1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào khu vực nhà nước nghiên cứu trường hợp cồng đồng ba na và gia rai ở tỉnh kon tum

133 253 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 2,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI TRI ÂN Nghiên cứu “Sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào khu vực Nhà nước: Nghiên cứu trường hợp cộng đồng Ba-na và Gia-rai ở tỉnh Kon Tum” là hợp phần của một dự án tài trợ nh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LƯU THỊ THÚY

SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀO

KHU VỰC NHÀ NƯỚC: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CỘNG ĐỒNG

BA-NA VÀ GIA-RAI Ở TỈNH KON TUM

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Dân tộc học

Hà Nội - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Lưu Thị Thúy, học viên cao học chuyên ngành Dân tộc học khóa QH-2010, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia

Hà Nội Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi tiến hành Các dữ liệu nghiên cứu là kết quả tôi thu thập được trong quá trình nghiên cứu thực địa Các trích dẫn và tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau đều được chú thích đầy đủ Tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn về bất cứ sai sót nào (nếu có) trong luận văn này

Hà Nội, tháng 11 năm 2015

Học viên

Lưu Thị Thúy

Trang 3

LỜI TRI ÂN

Nghiên cứu “Sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào khu vực Nhà nước: Nghiên cứu trường hợp cộng đồng Ba-na và Gia-rai ở tỉnh Kon Tum” là hợp phần của một dự án tài trợ nhỏ được triển khai năm 2012 trong

khuôn khổ “Chương trình Lãnh đạo nữ Cambridge - Việt Nam”, do Bộ Ngoại giao Việt Nam và Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) tổ chức

Để hoàn thành luận văn này, trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Hương - chủ trì dự án kiêm giáo viên hướng dẫn đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia kết hợp thu thập dữ liệu thực địa, cũng như sử dụng một số kết quả nghiên cứu vào quá trình phân tích, viết lên công trình

Nghiên cứu này sẽ khó khả thi nếu như không đón nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình và quý báu của các ban ngành đoàn thể hữu quan tại tỉnh Kon Tum Tôi xin trân trọng cảm ơn các cán bộ công chức, viên chức đã dành thời gian tham gia trả lời phỏng vấn nghiên cứu Đặc biệt, tấm tình nồng hậu của bà con tại các buôn làng nghiên cứu và những bữa cơm ấm cúng gia đình của các

“anh nuôi” cán bộ chiến sĩ đã giúp tôi vợi bớt nỗi cô quạnh trong những ngày điền dã nơi cao nguyên xa xôi

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là nhóm chuyên gia cố vấn

kỹ thuật và các điều phối viên chương trình “Dự án Nâng cao năng lực lãnh đạo cho phụ nữ trong khu vực Nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” (EOWP) đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia các khóa tập huấn kỹ năng nghiên cứu hữu ích Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

1

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ 4

MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 8

3 Hạn chế của nghiên cứu 9

4 Đóng góp của luận văn 9

5 Cấu trúc luận văn 10

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 111

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 111

1.1.1 Các nghiên cứu về Tây Nguyên trước và sau năm 1975 111

1.1.2 Phát triển nguồn lực của cộng đồng các dân tộc thiểu số 144

1.1.3 Thực trạng tham chính của phụ nữ 17

1.2 Các khái niệm công cụ 255

1.2.1 Khái niệm nguồn nhân lực 25

1.2.2 Khái niệm về khu vực Nhà nước 26

1.2.3 Định nghĩa về cán bộ, công chức, viên chức 27

1.2.4 Văn hóa tộc người 30

1.2.5 Định nghĩa giới và bình đẳng giới 33_Toc433018164 1.3 Hướng tiếp cận lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 35

1.3.1 Hướng tiếp cận lý thuyết 35

1.3.2 Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu 37

Chương 2: THỰC TRẠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ BA-NA, GIA-RAI THAM GIA TRONG KHU VỰC NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH KON TUM 41

2.1 Khái quát đặc điểm địa lý - kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum 41

Trang 5

2

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 411

2.1.2 Cơ cấu dân số - tộc người 411

2.1.3 Cơ cấu lao động 45

2.2 Thực trạng phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia khu vực Nhà nước 50

2.3 Những động lực thu hút và cơ hội việc làm trong khu vực Nhà nước của phụ nữ Ba-na, Gia-rai tại Kon Tum 56

2.3.1 Động lực thu hút 600

2.3.2 Cơ hội tiếp cận các vị trí công việc Nhà nước 65

2.3.2.1 Tiếp cận qua các chính sách của Nhà nước 65

2.3.2.2 Tiếp cận cơ hội qua nhà thờ 68

2.3.2.3 Tự thân vận động 69

2.3.2.4 Tiếp cận qua mối quan hệ thân quen 711

2.4 Lựa chọn ngành nghề 74

Chương 3: TRẢI NGHIỆM VÀ RÀO CẢN CỦA PHỤ NỮ BA-NA, GIA-RAI THAM GIA KHU VỰC NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH KON TUM 79

3.1 Trải nghiệm liên tộc người 79

3.1.1 Đối với tộc đa số: người Kinh 79

3.1.2 Đối với các tộc thiểu số khác 87

3.2 Ưu lợi từ sự tham gia khu vực Nhà nước 89

3.3 Những rào cản đối với phụ nữ dân tộc thiểu số khi tham gia khu vực Nhà nước 92

3.3.1 Trở ngại từ gia đình và xã hội 922

3.3.2 Những trở ngại từ tâm lý tộc người 99

3.3.3 Trở ngại từ kinh tế còn khó khăn 1033

KẾT LUẬN 1077

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11313

PHỤ LỤC ẢNH, BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH KON TUM 1233

Trang 6

3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CBCC

VC ĐHCĐ DTTS HĐND KHHGĐ KVNN

: Đại học, Cao đẳng : Dân tộc thiểu số : Hội đồng nhân dân : Kế hoạch hóa gia đình : Khu vực nhà nước : Tổ chức phi lợi nhuận : Nguồn nhân lực

: Thành phố : Ủy ban nhân dân

Trang 7

4

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1: Dân số trung bình phân theo địa phương (tính sơ bộ đến năm 2011) Bảng 2.2 Dân số nữ trung bình phân theo địa phương (tính sơ bộ đến 2011) Bảng 2.3: Dân số tại các địa bàn thực hiện nghiên cứu

Bảng 2.4: Dân số và nguồn lao động của tỉnh Kon Tum

Bảng 2.5: Cơ cấu trình độ văn hoá của nguồn nhân lực (%)

Bảng 2.6: Tỷ lệ cán bộ công chức trong các cơ quan hành chính Nhà nước tỉnh Kon Tum (tính đến ngày 30/12/2011)

Bảng 2.7: Tỷ lệ cán bộ, viên chức DTTS trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước tỉnh Kon Tum (tính đến ngày 30/12/2011)

Bảng 2.8: Tỷ lệ Cán bộ công chức cấp xã tại tỉnh Kon Tum, tính đến ngày 7-2012

15-Bảng 2.9: Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh, huyện tại tỉnh Kon Tum

Bảng 2.10: Chuyển biến về chất lượng của công chức hành chính

Bảng 2.11: Chuyển biến về chất lượng của cán bô ̣, công chức phường, xã Bảng 2.12: Tỷ lệ cán bộ công chức nữ dân tộc thiểu số cấp xã

Bảng 2.13: Tiền lương, thưởng của các doanh nghiệp năm 2009

Bảng 2.14: Bảng thống kê cán bộ công chức tỉnh Kon Tum phân theo các dân tộc

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ cơ cấu theo dân tộc tại tỉnh Kon Tum

Biểu đồ 2.2: Biểu đồ số thí sinh cử đi đào tạo cử tuyển giai đoạn 1999-2010

Trang 8

5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

“Với tỷ lệ phụ nữ làm việc trong hệ thống chính trị và trong Đảng ủy các cấp hiện nay còn rất thấp, nhất là nữ dân tộc thiểu số Sự tham gia của nữ giới hiện nay không đáp ứng được bất kỳ mục tiêu nào do Nhà nước đặt ra” Đó là phát biểu của Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban dân tộc Hoàng Xuân Lương tại tọa đàm “Giải pháp tăng tỷ lê ̣ cán bô ̣ nữ , nữ dân tô ̣c thiểu số tham gia trong hê ̣ thống chính tri ̣ cơ sở khu vực phía Bắc ”, ngày 14-5-2015 tại Hà Nội Lời nhận định gợi mở nhiều vấn đề liên quan đến thực trạng tham gia hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội của phụ nữ dân tộc thiểu số khu vực phía Bắc nói riêng và phụ

nữ dân tộc thiểu số cả nước nói chung Trong những thập kỷ qua, vấn đề bình đẳng giới là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết tất cả các nước trên thế giới Một trong những khía cạnh nằm trong mối quan tâm đó là sự tham gia của phụ

nữ vào các hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội của nhà nước Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, củng cố và tăng cường vị trí vai trò của người phụ nữ đảm bảo quyền bình đẳng trong xã hội Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã cam kết thực hiện Chiến lược Nairobi1 hướng tới Bình đẳng, Phát triển và Hoà

bình với việc thành lập “Uỷ ban quốc gia về Thập kỷ của phụ nữ Việt Nam”

Đồng thời, Việt Nam đã sớm tham gia phê chuẩn công ước quốc tế về xóa bỏ

1 Hội nghị lần thứ ba về quyền bình đẳng và mở rộng thêm khái niệm mới "phát triển",

"Giới", hướng đến đối tượng phụ nữ tổ chức tại Nairôbi (Kenya) năm 1985 Tại Hội nghị này "Chiến lược nhìn về phía trước vì sự tiến bộ của phụ nữ" đã được thông qua

