quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thụy Hương 35

Tiểu kết chương 2 45

Trang 6

Chương 3: VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG

THÔN MỚI Ở TÂN MỸ 46

3.1 Tiến trình cộng đồng tham gia xây dựng nông thôn mới ở Tân Mỹ 46

3.1.1 Đặc điểm cộng đồng ở Tân Mỹ 46

3.1.2 Vai trò và các hình thức tham gia của cộng đồng vào quá trình xây dựng nông thôn mới 47

3.2 Mức độ và phạm vi tham gia 49

3.2.1 Sự tham gia của cộng đồng trong thảo luận về kế hoạch xây dựng mô hình nông thôn mới 49

3.2.2 Cộng đồng tham gia tập huấn khoa học kỹ thuật và xây dựng, phát triển các mô hình sản xuất, kinh doanh 52

3.2.3 Cộng đồng tham gia đóng góp các nguồn lực xây dựng mô hình nông thôn mới 56

3.2.4 Cộng đồng tham gia giám sát việc thực hiện các chương trình, dự án trong xây dựng mô hình nông thôn mới 57

2.2.5 Cộng đồng tham gia hưởng dụng và quản lý các công trình trong xây dựng mô hình nông thôn mới 61

Tiểu kết chương 3 64

Chương 4: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở THỤY HƯƠNG 66

4.1 Thành công và hạn chế 66

4.1.1 Những thành công 66

4.1.2 Những hạn chế và bất cập 68

4.2 Một số phân tích mang tính gợi ý chính sách 72

4.2.1 Công tác quy hoạch 72

4.2.2 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở và đào tạo nghề cho lao động nông thôn đáp ứng nhu cầu xây dựng nông thôn mới 73

4.2.3 Có cơ chế để người dân thực hiện vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới 75

Trang 7

4.2.4 Phát triển sản xuất, cải thiện và nâng cao thu nhập cho người dân; phát

triển các hình thức tổ chức sản xuất 76

4.2.5 Cải thiện chất lượng và đa dạng hóa nội dung các hoạt động 79

4.2.6 Tăng cường vai trò của các hội, các tổ chức đoàn thể trong xây dựng nông thôn mới 79

Tiểu kết chương 4 80

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHẦN PHỤ LỤC 92

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BCĐ: Ban Chỉ đạo BQL: Ban Quản lý MHNTM: Mô hình nông thôn mới NTM: Nông thôn mới

XDNTM: Xây dựng nông thôn mới

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH

Bảng 1.1: Nấc thang mô tả mức độ tham gia của người dân của Arnstein

Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống quản lý chương trình xây dựng nông thôn mới

Hình 1.2: Ma trận về vai trò của các bên liên quan trong XDNTM ở Thụy Hương Bảng 1.2: Nội dung và kết quả thực hiện 19 tiêu chí XDNTM ở Thụy Hương

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình đổi mới ở Việt Nam đã mang lại những đổi thay quan tro ̣ng ở khu vực nông thôn nói chung, cho cuộc sống và sinh kế của nhiều hộ gia đình nông dân nói riêng Những chuyển đô ̣ng ma ̣nh mẽ ở một số địa bàn thuộc khu vực nông thôn tiếp tục diễn ra mạnh hơn khi Nhà nước ban hành và thực thi hàng loa ̣t chính sách kèm theo đó là việc đầu tư và huy động các nguồn lực khác nhau trong khuôn khổ một chương trình phát triển quy mô lớn Đó là Chương trình xây dựng nông thôn mới, với mục tiêu hỗ trợ, khuyến khích phát triển nông thôn lên một tầm cao hơn, toàn diện hơn

Chương trình xây dựng nông thôn mới trở thành một nội dung quan trọng, thu hút sự quan tâm của Đảng và Nhà nước từ trung ương xuống địa phương, đặc biệt là cả những người nông dân và cộng đồng của họ ở các địa bàn triển khai chương trình đặc biệt quan trọng này ở nông thôn Việt Nam đương đại

Mô ̣t nông thôn giàu có, văn minh nơi người dân được sống trong môi trường tự nhiên trong lành, xã hội yên bình và có đời sống vật chất , tinh thần phong phú không chỉ là niềm mơ ước của chính người dân nông thôn mà đã trở thành mu ̣c tiêu phấn đấu và quyết tâm hành đô ̣ng của cả hê ̣ thống chính tri ̣ ở Viê ̣t Nam hiê ̣n hành Những ưu tiên đă ̣c biê ̣t về chính sách và các nguồn lực của Nhà nước cũng như chính quyền các địa phương dành cho quá trình này đã nói lên điều đó Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam giờ đây không phải là sứ mệnh của riêng chính quyền hay của người dân nông thôn mà là trách nhiệm chung của tất cả các thành phần trong xã hội, trong đó đặc biệt là chính quyền cấp cơ sở và người dân ở chính địa bàn đó Cho đến thời điểm này quá trình xây dựng nông thôn mới đã và đang được triển khai thực hiê ̣n ở hầu khắp các đi ̣a bàn nông thôn trên cả nước Đến nay một số địa phương được đánh giá và có quyết định công nhận đã hoàn thành các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới trong khi còn nhiều địa phương khác đang cố gắng đạt được mục tiêu này trong thời gian sớm nhất có thể Bằng nhiều cách khác nhau, các địa phương sẽ phấn đấu hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới theo những

Trang 10

tiêu chí đề ra Song sự thành công của quá trình xây dựng nông thôn mới lại được quyết định bởi hiệu quả và tính bền vững của nó trong đời sống xã hội nông thôn

Để đánh giá được vấn đề này cần phải làm rõ vị thế và vai trò cũng như sự nhập cuộc của các bên ra sao trong quá trình xây dựng nông thôn mới Xuất phát từ lý do

đó, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Sự tham gia của cô ̣ng đồng vào quá trình xây dựng nông thôn mới (trường hợp thôn Tân M ỹ, xã Thu ̣y Hương , huyê ̣n Chương

- Phân tích và đánh giá mối quan hệ của các bên trong tiến trình XDNTM,

đă ̣t trong bối cảnh Viê ̣t Nam

Để làm rõ mục đích nêu trên, trong đề tài nghiên cứu tôi đưa ra những câu hỏi nghiên cứu sau:

- Người dân ở Tân Mỹ đã tham gia như thế nào vào quá trình XDNTM?

- Động lực hay nguyên nhân nào thúc đẩy người dân tham gia vào quá trình XDNTM?

- Tác động của chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị-xã hội đến sự tham gia của người dân ở Tân Mỹ vào quá trình XDNTM ra sao?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động của cộng đồng và mối quan hệ giữa các chủ thể của cộng đồng tham gia vào quá trình XDNTM

- Phạm vi nghiên cứu của để tài: về không gian được giới hạn ở địa bàn thôn Tân Mỹ và xã Thụy Hương; về thời gian trong khoảng 2009-2014, trong đó tập trung chủ yếu vào các năm từ 2009 đến 2011 là thời điểm xã thực hiện xây dựng thí điểm mô hình NTM

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng vào quá trình xây dựng nông thôn mới ở Tân Mỹ có nghĩa phải tìm hiểu sự tham gia của mọi thành phần dân cư trong cộng đồng vào quá trình này Để đạt được mục tiêu này, trong quá trình nghiên cứu tôi sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp phỏng vấn sâu dựa trên cách chọn mẫu có chủ đích Tiến hành phỏng vấn sâu những đối tượng là cán bộ xã và thôn, đã từng tham gia các dự án XDNTM; những cá nhân đại diện cho các tầng lớp dân cư trong thôn nên có thể lắng nghe được tiếng nói đa chiều từ nhiều chủ thể, từ đó có được sự nhìn nhận và đánh giá khách quan về vai trò của các bên tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn mới Để làm được việc này tôi đã tổ chức các hoạt động điền dã tại địa bàn trong thời gian 01 tháng (từ 16/9/2015 đến 16/10/2015) và tiến hành phỏng vấn sâu

30 người (trong đó 05 người là cán bộ xã, thôn và 25 người thuộc các tầng lớp khác nhau ở cộng đồng) Thông tin từ những cuộc phỏng vấn sâu sẽ là nguồn tư liệu phong phú giúp cho việc phân tích, đánh giá các hoạt động tham gia của người dân một cách xác đáng

Bên cạnh đó tôi sử dụng phương pháp quan sát tham dự bằng cách trực tiếp tham dự vào những hoạt động ở các xóm trong thôn Tân Mỹ Bước đầu tiên của quá trình này tôi sẽ tiến hành quan sát những công trình, dự án đã và đang được thực hiện ở địa bàn, quan sát hoạt động của các nhóm cộng đồng cũng như thành viên của mỗi nhóm Tiếp đó sẽ tham gia vào những hoạt động cụ thể để có thể cảm nhận được mình là một thành viên thuộc về một nhóm nào đó của cộng đồng, đồng thời cũng để lắng nghe tiếng nói của các thành viên khác

Ngoài ra, tôi sử dụng các phương pháp thu thập và xử lý thông tin, dữ liệu nhằm thu thập thông tin, dữ liệu từ các văn bản của các cấp chính quyền từ xã đến thôn Từ những thông tin, dữ liệu và số liệu này có thể làm căn cứ để so sánh, đối chiếu với những thông tin thu thập được từ các cuộc phỏng vấn định tính và quá trình quan sát tham dự tại thực địa để có được sự phân tích và đánh giá đúng đắn

Trang 12

5 Đóng góp của luận văn

- Từ hoạt động thực địa, đề tài nghiên cứu sẽ cung cấp nguồn tư liệu phong phú trên cơ sở đó phân tích, đánh giá các hoạt động mà cộng đồng tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn mới

- Đề tài nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ vai trò của các chủ thể trong cộng đồng tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn mới

6 Bố cục luận văn

Trên cơ sở thực địa và bám sát vào nội đung nghiên cứu, luận văn được bố cục thành các chương sau:

Chương 1: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý luận

Chương 2: Quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thụy Hương

Chương 3: Vai trò của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới ở Tân Mỹ Chương 4: Một số vấn đề về quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thụy Hương

Trang 13

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan tài liệu

Trong mấy thập kỷ gần đây có không ít các công trình nghiên cứu về nhiều vấn đề khác nhau của nông thôn Việt Nam, dưới cả góc độ lý luận, thực tiễn và định hướng chính sách; cả về các thành tựu, cơ hội cũng như những hạn chế, thách thức

và bài học kinh nghiệm cho phát triển nông thôn Việt Nam

Trong đó, chủ đề phát triển nông thôn được nhiều nhà khoa học quan tâm với một loạt công trình nghiên cứu Ví dụ, các tác giả Vũ Trọng Khôi, Đỗ Thái Đồng,

