1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ dạy học cho trẻ khuyết tật tại trường mầm non thăng long kidmart

96 571 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đề tài: ― Ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ dạy học cho trẻ khuyết tật tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart” nhằm tìm ra những phương pháp phù hợp hỗ trợ cho trẻ trong c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐINH THỊ MAI

ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC HỖ TRỢ DẠY HỌC CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRƯỜNG

MẦM NON THĂNG LONG KIDSMART

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

Năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐINH THỊ MAI

ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC HỖ TRỢ DẠY HỌC CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRƯỜNG

MẦM NON THĂNG LONG KIDSMART

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thị Hoàng Yến

Năm 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để luận văn tốt nghiệp được hoàn thành, ngoài những nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được nguồn động viên lớn lao từ gia đình, từ phía nhà trường mầm non Thăng Long Kidsmart, từ phía gia đình có trẻ khuyết tật đang theo học tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy cô giáo trong khoa Xã hội học, bộ môn Công tác xã hội, đặc biệt là cô giáo Nguyễn Thị Hoàng Yến

đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin trân thành cảm ơn sự giúp đỡ, hợp tác của các gia đình có trẻ khuyết tật đang theo học tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart đã tạo điều kiện để tôi thực hành, ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ cho trẻ khuyết tật tại trường mầm non

Đặc biệt tôi xin trân thành cảm ơn tới sự kết hợp, hợp tác của các em học sinh khuyết tật, các cô giáo viên chuyên biệt, phụ huynh trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hành, ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm

Trong quá trình thực hiện luận văn này, mặc dù cá nhân tôi đã luôn nỗ lực để hoàn thành tốt, nhưng do chưa có nhiều điều kiện để ứng dụng, thực hành công tác xã hội, chưa có nhiều kinh nghiệm khi làm việc nhóm với trẻ khuyết tật nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vây, tôi rất mong nhận được những đóng góp quý báu của các thầy cô và các bạn

Hà Nội, Tháng 4 năm 2015

Học viên: Đinh Thị Mai

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào

Tác giác luận văn

Đinh Thị Mai

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Tổng quan về đề tài nghiên cứu 2

3.Ý nghĩa của nghiên cứu 4

4 Câu hỏi nghiên cứu 4

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giả thuyết nghiên cứu 5

7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

8 Phương pháp nghiên cứu 5

9 Phạm vi nghiên cứu 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC TRỢ GIÖP TRẺ KHUYẾT TẬT TRƯỜNG MN THĂNG LONG KIDSMART 7

1.1.Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 7

1.1.1.Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1908 – 1970) 7

1.1.2.Lý thuyết hệ thống 9

1.2.Trẻ khuyết tật, giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trong trường mầm non 9

1.2.1.Trẻ khuyết tật 9

1.2.1.1.Khái niệm trẻ khuyết tật 9

1.2.1.2.Phân loại trẻ khuyết tật 10

1.2.1.3.Một số nguyên nhân gây khuyết tật ở trẻ em 12

1.2.1.4.Đặc điểm phát triển tâm lí của trẻ khuyết tật lứa tuổi mầm non 13

1.2.2.Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật lứa tuổi mầm non 14

1.2.2.1.Khái niệm giáo dục hòa nhập 14

Trang 7

1.2.2.2.Bản chất của giáo dục hòa nhập 15

1.2.2.3.Đặc điểm giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật lứa tuổi mầm non 16

1.3.Phương pháp công tác xã hội nhóm 17

1.3.1.Khái niệm công tác xã hội và công tác xã hội nhóm 17

1.3.2.Tiến trình công tác xã hội nhóm 18

1.3.3.Mô hình giáo dục tâm lý trong công tác xã hội nhóm 24

1.4.Ứng dụng CTXH nhóm trong việc trợ giúp trẻ khuyết tật 24

1.4.1.Mục tiêu ứng dụng CTXH nhóm trong việc trợ giúp TKT 24

1.4.2.Nội dung ứng dụng CTXH nhóm trong trợ giúp TKT 24

1.4.3.Ứng dụng Công tác xã hội nhóm trong việc trợ giúp trẻ khuyết tật 25

1.4.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ trẻ khuyết tật………26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRỢ GIÖP TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRƯỜNG MẦM NON THĂNG LONG KIDSMART 27

2.1.Vài nét về địa bàn và đối tượng khảo sát 27

2.1.1.Cơ sở vâ ̣t chất của Thăng Long Kidsmart 27

2.1.2.Sơ đồ hoạt động của trường 28

2.2.Thực trạng ứng dụng CTXH nhóm trong việc hỗ trợ trẻ KT học HN tại trường MN Thăng Long KidSmart 29

2.2.1.Giới thiệu khái quát về quá trình khảo sát 29

2.2.2.Kết quả khảo sát thực trạng và phân tích kết quả 30

2.2.2.1.Thực trạng về mức độ phát triển của trẻ khuyết tật tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart 30

2.2.2.2.Thực trạng nhận thức của giáo viên, phụ huynh về việc hỗ trợ trẻ khuyết tật tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart 31

2.2.2.3.Thực trạng trợ giúp trẻ khuyết tật tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart……… 32

2.2.3.Nhận xét kết quả khảo sát 34

Trang 8

2.2.4.Đánh giá chung về thực trạng biện pháp phát triển phương pháp công tác

xã hội cho trẻ khuyết tật 35

2.2.4.1.Về mặt tích cực 35

2.2.4.2.Về mặt hạn chế 35

2.2.5.Nguyên nhân của thực trạng 36

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP VÀ THỰC NGHIỆM BIỆN PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC HỖ TRỢ TRẺ KHUYẾT TẬT HỌC HÕA NHẬP Ở TRƯỜNG MẦM NON 37

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp công tác xã hội nhóm……… 37

3.2 Đề xuất biện pháp ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ cho trẻ khuyết tật tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart 37

3.2.1.Biện pháp 1: Đánh giá mức độ phát triển hiện tại của trẻ 37

3.2.2.Biện pháp 2: Tạo môi trường thân thiện 54

3.2.3.Biện pháp 3: : Thành lập nhóm chuyên gia hỗ trợ trẻ khuyết tật tại trường mầm non thông qua tiến trình công tác xã hội nhóm 59

3.3.Mối quan hệ giữa các biện pháp 61

3.4.Thử nghiệm biện pháp công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ trẻ khuyết tật tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart 62

3.4.1.Mục đích của thử nghiệm 62

3.4.2.Phương pháp thử nghiệm 62

3.4.3.Chuẩn bị thử nghiệm 62

3.4.3.1.Xác định khó khăn và nhu cầu cần hỗ trợ của trẻ khuyết tật tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart 62

3.4.3.2 Các hệ thống tác động đến trẻ khuyết tật đang học tại trường mầm non 59

3.4.4.Tổ chức thực nghiệm 65

3.4.4.1.Điều kiện thực nghiệm 65

Trang 9

3.4.4.2.Chuẩn bị thực nghiệm 65

3.4.4.3.Tiến trình và theo dõi thực nghiệm 66

3.4.4.4.Đánh giá kết quả thực nghiệm 67

3.5.Đánh giá kết quả của thực nghiệm 67

3.6.Các kỹ năng đã sử dụng trong quá trình hoạt động nhóm 68

KẾT LUẬN ết luận 70

PHỤ LỤC 71

BẢNG HỎI THU THẬP THÔNG TIN VỀ GIA ĐÌNH TRẺ KHUYẾT TẬT ĐANG HỌC HÕA NHẬP TẠI TRƯỜNG MẦM NON THĂNG LONG KIDSMART 74

BẢNG TÌM HIỂU KHẢ NĂNG HÕA NHẬP TẠI LỚP CỦA TRẺ GDĐB NĂM HỌC 2014-2015……… 79

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU SỐ 01 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU SỐ 2 81

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU SỐ 3 83

DENVER II……… ……… 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 10

Theo số liệu điều tra dân số năm 2009, hiện nay ước tính cả nước có khoảng 5,1 triệu người khuyết tật, trong đó có khoảng 1,2 triệu trẻ khuyết tật và chỉ có 66,5% trẻ khuyết tật trong độ tuổi đi học được tới trường, trong khi tỷ lệ bình quân của trẻ em trên toàn quốc là 97% Các cơ sở chăm sóc ở Việt Nam vẫn chưa được trang bị tốt để chăm sóc cho trẻ khuyết tật Hệ thống hiện hành chủ yếu tập trung vào chăm sóc tại các cơ sở tập trung

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển giáo dục, hệ thống quản lý giáo dục trẻ khuyết tật được hình thành ở 64 tỉnh, thành phố và bước đầu đi vào hoạt động Hiện nay, trẻ khuyết tật đã được tạo điều kiện học tập cùng các trẻ bình thường trong lớp hòa nhập Đã có nhiều phương pháp giáo dục đặc biệt được áp dụng cho trẻ khuyết tật trong các trường học, trung tâm và cũng đạt được kết quả nhất định Tuy nhiên, việc tạo cơ hội cho các trẻ khuyết tật ở các dạng tật khác nhau được học, được chơi cùng nhau và được chơi cùng với các bạn bình thường vẫn là một trong những khó khăn lớn của các giáo viên tại các trường học và trung tâm đó Thực trạng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn Như đội ngũ giáo viên dạy trẻ khuyết tật hòa nhập còn thiếu, chưa được đào tạo chuyên sâu về giáo dục đặc biệt, vấn đề điều chỉnh nội dung, phương pháp giáo dục cho trẻ khuyết tật còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ đặc thù cho trẻ khuyết tật học hòa nhập chưa đáp ứng được yêu cầu

Như vậy, từ thực trạng nêu trên có thể thấy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật đang là vấn đề cấp thiết cần được xã hội quan tâm, nhất là những trẻ em đang ở lứa tuổi mầm non Giáo dục hòa nhập không chỉ là đưa trẻ khuyết tật vào một chương trình giáo dục chung với trẻ bình thường mà là thiết lập những kế hoạch hoạt động rõ ràng để đảm bảo cho trẻ khuyết tật được tham gia đầy đủ và tích cực những hoạt động trong lớp học, việc làm này có vai trò rất quan trong trong việc tạo cơ hội cho trẻ khuyết tật được tham gia, được công nhận như những trẻ em khác

Tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart, việc tổ chức chương trình giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật mang ý nghĩa nhân văn to lớn nhằm giúp đỡ những trẻ khuyết tật có khả năng học hòa nhập Tuy nhiên đây là trường học mới thành lập, đội ngũ giáo viên chuyên ngành giáo dục đặc biệt còn mỏng, trong khi giáo viên mầm non lại chưa có nhiều kinh nghiệm, phương pháp làm việc với trẻ khuyết tật, cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động chuyên biệt còn thiếu, số trẻ khuyết tật cùng độ tuổi còn chưa tập trung vào một lớp, những phụ huynh có trẻ khuyết tật vẫn

Trang 11

đề tài: ― Ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ dạy học cho trẻ khuyết

tật tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart” nhằm tìm ra những phương pháp

phù hợp hỗ trợ cho trẻ trong các hoạt động tại trường hòa nhập từ đó có những giải pháp kịp thời giúp cho trẻ khuyết tật học hòa nhập ngày càng có cơ hội hơn trong chính môi trường xã hội mà trẻ đang sống

2 Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu về TKT nói chung và công tác xã hội nhóm với trẻ khuyết tật nói riêng ở Việt Nam hầu như mới chỉ được bắt đầu vào khoảng thập kỷ 80 của thế

kỷ XX Từ năm 2000 trở lại đây, vấn đề TKT đã được nhiều ngành quan tâm nghiên cứu như tâm lý học, giáo dục học, y học Một loạt các trung tâm nuôi dạy TKT ra đời, các bệnh viện mở ra các khoa để can thiệp cho TKT, các Trường học

mở ra các lớp học chăm sóc – GDTKT là những điều kiện thuận lợi cho các nghiên cứu này

- Nghiên cứu về GDHN cho trẻ khuyết tật

Năm 2000, tác giả Trịnh Đức Duy trong cuốn ―Dạy học hoà nhập cho trẻ

khuyết tật” đã nhấn mạnh: Trong GDHN, gia đình, nhà trường, xã hội và cộng

đồng cần tạo ra sự hợp tác và giúp đỡ trẻ trong mọi hoạt động Trẻ khuyết tật là trung tâm của quá trình giáo dục, được tham gia đầy đủ và bình đẳng trong mọi

công việc của Nhà trường, Gia đình, Xã hội và cộng đồng [7]

Năm 2003, tác giả Hoàng Thị Phương [17] trong công trình ―Một số biện

pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5 – 6 tuổi‖, đã khai thác giao

tiếp dưới góc độ hành vi văn hóa sơ đẳng nhưng là cơ bản, phổ biến, đặc trưng cho lứa tuổi mẫu giáo lớn Đó là những kỹ năng mang tính nền tảng làm cơ sở để giáo

dục và phát triển sau này cho trẻ ở cấp tiểu học

Từ tháng 5 năm 2006 đến tháng 5 năm 2008 Đề tài câp bộ ―Xây dựng mô

hình trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật‖ Mã số:

B2006-37-22 của Nhóm nghiên cứu: CNĐT- TS Lê Văn Tạc thực hiện với Mục đích nghiên cứu là xây dựng mô hình trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật phù hợp với điều kiện Việt Nam nhằm góp phần thực hiện có hiệu quả

công tác giáo dục trẻ khuyết tật

Đề tài cấp bộ ―Xây dựng chương trình bồi dưỡng kĩ năng đặc thù cho giáo

viên dạy học các nhóm trẻ khuyết tật khác nhau‖ Mã số: B2006-37-24 Nhóm nghiên cứu: CNĐT- ThS Phạm Minh Mục; Thời gian thực hiện: 6/2006 đến 6/2008 Mục

tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng trong lĩnh vực giáo dục trẻ khuyết tật, nghiên cứu thực trạng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy trẻ khuyết tật, thực trạng giáo viên sử dụng kỹ năng đặc thù của giáo viên

Trang 12

3

đang trực tiếp dạy trẻ khuyết tật, kết quả học tập của học sinh khuyết tật nhằm định hướng và đề xuất xây dựng chương trình bồi dưỡng kỹ năng đặc thù cho giáo viên dạy học các nhóm trẻ khuyết tật khác nhau

Năm 2007, Năm 2008, tác giả Đào Thu Thủy với đề tài ―Xây dựng bài tập

phát triển giao tiếp tổng thể cho trẻ Tự kỷ tuổi mầm non‖ [24] Đề tài đã thiết kế 20

bài tập phát triển giao tiếp cho trẻ Tự kỷ 24 – 36 tháng dành cho phụ huynh Tuy nhiên chưa tiến hành thực nghiệm để kiểm nghiệm tính khả thi của các bài tập phát

triển giao tiếp tổng thể

Năm 2012, Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến trong cuốn ―Giáo dục đặc biệt

và những thuật ngữ cơ bản”, cũng đã nghiên cứu về Giáo dục hòa nhập (GDHN)

và đưa ra định nghĩa giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục trong đó trẻ khuyết tật cùng học với trẻ bình thường, trong trường phổ thông ngay tại nơi mình

sinh sống [28, trg.221] Giáo dục hòa nhập nhìn nhận trẻ khuyết tật dựa trên quan

điểm xã hội, khi cho rằng khiếm khuyết không phải chỉ do khiếm khuyết của bản thân cá thể mà còn là khiếm khuyết của xã hội Mọi trẻ khuyết tật đều có những năng lực nhất định, do đó mà trẻ khuyết tật được coi là chủ thể chứ không phải là đối tượng thụ động trong quá trình tiếp nhận các tác động giáo dục GDHN có bản chất riêng so với các phương thức giáo dục khác như: Giáo dục cho mọi đối tượng trẻ Đây là tư tưởng chủ đạo, yếu tố đầu tiên thể hiện bản chất của GDHN Trong giáo dục hoà nhập không có sự tách biệt giữa trẻ khuyết tật với trẻ không khuyết

tật Mọi trẻ đều được tôn trọng và đều có giá trị như nhau [28, trg.221]

- Nghiên cứu về phương pháp công tác xã hội nhóm

Trong bài viết của T.S Trần Văn Kham: ―Mô hình xã hội về khuyết tật và

áp dụng trong công tác xã hội với người khuyết tật ở Việt Nam” đăng gửi tạp trí

nhân lực xã hội, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Số 2/2015 cũng đã nói lên được thực trạng người khuyết tật trên thế giới và ở Việt Nam, mặc dù điều kiện sống của xã hội có nhiều biến đổi mạnh mẽ nhưng người khuyết tật vẫn đang phải đối mặt với những khó khăn và thách thức để hướng tới cuộc sống hòa nhập

Đề tài luận văn thạc sĩ: ―Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc

giải quyết vấn đề của người khuyết tật” của ThS Nguyễn Thị Huyền, tìm hiểu về

vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc tìm hiểu những khó khăn của người khuyết tật và gia đình người khuyết tật và giải quyết những khó khăn đó thông qua việc tìm kiếm cung cấp các dịch vụ cần thiết cho người khuyết tật và gia đình của

họ

Đề tài luận văn thạc sĩ: ―Xây dựng mô hình hỗ trợ trẻ tự kỷ và gia đình trẻ

tự kỷ trên địa bàn huyện Gia Lâm, Thành Phố Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp tại trung tâm hỗ trợ hòa nhập Gia Lâm)” của ThS Nguyễn Thị Trang, chuyên ngành

công tác xã hội, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2014) cũng đã phân tích rõ những khó khăn của trẻ khuyết tật và gia đình trẻ khuyết tật đang gặp phải và

đề xuất những biện pháp hỗ trợ trẻ tự kỷ cho gia đình, ứng dụng trong trường hợp

cụ thể tại trung tâm hỗ trợ hòa nhập Gia Lâm

Trang 13

4

Như vậy, nghiên cứu ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ cho trẻ khuyết tật học hòa nhập ở trường mầm non vẫn còn đang là đề tài mới chưa có nhiều nghiên cứu ứng dụng thực tiễn,Việc phân tích thực trạng trợ giúp trẻ khuyết tật tại trường mầm non hòa nhập ở trường mầm non và những đề xuất biện pháp ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ trẻ khuyết tật học hòa nhập tại trường mầm non Thăng Long KidSmart là một đề tài mới và có ý nghĩa rất quan trong trong việc tìm kiếm nguồn hỗ trợ cho trẻ khuyết tật học hòa nhập tại trường mầm non có được cơ hội được tham gia học hỏi, tham gia hoạt động nhóm như các

bạn học cùng lứa tuổi khác

3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc trợ giúp trẻ khuyết tật học hòa nhập tại trường mầm non Thăng Long KidSmart

3.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình trợ giúp trẻ khuyết tật trong trường mầm non hòa nhập

4 Ý nghĩa của nghiên cứu

4.1 Về mặt lí luận

Nghiên cứu công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ trẻ khuyết tật tại trường

mầm non Thăng Long Kidsmart nhấn mạnh tới việc nhìn nhận vấn đề khả năng tiếp

cận cơ hội học hòa nhập của trẻ khuyết tật dựa trên năng lực của trẻ và những rào cản xã hội mà trẻ đang gặp phải trong quá trình tiếp cận với giáo dục hòa nhập Nghiên cứu góp phần hệ thống hóa các khái niệm, quan điểm liên quan đến ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc trợ giúp trẻ khuyết tật học hòa nhập Đây là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành công tác xã hội

4.2 Về mặt thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu cung cấp những thông tin giá trị về thực trạng việc trợ

giúp trẻ khuyết tật học hòa nhập tại trường mầm non Thăng Long KidSmart

- Nghiên cứu này đề xuất các biện pháp ứng dụng CTXH nhóm trong việc trợ giúp trẻ khuyết tật tại trường mầm non hòa nhập, từ đó giúp trẻ khuyết tật tự tin

Trang 14

5

trường mầm non Thăng Long KidSmart nhằm hỗ trợ trẻ khuyết tật học hòa nhập tại trường mầm non

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc trợ giúp cho trẻ khuyết tật học hòa nhập ở trường mầm non

Nghiên cứu thực trạng việc trợ giúp trẻ khuyết tật tại trường mầm non hòa nhập Thăng Long KidSmart

- Đề xuất biện pháp ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc trợ giúp trẻ khuyết tật học hòa nhập tại trường mầm non Thăng Long KidSmart

6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

6.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Việc trợ giúp cho trẻ khuyết tật tại trường mầm non hòa nhập được diễn ra như thế nào?

- Trẻ khuyết tật gặp khó khăn gì trong quá trình học hòa nhập tại trường mầm non?

- Đã có những phương pháp trợ giúp giáo dục nào dành cho trẻ khuyết tật trong trường mầm non?

-Công tác xã hội nhóm có thể hỗ trợ trẻ khuyết tật học hòa nhập tại trường mầm non như thế nào?

6.2 Gỉa thuyết nghiên cứu

Việc trợ giúp cho trẻ khuyết tật tại trường mầm non hòa nhập Thăng Long KidSmart đã được quan tâm, tuy nhiên còn nhiều khó khăn, hạn chế Nếu đề xuất được biện pháp ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc trợ giúp trẻ khuyết tật học hòa nhập tại trường mầm non Thăng Long KidSmart phù hợp và đưa vào áp dụng sẽ giúp trẻ khuyết tật phát triển các khả năng và hòa nhập được với các trẻ bình thường

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp phân tích tài liệu:

Nghiên cứu này sử dụng các nguồn tài liệu khác nhau, các sách về công tác xã hội, công tác xã hội nhóm …Các bài viết đăng trên tạp chí xã hội, Internet đề cập đến những cách thức tương tác với trẻ khuyết tật đặc biệt là phương pháp công tác

xã hội nhóm Các tài liệu về Công tác xã hội

Mặt khác, đề tài cũng sử dụng những thành quả nghiên cứu của các đề tài đi trước về vấn đề công tác xã hội nhóm với trẻ khuyết tật Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng những tài liệu đề cập đến công tác xã hội nhóm với trẻ khuyết tật trong trường học hiện nay không nhiều, vẫn còn rất hạn chế Từ trước đến nay, mọi

Trang 15

6

nghiên cứu chỉ tập trung chủ yếu vào người khuyết tật cũng như cách thức hỗ trợ họ trong việc giúp đỡ về thể chất mà không tìm hiểu khía cạnh tương tác nhóm cũng như làm việc nhóm với trẻ khuyết tật để mang lại hiệu quả cao nhất cho trẻ khuyết tật

7.2 Phương pháp quan sát:

Phương pháp quan sát sử dụng trong luận văn nhằm thu thập những thông tin

có liên quan đến thái độ, hành vi, nhận thức của người chăm sóc trực tiếp cho trẻ khuyết tật

Việc quan sát được tiến hành thông qua những buổi phỏng vấn sâu diễn ra với người chăm sóc trực tiếp Cụ thể như sau:

-Mẹ của trẻ

- Giáo viên chăm sóc trẻ tại trường học

-Ban giám hiệu trường mầm non Thăng Long Kidsmart

Trong quá trình quan sát, các sự kiện, hiện tượng quan sát được đều được ghi chép lại Khi tiến hành phỏng vấn sâu, những hành vi của người được phỏng vấn cũng được ghi chép lại cẩn thận nhằm đánh gia các thông tin thu được, bổ trợ cho những thông tin thu được từ phương pháp khác

7.3 Phương pháp phỏng vấn sâu:

Đây là phương pháp đặc thù để thu thập thông tin trong nghiên cứu Xã hội học Thông qua việc tác động tâm lý – xã hội trực tiếp giữa người hỏi và người được hỏi nhằm thu thập thông tin phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Phỏng vấn sâu các đối tượng cụ thể như sau:

-Mẹ của trẻ

- Giáo viên chăm sóc trẻ tại trường học

-Ban giám hiệu trường mầm non Thăng Long Kidsmart

Phân tích ,tổng hợp, so sánh, khái quát hóa tài liệu

8 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành trên 17 trẻ khuyết tật đang học hòa nhập tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart Nghiên cứu chỉ ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ trẻ khuyết tật có khó khăn về giao tiếp đang học hòa nhập tại trường mầm non đồng thời tìm hiểu thêm về các phương pháp giáo dục mà nhà trường đang thực hiện để có cái nhìn bao quát hơn về đề tài

Trang 16

1.1.1 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1908 – 1970)

Abraham Maslow (1908 – 1970) nhà tâm lí học người Mỹ được thế giới biết đến như là tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn bởi hệ thống lý thuyết

về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người

Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần

Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó

và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người tư thấp đến cao.[12]

Sơ đồ 1: lý thuyết Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs – Maslow

Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người

như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục

Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được Đặc biệt là với trẻ em vì chúng phụ thuộc rất nhiều vào người lớn để được cung cấp đầy đủ các nhu cầu cơ bản này Ông quan niệm rằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con

Trang 17

8

người sẽ không thể tiến thêm nữa Với trẻ khuyết tật cũng vậy, trẻ có nhu cầu cao hơn về dinh dưỡng và các thành phần vi lượng so với các trẻ bình thường

Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh: An ninh và an toàn có nghĩa là một môi

trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người Để sinh tồn con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về sự an toàn Nhu cầu an toàn nếu không được đảm bảo thì công việc của mọi người sẽ không tiến hành bình thường được và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được Do đó chúng ta có thể hiểu vì sao những người phạm pháp và vi phạm các quy tắc bị mọi người căm ghét

vì đã xâm phạm vào nhu cầu an toàn của người khác Với trẻ khuyết tật Trẻ khuyết tật gặp nhiều khó khăn trong hoạt động và trong sinh hoạt, trong đó có nhiều hạn chế trong việc quan sát và phát hiện rủi ro và phòng tránh những rủi ro đó Vì vậy

nhu cầu an toàn của trẻ khuyết tật cũng cao hơn trẻ em khác

Nhu cầu xã hội: Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong

xã hội và được người khác thừa nhận Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau Nội dung của nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp hơn Bao gồm các vấn đề tâm lý như: Được

dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này Lòng thương, tình bạn, tình yêu, tình thân ái là nội dung lý lưởng mà nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận luôn theo đuổi Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại Ở một số trẻ khuyết tật có thể không được gia đình chấp nhận và yêu thương như những trẻ em bình thường bởi vì có thể do quan niệm sai lầm về sự sinh ra đứa trẻ tật nguyền trong cuộc đời

Nhu cầu được tôn trọng:Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng

giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,… Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do đó nhu cầu được tôn trọng

là điều không thể thiếu đối với mỗi con người Thái độ của gia đình và hàng xóm có thể giúp đỡ hoặc làm trẻ chậm tiến Điều quan trọng là phải thấy được năng lực của trẻ, đánh giá được cái mà trẻ đóng góp, đánh giá được vai trò của trẻ trong gia đình hơn là nhìn đứa trẻ như một gánh nặng, tỏ lòng thương hại