Trang 9

6

tất cả mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)2, tích cực xây dựng một xã hội bình đẳng, dân chủ, văn minh Vì thế, Việt Nam là một trong những nước được tổ chức Liên hợp quốc đánh giá cao trong việc rút ngắn khoảng cách giới về mọi mặt, tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia nhiều hơn vào các hoạt động của các tổ chức, đoàn thể xã hội ở mọi nơi nhất là vùng núi, vùng sâu, vùng xa Việt Nam đã có những nỗ lực to lớn trong việc đề ra các chính sách liên quan nhằm đảm bảo quyền bình đẳng cho cả nam giới và phụ

nữ Tuy nhiên, với những thay đổi nhanh chóng trong phát triển nhân lực, kinh

tế và xã hội, một số quy định của chính sách đã trở thành bất cập, hạn chế các

cơ hội thăng tiến của phụ nữ Thêm vào đó, xã hội Việt Nam vẫn còn khá nhiều định kiến nặng về vị thế giới, chưa nhận thức đầy đủ hoặc thiếu tin tưởng vào năng lực người phụ nữ Theo báo cáo năm 2010 về sự tham chính của phụ nữ

ở 21 quốc gia khu vực Châu Á- Thái Bình Dương thì Việt Nam là một trong bảy quốc gia duy nhất có tỉ lệ tham chính của phụ nữ ở cấp quốc gia trên 20% Tuy nhiên tỉ lệ đại biểu nữ trong quốc hội đã giảm từ 27 % khóa 2002-2007 xuống còn gần 26% khóa 2007-2011 Tỷ lệ nữ đảm nhiệm vị trí Bộ trưởng và tương đương Bộ trưởng cũng giảm trong giai đoạn này từ 12 % xuống còn khoảng 5%, chỉ có ba phụ nữ trong số 34 Bộ trưởng nhiệm kỳ chính phủ 2002-

2007 và 2/22 trong nhiệm kỳ hiện nay Nam giới chiếm đại đa số trong các cơ quan thuộc Quốc hội như các ủy ban luật, ủy ban tư pháp, kinh tế, đối ngoại và

2

Công ước CEDAW là chữ viết tắt tiếng Anh của Công ước Xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, là một văn bản pháp luật quốc tế do Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 18 tháng 12 năm 1979 Công ước bao gồm 6 phần, 30 điều xác định những nội dung cơ bản về khái niệm phân biệt đối xử, về các cam kết quốc gia về xoá bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ trong chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và dân sự dưới mọi hình thức mà tất cả các nước tham gia phê chuẩn có nghĩa vụ thực hiện nhằm bảo đảm cho phụ

nữ được thực hiện các quyền bình đẳng như nam giới Hiện nay đã có trên 160 quốc gia cam kết thực hiện Công ước CEDAW Việt Nam ký Công ước ngày 29/7/1980 và Quốc hội phê chuẩn ngày 19/3/1982 ( http://cepew.org/index.php)

Trang 10

7

tài chính từ 85% đến 92% (Ngân hàng thế giới, 2012) Tình trạng bất bình đẳng giới xảy ra khu vực sản xuất, kinh doanh thường dễ nhận thấy và có thể điều chỉnh sớm như chênh lệch về trình độ học vấn, thu nhập, giờ làm việc, trong khi đó, ở khu vực công, cán bộ, công chức, viên chức nữ lại gặp phải rất nhiều rào cản vô hình trong quá trình thăng tiến, phát triển sự nghiệp của mình [30, tr.12] Đây cũng chính là những trở ngại đối với các công, viên chức nữ nói chung ở nước ta

Trong thời gian qua, hàng loạt các văn bản pháp luật của Nhà nước đã được ban hành nhằm nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội và thực hiện bình đẳng giới Tuy nhiên đó mới chỉ phản ảnh về sự quan tâm của Đảng và Nhà nước với phụ nữ Việt Nam nói chung với đối tượng phụ nữ dân tộc thiểu số vẫn còn hạn chế Phụ nữ dân tộc thiểu số là lực lượng lao động chính trong các hoạt động kinh tế - xã hội, tham gia các hoạt động kinh tế: trồng trọt, chăn nuôi, nghề thủ công, tự quản chi tiêu duy trì cuộc sống cho các thành viên trong gia đình Ngoài ra, họ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chính sách dân tộc, đại đoàn kết dân tộc Ở mỗi tộc người ở mỗi vùng khác nhau, yếu

tố văn hóa trên biểu hiện rất phong phú và đa dạng, song đều thống nhất ở một điểm chung và không thể phủ nhận đó là vị thế quan trọng của chị em trong tạo dựng, giữ gìn và phát triển văn hóa (Phạm Thị Hoàng Hà, 2005) Thực trạng hiện nay cho thấy, vấn đề việc làm, thu nhập, địa vị của người phụ nữ là những vấn đề bức xúc đối với phụ nữ dân tộc thiểu số (Nguyễn Thị Hải Yến, 2014) Bởi lẽ đại bộ phận các gia đình ở các dân tộc thiểu số đang sống ở mức nghèo đói, nhất là ở vùng cao, vùng sâu, miền núi Vì vậy, để phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế xã hội chính là khơi gợi những điểm mạnh của cá nhân người phụ nữ để tạo ra những tác động tích cực cho sự phát triển xã hội, kinh tế đất nước nói chung Năng lực của phụ nữ

Trang 11

8

dân tộc thiểu số được đánh giá qua công việc họ tham gia, những kết quả đạt được và sự công nhận của địa phương sở tại

Địa bàn nghiên cứu Kon Tum là tỉnh nằm ở phía Bắc Tây Nguyên, tại ngã

ba Đông Dương – có biên giới giáp với hai nước Lào và Campuchia Kon Tum nắm giữ vị trí chiến lược trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế hiện nay Trong những năm gần đây, công tác phát triển nhân lực của tỉnh Kon Tum đã đạt được một số thành tựu đáng kể, góp phần hỗ trợ đắc lực vào sự phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa của tỉnh Tuy nhiên, so với nhu cầu thị trường nguồn nhân lực hiện nay thì công tác phát triển nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế như: trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực còn thấp; các cơ sở đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu về quy mô, năng lực và chất lượng đào tạo; sự phối hợp giữa các ngành quản lý, giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp và người lao động còn thiếu chặt chẽ, đặc biệt sự phát triển nguồn nhân lực nữ dân tộc thiểu số cũng không tránh khỏi những hạn chế nêu trên [19, tr.1] Để đi sâu

tìm hiểu căn nguyên thực trạng này, tôi chọn đề tài “Sự tham gia của phụ nữ

dân tộc thiểu số vào khu vực Nhà nước: nghiên cứu trường hợp cộng đồng

Ba-na và Gia-rai ở tỉnh Kon Tum” làm luận văn nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Các mục đích mà học viên hướng đến trong đề tài này là:

- Phân tích thực trạng phụ nữ dân tộc Ba-na và Gia-rai tham gia vào các cơ quan nhà nước ở Kon Tum

- Tìm hiểu các cơ hội tiếp cận với nghề nghiệp trong khu vực nhà nước của cộng đồng người dân tộc thiểu số nói chung và phụ nữ Ba-na, Gia-rai nói riêng

Trang 12

9

- Phân tích những trải nghiệm, ứng phó của phụ nữ Ba-na và Gia-rai trong xã hội khi tham gia Gợi mở các điều kiện đảm bảo sự phát triển bền vững của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Kon Tum trong bối cảnh chuyển đổi

- Phân tích những rào cản và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phụ nữ thiểu

số tiếp cận, tham gia vào các hoạt động nghề nghiệp trong khu vực nhà nước

Qua các dữ liệu thu thập được, cùng sự quan sát và phân tích khách quan, học viên hy vọng góp phần đưa ra những gợi mở về chính sách can thiệp và hỗ trợ nhằm nâng cao hơn đời sống và vị thế của phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng và chất lượng cuộc sống ở các cộng đồng buôn làng Kon Tum nói chung

3 Hạn chế của nghiên cứu

Luận văn cao học này cũng không tránh khỏi nhiều thiếu sót nhất định về cỡ mẫu và quy mô tiến hành nghiên cứu Về bản chất, đây là một nghiên cứu định tính Nhân học, tập trung vào số lượng nhất định các cuộc phỏng vấn sâu Vì thế mà nghiên cứu này không tránh khỏi những hạn chế về tính đại diện và khái quát của các phát hiện nghiên cứu Trong khuôn khổ hạn chế về thời gian

và tài lực học viên cũng thực sự chưa đi sâu vào tìm hiểu và hỏi chuyện kỹ các công chức, viên chức là nam giới, người Kinh tham gia khu vực nhà nước tại địa bàn khảo sát Đây là một khía cạnh cần được chú trọng trong các nghiên cứu tiếp sau

4 Đóng góp của luận văn

Trong khuôn khổ “Chương trình Lãnh đạo nữ Cambridge – Việt Nam”, do Bộ Ngoại giao Việt Nam và Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) tổ chức, có không ít dự án nghiên cứu xem xét sự tham chính của phụ nữ Việt Nam, gồm cả phụ nữ dân tộc thiểu số Tiếp nối định hướng nghiên cứu này, luận văn của tôi mong muốn góp thêm những phân tích định tính về thực trạng phụ nữ dân tộc thiểu số nói chung và phụ nữ Ba-na, Gia-rai nói riêng tham gia

Trang 13

10

khối cơ quan hành chính sự nghiệp Trên cơ sở các dữ liệu thực địa, nghiên cứu mong muốn góp phần đưa ra các ngụ ý chính sách góp phần nâng cao hiệu quả cho các chương trình Nhà nước về bình đẳng giới, nâng cao quyền năng và vị thế người phụ nữ dân tộc thiểu số cũng như vấn đề phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận khuyến nghị và phụ lục, nội dung chính của luận

văn được cấu trúc thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Thực trạng cán bộ, công chức nữ dân tộc thiểu số Ba-na, Gia-rai tham gia trong khu vực Nhà nước tại tỉnh Kon Tum

Chương 3: Trải nghiệm và rào cản của phụ nữ Ba-na, Gia-rai tham gia khu vực Nhà nước tại tỉnh Kon Tum

Trang 14

11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu về Tây Nguyên trước và sau năm 1975