Phạm Bích Hợp trong một nghiên cứu với tiêu đề “Pha ́ t triển nông thôn Viê ̣t Nam từ làng xã truyền thống đến văn minh thờ i đại” đã đề xuất các mô hình phát triển

kinh tế - xã hội nông thôn mới dựa trên sự kết hợp những truyền thống của làng xã Viê ̣t Nam với văn minh thời đa ̣i

Theo đó, ở những khu vực địa lý và lĩnh vực khác nhau với những điều kiê ̣n không hoàn toàn giống nhau cần phải thiết lâ ̣p các mô hình phát triển nông thôn tương ứng Luận điểm này gần tương đồng với Nguyễn Mạnh Dũng khi tác giả nhấn mạnh đến việc phát huy yếu tố lợi thế và những đặc trưng của mỗi làng trong

quá trình XDNTM (trong điều kiện của Nhật Bản) [18] Quan điểm về vấn đề phát

triển nông thôn của các tác giả tuy chưa hẳn xuất phát từ lý thuyết cấu trúc chức năng song chính những yếu tố khác biệt về điều kiện tự nhiên và xã hội tạo nên lợi thế ở mỗi vùng, miền (hay làng) lại gần như đảm nhận những chức năng thiết yếu trong việc duy trì và thúc đẩy một tiến trình phát triển hài hòa ở một vùng hay giữa các vùng với nhau Mă ̣c dù chưa đề câ ̣p đến vai trò của cô ̣ng đồng vào quá trình xây dựng mô hình phát triển ở nông thôn , nghiên cứu này đã chỉ ra rằng “cần phải tìm kiếm những cơ chế quản lý phù hợp với sự thay đổi những vai trò của cả đơn vi ̣

làng lẫn đơn vị xã trong hệ thống hành chính ở cơ sở”[18, tr 269]

Những phác h ọa của Nguyễn Ma ̣nh Dũng về sự thàn h công của Phong trào

“Mỗi làng, Mô ̣t sản phẩm”1

ở Nhật Bản trên cơ sở phát huy lợi thế của từng vùng

1

Phong trào “Mỗi làng , Mô ̣t sản phẩm” (“One village, One product” Movement - OVOP Movement theo tiếng Anh hay “Isson , Ippin” Undo theo tiếng Nhâ ̣t Bản) do ông Morihiko

Trang 14

(điều kiện tự nhiên) và đặc trưng của mỗi làng (kinh tế, văn hóa, xã hội) được coi là bài học kinh nghiệm quý giá đối với quá trình xây dựng nông thôn mới của Viê ̣t Nam Kinh nghiệm đươ ̣c rút ra là để đảm bảo sự thành công của Phong trào đòi hỏi phải đáp ứng ba nguyên tắc : (1) Đi ̣a phương hướng đến toàn cầu có nghĩa là mỗi người phải đưa được địa phương của của mình đến với toàn thế giới Nếu mô ̣t người càng làm việc ở địa phương nhiều bao nhiêu thì ngược lại người đó càng phải làm sao để thế giới biết đến mình nhiều bấy nhiêu ; sản phẩm của mình càng ma ng tính

đô ̣c đáo của đi ̣a phương mình thì càng phải làm sao để cho sản phẩm đó dễ dàng hô ̣i

nhâ ̣p vào thi ̣ trường thế giới [18, tr.110-111]

Dĩ nhiên, điều này đòi hỏi những nỗ lực vượt bâ ̣c của từng cá nhân cũng như sự đi ̣nh hướng và trợ giúp từ phía các tổ chức của chính quyền ; (2) Sự đô ̣c lâ ̣p và sáng tạo (Independent and creativity ) của mỗi người dân , mỗi cô ̣ng đồng đi ̣a phương trong viê ̣c phát triển , làm sống lại các giá trị truyền thống c ủa quê hương mình; (3) Phát triển nguồn nhân lực (Human resource development) bằng cách thiết

lâ ̣p mô hình trường đào ta ̣o mang tính cô ̣ng đồng với tên go ̣i “Oita - mảnh đất của sự trù phú” để mỗi cá nhân khi tham gia các lớp ho ̣c có điều kiện thể hiện những trải nghiệm thành công và thất bại của bản thân từ đó sẽ giới thiệu dự án của mình dựa trên những đă ̣c điểm của đi ̣a phương mình là chính

Bằng việc trình bày và giới thiệu những hoạt động tiêu biểu của phong trào

“Mỗi làng, Một sản phẩm” đã đem lại sự thành công ở các làng quê Nhật Bản, tác giả đi đến kết luận: vai trò của người lãnh đạo địa phương và cộng đồng dân cư rất quan trọng Trong đó người đứng đầu chính quyền địa phương đóng vai trò quyết định đến sự thành công của phong trào Cô ̣ng đồng dân cư nông thôn luôn đóng vai trò chủ đa ̣o Chính họ là những người phát hiện ra tiềm năng của quê hương mình, lâ ̣p kế hoa ̣ch để phát triển các sản phẩm mang tính đă ̣c thù của quê hương mình Cũng chính họ là người đứng ra tổ chức , trang trải kinh phí , đồng thời chi ̣u

mọi rủi ro (nếu có) cho các dự án phát triển nông thôn của mình [18, tr.123-125]

Hiramatsu - Tỉnh trưởng tỉnh Oita khởi xướng vào năm 1979 (xem Nguyễn Mạnh Dũng

2006, tr.60-132)

Trang 15

Nhìn nhận và đánh giá về vai trò của cộng đồng từ Phong trào “Mỗi làng , Mô ̣t sản phẩm” của Nhâ ̣t Bản hay từ Saemaul Undong 2

(phong trào Làng mới ) ở Hàn Quốc hoă ̣c thâ ̣m chí ngay cả phong trào xây dựng NTM đang được thực hiê ̣n đồng loa ̣t ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay , các nhà nghiên cứu đ ều khẳng định người đứng đầu chính quyền đi ̣a phương và sự tham gia của cô ̣ng đồng dân cư là những nhân tố hàng đầu quyết đi ̣nh đến thành công của các phong trào xây dựng và phát triển nông

thôn [92, tr.173-174] Đây là mô ̣t kinh nghiê ̣m đáng suy ngẫm được rút ra từ sự

thành công của Nhật Bản , Hàn Quốc cũng như ở giai đoạn đầu của quá trình XDNTM ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay

Thực tế cho thấy hầu hết các nước đạt trình độ phát triển cao như hiện nay đều trải qua quá trình công nghiệp hóa, trong đó công nghiệp hóa nông thôn được xác định là một nội dung quan trọng Hay nói cách khác, công nghiệp hóa là con đường tất yếu mà bất cứ quốc gia nào cũng phải trải qua nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển Vấn đề công nghiệp hóa nông thôn đã được nhiều tác giả đề cập trong các nghiên cứu của mình Luận bàn về công nghiệp hóa nông thôn ở các nước

châu Á và Việt Nam, trong cuốn sách có nhan đề “Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn các nước châu Á và Việt Nam”, tác giả Nguyễn Điền cho rằng nguyên

nhân chủ yếu đưa các nước châu Á đến thành công như hôm nay là họ đã chọn đường lối công nghiệp hóa mà trong đó kết hợp hài hòa giữa công nghiệp hóa đô thị với công nghiệp hóa nông thôn Chẳng hạn, Nhật Bản đã có sáng kiến đưa công nghiệp về nông thôn với hính thức xí nghiệp công nghiệp gia đình nông dân và xí nghiệp nhỏ ở thị trấn, huyện lỵ, làm vệ tinh, gia công cho các xí nghiệp lớn ở các đô thị Trên cơ sở đó đã đưa công nghiệp thành thị và công nghiệp nông thôn cùng phát

triển [27, tr 137-138] Đối với Việt Nam, tác giả đã phác thảo những lĩnh vực được

coi là động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa nông thôn, đó là: khôi phục và

2

Là tên gọ i củ a mô ̣t chương trình phát triển nông thôn tổng hợp dựa vào cô ̣ng đồng , được phát động ở Hàn Quốc từ đầu thập niên 70 của thế kỷ XX , dướ i thời Tổng thống Park Chung-Hee Thành công của Saemaul Undong trong phát triển nông thôn , mà trọng tâm là chiến lươ ̣c xóa đói giảm nghèo mô ̣t cách cơ bản đã đóng góp đáng kể vào sự cất cánh của nền kinh tế Hàn Quốc những năm 80

Trang 16

phát triển các ngành nghề cổ truyền, các làng nghề truyền thống; phát triển các dịch

vụ kinh tế kỹ thuật nông thôn; xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; công nghiệp

hóa-hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp [27, tr 185-203]

Những nhận thức nêu trên phần nào phản ánh thời điểm Việt Nam bắt đầu thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, trong đó có công nghiệp hóa nông thôn với những bước đi đầu tiên trong nhận thức và hành động Trong khi thực tế quá trình Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn mặc dù đã đạt được những thành tựu cơ bản song còn tồn tại nhiều vấn đề và nghịch lý phải giải quyết Hiện tại, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức khi nó được đặt trong mối quan hệ tổng thể giữa Việt Nam với các định chế kinh tế khu vực và thế giới mà nước ta là thành viên, vốn chịu nhiều sức ép từ các thỏa thuận mà Nhà nước đã cam kết thực hiện Theo Lê Quốc Lý, vào thời điểm này công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn nên được xác định là quá trình thay đổi căn bản phương thức hoạt động, cơ cấu kinh tế của nông thôn và thay đổi căn bản tầng lớp gắn liền với sản xuất nông nghiệp là nông dân Đó

là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng

giá trị sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội [53, tr

13] Một trong những giải pháp thúc đẩy nhanh quá trình phát triển nông nghiệp,

nông thôn, đó là

“đổi mới trong khâu quy hoạch, quản lý và sử dụng đất Sử dụng tối đa lợi

thế cạnh tranh trong sản xuất và tiêu thụ nông sản Theo đó hạn chế tối đa

chuyển đổi đất nông nghiệp ở khu vực có lợi thế cạnh tranh cho mục đích

công nghiệp và đô thị hóa Phân tích, đánh giá một cách khách quan khi

chuyển đổi mục đích sử dụng trên cơ sở hiệu quả kinh tế, xã hội của đất

nước” [53, tr 196]

Trong khi đó, nhận thức và quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Vũ Trọng Khải là một cách tiếp cận khá toàn diện Tác giả cho rằng công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn

“không chỉ diễn ra trên địa bàn làng xã mà tất yếu phải diễn ra trên không

gian lãnh thổ quốc gia, không thể chỉ là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông

Trang 17

nghiệp mà là tất cả các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành công

nghiệp và dịch vụ trực tiếp phục vụ nông nghiệp ở cả đầu vào và đầu ra,

không chỉ là tổ chức lại đời sống xã hội ở làng xã mà còn phải ở trên phạm

vi quốc gia, ở từng vùng lãnh thổ, ở từng đơn vị tổ chức hành chính, theo

hướng văn minh, hiện đại và giữ gìn truyền thống văn hóa lịch sử tốt đẹp

của dân tộc Đô thị hóa là để tạo ra các đô thị nhỏ ở vùng nông thôn, vừa

làm vệ tinh của các đô thị lớn, vừa là chỗ dựa để thực hiện công nghiệp hóa,

hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thu hút, sử dụng sức lao động dư thừa

trong nông nghiệp” [45, tr 141]

Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn đạt hiệu quả Trong đó nhấn mạnh thay vì áp dặt một

mô hình phát triển chung cho tất cả các địa phương như hiện nay, Nhà nước nên thực thi vai trò kiến tạo sự phát triển nông thôn thông qua hệ thống chính sách và pháp luật nhằm tạo ra một không gian pháp lý bình đẳng cho tất cả các chủ thể tham

gia vào quá trình phát triển nông thôn [45, tr 160]

Trong phát triển nông thôn, khía cạnh sinh kế đặc biệt là sinh kế của người nông dân trong bối cảnh đương đại đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả

Nếu như công nghiệp hóa nông thôn là con đường tất yếu nhằm thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện đất nước, thì quá trình đô thị hóa nông thôn cũng không thể nào đi chệch khỏi quỹ đạo chung đó Đô thị hóa làm nông thôn thay đổi ở nhiều chiều kích khác nhau nhưng điều dễ nhận thấy nhất đó là, đời sống và sinh kế của người nông dân đã có nhiều đổi thay so với trước đây Tìm hiểu đời sống của

người nông dân dưới tác động của đô thị hóa, trong bài “Sử dụng vốn xã hội trong chiến lược sinh kế của nông dân ven đô Hà Nội dưới tác động của đô thị hóa”, tác

giả Nguyễn Duy Thắng cho rằng

“đô thị hóa một mặt thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của thành phố, mặt

khác lại gây ra những tác động bất lợi như mất đất, mất việc làm và phá vỡ

cấu trúc các cộng đồng ven đô” [77, tr 43]

Trang 18

Trước những áp lực đó buộc người nông dân phải tìm kiếm, lựa chọn một chiến lược sinh kế phù hợp và vốn xã hội đã được họ sử dụng như một trong những phương thức khá hiệu quả để thích ứng với bối cảnh mới Theo đó,

“các mối quan hệ xã hội của người nông dân ven đô không còn bó hẹp trong

làng, xã của họ nữa mà đã vươn rộng ra các cộng đồng bên ngoài, cả nông

thôn lẫn đô thị Các mối quan hệ đan xen, bắc cầu và đa dạng hơn chứ

không chỉ là quan hệ họ hàng, hàng xóm hay bạn bè” [77, tr 41]

Dường như vốn xã hội đã trở thành một kênh tương đối quan trọng chi phối chiến lược sinh kế của người nông dân, cụ thể nó được sử dụng vào hai hoạt động gắn bó mật thiết với đời sống của người nông dân là chiến lược sử dụng đất và chiến lược về việc làm

Những thách thức đối với sinh kế của người nông dân ở khu vực chịu tác động trực tiếp của sự chuyển đổi đã trở thành vấn đề có tính phổ biến ở nhiều vùng nông thôn nước ta, gây “nhức nhối” trong xã hội và làm đau đầu các nhà quản lý Tiếp cận ở khía cạnh này, khi nghiên cứu một địa bàn cụ thể thuộc tỉnh Hải Dương, các tác giả Vũ Đình Tôn, Nguyễn Thị Huyền và Võ Trọng Thành cho thấy có nhiều vấn đề đặt ra tại vùng chuyển đổi đất Chẳng hạn, người lao động gặp nhiều khó khăn về trình độ học vấn, độ tuổi và nhất là khả năng thích ứng với công việc mới Ngoài ra, hàng loạt vấn đề khác được đặt ra cũng không kém phần quan trọng như, môi trường văn hóa nông thôn thay đổi; nạn ô nhiễm môi trường diễn biến phức tạp; doanh nghiệp với việc cam kết giải quyết việc làm cho nông dân; chính quyền địa

phương và những giải pháp tình thế [84, tr 53-55]

Dành sự quan tâm nghiên cứu khá công phu về sinh kế của người nông dân

phải kể đến công trình: “Công nghiệp hóa, đô thị hóa và biến đổi sinh kế ở ven đô

Hà Nội” của tác giả Nguyễn Văn Sửu Với địa bàn nghiên cứu là hai làng thuộc khu

vực ven đô Hà Nội và dựa trên cách tiếp cận khung phân tích sinh kế bền vững do

Bộ Phát triển Quốc tế Anh (Department for International Development - DFID) đề xuất, ngay ở phần mở đầu tác giả giới thiệu về nghiên cứu của mình

“không chỉ tìm hiểu về quá trình, cách thức và các động năng từ bên trong

và từ bên ngoài, mà còn phân tích bối cảnh và hệ quả của sự chuyển đổi, lý

Trang 19

giải về việc tiếp cận, sử dụng và phân phối các nguồn vốn và những cách

thức cá thể và hộ gia đình đã sử dụng để biến các nguồn vốn họ có thành

sinh kế và ứng phó với những chuyển đổi diễn ra với họ và xung quanh họ

Với cách tiếp cận toàn diện, nhiều chiều, nghiên cứu này không chỉ mang

lại những tri thức mới mà còn đưa ra những gợi ý cho can thiệp chính sách

trong lĩnh vực phát triển và giảm nghèo, đồng thời góp phần gợi mở những

ý tưởng và cách phân tích mới liên quan đến biến đổi xã hội trong quá trình

hiện đại hóa ở Việt Nam” [76, tr 12-13]

Giới thiệu một số kinh nghiệm cải thiện sinh kế cho đồng bào vùng cao và dân tộc thiểu số trên cơ sở phát huy tiềm năng tại chỗ về điều kiện tự nhiên, kinh tế,

xã hội và con người, Trần Văn Hùng và cộng sự trong tác phẩm “Sinh kế vùng cao: một số nghiên cứu điểm về phương pháp tiếp cận mới” đã đi sâu phân tích đặc điểm

của từng vùng cùng với lợi thế so sánh ở vùng đó để đưa ra các giải pháp sinh kế cụ thể Chẳng hạn, ở vùng cao huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cao nghiên cứu trồng ba loại cây thuốc bản địa: ngũ gia bì, sì to và hà thủ ô đỏ; hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm

canh và phát triển một số giống ngô nếp tại Đắk Lắk và Đắk Nông [42]

Nếu du lịch được coi như một động lực phát triển nông thôn nói riêng và kinh tế nói chung thì trọng tâm của vấn đề phát triển nông thôn là đa dạng sinh kế Trong bối cảnh hiện nay, du lịch nông thôn là cách đa dạng hóa sinh kế cho người nông dân Đó là nhận thức và cách tiếp cận về sinh kế của người nông dân được đề

cập trong tác phẩm “Du lịch nông thôn từ lý luận đến thực tiễn” của Đào Thị

Hoàng Mai Tác giả khẳng định du lịch nông thôn là một hoạt động đa mục tiêu và hoàn toàn có thể phát triển theo hướng bền vững, trong đó: du lịch nông thôn gắn với phát triển nông nghiệp; du lịch nông thôn với phát triển kinh tế-xã hội nông thôn; du lịch nông thôn với bảo vệ môi trường sinh thái Tuy nhiên, do thu nhập cao hơn nhiều so với những gì người nông dân có thể kiếm được từ sản xuất nông nghiệp, du lịch đang được chấp nhận ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam bất chấp các tác động tiêu cực mà nó gây ra về kinh tế, xã hội, môi trường… Chẳng hạn, đã từng diễn ra một tình trạng khá phổ biến ở vùng Nam Bộ đó là, các nhà đầu tư của các khu nghỉ dưỡng ở nông thôn lại là người thành phố Cùng với các công ty lữ

Trang 20

hành, họ sẽ đem phần lợi nhuận từ hoạt động du lịch ra khỏi khu vực nông thôn Như vậy, dòng lợi ích của du lịch nông thôn có thể tuột khỏi cộng đồng và chảy vào

túi các doanh nghiệp ở khu vực đô thị [54] Dưới góc nhìn sinh kế bền vững, tình

trạng này đã khiến người nông dân không thể trở thành chủ nhân thực sự trên địa hạt của mình và gần như bị thua thiệt rất lớn

Phát triển nông thôn theo hướng bền vững đã trở thành một mục tiêu quan trọng đối với quá trình phát triển nông thôn Việt Nam Theo hướng này, tác giả

Trần Ngọc Ngoạn trong tác phẩm “Phát triển nông thôn bền vững : như ̃ng vấn đề lý luận và kinh nghiê ̣m thế giới” đã đề xuất một mô hình phát triển nông thôn bền

vững phải dựa trên ba tru ̣ cô ̣t chính đó là:

(1) Phát triển bền vững kinh tế nông thôn

(2) Phát triển bền vững xã hội nông thôn

(3) Tăng cườ ng bảo vê ̣ và quản lý môi trường thiên nhiên , và một yêu cầu không thể bỏ qua đó là phát triển thể chế bền vững

Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, vai trò của cộng đồng và sự tham gia của cộng đồng là một yếu tố quan trọng Theo đó , sự tham gia đươ ̣c nhìn nhâ ̣n như là mô ̣t quy trình chuyển đổi hê ̣ thống và có liên hê ̣ mâ ̣t thiết với quyền lợi và s ự trao quyền lực Về vai trò tham gia của cô ̣ng đồng, tác giả lập luận:

“Sự tham gia của cô ̣ng đồng trong phát triển nông thôn được xem là yếu tố

chính để duy trì các khoản đầu tư phát triển , xác định đâu là những khoản

đầu tư đúng lúc đúng chỗ , và tránh sự không cần thiết do khu vực công quản

lý đối với các dịch vụ công cộng nông thôn” [59, tr.162]

Theo một cách tiếp cận khác hẳn với cách tiếp cận từ trên xuống, hai tác giả

Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang trong công trình nghiên cứu: “Phát triển cộng đồng: lý thuyết và vận dụng”, xuất bản năm 2000, tập trung vào việc hệ thống hóa

các lý thuyết phát triển cộng đồng, vào năng lực tự quản - một tiềm năng để phát triển cộng đồng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đây được xem như một ví dụ điển hình cho cách đặt vấn đề từ dưới lên Theo đó, năng lực của cộng đồng được thể hiện ở chỗ:

Trang 21

“Từ sáng kiến của các cộng đồng, gia tăng tính năng động xã hội vi mô và

giảm trừ độc quyền Nhà nước vĩ mô” và “Phát triển cộng đồng khuyến

khích sáng kiến từ dưới lên, với sự kết hợp với chính người dân để giải

quyết vấn đề của cộng đồng” [38, tr.54-tr.56].

