1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tác động của báo mạng điện tử trung quốc với vấn đề xung đột biển đông từ tháng 5 năm 2013 đến hết năm 2014 ( nghiên cứu trường hợp nhân dân nhật báo và hải nam nhật báo)

130 351 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 2,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, các nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp xoay quanh chủ đề tác động của báo mạng điện tử Trung Quốc với vấn đề xung đột Biển Đông, đặc biệt có 18 tài liệu là các luận văn thạc s

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 15

CHƯƠNG 1 15

NHẬN THỨC CỦA TRUNG QUỐC VỀ VAI TRÕ CỦA BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ XUNG ĐỘT BIỂN ĐÔNG 15

1.1 Khái quát về báo mạng điện tử 15

1.1.1 Khái niệm 15

1.1.2 Vai trò của báo mạng điện tử 17

1.2 Vai trò của truyền thông trong các quyết sách ngoại giao của Trung Quốc 19

1.3 Nhiệm vụ của Nhân dân nhật báo và Hải Nam nhật báo đối với vấn đề xung đột Biển Đông……… 27

CHƯƠNG 2 32

PHƯƠNG THỨC TRUYỀN THÔNG CỦA BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ TRUNG QUỐC VỚI VẤN ĐỀ XUNG ĐỘT BIỂN ĐÔNG 32

2.1 Mục đích và phương thức tổ chức hoạt động của truyền thông 32

2.2 Phương thức truyền thông của báo mạng điện tử Trung Quốc với vấn đề xung đột Biển Đông 33

2.2.1 So sánh về số lượng bài báo 34

2.2.2 So sánh về nội dung thể hiện 36

2.2.3 So sánh về tần số các sự kiện chủ yếu 45

CHƯƠNG 3 50

PHẢN ỨNG DƯ LUẬN VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ỨNG PHÓ CỦA VIỆT NAM 50

3.1 Tác động tới dư luận trong nước 50

3.2 Tác động tới dư luận ngoài nước 55

Trang 4

3.2.1 Tác động tới truyền thông Việt Nam và quốc tế 55

3.2.2 Tác động tới dư luận Việt Nam 56

3.3 Một số đề xuất ứng phó cho Việt Nam 62

3.3.1 Nhìn nhận lại tình hình phát triển của báo mạng Việt Nam 62

3.3.2 Một số đề xuất giải pháp cho Việt Nam 66

3.3.2.1 Tăng cường công tác quản lý báo chí và truyền thông đối với vấn đề xung đột Biển Đông 66

3.3.2.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tăng cường nhận thức của người dân Việt Nam về vấn đề xung đột Biển Đông 67

3.3.2.3 Tăng cường công tác định hướng dư luận trong nước và quốc tế đối với vấn đề xung đột Biển Đông 68

3.3.2.4 Nâng cao chất lượng cơ sở vật chất kĩ thuật hạ tầng 69

KẾT LUẬN 72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

PHỤ LỤC 93

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 1: Phát biểu của các nhà lãnh đạo Trung Quốc về truyền thông đối ngoại qua các thời kỳ 22

Bảng 2: Một số dẫn chứng về nội dung thể hiện của Nhân dân nhật báo trong

vấn đề xung đột Biển Đông 39

Bảng 3: Một số dẫn chứng về nội dung thể hiện của Hải Nam nhật báo trong

vấn đề xung đột Biển Đông 42 Bảng 4: Trích dẫn comment của dư luận Trung Quốc với vấn đề xung đột Biển Đông 52

Đông 57

Biểu đồ 1: Tình hình số lượng bài báo trên Nhân dân nhật báo về vấn đề xung đột Biển Đông từ tháng 5 năm 2013 đến năm 2014 34 Biểu đồ 2: Tình hình số lượng bài báo trên Hải Nam nhật báo về vấn đề xung đột Biển Đông từ tháng 5 năm 2013 đến năm 2014 35 Biểu đồ 3: Các nội dung thể hiện của báo mạng Nhân dân nhật báo và Hải Nam nhật báo về vấn đề xung đột Biển Đông trong năm 2013 37 Biểu đồ 4: Các nội dung thể hiện của báo mạng Nhân dân nhật báo và Hải Nam nhật báo về vấn đề xung đột Biển Đông trong năm 2014 37 Biểu đồ 5: Các kiểu sự kiện chủ yếu do Nhân dân nhật báo đưa tin về vấn đề xung đột biển Đông từ tháng 5/2013 - 2014 46 Biểu đồ 6: Các kiểu sự kiện chủ yếu do Hải Nam nhật báo đưa tin về vấn đề xung đột biển Đông từ tháng 5/2013 - 2014 47

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1 Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu – Châu Á, Trung Đông – Châu Á và được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới Chính vì vậy, nhiều quốc gia trong khu vực như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Trung Quốc đã coi Biển Đông là tuyến đường huyết mạch Hơn nữa, Biển Đông có eo biển Ma-lắc-ca, eo biển Đài Loan là hai eo biển khá nhộn nhịp trên thế giới Do đó, Biển Đông có vai trò hết sức quan trọng đối với tất cả các nước trong khu vực về địa – chiến lược, an ninh quốc phòng, giao thông hàng hải và kinh tế

Đối với Việt Nam, Biển Đông có vai trò đặc biệt quan trọng về an ninh, quốc phòng, kinh tế Xét về vai trò an ninh, quốc phòng: Biển Đông là tuyến phòng thủ hướng đông của Việt Nam Các đảo và quần đảo trên Biển Đông, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không chỉ có ý nghĩa trong việc kiểm soát các tuyến đường biển qua lại Biển Đông mà còn có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với Việt Nam Xét về vai trò kinh tế, Biển Đông tạo điều kiện để phát triển các ngành kinh tế và là cửa ngõ để Việt Nam có quan hệ trực tiếp với các vùng, miền của đất nước, giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, là nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hóa Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở trung tâm Biển Đông, rất thuận lợi cho việc đặt các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu thuyền…phục vụ cho tuyến đường hàng hải trên Biển Đông Chính vì vai trò và lợi ích của Biển Đông đối với Việt Nam và các nước trong khu vực như vậy cho nên đây là nơi dễ xảy ra xung đột

2 Sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc kinh tế đã dẫn tới nhu cầu khổng lồ về dầu và khí để phục vụ cho nhu cầu phát triển và tham vọng ngày càng lớn của quốc gia này Hơn nữa, Trung Quốc là một quốc gia đông dân nhất thế giới cũng là nước tiêu dùng dầu lớn thứ hai và nước nhập

Trang 7

khẩu ròng nguồn "vàng đen" lớn thứ ba toàn cầu (sau Mỹ và Nhật Bản) Trung Quốc đang khát khao tìm kiếm nguồn nhập khẩu xa hơn như Châu Phi

và Mỹ Latin để đảm bảo sự ổn định, ít phụ thuộc hơn vào nhà cung cấp truyền thống từ Trung Đông Do đó, Biển Đông đã trở thành một điểm nóng của khu

đột trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc đã xuất hiện từ rất sớm, có thể lấy mốc từ tháng 3 năm 1909 Những xung đột đó vẫn tiếp tục gia tăng và ngày càng căng thẳng hơn khi Trung Quốc dần chuyển từ xung đột sang tranh chấp bắt đầu bằng sự kiện Hải chiến Hoàng Sa (1974); Hải chiến Trường sa (1988); Cắt cáp tàu Bình Minh 2 (2011); Thành lập thành phố Tam Sa (2012); Đưa giàn khoan 海洋 981 (Phiên âm: Haiyang 981, Tiếng Việt: Hải Dương

981 – chúng tôi dùng theo tên gọi tiếng Việt cho sự kiện Hải Dương 981) vào vùng biển đặc quyền của Việt Nam Trước tình hình xung đột Biển Đông ngày càng gia tăng, để phục vụ cho lợi ích cốt lõi của mình, giới lãnh đạo Trung Quốc đã đưa ra nhiều chính sách, biện pháp, trong đó có chính sách truyền thông mạng về các vấn đề liên quan đến xung đột Biển Đông Hơn nữa, dưới tác động dư luận của các phương thức truyền thông của báo mạng điện tử Trung Quốc đã đẩy xung đột Biển Đông vào trạng thái căng thẳng và nhạy cảm

3 Đặc biệt, trong giai đoạn gần đây, để phục vụ cho lợi ích cốt lõi của mình, Trung Quốc đã chú trọng đến việc sử dụng truyền thông với những lợi thế về tốc độ, phạm vi ứng dụng cao và đầu tư cho phát triển công nghệ thông tin Các trang báo mạng đã truyền tải thể hiện đường lối, chính sách của Trung Quốc trong vấn đề xung đột Biển Đông và tạo ra những ảnh hưởng nhất định như tạo ra nhiều luồng dư luận khác nhau, lợi dụng niềm tin của dư luận để thực hiện ý đồ lấn chiếm Biển Đông, hay xây dựng chủ nghĩa dân tộc của mình,…Mặt khác, Trung Quốc vẫn tiếp tục tiến hành các hành động gia tăng căng thẳng, không quan tâm đến lợi ích các nước nhỏ trong khu vực Đông Nam Á (Việt Nam và Philippin) Trong khi đó, công tác quản lý truyền

Trang 8

thông của Việt Nam còn chưa nhận thức khái quát, toàn diện mục đích của truyền thông mạng Trung Quốc trong vấn đề xung đột Biển Đông Vì vậy, các ban ngành có thẩm quyền, đặc biệt các cơ quan quản lý truyền thông còn lúng túng trong cách xử lý trước những hành động của truyền thông Trung Quốc

4 Trước tình hình như vậy, Việt Nam vẫn chưa nhận thức rõ được vai trò, phương thức và khả năng tác động của báo mạng Trung Quốc tới chủ quyền, lãnh thổ của mình trong vấn đề xung đột Biển Đông Chính vì vậy, việc nghiên cứu tác động của báo mạng điện tử Trung Quốc với vấn đề xung đột Biển Đông theo chúng tôi là một lựa chọn cần thiết và có ý nghĩa khoa học và thực tế của luận văn

2 Lịch sử vấn đề

Trên cơ sở điểm luận 87 tài liệu, trong đó có 55 tài liệu tiếng Việt, 26 tài liệu tiếng Trung, 6 tài liệu tiếng Anh Trong đó, các nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp xoay quanh chủ đề tác động của báo mạng điện tử Trung Quốc với vấn đề xung đột Biển Đông, đặc biệt có 18 tài liệu là các luận văn thạc sỹ

và tiến sỹ về vấn đề ngoại giao truyền thông của Trung Quốc và hàng trăm đầu tài liệu mạng cũng được tôi sử dụng tham khảo trong luận văn này Chính

vì vậy, việc lựa chọn đề tài ―Phân tích tác động của báo mạng điện tử Trung Quốc với vấn đề xung đột Biển Đông‖ là một hướng nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