Con người là chủ thể sáng tạo ra nền văn hóa, văn minh của nhân loại, là động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển tiến bộ xã hội Ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới đều lấy sự phát triển con người là trung tâm cho sự phát triển kinh tế- chính trị- xã hội Mỗi cộng đồng người, mỗi địa phương trên đất nước Việt Nam, trong đó có đồng bào các dân tộc thiểu số - một bộ phận đặc biệt quan trọng cấu thành nguồn lực con người Việt Nam Để phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo hiệu quả và bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi, phát triển nguồn nhân lực phải là khâu then chốt, là một trong những nhiệm vụ cấp bách nhằm thúc đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội của vùng Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nên trình độ phát triển giữa cộng đồng các dân tộc Việt Nam vẫn còn có sự chênh lệch khá lớn

về mọi mặt, trong đó có trình độ phát triển của nguồn nhân lực, biểu hiện tập trung ở chất lượng của nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số còn thấp, chưa đáp ứng được với yêu cầu của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chính vì vậy, trong nhiều năm nay, những khu vực miền núi như Tây Bắc, Tây Nguyên được nhà nước và các ban ngành tập trung quan tâm phát triển kinh tế

- chính trị - xã hội

Tây Nguyên có vị trí nằm ở trung tâm miền núi Nam Đông Dương, địa thế hiểm yếu, có những hành lang tự nhiên thông với Nam Lào, Đông bắc Campuchia và duyên hải Trung bộ, Tây Nguyên còn là một không gian xã hội rộng lớn, nơi cộng cư của đông đảo các tộc người thiểu số Đóng góp tích cực vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất nước nhà (1945 - 1975) Tây Nguyên giữ một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong quốc phòng và an

Trang 15

12

ninh Tây Nguyên còn là một vùng có nhiều tiềm năng đặc biệt như rừng, khoáng sản, du lịch, tuy nhiên những lợi thế này chưa khai thác hiệu quả, xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhưng một nguyên nhân quan trọng chưa xây dựng và phát huy nguồn nhân lực nơi đây, đặc biệt là nhân lực nữ dân tộc thiểu số Năm 2013, dân số Tây Nguyên là 5.338.434 người, trong đó nữ 2.617.988 người chiếm 49,05% Nguồn lao động là 3136.6 người chiếm 58,7%, đặc trưng dân số Tây Nguyên là dân số trẻ (Tổng cục thống kê, 2012) Do đó, vấn đề quyền lợi, vai trò của các cộng đồng thiểu số, nhất là các cộng đồng dân tộc bản địa trở thành mối quan tâm trong mọi hoạch định chính sách liên quan đến Tây Nguyên

Giai đoạn trước 1975

Quá trình tìm kiếm và khai thác thuộc địa đã khiến người Pháp trở thành đối tượng đầu tiên phát lộ Tây Nguyên và chuyển thành những tri thức khoa học hiện đại Sau sự mở đường của các nhà truyền giáo (Bùi Minh Đạo, 2011), các phái bộ khảo sát và các nhà cai trị lần lượt có mặt ở Tây Nguyên Đáng chú ý

là những học giả: Henri Maitre, Sabatier, Antomarchi, Bernard Y Jouin…

Trong đó, công trình của Henri Maitre – “Rừng người Thượng” (Les jungles

Mois), cho đến nay vẫn được xem là công trình nghiên cứu cơ bản nhất về Tây

Nguyên Tiếp sau là thế hệ các nhà khoa học chuyên nghiệp: A.de Hautecloque, Boulbet, Maurice, J Dournes, những người đã đến và ở lại Tây Nguyên trong khoảng thời gian 1950-1970 Đặc biệt, các nghiên cứu của Georges Condominas qua ba tác phẩm nối tiếng của ông “Chúng tôi ăn rừng”;

“Cái xa lạ là cái hàng ngày” và “Không gian xã hội vùng Đông Nam Á” được giới chuyên môn đánh giá là những cuốn sách kinh điển của ngành dân tộc học

và được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau Đóng góp lớn nhất của người Pháp

Trang 16

13

là đã cung cấp một khối tư liệu khổng lồ về đời sống văn hóa buôn/làng cổ truyền Đó là nguồn dữ liệu hết sức quan trọng về một Tây Nguyên những năm trước giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, do đó trở thành nguồn tham khảo không thể bỏ qua cho những ai muốn nghiên cứu Tây Nguyên sau này

Giai đoạn sau năm 1975

Trong giai đoạn 1954-1975, ở miền Nam nước ta, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu các dân tộc thiểu số Tây Nguyên Nổi bật như công trình của Cửu Long Giang và Toan Ánh (2003), Nguyễn Trắc Dĩ (1969) và tác phẩm kinh

điển “Những người con của núi (Sons of the Mountains)” của Gerald Cannon

Hickey (1982) Hiện trạng phát triển của các cộng đồng dân tộc thiểu số được

đề cập trong một số công trình mang tính khái quát (Bùi Minh Đạo, 2010; Nguyễn Tấn Đắc, 2005; Bùi Minh Đạo - Bùi Thị Bích Lan, 2005; Lưu Hùng, 2002) Một số nghiên cứu khác, tuy phạm vi bao quát hẹp hơn, nhưng giải quyết tương đối thấu đáo các vấn đề cụ thể - thường là những vấn đề nóng bỏng trong bối cảnh Tây Nguyên đương đại Tiêu biểu cho xu hướng này là nghiên cứu của Oscar Salemink (2003) cung cấp một cách nhìn khác so với những nhận thức đương thời tại Việt Nam về tính biệt lập của các dân tộc người Tây Nguyên trong lịch sử so với các khu vực kế cận

Đáng chú ý nữa, tác giả Andrew Hardy với tác phẩm “Đồi Đỏ: Dân di cư và

Nhà nước ở Cao Nguyên Việt Nam” (Red Hills: Migrants and the State in the

Highlands of Vietnam) đã đóng góp dữ liệu phong phú về nghiên cứu di cư ở

Đông Nam Á Tác phẩm được viết bằng một phong cách đọc sách sống động

và minh họa bằng nhiều bản đồ và hình ảnh, nghiên cứu này hứa hẹn sẽ trở thành một cổ điển trong nghiên cứu lịch sử Việt Đây là nghiên cứu mang tính đột phá của các khu định cư của vùng cao nguyên của Việt Nam cung cấp một

Trang 17

14

phân tích lịch sử của và cung cấp cái nhìn sâu sắc vào nền kinh tế chính trị của

di cư cả ở Việt Nam và các nơi khác, vùng cao nguyên Việt Nam Đặt những kinh nghiệm của người dân trong bối cảnh các chính sách của chính phủ và lịch

sử dân tộc, cuốn sách này khám phá những dự đoán, khó khăn, những thành tựu và thất vọng của họ, soi tỏ tầm quan trọng địa chính trị của vùng cao nguyên Con người của buôn làng không chỉ được đặt trong mối liên hệ với môi trường tự nhiên truyền thống, mà còn đối diện với những tác động liên tục

và sâu sắc của đời sống chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội

Có thể nói địa bàn Tây Nguyên và các tộc người bản địa ở đây đã sớm được các học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Các nghiên cứu này phần lớn mang tính bao quát chung tìm hiểu sự khác biệt giữa người Kinh và các tộc người thiểu số trên phương diện văn hóa, chính trị, kinh tế và tôn giáo Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tôi hướng đến phân tích sâu nội hàm vấn đề phát triển nhân lực nữ dân tộc thiểu số trên địa bàn

1.1.2 Phát triển nguồn lực của cộng đồng các dân tộc thiểu số

Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là một trong những vấn đề cốt lõi của sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội ở mỗi quốc gia Đặc biệt trong thời đại ngày nay, đối với các nước đang phát triển, giải quyết vấn đề này đang là yêu cầu được đặt ra hết sức bức xúc, vì nó vừa mang tính thời sự, vừa mang tính chiến lược xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước Trong những năm gần đây, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là vấn đề được đề cập nghiên cứu ở những mức độ và góc độ khác nhau Đáng chú ý như nghiên cứu của Phạm Minh Hạc (2011) đã làm rõ những khái niệm về nguồn nhân lực và quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam Trên cơ sở đánh giá tác động nguồn nhân lực nước ta trong quá trình công nghiệp hóa,

Trang 18

15

hiện đại hóa tác giả đưa ra giải pháp để phát triển nhân lực này Nghiên cứu của Đỗ Minh Cương - Nguyễn Thị Loan chủ biên (2001) trình bày quan điểm, định hướng chiến lược và giải pháp chủ yếu cho việc phát triển năng lực giáo dục bậc cao ở nước ta trong thời kỳ mới Nghiên cứu của Bùi Thị Ngọc Lan (2002) tập trung làm rõ trí tuệ, nguồn lực trí tuệ, vai trò, đặc điểm, thực trạng phát huy và xu hướng phát triển của nguồn lực trí tuệ Việt Nam - bộ phận tinh hoa trong nguồn nhân lực Việt Nam thời gian qua Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước

Ngoài ra, đối với việc phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số có nhiều công trình nghiên cứu mang tính khái quát, bước đầu tìm hiểu về chất lượng chung chứ chưa đi sâu phân tích các nguyên nhân (Hoàng Hiệt; 1987) Hướng đến tầm quan trọng của các dân tộc ít người (chiếm 12% dân số cả nước) trong

sự phát triển chung của đất nước, về cả vị trí, kinh tế văn hóa và các điều kiện

tự nhiên có liên quan, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách cụ thể đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc ít người Các tác giả tập trung nêu lên thực trạng và các đề xuất hữu ích để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực này, đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay (Vũ Đình Hòe, 2008) Tuy nhiên các công trình nghiên cứu mang tính chất khái quát chung về vấn đề phát triển kinh tế bền vững ở Tây Nguyên Các nghiên cứu chưa đề cập đến phát triển nguồn nhân lực nữ ở Việt nam nói chung và ở Tây Nguyên nói riêng

Một hướng nghiên cứu phát triển nguồn lực đó là đánh giá về chất lượng giáo dục đào tạo của phụ nữ dân tộc thiểu số cũng được nhiều học giả quan tâm Nhìn dưới khía cạnh giáo dục học tập cho đối tượng dân tộc thiểu số, một

số học giả bước đầu đi vào tìm hiểu vấn đề phát triển nguồn nhân lực như phân tích những mâu thuẫn trong giáo dục chính quy ở vùng đa dân tộc Tây Nguyên (Trương Huyền Chi, 2010), ảnh hưởng của các ngầm ẩn định kiến tộc người