Để đạt được mục tiêu phát triển nông thôn bền vững, Chương trình Nông thôn mới được coi là sự cụ thể hóa của chiến lược phát triển nông thôn của Đảng và Nhà nước Việt Nam Vì thế, nông thôn mới không chỉ là một chương trình hành động quốc gia mà cũng đồng thời nhanh chóng trở thành một chủ đề được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu, đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn cũng như các gợi ý chính sách

Chẳng hạn, từ nghiên cứu thực tế về quá trình xây dựng thí đi ểm MHNTM tại ba xã : xã Tân Thịnh , huyê ̣n La ̣ng Giang , tỉnh Bắc Giang (đa ̣i diê ̣n cho vùng trung du ); xã Tam Phước , huyện Phù Ninh , tỉnh Quảng Nam ; xã Mỹ Long Nam , huyê ̣n Cầu Ngang , tỉnh Trà Vinh, nhóm nghiên cứu do tác giả Trần Minh Yến (chủ

biên) trong công trình: “Xây dựng nông thôn mới : khảo sát và đánh giá” , xuất bản

năm 2013, đã đưa ra những đánh giá bước đầu sau 3 năm thực hiê ̣n thí điểm XDNTM (triển khai từ năm 2009 và kết thúc cuối năm 2011) Khảo sát hiện trạng, đánh giá những ưu điểm và hạn chế từ quá trình xây dựng nông thôn mới tại địa bàn, các tác giả cho rằng yếu tố cốt lõi tạo nên sự thành công của xây dựng nông

thôn mới là nguồn nhân lực, nguồn vốn và vai trò người dân [92, tr 165, 170, 172]

Rõ ràng trong quá trình XDNTM , cô ̣ng đồng nông thôn nói chung và người nông dân nói riêng đóng vai trò không thể thay thế được “trong mối quan hê ̣ mâ ̣t thiết giữa nông nghiê ̣p, nông dân và nông thôn , nông dân là chủ thể của quá trình

phát triển…” [25], và theo tác gi ả Hồ Xuân Hùng trong bài vi ết “Về chương trình

mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới” đã chỉ ra rằng “xây dựng nông thôn mới, không ai khác ngoài nông dân, Đảng, chính quyền các cấp không thể làm thay

đươ ̣c” [43, tr.63] Tuy nhiên , bối cảnh xã hô ̣i nông thôn và người nông dân Viê ̣t

Nam còn bi ̣ ràng buô ̣c bởi các đi ̣nh chế xã hô ̣i có tính truyền thống của làng (họ hàng, hàng xóm, láng giềng ) thì vai trò của người nông dân trong phát triển nông

Trang 22

thôn cũng bi ̣ ảnh hưởng không nhỏ Giới nghiên cứu cho rằng những đi ̣nh chế xã

hô ̣i này vừa là mô ̣t cơ chế bảo hiểm , phúc lợi lại vừa giữ vai trò kiểm soát xã hội đối với người nông dân; mô ̣t mă ̣t có tác du ̣ng ta ̣o nên truyền thống cố kết cô ̣ng đồng bền chă ̣t trong nô ̣i bô ̣ làng, nhưng mă ̣t khác chính tình cảm cô ̣ng đồng đó, khi bi ̣ đẩy tới cực ha ̣n, lại có nguy cơ trở thành mô ̣t thứ chủ nghĩa đi ̣a phương, trở nga ̣i cho các nỗ lực huy đô ̣ng nông dân tham gia vào các quá trình tiến bô ̣ xã hô ̣i rô ̣ng lớn hơn

[78, tr 7]

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm nông thôn và nông thôn mới

Khái niệm nông thôn:

Một trong những phương pháp chính để định nghĩa nông thôn là phương pháp sử dụng định nghĩa địa chính trị Theo đó, thành thị được xác định gồm các trung tâm của tỉnh, huyện, và các vùng còn lại được xác định là nông thôn Tuy nhiên, cũng có một số quốc gia sử dụng cách tính mức độ sẵn có của các loại hình dịch vụ để xác định vùng thành thị, phần còn lại là nông thôn

Ở Việt Nam, theo quy định về hành chính và thống kê, thì nông thôn là những địa bàn thuộc xã (những địa bàn thuộc phường hoặc thị trấn được quy định là khu vực thành thị) Cho đến nay, nông thôn ở nước ta được hiểu là nơi sinh sống và làm việc của một cộng đồng bao gồm chủ yếu là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là chính Nông thôn có cơ cấu hạ tầng, trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa thấp hơn so với thành thị Hiện nay, khái niệm nông thôn được hiểu là: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố,

thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã” [13] Theo tác giả Tống Văn Chung [14, tr 115-116], nông thôn được khắc họa bởi

những nét đặc trưng nổi bật sau:

Thứ nhất, nông thôn gắn với một nghề lao động xã hội truyền thống, đặc

trưng và nổi trội là hoạt động sản xuất nông nghiệp Điều này thể hiện ở chỗ, phương tiện sản xuất cơ bản và chủ yếu của nông thôn là đất đai Chính vì vậy, nó tạo ra sự gắn kết nghề nghiệp của người dân nông thôn với nơi chôn nhau cắt rốn

Trang 23

của mình Thứ hai, trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội ở nông thôn do lịch

sử để lại gồm những tụ điểm quần cư thường có quy mô nhỏ về mặt số lượng Thứ

ba, mật độ dân cư trên ki-lô-mét vuông thấp Thứ tư, ở nông thôn có một môi

trường tự nhiên ưu trội, con người gần gũi với tự nhiên hơn, và nó luôn được thi vị hóa thành những hình ảnh của nông thôn: cây đa, bến nước, con đò, dòng

sông…Thứ năm, nông thôn có một lối sống đặc thù của mình – lối sống nông thôn,

lối sống của các cộng đồng xã hội được hình thành chủ yếu trên cơ sở của hoạt động

lao động nông nghiệp Thứ sáu, chính lối sống này đã quy định thành một đặc trưng

nổi trội của nông thôn-tính cố kết cộng đồng Nhờ những đặc trưng này làm cho nó

phân biệt hẳn với cộng đồng đô thị Thứ bảy, chính lối sống nông thôn làm cho cung cách ứng xử xã hội nặng về luật tục, về lễ nghi hơn là tính pháp lý Thứ tám,

đặc trưng không thể thiếu được của nông thôn, đó là văn hóa nông thôn một loại hình văn hóa đặc thù mang đậm nét dân gian, nét truyền thống dân tộc

Khái niệm nông thôn mới:

Nông thôn mới là gì? Nghị quyết số 26-NQ/TW nêu rõ mục tiêu như sau:

“Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ

cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với

phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông

thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, dân trí được nâng cao, môi

trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh

đạo của Đảng được tăng cường” [25].

Khi bàn về khái niệm nông thôn mới, nhóm nghiên cứu do tác giả Trần Minh Yến cho rằng: nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn, không phải là thị tứ, trị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo các nội dung sau: thứ nhất, đó là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; đảm bảo không gian nông thôn phải mang đặc trưng nông thôn với khuôn viên, cảnh quan của làng xã, của gia đình nông thôn; thứ hai, sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; thu nhập đảm bảo, công ăn việc làm ổn định, không có hộ đói; thứ ba, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng cao; thứ tư, bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi

Trang 24

trường, bảo tồn và khai thác cảnh quan tự nhiên, duy trì cân bằng sinh thái; thứ năm, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển, trong đó bảo tồn và phát triển các di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc, các địa phương; thứ sáu, xã

hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ [92, tr.14-15]

Như vậy, NTM được hiểu trước hết là địa bàn cư trú của cư dân nông thôn với nghề nghiệp chính là các hoạt động sản xuất nông nghiệp Là làng quê sạch đẹp, văn minh với những hoạt động kinh tế đem lại hiệu quả đồng thời bảo đảm tính bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái; đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao; lối sống và truyền thống văn hóa tốt đẹp được giữ gìn;

an ninh trật tự ở nông thôn được giữ vững

xã hội, căn cứ vào những đặc tính tương đồng về sắc tộc, hay tôn giáo… như cộng đồng người Do Thái, cộng đồng người da đen tại Chicago, cộng đồng người Thanh

giáo [38, tr.15-16], hay gần đây khái niệm “cộng đồng mạng” cũng được dùng để

chỉ những người sử dụng internet; nhỏ hơn nữa, danh từ cộng đồng được sử dụng cho các đơn vị xã hội cơ bản là gia đình, làng hay một nhóm xã hội nào đó có những đặc tính xã hội chung về lý tưởng xã hội, lứa tuổi, giới, nghề nghiệp, vị thế

xã hội như các đảng phái, nhóm những người lái xe, nhóm người khiếm thị… Theo

Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, khái niệm cộng đồng được hiểu là:

“Bao gồm các thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức chặt chẽ cho đến các tổ

chức ít có cấu trúc chặt chẽ, là một nhóm xã hội có lúc khá phân tán, được

liên kết bằng lợi ích chung trong một không gian tạm thời, dài hay ngắn như

phong trào quần chúng, công chúng, khán giả, đám đông” [38, tr.16].