2.1.1 Tình hình nghiên cứu tại phương Tây

Xung đột Biển Đông đã sớm nhận được sự quan tâm của rất nhiều học giả trên thế giới, đặc biệt là các học giả, chính khách Mỹ và phương Tây Người đầu tiên bày tỏ sự lo ngại về xung đột có thể xảy ra giữa Việt Nam và Trung Quốc ở Biển Đông là Samuel Huntington, học giả nổi tiếng toàn thế

giới với tác phẩm Sự đụng độ của các nền văn minh xuất bản bằng 39 thứ

tiếng Từ góc độ trật tự địa chính trị, năm 1993 ông đã cảnh báo các nhà chiến lược Mỹ về điều này trên tờ ―Foreign Affairs‖ Vol 72 số 3, nhưng do quan

Trang 9

tâm nhiều hơn đến mối đe dọa Hồi giáo cực đoan nên lúc đó dường như

không mấy ai chú ý Phát triển tư tưởng trong cuốn sách Sự đụng độ của các

nền văn minh xuất bản năm 1996, ông viết rõ: ―Sự bá quyền của Trung Quốc

ở Đông Á khó có thể đưa đến sự bành trướng về kiểm soát lãnh thổ thông qua can thiệp quân sự trực tiếp‖ nhưng ―Biển Đông là trường hợp ngoại lệ‖ [82] Hay như trên tờ ―Foreign Policy‖ số tháng 9 và tháng 10 năm 2011 đã cho ra mắt bài ―Biển Đông: Tương lai của xung đột‖ của R Kaplan [84], đây là công trình xác lập căn cứ lý luận, lịch sử và những tư tưởng nền tảng cho chiến lược Biển Đông của Mỹ Trong giới chính trị chiến lược Mỹ và phương Tây, Robert D Kaplan, chuyên gia nổi tiếng của Hội đồng Chính sách Quốc phòng

Mỹ, người có tầm nhìn sâu sắc về chiến lược và có kinh nghiệm dày dạn trong hoạt động quân sự, được coi là người giỏi nhất về Biển Đông ―Vạc dầu Châu Á‖ là thuật ngữ gọi Biển Đông của Kaplan từ tháng 3 năm 2014 Gần như trùng với thời điểm Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào Biển

Đông, Kaplan đã cho ra mắt cuốn sách Vạc dầu Châu Á: Biển Đông và sự kết

thúc của Thái Bình Dương yên tĩnh [83] Cuốn sách đã trở thành ―hiện tượng‖

ở Mỹ và nhiều nước phương Tây, một phần vì chính sự kiện Trung Quốc đưa giàn khoan Haiyang 981 vào vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam Cuốn sách gồm 8 chương, trong đó chương 3 được dành riêng viết về Việt Nam (Tiêu đề chương 3: ―Thân phận của Việt Nam‖ – The Fate of Vietnam) Với

sự am tường Việt Nam sâu sắc về lịch sử, ngoại giao và sự cảm nhận tinh tế

về những diễn biến phức tạp trong các cuộc gặp gỡ với những chính khách và các nhân vật đáng chú ý ở Việt Nam, Mỹ và ở các nước khác, Kaplan đã phân tích khá rõ vị thế vô cùng khó khăn và phức tạp của Việt Nam trước ý đồ của Trung Quốc trong trật tự địa chính trị thế kỷ XXI Ngoài ra, cũng có nhiều bài viết của các học giả trên thế giới quan tâm tới vấn đề Biển Đông như bài viết

“Biển Đông: ảo tưởng và thực tế‖ của Đại sứ Rodolfo Severino, nguyên Tổng

thư ký ASEAN, phân tích 10 vấn đề mà ông cho là ảo tưởng đang tồn tại xung

quanh vấn đề tranh chấp Biển Đông [94], hay bài viết “Biển Đông trên khía

Trang 10

cạnh pháp lý”của học giả Hasjim Djalal tập trung phân tích các chủ đề: Khía

cạnh pháp lý; bản chất của tranh chấp, các bên tranh chấp và công cụ pháp lý

áp dụng để giải quyết tranh chấp tại Biển Đông [96]

2.1.2 Tình hình nghiên cứu tại Trung Quốc

Các nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp tới chủ đề tác động của báo mạng điện tử Trung Quốc với vấn đề xung đột Biển Đông ở Trung Quốc là

khá đa dạng Chúng tôi tạm chia ra các hướng nghiên cứu sau: Thứ nhất,

nghiên cứu ―Công cụ truyền thông của ngoại giao công chúng‖ Trong những nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu những hiệu quả và vận dụng truyền thông trong ngoại giao công chúng, đánh giá ảnh hưởng của nó đối với hình tượng quốc gia và nhận thức các quyết sách ngoại giao Trước tiên, chúng ta có thể

kể đến nghiên cứu của học giả Triệu Khả Kim – Viện Nghiên cứu quan hệ

quốc tế đương đại – Đại học Thanh Hoa với hai nghiên cứu là Lý luận và thực

tiễn ngoại giao công chúng (2007) và Chiến tranh sức mạnh mềm trong ngoại giao công chúng của Mỹ và Trung Quốc (2011) Trong hai nghiên cứu này,

tác giả đều đứng từ góc độ chính trị học để nghiên cứu, phân tích Từ đó, tác giả đối chiếu truyền thông của Mỹ và Trung Quốc đối với ngoại giao công chúng, bao gồm các nội dung như ngoại giao công chúng đối với chính sách ngoại giao của Mỹ, truyền thông công chúng đối với ngoại giao truyền thông, thông tin mạng và ngoại giao Hay như nghiên cứu của học giả Triệu Ju

Chính Ngoại giao công chúng và giao lưu đa văn hóa (2011) và Đối thoại đa

quốc gia: trí tuệ ngoại giao công chúng (2012) Trong hai nghiên cứu này,

ông đã kết hợp giữa trách nhiệm của một người phát ngôn viên của quốc vụ viện để giảng thuật về các phương pháp cụ thể của ngoại giao công chúng, từ những điểm không giống nhau trong ngoại giao công chúng để đưa ra những

vấn đề thực tiễn của Trung Quốc Thứ hai, nghiên cứu từ góc độ của việc hoạch định chính sách ngoại giao tới truyền thông Trong các tài liệu chúng

tôi sưu tầm được thì chủ yếu là nghiên cứu ảnh hưởng của truyền thông, các mạng điện tử tới các quyết sách ngoại giao của Trung Quốc: Như luận văn

Trang 11

thạc sĩ của Kim Ngô năm 2008 Nhân Dân nhật báo và ngoại giao Trung

Quốc nói về tác động của Nhân Dân nhật báo tới các chính sách ngoại giao

của Trung Quốc Trong luận văn này, tác giả đã thống kê và phân tích nội

dung các danh mục bài viết trong phần thảo luận quốc tế của Nhân Dân nhật

báo Tiếp đó, tác giả đã đưa ra những nhận định, đánh giá những tác động của

việc đưa các thông tin đó đối vơi dư luận quốc tế như thế nào và đưa ra các

mục tiêu cũng như phương hướng hoạt động tiếp theo của Nhân Dân nhật báo Hay như luận văn thạc sỹ của Hàn Tự, Đại học Ngoại giao nghiên cứu về Ảnh

hưởng của các báo mạng Internet tới chính sách ngoại giao của Trung Quốc – luận văn bảo vệ tháng 6 năm 2011, luận văn tiến sĩ của học giả Ngô Lập

Tân – trường Trung ương Đảng Trung Quốc nghiên cứu về Ảnh hưởng của

phương tiện truyền thông Trung Quốc với truyền thông quốc tế

(2011),…Trong luận văn của tác giả Hàn Tự đã tiến hành phân tích vai trò, mối quan hệ giữa các báo mạng Internet và chính sách ngoại giao Tác giả cũng tiến hành phân tích các phương thức tác động của báo mạng Internet tới các quyết sách ngoại giao, sau đó phân tích và tổng kết lại những ảnh hưởng của báo mạng đối với chính sách ngoại giao Còn trong luận án tiến sỹ của học giả Ngô Lập Tân này chủ yếu đề cập đến những vấn đề như mối quan hệ giữa truyền thông quốc tế và dư luận, nhiệm vụ và mục tiêu chiến lược của truyền thông Trung Quốc với truyền thông quốc tế, Trong luận án này, tác giả đã phân tích khá sâu và rộng các vấn đề liên quan đến dư luận, truyền thông Trung Quốc và truyền thông quốc tế, giới thiệu cho các độc giả cách nhìn mới hơn về truyền thông nói chung Ngoài ra, chúng tôi cũng đã sưu tầm được một tài liệu khá mới về vấn đề liên quan đến truyền thông ở Biển Đông

Đó là luận văn thạc sỹ của Liễu Lôi – Đại học ngoại giao về Tác dụng và vai

trò của các phương tiện truyền thông chính thống của Trung Quốc đối với vấn đề xung đột Biển Đông – dựa trên quan điểm tác dụng của việc truyền tải tín hiệu – (2012) Trong luận văn này, tác giả đã tiến hành khảo sát, thống kê

trong 2 năm là 2010 và 2011 trên 2 báo mạng chính thống của Trung Quốc là

Trang 12

Nhân dân nhật báo và Tân Hoa Xã Thông qua việc thống kê, nghiên cứu

phân tích các bài tin trên Tân Hoa Xã và Nhân dân nhật báo làm rõ những tác

dụng truyền tải mà các nhà báo đã phát huy được tác dụng của truyền thông chính thống Trung Quốc trong vấn đề xung đột ngoại giao ở biển Đông Tác giả đã đi phân tích nguyên nhân, tác dụng và lợi ích quốc tế của tờ báo truyền thông chính thống Trung Quốc trong xung đột ngoại giao Tác giả cũng kết hợp với tình hình phát triển của dư luận quốc tế để tìm ra hướng đi cho dư luận trong và ngoài nước Luận văn đã chỉ ra khá rõ vai trò của truyền thông chính thống Trung Quốc trong xung đột ngoại giao, đưa ra những hướng tiếp cận mới cho giới nghiên cứu Gần đây, có nghiên cứu của học giả Vương

