1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẢM bảo QUYỀN CON NGƯỜI TRONG tố TỤNG dân sự THÔNG QUA QUYỀN KHỞI KIỆN

54 623 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 84,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU 5 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THÔNG QUA QUYỀN KHỞI KIỆN 10 1.1. Khái quát chung về quyền con người 10 1.1.1. Khái niệm 10 1.1.2. Ghi nhận quyền con người trong văn bản pháp lý của một số quốc gia 12 1.2. Khái quát về quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự Việt Nam 14 1.2.1. Khái niệm 14 1.2.2. Điều kiện khởi kiện 15 1.3. Đảm bảo quyền con người trong quyền khởi kiện 17 CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN KHỞI KIỆN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 24 2.1. Quy định về chủ thể có quyền khởi kiện trong vụ án dân sự 24 2.2. Về phạm vi khởi kiện 26 2.3. Các quy định về điều kiện khởi kiện vụ án dân sự 28 2.3.1. Điều kiện về chủ thể 28 2.3.2. Về tư cách pháp lý 29 2.3.3. Điều kiện về thời hạn khởi kiện 31 2.3.4. Một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự Thái Lan và Đức 32 CHƯƠNG 3: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN KHỞI KIỆN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 36 3.1. Các quy định nhằm đảm bảo cho đương sự thực hiện có hiệu quả quyền khởi kiện 36 3.1.1. Các quy định nhằm hỗ trợ đương sự khi khởi kiện 36 3.1.2. Các quy định về đảm bảo quyền khởi kiện sau khi nguyên đơn đã thực hiện việc khởi kiện 40 3.2. Đảm bảo quyền con người trong quyền khởi kiện thông qua các quy định về hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng 43 3.2.1. Quy định về sự độc lập, khách quan của Tòa án – Đảm bảo cần thiết của việc thực thi quyền khởi kiện 43 3.2.2. Quy định về sự tham gia tố tụng của Viện kiểm sát – Điều kiện cần thiết để quyền khởi kiện không bị xâm phạm 44 3.2.3. Quy định về thủ tục thụ lý, trả đơn, chuyển đơn khởi kiện và đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án 45 KẾT LUẬN CHUNG 53 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THÔNG QUA QUYỀN KHỞI KIỆN

Thuộc nhóm ngành khoa học: KHOA HỌC PHÁP LÝ

TP HCM, 11/04/2016

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THÔNG QUA QUYỀN KHỞI KIỆN 10

1.1 Khái quát chung về quyền con người 10

1.1.1 Khái niệm 10

1.1.2 Ghi nhận quyền con người trong văn bản pháp lý của một số quốc gia 12 1.2 Khái quát về quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự Việt Nam 14

1.2.1 Khái niệm 14

1.2.2 Điều kiện khởi kiện 15

1.3 Đảm bảo quyền con người trong quyền khởi kiện 17

CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN KHỞI KIỆN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 24

2.1 Quy định về chủ thể có quyền khởi kiện trong vụ án dân sự 24

2.2 Về phạm vi khởi kiện 26

2.3 Các quy định về điều kiện khởi kiện vụ án dân sự 28

2.3.1 Điều kiện về chủ thể 28

2.3.2 Về tư cách pháp lý 29

2.3.3 Điều kiện về thời hạn khởi kiện 31

2.3.4 Một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự Thái Lan và Đức 32

CHƯƠNG 3: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN KHỞI KIỆN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 36

3.1 Các quy định nhằm đảm bảo cho đương sự thực hiện có hiệu quả quyền khởi kiện 36

3.1.1 Các quy định nhằm hỗ trợ đương sự khi khởi kiện 36

3.1.2 Các quy định về đảm bảo quyền khởi kiện sau khi nguyên đơn đã thực hiện việc khởi kiện 40

3.2 Đảm bảo quyền con người trong quyền khởi kiện thông qua các quy định về hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng 43

3.2.1 Quy định về sự độc lập, khách quan của Tòa án – Đảm bảo cần thiết của việc thực thi quyền khởi kiện 43

Trang 4

3.2.2 Quy định về sự tham gia tố tụng của Viện kiểm sát – Điều kiện cần thiết để quyền khởi kiện không bị xâm phạm 44 3.2.3 Quy định về thủ tục thụ lý, trả đơn, chuyển đơn khởi kiện và đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án 45 KẾT LUẬN CHUNG 53 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS) được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội

Chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2015 và bắt đầu có

hiệu lực kể từ ngày 01/07/2016 Có thể nói, BLTTDS được xây dựng trên cơ sở kế thừa

và phát triển của BLTTDS 2004 và ba pháp lệnh trước đó, bao gồm: Pháp lệnh Thủ tụcgiải quyết các vụ án dân sự năm 1989; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tếnăm 1994 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996, đồng thờitiếp thu những thành tựu lập pháp của nhiều nước trên thế giới Đây là văn bản có tínhpháp lý cao nhất quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án, trong

đó có các quy định về quyền con người trong quyền khởi kiện

Vấn đề quyền khởi kiện trong việc đảm bảo quyền con người là vấn đề luôn đượccác nhà nghiên cứu về tố tụng, cơ quan lập pháp của nhiều nước trên thế giới quan tâm.Xét ở Việt Nam hiện nay thì các quy định trong pháp luật tố tụng dân sự của chúng ta về

cơ bản đã phần nào thể hiện được vấn đề này Tuy nhiên, về phương diện lý luận thìnhiều vấn đề về đảm bảo quyền con người thực hiện quyền khởi kiện cũng chưa đượcgiải quyết triệt để So với quan hệ dân sự thì mối quan hệ tố tụng dân sự mang tính chất