Trang 25

Cũng theo hai tác giả này, khái niệm cộng đồng được hiểu theo hai cách: một

là cộng đồng tính và hai là cộng đồng thể, tuy là hai cái khác nhau nhưng không đối lập nhau Cộng đồng tính là thuộc tính hay quan hệ xã hội có những đặc trưng được xác định và cụ thể hóa, chẳng hạn như tình cảm cộng đồng, tinh thần cộng đồng, ý thức cộng đồng… Cộng đồng thể tức là những nhóm người, những nhóm xã hội có tính cộng đồng với rất nhiều thể có quy mô khác nhau, đó là thể nhỏ, thể vừa, thể

lớn và thể cực lớn kể từ gia đình đến quốc gia và nhân loại [38, tr.16]

Hiện nay, tuy còn một số khía cạnh chưa được thống nhất, song các nhà nghiên cứu đều cho rằng, cộng đồng là: “Tập hợp những người có những điểm

giống nhau làm thành một khối như một xã hội” [22, tr 461]

Tóm lại, khái niệm cộng đồng được hiểu là gồm có nhiều thực thể khác nhau

và có sự tương đồng về những đặc tính cơ bản nào đó

Những nhận thức, quan niệm về cộng đồng nêu trên khi vận dụng vào nghiên cứu này có thể cho phép tôi đưa ra lập luận rằng toàn bộ thôn Tân Mỹ là một cộng đồng lớn Ở cộng đồng này lại bao gồm sự tồn tại của các dạng/ loại cộng đồng có quy mô nhỏ hơn như: các đội sản xuất (Đội 1, Đội 2), các xóm (xóm Chợ, xóm Ngoài); hoặc tính chất của các tổ chức chính trị - xã hội như: Chi hội Phụ nữ, Chi đoàn Thanh niên, Chi hội Cựu chiến binh… Trong cộng đồng đó, một cá nhân có thể vừa là thành viên của tổ chức này nhưng đồng thời lại có vai trò tương tự ở một

tổ chức khác

1.3 Tiếp cận lý thuyết về sự tham gia

1.3.1 Về cách tiếp cận tham gia

Tiếp cận tham gia đã trở thành một hướng nghiên cứu khá phổ biến trong giới nghiên cứu ở các nước phương Tây và Bắc Mỹ Ở Việt Nam, hướng tiếp cận này được các nhà khoa học triển khai trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong nghiên cứu ứng dụng

Tác giả Nguyễn Diệp Quý Vy khi nghiên cứu về vai trò của người dân trong quá trình chống ngập ở thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra luận điểm:

Trang 26

“Sự tham gia của người dân vốn đã quan trọng trong công tác quản lý, xây

dựng và phát triển đô thị; thì nay lại càng quan trọng và cấp thiết hơn trước

cuộc chiến chống ngập nước bởi đây hiện đang là một trong những vấn đề

nan giải của Thành phố, bởi thực tế đã chứng minh rằng những hiểu biết và

hành động của cộng đồng có thể làm cho tình trạng ngập nước trở nên tốt

hơn hay tồi tệ đi, và bởi vì không thể xem nhẹ sự tham gia của người dân

trước bất kỳ một hạn chế nào của đô thị nếu chúng ta xét đến khía cạnh phát

triển bền vững, lâu dài Do vậy, cùng với những giải pháp căn bản khác về

kỹ thuật, chúng ta cần lưu ý đến những giải pháp mang tính xã hội mà liên

quan trước hết là sự tham gia từ cấp độ cơ bản nhất như cấp cộng đồng, xem

nó như một trong những cách tiếp cận cần thiết để nâng cao thêm hiệu quả

của quá trình chống ngập và tăng cường ý thức của dân chúng trước những

vấn đề tác động trực tiếp đến số phận của họ” [90, tr.2]

Một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới từ năm 2003 cho biết:

“Các cách tiếp cận có sự tham gia có thể gia tăng giá trị cho việc thiết kế và

thực hiện các dự án quản lý tài nguyên thiên nhiên, và khi được áp dụng tốt

thì tham gia có thể tăng cường tính sở hữu và tính bền vững, mang lại nhiều

lợi ích tiềm năng về thu nhập nông thôn và giảm nghèo”[93]

Theo Hiệp hội các Đô thị Việt Nam (ACVN) và Viện KAS3,

“Sự tham gia của người dân có nghĩa là sự tham gia của người dân bình

thường (không phải chỉ của các tổ trưởng dân phố hoặc các đại diện chính

thức) vào việc xem xét, phản ánh và chất vấn để tìm ra những cách tốt nhất

nhằm thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội không chỉ trong

các khu vực họ đang sinh sống mà cả trong các thị xã và thành phố của họ

3

Viện Adenauer-Stiftung (KAS) - Được gọi trong tiếng Anh là Adenauer-Foundation, lấy tên và hoạt động theo nguyên tắc của Konrad Adenauer (1876 –1967), Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hoà Liên bang Đức Là một tổ chức phi chính phủ, KAS hoạt động với tư cách là tổ chức nghiên cứu và cơ sở đào tạo cho Đảng Liên minh Dân chủ Cơ đốc giáo của Đức (CDU) và cung cấp các chương trình đào tạo cho công chúng Trụ sở chính đặt ở Berlin, KAS có một học viện, 2 trung tâm và 21 phân viện đào tạo về chính trị Các chương trình giáo dục và phát triển, đối thoại được triển khai ở 68 văn phòng đại diện ở nước ngoài và có mối quan hệ hợp tác với hơn 200 tổ chức nước ngoài ở hơn 120 quốc gia

Trang 27

Konrad-Kinh nghiệm lập kế hoạch phát triển làng/xã đã chỉ ra rằng ở Việt Nam, nếu

dành thời gian lập kế hoạch có tính khả thi cao nhất ngay từ ban đầu (và xây

dựng mối quan hệ tốt hơn với người dân) thì sau đó khi triển khai sẽ ít gặp

vấn đề hơn, sẽ thực hiện có hiệu quả hơn là lập kế hoạch mà không có sự

tham gia của người dân và sau đó lãng phí nguồn lực, phải trì hoãn trong

triển khai để tìm cách giải quyết những vấn đề phát sinh” [33, tr.13]

Theo đó, sự tham gia của người dân vào quản lý nhà nước tại địa phương sẽ

“giúp đông đảo người dân tham gia nhiều hơn nữa vào các quá trình thảo luận và

các quá trình hoạt động của chính quyền địa phương.” [34, tr.6] Quan điểm của

ACVN và KAS cũng cho rằng

“nếu việc công khai thông tin cho người dân và sự tham gia của cộng đồng

được cải thiện thì sẽ góp phần giúp các dự án đầu tư của nhà nước thực hiện

có hiệu quả hơn, tiết kiệm chi phí và sử dụng hết các nguồn lực Trong

trường hợp các dự án đòi hỏi phải giải phóng mặt bằng, với kỹ năng giao

tiếp được nâng cao và lập quy hoạch có sự tham gia nhiều hơn, các trường

hợp tranh chấp, khiếu nại và cưỡng chế giải phóng mặt bằng sẽ ít xảy ra

hơn” [34, tr.13]

Trong một tài liệu có tên “Hướng dẫn giám sát có sự tham gia nhằm đảm bảo sự làm chủ của cộng đồng đối với dự án phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em”, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng: “Giám sát có sự tham gia không

phải chỉ đơn thuần là giám sát theo kiểu “kiểm tra” tác động, mà còn là dịp để các bên tham gia dự án, kể cả trẻ em “học hỏi” ở những cấp thấp nhất có thể được” và

“sự tham gia là một quá trình từng bước một (như trèo lên thang) tiến tới tham gia đầy đủ hơn Những “nấc thang tham gia” này có thể áp dụng cho thanh niên, trẻ em,

các tổ chức đối tác, các bên tham gia thuộc chính phủ” [82, tr 2].

Đối với việc hướng dẫn cho các thử nghiệm y sinh học dự phòng HIV, Chương trình Phối hợp Liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) năm 2011, trong tài liệu Thực hành có sự tham gia đầy đủ của các bên liên quan, cho rằng các bên liên quan chính trong triển khai một thử nghiệm y sinh học dự phòng HIV gồm

Trang 28

“các cá nhân, các nhóm, các tổ chức, các cơ quan chính phủ, hoặc bất cứ

các cá nhân hoặc tập hợp các cá nhân là những người có thể ảnh hưởng đến

hoặc chịu sự tác động từ việc tiến hành, hay kết quả của một thử nghiệm y

sinh học dự phòng HIV” [88, tr.14].

Và sự tham gia của các bên liên quan là:

“Đề cập đến các quy trình thông qua đó các nhà tài trợ, bảo trợ thử nghiệm

và các đơn vị triển khai thử nghiệm xây dựng các mối quan hệ mang tính

minh bạch, có ý nghĩa, phối hợp và cùng chung lợi ích với các cá nhân, các

nhóm cá nhân, hoặc các tổ chức có quan tâm hoặc chịu ảnh hưởng, với mục

đích cuối cùng là hình thành một nghiên cứu chung” [88, tr.16]

Lý giải về sự tham gia của các bên liên quan, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng:

“Để có sự tham gia của các bên liên quan thành công đòi hỏi một sự thông

hiểu rộng, toàn diện và đa khía cạnh về bối cảnh trong đó một thử nghiệm y

sinh học dự phòng HIV được thực hiện Sự tham gia của các bên liên quan

khởi đầu với một quan điểm toàn diện về xác định các bên liên quan tiềm

năng Xác định các bên liên quan là một một quá trình biến động, bởi vì các

bên liên quan, các lợi ích, các lựa chọn ưu tiên, các quan điểm, và các khía

cạnh văn hóa có thể thay đổi theo thời gian” [88, tr.16]

Đồng thời, các tác giả cũng phân tích rõ:

“Các bên liên quan khác nhau sẽ có các quan điểm khác nhau Một số các

bên liên quan sẽ có các cạnh tranh về lợi ích hoặc trong các nhóm có sự

thiếu cân bằng về quyền lực, cũng như các điểm khác biệt trong các tổ chức

xã hội, thứ bậc trên dưới, vấn đề về giới, và tình trạng kinh tế xã hội có liên

quan có thể dẫn đến sự chia rẽ và bất đồng trong quá trình thử nghiệm Nếu

có sự phản đối hoặc bất đồng giữa các bên liên quan, thì các vấn đề đó phải

được giải quyết theo cách đảm bảo tính trung thực, minh bạch và tôn trọng

Trang 29

Trong quản lý xã hội, sự tham gia của người dân là đương nhiên với tư cách kép vừa là đối tượng và chủ thể của sự phát triển xã hội Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh đến vai trò của người dân đối với công cuộc kháng chiến và xây dựng

chế độ xã hội mới: “Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [57]