Nghiên (2015) của trường Đại học sư phạm Sơn Đông Luận văn Phân tích

ngôn ngữ phê bình của các báo cáo liên quan vấn đề đảo Điếu Ngư trong truyền thông chính thống của Mỹ và Trung Quốc có những giá trị khoa học

nhất định về nghiên cứu truyền thông đối với vấn đề xung đột ở Biển Đông Trong luận văn này, tác giả phân tích các bản tin chủ yếu từ truyền thông đại chúng của hai quốc gia Trung Quốc và Mỹ, mô tả những khác biệt giữa bản tin hai nước và khai phá đặc tính của bản tin được phản ánh bởi sự khác biệt

và các mối quan tâm trong việc giải quyết quan hệ quốc tế Luận văn cũng lựa chọn các bản tin từ China Daily và New York Times làm đối tượng nghiên cứu và phân tích so sánh về tranh chấp trên đảo Điếu Ngư dựa trên cấp độ văn

bản, diễn ngôn và xã hội

Có thể nói rằng, những nghiên cứu về ngoại giao truyền thông của Trung Quốc là khá nhiều, đặc biệt trong thời gian gần đây khi quan hệ giữa Trung Quốc và một số nước trong khu vực ngày càng phức tạp thì cũng ngày càng thu hút được giới nghiên cứu Trung Quốc Ngoài việc nghiên cứu những ảnh hưởng của truyền thông với chính sách ngoại giao nói chung thì cũng có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của truyền thông đối với từng khu vực trong

chính sách ngoại giao như nghiên cứu về Những tác động ảnh hưởng của

công chúng đối với chính sách ngoại giao của Trung Quốc ở Trung Đông của

Trang 13

học giả Vương Tịnh – Đại học ngôn ngữ quốc tế Thượng Hải (2012), luận văn thạc sỹ của Đinh Quyên (2013) nghiên cứu về góc độ truyền thông trong ngoại giao công chúng và hướng thúc đẩy các sách lược Luận văn này đã đi phân tích các nội dung tin tức, thông tin trong truyền thông, các văn hóa trong truyền thông và tác động của nó tới công chúng như thế nào, từ đó đã đưa ra những định hướng để thúc đẩy, phát triển truyền thông trong nước đối với ngoại giao công chúng,…Tuy nhiên, do hầu hết các nghiên cứu này chỉ đứng trên góc độ là nghiên cứu về quốc gia mình, phục vụ lợi ích Trung Quốc Tuy nhiên, do cách tiếp cận có phần cực đoan nên luận văn đã thiếu tính khách quan cần thiết đối với nghiên cứu quốc tế về vấn đề xung đột Biển Đông

2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Biển Đông đang thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân và giới nghiên cứu Việt Nam Hiện nay, ở Việt Nam đã có Trung tâm nghiên cứu Biển Đông trực thuộc Viện nghiên cứu Trung Quốc và một Viện Biển Đông trực thuộc Bộ Ngoại Giao với website chính thức mang tên

nghiencuubiendong.vn Ở cả Trung tâm nghiên cứu Biển Đông (Học viện

Ngoại giao) và Viện Biển Đông đều có rất nhiều nghiên cứu về Biển Đông và trên mọi lĩnh vực Các bài nghiên cứu được đăng tải trên website

nghiencuubiendong.vn với số lượng nhiều và nội dung phong phú, cập nhật

tin tức khá nhanh như chuyên mục “Tin tức tuần” thì cập nhật những tin tức

mới nhất trong tuần về vấn đề liên quan tới Biển Đông bằng cả tiếng Anh và tiếng Trung Hiện nay, ở Việt Nam cũng có một số trang web khác quan tâm

đề các vấn đề tranh chấp, xung đột ở Biển Đông như: website biendong.net, website biendong.vntime.vn…

Những website đăng tải nội dung liên quan đến Biển Đông khá đầy đủ

và nhanh chóng Trong hai website vừa nêu trên cũng cung cấp những thông tin mới về Biển Đông, các hồ sơ tư liệu về Biển Đông, hay môi trường sinh thái ở Biển Đông cũng được quan tâm,… Tuy nhiên, theo như những quan sát

Trang 14

của chúng tôi thi hầu như không các nghiên cứu về truyền thông của Trung Quốc nói chung và báo mạng điện tử của Trung Quốc nói riêng thì khá ít

Hiện nay, ở Việt Nam những nghiên cứu về truyền thông của Trung Quốc khá ít và chỉ thấy một vài bài viết về truyền thông của Trung Quốc đăng

trên báo chứ chưa có nghiên cứu ở cấp độ luận văn Nổi bật như có bài viết:

Giới truyền thông với vấn đề Biển Đông của Hải Nam – nhà nghiên cứu về

Châu Á và Thái Bình Dương đăng trên website của mattran.org của Ủy ban

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bài viết khá sắc sảo và có cái nhìn tổng quan về truyền thông trong và ngoài nước đối với vấn đề Biển Đông Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra những dẫn chứng cụ thể như việc dư luận Philippin phản ứng trước hành động của Trung Quốc trên các tờ báo của Philippin như thế nào hay báo chí Việt Nam phản ứng thế nào trước hành động của Trung Quốc, chỉ ra những hành động của truyền thông Trung Quốc,…hay việc một

số cơ quan báo chí né tránh hay lợi dụng vấn đề biển Đông để tạo lợi nhuận cho mình

Trước sự việc Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển chủ quyền của Việt Nam tháng 5/2014 – các học giả Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu, trong đó tiêu biểu có bài viết của học giả Dương Quốc Bảo trên tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông số tháng 8 năm 2014 về

Thông tin đối ngoại về vấn đề Biển Đông cho học sinh, sinh viên Việt Nam ở nước ngoài Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra khá nhiều ý kiến đóng góp

cho công tác tuyên truyền đối với các báo mạng điện tử, các phương tiện khi đưa các thông tin đối ngoại về vấn đề Biển Đông

Gần đây có công trình nghiên cứu Phân tích phương thức sử dụng

ngoại giao văn hóa – truyền thông của Trung Quốc tại Việt Nam và một số nước Đông Á của học giả Nguyễn Thị Thu Phương đã phân tích phương thức

sử dụng truyền thông mang tính hai mặt của Trung Quốc trong việc xây dựng hình ảnh quốc gia và bảo vệ lợi ích cốt lõi của Trung Quốc Ngoài ra, trong chương trình nghiên cứu Biển Đông do học viện Ngoại giao tổ chức, tác giả

Trang 15

luận văn cũng có bài viết đạt giải bài nghiên cứu xuất sắc với đề tài Truyền

thông của báo mạng điện tử Trung Quốc với vấn đề xung đột Biển Đông từ năm 2011 đến hết tháng 4 năm 2013”

Ngoài ra, trên các tin tức trên báo mạng Việt Nam, chúng ta thấy báo chí Việt Nam đưa rất nhiều tin về các hành động của Trung Quốc trên Biển Đông hay bình luận về một số hành động của truyền thông Trung Quốc, bình luận về các bài báo của Trung Quốc Tuy nhiên, lại chưa có những nhận định, nghiên cứu sâu về truyền thông của Trung Quốc thực chất đang làm gì, vì vậy cũng giới truyền thông của Việt Nam cũng chưa đưa ra được những giải pháp trước cách ứng xử của truyền thông Trung Quốc Hơn nữa truyền thông của Việt Nam còn khá yếu, nhất là trong vấn đề xung đột Biển Đông

Thông qua viê ̣c tổng quan điểm luâ ̣ n li ̣ch sử vấn đề , chúng tôi nhận thấy sẽ kế thừa nh ững nghiên cứu của các học giả đi trước ở cả phương Tây, Trung Quốc và Việt Nam về nghiên cứu truyền thông với vấn đề Biển Đông như về cách thống kê, phân loại các bài báo, cách phân tích các bài báo cũng như tổng hợp, chỉ ra những ảnh hưởng của các báo đó đối với dư luận Trung Quốc,…Tuy nhiên, qua lịch sử nghiên cứu trình bày ở trên có thể thấy nghiên cứu tác động của truyền thông Trung Quốc với vấn đề xung đột Biển Đông mới chỉ lấy đối tượng là báo mạng Trung ương, mà chưa quan tâm, khảo sát các báo mạng địa phương tác động như thế nào đối với vấn đề xung đột Biển Đông Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu đi trước đồng thời bổ sung thêm khoảng khuyết thiếu chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát báo mạng trung ương

(Nhân dân nhật báo) mà còn tổng hợp, phân tích so sánh với báo mạng địa phương (Hải Nam nhật báo) để từ đó làm rõ tác động của báo mạng điện tử

Trung Quốc với vấn đề xung đột Biển Đông

Với cách tiếp cận như vậy, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài này, hi vọng sẽ mang lại một hướng nhìn mới cho truyền thông Việt Nam trong vấn

đề xung đột Biển Đông và hi vọng giới truyền thông Việt Nam hiểu rõ được phần nào truyền thông của Trung Quốc trong ngoại giao nói chung và xung

Trang 16

đột Biển Đông nói riêng, từ đó có những giải pháp ứng xử tốt trước những hành động của truyền thông Trung Quốc

3 Đối tƣợng, khung phân tích, phạm vi nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hai trang báo mạng điện tử của

Trung Quốc là: Nhân dân nhật báo (đại diện cho báo mạng Trung ương) và

Hải Nam nhật báo (đại diện cho báo mạng địa phương) của Trung Quốc

2 Khung phân tích: dựa trên kế thừa và phát triển Khung phân tích từ công

trình Sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc – tác động tới Việt Nam và một số nước Đông Á của học giả Nguyễn Thị Thu Phương, chúng tôi sẽ sử dụng khung phân tích sau

để triển khai đề tài:

Nhân dân nhật báo Hải Nam nhật báo

Đối tượng tiếp nhận

Dư luận trong nước

(Qua phản hồi trên mang)

Dư luận quốc tế

(Qua phản hồi trên mạng)

Giải pháp ứng xử cho Việt Nam Truyền thông báo mạng điện

tử Trung Quốc

Trang 17

3 Về phạm vi nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi tập trung vào tìm hiểu nội dung các bài báo có liên quan đến vấn đề xung đột Biển Đông được đăng tải trên hai trang

web của Nhân Dân nhật báo và Hải Nam nhật báo từ thời điểm tháng 5 năm

2013 đến hết năm 2014 Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo thêm một số tài liệu tiếng Việt có liên quan đến lĩnh vực truyền thông và một số tài liệu mạng

có liên quan đến vấn đề truyền thông với xung đột Biển Đông

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục tiêu nghiên cứu

thông, đặc biệt là các trang báo điện tử của Trung Quốc trong vấn đề xung đột

Biển Đông

- Thứ hai, chỉ ra phươgng thức tác động của báo mạng điện tử Trung

Quốc với vấn đề xung đột Biển Đông

- Thứ ba, đánh giá khả năng phản ứng dư luận và đề xuất một số gợi ý

giải pháp ứng xử cho truyền thông Việt Nam trong vấn đề xung đột Biển Đông

4.2 Nhiê ̣m vu ̣ nghiên cƣ́u

kênh truyền thông ma ̣ng c ủa trung ương và địa phương trong việc thực hiện đối sách của Trung Quốc đối với vấn đề xung đột Biển Đông

phương thức tác động của báo mạng điện tử Trung Quốc đối với vấn đề xung đột Biển Đông

Quốc thông qua đo lường phản ứng dư luận trong và ngoài Trung Quốc Từ

đó, đưa ra một số đề xuất giải pháp ứng phó cho Việt Nam

Trang 18

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Phương pháp nghiên cứu này

được áp du ̣ng trực tiếp vào hai trư ờng hợp là Nhân dân nhật báo và Hải Nam

nhật báo để tiến hành nghiên cứu

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Nghiên cứu này được áp dụng vào việc

phân tích các bài báo trên Nhân dân nhật báo và Hải Nam nhật báo các nội

dung liên quan đến vấn đề xung đột Biển Đông, từ đó tổng hợp về số lượng bài báo, nội dung các bài báo thuộc nội dung là đưa tin hay là bài bình luận,…

phương của Trung Quốc trong phương thức hoạt động

tổng hợp số liê ̣u và phân lo ại những bài báo có nội dung liên quan đến xung

đột Biển Đông rồi sau đó tổng hợp các vấn đề của luận văn

6 Đóng góp của đề tài

phương thức truyền thông của Trung Quốc đã sử dụng để trong vấn đề xung đột Biển Đông

- Về mặt khoa học và thực tiễn: Luận văn cung cấp những nghiên cứu,

những cái nhìn mới nhất về vai trò, phương thức, khả năng tác động của truyền thông Trung Quốc nói chung và báo mạng điện tử Trung Quốc nói riêng trong vấn đề xung đột Biển Đông Qua đó cũng cung cấp các luận cứ khoa học đóng góp cho những nghiên cứu tiếp theo về xung đột Biển Đông

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục luận văn được chia làm 3

chương với nội dung chính của các chương như sau:

Trang 19

Chương 1: Nhận thức của Trung Quốc về vai trò của báo mạng điện tử

đối với vấn đề xung đột Biển Đông

Chương 2: Phương thức truyền thông của báo mạng điện tử Trung Quốc

với vấn đề xung đột Biển Đông

Chương 3: Phản ứng dư luận và một số đề xuất giải pháp ứng phó của

Việt Nam

Trang 20

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CỦA TRUNG QUỐC VỀ VAI TRÕ CỦA BÁO MẠNG

ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ XUNG ĐỘT BIỂN ĐÔNG

1.1 Khái quát về báo mạng điện tử

1.1.1 Khái niệm

Truyền thông là một khái niệm rộng với nhiều cách định nghĩa khác nhau Frank Dance (1970) được coi là người đầu tiên đưa ra khái niệm về

truyền thông trong công trình nghiên cứu Khái niệm cơ bản về truyền thông

Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra 15 định nghĩa trên nhiều góc độ khác nhau như góc độ ký hiệu lời; góc độ sự hiểu biết của con người; góc độ tương tác; góc độ quá trình truyền tải; góc độ giảm độ không rõ ràng; góc độ chuyển giao, truyền tải, trao đổi; góc độ ghép nối, kết nối; góc độ tính công cộng; góc độ kênh, phương tiện, lộ trình; góc độ dẫn dắt; góc độ khuyến khích; góc độ thời gian, tình huống và góc độ quyền lực Ngoài quan niệm trên còn có nhiều cách hiểu về truyền thông Một trong những khái niệm đầu tiên được đưa ra là: Truyền thông là quá trình truyền thông tin có nghĩa giữa các cá nhân với nhau; là quá trình trong đó một cá nhân (người truyền tin) truyền những thông điệp với tư cách là những tác nhân kích thích (thường là những ký hiệu ngôn ngữ) để sửa đổi hành vi của những cá nhân khác (người nhận tin); truyền thông xảy ra khi thông tin được truyền từ nơi này đến nơi khác; không phải đơn thuần là sự truyền tải các thông điệp bằng ngôn ngữ xác định và có ý định trước mà nó bao gồm tất cả các quá trình trong đó con người gây ảnh hưởng, tác động đến một người khác; truyền thông xảy ra khi người A truyền thông điệp B qua C đến người D với hiệu quả E Mỗi chữ cái

ở vài phạm vi là chưa được biết, và quá trình truyền thông có thể được giải thích với bất cứ chữ cái nào trong số hay bất cứ một sự kết hợp nào; truyền thông (Communication) là quá trình trao đổi thông tin giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt sự hiểu biết lẫn nhau [38]

Trang 21

Trên cơ sở xem xét các khái niệm trên, chúng tôi lựa chọn sử dụng khái

niệm của học giả Dương Xuân Sơn là tiêu chuẩn: truyền thông là một quá

trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kinh nghiệm, kỹ năng… nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức [38]

Như vậy, truyền thông là một khái niệm rất rộng và chúng ta nhắc đến truyền thông không thể không nhắc đến phương tiện truyền thông Quá trình này chỉ được truyền đi khi có các phương tiện truyền thông như: sách, báo, phát thanh, truyền hình, phim tài liệu, báo chí điện tử phát trên mạng Internet,… Đối tượng của truyền thông đại chúng là đông đảo quần chúng xã hội, không phân biệt là giới tình, nghề nghiệp, trình độ học vấn… Phương tiện truyền thông có ảnh hưởng rất lớn đối với ngoại giao như chính sách ngoại giao, truyền thông tác động đến tính phụ thuộc và tính độc lập của chính phủ Còn chính phủ có thể lợi dụng và kiểm soát truyền thông [39]

Các phương tiện truyền thông như đã nói ở trên được đánh giá là một

kênh quan trọng và có hiệu quả nhất của truyền thông Trong đó báo mạng điện tử được đánh giá là một thể loại báo chí được đánh giá là chi phí thấp nhưng hiệu quả cao với khả năng tiếp cận thông tin nhanh, mang tính tổng hợp, cập nhật liên tục…, giúp cho người đọc, dù ở bất cứ đâu trên thế giới cũng có thể truy cập vào nguồn ―tài nguyên thông tin‖ to lớn nằm trên mạng toàn cầu

Báo điện tử hay báo mạng là hình thức báo chí mới được hình thành từ

sự kết hợp những ưu thế của báo in, báo nói, báo hình, sử dụng yếu tố công nghệ cao như một nhân tố quyết định, quy trình sản xuất và truyền thông dựa trên nền tảng internet toàn cầu Báo điện tử là một loại hình thông tin đại chúng dựa trên việc khai thác thế mạnh của Internet nhằm đem đến cho công chúng những thông tin mới nhất về mọi mặt của đời sống một cách nhanh và toàn diện nhất

Trang 22

1.1.2 Vai trò của báo mạng điện tử

Đánh dấu sự ra đời của báo mạng điện tử trên thế giới là tờ Diễn đàn Chicago (Chicago Tribune) tháng 5/1992 đặt tại máy chủ tại nhà cung cấp dịch vụ American Online Dẫn đầu các tờ báo mạng điện tử xuất hiện nhiều hơn nhưng gặp không ít rào cản vì số lưọng người có máy tính để đọc báo còn quá ít, sự hạn chế va trục trặc trong khâu kỹ thuật Tuy nhiên, đến năm 1993, web đã trở thành một phương tiện truyền tải thông tin nhanh chóng và hữu hiệu do chi phí thấp và diện phổ quát cao Hầu như các tờ báo lớn, đài phát thanh, truyền hình lớn đều đã có mặt trên Internet Theo thống kê của Tổ chức tương tác giữa các nhà phát thanh và biên tập nếu đầu năm 1995 mới có 154

tờ báo mạng điện tử thì 9 tháng sau đã tăng lên 1441 đầu báo Đến tháng 3 năm 2006, tổng số đã lên tới 8.474 tờ Số người dùng Internet toàn cầu (tính đến tháng 12/2013) là gần 2 tỷ, trong đó châu Á dẫn đầu với 825,1 triệu người, châu Âu là 475,1 triệu người Ngoài ra, số blog trên Internet cũng lên tới 252 triệu [38] Mỗi ngày, các trang mạng xã hội như Twitter, Facebook, Google, Yahoo chat, Gmail, video trên Youtube, ảnh trên Flickr cũng thu hút hàng tỷ người vào xem và trao đổi thông tin

Thế giới hiện có khoảng trên 2 tỉ người sử dụng Internet Internet đã trở thành kênh thông tin gần gũi, tiện lợi, bổ ích và cả độc hại - tùy theo ý thức, mục đích của người sử dụng Mấy năm gần đây, cùng với hệ thống báo chí đã

có, trên Internet xuất hiện ngày càng nhiều các mạng xã hội, công cụ tìm kiếm, kết nối thông tin khác Chúng phát triển nhanh, lan tỏa rộng khắp toàn cầu, điển hình là Facebook, Twitter, YouTube, Google, Yahoo chat, Gmail Riêng Facebook, chỉ sau mấy năm ra đời, mạng xã hội này đã có xấp xỉ cả tỉ người khắp thế giới sử dụng Ở những nước phát triển như Mỹ, EU, một số nước châu Á, có hơn 50% số dân và gần như toàn bộ giới trẻ thường xuyên dùng mạng xã hội [23]

Sự phát triển của báo mạng là sự phát triển của ngành công nghệ thông tin trong xã hội hiện đại Internet là hệ thống thông tin toàn cầu có thể được

Trang 23

truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau giữa mọi người dùng trên toàn cầu Mạng internet có vai trò quan trọng, mang lại rất nhiều tiện ích hữu dụng cho người sử dụng, một trong các tiện ích phổ thông của internet là hệ thống thư điện tử (email), trò chuyện trực tuyến (chat), máy tính truy tìm dữ liệu (search engine), các dịch vụ thương mại và chuyển ngân,

và các dịch vụ về y tế, giáo dục… Chúng cung cấp một khối lượng thông tin

và dịch vụ khổng lồ trên internet Trung bình một ngày ở Việt Nam người sử dụng mạng internet dành khoảng từ 5-6 tiếng và ở Mỹ người dùng dành khoảng 9 tiếng để truy cập internet Nhưng ít có mấy ai bỏ ra từng ấy thời gian để đọc báo hay xem các chương trình truyền hình, nghe các chương trình phát thanh Sự kết nối Internet đã kết nối công dân giữa nước này với nước kia một cách nhanh chóng, chặt chẽ, tạo thành một mạng xã hội toàn cầu đã giúp cho con người có thể giao lưu, học hỏi những nét đẹp của những nền văn hóa tiên tiến khác trên thế giới

Khi xã hội phát triển chắc chắn nhu cầu về sự hiểu biết của con người cũng sẽ tăng lên, vì thế con người cũng đòi hỏi những phương tiện truyền thông hiện đại, nhanh nhạy và thuận tiện nhất Vì vậy, báo mạng điện tử ra đời

là sự đáp ứng tất yếu nhu cầu của thời đại Thay vì việc phải ra khỏi nhà để mua một tờ báo, hay bật ti vi, radio để đón xem từng chương trình mà mình yêu thích nhưng lại không chủ động về thời gian để đón xem các thông tin đó, thì giờ đây họ chỉ cần vào mạng truy cập là đã nhanh chóng làm chủ được các tin tức mà mình muốn Báo mạng điện tử đã trở thành một công cụ hữu ích có tác động lớn đến độc giả Báo điện tử bao gồm nhiều công cụ truyền thống như: văn bản (text), hình ảnh tĩnh và đồ họa (still image & graphic), âm thanh (audio), hình ảnh động (video & animation) và gần đây nhất là các chương trình tương tác (interactive program) Như vậy, ở bất kỳ nơi đâu chỉ cần một chiếc máy tính, một chiếc điện thoại hay một chiếc máy tính bảng có kết nối Internet là mọi người có thể thỏa sức tìm kiếm các thông tin trên báo mạng điện

tử ở tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,…và nó cho phép

Trang 24

mọi người trên thế giới tiếp cận và đọc không bị phụ thuộc vào không gian và thời gian Dịch vụ Internet tạo nên một mạng thông tin báo chí điện tử sôi động

có sức thu hút hàng triệu lượt người truy cập hàng ngày

Mặt khác, báo mạng điện tử còn góp phần tăng hiệu quả xã hội của báo chí trong đời sống xã hội Báo mạng điện tử ra đời giúp cho việc trao đổi và truy cập thông tin một cách kịp thời, nâng cao trình độ dân trí của xã hội Chúng ta có thể tìm hiểu được tất cả những thông tin một cách hiệu quả trên mạng internet

Trong tương lai, báo mạng điện tử sẽ phát triển không ngừng hơn nữa cùng với sự phát triển của nên văn minh nhân loại Mỗi một bước tiến của xã hội ngày nay càng thấy rõ vai trò của công nghệ thông tin nói chung và của báo mạng điện tử nói riêng đối với đời sống xã hội Bởi vậy, hệ thống báo mạng điện tử ở Việt Nam cũng như trên thế giới cần không ngừng phát triển mạnh mẽ và rộng khắp hơn nữa để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin của con người và vươn tới một thời đại mới của nền văn hóa tri thức

1.2 Vai trò của truyền thông trong các quyết sách ngoại giao của Trung Quốc

Đầu những năm 90 của thế kỉ 20, mạng truyền thông mới bắt đầu xâm nhập vào thị trường Trung Quốc, nhưng phải đến giữa những năm 90 nó mới nhận được sự quan tâm của Đảng và chính phủ Trung Quốc Cho đến nay, mặc dù ra đời muộn hơn báo in, báo nói nhưng gắn liền với băng thông rộng

cơ sở hạ tầng kĩ thuật cao, tin tức cập nhật, nội dung phong phú, hình thức sinh động nên báo điện tử Trung Quốc đã thu hút được một số lượng lớn bạn đọc Cho đến tháng 6 năm 2015, Trung Quốc có khoảng 668 triệu người sử dụng Internet, tỷ lệ người dùng internet đạt 48,8% [90]

Thực tế trên đã khiến cho Đảng Cộng Sản Trung Quốc ngày càng nhận thức rõ hơn về vai trò của báo mạng điện tử Trong các Đại hội của Đảng cộng sản Trung Quốc đều xác định rõ ràng vai trò của truyền thông chính là công cụ tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Trung Quốc

Trang 25

Điều này đã được xác định trong các văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc, cụ thể hóa đường lối của Đảng

Nghiên cứu về đường lối phát triển truyền thông quốc tế của Trung Quốc cho thấy, từ khi thành lập đến nay, các chiến lược truyền thông quốc tế

có thể phân ra thành 4 chiến lược lớn trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn khác

nhau: những năm 50 là chiến lược “nhất biên đảo”, những năm 60 là chiến lược “cách mạng thế giới”, những năm, cuối những năm 70 là chiến lược

“một tuyến đường” và từ cuối những năm 70 trở đi là chiến lược “phát triển hòa bình” Trong mỗi thời kỳ, chiến lược lại khác nhau nên truyền thông

ngoại giao của Trung Quốc trong mỗi thời kỳ cũng có những tác dụng và chức năng khác nhau

Thứ nhất, thời kỳ “nhất biên đảo” Đây là thời kỳ mới bắt đầu ngay sau

khi Trung Quốc giành được độc lập Vì vậy, những vấn đề được nhắc tới mang tính chất cơ bản nhất của ngoại giao truyền thông như: bắt đầu xây dựng mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, nguyên tắc, phương thức tuyên truyền Trong giai đoạn này, chủ trương của Đảng cộng sản Trung Quốc xác định nhiệm vụ phải giới thiệu ra thế giới một Trung Quốc mới, hòa bình và hữu nghị Mặt khác, cũng cần thể hiện Trung Quốc luôn kiên trì đi theo nguyên tắc và lập trường xã hội chủ nghĩa; thể hiện tinh thần đoàn kết giữa các nước chủ nghĩa xã hội với lực lượng tiên tiến trên toàn thế giới; muốn cùng các nước duy trì hòa bình thế giới để phát triển Thời kỳ này truyền thông Trung Quốc bắt đầu ―đi ra ngoài‖, đối tượng chủ yếu là các quốc gia có cùng quan

hệ ngoại giao

Thứ hai, thời kỳ “cách mạnh thế giới” Từ cuối những năm 50 của thế

kỷ XX chiến lược cho truyền thông quốc tế của Trung Quốc bắt đầu có biến

chuyển, nhấn mạnh mục tiêu của ngoại giao là: duy trì hòa bình thế giới Thời

kỳ này, Trung Quốc cũng tiến hành thành lập một số báo để truyền đạt tư tưởng của Đảng như: Nhân dân nhật báo, Tân Hoa Xã,…Tuy nhiên, hiệu quả truyền bá truyền thông đối ngoại thấp, và đội ngũ trong truyền thông còn yếu,

Trang 26

thực hiện chính sách Liên Xô (Do thời kỳ này Trung Quốc thiết lập quan hệ

ngoại giao với Liên Xô nên gọi là chính sách Liên Xô)

Thứ ba, thời kỳ “một con đường” Nằm trong chiến lược ngoại giao của

Trung Quốc những năm 70 của thế kỷ XX Nếu như những năm 50 của thế kỷ

XX Trung Quốc thực hiện chính sách Liên Xô thì đến những năm 70 Trung Quốc lại thực hiện chính sách Xô – Mỹ như: bắt đầu coi trọng vị trí bản thân, nhận thức lại thế giới, điều chỉnh mục tiêu, chiến lược, nội dung, tổng thể trong việc thực hiện chiến lược quốc tế của Trung Quốc, đạt được hiệu quả, tư

tưởng không ngờ tới

Thứ tư, thời kỳ “hòa bình và phát triển” Thời gian từ cuối những năm

70 đến nay Trong thời kỳ này, chính sách truyền thông có những thay đổi lớn như: thay đổi nhận thức; thay đổi tôn chỉ, mục tiêu, tư tưởng lãnh đạo Từ những kinh nghiệm truyền thông, năm 1996 trong hội nghị tổng kết công tác truyền thông đã đưa ra chiến lược truyền thông, nguyên tắc truyền thông, tạo nên ―đặc sắc Trung Quốc‖, bao gồm: ―Lấy lợi ích quốc gia làm nguyên tắc cao nhất; lấy tuyên truyền làm chủ, sự thật làm chủ, bản thân làm chủ; Xây dựng chủ nghĩa xã hội Trung Quốc: cải cách mở cửa, ổn định, đoàn kết, tiến bộ, hòa bình, hữu nghị; Thống nhất đối nội, đối ngoại; xây dựng Trung Quốc với

phương châm là nước phát triển; Tăng cường lãnh đạo ảnh hưởng dư luận‖ [68]

Chúng ta có thể thấy rõ hơn qua phát biểu của các nhà lãnh đạo Trung Quốc qua bảng so sánh sau:

Trang 27

Bảng 1: Phát biểu của các nhà lãnh đạo Trung Quốc về truyền thông đối

ngoại qua các thời kỳ Nhà lãnh

- Đặng Tiểu Bình phát biểu: ―Tất cả tập trung vào công tác tuyên truyền: Cần phải thông qua văn nghệ, báo cáo văn học, các bản tin,…phản ánh được cuộc sống thực để thế giới thấy, truyền bá tới đồng bào Hoa Kiều‖ [56]

Sau Cải cách mở cửa

- Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh tính quan trọng trong nhận thức công tác tư tưởng dư luận, tính quan trọng của việc định hướng dư luận, điều chỉnh chính sách định hướng dư luận

- Ông nhấn mạnh khẩu hiệu: ―Làm cho thế giới hiểu Trung Quốc và làm Trung Quốc hiểu thế giới‖ [56]

Giang Trạch

Dân

chiến lược tin tức:―Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, các bản tin không chỉ là công việc của nhà báo, mà còn là sự nghiệp của Đảng,

sự nghiệp của nhân dân‖ [65]

Hội nghị công tác tuyên truyền tư tưởng toàn quốc đã nhấn mạnh ―Công tác tuyên truyền tư tưởng của chúng ta nhất định phải

Trang 28

dùng khoa học làm vũ khí lý luận, người lãnh đạo dư luận phải chính xác‖[66]

luận quốc tế của các nước phương Tây ngày càng mạnh, thì dư luận Trung Quốc lại đang yếu, truyền thông đối ngoại Trung Quốc cần tạo nên tên tuổi với truyền thông đối ngoại phương Tây, cần phải lợi dụng toàn

cầu hóa,…‖ [63]

tức trở thành một cánh tay để phát huy tác dụng, liên hệ với nhân dân, liên hệ với sự phát triển của sự nghiệp, vận mệnh, tiền đề của Đảng và quốc gia‖ [64]

Đặng Tiểu Bình cho rằng, cần phải duy trì hòa bình phát triển để duy trì thế giới Ông xác định rõ nhiệm vụ thời kỳ này là ―hòa bình và phát triển‖, vì

sự phát triển của Trung Quốc nên phải xây dựng một môi trường dư luận tốt Đặng Tiểu Bình cũng đưa ra nguyên tắc cơ bản trong truyền thông dư luận:

―Truyền thông quốc tế nhất định phải tuân theo tính nguyên tắc của Đảng, tuyên truyền theo chủ trương của Đảng; Truyền thông quốc tế phải phục vụ cho sự nghiệp xã hội chủ nghĩa, vì lợi ích xã hội; Truyền thông quốc tế cần phải duy trì nguyên tắc lợi ích quốc gia; Truyền thông quốc tế trên những yêu cầu cơ bản cần phải tìm sự thực trong các bài báo, lấy nguyên tắc báo cáo chính diện làm chủ‖ [57]

Giang Trạch Dân nhấn mạnh, tính quan trọng của dư luận truyền thông trong các góc độ, địa vị, và tính cơ bản của truyền thông Ông yêu cầu các ban Đảng phải thường xuyên làm tốt công tác thảo luận, nghiên cứu các bản tin như là: trong một mốc thời gian ngắn phải thường xuyên xem xét các phương

Trang 29

châm tuyên truyền, tư tưởng lãnh đạo, trọng điểm báo cáo, hiệu quả tuyên truyền để đưa vào thảo luận tại các hội nghị [66] Mục đích của truyền thông

là làm cho người khác hiểu được suy nghĩ của mình, tiếp nhận quan điểm của mình, vì vậy nhất định phải luôn cho người ta hiểu tư tưởng, tiếp nhận quan điểm của mình Vì vây, nhất định phải làm cho mọi người hiểu mình đang định nói gì, làm cho mọi người hiểu sâu sắc tư tưởng của mình‖ [65]

Hồ Cẩm Đào cho rằng, cần phải nâng cao, tăng cường năng lực nhận thức và tạo dư luận thông qua các bản tin, phải lãnh đạo dư luận đúng, có lợi cho Đảng, cho quốc gia, cho nhân dân [76] Phải chỉ ra đúng, sai cho dư luận, đúng cho Đảng, cho quốc gia, cho nhân dân Như vậy, Hồ Cẩm Đào đã lấy Đảng và nhân dân làm cơ sở và hơn một bước nữa là ―quốc gia‖ – đây là một chủ thể quan trọng