Trang 19

16

lên động cơ học tập của thanh thiếu niên cộng đồng thiểu số miền núi phía Bắc (Nguyễn Thu Hương, Nguyễn Trường Giang, 2012) Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (2001) đã phân tích và đánh giá kết quả là vẫn còn nhiều thách thức liên quan đến những chênh lệch giới xét về nhóm dân tộc và địa bàn Ngoài ra chú trọng công tác tạo nguồn cán bộ nữ cũng là một vấn đề nhằm đảm bảo không thiếu hụt cán bộ khi được quy hoạch ở chức vụ lãnh đạo, quản lý

Để thực hiện điều này, lãnh đạo cấp cơ sở đặc biệt chú ý tới việc tạo điều kiện,

cơ hội cho phụ nữ tham gia vào các khoá đào tạo về lý luận chính trị, quản lý Nhà nước và kiến thức chuyên môn cũng như việc tham gia hoạt động xã hội Tuy nhiên, xét trên thực tiễn thì nghiên cứu của Lưu Mai Anh lại chỉ ra: tình trạng thiếu nghiêm trọng đội ngũ cán bộ dân tộc, thiếu trí thức dân tộc thiểu số

có căn nguyên sâu xa từ trình độ dân trí quá thấp, chăm lo giáo dục mầm non ở vùng dân tộc thiểu số, tạo nền tảng đến các cấp học cao hơn, cho rằng nên kết hợp một cách đúng đắn giữa cán bộ người kinh và cán bộ dân tộc thiểu số, giữa tạo nguồn cán bộ tại chỗ với nguồn cán bộ điều tiết, cân đối vĩ mô (Vũ Đình Hòe, 2008) Báo cáo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Tư (2011) cho rằng hơn 70% cán bộ dân tộc thiểu số nhìn nhận thách thức là do trình độ văn hóa thấp, chưa được đào tạo bài bản, thâm niên công tác theo giới tính, tỷ lệ cán bộ

nữ có thâm niên công tác cao giảm xuống, tỷ lệ nữ dân tộc trên đại học rất thấp 1,8%, trong đó cán bộ người Kinh trong vùng dân tộc lại rất cao Theo đánh giá của Trung ương Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam, năm 2009 phụ nữ chỉ chiếm 10-20% tổng số người tham dự các khóa học về lý luận chính trị và quản lý ở cấp trung ương, chỉ có 39% cán bộ nữ từng tham gia 1-2 khóa đào tạo so với 42,3% so với nam giới, chỉ có 2,9% cán bộ nữ từng tham dự 3 khóa đào tạo so với 8,7% nam giới và có tới 58,6% cán bộ nữ chưa từng tham dự các khóa tập huấn so với 49% cán bộ nam (Ngân hàng thế giới, 2007)

Trang 20

17

Một số nhà khoa học, nhà quản lý đã có những công trình, bài viết về vấn

đề nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số và đã được đăng tải trên các tạp chí như Lại Thị Thu Hà (2005), Lê Văn Quyền (2005), Nguyễn Thanh Cao (2004), Nguyễn Thị Mỹ Trang - Nguyễn Thế Huệ (2004) Các nghiên cứu này bước đầu đề cập đến các vấn đề cấp bách hiện nay như giáo dục - đào tạo, việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số Nhìn chung chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp và có hệ thống toàn diện nhất về phát triển nguồn nhân lực nữ dân tộc thiếu số ở Kon Tum

1.1.3 Thực trạng tham chính của phụ nữ

Nói về tình hình tham gia của phụ nữ trong đời sống chính trị, xã hội của đất nước có nghiên cứu của tác giả Thanh Xuân (2009) Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ cán bộ nữ trong các cấp ủy Đảng, Quốc hội khóa 9 có 18,5%, đến khóa 11 là 27,3%, tỉ lệ phụ nữ đại biểu hội đồng nhân dân trong nhiệm kỳ 2004 – 2009, trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh tỉ lệ phụ nữ cũng có chiều hướng tăng lên Tỉ lệ cán bộ nữ lãnh đạo quản lý các ngành, các cấp còn thấp,

cơ cấu không đều chưa tương xứng với sự phát triển của lực lượng lao động nữ

và phong trào phụ nữ ở ba cấp độ trung ương, tỉnh, huyện Tỉ lệ nữ tham gia vào cấp ủy dưới 15% Nghiên cứu chỉ nói đến tỉ lệ phụ nữ trong các hoạt động chính trị chung chung chứ chưa đề cập đến sự tham gia của phụ nữ trong các tổ

chức chính trị - xã hội của nhà nước Nghiên cứu của Lê Chi Mai (2004) chỉ ra

phụ nữ tham gia tích cực vào mọi hoạt động đời sống kinh tế xã hội có đóng góp to lớn cho sự hòa bình và phồn vinh của đất nước Sự tham gia của phụ nữ vào các tổ chức chính trị - xã hội là cơ sở để người phụ nữ có thể tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước Một nghiên cứu khác (Hoàng Mai Hương (2007) phân tích các nguyên tắc pháp lý về đảm bảo quyền tham gia của phụ

Trang 21

18

nữ tại điều 73 và điều 84 công ước CEDAW Nghiên cứu thống kê về tỉ lệ phụ

nữ trong Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp Tỉ lệ phụ nữ tham gia vào hệ thống cơ quan hành pháp, nghiên cứu, sản xuất kinh doanh, các cấp ủy Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội Tỉ lệ phụ nữ đã không ngừng tăng lên, tuy nhiên vẫn giữ ở cấp phó phần nhiều Tỉ lệ cán bộ nữ trong hoạt động của các cơ quan

tư pháp khá thấp và ít giữ các cương vị chủ chốt Ngoài ra, nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Thị Lân, Đỗ Thị Ngọc Oanh, Luân Thị Đẹp, Lê Sĩ Lợi (2004) tìm hiểu vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong hoạt động khuyến nông Phụ nữ Dân tộc Dao với vai trò là người chuyển giao thông tin khoa học kỹ thuật, người đưa thông tin đến cho nhiều người khác, cụ thể, 50,5% phụ nữ học

kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi từ những phụ nữ cùng thôn bản và trên 80% phụ

nữ từng đi tập huấn thường xuyên trao đổi thông tin với các chị em khác Phụ

nữ là người tiếp nhận thông tin và áp dụng kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất một cách hiệu quả hơn nam giới vì phụ nữ là người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp Nghiên cứu còn chỉ ra các cơ hội tiếp cận của phụ nữ dân tộc Dao với hoạt động khuyến nông như cơ hội tiếp cận với khuyến nông Nhà nước Trong

đó, cơ hội tiếp cận với cán bộ công tác khuyến nông khá thấp và tỉ lệ nam giới thỉnh thoảng tiếp cận với cán bộ cao hơn so với phụ nữ, cơ hội tiếp cận với tập huấn kỹ thuật tỉ lệ người Dao đi tập huấn rất thấp, người phụ nữ thường tham gia ít hơn nam giới

Tất cả các công trình nghiên cứu trên đều phản ánh việc người phụ nữ tham gia vào các hoạt động lĩnh vực chính trị và có nói đến pháp luật đảm bảo quyền tham gia của phụ nữ Đặc biệt, các nghiên cứu chỉ tập trung phân tích tình hình phụ nữ tham gia vào trong các lĩnh vực chính trị, tìm hỉểu trong giới lãnh đạo

Trang 22

và đặc biệt là tỷ lệ phụ nữ nắm giữ các vị trí lãnh đạo trong hệ thống chính trị

cơ sở Theo đánh giá chung của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), mặc dù chính phủ Việt Nam đã có những tiến bộ đầy ấn tượng trong việc thu hẹp khoảng cách giới nhưng chênh lệch về giới vấn thể hiện rất rõ trong các cộng đồng nghèo, cộng đồng yếu thế và ở một số lĩnh vực vụ thể như tiếp cận với giáo dục trung học phổ thông, đào tạo nghề, cơ hội nhận biên chế nhà nước Đặc biệt đối với những vùng điều kiện kinh tế khó khăn như vùng miền núi và dân tộc thiểu số do điều kiện kinh tế xã hội chưa đáp ứng đầy đủ, các dịch vụ

xã hội chưa phát triển thì địa vị của người phụ nữ chưa được cải thiện

Nhiều năm gần đây các tổ chức phát triển cộng đồng và phi lợi nhuận cũng nhận thức được vai trò quan trọng của các vùng dân tộc thiểu số nên tập trung vào nghiên cứu những vấn đề mang tính chất nổi cộm ở các khu vực tập trung dân tộc thiểu số Ví như báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2009), cho thấy các dân tộc thiểu số gặp phải hạn chế lớn hơn so với dân tộc đa số trong các lựa chọn sinh kế Đồng bào dân tộc thiểu số thường ít tham gia vào nhóm lao động được trả công nhật, nhưng mối tương quan giữa vấn đề dân tộc và lao động công nhật đối với nữ giới yếu hơn đối với nam giới Quan trọng là phụ nữ thuộc các nhóm dân tộc thiểu số có xu hướng gặp bất lợi hơn so với nữ giới ở các dân tộc đa số trên nhiều khía cạnh khác Phụ nữ nói chung và phụ nữ dân tộc thiểu số ít có thể tham gia vào các hoạt động được coi là quan trọng đối với

Trang 23

20

triển vọng thăng tiến sau này của họ Điều này cũng được phản ảnh trong Báo cáo Theo dõi đói nghèo có sự tham gia của cộng đồng do Oxfam và ActionAid trong giai đoạn 2008-2009 Báo cáo này chỉ ra có nhiều rào cản mà phụ nữ trong các cơ quan nhà nước ở cấp cao hơn gặp phải cũng lặp lại đối với những phụ nữ đảm nhận các chức vụ lãnh đạo ở cấp xã Trong khi đó về mặt lợi ích, phụ nữ dân tộc thiểu số không được chia sẻ những lợi ích của quá trình giảm nghèo và cái thiện sự phát triển con người ở cùng mức độ như người dân thuộc nhóm đa số, nguyên nhân có thể là do khoảng cách địa lý xa xôi, di chuyển khó khăn hơn nên họ ít có điều kiện ra ngoài các thị trấn chứ chưa tính đến ra ngoài thị xã (Đánh giá giới tại Việt Nam, 2011) Các yếu tố khác như mạng lưới xã hội quan hệ xã hội và kỹ năng diễn thuyết trước công chúng cũng ảnh hưởng đến sự phấn đấu của người phụ nữ