Ở Việt Nam, khái niệm về sự tham gia được thể hiện thông qua những cách biểu đạt khác nhau Tô Duy Hợp đã chỉ ra sự yếu kém về năng lực tự quản cộng đồng cũng như thiếu sự tham gia tích cực và chủ động của địa phương là một trong

những vấn đề xã hội nan giải [39, tr.11-26] Ở góc độ xã hội học, Tô Duy Hợp và

Lương Hồng Quang khi bàn về triết lý tham dự (participation) cho rằng khái niệm này được dịch thành hai từ: tham dự và tham gia Tuy mức độ ngữ nghĩa có đôi chút khác nhau, nhưng nhìn chung là thống nhất Theo đó, tham dự là tham gia ở mức thấp, còn tham gia là tham dự ở mức cao Ví dụ trong một cuộc họp, các cử tọa là người tham dự, đến khi phát biểu là tham gia, tham gia phát biểu quá ba lần là tham

gia quá tích cực, là tham dự tích cực [38, tr.44] Trịnh Duy Luân đã có một nhận

định đáng chú ý rằng ở Việt Nam, các thuật ngữ như “tư vấn”, “giám sát”, “giám định”, đặc biệt là “phản biện xã hội” – với tư cách là sự tham gia đóng góp ý kiến của cá nhân, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội vào một vấn đề, chủ trương, chính sách nào đó của Nhà nước Tác giả khẳng định đây là “một cách tiếp cận mới để

thực hiện dân chủ hóa lĩnh vực quản lý xã hội” [52, tr.3-9] Tuy chưa có một nghiên

cứu sâu rộng về sự tham gia, nhưng các nghiên cứu trên đã phản ánh phần nào thực

tế là sự tham gia của người dân trong quản lý xã hội là một hợp phần của quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội Theo Trần Ngọc Ngoạn, vai trò tham gia của người dân trong phát triển nông thôn

“thì không chỉ là sự tham gia của người nông dân nghèo trong các dự án

phát triển, mà còn là sự phát triển câc tổ chức trong đó người nghèo có tiếng

nói và có quyền lợi riêng của họ, bảo vệ những gì họ có” [59, tr 218]

Vai trò của cộng đồng còn được Phùng Văn Quỳnh trình bày rất cụ thể trong

đề tài luận văn của mình khi đánh giá sự tham gia của các thực thể của cộng đồng trong việc quản lý Khu di tích Cổ Loa Theo đó,

Trang 30

“quản lý Khu di tích Cổ Loa chính là quá trình các nhà quản lý, những

người liên quan trực tiếp đến Khu di tích, dựa trên cơ sở chính sách (luật,

nghị định của Nhà nước), phân tích nguồn lực (tài chính, nhân sự) cũng như

điều kiện thực tiễn (đặc điểm của di tích, bối cảnh xã hội …) của di tích

nhằm đưa ra được những phương pháp để thực hiện một cách hiệu quả công

tác bảo tồn, phát huy giá trị của Khu di tích Cổ Loa Quản lý ở đây không chỉ

là việc theo dõi hay bảo vệ trước sự xuống cấp của di tích (về mặt trực quan),

mà còn bao gồm những hoạt động tổ chức sự kiện, tuyên truyền quảng bá cho

di tích, trao truyền một cách tích cực/chủ động những giá trị lịch sử văn hóa

của di tích qua các thế hệ, tham gia hoặc đóng góp ý kiến tích cực vào các

hoạt động quy hoạch, chỉnh trang di tích để qua đó có thể khai thác/chia sẻ

nguồn lợi ích từ Khu di tích Cổ Loa Mọi hoạt động quản lý, bên cạnh những

mục tiêu cụ thể gắn trực tiếp tới nhiệm vụ/chức năng/chuyên môn của từng

lĩnh vực, đều có một mẫu số chung là mục tiêu phát triển xã hội (đời sống vật

chất, tinh thần, nhận thức xã hội…)” [68, tr 45]

Các thực thể tham gia quản lý ở Khu di tích Cổ Loa bao gồm: Ban Quản lý Khu di tích có nhiệm vụ phối hợp với chính quyền địa phương bảo vệ các điểm trong Khu di tích; chính quyền xã có chức năng quản lý hành chính chung đối với các đoạn thành, hào trong khu vực thành Cổ Loa; người dân địa phương hiện nay, tuy không có chức năng quản lý trực tiếp đối với các điểm di tích trong quần thể Khu di tích Cổ Loa, song đây là lực lượng có sự tương tác nhiều chiều đối với khu

di tích [68, tr 43]

1.3.2 Khái niệm sự tham gia

Từ góc độ lý thuyết, sự tham gia của người dân được nêu thành quan điểm về

sự phát triển trên cơ sở thừa nhận và nâng cao năng lực thực hiện các quyền tự do

cơ bản của con người Theo đó, hai tác giả Nguyễn Trung Kiên và Lê Ngọc Hùng chỉ ra rằng “sự tham gia của mọi người trong quản lý xã hội thuộc về phạm trù quyền con người chứ không phải là kết quả của sự “ban ơn” từ phía những người quản lý theo cơ chế “xin-cho” Nói cách khác vấn đề hiện nay không phải là có hay không cho người dân tham gia vào quản lý xã hội mà vấn đề là có những hình thức

Trang 31

nào để mở rộng và tăng cường sự tham gia của người dân trong quản lý sự phát triển tổng thể xã hội: sự tham gia của người dân trở thành mục tiêu, động lực và chủ

thể của sự phát triển xã hội” [47]

Theo Arnstein, sự tham gia của người dân trong việc ra quyết định là sự tái phân phối quyền lực nhằm giúp cho mọi thực thể ở cộng đồng đặc biệt là những người nghèo có thể đã bị bỏ lại sau (hoặc loại ra) trong các quá trình kinh tế và chính trị, được tham gia vào các quá trình đó một cách thực chất Arnstein đã xây dựng một hệ thống mang tính hình mẫu gồm tám nấc thang có xu hướng mở rộng dần của quyền lực công dân, từ bậc thấp nhất là sự tham gia chỉ mang tính thủ tục hoặc “an ủi” cho đến bậc cao nhất là những ảnh hưởng thực sự của người tham gia trong quá trình ra quyết định từ việc sự tham gia bị thay thế bởi người nắm giữ

quyền lực tới việc công dân được trao quyền quản lý đầy đủ [46]

Bảng 1.1: Nấc thang mô tả mức độ tham gia của người dân của Arnstein

Mức độ trao quyền cho công dân

Trang 32

Nấc thang số 3, 4 biểu hiện cho sự tham gia một cách miễn cưỡng, chỉ cho phép người tham gia được đưa ra ý kiến và được lắng nghe Bản chất của hai cấp

độ này là thông tin được truyền đi một chiều, từ người nắm giữ quyền lực và chuyên gia đến người dân mà không có chiều ngược lại

Nấc số 5 biểu hiện mức độ tham gia trong đó người dân được đưa ra ý kiến, nhưng quyền quyết định vẫn thuộc về người nắm giữ quyền lực

Hai mức thang tiếp theo biểu hiện sự tăng lên của quyền lực nhân dân ở khâu

ra quyết định Công dân có thể hợp tác, đàm phán, tranh luận và thỏa thuận với những người nắm quyền lực Arnstein cho rằng trong thực tế không có một cá nhân hay tổ chức nào có quyền lực kiểm soát một cách tuyệt đối, nhưng trong bối cảnh tham gia của người dân thì người dân có quyền yêu cầu và đòi hỏi về mức độ quyền lực kiểm soát, và người dân có quyền quản lý chương trình, có trách nhiệm với việc hoạch định và thực thi chính sách, và có thể tiến hành những đàm phán cần

thiết [trích theo 62; tr 73, 74] Như vậy, có thể nhận thấy sự thay đổi vai trò bắt đầu

từ việc cộng đồng không tham gia, vai trò của họ bị thay thế bởi tác nhân bên ngoài cho tới khi họ thực sự “kiểm soát đầy đủ” thì họ nắm vai trò “người đứng đầu” và

tác nhân bên ngoài chỉ là “nguồn lực” [50, tr.22]

Nói tóm lại, chỉ khi nào sự tham gia của người dân đạt đến mức độ công dân

có quyền quyết định đối với các kế hoạch phát triển của cộng đồng họ, thì lúc đó

“dân chủ” mới đầy đủ ý nghĩa là “của dân, do dân, vì dân” Ngày nay, khái niệm

“tham gia” đã từ đối tượng của nghiên cứu phát triển (Research and Development) trở thành một phương pháp tiếp cận nghiên cứu trong khoa học quản lý, xã hội học

và nhân học xã hội

Tiểu kết chương 1

Phát triển nông thôn là lĩnh vực không những được Nhà nước ưu tiên đầu tư nhiều nguồn lực cùng với sự hỗ trợ của các cơ chế, chính sách mà luôn là đề tài phong phú và hấp dẫn đối với giới nghiên cứu khoa học nói chung Trong chương này tôi cố gắng trình bày các luận giải khác nhau của các tác giả xoay quanh những

Trang 33

vấn đề của nông thôn Việt Nam đương đại dưới cả góc độ lý luận, thực tiễn và định hướng chính sách; cả về các thành tựu, cơ hội cũng như những hạn chế, thách thức

và bài học kinh nghiệm cho phát triển nông thôn Việt Nam

Thông qua việc phân tích và làm rõ các khái niệm cơ bản, tác giả mong muốn cung cấp đến người đọc những nhận thức ban đầu về xây dựng nông thôn mới

ở Việt Nam cũng như nghiên cứu cách tiếp cận về sự tham gia của cộng đồng vào các quá trình kinh tế xã hội, đặc biệt ở khu vực nông thôn - một địa bàn được đánh giá còn là “khoảng trống” về vai trò tham gia của cộng đồng dân cư bản địa Sự tham gia của các chủ thể với cách thức, lĩnh vực khác nhau như một điều kiện tất yếu bảo đảm sự phát triển chung của cộng đồng

Trang 34

Chương 2: QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở THỤY HƯƠNG 2.1 Chương trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

2.1.1 Khái quát tiến trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Thực hiện nghị quyết này, vấn đề XDNTM lần đầu tiên được đề cập một cách cơ bản, toàn diện và sâu sắc nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững và không ngừng chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân Chính vì vậy, XDNTM được xác định là một trong những nhiệm

vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Để có cơ sở thực tiễn trước khi triển khai trên diện rộng, Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa X) đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo thí điểm chương trình xây dựng nông thôn mới Đề án về chương trình thí điểm mô hình NTM được xây dựng và thông qua với mục tiêu[3]:

- Xây dựng mô hình thực tế về nông thôn mới thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa như Nghị quyết Trung ương đã đề ra

- Trên cơ sở tổng kết chương trình thí điểm, xác định rõ nội dung, phương pháp, cách làm, cơ chế, chính sách xây dựng nông thôn mới để nhân rộng sau này

Đề án chọn 11 xã ở 11 tỉnh, thành phố để chỉ đạo điểm, là những xã đại diện cho các vùng kinh tế - văn hóa khác nhau Xã Thụy Hương đại diện vùng ven đô các tỉnh phía Bắc Ở các tỉnh, thành phố có xã điểm, thành lập BCĐ và ở các xã được chọn làm điểm, thành lập BQL chương trình Thời gian thực hiện đề án là 3 năm, từ 2009 đến năm 2011

Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới Đây chính là căn cứ

để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, gồm 19 tiêu chí trong 5 lĩnh vực: 1) Quy hoạch; 2) Hạ tầng kinh tế - xã hội; 3) Kinh

tế và tổ chức sản xuất; 4) Văn hóa xã hội và môi trường; 5) Hệ thống chính trị [72]

Trang 35

Ngày 04/6/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 800/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020, với mục tiêu là đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn

mới và đến năm 2020 có 50% số xã đạt tiêu chuẩn này [81].