đa dạng về chủ thể, đa dạng về quyền lợi và cứng nhắc về quy trình, thủ tục Bởi lẽ,trong tố tụng dân sự, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được đưa rabàn bạc, xem xét và giải quyết công khai, theo pháp luật Vì thế, nếu quy trình, thủ tụcgiải quyết tranh chấp mang tính tùy tiện, thiếu khách quan và công minh thì quyền conngười trong tố tụng dân sự sẽ bị xâm hại Theo đó, cách thức và cơ chế nhà nước thiếtlập nên để giải quyết tranh chấp về dân sự cho công dân sẽ không trở thành công cụ đểbảo vệ quyền con người Hậu quả là bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa không được thểhiện qua các chức năng giải quyết tranh chấp dân sự

Nhận thấy những bất cập của pháp luật về việc đảm bảo quyền con người trongquyền khởi kiện trong tố tụng dân sự nên chúng tôi muốn đi sâu phân tích một cách toàn

Trang 6

diện, sâu sắc về việc đảm bảo quyền con người trong quyền khởi cả về phương diện lýluận, lập pháp và thực tiễn, từ đó đề xuất những giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật,nâng cao hiệu quả đảm bảo quyền người là một việc làm cấp thiết1

Xuất phát từ những lý do trên đây, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Đảm bảo quyền

con người trong tố tụng dân sự Việt Nam thông qua quyền khởi kiện” làm đề tài

nghiên cứu khoa học của mình

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Cho đến nay đã có một vài công trình nghiên cứu về quyền khởi kiện và đảm bảoquyền con người trong quyền khởi kiện nhưng các công trình này cũng chỉ đề cập đếnmột nội dung cụ thể nào đó của quyền khởi kiện hoặc nghiên cứu một cách gián tiếp vềquyền con người của đương sự như luận văn cao học luật với đề tài “Đương sự trong vụ

án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Triều Dương (bảo vệtại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2005); luận văn “ Quyền khởi kiện và đảm bảoquyền khởi kiện trong tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Trần Thị Bích Lan Ngoài

ra, cũng có một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành về một nội dung nào đó củaquyền khởi kiện hoặc bình luận về các vụ việc cụ thể liên quan đến quyền khởi kiện.Chẳng hạn như bài viết “Vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự” của ThS Lê Thị BíchLan đăng tải trên Tạp chí Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội (Số Đặc san về Bộluật tố tụng dân sự năm 2005)

Việc nghiên cứu cho thấy các công trình trên đây cũng mới chỉ dừng lại ở việc đềcập một cách gián tiếp hoặc nghiên cứu một góc độ hẹp của quyền con người, chỉ nói vềmột khía cạnh nhỏ của quyền con người trong quyền khởi kiện

Trước tình hình đó, chúng tôi đã chọn đề tài “Đảm bảo quyền con người trong

tố tụng dân sự Việt Nam thông qua quyền khởi kiện " làm đề tài nghiên cứu của

mình

3 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

- Mục tiêu nghiên cứu

1 Thời điểm nhóm nghiên cứu đề tài là thời điểm chuyển giao giữa BLTTDS 2004 và BLTTDS 2015 và BLTTDS

2015 vẫn chưa có hiệu lực thi hành, nên trong nội dung phân tích, chúng tôi sẽ đề cập đến thực tiễn thi hành và áp dụng của BLTTDS 2004 và đề xuất một vài kiến nghị cho việc hoàn thiên BLTTDS 2015

Trang 7

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ được những vấn đề lý luận cũng như nộidung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về việc đảm bảoquyền con người trong quyền khởi kiện, chỉ ra những điểm còn thiếu sót hoặc chưa hợp

lý trong các quy định hiện hành cụ thể là BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 vàcác quy định mới trong BLTTDS 2015 sẽ có hiệu lực vào 1/7/2016 về quyền khởi kiện

và đảm bảo quyền con người trong quyền khởi kiện đó của đương sự Ngoài ra, việcnghiên cứu cũng nhằm làm sáng rõ việc đảm bảo thực hiện quyền con người trên thực

tế Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tổng hợp, đề tài sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm gópphần hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về quyền khởi kiện và đảm bảoquyền con người được lồng ghép trong những phân tích trên

- Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu này,đề tài phải hoàn thành một số nhiệm vụ nghiêncứu cụ thể sau:

+ Khái quát chung các quy định của pháp luật Việt Nam và một số nước trên thếgiới về việc đảm bảo quyền con người thông qua quyền khởi kiện

+ Nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam có liên quantới quyền khởi kiện

+ Nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam có liên quantới việc đảm bảo quyền khởi kiện và thực tiễn áp dụng chúng tại các Toà án Bên cạnh

đó nêu ra các quy định về việc đảm bảo quyền con người trong pháp luật tố tụng Đức vàThái Lan Từ đó chỉ ra những điểm bất cập, thiếu hợp lý trong các quy định của phápluật Việt Nam về quyền khởi kiện cũng như đảm bảo quyền khởi kiện; Đưa ra một số đềxuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về quyền khởi kiện

và đảm bảo quyền khởi kiện

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Với nhiệm vụ nghiên cứu trên, đề tài sẽ không đi sâu nghiên cứu việc đảm bảogiải quyết theo đúng pháp luật và bản chất sự việc, có nghĩa là không xét tới việc giảiquyết về nội dung của yêu cầu khởi kiện mà chỉ tập trung nghiên cứu việc đảm bảoquyền con người thông qua quyền khởi kiện dưới góc độ tố tụng dân sự thông qua việc