Nhu cầu được thể hiện mình: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong

cách phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó.Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân Trẻ khuyết tật cần được đi học, vì nhà trường

là một môi trường hòa nhập tốt nhất, nơi có điều kiện cần thiết để trẻ có thể phát triển Điều quan trọng nhất là làm thế nào để trẻ khuyết tật trở thành những thành viên đầy đủ của cộng đồng và sự có đóng góp cho cộng đồng đó phát triển

Đối với nhóm học sinh đang theo học hòa nhập tại trường mầm non Thăng Long KidSmart, nhìn chung các cá nhân được đáp ứng đầy đủ về các nhu cầu

Trang 18

9

1.1.2 Lý thuyết hệ thống

Theo định nghĩa của Lý thuyết công tác xã hội hiện đại: ―Hệ thống là một

tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất‖ Một hệ thống có thể gồm nhiểu tiểu hệ thống, đồng thời là một bộ phận của

tiểu hệ thống lớn hơn

Trọng tâm là hướng đến những cái ― tổng thể‖ và nó mang tính ―hòa nhập‖ trong công tác xã hội Pincus và Minahan áp dụng lý thuyết hệ thống vào thực hành công tác xã hội Nguyên tắc về cách tiếp cận này chính là các cá nhân phụ thuộc vào

hệ thống trong môi trường xã hội trung gian của họ nhằm thỏa mãn được cuộc sống riêng, do đó công tác xã hội phải nhấn mạnh đến các hệ thống Ba hình thức hệ thống tổng quát đó là: Hệ thống chính thức, hệ thống không chính thức và hệ thống

xã hội Vì thế, cách phân chia trên chỉ mang tính tương đối

Lý thuyết hệ thống chỉ ra sự tác động, ảnh hưởng của các tổ chức, cộng đồng, các nhóm lên cá nhân

Việc vận dụng lý thuyết này, giúp cho nhân viên CTXH có thể thấy được các

hệ thống tồn tại xung quanh thân chủ và phận tích được mức độ ảnh hưởng của các

hệ thống đó lên thân chủ.[15,tr 23]

1.2 Trẻ khuyết tật, giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trong trường mầm non

1.2.1 Trẻ khuyết tật

1.2.1.1 Khái niệm trẻ khuyết tật

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO ), khái niêm khuyết tật gắn với 3 yếu tố sau

- Những thiếu hụt về cấu trúc cơ thể và sự suy giảm các chức năng

- Những hạn chế trong hoạt động của cá thể

- Môi trường sống: những khó khăn, trở ngại do môi trường sống mang lại cho họ không thể tham gia đẩy đủ và có hiệu quả mọi hoạt động trong

cô ̣ng đồng [21,Tr34-35]

Trẻ khuyết tật là những trẻ có những khiếm khuyết về cấu trúc hoặc

các chức năng cơ thể hoạt động không bình thường dẫn đến trẻ gă ̣p khó khăn

Trang 19

10

nhất đi ̣nh và không theo được chương trình giáo du ̣c phổ thông nếu không

đươ ̣c hỗ trợ đă ̣c biê ̣t về phương pháp giáo du ̣c – dạy học và những trang

thiết bi ̣ hỗ trợ cần thiết [21,Tr34-35]

Trong khuôn khổ nghiên cứu, khái niệm trẻ khuyết tật đề tài sử dụng

là khái niệm theo luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam (2001):

Trẻ khuyết tật là trẻ bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc

chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho sinh hoạt học tập và lao động gặnhiều khó khăn[22]

1.2.1.2 Phân loại trẻ khuyết tật

Tuỳ theo những tiêu chí khác nhau, có nhiều cách phân loại khuyết tật như cách phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (1989), Hội đồng giáo dục Hoa Kỳ (1997).v.v Mỗi đất nước, mỗi dân tộc thậm chí mỗi một địa phương lại có những tiêu chí rất riêng và rất khác nhau để xác định và phân loại khuyết tật Có những trường hợp, ở nước này thì bị coi là khuyết tật nhưng cũng là cá nhân ấy khi sang lãnh thổ của một nước khác theo quy định luật pháp của nước đó thì lại được coi là bình thường Hơn nữa, mỗi ngành khoa học có liên quan đến khiếm khuyết cũng có những tiêu chí rất riêng và rất khác nhau để phân loại khuyết tật, chẳng hạn như trong ngành y tế, giáo dục, xã hội cộng đồng.v.v

Căn cứ vào mức độ nghiêm trọng của khiếm khuyết, khuyết tật được xác định ở ba dạng là: khuyết tật nặng, khuyết tật mức trung bình và khuyết tật nhẹ Căn

cứ vào phạm vi và tỉ lệ mắc khiếm khuyết, khuyết tật được chia theo hai nhóm là: nhóm khuyết tật có tỉ lệ mắc phải thấp (low incidence disabilities) và nhóm khuyết tật có tỉ lệ mắc phải cao (high incidence disabilities) Những dạng khuyết tật thuộc nhóm khuyết tật có tỉ lệ mắc phải thấp như là: Chậm phát triển trí tuệ vừa và nặng,

đa tật, khiếm thính, khiếm thị, khuyết tật thể chất và sức khoẻ, điếc mù, tự kỷ, chấn thương sọ não Những dạng khuyết tật thuộc nhóm khuyết tật có tỉ lệ mắc phải cao bao gồm: những khuyết tật về học, khuyết tật ngôn ngữ, chậm phát triển trí tuệ nhẹ, rối loạn cảm xúc và hành vi.v.v Theo điều tra của Bộ Giáo dục Hoa Kì năm 1996 thì những trẻ thuộc nhóm này chiếm khoảng 90% tổng số trẻ khuyết tật được thống

kê năm 1993-1994 Như vậy, có thể khẳng định khuyết tật về học; chậm phát triển trí tuệ; rối loạn hành vi; khó khăn về ngôn ngữ và lời nói là những dạng khuyết tật phổ biến; còn khuyết tật về thể chất và sức khỏe; khuyết tật về giác quan (khiếm thị, khiếm thính); chấn thương sọ não và đa tật thì ít phổ biến hơn Theo mức độ, khuyết tật ở mức độ trung bình phổ biến hơn khuyết tật nặng

Căn cứ vào các dạng khiếm khuyết, theo Hội đồng giáo dục Hoa Kỳ, khuyết tật gồm 11 dạng Đó là: Tự kỉ, Điếc mù, Điếc, khiếm thính, khiếm thị, rối loạn cảm xúc, chậm phát triển trí tuệ, có khó khăn về học, đa tật, khuyết tật thể chất, khuyết tật sức khoẻ

Tại Việt Nam, dựa trên những khó khăn mà trẻ mắc phải, khuyết tật bao gồm

7 dạng sau: (1) Khiếm thị; (2) Khiếm thính; (3) Khuyết tật vận động; (4) Chậm phát triển trí tuệ trong đó bao gồm cả tự kỉ và tăng động giảm tập trung; (5) Khó khăn về ngôn ngữ và giao tiếp; (6) Rối loạn hành vi, cảm xúc và (7) Đa tật Trải qua nhiều thập kỉ của giáo dục đặc biệt, Việt Nam đã phát triển được hệ thống giáo dục đặc

Trang 20

11

biệt hỗ trợ cho trẻ khiếm thính, khiếm thị và chậm phát triển trí tuệ; đã bắt đầu quan tâm đến đối tượng khuyết tật về ngôn ngữ và giao tiếp Tuy nhiên, cũng có sự nhầm lẫn trong việc sử dụng thuật ngữ chậm phát triển trí tuệ với khuyết tật về học và trong nhóm chậm phát triển trí tuệ thì bao gồm cả nhiều dạng khuyết tật khác như tăng động giảm tập trung, tự kỉ.vv

- Trẻ khiếm thị

Trẻ khiếm thị là trẻ dưới 18 tuổi có khuyết tật thị giác , khi đã có phương tiê ̣n trợ giúp nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong các hoạt động cần sử dụng mắt Trẻ khiếm thị có những mức độ khác nhau về thị lực và thị trường cùa thị giác Người bình thường, có thị lực bằng 1 Vis; thị trường ngang (góc nhìn bao quát theo chiều ngang) một mắt là 150°; cả hai mắt là 180°; thị trường dọc (góc nhìn bao quát theo

chiều đứng) là 110°

- Trẻ khiếm thính

Trẻ khiếm thính là trẻ bị suy giảm sức nghe ở những mức độ khác nhai dẫn tới khó khăn về ngôn ngữ và giao tiếp, ảnh hưởng đến quá trình nhận thúcl và các chức năng tâm lí khác Tuỳ theo mức độ suy giảm thính lực, trẻ khếm thính được phân chia ra các mức độ khác nhau

- Trẻ khuyết tật vận động

Là những trẻ cố sự tổn thất các chức năng vận động làm cản trở đến viê ̣c di chuyển, sinh hoạt và học tập,

Trẻ khuyết tật vận động cố thế phân ra làm hai dạng:

+ Trẻ bị hội chứng não nặng d ẫn đến khuyết tâ ̣t vân đ ộng Những trẻ thuộc loại này thường là trẻ gập rất nhiều khó khăn trong học tập

+ Trẻ khuyết tâ ̣t v ận động do chấn thương nhẹ hay do bênh bại liệt gây ra làm khoèo, liê ̣t chân, tay, nhưng não bô ̣ c ủa trẻ vẫn bình thường , trẻ vẫn học tập tốt, chỉ cần giúp trẻ các phương tiê ̣n tới trường Ngay từ lúc nhỏ nếu trẻ được rèn luyê ̣n và phát triển các chức năng vâ ̣n đô ̣ng vẫn có thể cho kết quả phu ̣c hồi nhanh

- Trẻ khuyết tật ngồn ngữ và giao tiếp

Trẻ khuyết tật ng ôn ngữ - giao tiếp là những trẻ có sự phát triển lệch lạc về ngôn ngữ Đánh giá này dành cho các trẻ có những biểu hiện như : nói ngọng nói lắp, nói không rõ , không nói được (câm không điếc ) không kèm theo các dạng khó khăn khác như chậm phát triến trí tuệ, đao bại não,

Trang 21

12

- Trẻ rối loạn hành vi, cảm xúc

Là sự kết hợp một hành vi hoạt động quá mức với sự kém tập trung chú ý và thiếu kiên trì trong công việc, những đặc điểm trên diễn ra trong nhiêu hoàn cảnh như ở nhà, ở trường học hoặc bệnh viện và kéo dài với thời gian

- Trẻ đa tật

Trẻ có hai hay nhiều hơn tật được gọi là trẻ đa tật Trẻ thuộc nhóm này thường là chậm phát triển trí tuệ kèm theo khuyết tật vận động nhưng không bao gồm nhóm trẻ điếc mù Tuy nhiên, cách phân loại này có thể được dùng cho những trẻ bị khuyết tật về hai hay nhiều lĩnh vực Hơn nữa, cách phân loại này chỉ dùng

khi khuyết tật của trẻ ở mức độ nặng và có ảnh hưởng nghiêm trọng đến trẻ [21,

tr35-39]

1.2.1.3 Một số nguyên nhân gây khuyết tật ở trẻ em

- Những nguyên nhân khách quan

Di truyền: Lỗi nhiễm sắc thể (NST), lỗi gen gây dị tật bẩm sinh (Hội chứng đao, Hội chứng Relt liên quan đến NST giới tính, thường xảy ra ở các bé gái, nếu

bé trai mắc phải bé sẽ chết trước sinh; Hội chứng Williams Beuren là cặp NST số 7

bị mất một phần) hoặc rối loạn do nhiều yếu tố (Nứt đốt sống, thiếu một phần não, tràn dịch màng não, đầu nhỏ, rối loạn chức năng tuyến giáp)

Do các yếu tố ngoại sinh như lây nhiễm rubenlla, giang mai, HIV; do nhiễm độc một số loại thực phẩm do người mẹ dùng như thuốc động kinh, các chất do rượu cồn, do chụp tia X quang, hoặc do suy dinh dưỡng ở mẹ hoặc thiếu Iốt trong

thức ăn hay trong nước uống

Một số nguyên nhân trong khi sinh cũng ảnh hưởng tới khả năng gây nên khuyết tật như thiếu ôxi, vấn đề này thường xuất hiện do nhau thai, thời gian sinh

quá lâu, trẻ không thở hoặc không khóc ngay sau khi sinh

- Những nguyên nhân chủ quan

Do môi trường sống

- Đói nghèo, suy dinh dưỡng, tật bệnh không được phát hiện và chữa trị, phục hồi chức năng kịp thời

- Điều kiện ăn ở chật chội, yếu kém, mất vệ sinh

- Ô nhiễm và suy thoái môi trường, thiên tai

- Sử dụng thuốc chữa bệnh bừa bãi dẫn đến nhiễm độc

- Chấn thương do tai nạn, rủi ro (giao thông, trong lao động, trong gia đình và trong thể thao)

- Thay đổi chế độ ă uống và hoàn cảnh sống

- lão hóa và các tai biến, đột quỵ

Trang 22

13

- Chiến tranh và bạo lực

Những nguyên nhân do xã hội

- Căng thẳng và áp lực trong cuộc sống và công việc hàng ngày dẫn đến sang chấn tâm lý hoặc trầm cảm kéo dài

- Thái độ của xã hội, đô thị hóa, dân số gia tăng, di cư

- Kết hôn trực hệ (cùng huyết thống)