Để triển khai thực hiện chương trình, BCĐ Trung ương đã ban hành các văn bản hướng dẫn các xã điểm đánh giá tình hình, xây dựng đề án XDNTM ở xã, tổ chức để Đảng bộ, chính quyền, đoàn thể và nhân dân xã thảo luận, góp ý, sau đó nghe báo cáo, góp ý với đề án để các xã hoàn thiện, báo cáo các BCĐ tỉnh, thành phố phê duyệt làm căn cứ triển khai thực hiện Chỉ đạo các bộ, ngành Trung ương

có liên quan, ban hành văn bản hướng dẫn trong phạm vi thẩm quyền của mình để thực hiện các nội dung của đề án

Hệ thống quản lý chương trình XDNTM được mô hình hóa bằng sơ đồ dưới đây:

Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống quản lý chương trình xây dựng nông thôn mới

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ tài liệu điền dã (9/2015)

CÁC PHÒNG CHỨC NĂNG

BAN PHÁT TRIỂN CỦA THÔN

Trang 36

Chương trình mục tiêu quốc gia XDNTM không phải là một chương trình bao trùm lên những chương trình đang được triển khai, mà là một chương trình khung, trong đó bao hàm nhiều chương trình được thực hiện trên các nguyên tắc

Bước 4: Xây dựng quy hoạch NTM của xã;

Bước 5: Lập, phê duyệt đề án xây dựng NTM của xã;

đầu Đến tháng 3-2014 đã có 93,7% số xã [4] trong cả nước hoàn thành việc phê

duyệt quy hoạch xã NTM Các địa phương đã ưu tiên dành nhiều nguồn lực cho xây dựng hạ tầng, là yếu tố quan trọng nhất để đổi mới bộ mặt nông thôn, tạo đà cho phát triển kinh tế - xã hội và tăng mức hưởng thụ trực tiếp cho người dân Nhiều địa phương đã chủ động ban hành cơ chế hỗ trợ linh hoạt, phù hợp điều kiện cụ thể để huy động nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực này

Chẳng hạn, về xây dựng hệ thống giao thông nông thôn, tỉnh Tuyên Quang đã

có chính sách hỗ trợ bình quân mỗi xã 170 tấn xi măng, 02 triệu đồng và toàn bộ cống qua đường (bằng 50% chi phí) để xây dựng 01 km đường bê tông, nhân dân tự nguyện đóng góp tiền, ngày công, hiến đất, dịch chuyển cổng, tường rào để làm

Trang 37

đường [4] Đến nay, đã có 98,3% số xã có đường ô tô về trung tâm xã, trong đó 87,4% số xã có đường đến UBND xã được trải nhựa hoặc bê tông hóa [4] Ngoài ra,

hệ thống điện lưới, trường học, trạm y tế, các công trình thủy lợi, nhà văn hóa được

các xã đầu tư nguồn lực xây dựng Nhiều địa phương đã tổ chức thực hiện dồn điền,

đổi thửa, thiết kế lại hệ thống giao thông, thủy lợi - chuẩn bị điều kiện thuận lợi đưa

cơ giới hóa vào đồng ruộng, tiêu biểu là các tỉnh: Thái Bình, Hà Nam, Nam Định,

Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa… Đã có nhiều mô hình sản xuất, nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo được các địa phương quan tâm, nhân rộng Trong đó, thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Lâm Đồng triển khai mạnh các mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao, riêng tỉnh Lâm Đồng có 10.000ha có mức thu nhập từ 500

triệu đến 1 tỷ đồng/ha/năm [4] Một số tỉnh, thành phố đã bước đầu quan tâm chỉ

đạo hình thành các mô hình sản xuất nông nghiệp gắn với du lịch ở nông thôn (xã Yên Đức, huyện Đông Triều, Quảng Ninh; xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì,

tỉnh Hà Giang…), hàng năm đã thu hút được hàng trăm ngàn lượt khách du lịch [4].

Những kết quả đó là nền tảng quan trọng đồng thời giúp các địa phương khác rút ra những bài học kinh nghiệm hữu ích trong quá trình triển khai thực hiện các kế hoạch xây dựng và phát triển NTM

2.2 Xã Thụy Hương và quá trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới

2.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Thụy Hương

Điều kiện tự nhiên

Nằm bên hữu ngạn sông Đáy và thuộc phía Đông của huyện Chương Mỹ, xã Thụy Hương cách trung tâm Hà Nội 23km về phía Tây Nam, cách Quốc lộ số 6 khoảng 1km, phía Đông giáp sông Đáy, phía Tây giáp xã Đại Yên, phía Bắc giáp thị trấn Chúc Sơn, phía Nam giáp xã Lam Điền Địa hình thấp dần về phía Đông Nam;

chiều dài Đông – Tây 3km và Bắc – Nam 2,1km [8] Đường đê sông Đáy từ Quốc lộ

số 6 chạy qua thị trấn Chúc Sơn, chia Thụy Hương làm hai phần: phần đất bãi và phần đất đồng Do điều kiện địa hình nên ruộng đất của Thụy Hương chia thành hai vùng rõ rệt: vùng bãi chuyên canh trồng màu và cây công nghiệp, vùng đồng trồng hai vụ lúa có xen vụ đông Địa hình đất đai không đồng đều, nhiều khu, xứ đồng cao thấp theo hình lòng chảo và thuộc dạng đất tốt vì được bồi đắp bởi phù sa sông Đáy

Trang 38

Địa bàn xã Thụy Hương được bao bọc bởi các tuyến đường giao thông trọng yếu của huyện là: đường 21B Chúc Sơn - Ba Thá; đường đê hữu sông Đáy và Quốc

lộ số 6 [6, tr.9] Địa giới, tên gọi của xã Thụy Hương thay đổi theo thời gian Trước

năm 1945 (xã Thụy Hương ngày nay) gồm 3 thôn: Thụy Dương, Hương Lang, Tân An; có thời điểm gọi là 3 xã: Thụy Dương, Hương Lang, Tân An thuộc tổng Lương

Xá Sau kỳ bầu cử Hội đồng nhân dân xã tháng 4/1946, xã Hương Lang hợp nhất với xã Tân An thành xã Hương Tân Cuối năm 1948, hai xã Thụy Dương và Hương Tân được hợp nhất thành xã Diên Hồng Từ năm 1969, xã Diên Hồng lại được đổi

tên thành xã Thụy Hương cho đến nay [6, tr.11]

Hiện tại xã Thụy Hương có 7 thôn: Chúc Đồng 1, Chúc Đồng 2, Trung Tiến, Tân Mỹ, Tân An, Phúc Cầu và Phú Bến Tổng diện tích đất tự nhiên là 519,39ha, trong đó đất nông nghiệp 394,62ha (đất sản xuất nông nghiệp 377,06ha, thủy sản 9,26ha và đất khác 8,3ha); đất phi nông nghiệp 124,77ha (đất ở 35,73ha, chuyên dùng 71,39ha, tôn giáo 1,65ha, nghĩa trang 5,7ha, đất sông và mặt nước 10,3ha) Số

hộ gia đình là 1.839 hộ với 7.926 người, số người trong độ tuổi lao động 4.354 người, chiếm 55% dân số Lao động phân theo ngành nghề: nông nghiệp 2.039 người (46,8%); công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp-xây dựng 1.480 người (34%);

thương mại-dịch vụ-hành chính sự nghiệp 835 người (19,2%) [8]

Là vùng đồng bằng ven sông, thế mạnh chủ yếu của Thụy Hương là sản xuất nông nghiệp, trong đó, chủ yếu là sản xuất lúa và rau màu Một số diện tích đồng cao, đất bãi ven sông ở các thôn: Phú Bến, Phúc Cầu; còn lại phần lớn diện tích đồng trũng chỉ cấy một vụ chiêm Nhưng đến nay, căn bản đã chuyển đổi thành các vùng chuyên canh: lúa - màu, lúa - cá để tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản

xuất nông nghiệp [6, tr9]

Đặc điểm kinh tế - xã hội

Nghề nghiệp chính ở Thụy Hương là sản xuất nông nghiệp vì thế thu nhập chủ yếu của người dân trong xã từ các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi Cùng với việc trồng lúa và một số loại cây rau màu khác, ở Thụy Hương đã hình thành các vùng sản xuất chuyên canh như: hoa, rau an toàn, cây ăn quả với tổng diện tích

Trang 39

105,5ha [26] Tuy nhiên do giá cả các mặt hàng nông sản và sản phẩm làm ra từ

chăn nuôi diễn biến thất thường và hiệu quả kinh tế không ổn định, thêm vào đó nguồn vốn tương đối lớn và gặp nhiều rủi ro nên những năm gần đây việc đầu tư vào các ngành này có dấu hiệu cầm chừng: năm 2013, trên toàn xã chỉ có 572/1992

hộ gia đình chăn nuôi trâu bò với số lượng 856 con, 217 hộ chăn nuôi lợn với số

lượng 1886 con…, [7]

Trong khi đó, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ phát triển mạnh góp phần giải quyết việc làm và nâng cao mức thu nhập cho người dân trong xã Xã có 01 làng nghề mộc dân dụng và điêu khắc ở thôn Tân Mỹ; 01 làng nghề mộc điêu khắc và phục chế nhà cổ ở thôn Phúc Cầu với nhiều hộ gia đình sản xuất, chế biến, kinh doanh các mặt hàng thủ công mỹ nghệ và kiến thiết nhà cổ, công trình văn hóa ở trong và ngoài địa bàn Hà Nội Ngoài ra, toàn xã có 23 doanh nghiệp tư nhân hoạt động trên các lĩnh vực: dịch vụ, xây dựng, vật liệu, sản xuất chế biến gỗ và gia công cơ khí…, đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của địa phương Nhờ đó đã đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm của Thụy Hương đạt