Liên quan các yếu tố cản trở sự tham gia của phụ nữ trong đời sống chính trị, nghiên cứu điều tra của Viện Gia đình và Giới (2009) cho thấy thái độ của người chồng và mạng lưới gia đình có thể tạo ra sự khác biệt lớn đối với sự thành công trong đời sống chính trị của người phụ nữ Phụ nữ muốn tham gia vào hoạt động chính trị hoặc đời sống công cộng phải tìm cách cân đối các trách nhiệm gia đình với các nghĩa vụ chuyên môn và chính trị Một trở ngại khác liên quan đến các giá trị và thái độ mà phụ nữ gặp phải trong đời sống chính trị từ cấp quản lý và cộng đồng nói chung cũng như những giá trị và thái

độ của chính họ (Võ Thị Mai, 2006) Tuy nhiên vấn đề quan điểm và thái độ không nằm ở riêng nam giới, nhiều phụ nữ cũng giữ định kiến giới Một nghiên cứu của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cho thấy rất nhiều người trả lời cho biết sẽ chọn nam giới vào vị trí cao nhất và lãnh đạo chuyên môn và phụ nữ vào vị trí chịu trách nhiệm các công việc hành chính (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, 2009) Mặc dù bối cảnh xã hội đang thay đổi, sự đóng góp của mỗi giới vào quá trình phát triển là ngang nhau nhưng sự khác biệt giới hay nói

Trang 24

21

cách khác là sự phân công lao động trong lĩnh vực tham chính cũng có xu hướng được thu hẹp nhưng sự dịch chuyển diễn ra một cách chậm chạp Những bằng chứng thu thập được, dễ dàng cho chúng ta có nhận xét phụ nữ rất ít cơ hội tham gia vào các vị trí có tính chất chiến lược, chức vụ ra các quyết định trong quá trình thực thi quyền lực tại địa phương Trong khi đó, các tổ chức Đoàn thể, cơ hội của người phụ nữ và nam giới gần ngang bằng nhau và ở nhiều cơ sở thì phấn đấu thăng tiến ở khối đoàn thể phụ nữ được chờ đợi và kỳ vọng nhiều hơn (Đặng Thị Ánh Tuyết, 2011) Tác giả khi nghiên cứu về phụ

nữ cấp phường ở Hà Tĩnh cho rằng rằng hiện nay phụ nữ chiếm tỷ lệ rất hạn chế so với nam giới cả về số lượng cũng như vị trí quyền lực trong các xã, phường “Nam giới áp đảo trong các vị trí quyền lực và chiến lược” Phụ nữ chủ yếu có lợi thế ở tổ chức hội của mình (bởi vì không phải cạnh tranh) và ở các khối đoàn thể - các tổ chức mang tính hoạt động xã hội nhiều hơn Có sự khác biệt về nhóm tuổi, học vấn và giới tính trong con đường phấn đấu đạt các vị trí trong lãnh đạo, quản lý Nam giới được kỳ vọng nhiều hơn và họ vẫn chiếm vị trí ưu thế trong chính trường Tác giả chú trọng phân tích sâu hơn những rào cản đến con đường tham chính của phụ nữ tại tỉnh Hà Tĩnh về thể chế; giá trị, chuẩn mực, định kiến giới; trở ngại gia đình

Khi nhìn nhận về rào cản đối với con đường phát triển sự nghiệp chính trị, cũng như sự nghiệp của phụ nữ, có ý kiến cho rằng phụ nữ luôn bị áp lực từ gánh nặng của công việc gia đình, nhắc đến phụ nữ là công việc nội trợ, chăm sóc gia đình (Lê Thị Mỹ Hiền, 2011) Cũng vì lẽ đó, nữ cán bộ khó đề bạt vào trị chủ chốt mặc dù khi họ có cùng trình độ, năng lực với nam giới Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hạnh (2013) cũng bổ sung thêm về những phát hiện cho rằng phụ nữ dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói chung theo chế độ mẫu hệ, người phụ nữ làm chủ gia đình nên họ phải lo toan quyết định các việc lớn nhỏ Cuộc sống thường ngày của họ gắn chặt với nương rẫy, với gia đình con cháu (35.1%

Trang 25

22

phụ nữ đồng ý với việc đảm nhận các việc trong nhà, 31.6% đồng ý việc chăm sóc con cái là của phụ nữ, chỉ có 4.9% đồng ý việc nhà, 0.9 % đồng ý việc chăm con là của người chồng) Theo các nhà chức năng, phân công lao động theo giới trong gia đình thường bị bỏ qua vì họ cho rằng phụ nữ thường gắn với việc nhà như là “thiên chức” trong khi nam giới lo toan “đại sự” Theo báo cáo phát triển con người năm 1995 của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc, ước tính phụ nữ dành hai phần ba số giờ lao động của họ cho những công việc không trả công, nam giới chỉ dành một phần tư, và phần lớn số thời gian lao động này là dành cho công việc chăm sóc Việc phân công lao động trong gia đình ở đây có xu hướng ngang bằng nhau, song, những việc quyết định quan trọng trong gia đình thì người chồng có xu hướng quyết định nhiều hơn (Lê Thi, 2010) Từ đó có thể thấy rằng muốn giải phóng phụ nữ ra khỏi “áp bức gia đình”, trước hết, cần phải thay đổi các thiết chế, có sự phân công lại lao động trong gia đình (Lê Ngọc Văn, 2006; Trần Hàn Giang, 2004)

Đối với phụ nữ thuộc dân tộc ít người và từ các tỉnh nông thôn, miền núi, có thể có thêm những trở ngại văn hóa xã hội khác liên quan đến thái độ và thói quen trong các cộng đồng của họ Nói một cách khác có những đặc thù trong suy nghĩ, nhìn nhận của cộng đồng tộc người về vai trò giới, khác biệt giới cũng như các ngầm định, mong đợi ở mỗi giới Hình ảnh của người phụ nữ lãnh đạo, quản lý luôn bị đánh giá rất thấp so với nam giới (Lê Thị Mỹ Hiền, 2011) Đó là sự khác biệt về giới tính và sự khác biệt đó đã xã hội hóa từ khi cất tiếng chào đời (Lê Thị Quý, 2009; Lê Ngọc Văn, 2006) Những khuôn mẫu giới về hình ảnh của phụ nữ đã trở thành rào cản khiến cho con đường phấn đấu của nữ cán bộ ở địa phương ngày càng gian nan hơn Hơn nữa nhận định từ các nghiên cứu cho thấy phụ nữ dân tộc thiểu số thường gặp phải rào cản về ngôn ngữ (khả năng sử dụng tiếng phổ thông), khả năng tiếp cận/sử dụng

Trang 26

nữ Việt Nam cho biết đã từng là nạn nhân của ít nhất một hình thức bạo lực gia đình kể trên Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khả năng phụ nữ bị chồng mình lạm dụng nhiều hơn gấp ba lần so với khả năng họ bị người khác lạm dụng [84]

Ngoài ra, yếu tố tâm lý tộc người, khu vực địa lý phân bố giữa các tộc người cũng là một trở ngại cho phụ nữ dân tộc thiểu số mà một số học giả có

đề cập đến trong các nghiên cứu của mình nhưng chưa đi phân tích sâu sắc Xét

từ góc độ quan hệ liên tộc người, một số nghiên cứu Nhân học (Salemink, 2011) chỉ ra rằng, thông thường từ trước đến nay người ta thường quan niệm vùng sâu vùng xa là nơi ở “tự nhiên” của các dân tộc thiểu số, mặc dù thực tế lịch sử cho thấy người nơi khác đến khá nhiều do di cư hoặc tái định cư Tác động thực của các biện pháp nhà nước - công cụ của một quốc gia với tộc Việt chiếm chủ đạo là nhấn mạnh sự khác biệt chủ yếu giữa đồng bằng và miền núi,

và khái niệm về sự ngăn cách văn hóa địa lý cần phải lấp được thể hiện những cụm từ “vùng sâu, vùng xa” và là động cơ đằng sau của những chính sách, tư tưởng hiện nay về miền núi và các dân tộc thiểu số, giống như một kiểu sứ mệnh khai hóa hậu thuộc địa Tác giả khái quát các nghiên cứu của thời thuộc địa và hậu thuộc địa nghiên cứu về các cộng đồng dân tộc thiểu số ở miền núi Việt Nam thường tập trung vào sự khác biệt văn hóa cơ bản giữa Kinh, dân tộc

Trang 27

24

thiểu số Tác giả đề xuất sử liệu học và dân tộc học Việt Nam cũng nên có “góc nhìn từ núi” Nghiên cứu nhắc về địa lý nguồn gốc dân tộc các sự kiện lịch sử vùng cao nguyên Việt Nam, khát quát chung về địa lý, văn hóa tôn giáo của các khu vực này Tình trạng lạc hậu xa xôi hẻo lánh là những tu từ làm cơ sở lý thuyết về phát triển và thường kết hợp giữa các trục không gian (trung tâm ngoại vi) và thời gian (hiện đại - truyền thống) để biểu thị sự khác biệt

Nói về tâm lý tộc người trong việc tác động của nó đến sự phát triển của đồng bào dân tộc thiểu số, Đào Minh Tuấn cho rằng tâm lý ý thức tộc người nếu biết phát huy sẽ tạo nên một động lực để phát triển, tâm lý tự ti, định kiến, hẹp hòi, thiếu chí tiến thủ cũng trở thành rào cản đối với khả năng vươn lên của các cộng đồng tộc người thiểu số Nguyễn Thị Tư ( 2011) cũng đưa ra nhận định rằng tâm lý tự ti, ngại va chạm, muốn yên ổn khi xem xét đề bạt cán bộ Tâm lý muốn giành nhiều thời gian hơn cho việc gia đình coi đó là thiên chức của người phụ nữ, tâm lý e ngại khi phải luân chuyển xa gia đình nhiều người

an phận Những công tác cộng đồng, cục bộ, tư tưởng dân tộc hẹp hòi lẫn lộn việc công việc tư, ủng hộ bao che nhau, hay cái tâm lý dĩ hòa vi quý, ngại va chạm phần nào trong công tác cán bộ bị kìm hãm (Lê Phương Thảo, Nguyễn Cúc, Doãn Hùng, 2005)

Nhìn chung khi nghiên cứu về các tộc người thiểu số nói chung và Tây Nguyên nói riêng, đặc biệt là nữ dân tộc thiểu số, học viên có cơ hội tìm hiểu lược sử nghiên cứu vấn đề về địa vực nghiên cứu trên cơ sở dữ liệu lưu trữ phong phú Trên cơ sở kế thừa một số kết quả các công trình nghiên cứu đi trước, vận dụng các cơ sở lý luận và căn cứ điều kiện thực tiễn thực địa trên địa bàn, luận văn nghiên cứu về nữ dân tộc thiểu số ở Kon Tum tham gia khu vực Nhà nước mong muốn đến góc nhìn sâu xa về trải nghiệm của chị em DTTS, cách ứng phó và cơ hội của họ khi tham gia vào khu vực nhà nước Với các phương pháp tiếp cận của Nhân học đề cao tính chủ thể của đối tượng tham

Trang 28

25

gia, nghiên cứu này sẽ tìm hiểu các động lực phấn đấu, trải nghiệm công việc

và cách thức ứng đối trong xã hội của những cá nhân phụ nữ này tại địa phương như thế nào và quan trọng hơn sẽ phân tích các trải nghiệm cá nhân đó trong bối cảnh các quan niệm địa phương về vai trò giới cũng như các tương tác liên tộc người tại khu vực nghiên cứu Qua đó, nghiên cứu đưa ra các ngụ ý cho chính sách phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc, nâng cao cơ hội tiếp cận và tham gia các tổ chức công của nữ dân tộc thiểu số trong mục tiêu phấn đấu đảm bảo bình đẳng giới thực chất và trên cơ s ở cân nhắc các đặc thù văn hóa địa

phương (Nguyễn Thu Hương, 2012)

1.2 Các khái niệm công cụ

1.2.1 Khái niệm nguồn nhân lực

Theo giáo trình khoa học quản lý II thì khái niệm NNL được hiểu “Là nguồn lực của mỗi con người gồm cả thể lực và trí lực Nguồn nhân lực trong tổ chức bao gồm tất cả mọi cá nhân tham gia vào bất cứ hoạt động nào với bất cứ vai trò nào trong tổ chức” [26, tr.380] Nguồn nhân lực là tổng hòa của năng lực, thể lực, trí lực, nhân cách của con người để đáp ứng một cơ cấu nhất định của

xã hội Nếu xét theo một nghĩa rộng hơn thì nguồn nhân lực chính là nguồn tài nguyên quan trọng nhất để đánh giá tiềm lực phát triển của một quốc gia, vùng lãnh thổ, mỗi địa phương, ngành, tổ chức, doanh nghiệp Trong đó nguồn nhân lực bao gồm cả thể lực và trí lực Xét theo nghĩa hẹp thì NNL được hiểu nó chính là số lượng và chất lượng của người lao động trong mỗi tổ chức đó Nguồn nhân lực trong một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân

có vai trò khác nhau được liên kết với nhau trên những mục tiêu nhất định Và nguồn nhân lực được hiểu một cách cơ bản là khả năng lao động của xã hội và

đó là một nguồn lực cực kỳ quan trọng, không thể thiếu được, nó vừa phong phú lại vừa quý hiếm đối với bất kỳ một nguồn nhân lực nào khác Ngoài ra,

Trang 29

26

cái làm nên NNL còn là kinh nghiệm sống, là nhu cầu và thói quen vận dụng tổng hợp tri thức và kinh nghiệm của mình, của cộng đồng vào các hoạt động vật chất như các hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm của con người Xét theo ý nghĩa đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ sự phong phú, sự sâu sắc của các năng lực trí tuệ, năng lực thực hành, tổ chức và quản lý, tính tháo vát và những phản ứng của con người trước mọi hoàn cảnh Những năng lực đó chỉ xuất hiện trên cơ sở của trình độ học vấn, kinh nghiệm, sự mở rộng các quan hệ xã hội, sự tiếp thu tinh tế các ảnh hưởng văn hóa truyền thống từ gia đình tới xã hội, từ cộng đồng quốc gia tới khu vực, quốc tế Nguồn nhân lực được xem xét trên hai phương diện: cá nhân và xã hội Vì vậy khi xem xét cấu trúc nguồn nhân lực, trước hết phải tính đến phương diện cá thể của nó gồm ba yếu tố: thể lực, trí tuệ và đạo đức, ba yếu tố này cấu thành chất lượng

cá thể của nguồn nhân lực và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phát triển xã hội của nguồn nhân lực xét trên quy mô xã hội Sự phát triển nguồn nhân lực phụ thuộc rất nhiều vào chính sách và sự quản lí của Nhà nước cũng như của các cơ sở đạo tạo Trong đó các chính sách vĩ mô và các lĩnh vực quản lí sau của nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng: Các chính sách vĩ mô về phát triển nguồn nhân lực

1.2.2 Khái niệm về khu vực Nhà nước

Khu vực nhà nước là khu vực do nhà nước làm chủ sở hữu , nhà nước đầu tư vốn hoă ̣c mô ̣t phần do tư nhân đầu t ư vốn được Nhà nước quản lý nhằm ta ̣o ra sản phẩm và dịch vụ phục vụ nhu cầu phát triển chung , thiết yếu của nhà nước

và xã hội Những người làm trong khu vực này phu ̣ thuô ̣c vào đi ̣nh hướng chính trị của nhà nước , chịu sự chi phối của nhà nước , chủ yếu do nhà nước đầu tư, mục tiêu là phục vụ mục tiêu chung của xã hội , không nhằm mu ̣c tiêu

Trang 30

+ Quyền lực hoạt động: các đơn vị trong khu vực nhà nước được giao một số quyền hạn nhất định có tính chất bắt buộc, cưỡng chế mà các cơ quan tư nhân không thể có được Chẳng hạn, chính phủ có quyền buộc công chúng phải nộp thuế, thực hiện nghĩa vụ quân sự

Một số hoạt động thuộc khu vực Nhà nước bao gồm hệ thống các cơ quan công

+ Hệ thống các cơ quan cung cấp an sinh xã hội

Khu vực nhà nước, khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội dân sự là những mô hình quản lý cơ bản của một quốc gia Khác với các nước phát triển, ở hầu hết các nước đang phát triển, khu vực nhà nước đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong việc điều hành đất nước và thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội

1.2.3 Định nghĩa về cán bộ, công chức, viên chức

Ở nước ta, khái niệm công chức đã được quan tâm xây dựng và ngày càng hoàn thiện Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh 76/

Trang 31

28

SL về "Quy chế công chức", đây được xem là văn bản pháp luật đầu tiên có liên quan trực tiếp đến khái niệm này Quy chế xác định rõ nghĩa vụ, quyền lợi của công chức, cùng các thể lệ về việc tổ chức, quản trị và sử dụng các ngạch công chức trong toàn quốc, theo đó "Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức"

Thời gian sau đó, chúng ta cũng đã có nhiều văn bản đề cập đến công chức, công vụ và gần đây nhất, trước đòi hỏi của thực tiễn khách quan, ngày 13/11/2008, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật CBCC Theo quy định này "Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong

cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” (Luật số 22/2008/QH12 nghị định do Quốc hội ban hành năm 2008, điều 4, khoản 2) Nhìn chung công chức bao gồm những đặc điểm chung: là công dân nước đó, được tuyển dụng giữ một công việc thường xuyên trong cơ quan hành chính Nhà nước, được bổ nhiệm vào một ngạch nhất định, làm việc trong công sở, chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, trong biên chế và hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước

Trang 32

29

Cụ thể hơn, đạo luật trên quy định các đối tượng được coi là CBCC bao gồm: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung

là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng

ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc

Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (điều 4, khoản 1) Vì vậy, có thể nói cán bộ là: người làm công tác chuyên môn trong một cơ quan, một tổ chức của hệ thống chính trị, có trình độ đào tạo từ cao đẳng, đại học trở lên Và những người làm công tác có chức vụ trong một

tổ chức lãnh đạo, quản lý để tổ chức và phối hợp hành động của các thành viên trong một nhóm, một tập đoàn người nhằm giải quyết tốt các mối quan hệ công tác và đạt mục tiêu đề ra Vậy cán bộ, công chức lãnh đạo là người đứng đầu quan trọng nhất của các cơ quan, tổ chức Người có tác động chi phối toàn bộ

hoạt động của một tổ chức nhất định [12, tr.18]

Theo Nghị định 116/2003/NĐ-CP, ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước qui định nhóm đối tượng sau đây được gọi là viên chức: những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị xã hội Theo Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 đã khẳng định nhiệm vụ của viên chức, quy định “Viên chức là công dân Việt Nam được

Trang 33

30

tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế

độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công

lập theo quy định của pháp luật”

1.2.4 Văn hóa tộc người

Văn hóa có vai trò quan tro ̣ng trong sự phát triển của li ̣ch sử nhân loa ̣i cũng như của từng tô ̣c người và sự hình thành ý thức tự giác của tộc người Mỗi tô ̣c người trong quá trình phát triển đều sáng ta ̣o ra mô ̣t phức hợp văn hóa phù với trình độ phát triển kinh tế xã hội của tộc người đó Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại bao giờ cũng gắn liền với một tộc người , mà sự phát triển của các tộc người hết sức phong phú, đa da ̣ng

Tác giả Trần Bình trong nghiên cứu của mình về tộc người và dân tộc ở Việt Nam nhận định rằng thuật ngữ tộc người xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XIX, ban đầu nó được dùng để chỉ các nhóm tộc người (groupe ethnie), hay đơn vị tộc người (unité Ethnie) Trong Dân tộc học, khi đó Ethnie tương ứng như ethnic, ethnos, ethikum, ethnea Cho đến khoảng giữa thế kỷ XX, thuật ngữ Ethnie mới được sử dụng rộng rãi, kể cả ở Liên Xô (Hiến pháp Liên Xô

1977 dùng Ethnos thay cho bộ tộc, bộ lạc,…) Tuy vậy, trong thực tiễn cũng như khoa học Nation và Ethnie/Ethnic không thể là một, mà đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Trong khi Dân tộc (Nation) phải là một cộng đồng chính trị, bao gồm cư dân của một quốc gia có chung một nhà nước, một chính phủ, có luật pháp thống nhất,…thì Tộc người (Ethnic/Ethnie) là cộng đồng mang tính tộc người, không nhất thiết phải cư trú trên một cùng lãnh thổ, có chung một nhà nước, dưới sự quản lý điều hành của một chính phủ với những đạo luật chung thống nhất [7, tr.3] Mặc dù các trường phái Dân tộc học có nhiều quan điểm khác nhau về tộc người, xong tất cả đều thống nhất tộc người chỉ các cộng đồng mang tính tộc người bất kỳ, kể cả các cộng đồng tộc người

Trang 34

31

chủ thể của các quốc gia, và các cộng đồng tộc người thiểu số trong các quốc gia, vùng miền, không phân biệt đó là cộng đồng tộc người tiến bộ, hay cộng đồng tộc người còn đang trong quá trình phát triển

Ở Việt Nam, tiêu chí xác định dân tộc bắt đầu được đề cập từ 1960 Năm

1973 tại Hà Nội đã tiến hành hai cuộc Hội thảo khoa học (vào tháng 6 và tháng 11) Các Hội thảo đã thống nhất lấy dân tộc (tộc người) làm đơn vị cơ bản trong xác định thành phần dân tộc ở Việt Nam Ba tiêu chí để xác định dân tộc/tộc người, được thống nhất sử dụng: có chung tiếng nói (ngôn ngữ mẹ đẻ); có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hóa (đặc trưng văn hóa); có cùng

ý thức tự giác, tự nhận cùng một dân tộc Với các tiêu chí này, thành phần dân tộc ở Việt Nam khi đó được xác định bao gồm 59 dân tộc Bảng danh mục này

đã được đăng trong “Các dân tộc ít người ở Việt Nam, các tỉnh phía Bắc” (Nxb KHXH, Hà Nội, 1978) và đăng trong tạp chí Dân tộc học, số 1/ 1974 Nhằm phục vụ Tổng điều tra dân số cả nước 1979, vào tháng 12/1978 bảng danh mục

54 dân tộc trong cả nước được Ủy ban KHXH Việt Nam và Hội đồng Dân tộc trình Chính Phủ Danh mục này được công nhận và sử dụng từ đó đến nay Thực tế cho thấy, việc giữ gìn tộc người trước hết là giữ gìn tộc danh và ý thức về tộc người Tức là những yếu tố thuộc lĩnh vực văn hoá, dân tộc chứ chưa phải lĩnh vực nhà nước Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách sống động toàn bộ cuộc sống con người trong suốt quá trình lịch sử Văn hóa tạo nên một hệ thống các giá trị truyền thống bao gồm thẩm mĩ và lối sống, từ đó từng dân tộc xây dựng nên bản sắc riêng của mình Văn hóa là tất cả những gì con người đã bỏ công sức để tạo ra; nó khác với những gì tồn tại trong tự nhiên ngoài con người “Văn hoá là hệ thống hữu cơ các giá trị tinh thần và vật chất

do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá quá trình hoạt động thực tiễn, trong

sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [77, tr.27] Văn hóa với tính cách là yếu tố cấu thành tộc người bao gồm tri thức, tín

Trang 35

32

ngưỡng, đạo đức, nghệ thuật, luật pháp, tập quán, sinh hoạt…là sự thể hiện bản chất năng lực con người với tính cách là thành viên của cộng đồng xã hội

“Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó

mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[55, tr.131]

Trong nghiên cứu Dân tộc học, văn hóa tộc người được hiểu bao gồm tổng thể các yếu tố về văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, giúp cho việc phân biệt tộc người này với tộc người khác Chính văn hóa tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển ý thức tự giác tộc người Thực tế lịch sử cho thấy, những tộc người nhỏ, trình độ phát triển kinh tế văn hóa thấp vì một lý do nào đó dẫn đến dồng hóa không còn giữ được tiếng nói và văn hóa của mình thì ý thức tự giác tộc người cũng khó để tồn tại Mỗi tộc người trong quá trình tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội của chính tộc người đó Những giá trị văn hóa của từng tộc người đã làm phong phú bức tranh văn hóa nhân loại Văn hóa tộc người là tổng thể các yếu tố văn hóa mang tính đặc trưng và đặc thù dân tộc, nó thực hiện chức năng cố kết tộc người và phân biệt tộc người Những yếu tố văn hóa làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia bao gồm ngôn ngữ, trang phục, tín ngưỡng và nghi lễ, văn hóa dân gian, tri thức dân gian về tự nhiên, xã hội, về bản thân con người, về sản xuất, ẩm thực, tâm lý dân tộc và những nội dung khác liên quan tới hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội của con người Như vậy, khi nói đến văn hóa tộc người là một phạm vi mở rộng liên quan đến đời sống tộc người, tất cả những gì tạo nên sắc thái riêng của tộc người đó tồn tại không bị hòa lẫn với tộc người khác Bản sắc văn hóa của một tộc người là tổng thể những tính chất, tính cách được hình thành và tồn tại bền vững trong tiến trình lịch sử, góp phần tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần trước những

thách thức của lịch sử

Trang 36

33

1.2.5 Định nghĩa Giới, bình đẳng giới

Thuật ngữ giới (gender) hoàn toàn khác biệt với thuật ngữ “giới tính” (sex) bởi

nó mang tính xã hội - thay vì sự khác biệt về sinh học - chỉ sự tương quan về vai trò xã hội, vị trí và giá trị xã hội giữa phụ nữ và nam giới (Võ Hồ Bảo Hạnh, 2012) Sự khác biệt về giới không phải vốn có cùng với sự tồn tại của nam và nữ mà là sự tập hợp các hành vi học hỏi qua quá trình xã hội hóa và có thể thay đổi Thuật ngữ giới xuất hiện từ khoảng năm 80 của thế kỷ XX nhưng lịch sử hình thành lý thuyết giới lại có nguồn gốc từ những quan điểm khác nhau xoay quanh những vấn đề cơ bản như: nguồn gốc nào tạo nên những khác biệt giới, cơ chế nào duy trì những khác biệt đó, làm thế nào để thu hẹp khoảng cách giới hay xóa bỏ tình trạng bất bình đẳng giới

Giới là một phạm trù được sử dụng để nói về các vai trò, thái độ và giá trị của giới tính do kỳ vọng các cộng đồng xã hội gán cho; là sự khác nhau giữa phụ nữ và nam giới về mặt xã hội, mang tính xã hội, không đồng nhất, có thể thay đổi được Giới được xây dựng trong mối quan hệ nam và nữ về quyền lực,

vị trí xã hội và phân công lao động (Trần Xuân Kỳ, 2008) Giới bao gồm các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một môi trường xã hội cụ thể Nói cách khác giới là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong quan hệ xã hội (Lê Thị Chiêu Nghi, 2001)

Luật Bình đẳng giới (2006) cũng làm rõ những sự bình đẳng về giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, bao gồm: bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao và bình đẳng giới trong gia đình Bình đẳng giới không có nghĩa và không đòi hỏi số lượng phụ nữ và nam giới tham gia vào các hoạt động phải ngang bằng nhau mà bình đẳng giới có nghĩa

là phụ nữ và nam giới, trẻ em gái và trẻ em trai phải có cơ hội ngang nhau trong việc sử dụng các quyền của họ Và vì thế, bình đẳng giới đòi hỏi các

Trang 37

34

chương trình phát triển, các dịch vụ công và các dịch vụ xã hội phải được thiết

kế sao cho đáp ứng được các nhu cầu nhiều mặt phù hợp với mức độ ưu tiên khác nhau của phụ nữ và nam giới Nếu làm được việc này thì sự phát triển kinh tế xã hội sẽ dẫn tới sự công bằng trong việc hưởng thụ các thành quả và

mở ra cơ hội như nhau cho phụ nữ và nam giới trong việc phát huy các tiềm năng của cá nhân họ

Bình đẳng giới được xem là tiêu chí quan trọng đánh giá sự phát triển của một xã hội, một đất nước, nó vừa là mục tiêu của sự phát triển vừa là yếu tố nâng cao khả năng tham gia đóng góp của phụ nữ vào sự phát triển ổn định và bền vững của quốc gia Quyền phụ nữ, quyền bình đẳng giới là một nội dung

cơ bản của quyền con người, thể hiện giá trị nhân văn cao cả, đồng thời là những giá trị chính trị, pháp quyền đáng trân trọng Từ Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp 1946) đến các Hiến pháp 1959, 1980 và 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001, gần đây nhất là 2013, bình đẳng nam, nữ luôn là một nguyên tắc hiến định xuyên suốt trong văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất của Việt Nam

Để bình đẳng giới thực chất rất cần cơ hội để phụ nữ có thể tiếp cận và hiện

thực hóa các chính sách thúc đẩy bình đẳng giới “Bình đẳng giới là việc nam,

nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau

về thành quả của sự phát triển đó” [37, tr.9] Cơ hội chính là hoàn cảnh thuận lợi để phụ nữ phát huy năng lực cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình

và thụ hưởng thành quả của sự phát triển Từ thực tiễn đổi mới, chúng ta đã nhận rõ thực chất sâu xa của công bằng xã hội Khoảng cách giàu nghèo, sự chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng miền hiện nay càng đòi hỏi công bằng xã hội đúng nghĩa Công bằng gắn với bình đẳng xã hội

và xét về thực chất, công bằng không chỉ đòi hỏi phân phối lợi ích hợp lý mà còn đòi hỏi công bằng về cơ hội phát triển, bản đảm cho mọi thành viên trong

Trang 38

35

cộng đồng đều có cơ hội như nhau để phát triển, đều được thụ hưởng lợi ích chính đáng, vai trò, vị trí của mình trong các mối quan hệ xã hội và từ những kết quả lao động, cống hiến của mình

1.3 Hướng tiếp cận lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Hướng tiếp cận lý thuyết

Khi chọn đề tài “Sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào khu vực Nhà

nước: Nghiên cứu trường hợp cộng đồng Ba-na và Gia-rai ở tỉnh Kon Tum”,

tôi tiếp cận theo quan điểm “agency” (tạm dịch: tính tự giải) theo (Nguyễn Thu Hương 2011), mối quan hệ nhà nước, quốc gia và tộc người (Scott, 2009; Taylor, 2014) Đây là khái niệm hiện đang được vận dụng phổ biến trong nghiên cứu nhân học, đặc biệt là về quan hệ liên tộc người trong bối cảnh vùng cao của các quốc gia Á Châu