1.2.1.4 Đặc điểm phát triển tâm lí của trẻ khuyết tật lứa tuổi mầm non

Ở trẻ khuyết tật, do tổn thương về cấu tạo hoặc suy giảm chức năng các bộ phận trên cơ thể nên quá trình phát triển tâm lý cũng mang nhiều nét khu biệt so với trẻ bình thường Đặc thù về hoạt động nhận thức của trẻ khuyết tật thể hiện rõ nét nhất trong quá trình thu nhận thông tin cảm tính Tuỳ theo việc trẻ bị tổn thương phân tích cơ quan nào hoặc suy giảm chức năng nào nó sẽ có những đặc điểm đặc thù tương ứng trong nhận thức cảm tính Trong hoạt động nhận thức, mỗi trẻ khuyết tật có biểu hiện sự chú ý ở mức độ khác nhau Tuy nhiên hầu hết các em gặp khó khăn trong việc duy trì sự chú ý, đặc biệt là trong những hoạt động mà đối tượng nhận thức không gây hứng thú hoặc các em gặp bất lợi trong việc tiếp nhận đối tượng đó Bên cạnh đó, mỗi dạng khuyết tật đều mang những đặc điểm khác nhau

về kiểu trí nhớ Tuy vậy, cũng có tính quy luật chung: Những giác quan nào hoạt ñộng mạnh sẽ bù đắp lượng thông tin thiếu hụt do khuyết tật thì trí nhớ của trẻ sẽ thiên về những hình tượng do trí giác của những giác quan đó mang lại Hầu hết trẻ khuyết tật đều có những ―vấn đề‖ khác nhau trong ngôn ngữ Những khó khăn đó đều gây nên những trở ngại trong việc triển khai tư duy ngôn ngữ logic Điều đặc biệt là, khó khăn trong ngôn ngữ tạo nên rào cản về mặt giao tiếp, đây chính là khó khăn về mặt xã hội đối với hoạt động nhận thức của trẻ khuyết tật

Đối với trẻ khiếm thị thường có những đặc điểm tâm lý nổi bật như về đặc điểm chú ý: chú ý của trẻ khiếm thị chủ yếu là chú ý nghe và sờ, trẻ mù thường khó điều chỉnh hai quá trình phân tán và tập trung chú ý Về tri giác, biểu tượng ghi nhớ,

tư duy, tưởng tượng và ngôn ngữ trẻ khiếm thị cũng có những ñặc ñiểm riêng khác biệt với trẻ bình thường Đặc biệt là cảm giác nghe và cảm giác xúc giác của trẻ khiếm thị có những đặc điểm nổi bật: độ nhạy cảm âm thanh của trẻ mù tốt hơn trẻ bình thường, ngưỡng phân biệt các ngón trỏ của tay trẻ mù giảm xuống hai lần so với trẻ bình thường

Đối với trẻ khiếm thính, đặc điểm tâm lý nổi bật của các trẻ này là đặc điểm tri giác thị giác Các nhà nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của trẻ điếc cho rằng đây là

Trang 23

14

những trẻ có khả năng quan sát rất tốt bởi chúng nhận ra một cách chính xác những chi tiết hoặc những đổi thay ở người khác cũng như các sự vật, hiện tượng xung quanh… Tuy nhiên, những trẻ khiếm thính thường gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển ngôn ngữ cả về ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết: giọng nói yếu, không có hơi; viết thường sai ngữ pháp, bỏ sót từ, dùng từ không ñúng nghĩa…

Cũng giống như trẻ khiếm thị và trẻ khiếm thính, trẻ chậm phát triển trí tuệ cũng có những đặc điểm tâm lý nổi bật và khác với trẻ em bình thường Trẻ gặp nhiều khó khăn trong việc phân biệt hóa, thiếu tính tích cực trong quá trình tri giác;

tư duy mang tính cụ thể - trực quan, yếu về khái quát hóa, thiếu tính liên tục, yếu

vai trò điều chỉnh trong tư duy; ngôn ngữ nghèo nàn; trí nhớ máy móc [29]

Những đặc điểm tâm lý trên là cơ sở để chúng ta có những quan điểm tiếp cận, xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện giáo dục trẻ khuyết tật Trong GDHN, trẻ khuyết tật được phát huy những điểm mạnh, khắc phục những hạn chế và quan trọng hơn là các em đư ợc thừa nhận với tất cả những đặc điểm khác biệt của mình

1.2.2 Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật lứa tuổi mầm non

1.2.2.1 Khái niệm giáo dục hòa nhập

Giáo dục hòa nhập (GDHN) là phương thức giáo dục trong đó trẻ khuyết tật cùng học với trẻ bình thường, trong trường phổ thông ngay tại nơi mình sinh sống

[68, trg.221] Giáo dục hòa nhập nhìn nhận trẻ khuyết tật dựa trên quan điểm xã

hội, khi cho rằng khiếm khuyết không phải chỉ do khiếm khuyết của bản thân cá thể

mà còn là khiếm khuyết của xã hội Mọi trẻ khuyết tật đều có những năng lực nhất định, do đó mà trẻ khuyết tật được coi là chủ thể chứ không phải là đối tượng thụ động trong quá trình tiếp nhận các tác động giáo dục

GDHN có bản chất riêng so với các phương thức giáo dục khác như: Giáo dục cho mọi đối tượng trẻ Đây là tư tưởng chủ đạo, yếu tố đầu tiên thể hiện bản chất của GDHN Trong giáo dục hoà nhập không có sự tách biệt giữa trẻ khuyết tật với trẻ không khuyết tật Mọi trẻ đều được tôn trọng và đều có giá trị như nhau [28,

trg.221]

Trong GDHN trẻ được học cùng một chương trình giáo dục phổ thông Điều này vừa thể hiện sự bình đẳng trong giáo dục, vừa thể hiện sự tôn trọng Điều chỉnh chương trình, đổi mới phương pháp dạy học và thay đổi quan điểm, cách đánh giá là vấn đề cốt lõi để GDHN đạt hiệu quả cao nhất GDHN không đánh đồng mọi trẻ

em Mỗi trẻ là một cá nhân, một nhân cách có năng lực khác nhau, cách học khác nhau, tốc độ học không như nhau Vì thế, điều chỉnh chương trình cho phù hợp là

cần thiết [28, trg.222]

Trang 24

15

Trong GDHN gia đình, nhà trường, xã hội và cộng đồng cần tạo ra sự hợp tác và giúp đỡ trẻ trong mọi hoạt động Trẻ khuyết tật là trung tâm của quá trình giáo dục, được tham gia đầy đủ và bình đẳng trong mọi công việc của Nhà trường, Gia đình, Xã hội và cộng đồng

GDHN là một xu thế, là một sự tất yếu của thời đại Xu hướng giáo dục này đáp ứng mục tiêu giáo dục trẻ khuyết tật mà UNESCO đã đưa ra là tiến tới giáo dục trẻ khuyết tật phải đạt trình độ phổ cập Mô hình giáo dục này đảm bảo giáo dục đa trình độ, đa phương pháp và phát huy được tính độc lập, khuyến khích sự tham gia tích cực của mọi trẻ Được giáo dục trong môi trường hòa nhập trẻ đều có tiến bộ hơn, các tiềm năng của trẻ được khơi dậy và phát triển

GDHN ở trường mầm non được tổ chức tùy theo điều kiện cụ thể của từng trường, từng lớp để phù hợp với trẻ khuyết tật, các hoạt động trong lớp cần chú ý quan tâm tới khả năng và nhu cầu của trẻ khuyết tật

Số lượng trẻ khuyết tật học ở mỗi lớp hòa nhập trong trường mầm non có thể

là 1 hoặc 2 trẻ khuyết tật/ lớp học, trẻ tham gia học hòa nhập với các bạn bình thường ở tất cả các hoạt động hằng ngày

Ở một số trường mầm non có phòng học cá nhân dành cho trẻ khuyết tật Bên cạnh các tiết học hòa nhập chung với các bạn, trẻ khuyết tật được can thiệp cá nhân ngay tại trong trường Có một số trường thì Nhà trường kết hợp với phụ huynh

tổ chức có một giáo viên Giáo dục đặc biệt kèm, hỗ trợ trẻ khuyết tật ngay tại lớp học hòa nhập từ sang đến chiều

Đối với những trẻ khuyết tật học hòa nhập ở trường mầm non, mà vẫn còn thiếu một số kĩ năng mà ở trường không có phòng học cá nhân hoặc giáo viên giáo dục đặc biệt thì phụ huynh phải cho trẻ đi học thêm các tiết học can thiệp ở các trung tâm can thiệp sớm bên ngoài trường

Trong phạm vi đề tài, khái niệm Giáo dục hòa nhập được hiểu như sau: Giáo

dục hòa nhập là phương thức giáo dục trong đó trẻ khuyết tật cùng học với trẻ bình thường, trong trường phổ thông có sự điều chỉnh nội dung, phương pháp, hình thức… cho phù hợp với khả năng và nhu cầu của trẻ

1.2.2.2 Bản chất của giáo dục hòa nhập

Giáo dục cho mọi đối tượng học sinh là tư tưởng, yếu tố đầu tiên thể hiện bản chất của giáo dục hoà nhập Trong giáo dục hoà nhập không có sự tách biệt

giữa học sinh với nhau Mọi học sinh đều được tôn trọng và đều có giá trị như nhau

- Học sinh được học ở trường tại nơi mình sinh sống

Trang 25

16

- Mọi học sinh đều cùng được hưởng một chương trình giáo dục phổ thông Điều này vừa thể hiện sự bình đẳng trong giáo dục vừa thể hiện sự tôn trọng mọi học sinh đều có quyền được hưởng một nên giáo dục như nhau

- Điều chỉnh chương trình, đổi mới phương pháp dạy học và các quan điểm, cách đánh giá Đây là vấn đề cốt lõi để giáo dục hoà nhập đạt hiệu quả cao nhất

- Điều chỉnh chương trình là việc làm tất yếu của giáo dục hoà nhập, có điều chỉnh chương trình cho phù hợp thì mới đáp ứng cho mọi trẻ em có nhu cầu và năng lực khác nhau

- Giáo dục hoà nhập không đánh đồng mọi trẻ em như nhau Mỗi đứa trẻ là một cá nhân, một nhân cách có năng lực khác nhau, cách học khác nhau Vì thế, điều chỉnh chương trình cho phù hợp là cần thiết

- Dạy học một cách sáng tạo, tích cực và hợp tác Đó là mục tiêu của dạy học hoà nhập

- Trong dạy học hoà nhập tạo ra được cho trẻ kiến thức chung, tổng thể, cân đối Muốn thế, phương pháp dạy học phải có hiệu quả và đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của học sinh

- Muốn dạy học có hiệu quả, kế hoạch bài giảng phải cụ thể, theo phương pháp học tập hợp tác Phải biết lựa chọn phương pháp và sử dụng đúng lúc

- Thừa nhận rằng trẻ khuyết tật có thể học và các em đều cần được giúp đỡ

về mặt này hay mặt khác trong học tập

- Hướng tới phát hiện và giảm thiểu những rào cản trong quá trình học

- Phạm vi rộng hơn phạm vi nhà trường và bao gồm cả môi trường gia đình, cộng đồng và các cơ hội giáo dục ngoài phạm vi nhà trường

- GDHN tức là có sự thay đổi trong thái độ, hành vi, phương pháp dạy học, chương trình học và môi trường xung quanh nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi học sinh

- Là một quá trình năng động và luôn biến đổi tuỳ theo nền văn hoá và bối cảnh địa phương, đó là một phần của chiến lược rộng lớn hơn nhằm thúc đẩy một

xã hội hoà nhập

1.2.2.3 Đặc điểm giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật lứa tuổi mầm non

Giáo dục hòa nhập là phương pháp giáo dục cho mọi trẻ em, trong đó có trẻ

có nhu cầu đặc biệt trong lớp học bình thường của trường phổ thông Giáo dục hòa nhập dựa trên những quan điểm tích cực, đánh giá đúng trẻ có nhu cầu đặc biệt và các em được nhìn nhận như những trẻ em khác Theo quan điểm này giáo dục hòa

Trang 26

17

nhập là phương pháp giáo dục dành cho tất cả mọi người, trong đó có trẻ em khuyết tật, bởi người ta nhận thấy trẻ em khuyết tật cũng có những năng lực riêng của mình, các em sẽ làm tốt khi những việc đó phù hợp với năng lực và nhu cầu của mình Với những trẻ khuyết tật cần hỗ trợ thêm cho các em tiết cá nhân để các

em được củng cố thêm năng lực và sẵn sàng hòa nhập với các bạn cùng lức tuổi Ngoài ra các em còn luôn được gần gũi gia đình, luôn đươc sưởi ấm bằng tình yêu của cha mẹ, anh, chị, em và được cả cộng đồng đùm bọc, giúp đỡ Trẻ khuyết tật cũng được học các chương trình, cùng trường, cùng lớp với trẻ bình thường và như mọi học sinh khác trẻ khuyết tật là trung tâm của quá trình giáo dục Các em đươc tham gia đầy đủ và bình đẳng trong mọi hoạt động trong nhà trường và cộng đồng

để thực hiện lý tưởn: ―Trường học cho mọi trẻ em, trong một xã hội cho mọi người‖ Chính lý tưởng đó tạo cho trẻ em khuyết tật có niềm tin, lòng tự trọng, ý chí vươn lên để đạt đến mức cao nhất mà năng lực của mình cho phép

Giáo viên là người có vai trò rất quan trọng trong việc giúp đỡ trẻ khuyết tât học hòa nhập, giáo viên sẽ là người truyền thụ kiến thức và thực hiện các phương pháp giáo dục đặc biệt giúp trẻ phát huy được hết năng lực thự sự của bản thân và sẵn sàng tự tin hòa nhập cùng các bạn trong trường hòa nhập

Tóm lại với trẻ khuyết tật trong trường mầm non, việc học hà nhâp cho trẻ

là rất cần thiết, và quan trọng, bởi nếu trẻ có môi trường hòa nhập thực sự trẻ sẽ phát huy được những năng lực thực sự của mình và tự tin với những năng lực đó

1.3 Phương pháp công tác xã hội nhóm

1.3.1 Khái niệm công tác xã hội và công tác xã hội nhóm

1.3.1.1 Khái niệm công tác xã hội

Công tác xã hội cũng như bất kỳ môn khoa học nào, nó không xuất hiện ngay một lúc dưới dạng hoàn chinh với một hệ thống khái niệm, quy luật, nguyên lý và phương pháp của nó Vì vậy đe hieu va tra lơi được cau hoi công tác xã hội là gì? Thì cho tới nay đã có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về nó

Theo Foundation of Social Work Practicc (Cơ sở thực hành công tác xã hội): công tác xã hội là một khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua khó khăn của họ và đạt được vị trí ở mức độ phù hợp trong xã hội công tác xã hội được coi như là một môn khoa học vì nó dựa trên những luận chứng khoa học và những cuộc nghiên cứu đã được chứng minh, nó cung cấp một lượng kiến thức có cơ sở thực tiễn cho công tác xã hội và xâv dựng những kĩ năng chuyên môn hoá

Theo NASW - tổ chức quốc tế phục vụ cộng đồng, gia đình và tổ chức tình nguyện Liên Hợp Quốc: công tác xã hội là những hoạt động chuyên nghiệp, nhằm mục đích giúp đỡ các cá nhân, nhóm và cộng đồng trong hoàn cảnh khó khăn , họ tự phục hồi chức năng hoạt động trong xã hội và để tạo ra các điều kiện thuận lợi cho

họ đạt được nhữĩỉg mục đích của cá nhân

Trang 27

18

Theo quan niệm của các học giả Trung Quốc: công tác xà hội là 1 sự nghiệp

và môn khoa hòc chuyên ngành của nhà nước và xã hội để giải quyết và dự phòng những vấn đề xã hội nảy sinh do thành viên xã hội thiếu khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội hay mất thăng bằng với các chức năng xã hội Tính năng của nó là điều chỉnh quan hệ xã hội, cải thiện chế độ xã hội, đẩy mạnh xây dựng xã hội, thúc đẩy sự phát triển ổn định của xã hội thông qua phục vụ xã hội và quản lí xã h ộ i

Từ các định nghĩa trên nghiên cứu thấy rằng: công tác xã hội chính là một khoa học, một nghề và đối tượng của nó chính là các hoạt động xã hội đặc thù nhằm giúp đỡ các cá nhân, nhóm, công đồng ngăn chặn, khôi phục các chức năng bị suy thoái, đồng thời chính họ tự vươn lên để giải quyết các vấn đề đã và đang đặt ra của minh, từ đó hoà nhập với cộng đồng xã hội

1.3.3.2 Khái niệm công tác xã hội nhóm

Công tác xã hội nhóm là phương pháp trong công tác xã hội nhằm giúp tăng cường, củng cố chức năng xã hội của mỗi cá nhân thong qua các hoạt động nhóm và khả năng ứng phó với các vấn đề của cá nhân

Konapka (1963) xác định phương pháp công tác xã hội nhóm là một phương pháp của ngành CTXH giúp những cá nhân tăng cường chức năng xã hội của họ thông qua các kinh nghiệm của nhóm mục tiêu và khắc phục một cách hiệu quả hơn các vấn đề của cá nhân, nhóm, cộng đồng CTXH nhóm tạo một bối cảnh trong đó các nhân hỗ trợ lẫn nhau, làm cho các cá nhân và nhóm có khă năng ảnh hưởng và làm thay đổi các vấn đề của cá nhân, của nhóm, của tổ chức và của cộng đồng, Nó mang tính chất chức năng xã hội nhiều hơn và chính điều nay làm cho nó khác hơn với nhóm trị liệu vì nhóm trị liệu trú trọng nhiều hơn các nhu cầu cảm xúc và các tiến trình tâm lý

Như vậy, có nhiều cách hiểu, cách tiếp cận về Công tác xã hội nhóm, nhưng

có điểm chung thống nhất là sử dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm, tiến trình sinh hoạt nhóm để tạo dựng, duy trì và tăng cường sự tương tác giữa các thành viên của nhóm nhằm thay đổi thái độ, hành vi cá nhân một cách tích cực, nâng cao khả năng giải quyết vấn đề, đáp ứng nhu cầu của mỗi thành vièn và của cả nhóm

Công tác xã hội nhóm là một phương pháp của Công tác xã hội nhằm tạo dựng và phát huy sự tương tác, chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực giữa các thành viên, giúp củng cố, tăng cường chức năng xã hội và khả năng giải quyết vấn đề, thỏa mãn nhu cầu của nhóm Thông qua sinh hoạt nhóm, mỗi cá nhân hòa nhập, phát huy tiềm năng, thay đổi thái độ, hành vi và khả năng đương đầu với nan đề của cuộc sống, tự lực và họp tác giải quyết vấn đê đặt ra vì mục tiêu cải thiện hoàn cảnh một cách tích

cực [12, 59]

1.3.2 Tiến trình công tác xã hội nhóm

Tiến trình Công tác xã hộí nhóm là quá trình bao gồm các bước hoạt động thể hiện sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm với nhau trong xã hội nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra Tiến trình Công tác xã hội nhóm được chia thành bốn bước - bốn giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm; Giai đoạn khởi động và bắt đầu hoạt động - giai đoạn đầu; Giai đoạn tập trung hoạt động - giai đoạn trọng tâm; Giai đoạn lượng giá và kết thúc hoạt động - giai đoạn cuối, trong

các giai đoạn của tiến trình [12, tr 114]

Trang 28

19

1.3.2.1 Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm

Để ứng dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm, cần phải có đối tượng tác động đó là nhóm xã hội Trên thực tế có những nhóm đã có sẵn như : nhóm gia đình, nhóm bạn cùng chơi thân thiết, nhóm học sinh, sinh viên trong một lớp học, nhóm đồng nghiệp, nhóm trẻ em mồ côi, nhóm trẻ em lang thang đường phố

- Chọn nhóm viên và chuẩn bị môi trường hoạt động Dựa vào mục đích hoạt

động của nhóm để có những lựa chọn nhóm viên phù hơp với đặc điểm tương đồng

về mục đích, nhu cầu hay vấn đề cần giải quyết Số lượng nhóm viên cần phù hợp với mục đích sinh hoạt của nhóm để đạt hiệu quả tương tác cao (Thông thường, trong Công tác xã hội nhóm, muốn đạt hiệu quả cao thì số lượng nhóm viên nên ở mức vừa phải - nhóm từ 7 đến 11 thành viên) Tuy nhiên, không cứng nhắc hay có một khuôn mẫu đóng vẻ số lượng nhóm viên

- Xác định mục đích và mục tiêu sinh hoạt nhóm

Mục đích chung của Công tác xã hội nhóm là sự thay đổi, phục hồi, tăng trưởng phát triển toàn diện và đáp ứng các nhu cầu của tất cả nhóm viên thuộc nhóm Tuy nhiên, ở mỗi nhóm cụ thể sẽ có mục đích chung dược xác định

Với những nhóm trước khi thành lập đã có mục đích rõ ràng thì việc triển khai các hoạt động sẽ thuận lợi hơn Đối với những nhóm như nhóm trị liệu, nhóm giáo dục, nhóm xã hội hóa thì rất cần phải chú ý đến việc xây đựng mục tiêu hoạt động Các mục tiêu đặt ra phải được cả nhóm trao đổi, thảo luận và thông qua Khi

sự thảo luận càng dân chủ, các ý kiến thống nhất càng cao (đồng thuận) thì khả năng tham gia của thành viên càng tích cực và hoạt động

-Đánh giá các nguồn lực – tiềm năng và sự hỗ trợ bên ngoài- phân tích lực trường tác động

Nguồn lực nhóm bao gồm nguồn lực bên trong nhóm và sự hỗ trợ từ bên ngoài Thông thường, nguồn lực được xác định là nguồn lực vật chất (chủ yếu là nguồn lực tài chính, của cải - tài sản, cơ sở vật chất ) và nguồn lực tinh thần và những nguồn lưc thuộc về cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo duy trì và là động lực thúc đẩy nhóm cho những mục tiêu đặt ra Sự đánh giá nguồn lực trước khi thành lập nhóm còn được hiểu là sự phân tích lực trường Phân tích lực trường là việc xem xét, đánh giá thuận lọi (lực đẩy) và khó khăn (lực cản) đối vói tiến trình vận động, thực hiện kế hoạch, mục tiêu cụ thể để đi đến mục tiêu chung trong quá trình hoạt động của nhóm sau này Thông qua nhận diện, phân tích lực trường cho phép nhóm phát huy những điều kiện hay những yếu tố thuận lợi cũng như khắc phục, hạn chế những tác động tiêu cực từ các yếu tố cản trở nhằm đạt tới sự tối ưu trong hoạt động

- Xây dựng kế hoạch dự thảo chương trình hoạt động của nhóm

Có 4 câu hỏi đặt ra khi xây dựng kế hoạch đó là: 1- Tại sao chúng ta cần phải có kế hoạch này và kế hoạch nếu được thực thi sẽ mang lại kết quả gì Tức là phải đưa ra những lí do, căn cứ xác định mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể trong

kế hoạch? 2- Thời gian và các nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó là gì?Bắt đầu,

Trang 29

20

tiến hành, dự kiến kết thúc và các nguồn lực về con người, tài chính, hỗ trợ, phân

bổ, đóng góp? 3- Các công việc cụ thể sẽ được triển khai như thế nào Nội dung hoạt động chi tiết của các hoạt động? 4- Những ai thực hiện kế hoạch? Sự phân công vị trí, vai trò và trách nhiệm của các thành viên trong nhóm và đối với những

nội dung hoạt động lớn, chủ đạo?

Công việc xây dựng kế hoạch trước hoạt động thể hiện năng lực của nhân viên xã hội Có những cơ sở hay phương pháp khác nhau để xây dựng bản dự thảo

kế hoạch Tuy nhiên, khi thực thi kế hoạch trong quá trình triển khai các hoạt động thực tế có thể có những điều chỉnh thể hiện sự linh hoạt và phù hợp

1.3.2.2 Giai đoạn khởi động và bắt đầu hoạt động

Giai đoạn này các thành viên trong nhóm còn có thái độ thăm dò lẫn nhau và

có những kì vọng rất lớn vào nhóm cũng như với những thành viên khác, đặc biệt là đối với nhân viên xã hội hay người lãnh đạo nhóm (trưởng nhóm) Trong giai đoạn này, các công việc thực hiện là: giới thiệu các thành viên trong nhóm (tương đối chi tiết về đặc điểm nhân thân, hoàn cảnh cá nhân và những nhu cầu khi tham gia nhóm); làm rõ mục đích hỗ trợ nhóm của nhân viên xã hội; xác định lại và khẳng định mục tiêu của nhóm; thiết lập nguyên tắc hoạt động của nhóm (đặc biệt là các nguyên tắc bảo mật thông tin, hợp tác nhóm, quan hệ giữa các thành viên, bảo vệ lợi ích nhóm trong mối quan hệ nội bộ và với môi trường xã hội, với các nhóm khác); xác định và khẳng định vị trí, vai trò và nhiệm vụ của từng nhóm viên; định hướng sự phát triển của nhóm; thảo luận và thỏa thuận thực hiện các công việc cụ thể; quy định về sự khích lệ phát huy năng lực của từng nhóm viên vì mục tiêu chung của cả nhóm; dự báo những kết quả có thể đạt được và những khó khăn, cản trở trong suốt tiến trình thực hiện tiếp theo

- Giới thiệu thành viên trong nhóm

-Xác định lại mục tiêu hoạt động nhóm

- Thảo luận đưa ra những nguyên tắc hoạt động của nhóm

- Giúp các nhóm viên cảm nhận rõ ràng họ là một phân của nhóm

- Định hướng phát triển của nhóm và dự báo về những khó khăn cản trở trong tiến trình

Tuy nhiên, nhân viên xã hội và nhóm cũng cần phải có những thảo luận để

dự báo những khó khăn trở ngại mà nhóm cũng như tiến trinh hoạt động, giải quyết vấn đề có thể gặp phải Dự báo trở ngại giúp cho quá trình hoạt động không bị bất ngờ hay lúng túng khi nhóm phải đương đầu, giải quyết những vắn đề mói phát sinh, mà những phương án dự phòng sẽ phát huy tác dụng trước những vấn đề đó

1.3.2.3 Giai đoạn tập trung hoạt động - giai đoạn trọng tâm

Đây là giai đoạn thực thi công việc theo kế hoạch hoạt động của nhóm Giai đoạn này được xác định là giai đoạn trọng tâm, có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của nhóm, nhóm tập trung vào các hoạt động hỗ trợ, trị liệu, giải quyết vấn đề,

Trang 30

21

thực hiện nhiệm vụ hướng tới hoàn thành các mục đích, mục tiêu đã được nhóm xác lập ở các giai đoạn trước

- Đối với các nhóm can thiệp

Những nhiệm vụ, hoạt động cụ thể được thực hiện trong giai đoạn trọng tâm này là việc tái khẳng định nhận thức về những mục tiêu, thực thi kê hoạch hỗ trợ, trị liệu, can thiệp giải quyết vấn đề, vượt qua những khó khăn trong quá trình thực hiện kế hoạch Bên cạnh đó, nhóm quan tâm đến những vấn đề mói nảy sinh, nhất

là những cản trở từ nhận thức, thái độ tiêu cực, biểu hiện hành vi lệch lạc, sự tham gia thiếu nhiệt tình, thiếu tự tin của các cá nhân trong tiến trình thực hiện các hoạt động can thiệp, giải quyết vấn đề

+Thực hiện các cuộc họp nhóm, các cuộc họp nhóm vừa là một nội dung

trong hoạt động nhóm vừa mang ý nghĩa cập nhật, điều chỉnh, định hướng đánh giá trước, trong và sau mỗi hoạt động cũng như chuẩn bị cho hoạt động kế tiếp của tiến trình Những vấn đề cần quan tâm của các cuộc họp nhóm là thời gian tiến hành, nội dung, báo cáo, người chủ trì, thành phần tham dự, kĩ thuật điều hành, thông tin, phản hồi phân tích, đánh giá, điều chỉnh và các yếu tố hỗ trợ khác

+ Tổ chức thực hiện các hoạt động can thiệp: Đây là yếu tố cốt lõi của giai

đoạn trọng tâm Với đặc thù là các nhóm can thiệp, giải quyết vấn đề (hay còn gọi

là nhóm trị liệu) nên hình thức chủ yếu của các hoạt động là thông qua các buổi sinh hoạt, truyền thông, chia sẻ kinh nghiệm, thảo luận, thực hành trải nghiệm nhằm hướng đến các mục tiêu trang bị kiến thức, nãng lực nhận diện vấn đề, khả năng đương đầu vói hoàn cảnh, tình huống, phát hiện và lựa chọn giải pháp, rèn luyện kĩ năng ứng phó, giải quyết vấn đề cho tất cả thành viên nhóm Các hoạt động này được trao quyền, thực hiện dưới sự phân công vị trí và vai trò chủ đạo của thành viên nhóm Nhân viên xã hội không làm thay mà chỉ giữ vai trò giám sát, đánh giá, gợi mở, khích lệ cho hoạt động của nhóm đi đúng trọng tâm, không lệch ra ngoài quỹ đạo, thể hiện tính có tổ chức, có kê hoạch và đảm bảo sự tiếp nối cần thiết

+ Thu hút sự tham gia và tàng cường năng lực của mọi thành viên vào hoạt

động hướng đến mục tiêu giải quyết vấn đề: Thái độ tích cực, sự nhiệt tình và năng

lực tham gia của thành viên nhóm trực tiếp quyết định đến thành công của việc can thiệp, giải quyết vấn đề Thành viên nhóm chính là người giải quyết vấn đề của mình thông qua tiến trình sinh hoạt nhóm và để có được giải pháp, thực hành kĩ năng, thay đổi tích cực thái độ, hành vi, ra quyết định hành động là một quá trình, không nhanh chóng, đơn giản, dễ dàng Do đó, các thành viên sẽ phải đối diện và vượt qua những khó khăn, thử thách, nếu khống kiên định, không có được sự khích

lệ hay phương pháp can thiệp phù họp, kịp thời của nhân viên xã hội, họ có thể nản chí, từ bỏ nhóm Sự động viên, khích lệ phải được thể hiện đúng người, đúng lúc, đúng chỗ, từ những thành công nhỏ nhất, đồng thời tạo niềm tin cho thành viên tiếp tục và thử nghiệm những hành vi mới, trước hết trong môi trường nhóm, sau đó ở môi trường cuộc sống

+ Đánh giá nhanh theo tiến trình hoạt động trong giai đoạn trọng tâm: Việc

đánh giá nhanh là cần thiết vì nó giúp cho nhóm và mỗi thành viên xác định được mức độ thành công, những công việc đã làm, nhửng hạn chế, tồn tại chưa giải

Trang 31

22

quyết, tiến độ thực hiện hoạt động đối chiếu với kế hoạch và hoạch trị liệu hay không Đánh giá nhanh còn là cơ sở cho giai đoạn lượng giá kết thúc, vì vậy nó đòi hỏi sự khách quan, trung thực, có sự tham gia của các thành phần nhóm

- Đối với nhóm nhiệm vụ

Vai trò, chức năng và mục đích của nhóm nhiệm vụ về cơ bản có những sự khác biệt với nhóm can thiệp - trị liệu, giải quyết vấn đề

Khung định hướng chính về hoạt động của nhóm nhiệm vụ trong giai đoạn trọng tâm bao gồm: chia sẻ thông tin kinh nghiệm trong nhóm, tãng cường cam kết thực hiện, giải quyết mâu thuẫn, thực hiện nhiệm vụ và đánh giá nhanh kết quả hoạt động

+ Chia sẻ thông tin, kinh nghiệm trong nhóm: Việc chia sẻ thông tin, kinh

nghiệm được tiến hành qua các cuộc họp nhóm, thảo luận, trao đổi trực trực tiếp hoặc hội ý giữa các thành viên Mỗi thành viên nhóm, theo vị trí, vai trò được phân công sẽ tham gia ý kiến, báo cáo, chia sẻ nhận định, hiểu biết, sự trải nghiệm, kinh nghiệm thành công, thất bại đối vói vấn đề - nhiệm vụ mà nhóm đang quan tâm, thực hiện

+Tăng cường cam kết thực hiện: Nhóm nhiệm vụ được hình thành trên cơ sở

tự nguyện hay phân công thì trong giai đoạn trọng tâm vẫn cần phải khẳng định mức độ tham gia và sự cam kết của thành viên đối vói các hoạt động Thành viên cuốn hút vào công việc, tích cực thể hiện và phát huy vai trò cá nhân trước hết là do

họ cảm nhận được bản thân là một phần của nhóm, có sứ mệnh cùng vói nhóm thực thi nhiệm vụ, tác động tạo ra sự thay đổi đối vói nhóm (đối tượng) tác động Quá trình triển khai hoạt động, sự chia sẻ thông tin, sự đánh giá khách quan, công bằng

và bối cảnh công việc vừa là động lực thúc đẩy vừa là cơ hội, là điều kiện để mỗi thành viên nỗ lực, cống hiến

+ Giải quyết mâu thuẫn: Mâu thuẫn trong nhóm được hiểu như là một phần

tất yếu của nhóm trong các mô hình, bối cảnh nhóm xâ hội, làm việc nhóm và Công tác xã hội nhóm Trong Công tác xã hội nhóm , việc xác định tồn tại và giải quyết xung đột, mâu thuẫn được coi là một nguồn lực , hay động lực phát triển Đối với Nhóm nhiệm vụ, xung đột, mâu thuẫn thể hiện phổ biến hơn , hầu như có ở mọi giai đoạn và đó cũng là một đặc trưng của nhóm Nếu như ở các Nhóm can thiệp , việc giải quyết xung đột , mâu thuẫn có thể dễ dàng hơn thì ở nhóm nhiệm vụ để đi đến thống nhất trong quan điểm, ra quyết định thường phức tạp hơn, vì mọi thành viên đều muốn có chủ kiến, đóng góp cho giải pháp, chương trình hành động nhằm tối

ưu hóa hiệu quả của quá trình sử dụng nguồn lực thực hiện nhiệm vụ, tác động đến đối tượng Những ý kiến trái chiều nhau, những tranh luận giữa các thành viên không phải để phá vỡ tính thống nhất mà ngược lại nó càng chứng tỏ tinh thần, trách nhiệm và tính cố kết bền vững của nhóm nhiệm vụ

+ Thực hiện nhiệm vụ và đánh giá nhanh kết quả hoạt động: Sau những

tranh luận, những đề xuất giải pháp, giải quyết xung đột và ra được quyết định Ihành động đối với từng mục tiêu cụ thể, nhóm tiến hành các hoạt động theo các kế hoạch xác định

Trang 32

23

Vì vậy, việc trao đổi, chia sẻ, phản hồi, tiếp nhận thông tin hai chiều qua các hình thức, các kênh khác nhau được tiến hành thường xuyên đối với hoạt động của Nhóm nhiệm vụ trong giai đoạn trọng tâm

1.3.2.4 Giai đoạn lượng giá và kết thúc hoạt động

Giai đoạn kết thúc là giai đoạn cuối cùng, khép lại quá trình hoạt động của một nhóm theo mục đích, nhiệm vụ đặt ra ở giai đoạn này sẽ có những ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm, diễn biến tâm lí và sự thể hiện thái độ của các thành viên nhóm cũng như của nhân viên xã hội Giai đoạn kết thúc là tất yếu đối với mọi hoạt động thể hiện ở quy mô, phương thức khác nhau trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Công tác xã hội nhóm nói riêng, hoạt động của các tổ chức xã hội, tập họp người nói chung thông qua phương thức làm việc nhóm, mối trường nhóm, mang tính có tổ chức và yêu cầu cao về tính có kế hoạch, được vận hành theo một tiến trình qua các bước, các khâu, các giai đoạn, vì vậy sẽ phải thực hiện lượng giá ở giai đoạn kết thúc

- Lượng giá kết quả đạt được: Lượng giá là việc đánh giá, đo lường thể hiện

bằng các thông số về kết quả đạt được trên cơ sở đối chiếu với mục đích, mục tiêu

và nguồn lực của nhóm Lượng giá có ý nghĩa quan trọng đối vói hoạt động của

nhóm khi áp dụng phương pháp Công tâc xã hội nhóm, vói các thành viên tham gia

nhóm và với bản thân nhân viên xã hội

Phương pháp lượng giá được thực hiện thông qua các hình thức, các kênh,

các phương tiện khác nhau, như: Lượng giá qua phiếu ghi tự đánh giá (bằng bảng hỏi hoặc trắc nghiệm về hiểu biết kiến thức, khả năng thực hành kĩ năng) của các thành viên; Lượng giá qua các thông số đã được đánh giá nhanh đối vói từng hoạt động trong các giai đoạn, đặc biệt là giai đoạn trọng tâm; lượng giá qua quan sát thực tế về sự tham gia, sự thể hiện, thái độ, hành vi, kĩ năng của các thành viên trong và ngoài nhóm; Lượng giá qua các nhận xét, phản hồi thông tin từ các đối tượng liên quan (gia đình, bạn bè, người thân, cộng đồng ) Các hình thức lượng giá này không biệt lập vói nhau mà nó bổ sung cho nhau, vì vậy khi tiến hành lượng giá phải sử dụng kết họp các hình thức lượng giá, phương tiện lượng giá (không sử dụng duy nhất một hình thức) Sau khi đã có các kết quả được thống kê, các thành phần, thành viên nhóm tiến hành cuộc họp thảo luận, đi đến thống nhất về báo cáo kết quả toàn bộ quá trình hoạt động của nhóm

— Kêt thúc hoạt động nhóm : chia tay nhóm và khả năng về sự xuất hiện mô

hình hoạt động mói với quy mô, thành phần, mục tiêu mới

Sự kết thúc có thể diễn ra khác nhau ở các nhóm khácnhau mang theonhững sắc thái về tâm tư, tình cảm Đối với những Nhóm trị liệu, Nhóm hỗ trợ và phát triển, trong tiến trình có sự gắn kết, tương trợ, chia sẻ sâu sắc, giai đoạn kết thúc thường có những phản ứng mạnh mẽ về tình cảm Còn đối với những Nhóm giáo dục hay Nhóm nhiệm vụ thì mức độ phản ứng và tình cảm thường ít mạnh mẽ hơn

so với các nhóm trên

Để quá trình kết thúc diễn ra một cách bình thường, tự nhiên cần có vai trò quan trọng của nhân viên xã hội Những vấn đề nhân viên xã hội hỗ trợ, cùng nhóm

Trang 33

tế nhóm vẫn duy trì theo những mục tiêu mới, hình thành những nhóm mới với nội

dung, quy mô, phương thức hoạt động mới.[12, tr 38]

1.3.3 Mô hình giáo dục tâm lý trong công tác xã hội nhóm

Mô hình giáo dục tâm lý lần đầu tiên được biết đến vào những năm của thập

kỉ 70 như là một phương pháp trị liệu nhóm dựa trên việc xây dựng các kĩ năng làm việc Tolman và Molidor (1994) đã phát hiện ra rằng trị liệu tâm lý được sử dụng với những cặp vợ chồng tiền hôn nhân và các vấn đề chăm sóc con cái, lạm dụng tiền chất, lạm dụng trẻ em và ly dị Thời gian gần đây thì giáo dục tâm lý nhóm được phổ biến rộng rãi hơn trong CTXH trong một số lĩnh vực cụ thể như: Nhóm thân chủ gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần, nhóm thân chủ ung thư và HIV , trẻ và gia đình làn nạn nhân của việc lạm dụng, khủng hoảng và căng thẳng trong hôn nhân, ly dị, các vấn đề về lạm dụng thể chất và tinh thần Làm việc với các nhóm thiểu số hoặc các vấn đề đặc biệt như đồng tính làm việc trong các khía cạnh cần sự can thiệp phục hồi bền vững như Khuyết tật

Giáo dục tâm lý nhóm bao gồm những lợi ích nhóm cơ bản như tạo ra hi vọng, chỉnh sửa những hành vi sai lệch, phát triển các kĩ năng xã hội, khám phá các trải nghiệm cảm xúc, nâng cao sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm…Hơn nữa mô hình này cũng giúp giảm đi sự cô lập và giúp các thành viên trong nhóm có được cảm giác tự tin và hi vọng tích cực về tương lai Các bài tập sẽ giúp các thành viên trong nhóm hỗ trợ lẫn nhau và giúp nâng cao kĩ năng hòa nhập xã hội Tạo ra những hành vi tích cực thông qua sự tương tác chủ động của các thành viên trong nhóm Sự cố kết nhóm sẽ xuất hiện thông qua sự trải nghiệm của các thành viên trong nhóm với một môi trường an toàn và hỗ trợ lẫn nhau

1.4 Ứng dụng CTXH nhóm trong việc trợ giúp trẻ khuyết tật

1.4.1 Mục tiêu ứng dụng CTXH nhóm trong việc trợ giúp TKT

Mục tiêu ứng dụng CTXH nhóm trong việc trợ giúp TKT là thành lập nhóm chuyên gia hỗ trợ trẻ khuyết tật trong các hoạt động trên lớp hòa nhập đồng thời tổ chức các hoạt động nhóm nhằm giúp trẻ phát triển các kĩ năng trong các tình huống hằng ngày như: tập trung chú ý, bắt chước, luân phiên, nghe và thực hiện các yêu cầu bằng lời nói, sử dụng cử chỉ/lời nói/hành động để giao tiếp với với mọi người xung quanh, tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển nhân cách, phát triển kĩ năng sống, hòa nhập vào cuộc sống xã hội cho trẻ

1.4.2 Nội dung ứng dụng CTXH nhóm trong trợ giúp TKT

Khi xem xét các nội dung ứng dụng CTXH nhóm trong trợ giúp cho trẻ khuyết tật người nghiên cứu tập trung vào việc ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc xây dựng nhóm hỗ trợ cho trẻ đang học hòa nhập tại trường mầm non mà

Trang 34

25

trọng tâm là xây dựng nhóm giáo viên đang hỗ trợ trực tiếp cho trẻ tại lớp học hòa nhập Để làm được điều đó cần xem xét tất cả các yếu tố, từ đặc điểm tâm sinh lý của trẻ khuyết tật đến đặc điểm giao tiếp riêng của TKT, nội dung của từng kĩ năng đều được phát triển dần dần theo thời gian, không một kỹ năng nào phát triển độc lập Sự tiến bộ của một kỹ năng sẽ kéo theo sự tiến bộ của các kỹ năng khác

Trong nghiên cứu này, nội dung ứng dụng CTXH nhóm trong trợ giúp cho trẻ khuyết tật cần có các kỹ năng cơ bản sau:

- Kĩ năng tiếp cận làm quen: Kĩ năng này cần thiết cho cả nhân viên

công tác xã hội và trẻ khuyết tật giúp nhân viên tiếp xúc và hiểu rõ hơn về nhóm thân chủ của mình, giúp cho trẻ khuyết tật tiếp ứng cái mới dễ dàng hơn, vui vẻ hơn

- Kĩ năng lắng nghe: là thể hiện sự quan tâm của người nghe tới đối

tượng tác nghiệp, để thấu hiểu những thông tin, tâm tư, tình cảm, cảm xúc, suy nghĩ, mong muốn và những vấn đề gặp phải của nhóm thân chủ

- Kỹ năng tập trung chú ý: Dạy trẻ biết tập trung chú ý vào người, vật

hoặc hoạt động, bao gồm nhìn, lắng nghe, có thời gian, suy nghĩ

- Kỹ năng bắt chước: Giúp trẻ biết bắt chước các cử động trên mặt, các

hoạt động, các hoạt động với đồ chơi/đồ vật, âm thanh Ban đầu dạy trẻ bắt chước những âm thanh và hành động, sau đó đến bắt chước lời nói, cử chỉ, điệu bộ của người khác

- - Kỹ năng luân phiên: Giúp trẻ biết luân phiên trong quá trình giao

tiếp, biết đáp ứng yêu cầu của người khác, lần lượt sử dụng đồ vật, đồ chơi, trả lời câu hỏi

- Kỹ năng hiểu ngôn ngữ: Giúp trẻ biết hiểu những chỉ dẫn bằng lời nói

và hành động, các tình huống chơi đóng vai đơn giản, thể hiện cảm xúc

- Kỹ năng sử dụng lời nói: Giúp trẻ biết sử dụng lời nói vận dụng vào

các tình huống giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày

1.4.3 Ứng dụng Công tác xã hội nhóm trong việc trợ giúp trẻ khuyết tật

- Tổ chức các buổi sinh hoạt nhóm để nhóm được làm quen với nhau, cùng nhau học hỏi những kiến thức, kĩ năng mới để bổ trợ cho các giáo viên làm việc được với trẻ khuyết tật

- Tổ chức các hoạt động góc, hoạt động học, hoạt động vui chơi cho trẻ khuyết tật, tạo cơ hội cho trẻ được tham gia hòa đồng với các bạn vừa giúp các cô củng cố kĩ năng để hỗ trợ trẻ được tốt nhất vừa để xuất hiện nhu cầu giao tiếp và trẻ

có cơ hội thực hành, luyện tập các kĩ năng tương tác nhóm

Trang 35

26

- Hướng dẫn giáo viên hỗ trợ gia đình tổ chức các hoạt động tại gia đình để phát triển mối quan hệ giao tiếp giữa trẻ với các thành viên trong gia đình như: ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em… và mối quan hệ giữa trẻ với các đồ dùng trong gia đình

1.4.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ trẻ khuyết tật

- Các yếu tố chủ quan

Trẻ khuyết tật đang học hòa nhập tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart

là những trẻ có mức độ dạng tật nhẹ, các em có khả năng hòa nhập với các bạn cùng lứa tuổi và khi học ở trường các em cũng nhận được nhiều sự quan tâm từ phía nhà trường, cô giáo cũng như phụ huynh Giáo viên là những cô giáo nhiệt tình, vui vẻ

và rất yêu thương các em, nhiều phụ huynh cũng đã có những nhìn nhận đúng đắn

về khuyết tật của con mình từ đó gia đình có những cách thức làm việc cũng như hỗ trợ các cô trong việc ôn tập cho con tại gia đình Tuy nhiên do bản thân các em đang gặp khó khăn ở một mức độ nhất định nên khi hòa nhập cùng các bạn tại lớp các em vẫn còn gặp khó khăn như: các em chưa chủ động giao tiếp được với bạn bè và với

cô giáo, chưa chủ động hoặc không thể tham gia vào các hoạt động học tập, vui chơi cùng với các bạn và các cô Ngoài ra các em cũng chưa nhận được hỗ trợ nhiều

và đúng chuyên môn từ phía các cô giáo, bản thân các cô còn lugng túng, căng thẳng khi sử lý các hành vi của trẻ Nhiều phụ huynh vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của họ đối với con cái Họ mắc phải sai lầm khi tất cả trách nhiệm điều dựa vào vai của giáo viên mầm non Chính từ những nguyên nhân đó khiến các em khuyết tật đang gặp những khó khăn trong giao tiếp và sinh hoạt càng trở nên khó khăn hơn

- Các yếu tố khách quan

Đối với trẻ khuyết tật đang học hòa nhập tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart, các em được hỗ trợ rất nhiều từ phía nhà trường, các em được học với các bạn cùng lứa với phòng học rộng rãi đầy đủ tiện nghi, ngoài ra các em còn có phòng học riêng với đầy đủ dụng cụ trang thiết bị về luyện âm, chỉnh ngọng, luyện tập thể chất…tuy nhiên, về nội dung và chất lượng học GDĐB vẫn chưa được quan tâm đúng mức, các em vẫn chưa nhận được sự hỗ trợ nhiều về chuyên môn nhằm phát huy những điểm mạnh của các em và sửa chữa những khiếm khuyết mà các em đang mắc phải

Trang 36

27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRỢ GIÖP TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI

TRƯỜNG MẦM NON THĂNG LONG KIDSMART

2.1 Vài nét về địa bàn và đối tượng khảo sát

2.1.1 Cơ sơ ̉ vật chất của Thăng Long Kidsmart

Trường Thăng Long Kidsmart được xây dựng trên một địa thế đẹp của khu

đô thị mới Dịch Vọng (Lô NT1 khu đô thị mới Dịch Vọng - Cầu Giấy – Hà Nội) Đây là một khuôn viên lý tưởng với 3 cổng lớn mở về 3 hướng, rất gần công viên Cầu Giấy xanh mát và thanh bình

Thông qua khảo sát người nghiên cứu được biết: tổng diện tích trường lên tới 5058m² với 63 phòng rộng rãi Ngoài các lớp của trẻ, trường còn xây dựng các phòng chức năng khác gồm: 2 phòng Hoạt động âm nhạc, 1 phòng hoạt động với đầy đủ trang thiết bị hiện đại, đồ dùng đồ chơi phục vụ hoạt động học tiếng Anh của trẻ, 2 phòng máy vi tính, 1 phòng thể chất rộng với đầy đủ trang thiết bị của phòng tập Đầy đủ các phòng chức năng dành cho các hoạt động: Tạo hình, Đàn organ, học vui Kidsmart, giáo dục đặc biệt.Thư viện dành cho giáo viên và cho trẻ Hội trường lớn, phòng nghiệp vụ dành cho hoạt động chuyên môn Sân chơi ngoài trời thoáng, rộng, rực rỡ sắc hoa và nhiều bóng cây Thiết bị sân chơi nhập ngoại 100%, 100% các phòng được trang bị điều hòa hai chiều, bình nước nóng lạnh, thảm xốp, giường nằm, chăn đệm, đàn organ, máy vi tính, tivi, đầu DVD và đầy đủ các đồ dùng đồ chơi phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ Toàn bộ các trang thiết bị trong trường đều được lựa chọn kỹ càng theo quy chuẩn của Bộ Giáo dục – đào tạo và đặt lên hàng đầu là các yếu tố: an toàn, thẩm mỹ, chất lượng và hiệu quả

Trang 37

28

Với quan điểm: ―Giáo dục không phải là việc đổ đầy một cái bình, mà là thắp

sáng một ngọn lửa‖ - William Butler Yeats - Trường Mầm non Thăng Long

Kidsmart thấu hiểu rằng những năm đầu đời có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với

sự hình thành nhân cách của trẻ, là nền móng cơ bản để mỗi trẻ phát triển, tự tin bước vào những bậc học tiếp theo và thành công trong cuộc sống sau này Vì vậy, nhà trường cam kết mang lại một môi trường lý tưởng để trẻ phát triển toàn diện, phát huy những khả năng tiềm ẩn và có khả năng thích ứng cao với sự phát triển của

xã hội nhà trường - Tin tưởng rằng tất cả các trẻ đều có quyền được hưởng một nền giáo dục tiên tiến và hiện đại Đánh giá cao vai trò giáo dục đầu tiên của gia đình đối với trẻ Tôn trọng các phụ huynh đã đến với nhà trường Vì vậy, nhà trường cũng gắng hiểu các nhu cầu của các bậc cha mẹ, lắng nghe những điều họ quan tâm

và đẩy mạnh sự phục vụ của mình, đáp ứng những nhu cầu đó Tôn trọng đội ngũ cán bộ của mình nên nhà trường cố gắng tạo ra một môi trường làm việc năng động,

khích lệ, chia sẻ và có văn hóa Với quan điểm Lấy trẻ làm trung tâm đây là quan

điểm giáo dục tiên tiến được áp dụng trên toàn thế giới và chứa đựng đầy đủ ý nghĩa của ngành Giáo dục mầm non Nhà trường tin rằng mỗi đứa trẻ là một cá nhân riêng biệt và có những tính cách và tố chất riêng Vai trò của nhà giáo dục là phải nắm bắt được những thế mạnh của từng trẻ từ đó tạo cơ hội, môi trường khuyến khích trẻ phát huy những ưu điểm của bản thân ―Ngọn lửa nhỏ‖ trong mỗi đứa trẻ có được nhen nhóm và tỏa sáng hay không, phụ thuộc một phần không nhỏ vào sự tác động của nhà giáo dục, gia đình và môi trường sống của trẻ

Trong công tác giáo dục trẻ mầm non và giáo dục trẻ khuyết tật học hòa nhập, nhà trường quan niệm việc cung cấp kiến thức cho trẻ thật sự sẽ không quan trọng bằng việc chuẩn bị cho trẻ những kỹ năng sống và học tập – những kỹ năng cần thiết để trẻ có thể tự tin bước vào những bậc học tiếp theo và sẽ theo trẻ đến suốt cuộc đời

2.1.2 Sơ đồ hoạt động của trường

Trang 38

29

2.2 Thực trạng ứng dụng CTXH nhóm trong việc hỗ trợ trẻ KT học HN tại trường MN Thăng Long KidSmart

2.2.1 Giới thiệu khái quát về quá trình khảo sát

Trong quá trình làm việc tại trường, người nghiên cứu đã tìm hiểu và hỗ trợ cho một số gia đình Được sự đồng ý của các gia đình có trẻ khuyết tật, người nghiên cứu quyết định lấy đúng tên của các thành viên nhằm đảm bảo tính hiện thực của nghiên cứu

Nghiên cứu, ứng dụng công tác xã hội trong trường mầm non Thăng Long Kidsmart chỉ nghiên cứu về những trẻ khuyết tật có khó khăn về ngôn ngữ nên trong quá trình khảo sát, người nghiên cứu đã quan sát, phỏng vấn 17 gia đình có con đang học tại trường, nhằm tìm hiểu về các phương pháp mà trẻ đang tiếp cận, đồng thời đưa ra phương pháp công tác xã hội nhóm để giúp đỡ các em trong quá trình các em đang học tại trường

Để có cơ sở thực tiễn cho việc xác định các biện pháp trợ giúp cho trẻ khuyết tật, người nghiên cứu tiến hành điều tra thực trạng ở Trường mầm non có TKT học

hoà nhập

* Mục đích

Đánh giá thực trạng nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của việc trợ giúp trẻ khuyết tật; thực trạng các biện pháp giáo viên tổ chức hoạt động trợ giúp trẻ khuyết tật, thực trạng mức độ cần thiết của việc trợ giúp trẻ khuyết tật làm cơ sở thực tiễn để đề xuất biện pháp công tác xã hội nhóm trong việc trợ giúp trẻ khuyết tật tại trường mầm non

* Nội dung

Nội dung nghiên cứu thực trạng cụ thể như sau:

- Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc hỗ trợ TKT học hòa nhập

- Các biện pháp giáo viên đang nhằm hỗ trợ trẻ khuyết tật tại trường mầm non

- Thuận lợi và khó khăn của giáo viên trong tổ chức các hoạt động nhằmt hỗ trợ trẻ tại lớp hòa nhập

* Quy mô và địa bàn khảo sát

- 6 giáo viên dạy TKT tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart

- Khảo sát 17 trẻ khuyết tật, trong khảo sát ở mức độ TKT theo thang đánh giá DENVER II: có 85% TKT có mức độ nhẹ ; 25 %TKT mức độ nặng; đang học hòa nhập ở trường mầm non

* Phương pháp và công cụ

* Phương pháp

Trang 39

30

-Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Phiếu khảo sát dành cho 6 giáo viên

đang trực tiếp dạy hòa nhập TKT gồm 17 câu hỏi nhằm thu thập thông tin và sự hiểu biết của họ về trẻ khuyết tật đang học hòa nhập

- Phương pháp quan sát sư phạm:Quan sát 20 hoạt động (các giờ học,

giờ chơi, giờ ăn, giờ ngủ, giờ đón và trả trẻ) ở trường mầm non trong điều kiện bình thường có báo trước Sau đó chúng tôi tiến hành thống kê và phân tích kết quả (Phụ lục 1)

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn 3 phụ huynh có con khuyết

tật nhằm thu thập thêm thông tin về vấn đề nghiên cứu (Phụ lục 2)

* Công cụ

- Phiếu khảo sát: Phiếu khảo sát dành cho GV đang trực tiếp dạy hòa nhập

TKT gồm các câu hỏi nhằm thu thập thông tin và sự hiểu biết của họ về việc trợ giúp trẻ khuyết tật học hòa nhập

- Bảng đánh giá Denver II

* Xử lý dữ liệu khảo sát

Kết quả khảo sát được phân tích về mặt định lượng và định tính

- Về mặt định lượng: Số liệu khảo sát được đánh giá theo điểm trung bình, tỉ lệ

% thứ bậc và trình bày dưới hình thức bảng tổng hợp

- Về mặt định tính: Tập trung phân tích làm rõ ưu điểm, hạn chế trong nhận

thức của giáo viên nhằm trợ giúp trẻ khuyết tật Xem xét, đánh giá các biện pháp

GV đang sử dụng có phù hợp với đặc trưng của trẻ hay không?

2.2.2 Kết quả khảo sát thực trạng và phân tích kết quả

2.2.2.1 Thực trạng về mức độ phát triển của trẻ khuyết tật tại trường mầm

non Thăng Long Kidsmart

Người nghiên cứu tiến hành đánh giá của 17 TKT đang học hòa nhập ở các trường mầm non Tất cả 17 trẻ được khảo sát đều nằm trong độ tuổi từ 3 – 5 tuổi, độ tuổi của nhóm trẻ khảo sát dao động từ 36 đến 60 tháng, thấp nhất là 36 tháng và cao nhất là 60 tháng tuổi

Người nghiên cứu sử dụng thang đánh giá DENVER II làm công cụ đánh giá tiến hành quan sát các giờ học, giờ chơi, giờ ăn, giờ ngủ, giờ đón và trả trẻ ở trường

MN trong điều kiện bình thường có báo trước và kiểm tra trực tiếp trên trẻ Sau đó tiến hành thống kê và phân tích kết quả đánh giá Tổng hợp kết quả khảo sát 17 trẻ

ở tất cả các tiêu chí được thể hiện trong các lĩnh vực sau:

- Lĩnh vực vận động thô: Theo số liệu có tới 30% TKT đang học hòa nhập tại

trường mầm non vận động còn khó khăn, các em không thể leo trèo trên thang gỗ thẳng, đi lại cầu thang cần có người giúp đỡ, có em không đi được dép lê khi bước

Trang 40

- Lĩnh vực vận động tinh tế thích ứng:80% các em bắt trước được các hoạt

động của cô giáo khi kiểm tra như thả lỗ, xếp chồng được 4 đến 6 khối, vẽ hình vuông… đối với các kĩ năng khó hơn nhưng vẽ người 3 phần, cắt, xé dán thì các con chưa tự làm được, khi làm các con rất cần tới sự hỗ trợ của các cô

- Lĩnh vực cá nhân xã hội: Có tới 50% các em không biết tự đánh răng, chưa biết tự cầm thìa xúc ănm chưa biết gọi tên bạn, 80% chưa biết tự mặc, cởi quần áo

Nhìn chung, các trẻ khuyết tật đang học hòa nhập tại trường mầm non đang gặp rất nhiều khó khăn về các kĩ năng, rất cần có sự hỗ trợ từ phía các cô giáo, từ phía nhà trường, từ phía các phụ huynh

2.2.2.2 Thực trạng nhận thức của đội ngũ giáo viên, phụ huynh trong việc

hỗ trợ trẻ khuyết tật tại trường mầm non Thăng Long Kidsmart

Tính đến năm học 2014 -2015 toàn trường mầm non Thăng Long Kidsmart

có 100 cán bộ giáo viên và nhân viên Trong đó, BGH có 2 người, 75 giáo viên mầm non, 5 giáo viên chuyên biệt, 20 nhân viên Tất cả giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn mầm non, 65 giáo viên có trình độ cao đẳng, 15 giáo viên có trình độ đại học

- Khảo sát nhận thức của giáo viên về GDHN cho trẻ khuyết tật

Thông qua bảng hỏi có 98% ý kiến của giáo viên cho rằng việc việc trợ giúp làm việc nhóm cho TKT là rất cần thiết Nếu muốn trẻ học hòa nhập tốt thì trẻ phải biết tập trung chú ý, biết bắt chước các bạn học và chơi, biết luân phiên, biết nghe hiểu ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ để chơi, học với các bạn Hơn nữa, giáo viên cho rằng kĩ năng giao tiếp đều rất cần thiết cho trẻ trong cuộc sống hằng ngày để trẻ tập trung chú ý vào nhiệm vụ, bắt chước, luân phiên, nghe hiểu và sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp với mọi người xung quanh

Có 0,2 % ý kiến của giáo viên cho rằng việc trợ giúp làm việc nhóm cho TKT là chưa cần thiết vì lớp mà họ dạy không có trẻ khuyết tật nên nhận thức của

họ về việc trẻ khuyết tật chưa rõ ràng,chính Việc quan trọng nhất đối với giáo viên trước mắt là làm thế nào để cho trẻ biết chơi nhóm

-Khảo xát nhận thức của phụ huynh về mức độ cần thiết việc trợ giúp cho TKT thông qua phiếu hỏi như sau:

Như vậy, có 80% ý kiến của phụ huynh cho rằng việc việc trợ giúp cho TKT

là rất cần thiết bởi bản thân các bậc phụ huynh hiểu rõ con mình hơn ai hết, họ cũng

đã tìm các biện pháp hỗ trợ khác nhau để trợ giúp cho con của họ Điều khó khăn

Ngày đăng: 19/06/2016, 10:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lê Chí An, Đỗ Văn Bình, Nguyễn Hữu Tân, Bùi Thị Xuân Mai và Mai Xuân Thuấn. 2010, Quản lý ca trong thực hành CTXH với trẻ em.TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý ca trong thực hành CTXH với trẻ em
[2] Bản thảo Giáo trình Công tác xã hội với người khuyết tật. dùng trong cho bậc Đại học và Sau đại học Chỉnh sửa lần thứ 5- 01/2014, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công tác xã hội với người khuyết tật
[3] Bệnh viện Nhi Trung Ương (2004), Hướng dẫn thực hành Denver II, Bộ y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hành Denver II
Tác giả: Bệnh viện Nhi Trung Ương
Năm: 2004
[4] Bùi Xuân Mai (chủ biên) cùng cộng sự (2013), Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội. Nhà xuất bản Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội
Tác giả: Bùi Xuân Mai (chủ biên) cùng cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2013
[6] Phạm Huy Dũng, (2006), Bài giảng Công tác xã hội – Lý thuyết và thực hành công tác xã hội trực tiếp,NXB Đại hoch sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Công tác xã hội – Lý thuyết và thực hành công tác xã hội trực tiếp
Tác giả: Phạm Huy Dũng
Nhà XB: NXB Đại hoch sư phạm Hà Nội
Năm: 2006
[7] Trịnh Đức Duy (2000), Dạy học hoà nhập cho trẻ khuyết tật, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hoà nhập cho trẻ khuyết tật
Tác giả: Trịnh Đức Duy
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2000
[9] Nguyễn Thái Lan (2008) chủ biên, công tác xã hội nhóm, Nxb Trường Đại Học Lao Động Thương Binh – Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: công tác xã hội nhóm
Nhà XB: Nxb Trường Đại Học Lao Động Thương Binh – Xã Hội
[10] Nguyễn Ngọc Lâm, Công tác xã hội nhóm, trường Dại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội nhóm
[11] Bùi Thị Lâm, Nghiên cứu xây dựng bài tập tình huống nhằm rèn luyện kĩ năng tổ chức trò chơi trong lớp MGHN cho sinh viên ngành GDĐB, Đề tài cấp Bộ (Nghiệm thu 2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng bài tập tình huống nhằm rèn luyện kĩ năng tổ chức trò chơi trong lớp MGHN cho sinh viên ngành GDĐB
[12] Nguyễn Duy Nhiên, Nhập môn công tác xã hội, Nxb Lao động, 2008 [13] Vũ Thị Nho, Tâm lý học phát triển. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn công tác xã hội," Nxb Lao động, 2008 [13] Vũ Thị Nho, "Tâm lý học phát triển
Nhà XB: Nxb Lao động
[15] Lê Văn Phú, (2003), Công tác xã hội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội
Tác giả: Lê Văn Phú
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
[17] Lê Văn Tạc, (2008) "Xây dựng mô hình trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật" Đề tài câp bộ - Mã số: B2006-37-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật
[19] Nguyễn Thị Thanh, Biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỉ 3 – 4 tuổi, luận án tiến sĩ khoa học giáo dục, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỉ 3 – 4 tuổi
[20] Trần Thị Minh Thành, Phát triển các kĩ năng cơ bản cho trẻ chậm phát triển mầm non, Đề tài cấp Trường - mã số: SPHN49 (Nghiệm thu 2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển các kĩ năng cơ bản cho trẻ chậm phát triển mầm non
[21] Trần Thị Thiệp, Bùi Thị Lâm, Hoàng Thị Nho, Trần Thị Minh Thành, Giáo trình can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật, Nxb giáo dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật
Nhà XB: Nxb giáo dục
[22] Trần Thị Thiệp, Nghiên cứu về can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật, Đề tài cấp Trường (Dự án TRIG) (Nghiệm thu 2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật
[23] Trần Thị Thiệp, Nguyễn Xuân Hải, Lê Thị Thúy Hằng, Giáo trình giáo dục hòa nhập, Nxb giáo dục Việt Nam, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giáo dục hòa nhập
Nhà XB: Nxb giáo dục Việt Nam
[25]Trần Đình Tuấn (2009), Công tác xã hội lý thuyết và thực hành, Nxb Hà Nội [26]Nguyễn Thị Hoàng Yến, Xây dựng băng minh họa “Sự phát triển ngôn ngữ củatrẻ từ 0 - 3 tuổi”, Đề tài cấp Bộ - mã số: B2004-75-118 (Nghiệm thu 2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội lý thuyết và thực hành, "Nxb Hà Nội [26]Nguyễn Thị Hoàng Yến, "Xây dựng băng minh họa “Sự phát triển ngôn ngữ của "trẻ từ 0 - 3 tuổi”
Tác giả: Trần Đình Tuấn
Nhà XB: Nxb Hà Nội [26]Nguyễn Thị Hoàng Yến
Năm: 2009
[27]Nguyễn Thị Hoàng Yến, Một số đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo, Đề tài cấp Bộ - mã số: B2006-17-46 (Nghiệm thu 2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo
[28] Nguyễn Thị Hoàng Yến (2012), Giáo dục đặc biệt và những thuật ngữ cơ bản, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đặc biệt và những thuật ngữ cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Hoàng Yến
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w