Trang 8

thụ lý, trả đơn hay đình chỉ giải quyết vụ án vì lý do không đủ điều kiện khởi kiện Nộidung cốt lõi của đề tài là xoay quanh quyền khởi kiện và đảm bảo quyền con ngườithông qua quyền khởi kiện BLTTDS 2015 và thực tiễn Đồng thời so sánh với phápluật của nước Đức và Thái Lan trong việc đảm bảo quyền con người thông qua quyềnkhởi kiện đề từ đó tiếp thu những tinh hoa đó vào pháp luật Việt Nam Do vậy, việcnghiên cứu đề tài sẽ được giới hạn trong phạm vi sau đây:

+ Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về quyền khởikiện và đảm bảo quyền khởi kiện;

+ Một số quy định của nước Đức và Thái Lan về việc đảm bảo quyền con ngườithông qua quyền khởi kiện

+ Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền khởi kiện và đảm bảo quyền conngười thông qua quyền khởi kiện trong các hoạt động tố tụng dân sự tại Tòa án

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để giải quyết vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, đề tài sử dụng một sốphương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác như phương pháp phân tích hệthống; phương pháp tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê v.v

5 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài là một trong những công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về quyềnkhởi kiện và đảm bảo quyền con người trong quyền khởi kiện trong pháp luật tố tụngdân sự Việt Nam Những đóng góp của đề tài thể hiện trên một số phương diện sau đây:

Thứ nhất: Cho tới khi BLTTDS 2015 có hiệu lực, chưa có công trình nào nghiêncứu, khảo sát chuyên sâu về thực tiễn thực hiện các quy định của BLTTDS mới vềquyền khởi kiện và đảm bảo quyền con người, thì đề tài sẽ nghiên cứu chuyên sâu vềthực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về đảm bảo quyền con người nhằm chỉ rathực trạng trong việc đảm bảo con người thông qua quyền khởi kiện cũng như những bấtcập, vướng mắc trong việc thực hiện pháp luật đối với BLTTDS này

Thứ hai: Đề tài sẽ chỉ ra những quy định tiến bộ của một số nước trên thế giới vềviệc đảm bảo quyền con người thông qua quyền khởi kiện Trên cơ sở tổng hợp kết quả

Trang 9

nghiên cứu, đề tài đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về quyềnkhởi kiện và đảm bảo quyền con người thông qua quyền khởi kiện, nâng cao hiệu quảcủa việc bảo đảm quyền con người trên thực tế.

Thứ ba: Đề tài được bảo vệ thành công sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho giảngviên, sinh viên chuyên ngành luật, các cán bộ làm công tác thực tiễn liên quan đến việcđảm bảo quyền con người thông qua quyền khởi kiện Ngoài ra, đề tài sẽ là tài liệu thamkhảo hữu ích cho các cơ quan lập pháp liên quan tới việc hoàn thiện pháp luật về quyềnkhởi kiện trong tố tụng dân sự

6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kếtcấu bởi 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về việc đảm bảo quyền con người trong tố tụng dân

sự thông qua quyền khởi kiện

Chương 2: Các quy định về quyền khởi kiện trong pháp luật tố tụng dân sự ViệtNam

Chương 3: Các quy định về việc đảm bảo quyền khởi kiện trong tố tụng dân sựViệt Nam

Trang 10

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THÔNG QUA QUYỀN KHỞI KIỆN 1.1 Khái quát chung về quyền con người

Bên cạnh đó, quyền con người còn được định nghĩa một cách khái quát là nhữngquyền bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ khôngthể sống như một con người.4

Ở Việt Nam cũng có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ quannghiên cứu và chuyên gia từng đưa ra Mặc dù những định nghĩa này cũng không hoàntoàn giống nhau, nhưng xét cho cùng thì khái niệm về quyền con người được hiểu lànhững nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trongpháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế5

Hiện nay, có hai dòng lý thuyết trái chiều khi nhìn nhận quyền con người, đó là:

lý thuyết về quyền tự nhiên và theo quan điểm luật thực chứng

2 Trong bài viết của mình, tác giả sử dụng thuật ngữ “quyền con người”.

3 Nguyễn Đăng Dung – Phạm Hồng Thái – Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng, Hỏi và đáp về quyền con người, trang

21, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012.

4 Nguyễn Đăng Dung – Phạm Hồng Thái – Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng, Hỏi và đáp về quyền con người, trang

21, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012.

5 Xem thêm Nguyễn Đăng Dung(đồng chủ biên), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, trang 38, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011

Trang 11

Lý thuyết về quyền tự nhiên cho rằng quyền con người là một quyền bẩm sinh,vốn có một cách tự nhiên mà không cần phải xin xỏ từ ai hay không cần ai phải banphát Nó gắn trực tiếp với mỗi cá nhân từ khi sinh ra cho đến lúc mất đi, không ai cóquyền lấy đi hay tước đoạt quyền này vì một lẽ đơn giản quyền con người là một quyền

tự nhiên của con người và chỉ con người mới có Quyền con người không phụ thuộc vàobất kỳ yếu tố văn hóa truyền thống, phong tục tập quán hay một chính phủ nào Chínhphủ chỉ có thể thừa nhận, hợp pháp hóa, tôn trọng, bảo vệ và tạo điều kiện để phát triểncác quyền tự nhiên này

John Locke (1632 – 1704), một nhà triết học người Anh theo thuyết này cho rằngnhững quyền tự nhiên này không thể bị hạn chế trong khế ước xã hội Mà chính phủchính là một dạng khế ước xã hội giữa những kẻ thống trị và những người bị trị, trong

đó những người bị trị (đa số là công dân) tự nguyện ký vào bản khế ước này với mongmuốn, kỳ vọng sử dụng chính phủ như là phương tiện để bảo vệ các quyền tự nhiên của

họ chứ không phải để ban phát, quy định các quyền cho họ6

Theo quan điểm luật thực chứng: một số triết gia theo quan điểm này đã phê phánnặng nề lý thuyết về quyền tự nhiên Jeremy Bentham (1748 – 1832) đã viết tác phẩm

Critique of the Doctrine of Inalienable, Nature Rights 1843 (Phê phán học thuyết về các quyền tự nhiên, không thể tước bỏ) Quan điểm này cho rằng các quyền con người

không phải là quyền tự nhiên, bẩm sinh, mà có được là do các nhà nước xác định, quyđịnh thành văn bản pháp luật Các quyền này phụ thuộc vào ý chí của giai cấp thống trị,các yếu tố truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán Do đó, quyền con người có thể bịgiới hạn về thời gian hiệu lực hay bị thu hồi theo ý chí của tầng lớp thống trị của nhànước đó

Như vậy, dù tiếp cận ở góc độ nào, hay nhìn nhận theo khái niệm nào thì quyềncon người phải luôn được ghi nhận và bảo vệ Có thể nhận thấy rằng quyền con người

là một quyền đặc biệt mang tính nhân văn sâu sắc và có giá trị trên hầu hết mọi vùnglãnh thổ Điều này được minh chứng qua các luật (Luật nhân quyền quốc tế) hay côngước được nhiều quốc gia thừa nhận và tham gia như: Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế

6 Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân_khoa luật ĐHQG Hà Nội, Giới thiệu Công ước quốc

tế về các quyền dân sự và chính trị [ICCPR 1966], NXB Hồng Đức, trang 22, 2012.

Trang 12

1948, Công ước quyền dân sự và chính trị (ICCPR) 1966, Công ước về quyền kinh tế,văn hóa, xã hội, và các bản tuyên ngôn độc lập, Hiến pháp của các nước.

1.1.2 Ghi nhận quyền con người trong văn bản pháp lý của một số quốc gia

Ý niệm về quyền con người đã có từ lâu, được thể hiện cụ thể nhất qua các quyềnsống, quyền tự do, quyền tài sản Ngay từ thời cổ đại, con người đã có ý thức tự bảo vệcác quyền của mình (lúc này nhà nước chưa hình thành), họ đã biết tự kiếm ăn để nuôisống bản thân - ấy là quyền được sống, Từ thời kỳ phong kiến trở về sau, các quyềnnày biểu hiện cụ thể hơn, người ta biết đấu tranh để thoát khỏi kiếp nô lệ, để giành độclập, tự do, để được sống,

Sau đây là một đoạn trích trong Lời nói đầu của Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền

1948, ghi nhận quyền con người, tác hại của việc xem thường quyền con người và biệnpháp tránh sự nổi dậy để chống áp bức:

“Việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời củamọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa bình trênthế giới;

Sự coi thường và xâm phạm các quyền con người đã dẫn đến những hành độngtàn bạo xúc phạm tới lương tâm nhân loại, và việc xây dựng một thế giới trong đó conngười được tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng,không còn phải chịu nỗi sợ hãi và nghèokhổ cùng cực, được coi là khát vọng cao nhất của loài người,

Điều cốt yếu là quyền con người cần phải được pháp luật bảo vệ để con ngườikhông buộc phải nổi dậy như là một biện pháp cuối cùng nhằm chống lại sự độc tài và

áp bức.”

Chính vì những lẽ đó mà nhiều quốc gia trên thế giới đã công nhận quyền conngười trong các văn bản pháp luật, trong tuyên ngôn độc lập Kể từ những năm đầu thế

kỷ XIX, quyền con người được đặc biệt quan tâm và và dần dần được ghi nhận Một số

ví dụ điển hình như sau:

Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776 có nêu: “Chúng tôi tin rằng nhữngchân lý này là hiển nhiên, rằng: Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo

Trang 13

hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, cóquyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc.”

Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp 1789: “Điều 1 Con người sinh ra tự

do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do, bình đẳng về quyền lợi, mọi phânbiệt xã hội chỉ có thể đặt trên cơ sở ích lợi chung.”7

Hiến pháp của Indonesia năm 1945 (được sửa đỏi bổ sung năm 1999, 2000, 2001

và 2002) đã dành một phần XA để công nhận quyền con người

Hiến pháp Cộng hòa Ba Lan năm 1997 đã quy định về quyền con người trong

“Chương II: Quyền tự do, các quyền và nghĩa vụ của con người và của công dân.”

8

Đất nước Việt Nam chúng ta từ xưa, tuy không đề cập đến từ “nhân quyền” hay

“quyền con người” nhưng sự ra đời của Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) thờivua Lê Thánh Tông là minh chứng cụ thể ghi nhận quyền con người trong hệ thốngpháp luật, tư tưởng nhân đạo trong quá trình lập pháp

Tiếp tục phát huy những điều tốt đẹp từ thế hệ trước, cũng như các quốc gia kháctrên thế giới, ngày 02/9/1945, Bác Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước ViệtNam dân chủ cộng hòa Trong đó, có đề cập đến vấn đề quyền con người như sau:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyềnkhông ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyềnđược tự do và mưu cầu hạnh phúc

Những lời bất hủ ấy trong bản tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ Suyrộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dântộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do

Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũngnói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bìnhđẳng về quyền lợi”

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.”

7 Xem thêm hai tuyên ngôn này: Trung tâm nghiên cứu quyền con người-quyền công dân, Tư tưởng về quyền con người, trang 113 và 117, NXBLĐXH, 2011.

8 Xem thêm các bản Hiến pháp: Nguyễn Đăng Dung(đồng chủ biên), Tuyển tập Hiến pháp của một số quốc gia, NXB Hồng Đức, 2012.

Trang 14

Theo quan điểm của Bác, quyền con người không chỉ là quyền của cá nhân, màcòn bao gồm cả quyền của một dân tộc, của một cộng đồng Cùng quan điểm với Bác,

lời mở đầu của Hiến pháp Nhật Bản có hiệu lực ngày 03/5/1947 cũng ghi nhận: “Chúng

tôi thừa nhận rằng tất cả các dân tộc trên thế giới đều có quyền được sống trong tự do, không phải chịu đựng sự sợ hãi hay thiếu thốn”9 Như vậy, không chỉ mỗi cá nhân cóquyền được sống, quyền tự do, và các quyền con người khác mà ngay cả dân tộc cũng

có quyền này

Cùng với sự phát triển không ngừng, luật pháp nước ta cũng có nhiều thay đổitích cực, trong đó việc ghi nhận quyền con người trong Hiến pháp 2013 tại “Chương 2:Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” được xem là một dấu ấnquan trọng vì đây là lần đầu tiên hệ thống pháp luật nước ta có quy định nêu rõ “quyềncon người

1.2 Khái quát về quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự Việt Nam

1.2.1 Khái niệm

Đầu tiên, ta cần hiểu thế nào là khởi kiện?

Nếu hiểu một cách đơn giản theo đúng nghĩa đen trên từng câu chữ, có thể nóikhởi kiện là việc một chủ thể (cá nhân hoặc tổ chức) nộp đơn kiện yêu cầu Tòa án giảiquyết khi có phát sinh tranh chấp với người khác

Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng hơn Trước khi ban hànhBLTTDS 2004, quyền khởi kiện được hiểu khá rộng, khởi kiện không chỉ phát sinh khi

có tranh chấp, không chỉ là mối quan hệ giữa người khởi kiện (nguyên đơn) và người bịkiện (bị đơn) thông qua đơn kiện, mà còn phát sinh ngay cả khi không có tranh chấp, khikhông có đơn kiện Thêm vào đó là các yêu cầu dân sự khác như yều cầu bồi thườngthiệt hại, yêu cầu tuyên bố một người bị mất tích, yêu cầu tuyên bố một người đã chết,yêu cầu tuyên bố người bị mất năng lực hành vi dân sự hay yêu cầu tuyên bố người bịhạn chế năng lực hành vi dân sự, yêu cầu giải quyết vụ việc ly hôn, chia tài sản của vợ

và chồng, chia tài sản thừa kế, yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu,

9 Nguyễn Đăng Dung(đồng chủ biên), Tuyển tập Hiến pháp của một số quốc gia, trang 15, NXB Hồng Đức, 2012.

Trang 15

Nhưng kể từ khi BLTTDS 2004 được ban hành và có hiệu lực thực thi, nhữngnhà làm luật đã tách phần giải quyết vụ án dân sự và vụ việc dân sự thành hai phần riêngbiêt Do đó, quyền khởi kiện cũng được hiểu theo nghĩa hẹp hơn Khởi kiện không cònbao gồm cả những việc nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết các việc dân sự nữa, chỉ cònquy định trong phần giải quyết vụ án dân sự, bao gồm yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầuphản tố của bị đơn, và yêu cầu của những người có quyền và nghĩa vụ liên quan.

Vậy nên có thể hiểu rằng khởi kiện là việc chủ thể, bằng năng lực của mình nộpđơn khởi kiện lên cho Tòa án có thẩm quyền yêu cầu giải quyết vụ án dân sự để bảo vệquyền và lợi ích chính đáng của mình

Vậy quyền khởi kiện là gì?

Quyền của một chủ thể là khả năng của chủ thể thực hiện hoặc không thực hiệnhành vi theo ý chí của chủ thể đó Quyền khởi kiện là khả năng chủ thể thực hiện hành

vi khởi kiện của mình đối với chủ thể khác nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích củamình hoặc của người khác, của nhà nước Đây là cách hiểu chung nhất của nhóm nghiêncứu, còn cụ thể pháp luật quy định như thế nào về quyền khởi kiện thì chúng ta hãy cùngtìm hiểu ở chương sau

1.2.2 Điều kiện khởi kiện

hệ pháp luật tố tụng dân sự Việc quy định điều kiện về năng lực hành vi của cá nhân để

họ có thể tự mình thực hiện việc khởi kiện là nhằm đảm bảo cho người có quyền lợi cóthể thể hiện ý chí của mình trong việc bảo vệ quyền lợi trước Toà án Tuy nhiên, đối vớinhững đương sự có đủ năng lực hành vi để thực hiện quyền khởi kiện nếu vì những lý

do khác nhau mà họ không thể thực hiện được quyền khởi kiện thì pháp luật cũng có thểđảm bảo điều kiện thuận lợi cho họ thực hiện quyền này thông qua cơ chế uỷ quyền chongười khác đại diện thay mặt mình khởi kiện trước Toà án Việc cho phép đương sự

Trang 16

thực hiện quyền khởi kiện thông qua đại diện theo ủy quyền là phương tiện pháp lý cầnthiết tạo điều kiện cho đương sự bằng nhiều hình thức khác nhau có thể thực hiện quyềnkhởi kiện một cách thuận lợi nhất để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Ngoài ra, đối với những chủ thể khác là cơ quan, tổ chức không có năng lực hành

vi tố tụng dân sự thì pháp luật cũng ghi nhận những cơ chế để đảm bảo thực hiện quyềnkhởi kiện của họ Đó là cơ chế về đại diện để khởi kiện bởi một số những chủ thể màpháp luật xác định hay còn gọi là khởi kiện thông qua người đại diện theo pháp luật

Bên cạnh đó, Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 quy định: “Cánhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởikiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầubảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.”

Và Điều 187 BLTTDS 2015 quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nướcnhư sau:

Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi nhiệm

vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình trong trườnghợp do Luật hôn nhân và gia đình quy định

Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trongtrường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động do phápluật quy định

Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởikiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nướcthuộc lĩnh vực mình phụ trách

Như vậy đối với vụ án dân sự, chủ thể có quyền khởi kiện là:

+ Mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức (hoặc người đại diện hợp pháp của mình) chỉ cóquyền khởi kiện khi cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

+ Chỉ có những cơ quan có thẩm quyền được quy định tại Điều 187 BLTTDS

2015 mới có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích của người khác, của Nhà nước

Thứ hai, về phạm vi khởi kiện

Trang 17

Để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các chủ thể thực hiện quyền khởi kiện củamình, pháp luật Việt nam đã quy định cụ thể về phạm vi khởi kiện tại Điều 188BLTTDS 2015, cụ thể như sau:

+ Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể khởi kiện một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổchức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau

để giải quyết trong cùng một vụ án

+ Nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể cùng khởi kiện một cá nhân, một cơquan, một tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liênquan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án

+ Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền do Bộ luật này quy định có thể khởikiện đối với một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác về một quan hệ pháp luậthoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án

Những quy định này nhằm mục đích tránh trường hợp xét xử cùng một vụ nhưngnhiều lần, làm mất thời gian của nhiều bên tham gia Bên cạnh đó, việc quy định nhưvậy còn giúp quá trình giải quyết được diễn ra nhanh chóng, hiệu quả, công bằng hơn (vì

có nhiều người tham gia tố tụng hơn)

Ví dụ: A giựt hụi của B, C, D, E, F Và A, B, C, D, E, F cùng tham gia vào mộthụi Nếu từng người yêu cầu giải quyết thì sẽ có 5 vụ giựt hụi cần giải quyết Tuy nhiêncác vụ này có liên quan đến nhau, do đó, chỉ cần giải quyết trong một vụ án mà thôi

Hoặc: A yêu cầu B phải bồi thường thiệt hại do B gây ra một tai nạn khiến A bịthiệt hại Đồng thời trong tai nạn đó, A và B cũng gây thiệt hại cho C Suy ra C có thểyêu cầu phản tố để yêu cầu A, B bồi thường cho mình ngay trong vụ việc A đòi B bồithường

1.3 Đảm bảo quyền con người trong quyền khởi kiện

Quyền khởi kiện là cơ bản của mỗi chủ thể thực hiện để bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của mình, hoặc của người khác

Trang 18

Điều 1 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948 nêu rõ: “Mọi người sinh ra đềuđược tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền Họ được ban cho lý trí và lươngtâm, và cần được đối xử với nhau bằng tình anh em”.10

Như vậy, có thể hiểu rằng mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng vềquyền con người, quyền khởi kiện Tuy nhiên để đảm bảo quyền khởi kiện của mìnhđược thực hiện một cách thỏa đáng, công bằng, luật pháp quốc gia cần có những quyđịnh cụ thể để chủ thể có thể thực hiện quyền này như những quyền cơ bản khác

Quyền khởi kiện đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật quốc gia cũngnhư trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948, trong đó, có nhiều văn bản quy định vềquyền khởi kiện trong phần Quyền con người, cụ thể:

Điều 7 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948 quy định: “Mọi người đều bìnhđẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ

sự phân biệt nào Mọi người đều có quyền được bảo vệ một cách bình đẳng chống lạibất kỳ sự phân biệt đối xử nào vi phạm bản tuyên ngôn này,và chống lại ất kỳ sự kíchđộng phân biệt đối xử nào như vậy”.11

Điều 8 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948 ghi nhận: “Mọi người đều có quyềnđược các Tòa án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để chốnglại các hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ mà đã được Hiến pháp hay luật phápquy định”.12

Điều 10 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948 quy định như sau: “Mọi người đềubình đẳng về quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập vàkhách quan, để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như về bất cứ sự buộc tộinào đối với họ.”13

10 Nguyên văn là: “All human beings are born free and equal in dignity and rights They are endowed with reasons and conscience and should act towards one another in a spirit of brotherhood.”

11 Nguyên văn là: “All are equal before the law and are entitled without any discrimination to equal protection of the law All are entitled to equal protection againts any discrimination in violation of this Declaration and againts any incitement to such discrimination.”

12 Nguyên văn là: “Everyone has the right to an efective remedy by competent national tribunals for acts violating the fundamental rights granted him by constitution or by law.”

13 Nguyên văn là: “Everyone is entitled in full equality to a fair and public hearing by an independent and impartial tribunal, in the determination of his rights and obligations and any criminal charge againts him.”

Trang 19

Khoản 1 Điều 16 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

2013 quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” và Khoản 1 Điều 30 Hiến Pháp này cũng quy đinh: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức,

cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.”

Điều 14 Hiến pháp Nhật Bản năm 1947 ghi nhận: “Mọi công dân đều bình đẳngtrước pháp luật ” hay tại Điều 16 quy định: “Mọi công dân đều có quyền khiếu nại đòibồi thường thiệt hại, ”

Khoản 1 Điều 3 Hiến pháp nước Cộng hòa liên bang Đức năm 1949, sửa đổi, bổ

sung năm 1993 quy định: “Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”.

Khoản 1 Điều 3 Hiến pháp nươc Cộng hòa Ý năm 1947 quy định: “Mọi công dânđều bình đẳng về phẩm giá và bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính,chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, điều kiện cá nhân hay xã hội.”

Khoản 1 Điều 9 Hiến pháp nước Cộng hòa Nam Phi năm 1996 quy định: “Tất cảmọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ bình đẳng.”

Không phân biệt đối xử, bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ mộtcách bình đẳng mà không có bất cứ sự phân biệt nào là quy định tạo nên cơ sở vànguyên tắc chung trong việc bảo vệ quyền con người Chính vì lẽ đó mà mỗi quốc giathành viên của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền đều phải thực thi những nguyên tắc cơbản này thông qua việc ban hành các quy định pháp luật để đảm bảo quyền con ngườiđược tôn trọng và bảo vệ, nhất là đảm bảo quyền con người trước Tòa án (cụ thể ở đâychúng tôi lưu tâm đến quyền khởi kiện)

Qua đó cho thấy, quyền khởi kiện được ghi nhận như là một quyền cơ bản củacon người (gồm cả cá nhân và cơ quan, tổ chức), được quy định cụ thể tại phần Quyềncon người (hoặc quyền và nghĩa vụ của công dân hoặc Quyền con người, nghĩa vụ củacông dân) trong Hiến pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới Việc thực hiện quyềnkhởi kiện cũng chính là chủ thể đang thực hiện quyền con người của mình Trong Lời

mở đầu của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền cũng đã khẳng định: “Điều cốt yếu là

Trang 20

quyền con người cần phải được pháp luật bảo vệ ” Vậy nên, pháp luật cũng phải bảo

vệ quyền khởi kiện của các chủ thể một cách tốt nhất

Tuy nhiên, luật pháp là do con người tạo ra, do đó không tránh khỏi nhữngtrường hợp bị thiếu sót, sai lầm, dẫn đến một số quy định về quyền khởi kiện (ở đâychúng tôi đề cập đến quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự) được pháp luật ban hànhnhưng lại không đảm bảo quyền con người, làm hạn chế các quyền mà đáng lẽ ra cácchủ thể phải được hưởng

Từ những căn cứ, phân tích nêu trên, xét thấy việc đảm bảo quyền con ngườitrong tố tụng dân sự thông qua quyền khởi kiện là cần thiết và cần được nhà nước quantâm, bảo vệ, cân nhắc kỹ lưỡng để hạn chế những quy định ảnh hưởng đến việc thựchiện quyền khởi kiện, quyền con người của các chủ thể

Đảm bảo quyền con người trong tố tụng dân sự thông qua quyền khởi kiện làtổng thể những cơ chế, những quy định, những biện pháp thích hợp để khi chủ thể thựchiện quyền khởi kiện của mình vẫn được đảm bảo về các quyền con người (tức là không

bị xâm phạm đến quyền con người của chủ thể)

Trang 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Để xây dựng những khái quát về vấn đề quyền khởi kiện và đảm bảo quyền khởikiện trong tố tụng dân sự, tại Chương này, đề tài đã cung cấp các lý luận về quyền conngười và phân tích, xây dựng các khái niệm cơ bản về “Quyền con người”, “Quyềnkhởi kiện” và “Đảm bảo con người thông qua quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự” trên

cơ sở tham khảo, kế thừa và phát triển các khái niệm có liên quan của các nhà khoa họctrước đó

Quá trình tố tụng dân sự tại Tòa án là quá trình tố tụng phức tạp, để cho các chủthể có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án thì phải minhbạch hoá và quy định hợp lý các điều kiện thụ lý vụ án, có cơ chế hỗ trợ đương sự thựchiện quyền khởi kiện, có cơ chế ràng buộc trách nhiệm, giám sát hoạt động tố tụng củaToà án và tạo cơ hội cho đương sự có thể chống lại sự lạm quyền hay vi phạm quyềnnày từ phía Toà án để trên cơ sở đấy, quyền con người được đảm bảo

Có thể thấy việc đảm bảo quyền con người trong tố tụng dân sự thông qua quyềnkhởi kiện là rất quan trọng, ngày càng được nhiều quốc gia ghi nhận và có xu hướng tiếptục phát triển, để hướng tới một thế giới công bằng, một xã hội văn minh

Trang 25

CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN KHỞI

KIỆN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 2.1 Quy định về chủ thể có quyền khởi kiện trong vụ án dân sự

Việc xác định chủ thể có quyền khởi kiện là yêu cầu tất yếu đối với pháp luật tốtụng dân sự Có thể thấy rằng chủ thể có quyền khởi kiện dân sự là rất rộng, thuộc vềtất cả các chủ thể có quyền và lợi ích cần được bảo vệ trong các quan hệ pháp luật vềdân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động

Theo Điều 186 BLTTDS 2015 thì “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tựmình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự (sau đây gọichung là người khởi kiện) tại Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củamình” Theo Điều 187 BLTTDS thì “Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyềnhạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích côngcộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách” Nếu hiểu theo nghĩa rộngcủa quyền khởi kiện thì quyền khởi kiện vụ án dân sự còn bao gồm cả quyền phản tốcủa bị đơn và quyền đưa ra yêu cầu độc lập của chủ thể thứ ba – người có quyền vànghĩa vụ liên quan

Chủ thể có quyền khởi kiện là nguyên đơn: Nguyên đơn là người đầu tiên nộpđơn khởi kiện tại Tòa án, chính họ là người đệ đơn yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết

vụ án dân sự Đó có thể là cá nhân khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của mình hoặc cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn củamình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợiích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách Việc khởi kiện của nguyên đơn là cơ

sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự và quá trình tố tụng tiếptheo

Chủ thể có quyền phản tố: Phản tố là quyền của bị đơn trong vụ án dân sự, đó

là việc bị đơn kiện ngược lại nguyên đơn Thực chất việc phản tố của bị đơn là đưa ramột yêu cầu độc lập và bị đơn hoàn toàn có quyền khởi kiện thành một vụ án riêngbiệt nhưng vì có liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên được xem xét,giải quyết trong cùng một vụ án Điều 200 BLTTDS 2015 đã quy định về quyền yêu

25

Trang 26

cầu phản tố của bị đơn và tạo điều kiện cho bị đơn thực hiện quyền này của mình.Mục đích phản tố của bị đơn là để nhằm bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơnnhư trường hợp bị đơn cũng có nghĩa vụ với nguyên đơn và nguyên đơn cũng cónghĩa vụ với bị đơn; bị đơn phản tố để khấu trừ việc thực hiện nghĩa vụ, bị đơn cũng

có thể phản tố để loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mìnhcho nguyên đơn

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập – là chủ thể cóquyền đưa ra yêu cầu độc lập

Nếu hiểu quyền khởi kiện theo nghĩa rộng thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan cũng có quyền khởi kiện một vụ án dân sự độc lập Tuy nhiên, việc họ tham giavào vụ án giữa nguyên đơn và bị đơn sẽ đảm bảo tốt hơn cho họ trong việc bảo vệquyền lợi của mình Điều 201 BLTTDS 2015 đã ghi nhận quyền yêu cầu của người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan Theo quy định này thì yêu cầu độc lập của họ phải thỏamãn điều kiện là việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ;yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết; yêu cầu độc lậpcủa họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chínhxác và nhanh hơn

Ngoài ra, BLTTDS cũng ghi nhận một số chủ thể có quyền khởi kiện vì lợi íchcủa người khác Đó chính là quyền khởi kiện của các chủ thể không có quyền lợitrong vụ kiện hay quyền khởi kiện của người đại diện của đương sự Cơ chế khởi kiệnthông qua người đại diện này cũng là một đảm bảo để quyền khởi kiện của đương sự

có thể được thực thi một cách gián tiếp thông qua người đại diện của họ

Người đại diện của đương sự không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật nộidung có tranh chấp nên không phải là đương sự trong vụ án Họ khởi kiện hoàn toàn

vì quyền lợi của đương sự và tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện đươngnhiên hoặc theo sự ủy quyền của đương sự

Khoản 1 Điều 85 BLTTDS 2015 đã có quy định về các loại đại diện trong tốtụng dân sự 14Theo đó người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện

14 Trích dẫn Khoản 1 Điều 85 như sau

“Điều 85 Người đại diện

1 Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo

ủy quyền Người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ luật dân sự.”

26

Trang 27

theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền Nếu như người đại diện theo phápluật được ghi nhận trong luật thì người đại diện theo ủy quyền lại phụ thuộc vào ý chícủa người có quyền khởi kiện Hiện nay BLTTDS không có quy định cụ thể về ngườiđại diện do Tòa án chỉ định nhưng xét về lý luận và theo quy định tại Điều 85BLTTDS 2015 thì người đại diện do Tòa án chỉ định cho bị đơn hoặc người có quyền,nghĩa vụ liên quan vẫn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập

Phạm vi khởi kiện vụ án dân sự là giới hạn những vấn đề khởi kiện trong một

vụ án dân sự Để đảm bảo việc giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án được nhanhchóng và đúng đắn, BLTTDS quy định phạm vi khởi kiện vụ án dân sự Theo Điều

188 BLTTDS 2015 thì phạm vi khởi kiện được xác định như sau:

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể khởi kiện một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, cánhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan vớinhau để giải quyết trong cùng một vụ án

Nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể cùng khởi kiện một cơ quan, một tổchức, một cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liênquan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án

27

Ngày đăng: 19/06/2016, 10:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w