Chúng ta được biết, từ lâu đồng bào dân tộc thiểu số thường được nhìn với con mắt phiến diện và được gán nhãn “vùng sâu”, “vùng xa”, “trình độ nhận thức kém”, “bẩn” hay nghèo đói… Một số tộc người, đặc biệt các dân tộc bị cho là ở giai đoạn phát triển thấp, thường bị gán nhãn „lạc hậu‟, „chậm phát triển‟, „mê tín dị đoan‟ vv Tri thức bản địa của họ bị coi là lỗi thời, thô sơ hơn tri thức khoa học phương Tây, canh tác nương rẫy bị xem là thấp kém hơn canh tác lúa nước, nhiều phong tục bị xem là “hủ tục” hay lãng phí, cần phải xóa bỏ…vv Từ những đánh giá này, nhiều thực hành văn hóa của các tộc người thiểu số được kỳ vọng cần phải thay đổi cho “văn minh” và “tiến bộ” hơn Một hệ quả nhãn tiền của quan điểm tiến hóa này là có những chính sách chưa hoàn toàn thích hợp với bối cảnh văn hóa, lịch sử và môi trường của những tộc người thiểu số, mặt khác, triệt tiêu dần tính đa dạng của văn hóa, cũng như sự tự tin của các chủ thể văn hóa Để phát huy nội lực của sự đa dạng văn hóa, đã đến lúc chúng ta cần loại bỏ cách nhìn tiến hóa luận văn hóa ở Việt

Trang 39

Tuy nhiên, hiện nay cách tiếp cận “từ trên xuống” đã không còn được phổ rộng do những bất cập vốn có của nó Một số các học giả nước ngoài khi nghiên cứu về các tộc người thiểu số ở Việt Nam đã lựa chọn hướng tiếp cận

“từ dưới lên”, “từ bên trong” để đi sâu tìm hiểu những văn hóa tộc người, lối sống và những đặc thù của từng dân tộc họ nghiên cứu Tiêu biểu cho hướng tiếp cận đó qua các tác phẩm “Chúng tôi ăn rừng” của Georges Condominas (2008) Cuốn sách viết về người người Mnong Gar ở Sar Luk, tỉnh Đắc Lắk Tác phẩm thật sự trở thành một tác phẩm văn học - khoa học độc đáo, vừa chặt chẽ khoa học, chuẩn xác đến từng chi tiết, chứa đựng những suy gẫm minh triết sâu xa, vừa hấp dẫn và vang vọng như một cuốn tiểu thuyết hết sức sống động

Nó cũng hé cho chúng ta một Tây Nguyên kỳ lạ, thăm thẳm cho những khám phá bất tận [82, tr.1] Nhà nhân học Philip Taylor cũng có công bố nghiên cứu gần đây nhất về người Khmer (2014) Từ trước đến nay, nhận thức về người Khơmer nói riêng và vùng hạ Mê Kong nói chung thường bị "trùm lấp" bởi các loại chủ nghĩa dân tộc nhằm phục vụ cho lợi ích chính trị, kinh tế của mỗi quốc gia Cho nên, sự thật lịch sử và đời sống thực của khu vực này, một đời sống như nó vốn có, luôn bị che mờ Cuốn sách của Taylor là một nỗ lực thoát khỏi cái bóng của các diễn ngôn dân tộc chủ nghĩa, để tiếp cận đối tượng “từ dưới lên”, từ đó khám phá ra thế giới quan của họ, lịch sử của họ, hệ sinh thái và các

Trang 40

ở Đông Nam Á trải dài từ Vân Nam đến Tây Nguyên Việt Nam, Lào, Campuchia, Bắc Thái Lanvà Miến Điện, nơi cư trú của khoảng 100 triệu người gồm rất nhiều các dân thiểu số với ngôn ngữ và văn hóa khác nhau Gần đây dân tộc học gọi khu vực này là “Zomia” Ý tưởng của cuốn sách rất thú vị: không phải văn minh không thể leo núi để đến với các nhóm vùng cao mà chính các nhóm vùng cao đã leo lên núi để chạy trốn khỏi văn minh, đúng hơn

là chạy trốn khỏi các thiết chế của Nhà nước [53]

Trong luận văn này, học viên đã cố gắng đi theo hướng tiếp cận agency tập trung vào tiếng nói chủ thể để tìm hiểu tâm tư, tình cảm suy nghĩ của đối tượng được phỏng vấn Có thể nói hướng tiếp cận “agency” giúp tránh những định kiến, áp đặt mà các nghiên cứu theo hướng thiết chế từ trên xuống vốn lâu nay vận dụng khi nghiên cứu về người thiểu số nói chung và phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng

1.3.2 Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu

Các phương pháp và k ỹ thuâ ̣t nghiên cứu được tôi cho ̣ n lo ̣c và kế thừa kinh nghiê ̣m của các ho ̣c giả từng nghiên cứu về những vấn đ ề liên quan đến phát triển nguồn nhân lực, giới và phát triển và phụ nữ nói chung

Tổng cộng nhóm nghiên cứu đã thực hiện 84 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân (thời lượng từ một đến hai tiếng) Đối tượng tham gia phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cộng đồng bao gồm phụ nữ là cán bộ công viên chức (độ tuổi dao động

Ngày đăng: 19/06/2016, 10:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Dân số tại các địa bàn thực hiện nghiên cứu - Sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào khu vực nhà nước nghiên cứu trường hợp cồng đồng ba na và gia rai ở tỉnh kon tum
Bảng 2.3 Dân số tại các địa bàn thực hiện nghiên cứu (Trang 48)
Bảng 2.4: Dân số và nguồn lao động của tỉnh Kon Tum. - Sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào khu vực nhà nước nghiên cứu trường hợp cồng đồng ba na và gia rai ở tỉnh kon tum
Bảng 2.4 Dân số và nguồn lao động của tỉnh Kon Tum (Trang 49)
Bảng 2.5: Cơ cấu trình độ văn hoá của nguồn nhân lực  (%) - Sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào khu vực nhà nước nghiên cứu trường hợp cồng đồng ba na và gia rai ở tỉnh kon tum
Bảng 2.5 Cơ cấu trình độ văn hoá của nguồn nhân lực (%) (Trang 51)
Bảng 2.6: Tỷ lệ cán bộ công chức trong các cơ quan hành chính Nhà nước  tỉnh Kon Tum (tính đến ngày 30/12/2011) - Sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào khu vực nhà nước nghiên cứu trường hợp cồng đồng ba na và gia rai ở tỉnh kon tum
Bảng 2.6 Tỷ lệ cán bộ công chức trong các cơ quan hành chính Nhà nước tỉnh Kon Tum (tính đến ngày 30/12/2011) (Trang 54)
Bảng  2.7:  Tỷ  lệ  cán  bộ,  viên  chức  DTTS  trong  các  đơn  vị  sự  nghiệp  của  nhà nước tỉnh Kon Tum (tính đến ngày 30/12/2011) - Sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào khu vực nhà nước nghiên cứu trường hợp cồng đồng ba na và gia rai ở tỉnh kon tum
ng 2.7: Tỷ lệ cán bộ, viên chức DTTS trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước tỉnh Kon Tum (tính đến ngày 30/12/2011) (Trang 55)
Bảng 2.8: Tỷ lệ cán bộ công chức cấp xã tại tỉnh Kon Tum, tính đến ngày  15-7-2012 - Sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào khu vực nhà nước nghiên cứu trường hợp cồng đồng ba na và gia rai ở tỉnh kon tum
Bảng 2.8 Tỷ lệ cán bộ công chức cấp xã tại tỉnh Kon Tum, tính đến ngày 15-7-2012 (Trang 56)
Bảng 2.9: Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh, huyện  tại tỉnh Kon Tum - Sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào khu vực nhà nước nghiên cứu trường hợp cồng đồng ba na và gia rai ở tỉnh kon tum
Bảng 2.9 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh, huyện tại tỉnh Kon Tum (Trang 57)
Bảng 2.10: Chuyển biến về chất lươ ̣ng của công chức hành chính - Sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào khu vực nhà nước nghiên cứu trường hợp cồng đồng ba na và gia rai ở tỉnh kon tum
Bảng 2.10 Chuyển biến về chất lươ ̣ng của công chức hành chính (Trang 59)
Bảng 2.11: Chuyển biến về chất lươ ̣ng của cán bô ̣, công chức phường, xã - Sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào khu vực nhà nước nghiên cứu trường hợp cồng đồng ba na và gia rai ở tỉnh kon tum
Bảng 2.11 Chuyển biến về chất lươ ̣ng của cán bô ̣, công chức phường, xã (Trang 60)
Bảng 2.12: Tỷ lệ cán bộ công chức nữ dân tộc thiểu số cấp xã - Sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào khu vực nhà nước nghiên cứu trường hợp cồng đồng ba na và gia rai ở tỉnh kon tum
Bảng 2.12 Tỷ lệ cán bộ công chức nữ dân tộc thiểu số cấp xã (Trang 61)
Bảng 2.13: Tiền lương, thưởng của các doanh nghiệp năm 2009 - Sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào khu vực nhà nước nghiên cứu trường hợp cồng đồng ba na và gia rai ở tỉnh kon tum
Bảng 2.13 Tiền lương, thưởng của các doanh nghiệp năm 2009 (Trang 65)
Bảng 3.14: Bảng thống kê cán bộ công chức tỉnh Kon Tum phân theo các  dân tộc - Sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào khu vực nhà nước nghiên cứu trường hợp cồng đồng ba na và gia rai ở tỉnh kon tum
Bảng 3.14 Bảng thống kê cán bộ công chức tỉnh Kon Tum phân theo các dân tộc (Trang 82)
Ảnh 1: Hình ảnh ngôi nhà Rông truyền thống của cộng đồng dân tộc thiểu số - Sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào khu vực nhà nước nghiên cứu trường hợp cồng đồng ba na và gia rai ở tỉnh kon tum
nh 1: Hình ảnh ngôi nhà Rông truyền thống của cộng đồng dân tộc thiểu số (Trang 126)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w