Như vây, chúng ta có thể thấy rất rõ tư tưởng lãnh đạo, nhận thức của các nhà lãnh đạo Trung Quốc Từ Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân hay Hồ Cẩm Đào đều coi trọng vai trò của truyền thông trong quyết sách ngoại giao

của mình trên cơ sở lấy lợi ích của Đảng, quốc gia và nhân dân làm đầu

Vào năm 2003, Ban chấp hành Trung ương ĐCS Trung Quốc cùng Quân

pháp‖ (三 战) gồm chiến pháp tâm lý (心理战), chiến pháp dư luâ ̣n (舆论 战),

ba chiến pháp này ―chiến pháp dư luâ ̣n‖ được xác đi ̣nh là một thủ đoa ̣n truyền thông gây ảnh hưởng, lèo lái dư luận quốc tế theo hướng ủng hộ ủng hộ Trung Quốc, đồng thời phủ nhận những luồng tư tưởng của đối thủ gây bất lợi cho

sử du ̣ng trong lĩnh vực gia tăng sức ma ̣nh mềm văn hóa bao gồm: phương tiện

tử, phát thanh, truyền hình, mạng Internet) Ngoài ra, các nhà chiến lược Trung Quốc còn khai thác truyền thông c ủa bên thứ ba, hoặc thậm chí của đối

Trang 30

phương, để tạo dựng dư lu ận [86] Mă ̣t khác, các tổ chức quốc tế, các tổ chức dân sự và các diễn đàn học thuật, hội thảo cũng được sử dụng để truyền thông tin phù hợp với lợi ích của Trung Quốc Như vậy, có thể thấy Trung Quốc đã sớm xác định vai trò quan trọng của truyền thông trong việc thực hiện ý đồ bá chủ thế giới của mình

Trong Đại hội Đảng lần thứ 18 vừa qua, Tập Cận Bình - Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc khóa 18 đã công bố công khai các ý tưởng và chính sách để phát triển các phương tiện truyền thông Trong đó, các phương tiện truyền thông chính thống phải là công cụ thể hiện các quyết sách ngoại giao Trung Quốc Đặc biệt, khi Trung Quốc coi ―Đường

lưỡi bò‖ là lợi ích cốt lõi thì Nhân dân nhật báo - đại diện cho trung ương và

Hải Nam nhật báo – đại diện cho địa phương có lợi ích liên quan trực tiếp đến

của hai quần đảo cần phải sử dụng truyền thông như một công cụ của chính quyền Tập Cận Bình cũng nhấn mạnh, các phương tiện truyền thông chính thống này cần lấy tiêu chí ―nhanh, ngắn, thực tế, mới‖ [155] làm tiêu chí phát triển để tạo ra luồng gió mới cho truyền thông

Hiện nay, ở Trung Quốc chưa có một khái niệm hoàn chỉnh và chính xác về truyền thông chính thống nhưng có thể khái quát ở một số điểm, theo

Tân Hoa Xã trong ― Nghiên cứu về sức ảnh hưởng và hiệu quả của dư luận”,

thành quả nghiên cứu được công bố năm 2004 [69] cho rằng truyền thông chính thống có 6 tiêu chuẩn:

Thứ nhất, là cơ quan ngôn luận của Đảng, chính phủ và nhân dân,

truyền thông báo chí khó có thể so sánh bởi vị trí độc quyền và ảnh hưởng đặc biệt, đại diện cho sự uy quyền của chủ trương, ý chí và tiếng nói của Đảng, chính phủ và đa số quần chúng nhân dân, cộng đồng trong và ngoài nước

Thứ hai, thể hiện hình thái ý thức chính thống trong truyền thông xã hội

cùng giá trị quan chính thống, là hình thái ý thức xã hội chủ nghĩa, thích hợp với giá trị quan, duy trì và hướng dẫn phát triển xã hội chủ đạo theo con đường của Đảng cộng sản Trung Quốc, phải có sức ảnh hưởng lớn

Trang 31

Thứ ba, phải có độ tin cậy lớn Căn cứ dựa trên những hành động và

suy nghĩ, đưa ra những báo cáo và bình luận giành được sự quan tâm của quần chúng nhân dân Phân tích và đánh giá, trích dẫn các thông tin truyền tải truyền thông trong và ngoài nước

Thứ tư, phải cùng với việc báo cáo tình hình chính trị trong nước và

quốc tế, kinh tế, văn hóa và xu hướng chủ yếu của các lĩnh vực khác, là lịch

sử ghi lại bối cảnh phát triển

Thứ năm, các nhà báo phải là những người đại diện cho quần chúng

nhân dân các giới trong xã hội

Thứ sáu, phải là trang báo có số lượng phát hành lớn, độc giả nhiều, số

lượng tiêu thụ, có ảnh hưởng lớn đối với công chúng

Trong thời kì lịch sử mới, số lượng và chất lượng của các phương tiện truyền thông chính thống đã xuất hiện và có những thay đổi to lớn Tuy nhiên, thuộc tính và vị trí chính trị của nó thì không có thay đổi nhiều Vì vậy, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nhấn mạnh, bản chất của Đảng chính là sự biểu hiện tập trung Tính chất báo chí của Đảng chính là sự tập trung thể hiện sự nghiệp báo chí Lý Trường Xuân - Ủy viên thường vụ Bộ chính trị của Ủy ban Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc cùng với tổng biên tập trường truyền thông của trung ương Đảng một lần phát biểu đã chỉ ra rằng việc giai cấp tư sản cho rằng tuyên truyền tin tức trên những tờ báo chính là những ―công cụ

xã hội‖, ―quyền lực thứ tư‖, phản đối việc quản lí tin tức, thực chất là việc phủ định nguyên tắc tin tức của Đảng, phủ nhận tính chất của các phương tiện thông tin là cơ quan ngôn luận của Đảng và nhân dân, phủ nhận công tác lãnh đạo của Đảng đối với thông tin Lý Trường Xuân đã cho thấy mục đích cuối cùng của giai cấp tư sản là làm nhầm lẫn tư tưởng của mọi người, hủy hoại Đảng và Nhà nước Trung Quốc Ông khẳng định ―Trong thế giới hiện nay, ai

là người có thủ đoạn truyền thông sẽ đi trước, năng lực truyền thông sẽ ngày càng mạnh; ai giành được quyền ngôn luận quốc tế, sẽ tạo ra được sức ảnh hưởng mạnh đối với quốc tế Như vậy, một quốc gia mà quyền ngôn luận yếu

Trang 32

trên trường quốc tế thì sẽ khó bảo toàn hình ảnh truyền thông của họ trong hình tượng quốc gia mình‖ [68]

Bản chất của báo chí chính là sự khách quan, là cơ quan ngôn luận của nhân dân Tuy nhiên, ở một khái cạnh khác, giới lãnh đạo Trung Quốc đã khai thác triệt để tính chính trị của báo chí, sử dụng báo chí là công cụ để tuyên truyền cho đường lối, sức mạnh của Đảng cộng sản Trung Quốc Vì vậy, giới lãnh đạo của Trung Quốc qua các thời kỳ đã nhận thức rất rõ về đặc trưng của báo chí và họ đã biến báo chí trở thành một công cụ hữu hiệu của chính quyền

từ trung ương cho tới địa phương Đặc biệt đối với vấn đề xung đột biển Đông, Trung Quốc đã thực sự biến truyền thông trở thành công cụ ―quyền lực thứ tư‖ , Trung Quốc đã biến từ việc trên lịch sử pháp lý hai quần đảo Trường Sa

và Hoàng Sa là của Việt nam và Trung Quốc không hề có chủ quyền trên hai quần đảo này, đến nay với việc sử dụng phương tiện truyền thông, Trung Quốc đã tuyên truyền từ cái không thể thành có thể với nhân dân trong nước

về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Còn với dư luận quốc tế Trung Quốc dường như đã mặc định rằng Trung Quốc có chủ quyền trên hai quần đảo trên Báo mạng điện tử Trung Quốc đã tuyên truyền làm sai lệch thông tin về Biển Đông, tạo ra những dư luận không tốt,

gây hiểu nhầm và kích động chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc

1.3 Nhiệm vụ của Nhân dân nhật báo và Hải Nam nhật báo đối với vấn đề xung đột Biển Đông

Trong bối cảnh hiện nay, truyền thông đã sớm được xác định có vai trò quan trọng trong chính trị cũng như ngoại giao của Trung Quốc Chúng tôi

tiến hành khảo sát trường hợp Nhân dân nhật báo làm đại diện tiếng nói của Trung ương vì Nhân dân nhật báo là tờ báo đại diện cho cơ quan ngôn luận

của Trung ương Đảng cộng sản Nhân dân Trung Quốc Nó có tầm quan trọng rất lớn và dành được sự quan tâm của đông đảo dư luận trong và ngoài nước

Hải Nam nhật báo (báo đại diện cho tiếng nói địa phương) là tờ báo đại diện

Trang 33

cho cơ quan ngôn luận của tỉnh ủy Hải Nam - tỉnh có lợi ích liên quan trực tiếp từ Biển Đông Hai báo mạng này đều là báo truyền thông chính thống ở Trung Quốc Vì vậy, thông qua nghiên cứu hai trường hợp này, chúng ta có thể nhận diện rõ hơn vai trò của truyền thông mạng đối với vấn đề xung đột Biển Đông

Nhân dân nhật báo được thành lập năm 1948, là cơ quan ngôn luận

chính thức của Đảng cộng sản Trung Quốc, là báo quyền lực nhất ở Trung Quốc,

vì vậy nó cũng có ảnh hưởng đối với quốc tế Tính đến ngày 1 tháng 1 năm

2009, Nhân dân nhật báo đã phát hành được 235 triệu bản [108]

Với tư cách là tờ báo chính thống lớn nhất của Trung Quốc, năm 1992,

Nhân dân nhật báo đã được UNESCO công nhận là một trong mười tờ báo lớn

nhất thế giới Kể từ khi thành lập, Nhân dân nhật báo luôn tuân thủ đúng theo

đường lối, chính sách của Đảng, tích cực thúc đẩy các quyết sách lớn, phổ biến kịp thời các thông tin trong các lĩnh vực khác nhau trong và ngoài nước

Nhân dân nhật báo có lịch sử bề dày là công cụ truyền tải những đường

lối, được mở rộng quy mô trở thành trang mạng lớn – là cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng cộng sản Trung Quốc thì nó càng phát huy vai trò chính

trị của mình Do đó, Nhân dân nhật báo có một vị trí quan trọng trong báo mạng điện tử Trung Quốc Hiện nay, báo mạng Nhân dân nhật báo sử dụng

15 ngôn ngữ, 16 loại văn bản khác nhau, có khoảng hơn 70 cơ sở trong và ngoài nước Mỗi ngày mỗi giờ luôn cập nhật những thông tin mới nhất và

phong phú Vì vậy, Nhân dân nhật báo là tờ báo có ảnh hưởng khá lớn ở

Trung Quốc và trên thế giới

Bài phát biểu của chủ tịch Hồ Cẩm Đào ngày 20 tháng 6 năm 2008,

trong chuyến thăm nhân kỷ niệm 60 năm thành lập Nhân dân nhật báo đã khẳng định sự quan tâm đặc biệt của Trung ương Đảng Trung Quốc tới Nhân

dân nhật báo Nhân dân nhật báo đã luôn truyền đạt đúng những tư tưởng,

đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Trung Quốc và có vai trò quan trọng trong công cuộc cải cách và xây dựng đất nước Đặc biệt từ sau cải cách đến

Trang 34

nay, Nhân dân nhật báo đã tuyên truyền sâu rộng hệ thống lí luận Chủ nghĩa

xã hội mang đặc sắc Trung Quốc Hơn nữa Nhân dân nhật báo luôn phát huy

tốt vai trò của mình đối với việc định hướng tư tưởng của nhân dân và định

hướng công chúng dư luận Nhân dân nhật báo là bộ mặt của Trung ương

Đảng Trung Quốc, vì vậy Hồ Cẩm Đào đã chỉ ra rằng, sự nghiệp phát triển

của Nhân dân nhật báo phải theo đi định hướng của Trung ương Đảng cộng

sản Trung Quốc, yêu cầu mọi thông tin cần phải có tính chuẩn xác, nhanh nhạy, phải làm tốt công việc là mối liên hệ giữa Đảng cộng sản Trung Quốc với nhân dân, thúc đẩy sự phát triển hòa hợp của xã hội [62] Trong bài phát biểu này, ông cũng đưa ra nhiệm vụ phát triển trong thời gian tới cho

Nhân dân nhật báo:

Thứ nhất, phải luôn luôn tuân thủ theo nguyên tắc của Đảng, định

hướng cho dư luận

Thứ hai, phải lấy nhân dân làm gốc, tăng cường mối liên hệ giữa các

bài tin tức, tăng tính hấp dẫn cho các bài báo

Thứ ba, Nhân dân nhật báo phải không ngừng đổi mới, nâng cao tính

hiệu quả và phù hợp để định hướng dư luận

Thứ tư, phải không ngừng mở rộng báo mạng chính thống mà phải

thành lập các báo mạng mới, tạo ra nhiều định hướng cho dư luận

Thứ năm, ông nhấn mạnh Nhân dân nhật báo phải việc xây dựng đội

ngũ, bồi dưỡng nhân tài để làm tốt công tác tuyên truyền đường lối của Đảng

Ngay đầu năm mới 2013, Nhân dân nhật báo cũng có bài viết nói rằng

Nhân dân nhật báo sẽ cố gắng nói sự thật, việc thật, để bài viết có chất lượng,

hợp lí, ngôn ngữ gần gũi, hấp dẫn người đọc, khả năng hiển thị và hợp lí với người đọc, là một dịch vụ thực sự cho người đọc

Như vậy, Nhân dân nhật báo trong nhận thức của giới lãnh đạo Trung Quốc có nhiệm vụ quan trọng trong công tác phục vụ, tuyên truyền của Đảng cộng sản Trung Quốc Nhân dân nhật báo cần phải phát huy hơn nữa vai trò

và tầm quan trọng của mình trước giới truyền thông trong và ngoài nước

Trang 35

Hải Nam nhật báo là tờ báo chính thức của Tỉnh ủy Hải Nam Báo xuất

bản lần đầu tiên là tháng 7 năm 1950 Trong vòng hơn 60 năm phát triển, Hải

Nam nhật báo ngày càng mở rộng quy mô phát triển của mình và thu hút hàng

triệu độc giả đón đọc Kể từ khi cải cách mở cửa, Hải Nam nhật báo đề ra mục

tiêu và nhiệm vụ của mình là tuân thủ đúng nguyên tắc và chính xác của Đảng cộng sảnTrung Quốc, khẳng định là một tờ báo có ảnh hưởng của Đảng Năm

2013, Hải Nam nhật báo đã giành được giải thưởng nằm trong top 10 tờ báo

Trung Quốc và giải ―Báo địa phương có sức ảnh hưởng nhất toàn quốc‖ [146]

Hải Nam nhật báo là một nhánh đưa tin tức nằm trong hệ thống đưa tin

của mạng Biển Đông Trung Quốc bao gồm Nam quốc đô thị báo, Hải Nam

nhật báo, pháp chế thời báo, Nam đảo báo chiều, chứng khoán đạo báo và báo mạng biển Đông Đối với vấn đề xung đột Biển Đông, Hải Nam nhật báo

với tư cách trang mạng internet đại diện của Hải Nam – tỉnh có tranh chấp trực tiếp với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đã thể hiện rất mạnh mẽ các quan điểm bảo vệ cho lợi ích cốt lõi của Trung Quốc Vì vậy, mọi thông tin liên quan đến xung đột ở Biển Đông sẽ được trang báo này cập

nhật liên tục, nhanh chóng, kèm theo rất nhiều bình luận Hải Nam nhật báo

hoạt động với phương châm tuân thủ nguyên tắc của một báo chính trị, tuân

thủ định hướng dư luận, Hải Nam nhật báo là trang báo đưa tin về xung đột

Biển Đông với lượng bài tương đối nhiều Ngày 31 tháng 10 năm 2008, Hải

Nam nhật báo đã có phiên bản mới Việc sửa đổi Hải Nam nhật báo tuân thủ

đúng theo luật truyền thông để làm nhiệm vụ định hướng dư luận của báo

Đảng

Tiểu kết:

Thông qua tìm hiểu nhận thức của giới lãnh đạo Trung Quốc đối với các chính sách ngoại giao truyền thông có thể thấy, truyền thông có vai trò to lớn trong các quyết sách ngoại giao Một mặt, truyền thông Trung Quốc luôn hướng tới việc xây dựng hình ảnh quốc gia là một cường quốc công bằng, dân chủ, truyền bá văn hóa Trung Hoa Mặt khác, truyền thông Trung Quốc lại

Trang 36

ngầm chuyển hóa thành chiến thuật để định hướng dư luận theo những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, ngay cả khi điều đó đi ngược lại với sự thật Tất cả mục tiêu cuả truyền thông, đặc biệt là báo mạng điện tử Trung Quôc đều nhằm phục vụ cho lợi ích cốt lõi của quốc gia này Với nhận thức như vậy,

đô ̣ng của sức ma ̣nh mềm văn hóa đối v ới các nước láng giềng Đông Nam Á

và thế giới Trung Quốc kì vo ̣ng sẽ lôi kéo , dẫn dắt các nước Đông Nam Á đang phát triển dưới hình thức hợp tác hòa bình Thế nhưng, có một nghịch lí đang tồn ta ̣i là: Mô ̣t mă ̣t, các kênh truyền thông Trung Quốc vẫn không ngừng

lă ̣p đi lă ̣p la ̣i thông điê ̣p ―để thế giới lí giải Trung Quốc , để Trung Quốc đi ra thế giới‖, ―Trung Quốc phát triển hòa bình‖ như mô ̣t chiến pháp ―mưa dầm thấm lâu‖ tác đô ̣ng vào nhâ ̣n thức của dư luâ ̣n Nhưng mă ̣t khác, quốc gia này vẫn tiến hành các hành đ ộng gia tăng căng thẳng , không đếm xỉa đến lợi ích

tỏ ra là một ―đối tác có trách nhiệm‖ trong các vấn đề toàn cầu Đặc biệt, sau khi Trung Quốc đưa ra tuyên b ố lợi ích cốt lõi tại Biển Đông cùng viê ̣c gia tăng những hành xử gây hấn tại Biển Đông, quốc gia này đã thu hút mạnh hơn

sự quan tâm của dư luận trên các diễn đàn quốc tế và nhận phải những phản ứng trái chiều từ dư luận Vậy từ nhận thức đến hành động của truyền thông Trung Quốc như thế nào? Đây cũng là nội dung mà chúng tôi sẽ tiếp tục bàn ở chương 2

Trang 37

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG THỨC TRUYỀN THÔNG CỦA BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ TRUNG QUỐC VỚI VẤN ĐỀ XUNG ĐỘT BIỂN ĐÔNG

2.1 Mục đích và phương thức tổ chức hoạt động của truyền thông

Truyền thông chỉ trở thành sức mạnh khi nó có các phương thức truyền thông tác động hiệu quả [38] Do vậy, để làm cho các phương thức truyền thông có hiệu quả thì cần phải hiểu rõ bản chất, mục đích của truyền thông là

gì, từ đó mới có thể đưa ra được cách thức truyền đạt thông tin Các nghiên cứu mà chúng tôi khảo sát cho thấy, mục đích và phương thức tổ chức hoạt động truyền thông có các loại hình truyền thông như: sau: 1) thông tin – giáo dục – truyền thông; 2) truyền thông thay đổi hành vi; 3) truyền thông vận động xã hội Trong đó:

Thông tin – giáo dục – truyền thông là loại hình truyền thông có chủ

đích, sử dụng, phối hợp ba dạng truyền thông ứng với ba mục tiêu cụ thể là: 1) Thông tin (cung cấp những thông tin cơ bản, bao gồm các kiến thức nền, kiến thức về vấn đề cần truyền thông, phù hợp với nhóm đối tượng truyền thông) cho nhóm đối tượng chuyên biệt; 2) Giáo dục theo định hướng giá trị cụ thể

về nhận thức, hiểu biết và các kỹ năng cần đạt tới; 3) Truyền thông (chia sẻ, trao đổi thông tin, kiến thức để nhân lên những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm nhằm thúc đẩy những thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng tiếp nhận) Chính vì vậy, ba mục tiêu này hướng tới mục tiêu cung cấp, chia sẻ, trao đổi thông tin, kiến thức, từng bước định hướng các giá trị cho đối tượng tiếp nhận Cho nên, vấn đề tạo lập môi trường thông tin – giao tiếp phong phú, đa dạng và nhiều chiều có ý nghĩa rất quan trọng [38]

Truyền thông vận động xã hội là loại hình truyền thông với các nhóm

đối tượng xác định nhằm tạo ra sự đồng thuận, ủng hộ mục tiêu chiến dịch truyền thông Truyền thông – vận động xã hội nhằm tham gia giải quyết các vấn đề lớn liên quan đến cộng đồng và dư luận xã hội Thông qua giới truyền

Trang 38

thông sẽ tác động tới công chúng dư luận xã hội theo hướng có lợi cho chiến dịch truyền thông – vận động xã hội [38]

Truyền thông thay đổi hành vi là hoạt động truyền thông lấy việc thay

đổi hành vi làm mục đích trực tiếp, có kế hoạch nhằm tác động vào tình cảm,

lý trí của các nhóm đối tượng, từ đó nâng cao nhận thức, kỹ năng, hình thành thái độ tích cực, làm cho đối tượng chấp nhận và duy trì hành vi mới có lợi cho các vấn đề truyền thông trong việc tham gia giải quyết các vấn đề xã hội Truyền thông thay đổi hành vi cũng là một quá trình truyền thông, nhưng nó lấy mục tiêu thay đổi hành vi và duy trì bền vững hành vi làm tiêu chí chủ yếu đánh giá những nỗ lực và mức độ thành công của hoạt động truyền thông [38]

Tuyên truyền là loại hình truyền thông đặc thù Đó là quá trình truyền

thông dựa trên mô hình truyền thông một chiều, áp đặt làm cơ sở lý thuyết và phương châm hoạt động Mô hình truyền thông đặc thù này được sử dụng chủ yếu trong hoạt động chính trị - tuyên truyền chính trị [38]

Giới lãnh đạo Trung Quốc hiểu rất rõ mục đích và phương thức tổ chức của truyền thông Bởi vậy, việc sử dụng truyền thông, đặc biệt truyền thông mạng của nước này phát triển khá nhanh và từng bước trở thành ―quyền lực thứ 4‖ tại Trung Quốc Để truyền thông thực sự trở thành một ―công cụ‖ đắc lực phục vụ cho lợi ích của Trung Quốc, giới cầm quyền đã có những chiến lược phát triển cụ thể cho truyền thông, đặc biệt là báo mạng Những chiến lược được Trung Quốc xây dựng đã cho thấy gồm các hoạch định nước này xác định rất rõ các phương thức truyền thông của báo mạng Trung Quốc

2.2 Phương thức truyền thông của báo mạng điện tử Trung Quốc với vấn đề xung đột Biển Đông

Trong quá trình thống kê, phân loại, chúng tôi đã tiến hành so sánh các

bài báo liên quan đến vấn đề xung đột Biển Đông của Nhân dân nhật báo và

Hải Nam nhật báo với ba tiêu chí: 1) So sánh số lượng các bài báo có nội

dung liên quan đến vấn đề xung đột Biển Đông của hai báo mạng trên từ tháng 5/2013 đến 2014; 2) So sánh nội dung thể hiện của các bài báo Trong

Trang 39

nội dung thể hiện sẽ chia làm ba lĩnh vực: 3) Thông tin, phỏng vấn và bình luận; So sánh tần số các sự kiện chủ yếu Trong đó bao gồm: Trao đổi cấp cao,

các bài viết của nhà báo (nguồn tin chính thức từ Hải Nam nhật báo và nguồn tin chính thức từ Nhân dân nhật báo) và các hoạt động khác

2.2.1 So sánh về số lượng bài báo

Việc tiến hành thống kê số lượng các bài báo có liên quan đến vấn đề

xung đột Biển Đông từ tháng 5 năm 2013 đến năm 2014 trên cả Nhân dân

nhật báo và Hải Nam nhật báo đã giúp chúng tôi thiết lập hai biểu đồ sau:

Biểu đồ 1: Tình hình số lượng bài báo trên Nhân dân nhật báo về vấn đề

xung đột Biển Đông từ tháng 5 năm 2013 đến năm 2014

Biểu đồ 1 cho thấy, số lượng bài báo viết về Biển Đông năm 2013 khá nhiều so với năm 2014 Theo thống kê của chúng tôi, chỉ trong 8 tháng năm

2013 (tính từ tháng 5 năm đến tháng 12) Nhân dân nhật báo đã có 79 bài báo

liên quan đến vấn đề Biển Đông Trong khi đó cả năm 2014, báo này chỉ có

64 bài viết về vấn đề Biển Đông Vào tháng 5 năm 2014 thời điểm xung đột Biển Đông diễn ra khi Trung Quốc đặt giàn khoan Haiyang 981 vào vùng biển thềm lục địa của Việt Nam.Hành động này đã đẩy quan hệ Việt – Trung vào tình huống nhạy cảm Sự nhạy cảm trong quan hệ đã tác động tiêu cực

Trang 40

đến ngoại giao hai nước, nhiều hoạt động giao lưu giữa Việt Nam – Trung Quốc bị hủy bỏ Do đó, các tin bài phản ánh các sự kiện ngoại giao trong năm

2014 là không nhiều

Biểu đồ 1 cũng thể hiện, trong năm 2013, tần số các bài báo nhiều nhất

là do vào thời điểm này, các lãnh đạo cấp cao Việt Nam có nhiều cuộc viếng thăm Trung Quốc nên các bài báo đưa nhiều tin Đây là năm quan hệ Việt – Trung diễn ra khá suôn sẻ Hầu hết các bản tin được đăng tải có nội dung mang tính chất thông báo sự kiện chứ không mang tính chất bình luận Tháng

5 năm 2014 là tháng đỉnh điểm với số lượng bài báo đề cập đến xung đột Biển Đông lên đến 17 bài báo Đây là thời điểm này Việt Nam và Trung Quốc đang xảy ra xung đột khi nước này đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển chủ quyền của Việt Nam

Biểu đồ 2: Tình hình số lượng bài báo trên Hải Nam nhật báo về vấn đề xung

đột Biển Đông từ tháng 5 năm 2013 đến năm 2014

Biểu đồ 2, cho thấy, Hải Nam nhật báo có số lượng bài báo về Biển

Đông trong hai năm khá nhiều Trong 8 tháng năm 2013 có 56 bài viết về Biển Đông thì năm 2014 cũng có 64 bài viết về Biển Đông Như vậy, năm

2013 Hải Nam nhật báo có số lượng bài đăng tương đối giống với Nhân dân

Tháng 4

Tháng 5

Tháng 6

Tháng 7

Tháng 8

Tháng 9

Tháng 10

Tháng 11

Tháng 12

2013 2014

Ngày đăng: 19/06/2016, 10:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lưu Văn An (2008), ―Vai trò của truyền thông đại chúng trong hoạt động của cơ quan hành pháp các nước phương Tây‖, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 11, tr 52 – 58 Khác
2. Nguyễn Thị Lan Anh (2014), ―Đánh giá các lựa chọn pháp lý của Việt Nam trong vụ việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan 981‖, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 5 (153), tr 70 – 74 Khác
3. Dương Quốc Bảo (2014), ―Thông tin đối ngoại về vấn đề Biển Đông cho học sinh, sinh viên Việt Nam ở nước ngoài‖, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 8, tr 53 – 56 Khác
4. Lê Thanh Bình (2008), ―Tương tác giữa truyền thông đại chúng quốc tế với khoa học – công nghệ và việc đưa tin của truyền thông Châu Á về vấn đề quốc tế, khoa học công nghệ quốc tế‖, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, số tháng 5, tr 59 – 64 Khác
5. Đỗ Minh Cao (2015), ―Việt Nam và Biển Đông: Hiện trạng và khuynh hướng‖, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 5 (153), tr 57 – 69 Khác
6. Hoàng Đình Cúc (2009), ―Vai trò của báo chí truyền thông đối với sự ổn định và phát triển ở Tây Nguyên‖, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 10, tr 11 -15 Khác
7. Nguyễn Thùy Chi (2012), ―Báo điện tử trong công tác thông tin đối ngoại – vai trò , ưu thế và những vấn đề đặt ra‖, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 12, tr 57- 59 Khác
8. Phạm Di (2010), ―Dư luận xã hội và ổn định xã hội‖, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 11, tr 37 – 41 Khác
9. Đỗ Quý Doãn (2014), ―Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam‖, NXB thông tin và truyền thông Khác
10. Vũ Thị Vân Dung (2014), ―Quản lý nhà nước về biển đảo ở Trung Quốc và một số gợi mở đối sách cho Việt Nam‖, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 5 (153), tr 76 – 88 Khác
11. Hà Minh Đức (1997), ―Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn‖, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Khác
12. Nguyễn Thị Trường Giang (2012), ―Đưa giá trị của báo chí vào truyền thông xã hội‖, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 8, tr 63 – 65 Khác
13. Nguyễn Thị Trường Giang (2012), Vi phạm đạo đức nghề nghiệp trong khai thác và xử lý thông tin trên báo mạng điện tử, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 12 Khác
14. Đỗ Thu Hà (2013), ―Đạo đức trong truyền thông giải trí tại Việt Nam‖, Hội thảo quốc tế Đạo đức và công nghệ tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN Khác
15. Lê Thu Hà (2008), ―Tác động tiêu cực của quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đại chúng đến công chúng hiện nay‖, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, số tháng 10, tr 41 – 43 Khác
16. Nguyễn Thị Bích Hạnh (2011), ―Những yếu tố chi phối hiệu quả lao động của phóng viên báo mạng điện tử‖, Tạp chí Lý luận và truyền thông số tháng 12, tr 45 – 47 Khác
17. Đinh Thị Thúy Hằng (2011), ―Tính chuyên nghiệp khi khai thác nguồn tin và đạo đức nghề nghiệp của nhà báo‖, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 7, tr 12 – 16 Khác
18. Nguyễn Thị Phương Hoa, Nguyễn Thị Thùy (2013), Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc năm 2012, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số tháng 2 Khác
19. Đặng Thị Thu Hương (2013), ―Công nghệ truyền thông và Đạo đức báo chí trong kỷ nguyên kỹ thuật số‖, Hội thảo quốc tế Đạo Đức và Công nghệ tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn, ĐHQGHN Khác
20. Phạm Huy Kiên (2014), ―Về vấn đề vi phạm đạo đức nghề nghiệp của nhà báo trong sáng tạo tác phẩm báo chí cho báo mạng điện tử‖, tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 7, tr 33 – 37 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Một số dẫn chứng về nội dung thể hiện của Nhân dân nhật báo - Phân tích tác động của báo mạng điện tử trung quốc với vấn đề xung đột biển đông từ tháng 5 năm 2013 đến hết năm 2014 ( nghiên cứu trường hợp nhân dân nhật báo và hải nam nhật báo)
Bảng 2 Một số dẫn chứng về nội dung thể hiện của Nhân dân nhật báo (Trang 44)
Bảng 3: Một số dẫn chứng về nội dung thể hiện của Hải Nam nhật báo - Phân tích tác động của báo mạng điện tử trung quốc với vấn đề xung đột biển đông từ tháng 5 năm 2013 đến hết năm 2014 ( nghiên cứu trường hợp nhân dân nhật báo và hải nam nhật báo)
Bảng 3 Một số dẫn chứng về nội dung thể hiện của Hải Nam nhật báo (Trang 47)
Bảng 4: Trích dẫn comment của dƣ luận Trung Quốc với vấn đề xung - Phân tích tác động của báo mạng điện tử trung quốc với vấn đề xung đột biển đông từ tháng 5 năm 2013 đến hết năm 2014 ( nghiên cứu trường hợp nhân dân nhật báo và hải nam nhật báo)
Bảng 4 Trích dẫn comment của dƣ luận Trung Quốc với vấn đề xung (Trang 57)
Hình thức thể hiện  Sự kiện chủ yếu - Phân tích tác động của báo mạng điện tử trung quốc với vấn đề xung đột biển đông từ tháng 5 năm 2013 đến hết năm 2014 ( nghiên cứu trường hợp nhân dân nhật báo và hải nam nhật báo)
Hình th ức thể hiện Sự kiện chủ yếu (Trang 101)
Hình thức thể hiện  Sự kiện chủ yếu - Phân tích tác động của báo mạng điện tử trung quốc với vấn đề xung đột biển đông từ tháng 5 năm 2013 đến hết năm 2014 ( nghiên cứu trường hợp nhân dân nhật báo và hải nam nhật báo)
Hình th ức thể hiện Sự kiện chủ yếu (Trang 117)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w