12%; thu nhập bình quân đầu người đến năm 2014 là 25 triệu đồng/người/năm [26]

Cơ sở hạ tầng ở Thụy Hương được đầu tư xây dựng với các công trình đường giao thông nông thôn, hệ thống kênh mương, điện, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa các thôn, trụ sở làm việc của UBND xã Các công trình đó vừa tạo ra diện mạo mới cho nông thôn đồng thời góp phần quan trọng vào việc phục vụ đời sống lao dộng, sản xuất kinh doanh, học tập, chăm sóc sức khỏe và hưởng thụ văn hóa của nhân dân

Thụy Hương có 02 ngôi đình và 01 ngôi chùa đã được xếp hạng di tích lịch

sử, là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trong xã Ngoài ra, trước năm

1945, cả xã có 24 hộ gia đình với hơn 100 nhân khẩu theo đạo Thiên chúa Nhà thờ đạo được xây dựng năm 1925 ở thôn Tân An Đến năm 2010, con số này là 75 hộ

gia đình với 228 người theo đạo [8]

2.2.2 Về quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thụy Hương

Bối cảnh, mục tiêu và các hoạt động chính

Trang 40

Thụy Hương là xã có quy mô dân số, đất đai, lao động ở mức trung bình của thành phố Hà Nội Trước khi thực hiện xây dựng thí điểm MHNTM, xã có 13/19 tiêu chí đạt ở mức 70-80% đó là: quy hoạch, giao thông nông thôn, thủy lợi, nhà ở dân cư, hệ thống điện, hệ thống trường học, cơ sở văn hóa xã, bưu điện, y tế, các hình thức tổ chức sản xuất, hệ thống chính trị; còn lại 6/19 tiêu chí chưa đạt hoặc đạt ở mức thấp đó là: chợ, làng văn hóa, cơ sở sản xuất kinh doanh chưa đảm bảo vệ sinh môi trường, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp cao (46,8), thu nhập bình quân đầu người thấp (9,1triệu/người/năm), tỷ lệ hộ nghèo so với tiêu chí mới của Hà Nội

còn cao [8] Theo Thông báo số 238/TB-TW ngày 07/4/2009 của Ban Bí thư Trung

ương về Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa, cùng với 10 xã đại diện cho các vùng miền trong cả nước, xã Thụy Hương đại diện vùng ven đô Hà Nội được lựa chọn xây dựng thí điểm MHNTM Ngày 07/8/2009, Đề án xây dựng thí điểm MHNTM xã Thụy Hương chính thức được BCĐ Trung ương thông qua tại Kết luận số 07-KL/BCĐNTM Trên cơ sở đó, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 4721/QĐ-UBND ngày 14/9/2009 về việc phê duyệt Đề án xây dựng thí điểm MHNTM xã Thụy Hương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội Khi triển khai

xây dựng MHNTM, xã Thụy Hương đã đặt ra các mục tiêu cần đạt được [8]:

- Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi, giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ, đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất

- Phấn đấu xây dựng xã Thụy Hương cơ bản đạt tiêu chí MHNTM, thể hiện ở các đặc trưng: kinh tế bước đầu phát triển; đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao; hình thức tổ chức sản xuất phù hợp, hướng tới phất triển nông nghiệp công nghệ cao với phát triển nhanh tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ của vùng NTM ven đô Xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, dân trí nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, các tổ chức trong hệ thống chính trị vững mạnh

Ngày đăng: 19/06/2016, 11:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Andrew Hardy (2013), Nhà nhân học chân trần: nghe và đọc Jacques Dournes, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nhân học chân trần: nghe và đọc Jacques Dournes
Tác giả: Andrew Hardy
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2013
2. Asian Development Bank (2012), Tăng cường sự tham gia vì kết quả phát triển, hướng dẫn của ngân hàng phát triển châu Á về sự tham gia, đăng trên www.adp.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường sự tham gia vì kết quả phát triển, hướng dẫn của ngân hàng phát triển châu Á về sự tham gia
Tác giả: Asian Development Bank
Năm: 2012
4. Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới, Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2014 và phương hướng, nhiệm vụ đến năm 2015, ngày 16/5/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2014 và phương hướng, nhiệm vụ đến năm 2015
6. Ban Chấp hành Đảng bộ xã Thụy Hương, 2012, Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Thụy Hương (1945 - 2010), Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Thụy Hương (1945 - 2010)
Nhà XB: Nxb Hà Nội
9. Ban Quản lý xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới xã Thụy Hương, Báo cáo rà soát tự đánh giá chấm điểm theo 19 tiêu chí xây dựng mô hình nông thôn mới xã Thụy Hương, ngày 22 tháng 3 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo rà soát tự đánh giá chấm điểm theo 19 tiêu chí xây dựng mô hình nông thôn mới xã Thụy Hương
11. Báo điện tử Tia sáng, Nền nông nghiệp gia công: thực trạng và giải pháp, www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=7432, ngày 18/7/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền nông nghiệp gia công: thực trạng và giải pháp
12. Báo điện tử Nông nghiệp Việt Nam, Khi lòng dân đã thuận: “Dân tin - động lực phát triển bền vững nông thôn mới”,http://nongthonmoi.gov.vn/vn/tintuc/Lists/hdtw/View_Detail.aspx?ItemID=45, ngày 27/9/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi lòng dân đã thuận: “Dân tin - động lực phát triển bền vững nông thôn mới”
13. Bô ̣ Nông nghiê ̣p và Phát triển nông thôn, Thông tư số 54/2009/TT-Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiê ̣n Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới, ngày 21/8/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 54/2009/TT-Bộ Nông nghiê ̣p và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiê ̣n Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới
14. Tống Văn Chung (2000), Xã hội học nông thôn , Nxb Đa ̣i ho ̣c quốc gia Hà Nô ̣i, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học nông thôn
Tác giả: Tống Văn Chung
Nhà XB: Nxb Đại ho ̣c quốc gia Hà Nô ̣i
Năm: 2000
16. Nguyễn Thi ̣ Thu Cúc (2013), “Sƣ̣ tham gia của cô ̣ ng đồng trong quá trình ra quyết đi ̣nh ta ̣i đi ̣a phương”, trong Tạp chí Quản lý nhà nước, số 206 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sƣ̣ tham gia của cô ̣ ng đồng trong quá trình ra quyết đi ̣nh ta ̣i đi ̣a phương”, trong "Tạp chí Quản lý nhà nước
Tác giả: Nguyễn Thi ̣ Thu Cúc
Năm: 2013
17. Đặng Ngọc Dinh, Giải quyết xung đột và phòng chống tham nhũng: sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự, Nxb Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết xung đột và phòng chống tham nhũng: sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự
Nhà XB: Nxb Tri thức
18. Nguyễn Ma ̣nh Dũng (2006), Phong trào “Mỗi làng , Một sản phẩm” - Một chiến lược phát triển nông thôn trong quá trình công nghiê ̣p hóa , Nxb Nông nghiê ̣p, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào “Mỗi làng , Một sản phẩm” - Một chiến lược phát triển nông thôn trong quá trình công nghiê ̣p hóa
Tác giả: Nguyễn Ma ̣nh Dũng
Nhà XB: Nxb Nông nghiê ̣p
Năm: 2006
19. Trương Văn Dũng (2009), “Sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý Nhà nước và xã hội vì mục tiêu phát triển con người”, trong Tạp chí Khoa học xã hội, số 4 (35) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý Nhà nước và xã hội vì mục tiêu phát triển con người”, trong "Tạp chí Khoa học xã hội
Tác giả: Trương Văn Dũng
Năm: 2009
20. Vũ Dũng (2009), Ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc và ý thức quốc gia, tạp chí Tâm lý học, số7, tr 1-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng
Năm: 2009
21. Nguyễn Bá Dương (2006), Tính cộng đồng tự quản và vai trò của nó đối với hoạt động của các tổ chức cộng đồng tự quản tại các khu dân cư ở nước ta hiện nay, trong Tạp chí Tâm lý học, số 6 (87) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Nguyễn Bá Dương
Năm: 2006
22. Đại từ điển tiếng Viê ̣t . Nxb Văn ho ́a thông tin, TP. Hồ Chí Minh, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Viê ̣t
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
28. H. Điệp, Mô hình nông thôn mới còn chạy theo thành tích, http://tuoitre.vn/tin/kinh-te/20151001/mo-hinh-nong-thon-moi-con-chay-theo-thanh tich/978358.html, ngày 01/10/2015 Link
48. Klaus Kirchmann (2006), Lập kế hoạch có sự tham gia - cơ sở thảo luận, dự thảo cho dự án SMNR-CV, đăng trênhttp://www.smnr-cv.org/downloads/webdownloads/558875/0612ParticipatorySEDPinCommunes_Viet.pdf Link
89. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2007), Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, đăng trên http://www.moj.gov.vn Link
90. Nguyễn Diệp Quý Vy (2007), Sự tham gia của người dân trong quá trình chống ngập - tính cần thiết và một vài kinh nghiệm thu đƣợc từ thực tế tại phường quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh,đăng trên http://dothi.hcmussh.edu.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Nấc thang mô tả mức độ tham gia của người dân của Arnstein - Sự tham gia của cộng đồng vào quá trình xây dựng nông thôn mới ( trường hợp thân tân mỹ, xã thụy hương, huyện chương mỹ, thành phố hà nội
Bảng 1.1 Nấc thang mô tả mức độ tham gia của người dân của Arnstein (Trang 31)
Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống quản lý chương trình xây dựng nông thôn mới - Sự tham gia của cộng đồng vào quá trình xây dựng nông thôn mới ( trường hợp thân tân mỹ, xã thụy hương, huyện chương mỹ, thành phố hà nội
Hình 1.1 Sơ đồ hệ thống quản lý chương trình xây dựng nông thôn mới (Trang 35)
Hình 1.2: Ma trận về vai trò của các bên liên quan trong XDNTM ở Thụy Hương - Sự tham gia của cộng đồng vào quá trình xây dựng nông thôn mới ( trường hợp thân tân mỹ, xã thụy hương, huyện chương mỹ, thành phố hà nội
Hình 1.2 Ma trận về vai trò của các bên liên quan trong XDNTM ở Thụy Hương (Trang 43)
Hình thức tổ - Sự tham gia của cộng đồng vào quá trình xây dựng nông thôn mới ( trường hợp thân tân mỹ, xã thụy hương, huyện chương mỹ, thành phố hà nội
Hình th ức tổ (Trang 45)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm